Transcript: Lý Và Sự

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:29:40

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:22]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay thì chúng ta lại à đi tiếp cái loạt bài mà nói về những cái sự khác biệt, những cái cặp phạm trù đối lập với nhau trong đạo Phật. Hôm nay chúng ta nói về lý và sự. Thì nào giờ chúng ta tu theo đạo Phật thì chúng ta vẫn nghe nói là à cái người này tu vậy là theo lý, người kia tu vậy là theo sự. Thì nghe như vậy mình cũng hiểu sơ sơ, mơ hồ gì đó, chứ không có rõ ràng lắm. Thì hôm nay chúng ta sẽ bàn với nhau cho ra lẽ cái lý là cái gì và cái sự là cái gì. Thật ra thì điều này chúng ta cũng có nói qua trong cái bài bài gì? Bài Bát Nhã rồi, Bát Nhã Ba La Mật, bài Căn bản trí với cái bài Sai biệt

[1:33]trí á, cái bài hai bài đó thì cũng chính là hai bài nói về lý và sự. Nhưng mà lần này thì chúng ta đem nó đối chiếu lại với nhau để phân biệt ra thế nào trong đạo Phật cái gì gọi là là là đi về lý, cái gì gọi là đi về sự. Cái chữ lý thì ừ có cái nghĩa là lý lẽ, là lý thuyết, nếu mà cái nghĩa mình dịch đơn thuần như vậy. Cái sự á, trong cái chữ Nho có nghĩa là sự là việc làm, việc làm. Thường nếu mà mình dịch theo cái chữ Nho và với cái da cái cái cái từ dễ hiểu á thì lý và sự có nghĩa là lý thuyết và thực hành. Nhưng mà sự thực thì cái chữ lý và sự trong đạo Phật nó cũng không có cái nghĩa là lý thuyết và thực hành nữa, không phải nghĩa như vậy nữa.

[2:38]Nên đây là điểm mà chúng ta cũng để ý. Cho nên thường á, khi đi vào trong đạo, mà không phải là riêng trong đạo mà trong mọi lĩnh vực trong cuộc sống, chúng ta sẽ thấy có những cái từ mà nó không mang cái nghĩa gì của nó hết trơn, nó mang cái nghĩa khác với cái nghĩa gốc của nó. Nên ở đây trong cái chữ lý và sự chúng ta gặp lại trường hợp đó, là nếu mà chúng ta dịch bình thường thấy nó như là lý thuyết và và thực hành á mà đây nó cũng không có nghĩa đó luôn á. Và nó càng không có cái nghĩa như là mình nói chuyện với nhau nữa, như thấy ai mà hay nói hay cãi lý cãi lẽ mình nói sao anh hay lý sự quá.

[3:24]Thì cái lý sự này nó cũng không có cái nghĩa khi mình rầy người ta nữa, cũng không có nghĩa đó luôn á. Nhưng mà vậy thì nó có nghĩa gì trong đạo Phật? Thì lý có nghĩa là lý tánh,

[3:41]lý tánh, nghĩa là những cái lý lẽ, những cái lý thuyết, những cái triết lý, những cái tính chất của thể tánh, của thể tánh. Đây cái chỗ định nghĩa nó là như vậy. Mà thể tánh là cái gì? Cái tính chất của thể tánh là những tính chất gì? Thì tính chất của thể tánh trong đạo Phật trong đạo Phật là thường nói tới Phật tánh, nói tới Pháp thân, nói cái như là tự tánh. Tức là trong Đại thừa Phật giáo tin rằng là nơi mỗi người chúng ta đều có một cái Phật tánh mình sẵn có. Cái Phật tánh đó là cái chỗ rất là thanh tịnh, rất là hư vô, mà cũng rất là sáng suốt. Cái khía cạnh mà cực kỳ thanh tịnh á nó đạt được cái chỗ là không

[4:40]còn phân biệt, không còn phân biệt, mà rất là bất động. Đó là cái tính chất của thể tánh. Ở đây thì tùy cái lý thuyết, tùy cái niềm tin hay tùy trí tuệ mà người ta sẽ hiểu được cái Phật tánh là ở chỗ nào, như thế nào, nên mỗi tông phái sẽ quan niệm một cách khác nhau. Ví dụ như cái người do căn cơ còn thấp à không được thiện tri thức hướng dẫn kỹ thì khi ngồi thiền một thời gian tâm chợt đạt được một cái kết quả bất ngờ, tự nhiên tâm thấy rỗng hoác ra, thanh thản, sáng suốt, đi đứng thong dong tự tại, từng bước chân từng cái cất tay nhấc chân ừ thì thấy đều mình làm chủ được hết, còn trong tâm mình là thấy không có khởi niệm.

[5:36]Thì cái người này do cái căn cơ còn thấp à thiện tri thức không hướng dẫn kỹ nên nhận ngay chỗ đó là Phật tánh, à nói ngay đây là tự tánh, là Phật tánh. Thì mình đã ngộ được Phật tánh rồi thì tiếp tục mà tu như vậy để có thể là thành Phật thành gì đó, hay là ngay đây đã là thành Phật rồi, nói rằng kiến tánh là đã thành Phật rồi. Thì đó là là cái sự do cái niềm tin như vậy, cái chủ trương cái chấp nhận như vậy một cách vội vàng. Còn có những người do cái căn cơ họ cao hơn một chút, được thiện tri thức hướng dẫn kỹ hơn một chút thì khi họ đạt được cái ngộ đó, ông thầy nói chưa phải đâu con, ráng nữa.

[6:27]Thế là họ tiếp tục hàm dưỡng tu hành, tinh tấn, dụng tâm cho đến một khi họ đạt được cái mức định sâu hơn vào bên trong nữa, là cái tự tại nó sâu hơn, vi diệu hơn mà họ mới nhìn ngược lại, à cái trước đây mà mình ngộ được mình tưởng Phật tánh thì ra nó còn lầm nhiều lắm, còn đầy những cái sai lầm của nó. Thì chỉ có những cái người mà vào cái định sâu mới thấy được cái lỗi của cái định mà ở còn cái mức độ cạn, chứ còn cái người ở cạn thì tự không biết cái lỗi của mình. Ví dụ như chúng ta được cái mức độ định thứ nhất thì mình thấy trời ơi cả cuộc đời của mình mấy chục năm trời mình sống trong phiền não,

[7:11]trong vọng động, ngày hôm nay được cái thanh tịnh như vậy quá sức quý, mình nghĩ nó là cao nhất, không thấy được cái sai đang tiềm ẩn ở trong trong cái tâm rỗng rang thanh tịnh đó, không thấy được. Nhưng đến khi mà mình vượt khỏi cái lớp đó vào sâu hơn một cái nữa thì chợt mình nhìn lại, cái trước đây mà mình tôn thờ nó, cho nó là Phật tánh vi diệu thì không ngờ rằng nó còn đầy lầm lỗi ở trong đó. Những cái lầm lỗi gì thì dĩ nhiên hôm nay chúng ta không có tiện để mà phân tích, nhưng mà thường là như vậy, cứ cái người vào sâu hơn là nhìn lại cái lỗi của mình lúc trước nhiều hơn như vậy, nhiều hơn như vậy, cứ như vậy hoài.

[7:53]Cuộc đời của một người tu hành nói rốt cùng lại chỉ là thấy lỗi, rốt cuộc lại chỉ là thấy lỗi. Cho nên hồi hồi nãy không biết có ai lại ngồi nói chuyện với tôi, ngồi nói chuyện với tôi nói con ngồi thiền hoài nhưng mà sao không thấy gì hết trơn? Thì tôi mới nói đừng thấy gì hết trơn, ráng thấy lỗi thôi, vì việc tu đến cho tận cùng chỉ là thấy lỗi. Ví dụ như bây giờ bản thân của chúng tôi cũng vậy, là thôi tu là làm cái gì? Là tôi tu cũng là tiếp tục để tìm được cái lỗi của mình, những cái lỗi mà trước đây mình chưa thấy. Nó việc tu chỉ là như vậy thôi chứ không có gì khác. Vậy đó, mà tự nhiên nó phát ra được nhiều cái điều cao siêu

[8:40]mà mình không màng, hễ mà có cái hay thì bỏ, đi tìm cái dở mà tu tiếp. Cho nên trong cái bài khấn nguyện á, quý Phật tử có nhớ cái câu là

[8:54]Hằng nguyện cho con đi mãi, thấy không? Không đứng lại giữa đường, cái đoạn trên đó. Và xin cho con tỉnh táo, không kiêu mạn tự hào, dù tu tiến đến đâu vẫn tự tìm chỗ dở. Cái công phu mà tự tìm chỗ dở, vậy là công phu cực kỳ quan trọng nhất trong đạo Phật. Cho nên bây giờ quý Phật tử phải đừng tâm chỗ này. Ví dụ dù chúng ta đi đây đi kia nghe giảng, chúng ta nghe vị thầy đó giảng nhiều cái điều cao siêu thì chúng ta cũng rất là quý trọng, nhưng mà quý Phật tử nhớ đừng bao giờ bị dụ, bị gạt bởi những cái mục đích cao siêu mà người ta đưa ra.

[9:42]Tôi dùng cái chữ dụ, chữ gạt không có nghĩa là vị thầy đó dở mà có nghĩa là vị thầy đó hay đó. Nói được những cái cao siêu của đạo Phật là hay chứ không phải là dở. Nhưng mà mình phải tỉnh táo, bình tĩnh không chạy theo. Vì chúng ta biết cái căn bản quan trọng của việc tu hành chỉ là thấy được cái lỗi. Mà lỗi như thế nào thì không thể dùng một hai lời để nói, vì càng đi tu vào sâu rồi thì mới nhìn thấy những cái lỗi của mình, những cái lỗi vô cùng vi diệu mà trước đây mình không thấy được. Còn ví dụ như những cái lỗi mà bình thường trong cuộc sống, chuyện chuyện vặt vãnh của của 5, 10 năm đầu tu hành.

[10:23]Ví dụ như người ta nói một câu mình giận thì cái lỗi đó là lỗi của 5 năm đầu, 10 năm đầu tu. Qua khỏi cái đó thì mấy cái đó phải hết, không còn, không còn được có nữa. Rồi ví dụ như thấy người khác họ thành công, họ hơn mình, mình có cái ganh ganh thì cái lỗi đó là của 5 năm đầu, 10 năm đầu tu hành. Qua khỏi 5 năm, 10 năm rồi, mấy cái đó không được quyền tồn tại nữa. Còn những cái mà tôi nói là càng vào sâu mà càng thấy á thì là những cái vô cùng vi diệu, vô cùng vi diệu mà phải vào trong định mình mới thấy được. Mình mới thấy, à thì ra trước đây mình đã lầm chỗ này. Đi vào tâm sâu nữa thì, à trước đây mình đã lầm chỗ này.

[11:06]Cứ tiếp tục vậy mình đi. Nhưng mà chúng ta nói trở lại là tùy cái căn cơ mà có nhiều người đã được cái định nào đó và chấp nhận cái đó là là cao tột, giữ gìn nó, tôn trọng nó để tu hành và lập trên đó một lý thuyết. Đây là chỗ quan trọng, là đứng ngang cái chỗ tâm mình chứng được, lập một lý thuyết cho đạo Phật. Chính vì chỗ này mà trong đạo Phật xuất hiện nhiều tông phái. Từ sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, cứ qua nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm sau thì mỗi một vị đại sư mà vị đại sư đó có cái duyên gì với chúng sinh đó, rồi ổng tu hành rồi ổng chứng được mức độ nào đó, do cái phước nên ổng được có cái lợi khẩu

[11:59]nói người ta nghe, và ổng dựa vào cái tâm chứng của ổng, ổng lập ra một cái lý thuyết để đóng góp thêm vào cái kho tàng lý luận của đạo Phật. Do đó, chúng ta có thêm hết bộ luận này đến bộ luận kia trong đạo Phật là trình bày cái kiến giải, cái tu chứng của một vị đại sư nào đó. Thì có những cái vị có những lý thuyết rất là hay làm cho đạo Phật phát triển thêm, nhưng cũng có một vài vị có những cái lý thuyết là lệch lạc đưa đạo Phật đi sang một cái hướng khác. Thì bây giờ chúng ta cũng vậy đó, chúng ta tu cho đã, chúng ta chứng được cái gì đó mà nếu chúng ta mình giỏi ăn giỏi nói thì có khi mình cũng lập

[12:46]một cái lý thuyết, rồi mình làm một ông đại sư, làm một ông tổ nào đó. Ở đây thì người nữ nhiều chắc làm một bà đại sư nào đó, một bà tổ nào đó cũng có mở ra một cái tông phái gì trong đạo Phật. Thì không biết cái đó là cái hay, cái dở là tùy theo cái mức độ của mình. Nhưng mà trên căn bản của lý tánh, trên căn bản của lý tánh thì người ta đều gặp nhau ở cái chỗ này là cái tâm đó nó rỗng không, tâm rỗng không. Ở mức độ nào người ta cũng thấy cái tâm nó là rỗng không hết. Nhưng cái rỗng không này nó nhiều lớp. Cái người mà mới ngộ được bước đầu thấy tâm cũng rỗng không luôn rồi đứng trên đó cũng có thể nói được cái lý tánh về vô phân biệt,

[13:29]về tâm thanh tịnh, về tâm bất động, cũng được như vậy. Nhưng mà người vào định sâu chút nữa cũng thấy tâm là rỗng không, cũng là bất động, à cũng là vô phân biệt. Rồi cái người vào sâu hơn nữa cũng thấy tâm thật mới là bất động đây, đây mới là thanh tịnh, đây mới là vô phân biệt. Thì mức độ nào cũng nói những chữ đó giống hệt nhau nhưng mà tâm chứng bên trong khác nhau, coi vậy không giống nhau chút nào. Nhưng mà trên căn bản vì những cái điểm đó à trong cái lý tánh của cái tâm thanh tịnh đó là không phân biệt, là bất động, à là thanh tịnh giống giống nhau như vậy hết trơn, không có khác. Cái không phân biệt, cái thanh tịnh, một lát thì mình nói tiếp.

[14:16]Vì còn đó là cái lý đó, tức là lý tánh, dựa vào cái tính chất thanh tịnh của tâm mà lập thành lý thuyết về đạo gọi là lý tánh. Nếu mình tu mà mình cứ hướng về cái lý tánh đó mà cố gắng giữ được cái tâm mình không có phân biệt, giữ tâm mình thanh tịnh, à giữ cho tâm mình bất động thì người này gọi là đi theo đi theo lý.

[14:46]Lý, thì cái lý này không phải là lý thuyết để nói chuyện chơi mà cũng là cái để thực hành. Nhưng mà đi vào lý tánh, đi vào ba cái tính chất mà chúng ta nói đó là thanh tịnh của tâm nè, tính bất động của tâm nè, tính không phân biệt của tâm. Đó, là nếu mà người nào tu mà cứ nhắm cái đó mà đi tới thì mình gọi là cái người này tu theo lý, tu theo lý. Còn bây giờ trở qua sự, sự là gì? Sự là việc, có nghĩa là cái hạnh, nghĩa là những ý nghĩa về các hành vi đạo đức như việc làm từ thiện, những cái cung cách khiêm cung, à cái phong thái lễ độ, cái đời sống vị tha, đó gọi là cái sự. Thì trong cái sự này thì chúng ta thấy là nó giống như là nó trái với cái lý vậy.

[15:42]Tại vì cái người mà theo lý đó là không có phân biệt. Không phân biệt, bây giờ ví dụ như là mình là người tại gia nhưng mình tu theo lý. Khi mình gặp người xuất gia mình lại vỗ vai: "A, khỏe không thầy? Khỏe không? Chà, đầu thầy lúc này coi bộ để lâu không cạo ha", rồi vò vò cái đầu ông thầy. Tại mình tu theo lý không phân biệt, tại gia xuất gia giống nhau. Người tu theo lý thì không biết là tâm mình sao, không biết tâm mình có gì trục trặc không biết nhưng mà thấy thì tự tại lắm. Lý, còn cái người mà tu theo hạnh thì không có vụ đó. Tu hạnh gặp thầy thì chắp tay cúi đầu xá sát xuống: "Dạ, thưa thầy, con mới đến, bạch thầy có khỏe không?" Tức

[16:23]là cái người tu theo sự thì khiêm cung lễ độ đàng hoàng. Nghĩa là chúng ta thấy nó giống như là có cái sự phân biệt. Nghĩa là tâm có cái phải khởi lên, phải quan sát trước sau, phải phân biệt tôn ti trật tự, phải à biết người hơn kẻ kém, biết người thiếu kẻ đủ để mà giúp đỡ nữa. Như khi mình làm việc từ thiện vậy, mình làm việc từ thiện cái mình thấy người kia họ bị khổ, à mình phải hiểu à đây là người khổ và mình cảm thấy mình có dư hơn nên mình san sẻ, giống như trong tâm có cái phân biệt. Còn mà nói mà theo lý theo lý giống như ngài Triệu Châu cầm con mèo chặt cái bụp đứt cái đầu ra, tỉnh bơ không nói.

[17:06]Không phân biệt. Đó là lý. Cho nên có những cái mà nhiều khi chúng ta không hiểu, nói từ một cái đạo Phật trọng nhân quả, để ý đạo đức, nhưng mà sao tu theo lý riết cái mình thấy mình hơi sợ, không biết đúng hay sai. Còn những cái người mà họ đi luôn vào lý thì họ thấy đó là hay, đạo Phật phải tu như vậy mới là cao, chứ còn mà phân biệt lễ mễ rồi hơn thua rồi có nề nếp tôn ti trật tự đồ là coi bộ còn thấp, còn thấp. Cho nên đó là cái mà gọi là trái nhau đó. Một lát thì chúng ta sẽ thấy lý và sự là một khi chúng ta hiểu đúng. Nhưng mà ở cái bước ban đầu mà định nghĩa như vậy, chúng ta thấy dường như lý và sự là hai điều trái ngược nhau.

[17:54]Mà thấy như cái người mà đi theo sự là thấp, mà người đi tu theo lý là người cao. Ở đây ai cao đâu? Đây ai cao giơ tay lên, ai tu theo lý? Ngồi hơi ớn chứ chưa dám. Cho nên cái tu theo sự là mình để ý cái hạnh, để ý cái nhân quả hơn. Trong đạo Phật thì những lý thuyết, những kinh điển nào mà nói về lý, về sự thì thường chúng ta phân biệt thế này: là những cái hệ thống kinh mà về hệ thống tư tưởng Bát-nhã đó thì nói thường nói về lý; à những cái ngữ lục hay hành trạng của các thiền sư Trung Hoa thì hay nói về lý; hoặc là cái bộ Triệu Luận của ngài Tăng Triệu nói về lý, hay là cuốn Trung Quán Luận nói về lý.

[18:42]Ví dụ như cái bộ kinh Kim Cang trong cái hệ Bát-nhã của Đại thừa là nói về lý, nói cái gì cũng là không. Nhưng có những cái câu mà nổi tiếng như là nếu mà người đó dùng hình thức muốn tìm đến ta "Nhược dĩ sắc kiến ngã", tức là muốn thấy ta bằng cái hình thức, hoặc "Dĩ âm thanh cầu ngã", dùng cái tiếng gì đó để cầu ta, "Thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai", thì người đó hành đạo tà, không thể thấy Như Lai được. Hoặc là nói: cái người mà bố thí mà thực sự không phải là bố thí thì đó mới là bố thí. Nói qua nói lại lát mình xây sẩm rồi không biết nói gì nữa. Nói bố thí mà không phải là bố thí thì lại là bố thí.

[19:31]Mình xoay qua xoay lại lát mình xây sẩm. Thì những cái điều đó là thuộc về lý. Cái lý đó rất là hay, kinh Kim Cang rất là hay. Nói về lý tánh mà rất là chuẩn và rất là căn bản. Kinh Kim Cang thường thường người nào tụng lâu có linh thiêng là vậy đó, vì nói được cái lý tánh khá đúng, khá chuẩn. Nhưng người tụng lâu thì thường được chư thiên, Hộ Pháp gia hộ nên cũng hay, cũng linh thiêng. Chỉ có cái điều mình không hiểu thì mình nói một lát không có có không lát mình mình mình rối. Chứ nếu mà hiểu cho căn bản thì kinh Kim Cang rất là hay. Thì hôm nay chúng ta không có thì giờ để đào sâu, cho nên chỉ giới thiệu đó là bộ kinh nói về lý.

[20:12]Hoặc là 600 quyển Bát-nhã cũng nói về lý. 600 quyển Bát-nhã thì hiện nay là có Hòa thượng Trí Nhiễm Trí Nghiêm dịch. Thấy người ta cũng in mà bán lác đác. Nhưng có cái điều là nói dịch chứ hình như không có dịch gì. Tức là có tôi đọc thấy chữ Nho còn nằm nguyên đó, chỉ để đó rồi đọc chơi chứ không không có dịch gì. Vì Việt Nam mình không đủ từ để dịch. Những cái từ triết học thời cổ từ Ấn Độ, từ Phạn ngữ dịch qua tiếng Trung Hoa, người Trung Hoa mà dịch được là mình thấy người Trung Hoa đã quá giỏi, Huyền Trang quá giỏi. Cho nên rồi cái từ mà từ tiếng Trung Hoa dịch qua sang tiếng Việt Nam thì không đủ từ để dịch nữa.

[20:49]Cho nên các vị mà dịch thì thường có nhiều chữ mà chuyên môn mới để luôn đó. Để luôn đó rồi thì chúng ta không sâu không chuyên sâu về chữ Nho, đọc không thể hiểu. Cho nên cái bản dịch mà bộ kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật hiện nay đang bán lác đác lác đác á, thành mấy phật tử mà không chuyên chữ Nho đọc không hiểu, mà người chuyên chữ Nho đọc cũng không hiểu luôn. Là vì dù có chuyên chữ Nho mà không thực hành tu tập Bát-nhã cũng đọc không hiểu luôn. Cho nên cái bộ Bát-nhã đó... Nhưng có một lần, lúc mà tôi đến cái tiệm sách đó, thấy có ông thầy ổng tới ổng đưa cái bản, ổng nhờ cái sư cô đó in ra để phổ biến, bán phổ biến.

[21:37]Thì sư cô mới hỏi ý tôi là: "Theo ý thầy có nên in cuốn này ra nhiều hay không?". Thì tôi cầm một cuốn lên lật ra một trang, tôi có cái tật đọc cái gì cũng đọc đọc đại một trang nào một vài dòng ở đâu bất kỳ. Đọc, tôi lật ra thì tôi thấy từ không có dịch qua được nhiều, đọc còn chữ Nho nguyên. Tôi nói: "Bản dịch này không có lợi cho người đọc mà in hết cái bộ này thì cũng vài tỷ đồng. Tốn tiền mà không có lợi nên công đức sẽ không có. Khi nào mình dịch cái cuốn nào phổ biến mà người đọc có hiểu, có lợi ích thì mình in nó mới có công đức. Còn mình ấn tống cuốn đó người ta đem về người ta đọc không

[22:18]hiểu gì hết thì mình hoàn toàn không có công đức. Cho nên phải làm sao lựa cuốn nào người ta đọc ta có lợi ích." Thì cái mà Bát-nhã thì hay lắm. Phải nói tôi không biết là vị nào đã soạn ra Bát-nhã. Thì theo truyền thuyết thì vẫn nói là Phật thuyết. Nhưng mà trên sự thật lịch sử thì bộ kinh Bát-nhã không phải Phật thuyết. Bắt đầu 200 năm sau Phật nhập Niết bàn, mới xuất hiện Tiểu phẩm Bát-nhã. Rồi sau đó cứ lần lượt có những vị nào cứ bổ sung vào, bổ sung, bổ sung đến mấy trăm năm sau mới đủ 600 quyển Bát-nhã. Mà không hiểu tôi không hiểu là là nó nhất quán được với nhau, nghĩa là những vị từ những vị ban đầu mà viết cái bộ Bát-nhã cho tới

[23:02]những vị sau kết thúc bộ Bát-nhã đều có chứng được lý Bát-nhã hết. Vì có chứng được mới nối tiếp cái tư tưởng mà soạn tiếp được. Cho nên những vị đó đều là những vị có có tu có chứng thật sự, mới soạn được cái bộ Bát-nhã vĩ đại như vậy. Thì trong cái bộ Bát-nhã vĩ đại đó, nó có những cái tư tưởng mà nếu người bình thường chúng ta nghe chúng ta hết hồn. Nói ví dụ có một đoạn, tôi lâu quá thì tôi không có nhớ kỹ, nhưng tôi nhớ có cái đoạn này, nhớ mang máng rồi. À ngài Tu-bồ-đề nói với chư thiên là những giáo pháp của Phật thì cũng đều là hư ảo hết trơn. Nó là như mộng, như huyễn, như hóa. Tức là mình nói gọn là hư ảo hết. Chư thiên cũng trợn mắt lên nói:

[23:47]"Trời ơi, giáo pháp của Phật mà ngài nói là hư ảo!". Cái ngài Tu-bồ-đề ổng làm luôn một câu nữa. Nói: "Không phải giáo pháp của Phật, mà mười phương ba đời chư Phật đều là hư ảo hết, không có thật. Đều là như mộng, như huyễn, như hóa." Chư thiên ổng trợn con mắt ra to hơn chút nữa, ổng nhìn ổng nói: "Trời ơi! Ngài nói là chư Phật mà như hư như ảo!". Cái ngài Tu-bồ-đề ổng làm luôn câu nữa: "Không phải là chư Phật, không phải mười phương ba đời chư Phật, mà ngay cả cái Niết bàn tối thượng của chư Phật cũng là hư là ảo luôn." Ông nói tới đây mấy ông chư thiên rã rời, nghe rụng rời tay chân không hiểu gì hết trơn.

[24:24]Rồi tới chừng mới hỏi Phật, Phật xác nhận ngài Tu-bồ-đề đã nói đúng. Đó là cái đoạn mà ghê gớm trong bộ Bát-nhã. Thì đó là một đoạn ngắn thôi chứ không có nhiều đâu, triết lý còn mênh mông thiên địa trong đó. Mà sự thật là những vị đó có chứng thật sự. Chứng thật sự mới soạn được đúng như vậy. Còn cái lý nó như thế nào thì chúng ta không đủ thì giờ để trình bày hết ngày hôm nay. Hình như có một lần tôi cũng nói về Bát-nhã căn bản tí rồi phải không? Thì căn bản nó là như vậy đó. Chứ chúng ta không có thì giờ đào sâu lắm đâu. Vì nếu mà đào sâu, mình cứ ngồi mà cãi nhau mà nói hết ngày này qua ngày kia cũng không bao giờ hết được cái lý về Bát-nhã. Không bao giờ hết được.

[25:07]Đó là cái lý không mà tới tận cùng mà chúng ta không còn cái mục đích nào để bước tới nữa. Nó dễ sợ như vậy. Nghĩa là chúng ta đã từ bỏ cái quá khứ, nếu mà nói theo tinh thần trí tuệ Bát-nhã, chúng ta không còn chấp nhận quá khứ nữa. Cái hiện tại của mình là mình cũng từ bỏ luôn vì cũng là hư ảo. Nhưng chúng ta mơ ước, chúng ta mơ ước cái sự giải thoát, cái giác ngộ, cái Niết bàn tối thượng, nhưng rồi các ngài gạt cái điều đó ra luôn, chúng ta không còn cái chỗ để bám, không còn cái đích để nhắm tới, mà ngay lúc đó là cái gì? Ngay lúc đó là cái gì? Ai biết? Bây giờ thì quá khứ mình không còn rồi, nó là hư ảo.

[25:46]Hiện tại mình là tứ đại giòn bở nè, tâm niệm vô thường nè, bỏ luôn nè. Thì chúng ta đi tìm cái giác ngộ giải thoát phía trước. Ngài nói: "Giác ngộ giải thoát là chuyện hư ảo, không có thật." Thì bây giờ chúng ta phải làm sao đây? Ai biết? Ai trả lời được thì tôi mời lên đây giảng tiếp cái thời giảng này luôn. Thôi không trả lời. Lần sau đi, lần sau nhắc lại trả lời cho về nghiền ngẫm tiếp. Thì bộ Bát-nhã là như vậy. Hoặc là cái bộ kinh Viên Giác, bộ kinh Viên Giác thì cũng nói về lý không nhưng mà cũng nói phương pháp tu hành. Cho nên bộ kinh Viên Giác tuy nói lý mà cũng có sự, vì cũng phân biệt cái sự tu hành từng giai đoạn này kia nọ cũng hay.

[26:32]Cái ngữ lục Thiền tông Trung Hoa nói lý nói lý khủng khiếp lắm, lý sợ luôn á. Nói mà tới cái lý không, nghĩa là khi một thiền sư hay là hai thiền giả gặp nhau hỏi đáp, thì một ông ổng đưa ra một câu hỏi để gài cái ông kia coi ông kia đã tâm đã bất động, đã vô phân biệt đến chỗ nào chưa. Ví dụ như lúc đó ngài Triệu Châu, ngài già, ngài trụ trì mà ngài quét sân, ngài cầm chổi ngài quét sân, thì có một cái thiền khách đến hỏi: "Già lam thanh tịnh, tức là đất già lam là đất chùa là nó là thanh tịnh, vì sao có bụi?". Tức là vì sao có bụi mà ngài phải cầm chổi ngài quét chi cực vậy? Ta nói là già lam là thanh tịnh tại sao có bụi?

[27:14]Thì ngài trả lời: "Lại có một điểm".

[27:19]Ta hiểu. Mới nghe qua nói chuyện cười lắm. Sự thật thì cái câu Tăng hỏi là gài ngài thôi. Gài ngài. Tức là nếu mà ngài thấy cái cái việc quét của ngài là có thật thì như vậy là đất chùa này có bụi thiệt, vì tâm ngài chưa được cái vô phân biệt. Nhưng mà ngài thuộc loại là thiền sư cao cơ rồi hàng bậc thầy rồi. Ngài đâu có bị lừa gạt ba cái lãng nhách đó. Nên ngài không thèm trả lời cái câu đó, ngài cũng không thèm bị gạt á. Ngài chỉ nói lại: Lại có một điểm. Khi không ông động tâm vô đây ông hỏi lung tung. Tức cái câu mà "lại có một điểm" nghĩa là: Ông hỏi lung tung, ông là động đó. Ngài không thèm trả lời, nghĩa là không thèm đánh, không thèm đỡ.

[28:04]Các thiền sư là vậy. Cho nên còn mà không biết á, mà họ hỏi, họ gài mình, mình lo chống đỡ cái này cái nọ là tâm mình còn phân biệt. Nhưng các thiền sư họ hỏi nhau, họ gạn nhau, để tìm coi tận trong tâm mình cái chấp còn không, cái phân biệt còn không. Nhưng mà cái cách trả lời của mình thể hiện được cái tâm mình đã thư nhàn, an, bất động, nghĩa là thanh thản thì cái cách trả lời nó nó đặc biệt, nó tuyệt vời. Cái ngữ lục của Thiền tông là vậy. Nói đến nghĩa là đi tìm cái không chấp, cái vô phân biệt đến tận cùng, các ngài thử nhau dữ dội lắm. Còn cái bộ Triệu Luận hay bộ Trung Quán Luận chúng ta cũng có

[28:42]giới thiệu trong cái lần những lần giảng về bài Bát Nhã phía trước thì vậy, là nói về cái lý không rất là sâu sắc. Thì những cái kinh điển như vậy đều gọi là nói về lý. Kinh luận nói về lý tánh, nói về cái chỗ không, tâm bất động. Còn các kinh mà nói về sự thì cũng nhiều lắm. Hầu như nguyên toàn bộ Nikaya là nói về sự. Cũng có lý ở trỏng đó, nhưng mà cũng có nói về sự. Là những phương pháp tu hành, những giai đoạn tu chứng, những cái quả vị, à những cái hạnh phải lập, những cái giới phải giữ, vân vân. Nghĩa là trong bộ Nikaya thì hầu hết đều là sự mà tinh vi đó. Ví dụ nói về thiền, cũng không có cái nói cái gì cũng không,

[29:25]mà nói từng mức định, định là như thế nào, rồi định sâu hơn là như thế nào, thì Phật cũng giải thích rất là rõ. Cái cách nói như vậy chúng ta gọi là sự. Hoặc như bộ Pháp Hoa, bộ Pháp Hoa thì vừa lý vừa sự đó, nhưng trong đó sự cũng nhiều. Cứ khuyến khích làm sao? Tụng kinh này được phước phải không? Khuyến khích là cúng dường mười phương chư Phật, rồi cái kết quả là được thọ ký, rồi cái phẩm An Lạc Hạnh, rồi niệm Phật, niệm Bồ Tát Quan Âm thì được mọi điều thù thắng, vân vân. Rồi cuối cùng là phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát. Phổ Hiền là tượng trưng cho hạnh, cho nên cái bộ kinh Pháp Hoa tuy nói về lý, lý tánh này kia nọ, sự thật trong đó nói sự không.

[30:12]Toàn là việc làm, là hành động, là sự tu tập. Hoặc kinh Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm là lý sự viên dung, trình độ rất cao. Kinh Hoa Nghiêm rất là cao. Không biết khi nào thì chúng ta mới có duyên để mà trao đổi với nhau về kinh Hoa Nghiêm. Tại bộ kinh nó dài quá, cho nên ít có ai mà mà mà mà giảng ròng rã từ năm này qua năm kia. Mà nếu giảng không khéo á, nhiều khi người nghe cũng vừa ngồi nghe mà vừa ngủ nữa, hay là vừa nghe vừa ngáp nữa. Cho nên bộ kinh Hoa Nghiêm dài. Có một cái, kinh Hoa Nghiêm á, nội cái đọc kinh Hoa Nghiêm không cũng đã là tu rồi, chứ chưa có nói đến cái việc mà nghe giảng, hiểu lý.

[30:52]Nghĩa là chúng ta lấy kinh Hoa Nghiêm ra chúng ta lặng lẽ ta ngồi đọc, đó là một công phu tu hành. Kinh Hoa Nghiêm. Cho nên quý Phật tử mà nếu khi nào mà cảm thấy có thời giờ rảnh, thỉnh kinh Hoa Nghiêm về nhà tụng. Lúc rảnh á, mình cứ tụng theo tiếng mõ, hai ba chữ mình gõ một tiếng, hai ba chữ mình gõ tiếng mõ nhè nhẹ, khe khẽ, tụng. Thì khi mình đọc như vậy, cứ kiên nhẫn đọc, đừng suy nghĩ, đừng mong cầu, đừng có mong cầu cho hết kinh. Cứ thong thả mà tụng, tụng từng tiếng từng tiếng. Đó là công phu tu hành. Kinh Hoa Nghiêm có cái hay như vậy, lạ lùng.

[31:29]Thì trong đó vừa nói lý rất là cao mà nói sự cũng rất là vi diệu. Kinh Hoa Nghiêm là kinh đúng là dạy cho Bồ Tát á. Sự thật, lịch sử thì kinh Hoa Nghiêm cũng không phải Phật thuyết, nhưng mà cái đạo lý trong đó thì mênh mông, vi diệu mà chư Phật cũng phải xác nhận. Trong đạo Phật mình có cái hay thế này, là nếu mà nói theo lịch sử là các kinh Đại thừa không phải Phật thuyết, nhưng mà kinh nào mà nói đúng được ý của Phật thì kinh đó linh liền, linh thiêng liền, và Phật gia hộ liền. Ví dụ như bộ Pháp Hoa hay bộ Kim Cang, bộ Bát Nhã. Ừ ai kiên nhẫn tụng đều được sự gia hộ của chư Phật hết, vì những kinh đó nói đúng ý của Phật.

[32:12]Hay như vậy, kinh Hoa Nghiêm cũng vậy. Hoặc là những bộ luận như là kinh Di Giáo, Di Giáo sau này ai soạn ra chứ cũng không phải Phật thuyết. Phật có giảng trong cái bộ mà Đại Bát Niết Bàn của Nikaya thôi. Còn cái kinh Di Giáo mà nhiều chùa hay tụng không phải Phật thuyết, ai soạn ra đó, nhưng mà soạn hay lắm. Có thứ lớp, rồi có từng giai đoạn, từng ý, trình tự tuần tự cũng lô gích rất là hay, nên những kinh như vậy mình tụng cũng đều linh, đều được chư hộ pháp thủ hộ hết. Rồi Tứ Thập Nhị Chương, những kinh đó không phải Phật thuyết. Ngài Ca Diếp Ma Đằng với Trúc Pháp Lan ổng sang Ấn Độ lướt qua, cần kinh để đưa ra quá cái ổng nhớ man máng kinh cái

[32:52]ngồi viết ra, nhưng mà các ông cũng có dựa vào một cái bản kinh chứ không phải là theo cái trí nhớ không. Đó là kinh Tứ Thập Nhị Chương. Những cái đó cũng nói về sự nhiều, phân biệt thế này thế kia. Còn luận ví dụ như Thập Nhị Môn Luận hay Thành Thật Luận thì cũng là những bộ luận về sự, phân tích rõ ràng. Có trước có sau cái sự tu hành như thế nào, cái quả chứng làm sao, cái trạng thái tâm của người mà tu vào như thế nào, phân biệt rõ lắm. Đó là những kinh mà nói về lý, về sự như vậy. Lý á thì tạo nên cái phong cách tự tại, còn sự thì tạo nên cái thái độ tận tụy. Hai cái có cái khác nhau như vậy.

[33:35]Nhưng mà cái nào cũng là cái tính chất của đạo Phật cả. Ví dụ bây giờ một người mà tu theo lý, tu theo lý tánh là lý tánh không á, thì người đó sao? Thấy cái gì cũng là cũng là không. Thấy cái gì cũng không. Khi mà thấy cái gì cũng không hết thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra? Ví dụ bây giờ khi mình nhìn vào cuộc đời cái mình thấy tất cả là hư ảo, không có. Mình nhìn lại bản thân mình, mình thấy mình ngồi đây chứ cũng không có thật. Rồi chợt cái mình nghĩ đến cái chuyện mà đi tắm, đi tắm cũng không thật, ở dơ chút cũng không sao. Mà ở dơ cũng không thật, vậy thôi cứ đi tắm. Rồi cái mình mình nhớ tới cái chuyện mà tới giờ cái phải

[34:25]đi nấu cơm, cái nói cơm nước đồ không thật thì khỏi ăn. Nhưng mình nói cái nhịn đói cũng không có thật, thôi cứ vô nấu. Mình lý luận tới lát mình cũng không có đói, không có ở dơ gì hết, cũng được hết mọi chuyện. Nhưng mà khi mà mình nhìn cái mọi cái đều là không như vậy thì cái tâm trạng mình nó như thế nào? Tâm trạng mình như thế nào?

[34:51]Ừ thanh thản, phải không? Thấy cái gì cũng không hết nên mình không còn bận tâm với chuyện gì nữa, cho nên tâm nó thanh thản. Nhưng bây giờ ví dụ như bây giờ giả như mấy Phật tử còn nhỏ, còn đi học, mình hiểu được, nhìn cái gì cũng không đi thì cũng ngồi học với người ta vậy đó, nhưng mà tự nhiên mình thấy cái bằng cấp cũng không, nghề nghiệp cũng không, không cần thiết. Học học vậy chứ không còn háo hức, rạo rực như lúc trước nữa. Hoặc là có Phật tử nào mà lỡ có cái máu mình mê vé số hay mê đánh đề cũng vậy. Tới chừng mà khi mà hiểu được cái lý không rồi thì không còn thấy cái trúng số hay tiền bạc là quan trọng nữa, không có cần nữa.

[35:32]Lúc đó bình thản nè. Hoặc là ví dụ như bên hàng xóm mình vậy, trước kia người ta cứ rầy rà với mình hoài, cãi nhau miếng đất, rồi tạt nước qua ướt rồi cự nự hoài. Tới chừng mình hiểu được lý không, cái người ta bữa nọ người ta cái bọc rác người ta quăng luôn qua hè mình, rớt cái bịch qua bên hè mình, chắc người ta chọc mình. Mình cũng thấy nó như không, thì mình xách đi mình bỏ thùng rác giùm người ta, không còn giận nữa. Đó, nên khi mình hiểu được cái lý không mà nhìn đâu cũng không, cái tâm nó không bận tâm, nó thanh thản, gọi là cái phong tạo cái phong cách tự tại là vậy. Mà cái phong cách tự tại đó là một cái tính chất tuyệt vời của đạo Phật.

[36:11]Mà chúng ta đi đến với đạo Phật, chúng ta hay tìm cái tự tại này lắm. Thì cái tự tại này thì tôi chưa có giảng kỹ. Ở thiền viện tôi sẽ giảng cái bài Tự Tại cho cho tăng ni sinh, nên không có giảng ở đây. Ở đây mình chỉ giới thiệu sơ sơ. Ấy mà nên chúng ta thấy nhiều người mà khi mà viết sách về đạo Phật hay đặt những câu thơ trong đạo Phật, hay ca ngợi cái tự tại, tự tại. Như là chuyện mà nói là giống như là một cái vầng trăng ở trên cao, như cái áng mây lơ lửng qua bầu trời, như con thuyền trôi trên sông lững lờ, không còn cần ăn uống hay làm tiền làm bạc gì nữa, chơi cho vui thôi, cuộc đời không có gì hết trơn.

[36:50]Nên nhiều khi nói hơi không thực tế lắm. Sống thì sống trên mây. Nhưng mà được cái là tâm không có bị ràng buộc, không có vướng bận mà thanh thản, không nó thanh nó được cái thanh thản. Miễn đừng có đi lệch quá, đừng có đi quá xa, phải hiểu nhân quả thì mình giữ được cái tự tại đó mà vẫn giữ được cái lý nhân quả thì người mình sống cũng chuẩn mực và thanh thản. Thật ra như bản thân của tôi vậy, trong cuộc đời tu hành của tôi thì tôi có cái duyên với cái lý không từ những buổi ban đầu, nên tôi quán cái lý không này kỹ, quán không kỹ. Thì tôi nhìn lại cuộc đời thì tôi thấy rằng sự thật nếu mình tin nhân quả cho

[37:31]kỹ thì mình hiểu lý Không cho sâu thì cũng tốt, tâm nó bình thản, tự tại. Như tôi nhớ cái cái lần đầu tiên mà tôi thâm nhập được cái lý Không là lúc đó đang ở trong cái nhà ăn tập thể thì cũng cầm chén, cầm bát mình vô nhà ăn tập thể ăn. Trời ơi, thấy có một cái trường chén bát khua rổn rảng rổn rảng, tiếng chửi thề rồi tùm lum rổn rảng đây. Nhưng mình cứ đứng đó yên lặng, lúc tôi còn đi học, ngồi đợi. Nhưng mình cứ cầm cái chén, cái bát đứng yên lặng, mình nhìn tất cả mà như không có nhìn, mà lòng mình thấy bình an. Thì tôi mới thấy là đúng là Phật pháp hay, Phật pháp vi diệu thiệt. Thì đó chỉ là những bước đầu cạn cợt nhưng mà làm cho mình có được cái niềm

[38:16]tin với Phật pháp, thì tôi nghĩ mày cũng nhiều vị vậy, cũng hiểu được cái lý Không rồi trong cuộc sống đã tìm được cái sự tự tại như vậy. Tuy nhiên, cái mà không bận tâm với mọi chuyện đó, nó cũng có cái phản ứng phụ của nó. Giống như uống thuốc vậy, hết bệnh này coi chừng lòi bệnh kia. Có cái side effect, có cái phản ứng phụ. Phản ứng phụ như thế nào? Là mình khi thấy cái gì cũng không hết đó thì nó phát sinh ra cái tâm trạng là dễ bị rơi vào cái ích kỷ, không còn lo cho ai nữa. Tại vì cũng không mà, thôi kệ ai làm thì làm, không còn lo cho ai nữa. Nên thấy thì tự tại nhẹ nhàng đó, nhưng mà nếu không khéo, nếu mình thiên lệch một bên,

[39:01]không có cái sự bổ sung, mình rơi vào cái ích kỷ liền, không cần biết tới ai. Rồi cái thái độ gọi là thích hưởng nhàn, không còn muốn làm điều gì nữa, những cái mục tiêu phía trước bị xóa mất hết, mình không còn phải phấn đấu đi tới, xóa mất hết. Chưa thành Phật mà coi Phật là hư ảo, không thèm làm Phật nữa. Chưa được giải thoát giác ngộ mà thấy chuyện giải thoát giác ngộ là chuyện hư ảo, không cần tu nữa. Cho nên cái thái độ nó cũng hơi nguy hiểm nếu mà người chưa có vững cái lý thì hiểu kiểu đó cũng làm cho mình mất ý chí, hưởng nhàn, ích kỷ và còn thêm cái bệnh nặng nữa là kiêu ngạo. Kiêu ngạo, như nãy tôi nói chuyện đó, cái ai gặp một thầy

[39:43]một ông thầy Tỳ kheo, mình là cư sĩ lại vỗ vai vò đầu ổng chào hỏi rồi thân tình, rồi không phân biệt mà, tăng tục không hai mà, nghĩ như vậy. Thành thử vô tình nhìn nó cũng có những cái cái kiêu mạn nó len lỏi thầm kín trong cái lý Không của mình. Thấy là không chứ miệng mà không có không, nó vẫn bị một cái là cái kiêu mạn nó xuất hiện. Đó, đó là cái nguy hiểm của cái người mà đi vào lý. Mình vào lý cho chuẩn, tuy chúng ta được cái tự tại, tự tại là một cái vẻ đẹp trong đạo Phật, nhưng mà nếu không khéo, chúng ta có nhiều cái bệnh bệnh phụ kế bên, mà mấy cái bệnh phụ này nguy hiểm. Mấy cái bệnh này nó làm chúng ta rớt như không.

[40:28]Cái lý thuyết về vô phân biệt là khiến cho mình cũng bớt cố chấp, bớt hơn thua, làm cho đời sống mình cũng nhẹ nhàng. Ví dụ như bây giờ mình ở trong nhà, mình là người Phật tử, mình già rồi mình tới là vai ông, vai bà, một lần nào đó thì cháu mình, tức là hàng vai cháu, cháu nội, cháu ngoại hoặc là cháu bà con mà cũng là vai vai thế hệ cách mình là một hai thế hệ hết, đến chơi nhà. Thì theo tôn ti trật tự thì mình phải thì mình ngồi ăn chơi ở trước, đến phải chào hỏi ông bà, rồi ngồi ăn mâm phụ, ngồi ăn ở chỗ xa, không được ngồi đối diện với ông với bà, phải không? Đó là nghi thức, là cái nghi lễ bình thường để giữ cho con cháu cái sự biết

[41:14]tôn trọng người lớn, mà khi con cháu biết tôn trọng người lớn là tập cho con cháu cái tâm khiêm hạ, nó có lợi cho con cháu, đó là như vậy. Thì nếu mà mình hiểu lý Không á thì nhiều khi mình cũng không có quá cố chấp cái đó nữa. Vì có những lúc nào đó cái tình của con người nó quan trọng hơn cái tôn ti trật tự. Lúc nào đó cái mình lại không bắt mấy đứa nhỏ, mấy đứa cháu mình nó ngồi ăn riêng nữa mà kéo nó lại, ngồi ăn chung mâm với ông cho vui. Có những lúc như vậy. Được không? Cũng được thôi, có sao đâu phải không? Mà lúc đó thì những đứa cháu đó không phải vì cái đó mà nó hỗn xược, nhưng mà nó lại thấy ấm áp cái tình ông cháu. Có những lúc như vậy.

[41:57]Hoặc như bản thân tôi cũng vậy, nếu mà theo mà luật này kia nọ cho đàng hoàng, Tỳ kheo không được ăn chung mâm với cư sĩ, luật ghi rõ ràng, giới ghi rõ ràng. Nhưng mà có những lúc tôi cảm thấy có những cái tình của con người với người nó quan trọng hơn những điều đó. Và trong lúc nọ tôi vẫn mời người cư sĩ ngồi ăn chung mâm với tôi trong cái tình đạo. Những lúc đó cái tình đạo nó quan trọng hơn là cái nghi lễ mà rườm rà. Còn những lúc nào đó thì mình cũng phải giữ nghi lễ. Ví dụ như bây giờ có ba bốn thầy lạ thì phải mời cư sĩ ngồi ăn mâm riêng, để mình ngồi như tôi ngồi tiếp tiếp quý thầy cùng mâm

[42:38]là Tỳ kheo, Tỳ kheo với nhau, rồi mời cư sĩ mâm riêng. Nhưng cũng có những lúc mình cũng phải vượt qua những cái đó. Nên cái điều đó là khi mà vượt qua cái đó thì tôi không có lý luận ở trên cái lý Không, mà tôi lý luận trên cái tình, cái từ bi, cái tình đạo, tôi đi theo sự chứ tôi ít đi theo lý. Tôi sợ lý lắm. Tại vì tôi dở, tôi không dám không dám rờ tới lý nhiều. Là sao? Ví dụ bây giờ thế này: Như khi mà tôi ngồi ăn với người cư sĩ thì thế này là dùng lý nè, là tôi nói rằng: "À, tăng tục không hai, phải không? Không phân biệt." thì mời họ ngồi ăn chung trong cái bình đẳng như vậy. Thì đó là tôi lý luận theo lý để mà tôi bình đẳng với

[43:20]họ, nhưng mà tôi không có dùng cái lý luận đó. Tôi lại dùng cái lý luận là cái tình, cái tình đạo, cái tình con người. Tôi dùng cái đó, và có những lúc con người ta ngồi ăn như vậy cái tình của con người thể hiện được cái tình đạo, cái tình con người, nó cần thiết hơn, nó quan trọng hơn. Nên tôi dùng cái tình để tôi lý luận khi tôi ngồi ăn chung mâm với cư sĩ. Thì khi tôi lý luận như vậy là tôi lý luận theo sự, theo sự, chứ tôi cũng không dám theo lý. Lý sợ lắm, tôi bị lý rồi tôi ớn lắm, thật sự biết ớn.

[43:54]Còn cái người mà theo lý, ví dụ như vậy, có thể là trở nên ngang ngang, vô lễ. Nhất là mấy người mà mới hiểu đạo mà đi theo lý nguy hiểm, nguy hiểm.

[44:08]Có nhiều người cư sĩ vậy, à học được cái lý thiền rồi học tới cái lý Không rất là cao. Rồi khi mà thâm nhập cái lý Không cao quá rồi cái thấy ai cũng như ai, ai cũng như ai, là nhìn quý thầy, nhìn quý hòa thượng đều thấy giống như mình. Vô tình tạo thành cái ngang ngang, vô lễ. Mà mình thử coi cái người đó thật sự là đúng lý Không hay không á thì mình thấy họ đối với cái người trên xử sự bình đẳng, nhưng mà coi ngược lại họ đối xử với người dưới có bình đẳng hay không? Nếu đối với người cao ngạo như gặp bậc hòa thượng mà ngang ngang, coi thường, nhưng mà gặp mấy đứa con nít thì thì lại thấy mình là lớn thì cái người này lý Không lý

[44:50]Không giả, lý Không dỏm rồi, không có thiệt. Tại vì nếu mà đạt được cái lý Không thanh thản, thanh tịnh, vô phân biệt á, gặp một vị hòa thượng mà thấy được sự bình đẳng thì nhìn đứa con nít vẫn phải đối xử bình đẳng với nó như mình thì người này đúng. Còn mà gặp hòa thượng thì thấy mình bình đẳng mà gặp đứa con nít thấy mình lớn hơn nó thì cái này lý Không này chưa tới, lý Không này lý Không này ăn gian. Mà có một số người bị. Có một thời khi mà lý thiền vừa mới nổi lên á, người ta bị cái này nhiều lắm và mất đức hết, mất phước hết. Mất phước rồi sau đó không có tu được. Có một số thầy cũng vậy, có một số thầy được xuất gia,

[45:31]được thọ giới rồi cũng học thiền, hiểu cái lý Không hiểu tầm bậy, hiểu thiên lệch, không chấp không phân biệt. Nên cái lý Không này nó tàn sát, nó tiêu diệt con người ta ghê gớm. Nếu mà không hiểu cơ, không hiểu cho tới nơi tới chốn, cái này rất là nguy hiểm. Trong cái thiền ngữ nó có câu chuyện, câu chuyện về ngài Triệu Châu về ngài Đơn Hà. Trong lúc đó có con con mèo nó hay chạy qua chạy lại. Thì lúc đó có cái sân chung họ qua lại cái họ đùa giỡn, họ giành nhau. Nói con mèo này của nhà Đông, có người giành con mèo này của nhà Tây. Thì lúc mà giành nhau như vậy thì trong tâm còn giữ được chánh niệm không?

[46:11]Còn giữ được không? Thường là mất chánh niệm, lúc đó không kiểm soát được tâm mình để tu. Thế ngài Nam Tuyền ngài đi tới, ngài thấy vậy ngài chộp con mèo, ngài giơ dao lên. Ngài nói: "Nói được thì không chém, mà nói không được là ông chém đứt cái cổ con mèo." Thế trong bất ngờ ổng đưa ra một cái bài toán hóc búa là phải cứu con mèo bằng một cái thiền lý gì đó cho nó đạt được.

[46:37]Mà sở dĩ mà ngài làm một cái điều độc đáo, độc ác, mình gọi là độc ác như vậy là có cái lý do. Cứ có cái lý do là cái mà mấy vị đó gọi là quý giá để giành giựt lẫn nhau đó là cái đó ngài sẽ phá hủy nó liền. Cái đó không có giá trị, đừng có chấp cái đó. Mặc dù việc mà ngài chém nó đúng là phạm giới thiệt, hơi ác thiệt, nhưng mà để cảnh tỉnh các vị cái mà mọi người giành giựt với nhau cái đó không có giá trị nên ổng sắp sửa ổng đập nó đây, giết nó đây. Mà phải nói ra một cái lý nào để chứng tỏ rằng trong lúc hồi nãy đùa giỡn giành con mèo vẫn giữ được chánh niệm. Thì hai bên nhà tăng hai bên nhà tăng Đông Tây không ai nói được lời nào vì

[47:18]lúc đó họ thất niệm hết, không nói lên được lời nào để biểu lộ đạo lý. Chặt cái bực đứt cái đầu con mèo rồi ngài bỏ đi luôn. Một lát sau ngài Triệu Châu về, ngài Triệu Châu thì ngài Nam Tuyền mới kể lại câu chuyện. Thì ngài Triệu Châu là đệ tử ở trong chúng, đệ tử nhưng mà rất là giỏi, giỏi ghê gớm lắm. Thì ngài Nam Tuyền mới kể lại câu chuyện, nói rằng để thử coi ngài Triệu Châu có thể đưa ra một cái lời nói gì

[47:49]Thì ngài Triệu Châu nghe nói như vậy cái tuột chân ra lấy cái đôi dép để lên đầu đi ra. Thì ngài Nam Tuyền mới khen: "Nếu lúc nãy mà có ông thì ông đã cứu được con mèo." Cái đôi dép là cái để dưới đất, là cái gì, cái hạ tiện, phải không? Đầu là cái cao quý. Để lên như vậy có nghĩa là làm sao? Ngài không còn phân biệt giữa cái cao quý và cái hạ tiện, đó là cái lý "Không", lý "Không phân biệt". Hoặc là ngài Đơn Hà. Ngài làm cư sĩ, ngài đến cái hội ngài Thạch Đầu cái ngài ở tu. Ngài tu rồi ngài chứng đâu trong đó luôn không ai biết. Ngài lặng lẽ không nói gì, ngài cứ làm công quả bình thường, nhưng mà ngài Thạch Đầu nhìn biết.

[48:35]Ngài Thạch Đầu cũng là một vị đắc đạo, biết cái ngài mới nói một câu: "Ngày mai cắt cỏ trước điện Phật." Qua ngày mai cái chúng mới lấy liềm lấy đồ lại để đi cắt cỏ, chỉ có mình ngài hiểu ý đúng. Tâm với tâm hiểu nhau. Ngài bưng cái chậu nước với cái dao cạo để trên trước điện Phật, để cho ngài làm gì? Cái ngài Thạch Đầu cười, lấy dao cạo tóc giùm cho ngài. Cái là xuất gia, cái nghi lễ xuất gia. Khi cạo tóc xong rồi cái ngài Thạch Đầu mới theo nghi thức mà nói giới, đọc ra giới. Ngài bịt tai ngài bỏ ngài đi, không nghe. Cái đó nghĩa là gì? Thấy giống như ngài hỗn, phải không? Nói thầy mình đang dạy bịt tai bỏ đi.

[49:17]Nhưng mà không phải, mà ngài Thạch Đầu bằng ý. Quý vị biết sao? Vì lúc đó cái ngộ trong tâm ngài, cái sự thanh tịnh của tâm ngài, ngài tự biết là ngài không thể phạm lỗi nữa. Nghĩa là cái thanh tịnh trong tâm ngài nó cực độ nên ngài không bao giờ còn có thể khởi tham sân si ái nộ gì nữa hết trơn. Ngài tự biết điều đó rất là vững vàng, nên ngài bịt tai ngài bỏ đi, nghĩa là nói thêm thừa, thừa, cái tâm ngài không có dính cái chuyện đó nữa, nói giới thừa. Cái ý nghĩa như vậy. Rồi sau đó ngài từ giã ngài Thạch Đầu, ngài sang Mã Tổ Đạo Nhất. Vô, ổng không thèm vô chào ông trụ trì, ổng vô chánh điện.

[49:57]Trong chánh điện thì có nhiều cái tượng, tượng thánh, tượng tổ rồi tượng Phật rồi, thì có cái tượng thánh, thánh tượng La Hán gì đó, tượng chắc cũng bự. Ổng thót cái ổng nhảy lên ổng ngồi ngồi lên cổ lên vai tượng thánh, ngồi vắt vẻo ổng chơi trển. Mấy ông tăng hương đăng trợn mắt lên: "Trời ơi! Sao mà dám hỗn?" Có mấy ông kia xúm lại coi, chật chánh điện, thấy ổng ngồi rồi ổng cười cười, ổng nhịp nhịp cái chân, ngồi vắt lên vai Bồ Tát nào không biết, chắc ngài cũng Bồ Tát, Quan Âm Văn Thù gì á. Cái chúng lật đật chạy lại báo ngài ngài Mã Tổ biết. Ngài Mã Tổ nghe rồi mới chống gậy đi ra coi. Nghe chống gậy ra dòm, thấy thấy ngài đang ngồi trên

[50:38]vai của Bồ Tát Quan Âm, cái ngài Mã Tổ khen: "Đây là con ta! Thiên Nhiên, Thiên Nhiên." Tức là ngài Mã Tổ cũng là một bậc thánh thần siêu việt, trong cái nhìn đầu tiên là ngài biết căn cơ của người này liền. Biết căn cơ của người này trên hai lĩnh vực. Thứ nhất, biết người này đã chứng ngộ rồi. Thứ hai, biết người này tự chứng, không cần phải dạy nhiều. Nên ngài khen và đặt luôn pháp danh là Thiên Nhiên. Thiên Nhiên. Tức là thấy ngồi trên vai tượng Bồ Tát thì ổng: "A, con ta, Thiên Nhiên!" Cái ổng đặt luôn pháp danh. Bên ngài Thạch Đầu cạo tóc chưa kịp đặt pháp danh ổng đi mất rồi. Qua bên đây leo lên tượng thánh ngồi, cái ông này đặt cái pháp danh Thiên Nhiên.

[51:21]Cái ổng mới nghe đặt pháp danh rồi ổng mới tuột xuống ổng đảnh lễ thầy. Chuyện mấy ông mấy ông thiền sư rắc rối. Họ tu theo lý á, tức là ổng thấy thấy không còn cái phân biệt, cái tâm thanh tịnh không còn cái phân biệt. Mà như mình thì mình do tâm mình còn là phàm tục, mình còn động, mình không dám làm cái chuyện vô lễ như vậy. Còn ổng vô phân biệt cực độ, ổng thấy thánh phàm không hai nữa. Ổng thấy cái tượng đó là thánh, không có gì gọi là thánh, bản thân ổng là phàm, không có gì gọi là phàm, hai cái đó không còn phân biệt, không còn ranh giới nữa. Nên ổng nhảy lên ổng ngồi luôn, chứng tỏ sự bình đẳng.

[52:02]Nên mà mấy ông tăng kia nhìn không ra. Như bây giờ mình leo lên tượng Bồ Tát mình ngồi được không? Không, cũng được, leo lên thì bắc thang leo lên ngồi cũng được, không sao hết trơn á. Nhưng mà nó khổ nỗi một cái thế này, khổ nỗi một cái nó là trong tâm mình còn vọng động, còn phân biệt thì cái hành vi đó gọi là xúc phạm. Mà xúc phạm như vậy mình có thể tổn phước rất là nặng. Có thể là nhiều kiếp mình làm con người hạ tiện, mình làm con người tối ngày đi cõng thiên hạ mà đi, đội đầu cho thiên hạ mà đi thôi. Để trả quả báo này có thể trong 10 kiếp, 20 kiếp gì đó, khủng khiếp chứ không có đơn giản.

[52:40]Còn cái tâm vô phân biệt rồi thì mình không có bàn tới, chuyện đó lại. Nên đây là cái cái cái tâm vô phân biệt của cái lý là như vậy. Mà tột cùng của cái lý chúng ta nói hôm trước tức là "Sắc tức là Không", cái có, cái hiện hữu, cái tồn tại mà nó bình đẳng với cái không có, không hiện hữu, không tồn tại. Cái này là cái gì thì hôm trước chúng ta nói rồi, không có lặp lại nữa. Bây giờ chúng ta phân biệt cái lý nó do đâu mà có? Có những người hiểu lý là do học, mà có người ngộ lý là do tâm có định, hai cái mức độ này khác nhau. Có nhiều người do có cái căn duyên với Phật pháp từ nhiều đời trước, cho nên đời này khi mình đọc cái cuốn sách nói về lý "Không",

[53:33]tự nhiên mình thích, hiểu liền, chấp nhận liền. Chấp nhận thôi chứ hiểu thì cũng chưa hiểu kỹ, nhưng mà do cái căn lành đời trước nên mình chấp nhận: "À, cuộc đời này là Không." Mặc dầu có thể chưa chứng minh được hết, nhưng mình tin chắc cuộc đời này là "Không", cái hay là như vậy đó, là có thiện căn đó. Nên ở đây ví dụ như khi mà nãy giờ tôi nói là cuộc đời này là hư ảo, mà nếu quý Phật tử nghe, quý Phật tử chấp nhận, tức là đời trước quý Phật tử có thiện căn khá nhiều, chưa ngộ, tâm chưa định, mà chấp nhận được cái lý "Không" này, đó là phải biết mình có thiện căn. Còn nếu mà khi tôi nói cuộc đời này là hư ảo, quý Phật tử nghe ngẩn ngơ, nói:

[54:16]"Sao cuộc đời còn vui quá mà ai nói hư ảo gì?", tức là thiện căn mình chưa đủ. Đó, ở đây ai thiện căn đủ rồi giơ tay lên?

[54:27]Cười.

[54:31]Rồi, nhưng mà có cái nguy hiểm của cái người hiểu là thế này, hiểu mà do học á là mình hiểu cái gì cũng "Không" hết á, nói cái gì cũng "Không" hết á, nhưng mà gặp việc thì tâm mình vẫn động, phải không? Tại vì mình chưa được định, mình hiểu là do cái thiện căn đời trước thôi, chứ không phải là do cái chứng. Cho nên tuy mình nói là quá khứ cũng là không, vị lai là không, hiện tại cũng là không, mình nói nhưng ai tát mình cái bốp là sừng mặt lên liền, đó là mình gặp việc là vẫn động. Như là có ngài ở trong cái "Góp nhặt cát đá" có cái chuyện á một thiền sinh tên là Yamaoka đó, ổng gặp một thiền sư ổng trình bày

[55:07]kiến giải, cái gì cũng không, cái gì cũng không hết. Nói cái này không, cái kia không, cái nọ không. Ông thiền sư cầm cái điếu ổng đập cho cái bốp, cái ổng sưng mặt lên nhìn. Ổng nói: "Ủa, ông nói gì cũng không thì cái giận này là cái gì?" Đó, đó là ông kia mới tỉnh ra là mình hiểu mà tâm chưa chứng, đó là cái như vậy. Thì tuy có thiện căn đời trước để hiểu được lý "Không" đời này nhưng mà mình cứ hễ gặp ai mình cũng nói cái lý "Không" thì nguy hiểm, nguy hiểm, tổn phước nặng lắm. Vì sao? Vì mình nói được cái lý của người chứng mà mình thật sự chưa chưa chứng. Đây là điều tổn phước, tổn phước nặng nề thê thảm.

[55:49]Mà nhiều người bị chỗ này lắm rồi. Nghĩa là bao nhiêu anh hùng tu theo Phật pháp rớt lệt bệt hết là vì chỗ này. Hiểu được lý "Không", trình bày cái lý "Không", nó vô tình rơi vào cái lỗi khoe khoang, mình nói cái lý của người chứng mà bản thân mình chưa chứng, đó. Nhiều người nghĩa là xuất gia rồi phải hoàn tục là vì hết phước là do đi đâu cũng nói lý "Không" này. Rồi nhiều cư sĩ vậy đó, đang độc thân để chuẩn bị đi tu, gặp ai cũng nói lý "Không", ít bữa phải lấy vợ luôn, hết tu luôn, phước mất hết rồi. Nên cái lý "Không" này là tuy là cái lý rất là đẹp, rất là hay trong Phật pháp, mà giết không biết bao nhiêu anh hùng.

[56:29]Nên chúng ta cẩn thận với nó. Cẩn thận đừng có đụng tới, nó nó như con dao bén vậy đó, mình không nắm được cái cán thì để tránh xa một bên, chừng nào mà mình vững vàng nắm được cái cán hãy sử dụng cái lý "Không" này. Còn không thì mình rờ chạm bậy bạ một lát nó bập nhầm cái lưỡi đứt tay đứt chân rất nguy hiểm, tổn hết trơn. Còn cái người mà ngộ được lý "Không" mà do tâm có định á, cho nên gặp việc mình không có động tâm, thì người này là ngộ được lý "Không" thật sự, toát ra bên ngoài một cái vẻ thanh thoát, tự tại, đẹp đẽ, tự nhiên. Thì đây là cái biểu tượng của người tu theo Phật pháp. Mình chưa nói đến những cái lỗi vi tế tiếp tục phải tìm,

[57:11]nhưng mà trên căn bản, một cái người mà tu tâm được vào định, tu tâm có định rồi, nhìn cuộc đời là hư ảo rồi, thì mình thấy người đó đẹp lắm. Nghĩa là hoặc là mình sống gần cái người đó, hoặc là mình lâu lâu mới gặp một lần, mình vẫn thấy cái cách sống người đó có một cái gì đẹp, có gì ung dung, thanh thoát, nhẹ nhàng, từ ái gì trong đó dễ chịu lắm. Mình đến gần mình thấy lòng mình nó trầm lắng lại, nó dễ chịu lại. Chúng ta thấy thế này, trong cái cuộc sống thực tế này đó, ví dụ có những vị mà khi quý Phật tử đến gần tự nhiên mình thấy tâm mình không yên. Thấy mình gặp những vị thầy á, đến gặp thầy,

[57:56]gặp cô, gặp chứ mình chào hỏi cũng kính trọng mà mình thấy sao mình bất an. Nhưng có những vị thầy, vị cô mình đến gần cái tự nhiên mình thấy dễ chịu liền, tâm nhẹ nhàng xuống liền. Có không? Có không? Còn cái người không có gì hết là có đi chùa đâu mà có.

[58:19]Mà mình đến gần được cái vị đó đó thì dĩ nhiên có nhiều lý do, nhưng mà trong trường hợp cái người mà họ ngộ được lý không thật sự do định, họ cũng làm cho mình yên. Tâm họ lắng xuống rồi, mình đến gần cái mình yên theo liền. Dù mình có lăng xăng lăng xăng một lát nói lốp bốp điều này điều kia, một lát là từ từ cái mình cũng lắng lại. Tại vì cái vị đó cứ ngồi nghe mình cứ thinh thản, cười cười cười nghe cái lát mình cũng lắng theo. Cho nên cái người nó có lợi cho cuộc đời, tâm mà có định rồi có lợi cho cuộc đời. Chỉ đề phòng cái trường hợp là cái người đó có định, ngộ được lý không mà còn kiêu mạn, thầm kín thì hơi nguy à.

[58:55]Mai mốt cái định nó mất à, cái định nó mất. Nên đây là cái cái khó. Nên tôi nói đó, mình tu theo đạo Phật á, tu theo thiền định nó giống như xây cái nhà cao tầng, giống như cái xây dựng cái nhà cao tầng, nhà lầu nhiều tầng. Ví dụ, với cái người mà họ xây cái móng đó đó, mình biết người này có thể lên được mười tầng lầu. Nhưng có người xây cái móng đó, mình biết người này ba tầng lên bốn tầng sập à. Có người xây cái móng, mình nói người này có thể lên được năm chục tầng lầu. Cái móng là cái gì? Nói rồi. Là cái gì?

[59:37]Đạo đức, là công đức. Nên khi mình nhìn cái người đó, mình thấy cái đạo đức họ sâu, vững thì mình biết định cỡ nào thì định, cái đạo đức của họ vẫn đỡ, hứng được hết, họ cứ tiếp tục đi vào định cho sâu không sao. Nhưng cái người đó mình thấy cái đạo đức cạn quá, cạn quá, trong đời sống mình thấy cái lòng từ bi chưa nhiều, à rồi mình thấy không có vị tha, ít có lễ độ, ít có khiêm hạ, thì nghe người đó tu bết bữa nghe nói tâm yên, có định thì nói thôi ngang đây đừng đi nữa. Đi nữa điên à, điên ráng chịu à. Nó là sự thật như vậy. Cái nhà không xây thì thôi, mà xây lên quá cái móng của mình là sập chứ nó không phải là là không xây được.

[1:00:22]Phải mà mình xây không được thôi mình đứng yên nó dễ, không nói. Ví dụ mình tu được ngang cái mức định đó, mình tu thêm nữa không được, không nói. Nhưng mà ở đây khổ cái đạo đức mà nó kém á, ráng tu thêm cho vào định sâu là nó sụp đổ là điên luôn, nó không trở thành con người bình thường như lúc trước. Cái người bình thường không tu không sao á, thì họ cứ vậy, họ sống vậy, nên hư họ chịu, tội phước họ làm họ ráng mà hưởng. Còn cái người tu để vào được định trong thiền á thì đòi hỏi cái đạo đức kia thật sâu, thật dày. Cái đạo đức mà cạn mà định vào sâu là nguy hiểm à, ít bữa điên liền. Lý do người ta tu thiền bị điên là do cái đạo đức không đủ

[1:01:03]để nó chở, che chở cái định, không đủ để nó hứng, nó nó nâng đỡ được cái định. Vì định mà càng cao đòi hỏi đạo đức dữ dội lắm, chịu không nổi. Đây là điều tôi nói tới nói lui quý Phật tử phải nhớ. Tôi nói điều này quý Phật tử hình như chưa thấm, nhìn mấy đôi mắt mọi người chưa có hiểu, chưa có thấm thía, chưa có đau độ, đau khổ, chưa rớt nước mắt, chưa đổ mồ hôi nên chưa hiểu cái câu tôi vừa nói. Định nó đòi hỏi đạo đức nâng đỡ nó dữ lắm. Định mà càng sâu chừng nào thì nó đòi cái nhu cầu khát khao, cái thúc bách về đạo đức của nó dữ dội lắm. Tôi nói câu này quý Phật tử chưa hiểu. Quý Phật tử chưa hiểu nhưng thôi cứ ghi nhớ giùm tôi cái câu này,

[1:01:48]ghi nhớ in sâu và tin chắc cái điều này giùm tôi, rồi từ từ rồi sau này sẽ thấm. Nhưng mà đây là cái tiên đề tôi nói. Quý Phật tử có càng ngày càng tu thì sẽ hiểu thêm cái điều này. Nhớ giùm tôi cái điều này: Cái định nó đòi hỏi cái đạo đức dữ lắm. Nên có những người mà do cái duyên của họ không biết sao á thì họ tu họ cứ đi vào định, cứ đâm đầu đi vào định mà không củng cố đạo đức, đó là những người đáng thương. Họ không thấy được cái nhu cầu của cái định nó đòi hỏi về cái đạo đức, nên không cần tu cái đời sống vị tha, không cần luyện tâm từ bi, khiêm hạ gì hết, cứ miễn sao cho tâm định sâu, định sâu, định sâu.

[1:02:28]Một ngày nào đó mình sẽ nghe rồi họ bắt đầu phát điên. Đó là lý do như vậy. Rất đáng sợ! Cho nên chúng ta trước hết nếu cần mình bỏ hẳn luôn một kiếp này để tu dưỡng đạo đức thật kỹ. Vậy đó mà chắc ăn. Có cái nền móng vững rồi, kiếp sau cái cái nhà lầu mình có thể xây được năm sáu chục tầng luôn, không sao.

[1:02:53]Cái lý ngộ là do cái định, mà cái sự mình thấu được là do trí tuệ, do thông minh. Hai cái này nó khác nhau à. Có người đó, ví dụ như tu được định, ngộ cái lý không, cho nên đối với các thiền ngữ của các thiền sư là thông suốt hết. Nhiều khi đọc lại các thiền ngữ các thiền sư, ông này nói qua ông kia nói lại hiểu liền, hiểu không nghi ngại gì hết. Đó là người bản thân mình tu có định, ngộ được cái lý không, không có ngăn ngại và có thể giải thích cái lý không tường tận. Thì người như vậy là người ngộ được lý. Nhưng mà coi chừng, khi gặp việc ứng xử vẫn sơ suất như thường, vì mới được lý chưa có được sự.

[1:03:43]Đó, đây là cái chỗ mà chúng ta thấy rắc rối trong đạo Phật. Chúng ta đừng có tưởng là tâm mình được định rồi, mình tự tại rồi, vậy là mình có thể sống thanh thản giữa cuộc đời này không lầm lỗi. Hiểu như vậy là hiểu lầm.

[1:04:01]Nhiều người bị cái này lắm. Tu theo đạo Phật hiểu được lý không, tâm được định rồi, thấy mình như vậy con đường vững chắc cứ vậy mà đi, nhưng không ngờ mới đi một bên thôi. Gặp việc ứng xử vẫn sai lầm như thường, vẫn sơ suất như thường. Vì tôi, bản thân tôi gặp trường hợp đó nhiều quá. Vẫn sơ suất như thường. Ví dụ khi mà người ta đến nói chuyện hay là giải quyết công việc trong chùa phân tích việc này việc kia, vẫn giải quyết sai như thường. Đó, đó là cái mà mà mà đáng sợ. Còn cái trường hợp mà người thấu được sự á thì họ là người thông minh trí tuệ lắm. Gặp việc cái họ giải quyết khôn ngoan lắm,

[1:04:45]thấy được hậu quả lâu dài nó đi về đâu, làm việc này mà thấy được ảnh hưởng qua ba bốn cái việc khác như thế nào, nên họ là người sáng suốt, thông minh. Sáng suốt, thông minh do đâu mà có? Do đâu mà có? Do phước nhiều đời mà có. Cho nên ở đây là hai trường hợp nó khác nhau hẳn luôn à. Cái người mà thấu được, ngộ được lý á thì do định mà có, tâm tu cho định là có cái cái lý không liền. Nhưng mà để ứng được sự đó, gặp việc là giải quyết đâu đó thông suốt, chu đáo, tinh tế, tỉ mỉ, kỹ lưỡng á, có trước có sau hết, thì đây là cái trí thông minh, cái trí tuệ, cái phước của nhiều đời mà có. Nên ở đây mình thấy như có những người họ không có định mà họ

[1:05:31]giải quyết cái công việc rất là tốt, hoặc là ngược lại. Như có những người họ do cái phước gì đời trước họ giỏi giắn trong công việc. Ví dụ việc chùa họ điều hành thế này, giải quyết thế kia nó đâu đó nó trôi chảy, nó lưu loát hết, thì người này là có cái trí, có cái phước của đời trước, mà có khi tâm chưa định. Còn có người tâm định, nhưng mà ra giao cho việc chùa gánh vác là trật, làm không được, không đủ trí tuệ để nhìn trước nhìn sau. Ví dụ như bây giờ làm mua gạo cho chúng ăn, hay sắp nhà bếp việc này, hay chẻ củi, phân công người nọ, phân công trật lất. Rồi giải quyết công việc cái sơ suất tùm lum, không thấy được hậu quả.

[1:06:13]Đó, tuy cái lý không thì mình chứng, tâm tự tại mà giải quyết công việc không khôn ngoan, không khôn ngoan. Còn cái người mà họ có trí tuệ thông minh họ ứng được sự thì họ giải quyết công việc rất khôn ngoan.

[1:06:30]Nên ở đây cái chỗ này vậy, cái người mà ngộ được lý tâm an lạc vậy chớ mà ứng xử cuộc đời không có chu đáo, chưa chắc là chu đáo. Còn cái người mà được sự là làm được việc trong cuộc đời á. Ở đây chúng ta thấy cái người mà thấu được sự á thì cái căn bản để gọi là thấu được sự là gì? Là phải để ý được cái luật nghiệp báo nhân quả. Họ hiểu sâu luật nhân quả nghiệp báo, thấy cái luật nhân quả nó chi phối, luồn lách trong tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống này, và họ quan tâm nhiều đến đạo đức. Khi tôi nói như vậy thì quý Phật tử biết là tôi chọn con đường nào rồi cái gì, phải không? Vậy tôi đi con đường nào? Đi con đường sự.

[1:07:17]Nên tôi mới viết sách nói về nhân quả hay giảng nhắc nhở về đạo đức á, là như vậy đó, là tôi đi con đường sự. Thật ra sự nó không có rời lý đâu, nhưng mà căn bản sự là như vậy đó. Khi mình tu tập mà mình đi vội vào cái lý không nó nguy hiểm, mình phải tạo cái nền tảng về sự cho kỹ. Nhưng mà có cái khổ là cái sự đi cái sự nó đòi hỏi thông minh, trí tuệ. Nó khó. Thì những người nào mà nếu mà ở ngoài đời học giỏi á thì người đó có cái phước để có thể đi vào cái sự. Vì cái sự nó mỗi trường hợp nó mỗi khác. Nghĩa là trong cái cuộc sống đa dạng, phức tạp này, mỗi trường hợp nó biến hóa thiên biến vạn hóa khác nhau hết.

[1:08:00]Mình không có cái khuôn mẫu chung để áp dụng cho tất cả mọi trường hợp, mà tự mỗi trường hợp mình phải nhìn cho ra mà giải quyết. Nên phải rất là khôn, rất là sáng suốt, thông minh, trí tuệ là vậy đó. Nhưng còn cái lý dễ lắm, nó có một cái mẫu một là cái chữ không. Đụng đâu cứ đem chữ không phang vô đó cái là xong chuyện, là được rồi, đạt yêu cầu rồi đó, phải không? Ví dụ như mình gặp chuyện phiền não tới, mình nói ôi, cuộc xem nó như không, hư ảo là vậy là xong, đúng lý rồi đó. Hay là ai mắng chửi mình, nhưng mình nói coi như không, là mình lòng mình tự tại liền. Thì vậy là đạt rồi. Nhưng mà sự không phải chừng đó.

[1:08:39]Sự là mỗi trường hợp là giải quyết khác hết, mỗi trường hợp giải quyết khác hết, mà rất là tinh tế, rất là kỹ lưỡng. Nên cái sự nó rắc rối mà đòi hỏi phải rất thông minh, rất trí tuệ. Nên đó là lý do tại sao mà tôi ca ngợi bác Hai Như Sanh ở Long Xuyên là vậy. Vì bác thuộc loại người trí tuệ, thông minh để khi mỗi công việc là có cách ứng xử linh hoạt, tinh tế trong từng trường hợp riêng, không có cái khuôn mẫu chung. Nó không có bám vào một cái khuôn mẫu chung nào để giải quyết mọi việc. Không bám, buông tay ra, buông tay ra. Buông tay ra không có giữ cái gì hết, nhưng mà đụng chuyện là khởi cái hạnh, khởi cái trí ra để xử liền.

[1:09:19]Nó khác liền. Ví dụ như có người đến hỏi tôi về chuyện hôn nhân gia đình thì tôi thấy người này vướng vào mấy chuyện khổ, tôi khuyên đi tu. Tôi khuyên là đừng có lập gia đình, để tâm làm phước, sau này đi tu. Rồi có cái người có cô phật tử cũng quy y với tôi thì có người yêu, rồi mỗi lần gặp tôi là cứ than thở chuyện người yêu. Khổ sở nói: "Con nhớ ảnh quá", này kia nọ. Khổ. Mà hồi mà gặp cái người yêu cũng vậy. Rồi cái cái gia đình hỏi với cổ thấy sao, cổ mới nói: "Dạ, chừng nào mà thầy chịu là con chịu". Trời ơi. Cái gia đình hỏi tôi, tôi nói: "Trời ơi, làm sao thầy đi tu thầy đâu có nói mấy cái chuyện đó.

[1:10:03]Thầy chỉ nhận xét thôi. Thầy thấy người này có nhiều ưu điểm, còn một vài cái khuyết điểm là thầy đã dặn rồi, khắc phục được thì tương đối là khá hoàn hảo. Chịu hay không chịu quyết định là là là ấy mỗi người, chứ sao bắt thầy chịu giùm?". Rồi sau rồi hai người cũng tới với nhau. Tới rồi cái cũng có nhiều chuyện nó xảy ra chứ không không có cuộc tình nào mà nó suôn sẻ. Thì quý phật tử yêu cũng nhiều, chắc cũng rành ba vụ đó rồi. Thì nó cũng không có suôn sẻ. Thì mỗi lần mà gặp tôi là cứ than, cứ nỗi mà tôi đang bệnh gần chết thì tôi trốn không cho ai gặp hết mà cứ nhắn tin năn nỉ. Năn nỉ: "Thầy gọi điện thoại cho con than",

[1:10:41]rồi "Thầy tới thăm con nói chuyện" này, thì toàn bàn chuyện tình yêu không à. Thì tôi biết cái người này cũng chưa có tu hành được thì tôi không có nói cái chuyện mà mà bỏ để mà đi tu. Tôi chỉ khuyên là cái thái độ trong cái tình yêu thôi. Như gặp cái chuyện đó phải kiên nhẫn, phải độ lượng. Ừm, sao tôi cũng quên mất tiêu hết trơn. Đại, đại khái là cứ tiếp tục sống cho tốt. Sống cho tốt chứ tôi cũng không nói gì chuyện tu hành nhiều, vì cái người này chưa có đủ tâm để nghe thì tôi chỉ mong là thôi ở trong lĩnh vực nào tốt trong lĩnh vực đó. Nhưng mà nghe cô nói câu này thì tôi cũng hài lòng. Cổ mới kể:

[1:11:21]"Ảnh, ảnh gửi thư về cho con ảnh nói rằng là anh mong ước là anh sẽ đem đến hạnh phúc cho em hơn tất cả những người bạn của của anh". Thì con mới trả lời rằng: "Thầy em dạy em là nếu mình sống mà hưởng hạnh phúc là sẽ bị tổn phước. Nên mình sống là chỉ nên mà làm cái gì có lợi cho cuộc đời". Cái thầy nói thiệt, thầy mệt với con quá, ngó con là cục nợ của thầy nhưng mà nói được câu này thôi thầy cũng hả dạ. Thành thử tôi thấy rằng nó có nhiều trường hợp để mình xử. Có những khi mình tùy thuận rồi mình từ từ mình dạy đạo lý cho người ta. Như trong cái trường hợp mà có nhiều người hay hỏi tôi này.

[1:11:59]Thì có những người không thích nghe băng giảng, mình đưa băng giảng cho người ta nghe, người ta không chịu nghe. Rồi có nhiều người hỏi như vợ biết đạo muốn cho chồng nghe băng, chồng không thèm nghe. Hay ông chồng biết đạo muốn đưa băng cho vợ nghe, vợ không thèm nghe. Rồi cứ hỏi tôi: "Bây giờ phải làm sao?". Phải làm sao? Thì tôi tôi mới trả lời thế này. Để tôi nói ở đây để quý phật tử cùng có cái cái tham khảo thêm. Là có cái người mà họ chịu nghe băng là họ đã thiện căn nhiều rồi. Tôi tạm phân biệt ra làm ba cái căn cơ trong cái việc học đạo. Căn cơ thứ nhất á là cái người mà chịu khó đọc sách.

[1:12:37]Là đưa kinh đưa sách mà chịu khó ngồi đọc, cái nào không hiểu mà đọc thì người đó căn cơ là cao nhất, phải không? Cái người thứ hai đó thì đọc sách đọc không nổi, khó hiểu quá, thích nghe băng giảng, mấy ông thầy giảng ông giảng hết rồi nghe dễ hiểu, thì cái người như vậy là căn cơ thứ hai. Còn cái căn cơ thứ ba là cũng không thích nghe băng nữa, "Nghe mệt quá, nói gì đâu cả tiếng đồng hồ mệt quá hà, hổng có nghe". Thì người này là căn cơ thứ ba. Nhưng mà không phải là hết thuốc chữa, vẫn có. Có ở chỗ này nè. Có ở chỗ này là thì cái mình mà muốn độ người ta đó thì mình phải sống cho tốt trước.

[1:13:13]Người ta không thích nghe đạo lý đừng có nói. Đừng có nói hoài cái họ chọc à. Họ chọc: "Đó, nữa, thuyết pháp nữa à, dạy đời nữa à". Đừng có nói, mình cứ sống cho tốt thôi. Cứ sống cho tốt rồi từ từ cái họ họ có cái lòng quý trọng mình qua cái đời sống của mình. Qua cái đời sống mình, giống như là tôi nhớ cái trường hợp mà tôi với cái con bé phật tử đó cũng vậy đó. Trường hợp tôi không có thèm nói đạo hết trơn á, chỉ khuyên chỉ sống toàn hoàn toàn tùy thuận, cố vấn giúp cho nó yêu cho tốt thằng kia thôi chứ không gì hết trơn. Không có nói đạo lý gì hết. Nhưng mà không ngờ một vài lời nói đạo lý nó rớt vô tâm nó

[1:13:47]hồi nào nó không hay, cho nên nó mới lặp được cái câu đó. Thì cũng vậy, thì khi mà cái người nào mình muốn độ họ, băng họ cũng không chịu nghe, sách dĩ nhiên là không chịu đọc rồi, băng không chịu nghe thì ráng sống cho tốt. Rồi khi mà mình thấy họ quý trọng rồi, lâu lâu mình nói một vài câu đạo lý khi gặp trường hợp nào đó, thì mình nói một vài câu đạo lý để để cho họ, họ mới nhận xét. Mà nói trong trường hợp thực tế nha, chứ không được nói mông lung à. Khi mà đi đang ngồi mà mà mà nấu cơm mà tự nhiên cũng nói: "Thế gian này là hư ảo", người ta nghe không nổi.

[1:14:21]Thí dụ, mình chỉ nói trong cái trường hợp nào thực tế mà ứng dụng đạo lý thì nói ngay ra lúc đó liền. Ví dụ như có người có người người người người nghèo họ đến, họ xin mình, ví dụ hàng xóm họ nghèo đến họ họ đến xin gạo, mình lấy gạo mình cho. Mình cho rồi cái khi mình cho gạo thì cho cái người mà người mà bạn mà mình cần độ đó, mình nói thêm câu. Lúc mà họ chứng kiến cái việc mà mình làm phước đó rồi, họ cũng đã quý trọng mình trong đời sống rồi, mình nói thêm một câu mình nói: "Tội nghiệp! Sống trên đời mà không có phước, khổ như vậy". Nói câu vậy thôi. Thì làm cho họ rớt vào đầu họ hiểu rằng à

[1:14:58]khi mà có phước, người ta không phải khổ sở, nghèo khó, phải đi xin như vậy. Mình nói một chút thôi đừng nói nhiều, nói nhiều quá lải nhải họ ghét. Rồi lâu gặp cái chuyện gì lại nói thêm một câu ví dụ như có người nào đó cãi gì mình dữ dội lắm, mình chỉ cười cười rồi mình mình nhịn, mình nhịn thì cái người bạn mình thấy vậy mới hỏi sao mà nó nó sai mà mình nhịn, thì mình mới trả lời, mình nói: "Cái hơn thua nhiều khi không quan trọng bằng cái tình cảm". Phải không? Vì mình nói một câu vậy thôi. Cái người thì mình sống thế nào mình giải thích thấy đạo lý như thế, trên vai rớt thêm được câu nữa.

[1:15:33]Thì 3 năm sau thì nghe cũng được nhiều đạo lý rồi đó, lúc đó mình mở băng nghe cái họ ngồi nghe luôn. Nhiều đạo lý thấm trong người rồi, lúc đó là tâm nó đã sẵn sàng rồi, nó đã đón nhận được đạo lý rồi. Chứ còn bây giờ mà cứ đưa băng nghe là là là một á là giả bộ trả lại: "À, nghe rồi, hay hay hay, nghe rồi", hổng nghe hết. Còn hai là đi thâu nhạc nghe luôn. Đi sang nhạc, lấy cái băng sẵn có băng cho nè, xoá, thâu nhạc vô rồi giờ cái gì mà nghe La Đi Đì Đưa, con gái bây giờ thích làm ngơ gì đó.

[1:16:09]Rồi trong cái sự việc á, chúng ta trở lại cái lý sự. Trong cái sự việc á là chúng ta dựa vào lý để ứng xử hay dựa vào sự để ứng xử nhiều khi nó cũng giống nhau lắm. Ví dụ như khi mình thấy một người bị nổi nóng, thấy người đó họ gặp chuyện họ nổi nóng thì nếu mình dựa vào lý á mình sẽ khuyên họ làm sao? Mình khuyên là "Thôi, mọi việc trên đời này đều là hư ảo", phải không? "Đừng nóng nữa". Đó là mình dựa vào lý để khuyên. Nếu mình dựa vào sự thì mình khuyên làm sao? Thì nói sự thì nó không có cái khuôn mẫu cố định. Mình phải tùy trường hợp đó mà dùng cái trí tuệ mình phán đoán mới giải, mới gỡ ra được.

[1:16:49]Mà tuy nhiên đây tạm gọi là một cái khuôn mẫu đi, chứ nếu phật tử bám vào khuôn mẫu này là cũng không đúng là sự nữa rồi. Là mình biết hễ mà nổi nóng là do có kiêu mạn, thấy không? Có kiêu mạn bên trong. Thì mình nói: "Thôi, sở dĩ anh nóng nãy giờ là tại anh thấy anh anh anh cao quá. Bây giờ anh thấy anh thấp lại anh sẽ không nổi nóng nữa". Đó là mình dùng sự để gỡ cho người ta. Nhưng quý phật tử đừng có chấp vào cái câu trả lời này vì đây là một cái khuôn rồi, mà hễ có cái khuôn thì không phải là sự. Sự thì nó linh hoạt lắm, trí tuệ lắm. Tùy mỗi chuyện mà ứng xử khác nhau, khác nhau hết. Người mà thấu được sự đó, ngộ được sự,

[1:17:30]rõ được sự rồi thì suốt đời tận tụy hy sinh cho mọi người. Đây cái thái độ nó khác với lý. Người mà ngộ được lý không rồi thì nhàn nhàn mà hưởng nhàn, đi bước tới bước lui, dạo ngoài coi ngoài vườn kiểng rồi xem hoa xem đồ đi chơi tàn tàn. Nhưng mà người ngộ được sự thì không có chuyện đó, chui vô bếp nấu cơm, leo lên sân thượng phơi đồ, là cứ làm được bất cứ điều gì có lợi cho người khác, dù một việc rất lặt vặt là vẫn làm. Hoặc khi cần thì mình thăng tòa thuyết pháp, mà mình chưa thể thuyết pháp thì mình đưa băng, đưa kinh cho người khác nghe. Còn mà chưa thể như vậy được nữa thì nhiều khi là

[1:18:11]người ta mệt quá cái mình giặt đồ giùm người ta luôn. Tức là bất cứ chuyện gì làm lợi cho người khác được đều làm. Cái người mà thấu được sự đó, mà đây là hình ảnh đẹp của đạo, của một người Phật tử, một người đệ tử Phật. Mình tu làm sao không biết, mình hiểu được, học được không biết bao nhiêu kinh ở Thiền viện Vạn Hạnh rồi, không biết, nhưng mà làm sao mình sống một đời tận tụy vì mọi người, đó là người đệ tử Phật chân chính. Chứ không phải là mình nghe hết bộ Nikaya, hết Trung Bộ kinh, Trường Bộ kinh rồi bắt đầu khoe với vị thầy giảng tới Hoa Nghiêm, Trung Quán, xong rồi tàn tàn rồi cứ về nhà rồi

[1:18:50]sống một đời tiếp tục như lúc trước thì chưa phải. Phải làm sao thay đổi được, trở nên mình tận tụy hy sinh cho mọi người, mà đối xử với mọi người thì tinh tế, tế nhị trong từng hành vi nhỏ nhặt, không thích cái sự nhàn nhã, không thích hưởng nhàn. Đó là cái người mà thấu được cái sự đó. Rất là thông minh, rất sáng suốt, rất linh hoạt, rất là tình cảm, rất là thương yêu, nhẫn nhục, tận tụy. Đó là hình ảnh của người rõ được sự như vậy. Bây giờ mình nói lý sự tương quan. Trong thiền ngữ á thì các thiền sư hay biểu lộ cái ngộ lý, nhưng trong đời sống thì các ngài vẫn ứng xử bằng cái sự. Là ở đây đó, nếu chúng ta đọc cái hành trạng hoặc là ngữ lục

[1:19:40]thì chúng ta thấy các ngài nói toàn lý không, không? Nhưng mà nếu chúng ta đọc cái cuốn Thiền Lâm Bảo Huấn thì chúng ta thấy các ngài nói toàn là sự không. Đó là thiền sư đó. Nên nhiều người học thiền chỉ đọc các ngữ lục mà không chịu đọc cái Thiền Lâm Bảo Huấn cho nên hiểu thiền lệch qua một bên. Nếu chúng ta đọc cái Thiền Lâm Bảo Huấn, chúng ta sẽ thấy những các thiền sư họ dạy nhau, người thầy dạy trò tỉ mỉ, chi ly trong từng cái hạnh, từng chút từng chút. Như có người đệ tử đã ngộ đạo, rồi ông thầy giao cho đi về hoằng hóa trụ trì ở một chùa khác. Một hôm trở về thăm lại chùa của thầy mình, ông thầy mới hỏi:

[1:20:20]"Sao, năm nay ruộng lúa ở chùa chú là là được mùa hay thất mùa? Thu được bao nhiêu giạ? Cất ở đâu? Tăng chúng được bao nhiêu người? Sức khỏe thế nào?" Ông đệ tử trò ú ớ. Ổng, ông thầy hỏi một loạt mấy con số thống kê ổng, ổng không nhớ, ông thầy nghiêm mặt rầy liền. Ông thầy nói: "Là người trụ trì không thể sơ suất như vậy, không thể mà không nắm rõ như vậy." Đó là cái sự đó. Nghĩa là thầy trò dạy nhau ngộ được cái lý của đạo, chứng được cái định của tâm, nhưng mà khi vào trong công việc toàn dùng sự không. Nhưng mà trường hợp gặp tôi hỏi câu đó là tôi cũng thua luôn. Bây giờ hỏi tôi trên núi bao nhiêu người tôi cũng không biết nữa. Không biết.

[1:21:05]Chưa đếm. Không biết bao nhiêu người hỏi tôi câu đó lần nào tôi cũng ngơ ngơ ra tôi cũng không biết nữa. Nơi này được nhiêu, tăng được nhiêu cũng không biết. Công quả nhiêu cũng không biết. Đó là cái sự đó, sự là vậy. Rồi có trường hợp vậy. Có một thiền sư ổng tịch, ngài Khắc Văn tịch, thì cái ngài Pháp Diễn khóc, khóc nói rằng: "Cái hạnh của ngài thanh tịnh quá, quá tốt, mà ổng tịch như vậy rồi cái mối đạo ở cái vùng đó sợ không còn ai giữ gìn." Đó, thấy các ngài đối xử với nhau trong đời sống bình thường nó cũng tràn đầy cái tình cảm như vậy. Đó là cái sự đó. Chứ chúng ta đừng nghĩ là cứ đọc ngữ lục rồi tưởng

[1:21:48]các thiền sư là như vậy, không phải đâu. Các ngài sống ứng sự rất là thông minh, rất là trí tuệ. Chúng ta ngộ lý cho sâu, ngộ được cái lý không nhưng mà ngộ cho qua khỏi cái lý không luôn, ngộ cho tới cái diệu hữu luôn, nghĩa là trong cái không đó thấy được cái có ở trong đó. Bắt đầu thấy được nhân quả thì từ cái lý mà đạt luôn được cái sự luôn, không còn kiêu mạn, không còn ích kỷ nữa. Đó là người mà tu trong đường lý đó thì phải đi cho tới tận cùng của cái lý luôn. Hết cái lý không luôn cho tới thấy được cái có ở trong đó luôn. Vì tâm mình định thanh tịnh, bất động như vậy nhưng bắt đầu thấy nó có cái dụng, nó vẫn có cái biết.

[1:22:33]Vào định sâu thấy nó có cái cảm ứng cùng khắp. Vào định sâu nữa bắt đầu thấy đường đi nhân quả, nghiệp báo luồn lách từng luôn á. Từ đó chỉ sống bằng luật nhân quả. Bồ-tát là vậy. Các vị Bồ-tát không nói lý không, các ngài dùng lý nhân quả để độ chúng sinh không. Lúc nào cũng vậy. Rồi cái người được sự cũng vậy. Ví dụ người có thiện căn, trí tuệ, mình khôn ngoan trong công việc, à mình ứng xử nó giỏi, à hiểu được cái nhiều đạo lý hay thì cũng phải ngồi thiền, tập định để thấy được cái lý không cho tâm mình tự tại, để cho không có cố chấp, làm mà không thấy làm gì hết. Cái người mà tu sự mà không có cái lý đó, tức là không có ngồi thiền,

[1:23:19]tập định á thì mình sẽ được cái là mình tận tụy vì người, hy sinh tất cả cho mọi người, nhưng mà do tâm mình không có định nên mình sẽ chấp. Chấp là sao? Là mình thấy mình có công. À mình thấy hôm qua mình giúp cho người này, hôm kia mình bố thí cho người nọ, hôm bữa trước thì mình khuyên, mình giảng cho người kia nghe, tức là mình làm mọi việc thiện mà thấy mình có làm. Cho nên mình phải đạt được cái lý không để mà làm mà không thấy làm gì hết, làm rồi quên, làm rồi quên, làm đâu mất đó, làm đâu mất đó không nhớ nữa, mà luôn luôn hy sinh vì người, làm mà không thấy mình có công gì cả. Đó là cái sự mà dung được cái lý.

[1:24:06]Thì cái người mà sự mà dung được lý, tức là làm mà không thấy mình làm á, nó có lợi cho nhiều kiếp. Lợi cho nhiều kiếp như thế nào? Ví dụ bây giờ mình làm mà mình kể công, mình cậy công, thấy mình có làm thì nó xuất hiện cái tâm gì? Tâm kiêu mạn ở trong á. Ví dụ mình bây giờ mình đi bố thí cái vùng đó, bữa đó tôi đi cứu trợ là 5 tấn gạo cho cái vùng đó, hoặc là cái chùa đó là một tay tôi kêu gọi để xây. Thì những cái cậy công như vậy nó làm cho mình kiêu mạn khởi lên. Khi kiêu mạn khởi lên qua đời sau nó sẽ xuất hiện thế này: Đời sau quả báo tới mình rất là giàu có, rất là vinh quang, địa vị lớn.

[1:24:49]Nhưng mà do cái kiêu mạn đời trước nên đời này ở trong cái giàu sang, địa vị đó mình hống hách, mình coi thường con người. Thì đó là chuẩn bị cho những kiếp sau đọa trở lại, mà đọa nặng luôn. Đó. Còn nếu kiếp này mình hy sinh làm mọi điều mà thấy không làm gì hết thì mình không bị cái cái kiêu mạn. Qua đời sau thì cái vinh quang, cái phước nó tới rực rỡ mà mình vẫn khiêm tốn, vẫn từ ái, vẫn thương yêu con người và vẫn đem cái phước của mình có đó đem chan rải, bố thí, hy sinh làm tiếp nữa, không có giữ gì lại cho mình hết. Thì như vậy phước chồng lên phước, chồng lên phước, nó nối mãi đến vô tận.

[1:25:28]Vô tận đến, nghĩa là mà khi mà nó đến vô tận như vậy thì những cái đạo quả về sau không thể tưởng tượng được, rất là lớn, cực kỳ lớn. Sợ hết giờ. Ở những mức độ tu tập ban đầu lý và sự chưa có gặp nhau, mình có thể có định nhưng mà vẫn chưa có đạo đức, chưa hiểu sâu nhân quả. Đó, đây là cái cái điều chúng ta cẩn thận. Thấy ngồi thiền thấy dữ dội vậy chứ đi nghe thiền rồi dạy thiền, học thiền, tập thiền tùm lum mà đạo đức chưa có, hiểu nhân quả chưa sâu. Đây là trường hợp đa số, tất cả đều bị, chứ không phải đa số, tất cả đều bị. Hoặc là cái người mà có thể có cái hạnh tốt, có đạo đức nhưng chưa có định, không hiểu gì lý không hết.

[1:26:13]Nên ở giai đoạn ban đầu lý và sự chưa gặp nhau thì chúng ta phải bổ sung cái điều này.

[1:26:23]Vô ngã là cái đích cuối cùng á. Nếu mà chúng ta hiểu vô ngã chỉ là vô ngã thì chúng ta bị kẹt ở bên lý, là thấy không có gì hết, không. Nhưng mà nếu cái người hiểu vô ngã là trở thành tất cả thì người này vượt qua cái lý trở thành sự. Đó, cho nên chúng ta phải hiểu như vậy. Nghĩa là vô ngã là cái đích cuối cùng của sự tu hành nhưng đừng có tưởng vô ngã là không còn gì hết. Nếu mà hiểu vô ngã không còn gì hết là kẹt ở trong lý. Phải hiểu rằng vô ngã được tức là trở thành toàn thể vũ trụ thì đó mới là bước qua được cái lý để để dung luôn cái sự, đó là con đường của Bồ-tát. Nên người mới tu thì mình nên học kỹ luật nhân quả,

[1:27:07]phải thường lễ kính Phật, phải quán từ bi thương yêu chúng sinh, phải nhắc nhở mình cái sự khiêm hạ, giữ gìn giới luật oai nghi. Đó là những cái nền tảng căn bản, đồng thời chúng ta phải biết quán vô thường để chuẩn bị đi vào cái lý không. Nên khi ngồi thiền mình đừng có đi vào lý không sớm, cứ quán vô thường trước, đó là chuẩn bị đi vào cái lý không đó. Rồi lần lần cái mình vừa có cái hạnh mà vừa tọa thiền, tập định kết hợp với lý như vậy thì mình thành tựu được cả cái định lực và thành tựu được cái cái trí tuệ, công đức. Đó. Cái sự là thể hiện qua cái đạo đức và cái công đức, còn lý là cái phải giấu kín.

[1:27:48]Khi tâm mình có định không được đem ra nói. Nhìn vô thì biết mình có cái hạnh là mình hy sinh, mình làm được bao nhiêu công đức, mình là người tốt, vị tha, khiêm hạ. Còn cái lý không mà mình chứng được ở đó để trong tâm không được nói ra bên ngoài, nói ra là mất, tổn phước, tiêu luôn. Cái sự của mình là để tự người ta đánh giá, nhưng cái không đừng để cho người ta thấy, phải giấu kín. Còn một cái nữa là cái nghịch hạnh. Đó là cái các vị Bồ-tát mà thể hiện ngược lại các tiêu chuẩn đạo đức thông thường, thấy các ngài giống như là dữ, là là là là nghiêm khắc, à nói nặng lời. Đôi khi các ngài thị hiện làm những cái chiến tướng trên

[1:28:28]chiến trường làm những chuyện dữ dội thì đó là cái nghịch hạnh của những vị đại Bồ-tát, mình không có hiểu nổi. Vì những vị đó trí tuệ rất lớn, phước rất lớn mới dám làm nghịch hạnh. Mình mình là người phàm phu, trí tuệ còn kém, phước còn ít thì đừng có nghĩ tới nghịch hạnh. Lúc nào cũng phải giữ cái đạo đức tiêu chuẩn căn bản thật kỹ, đó là như vậy. Hết giờ. Như vậy là hôm nay quý Phật tử hiểu lý là gì, sự là gì chưa? Hiểu rồi phải không? Đó. Hiểu lý là gì, sự là gì rồi thì đi ra đừng có lý sự nữa.

[1:29:08]Nghỉ. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả, đệ

[1:29:31]tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.