Transcript: Chuyển Nghiệp - Pháp Cú 38

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:38:49

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ta nghe bài là Chuyển Nghiệp. Cái bài kệ như thế này: "Cung kính bậc đáng kính, làm tăng thêm tuổi thọ, sắc đẹp và sức khỏe, cuộc sống cũng vui hơn." Là cái nhân quả cung kính bậc đáng kính thì mình tăng thêm được bốn điều. Có cái câu chuyện như thế này mà Phật mới nói cái bài kệ Pháp Cú: Có hai người Bà La Môn tu khổ hạnh suốt 40 năm. Thì Bà La Môn họ có mấy trường phái lận. Nghĩa là khi có những người họ ở tại nhà để họ làm những thầy cúng tế để mà cầu nguyện cho những gia chủ, nhưng lại có những Bà La Môn đến lúc nào đó họ lại thích là rời gia đình, họ làm sa môn, vào rừng họ tu khổ hạnh, cũng có hai trường phái như vậy.

[1:01]Thì hai người này là hai người bạn thân với nhau, có cái chí nguyện là làm sa môn, xuất gia vào rừng họ tu khổ hạnh, tu ngót 40 năm như vậy. Không biết là cái tuổi họ được bao nhiêu, nhưng mà chợt có một người mới thấy rằng suốt 40 năm mình cũng chưa có đắc đạo, mà gia đình thì không con nối dõi, cho nên mới muốn quay về để lấy vợ, sinh con mà nối dõi. Thì bên đó họ không có cái điều luật là phải cấm lấy vợ mà nhiều khi họ còn khuyến khích lấy vợ nữa. Đạo Bà La Môn lúc đó giống như cái đạo Do Thái giáo ở bên Do Thái vào thời của Chúa Giê-su vậy đó. Vào cái thời đó là các giáo sĩ của Do Thái giáo là phải có vợ.

[1:41]Cái người thanh niên lớn lên mà không có vợ là bị xã hội khinh rẻ. Cho nên ai cũng phải có vợ. Và quan niệm đó nó cũng rất giống với cái Bà La Môn ở bên Ấn Độ. Lớn lên cũng phải có vợ, sinh con. Thì cái người này họ cảm thấy là họ không thể mà thoát ly khỏi trần gian được, họ mới trở về. Tuy nhiên, vào cái thời đó, mọi người họ tin thế này, tin là cái người mà đã tu khổ hạnh như vậy được những cái công đức rất là lớn mà ta có thể mua lại cái công đức đó. Nên ổng về ổng mới giới thiệu lại có người xin mua cái công đức 40 năm tu hành của ổng. Và mua của ổng một đàn bò và một cái số tiền. Và họ trả cho ổng cái đàn bò và số tiền đó và ổng chỉ cần ổng đứng

[2:27]ổng khấn nguyện lên cái ơn trên rằng là cái công đức tu hành của ổng trong 40 năm bây giờ xin chuyển qua cho thí chủ này. Thế là người kia mới trả ổng cái đàn bò và một cái số tiền lớn. Rồi ổng về ổng cưới vợ và sinh được đứa con. Khi mà sinh được đứa con trai thì cái người bạn tu sĩ ở xa đó, ổng đó lại tiếp tục tu mà giống như ổng có chứng đắc được cái gì á, ổng lại có thần thông. Ổng nghe tin là bạn mình có sinh được đứa con trai, ổng về ổng thăm. Nhìn thấy đứa bé thì ổng lặng thinh không nói tiếng nào. Không chào, không chúc mừng, không gì hết. Thì cái người bạn mà gia chủ mới ngạc nhiên, mới hỏi tới, hỏi tới:

[3:05]"Có cái gì không tốt hay sao mà tại sao anh nhìn đứa con trai của tôi mà anh anh im lặng một cách kỳ lạ khó hiểu như vậy?" Cái người kia mới thú thật là: "Đứa con trai của anh 7 ngày nữa sẽ chết." Cái ông kia ổng hoảng kinh liền. Tại vì bỏ tu 40 năm rồi về bán hết công đức mình rồi để mong được đứa con, bây giờ đứa con mà 7 ngày nữa sẽ chết thì cũng không có gì đau khổ bằng. Mới hỏi là: "Bây giờ tôi phải làm sao?" Thì nói: "Tôi nghe nói có một sa môn Gotama, sa môn Cồ Đàm, là một bậc thánh quảng đại cao siêu. Đâu anh đến đó thử xem." Thì cái người Bà La Môn này mới bồng đứa con của mình đến gặp Phật.

[3:45]Thì đến xong rồi, Đức Phật cũng im lặng nhìn đứa con, Đức Phật cũng im lặng không nói gì. Kìa ông kia biết rồi. Ông kia nói: "Thái độ của Phật và thái độ của cái người bạn mình giống nhau, tức là cái số phận của đứa con là không thay đổi được." Ổng khóc quá chừng, ổng xin Phật. Thì Phật mới nói: "Thôi, như thế này. Bây giờ về nhà, ông lập một cái đàn tràng. Phật sẽ cho các tỳ kheo lại tụng kinh suốt 7 ngày 7 đêm, chú nguyện, thiền định suốt 7 ngày. Còn ông cứ dâng cúng thực phẩm đầy đủ. Rồi đến ngày thứ bảy, Như Lai sẽ đến." Thì ổng về ổng làm đúng như vậy. Ổng sắp cái đàn tràng cho chư Tăng đến ngồi vừa tụng kinh,

[4:20]ngồi thiền rồi suốt 7 ngày, rồi chú nguyện rồi cứ làm cái lễ suốt như vậy. Và ổng cúng dường, lễ bái đầy đủ suốt 7 ngày. Đến ngày thứ bảy thì Phật đến. Phật đến, Phật kêu bồng đứa bé đến. Đức Phật mới chú nguyện cho nó, chúc lành cho đứa bé sẽ được tăng tuổi thọ. Và ngang đó thì đứa bé bình an luôn. Tới ngày thứ bảy không chết như là cái người bạn đã tiên tri. Mà sự thật, lý do nó là như thế này. Lý do nó là có một Dạ Xoa ở trong cái cõi giới kia tên là Avarudaka. Cái Dạ Xoa này cũng là một loại có uy lực, theo hầu ông trời Tứ Thiên Vương là Vessavana 12 năm. Rồi ông Tứ Thiên Vương Vessavana ổng mới nói thế này:

[5:03]"Ngươi hầu hạ ta suốt bao nhiêu năm thì ta sẽ cho ngươi cái đứa bé đó, đứa bé sinh trong gia đình Bà La Môn, cái thằng bé đó. Nhưng thằng bé đó rất là có phước, rất là dễ thương và nó cũng có duyên. Nó tái sinh vào gia đình đó. Nhưng mà ngươi hầu hạ ta đủ rồi, ta sẽ bắt nó về ta giao cho ngươi để theo hầu ngươi như là một phần thưởng." Lý do là có một cái hợp đồng bí mật ở trong cái cõi đó. Chuyện này rất là lạ, lát ta nghe ta phân tích từ từ. Nhưng mà không ngờ là đến cái ngày đến cái kỳ hạn mà Tứ Thiên Vương Vessavana tính bắt đứa bé để giao qua để thưởng cho Dạ Xoa Avarudaka thì Đức Phật dùng cái uy lực của chư Tăng

[5:40]và của mình để phá vỡ hợp đồng đó, giữ đứa bé lại. Cái Dạ Xoa và Tứ Thiên Vương không dám đến gần đứa bé nữa, phải bỏ ra. Rồi coi như sau đó họ họ dùng cái hợp đồng khác để ổng thưởng thế nào đó, nhưng đứa bé không được đụng tới nữa bởi vì Đức Phật đã đến đó, chư Tăng đã đến đó chú nguyện, chúc lành cho đứa bé. Thế là coi như oai lực của Phật nên chư Thiên đời đời giữ gìn đứa bé đó luôn. Đó là lời Đức Phật chú nguyện là từ đó chư Thiên như là vâng cái lệnh của Phật mà giữ gìn đứa bé luôn, là không ai bắt đứa bé được nữa. Chờ qua đến ngày thứ tám, đứa bé nó bình an, nó khỏe mạnh rồi, Đức Phật mới quy y cho đứa bé đó.

[6:18]Và Đức Phật mới giải thích là lý do tại sao mà đứa bé nó vượt qua cái nạn như vậy là chỉ bởi vì cái gia đình của ông này đã vì đứa bé mà làm cái công đức, mà cái công đức đó có nghĩa là cung kính bậc đáng kính. Nghĩa là mời chư Tăng lại suốt 7 ngày để mà cúng dường, lễ bái và nhờ chư Tăng chú nguyện trong suốt 7 ngày đó. Những vị mà đệ tử tỳ kheo của Đức Phật thời đó là hầu hết là những bậc chân tu, đạo đức thánh thiện, vì vậy mà công đức của ông gia chủ bỗng nhiên tăng vọt lên đột ngột và xoay chuyển cái nghiệp luôn. Đáng lẽ là mất đứa con nhưng mà tự nhiên giữ lại được đứa con. Nên là: "Cung kính bậc đáng kính, làm tăng thêm tuổi thọ,

[7:00]sắc đẹp và sức khỏe, cuộc sống cũng vui hơn." Đó là cái câu chuyện như vậy. Thì qua câu chuyện này ta sẽ thấy có nhiều điều rất là lạ để ta có thể phân tích. Cái lạ đầu tiên là bán cái công đức tu hành. Bán cái công đức tu hành là ổng tu khổ hạnh 40 năm và ổng tin rằng ổng có công đức nào đó. Và nhiều tín đồ cũng tin ổng có công đức nào đó và mua công đức đó. Nghĩa là họ không cần phải tu nhưng mà họ bỏ tiền ra, ổng kia đứng chú nguyện, tự nhiên họ có cái phước rớt vào trong tâm, trong cuộc đời họ như là họ đã tu 40 năm. Có thể là không bán hết được nhưng cũng được 20 năm tu hành vậy đó. Và cái người mà lấy tiền mua cái công đức đó,

[7:44]sau này nếu họ có điều kiện họ tu tiếp nữa thì họ sẽ mau chứng đắc hơn, mau khai mở tâm linh hơn hơn là một cái người tự mình bắt đầu tu từ ban đầu. Đây là cái gọi là mua cái công đức của người đã tu bằng tâm linh. Cái điều này nghe nó giống như mê tín nhưng mà ở trong nhân quả là có thật chứ không phải là không đâu. Vì vậy, Phật tử mà đem tiền cúng chùa nó rất giống với cái việc mà mua công đức tu hành của quý thầy, rất là giống như vậy. Khi quý thầy ngày đêm tu hành tinh tấn, chay tịnh, giữ giới, thiền định, tụng kinh rồi vân vân, giữ gìn mọi điều, làm được các công đức. Thì ta tưởng là quý thầy ngon lành? Không!

[8:28]Vô người cúng thầy phong thơ bỏ thùng phước sương ít là tự động lấy mất mà quý thầy không hay biết, mà quý thầy không cố ý bán, nhưng mà công đức nó chạy hết qua quý Phật tử. Đó là lý do tại sao mà ta thấy sao quý thầy tu hoài cái đời này sao không đắc đạo giống như đời xưa? Bởi vì công đức tâm linh bị lấy hết rồi, do Phật tử cúng dường. Mà nhiều Phật tử á, có những Phật tử họ thuần thành mà có điều kiện khá giả, cứ đi cúng dường nhiều quá, có những khi cúng nhầm những bậc chân tu, có những khi cũng không phải bậc chân tu, nhưng mà cứ cúng, cúng chùa này, cúng chùa kia, giúp đỡ những người tu hành.

[9:05]Đến chừng sau này, cái người Phật tử đó vào ngồi thiền, bỗng nhiên tâm mình lại mau chóng vào được định, đâu biết rằng là chính vì mình đã mua công đức của quý thầy mà mình không biết, quý thầy cũng không cố ý bán, nhưng mà vô tình đã bán, rất là đáng sợ chứ không phải không. Nhiều người cứ nói: "Thầy đi giảng à người ta nghe nhiều như vậy chắc thầy có phước?" Nói: "Không. Phước thì còn lại rất ít, bé xíu, vừa đủ ăn được bữa cơm trưa, lát nữa ăn được bữa cơm trưa là hết luôn." Cái người lái xe cũng lấy mất thầy một mớ, ai nấu thầy ăn lấy thầy mất một mớ, rồi đệ tử trong chùa, rồi Phật tử bên ngoài

[9:41]phụ giúp đó là mỗi người đều chia hết công đức. Cuối cùng cái thầy cũng không còn đủ phước để sống mà mắc nợ âm luôn nữa. Cái nợ âm là có thật đó, nợ âm là như thế này. Ví dụ như ông thầy, ổng công đức tu hành của ổng nó chỉ là ví dụ 10 phần nhưng mà người ta bỏ tiền người ta cúng ổng tới 15 phần, ổng nợ đời 5 phần. Nợ đời 5 phần. Và cái nợ đời 5 phần đó phải tính làm sao?

[10:09]Tính sao? Phải trả, đời mà có vay phải có trả. Ông ăn âm vào cái phước của mình, tức là mắc nợ nhiều hơn cái công đức tu hành của mình thì ông này không thể đắc đạo, mà phải trả nợ. Mà cái cách trả nợ còn tùy ông nữa. Nếu ông là người vẫn còn có lý tưởng tu hành thì Phật sẽ cho ông đến một chỗ khác tu mà khổ hơn không ai biết để không mắc nợ nữa và phải tạo nhiều công đức để vượt lên trở lại để mà bù lại cái năm phần mà mình đã thiếu nợ đời. Còn nếu ông là người không có thật chân tu, không có lý tưởng thì buộc đời sau ông phải trở lại, nếu nặng thì phải làm trâu, làm ngựa kéo cày, kéo xe trả nợ, còn nhẹ hơn một chút nữa thì phải

[10:54]đi làm những người ăn xin ở đợ, phục vụ đời. Nhiều khi ta không biết rằng cái người đi quét đường có khi là người đã từng là hưởng nhiều cái sự cúng dường của người khác, của cuộc đời bây giờ phải đi quét. Hoặc là ta thấy có những người như tại sao bao nhiêu nghề không làm mà ta lại đi thích nghề đi phục vụ nhà hàng, bưng cơm bưng nước cho từng người, mặc dù coi hình dáng mình cũng sang, cũng đẹp thiệt, cũng có tiền để sống thiệt, nhưng rõ ràng mình là servant, người phục vụ thôi. Thì nó vậy nó cũng là một cái nhân quả nào đó, phục vụ đời để trả nợ đời lại một kiếp xưa nào đó mà ta không biết, ta đã hưởng được sự phục vụ của người khác

[11:30]mà ta bị âm cái đức của mình, âm mất cái phước của mình. Do đó cái người tu mà hiểu đạo rất là sợ khi thấy có người khác cúng dường mình. Thì cái ông tu sĩ mà ổng hoàn tục là vì cái lý do là vì cái tâm lý là sợ không có con nối dõi, thấy tu lâu chưa đắc đạo mà cũng không có con nối dõi rồi mất hết cả hai, đạo không đắc mà con cũng không có, hai cái đều mất nên ổng quay về ổng bán cái công đức tu hành. Thì cái tâm lý này là một tâm lý thời phong kiến lạc hậu để lại phải vượt qua. Rồi cái người tu sĩ bạn đó ổng ở lại ổng tu thêm. Cái người kia thì hoàn tục, còn ổng thì ổng ở lại ổng tu thêm và ổng đắc thần thông.

[12:11]Ổng đắc thần thông ổng về ổng biết trước đứa bé sẽ chết trong 7 ngày, mà cái thần thông cũng trùng với cái thấy của Đức Phật là đứa bé cũng sẽ mất trong 7 ngày. Nhưng mà điều là ta không biết là ổng có thấy được cái nguyên do nó mất hay không? Còn Phật thì nói rất rõ, Phật nói: "Bởi vì có một cái hợp đồng kỳ cục ở trên cõi trời á, cho nên đứa bé này nó bị nó có duyên." Nhưng mà vì do cái ông Bà-la-môn này ổng thành tâm cung kính chư Tăng nên với Phật dùng uy lực của mình để phá cái hợp đồng này, chứ sự thực là nó có cái hợp đồng. Nhưng mà còn cái người tu sĩ bạn đó thì mình không biết là trong kinh không

[12:44]có kể là ổng cũng thấy được cái nguyên nhân cái hợp đồng đó hay không? Hay là ổng chỉ thấy rằng đứa bé sau 7 ngày sẽ mất thôi, ta không biết. Thì ở đây á ta thấy là thế này, cái ông này ổng không có tu theo đạo Phật mà ổng vẫn đắc thần thông và cho ta một cái bài học rất là lớn: đừng tưởng rằng ai có thần thông là người đó đúng chánh đạo của Phật pháp, đừng tưởng như vậy. Chớ ta cứ nghe ở đâu có thần thông là ta say mê ta đi theo là ta dễ bị lầm vào ngoại đạo. Hãy nhớ điều đó. Cho nên một cái bản lĩnh của người đệ tử Phật là gì? Là thản nhiên trước thần thông của người khác. Ta có nhiều cái ta tập bình thản được, nhưng mà tới thần thông ta bị thua.

[13:29]Khi ta chưa biết tu á thì ta bị cuốn hút bởi những cái điều này. Thứ nhất là gì? Đẹp. Thấy người nào đẹp cứ đứng dòm hoài là muốn đi theo hoài. Không, thầy không có nói cái hiếu sắc của cái tình ái nam nữ đâu. Thí dụ ta gặp một cái người nào đó có cái gương mặt đẹp, ăn nói hay, ta bị cuốn hút rồi cứ đi theo ổng nói gì cũng nghe nấy, đó là cái đầu tiên. Cái dung mạo của một con người làm cho ta bị cuốn hút. Và ta phải sống qua nhiều năm ta mới biết rằng cái mặt đẹp và cái tâm hồn là hai cái khác nhau nữa đó nha. Coi chừng thấy mặt đẹp vậy mà bên trong chưa chắc là bảo đảm. Nên là sáng nay trong báo Thanh Niên Chủ Nhật nè, có một câu chuyện vui á.

[14:09]Thấy có con chó đực nó mê con chó cái nó rượt theo cái là bị người ta bắt cóc. Như vậy cái người chủ mới nói: "Sao mà con ngu quá à. Con mới thấy nó đẹp con đâu có biết cái hạnh kiểm nó ra sao mà con đâm đầu con chạy theo để đến nỗi con bị tụi ăn cắp chó nó bắt con mất tiêu mà nó đòi tống tiền chuộc ta 50 triệu." Cái chuyện hài nhưng mà nó là sự thật. Cái người mà lớn tuổi chững chạc lại mới bắt đầu tách ra khỏi cái dung mạo và cái cái tâm hồn. Coi người đó đẹp nhưng còn phải coi cái tâm hồn. Nhưng mà ta chưa biết đạo lý, chưa có kinh nghiệm sống, đầu tiên của ta là cái vẻ đẹp của người khác. Cái thứ hai là cái gì làm ta bị cuốn hút?

[14:47]Tiền bạc của người khác. "Lời nói người sang có gang có thép, túi bạc kè kè nói quấy nói quá chúng nghe ào ào." Là vậy. Nghĩa là cái người đó ta nghe người đó, "Ông này ổng đại gia nha. Tiền ổng tỉ tỉ, chứng khoán ổng là mua nhiều, đất đai ổng tùm lum." Thấy ngồi ổng ổng ho một cái ta nói: "Ông này ho cũng hay." Tức là hễ người có tiền là làm ta bị cuốn hút. Nhưng mà khi ta tu lâu rồi đó, bắt đầu ta hiểu đạo lý rồi, ta mới thấy cái tiền bạc là phù du rồi, ta không cần nữa rồi đó, thì ta nghe ổng giàu giàu kệ ổng. Cái ta cần ở ổng là ổng có biết tu hay không, biết đạo lý hay không, cái tiền ổng xài có đúng chỗ hay

[15:20]không, ổng có thương người biết làm từ thiện hay không? Thế còn đầu tiên mà nghe nói có tiền ta không quan tâm. Nghĩa là ta tu rồi ta mới đạt được cái bản lĩnh đó, chứ còn lúc chưa biết tu, ta bị cái tiền của người khác cuốn hút ta liền. Đó là cái thứ hai. Cái thứ ba, ta bị cuốn hút là gì? Cái thứ ba ta bị cuốn hút là cái quyền chức của người đó. Quyền chức. Là cái người nào nghe nói ông này ổng chủ tịch rồi bí thư rồi gì là mình nghe mình nể. Nhưng mà không biết, chưa chắc. Chủ tịch, bí thư chứ cũng tham nhũng đều đều, không chắc được. Thấy chừng nào mà ổng quyết ổng là bí thư, chủ tịch mà ổng là một quan thanh liêm, vì dân vì nước thì ta hoàn toàn kính phục.

[16:00]Cho nên mới nghe cái chức mà mình nể liền là tâm mình rất dễ bị động. Nhưng mà ta phải sống lâu ở trong đời, phải biết đạo lý rồi ta mới xem nhẹ những điều đó, không bị cuốn hút bởi những điều đó. Rồi cái thứ tư, ta bị cuốn hút bởi điều gì? Tài năng nghệ sĩ lãng mạn. Đó là lý do tại sao mà mấy ca sĩ có những fan hâm mộ la cuồng, hét nhiệt trong mấy cái buổi trình diễn là vậy. Đó cũng là cái mà làm cho ta bị cuốn hút. Nhưng mà không phải ca sĩ, nghệ sĩ nào cũng có một đời sống đàng hoàng mẫu mực, mà cũng không phải tác phẩm nào họ trình bày cũng đều là đóng góp vào cái lợi ích đạo đức cho xã hội.

[16:38]Đó là những cái mà ta bị cuốn hút. Nhưng mà nếu ta tu hành tốt á, mến đạo, ứng dụng đạo lý ta tu hành tốt, từ từ những cái đó ta không bị cuốn hút nữa. Thấy cái người đẹp ta tỉnh bơ, quan trọng cái hạnh của người đó. Thấy người đó giàu, không quan tâm, coi coi họ sử dụng đồng tiền có đúng hay không. Thấy người đó có quyền chức, ta coi coi cái người này có tham nhũng hay không. Thấy cái người mà có tài năng nghệ sĩ, ta coi coi đời sống và tác phẩm của họ có lành mạnh hay không. Không bị cuốn hút bởi những điều đó nữa. Nhưng mà khi ta mến đạo quá rồi cái ta bị cuốn hút bởi một điều: thần thông. Thấy người nào đó tu mà nhìn ta biết quá khứ vị

[17:19]lai, nói trước nói sau rồi biết tỏng tòng tong trong nhà mình thế này thế kia hết, ta nói: "Ông này ổng thánh." Ta bị cuốn hút theo liền. Có không ạ? Nghĩa là ta vượt qua được bốn cái điều cuốn hút của thế gian thì ta bị một cái điều cuốn hút trong cái tâm linh của đạo là cái thần thông phép lạ. Mà ta bị chết chỗ này. Ngay chỗ này ta dễ bị dắt đi lạc đường. Vì vậy, người đệ tử Phật phải vượt qua được cái thứ năm này. Là khi nghe nói ai có thần thông phép lạ cũng phải bình thản lại, cũng không bị cuốn hút. Coi coi nó như thế nào, chuyện nó như thế nào. Ví dụ nghe nói có cái ông thầy nghĩa là ai không có con tới ổng

[17:57]cho uống nước thánh gì cái về có con cái ùn ùn chạy đi theo. Có không? Có nghe không? Cũng đang có nghe phải không? Đó là mấy cái mà ta cũng bị nhẹ dạ. Mà một trong những cái nhẹ dạ của những người mà mê đạo, nghe mê đạo rồi thích gì có thần thông là chạy theo là ta dễ bị lạc vào ngoại đạo. Nên cái bản lĩnh của người Phật tử mình là gì? Bình thản trước cái thần thông phép lạ. Bởi vì ma cũng có thần thông, quỷ cũng có thần thông, ngoại đạo cũng có thần thông. Cái điều ta cần là cái chánh đạo, đạo lý chân chính chứ không phải là thần thông phép lạ. Cũng vậy, đừng có thấy ai nói kinh Phật vanh vách mà ta tưởng là là chánh pháp nha. Có nhiều người nói kinh Phật vanh vách,

[18:42]nói leo lẻo, nhưng mà bên trong đầy cái điều tà vạy. Nên ta phải hết sức là cẩn thận. Nói nghe vanh vách, leo lẻo chưa chắc đã là đúng. Phải xét đi xét lại, phải nghiệm sâu hiểu kỹ. Chớ hiện nay trên thế giới biết bao nhiêu người giảng kinh Phật, biết bao nhiêu trường phái, cho nên ta phải hết sức là xét nét, hết sức là cẩn thận. Cái việc mà người Phật tử nghe thuyết pháp về đạo Phật mà bình thản để còn xem xét nữa, đây là bản lĩnh cực kỳ lớn, bản lĩnh cuối cùng của người đệ tử Phật á. Bây giờ ta không mê nhan sắc dung mạo, ta không mê tiền bạc, ta không bị cuốn hút bởi quyền chức, tài năng lãng mạn.

[19:25]Khi vào đạo ta vượt qua được cái bị cuốn hút bởi thần thông. Mà còn cái cuối cùng nữa là nghe đạo lý, nghe người đó nói say mê, hấp dẫn, nói lanh lợi mà ta vẫn không bị cuốn hút, vẫn bình thản xem xét lại thì đây là cái bản lĩnh cuối cùng của người đệ tử Phật. Chứ thường là ta bỏ hết tất cả rồi, nhưng mà tới cái cuối cùng này ta rớt. Nghe nói có thần thông phép lạ ta cũng không mê luôn, nhưng mà nghe người nào nói đạo lý vanh vách vanh vách cái ta mê liền, vẫn coi chừng bị hớ. Tại vì không phải là ai nói đạo vanh vách đều đã nói đúng rồi đâu. Phật chấp nhận giải nghiệp cho đứa bé vì Ngài biết cái nguyên nhân.

[20:07]Cái nguyên nhân là trong cái thế giới siêu hình kia có cái hợp đồng bí mật giữa một Dạ-xoa và một Tứ Thiên Vương Vessavaṇa. Có cái hợp đồng. Đức Phật biết cách để giải nghiệp, tức là cái nghiệp đó nó không phải định nghiệp. Nếu đứa bé nó mắc cái nghiệp là ngày xưa nó tàn sát ai đó, thì bây giờ nó phải bị giết chết lại, thì thường là Phật ít có cứu, thôi để cho nó trả nghiệp rồi sau đó hãy trở lại mà tu tốt hơn, trả cho xong cái món nợ. Nhưng mà ở đây, đứa bé nó không mắc cái nghiệp tàn sát, mà giống như là nó có duyên với cái Dạ-xoa Avaruddhaka này, cho nên là bị trời Tứ Thiên Vương cất nó đi để giao qua theo ông này.

[20:48]Mà cái hợp đồng này nó không phải là một định nghiệp, nên Phật mới dùng cái uy lực của chư Tăng và của Tam Bảo để mà phá cái hợp đồng này, giữ mạng đứa bé lại. Mà đối với những cái người mà ở trong cõi vô hình á, cái việc sống chết họ không quan trọng. Mình thì thấy là tự nhiên gia đình nó chết đứa bé đem chôn, mình khóc lóc thảm thiết, nhưng mà ở trong cõi kia họ nói nó chết, chết cái xác tứ đại vô thường quăng đi, nhưng mà cái hồn nó nó về đây nó ở bên đây cũng vinh quang, cũng sung sướng, chả có gì phải lo. Nên đối với họ là đổi từ cái cõi sống vật lý này qua cái cõi sống siêu hình kia họ coi là bình thường, nhưng mà đối với mình là cái chuyện khủng khiếp.

[21:25]Hồi xưa trong nhà Thiền có một chuyện cũng tương tự như vậy. Có một Thiền sư Mật Ấn hay gì phải, ổng về ổng trụ trì cái chùa đó, cái chùa cổ rất là lớn. Lúc ổng về vội là chưa có làm được cái phương trượng cho trụ trì ở, ổng mới đến một cái miếu thờ Tề Tuyên Vương ổng ở. Cái miếu thờ vậy mà ổng vô trỏng ổng để cái đơn ổng ngủ. Đêm nằm ngủ cái ổng thấy nguyên một con rắn hiện ra nằm bên cạnh, rắn khổng lồ, mảng xà. Ổng xô con rắn qua một bên ổng nằm ngủ tiếp, không sợ. Tu mà đến mức độ mà thấy con rắn mảng xà nằm bên cạnh mà không sợ là mình thấy định lực, đạo lực rất là cao. Còn như mình thì sao?

[22:01]Như mình mở mắt ra mình thấy con rắn nằm bên cạnh thì sao? Ba đêm sau ngài cũng ngủ bình thường thì thấy ông Tề Tuyên Vương ổng hiện ra, ổng nói: "Đây là cái chỗ ở của tôi, nhưng mà ngài về ngài ở rồi thì tôi không ở được nữa." Mình thấy ông Thiền sư ổng cái đức ổng lớn hơn cái ông vua. "Không ở được nữa, cho nên tôi phải đi nơi khác, thôi tôi chỉ xin ngài cho tôi 70 tráng đinh công quả trong chùa theo hầu tôi." Tức là ổng làm vua trong cõi sống mà khi chết rồi ổng vẫn còn cái phước lớn như vậy. Trong giấc mơ ngài gật đầu đồng ý. Qua hai ngày sau, 70 người thanh niên công quả trong chùa chết cái rẹt, mất tiêu liền. Chết 70 người liền.

[22:38]Thì ta cứ nói là do dịch bệnh thôi, nhưng mà thực sự là bị cái ông Tề Tuyên Vương ổng lấy đi, lấy đi theo hầu cho ổng. Ở đây mình coi cái sống chết rất là nặng, còn người ta thôi bỏ cõi này đi theo cõi khác vẫn là bình thường, nên cái sống với chết, quan niệm giữa hai cái cõi rất là khác nhau. Chỉ xin 70 người đi theo, qua ngày hôm sau chết hết 70 người liền. Vì vậy mà ta biết rằng cái bệnh chết con người có nhiều nguyên nhân nó sâu xa, lát nữa mình trở lại, hử. Tuy nhiên để chuyển được cái nghiệp này, thì Phật buộc cái người gia chủ là người cha phải tạo một cái công đức lớn đối với Tam Bảo, đó là cúng dường chư Tăng suốt bảy ngày

[23:18]rồi nhờ chư Tăng chú nguyện thì chuyển được cái nghiệp này là phá được cái hợp đồng này. Tuy nhiên có những cái định nghiệp mà không chuyển được, dù ta có làm phước rất là nhiều cũng chỉ để dành cho kiếp sau thôi. Ví dụ như một cái người mà ta bị cưa mất một chân, nó là một định nghiệp rồi, thì ta không có làm phước nào mà cái chân từ từ từ mọc mọc mọc ra lại có một chân đi lại. Có không? Có ai làm phước riết cái từ từ thò thò thêm chân ra lại đi lại, không có, chưa thấy. Cho nên cái người đó thôi ví dụ ta bị mất hết một chân, thì ta cố gắng làm phước hết sức mình, thì cũng chỉ là sao? Ta sẽ được cái điều tốt là ta sẽ chết sớm,

[23:58]để qua đời sau sinh vào một nơi tốt lành, có đầy đủ thân tướng nghiêm trang trở lại. Để lúc đó đừng có thắc mắc, ta đừng thắc mắc, trời ơi cái ông đó ổng làm phước quá chừng, tự nhiên ổng chết, lăn đùng ra ổng chết, sự thật đó là hết nghiệp đó. Ta cứ nghĩ như đây là một cái tổn thất, tại sao ủa làm phước mà chết sớm, đâu ngờ là bởi vì ổng làm phước quá nhiều cho nên buộc ổng phải ở một cái nơi sung sướng, thân tướng phải được lành mạnh. Cái phước của ổng nó không còn phù hợp với cái thân tướng mà một chân của ổng nữa, nên buộc ổng phải tái sinh lại để có đủ hai chân. Cho nên ta nhìn bằng con mắt phàm phu á,

[24:33]ta không giải thích được hết những cái hiện tượng mà sống chết bất ngờ của con người. Nhưng mà nếu hiểu nhân quả và ta có đạo nhãn sâu xa, ta mới lý giải được hết những điều này. Nên có những cái điều mà ta dù làm phước rất nhiều, vẫn phải để dành cho kiếp sau, chứ kiếp này nó không phù hợp để hưởng. Qua cái trường hợp này ta cũng thấy có những cái bạo bệnh nan y, có những cái chết có cái nguồn gốc tâm linh, chứ nó không đơn giản chỉ là một cái bệnh hoạn thông thường. Nhiều khi ta nghe một cơn dịch chết đâu mấy chục người ở trong xóm, ta cứ nghĩ là bệnh dịch, rồi bắt đầu ta lên kế hoạch chống,

[25:07]ngăn, đề phòng đủ thứ, nhưng mà sự thật nó lại có cái gốc tâm linh rất là lạ. Như cũng có một cái thời gian á, hồi ở Long Thành vậy, là có cái dịch gì không biết, là cứ thanh niên nam nữ đua nhau tự tử mà chết, không ai lý giải được. Bẵng qua hai ba năm vậy rồi thì cái điều đó mới chấm dứt. Mà không ai lý giải được, cái người gia đình cũng không tìm ra được nguyên nhân, không thấy đứa bé có biểu hiện bất thường, rồi bất ngờ nó tự tử nó chết, cứ như vậy, lạ. Đứa em thầy có một đứa bạn gái thân cũng vậy. Nghĩa là nó đang hạnh phúc như vậy, sắp sửa lấy chồng, đã đám hỏi đồ xong hết rồi, tất cả đều hạnh phúc, bất ngờ con nhỏ tự tử chết.

[25:48]Trong giấc mơ cái thấy nó về nó thăm, rồi đứa em thầy mới hỏi: "Tại sao mày tự tử nói tao nghe?" Cứ ú ớ ú ớ nó không trả lời được, rồi cái bừng thức dậy đến cũng không biết nguyên nhân luôn. Và cứ liên tiếp xảy ra những cái vụ tự tử kỳ lạ như vậy. Về nguyên nhân của tâm lý, hình sự hay là bệnh lý đều không có, không giải thích được, mà rộ lên trong mấy năm vậy rồi mới hết, nên ta phải hiểu rằng nó có cái tác động bí mật của cái thế giới tâm linh siêu hình gì đó. Và hầu hết mọi cơn bệnh đều có cái nguồn gốc tâm linh. Ví dụ như bệnh ung thư. Hiện nay cái bệnh ung thư nhiều là do ta hay dùng hóa chất, thực phẩm độc hại, ta bị ô nhiễm bởi không

[26:28]khí, bởi nguồn nước và cái thực phẩm ta ăn. Nó có những chất bảo quản trong giới hạn cho phép, một lọ thì trong giới hạn cho phép, mà ta ăn đủ 100 lọ thì ung thư liền. Tuy nhiên cái bệnh ung thư nó có cái nguồn gốc tâm linh rất là lạ. Những cái tế bào ta nó bị sống ký sinh bởi một cái sinh thể siêu hình nó bám vào người ta, và nó cạnh tranh sự sống với cơ thể của ta, cái nó phát triển phình đại ra, nó lan truyền ra, nó chiếm lấy sự sống của ta, và nó chấm dứt sự sống của ta luôn, cái gọi là bệnh ung thư. Nếu mà định nghĩa theo y học, thì ta nói rằng đó là những cái tế bào sinh trưởng bất thường không theo nguyên lý, nó tiết ra những chất làm đau,

[27:10]rồi cái sau đó nó tự nó phá hủy cái mô cơ thể, rồi giết chết cái người bệnh. Nhưng mà nếu ta giải thích theo tâm linh, thì là trong người ta có một cái điểm yếu nào đó, khiến có những sinh thể vô hình nó vất vơ trong cuộc sống này nó nhập vô nó bám vào cái mô đó, cái nó phát triển sự sống của nó, nó cạnh tranh sự sống với ta, rồi nó tiêu diệt sự sống của ta luôn. Đó cũng là cái yếu tố tâm linh, nên hầu hết những cái bệnh đều có phảng phất cái yếu tố tâm linh, mà ngày hôm nay thì ta chưa có tìm ra được hết. Phải vài thế kỷ nữa, khi mà khoa học tiến bộ đến cái mức công nhận yếu tố tâm linh, nhìn thấy yếu tố tâm linh,

[27:45]khám phá giải thích được tâm linh, lúc đó mọi chuyện trên đời ta sẽ kết hợp cả hai, vừa vật lý vừa tâm linh, thì ta sẽ lý giải được rất nhiều, xử lý giải quyết được rất nhiều vấn đề hơn. Và lúc đó ta sẽ thấy rằng mọi vấn đề đều nằm trên nhân quả, tội phước. Muốn hết bệnh cứ phải làm phước trước, chứ không phải lệ thuộc vào thuốc nhiều, và mọi chuyện trên đời đều như vậy. Sự cung kính chư Tăng chân tu hoặc những bậc Thánh Tăng khiến ngăn cản cái sự tác động xấu của cái cõi vô hình và ta chuyển được cái nghiệp của mình. Và Phật đưa ra bốn cái kết quả là thế này: tuổi thọ ta tăng, sức khỏe ta tăng, dung mạo đẹp hơn và cuộc sống hạnh phúc hơn.

[28:29]Thầy lặp lại bốn điều: là nếu ta cung kính những bậc chân tu đáng kính thì ta đạt được bốn cái điều thù diệu. Thứ nhất là: tuổi thọ tăng, thứ hai là: sức khỏe tăng, thứ ba là: dung mạo đẹp hơn, thứ tư là: cuộc sống hạnh phúc hơn. Có bốn điều đó ai chê không?

[28:56]Sống trên đời mà ai có được bốn điều đó là ta thấy rất là toàn vẹn, rất là mỹ mãn. Mà Phật đưa ra một cái nhân là ta cung kính bậc đáng kính thì ta có bốn điều đó. Nhưng mà quan trọng ai là bậc chân tu thánh thiện đáng kính để cho ta cung kính, ai?

[29:16]Khi mà nghe bài kinh này ta mới thấy rằng cuộc đời này cần những bậc chân tu đáng kính biết bao nhiêu, phải không? Là nếu có nhiều những bậc chân tu đáng kính ở trên đời này thì chúng sinh sẽ được nương tựa, được hưởng những cái phước lành, những cái uy lực từ những vị đó để cuộc đời của họ có thể được thay đổi tốt hơn. Hiểu như vậy, hiểu được cái nhân quả đó, ta mong mỏi, ta chờ đợi, ta khát khao những bậc chân tu đáng kính xuất hiện trên đời này biết dường nào, phải không ạ? Rất là cần. Vì vậy, nghe ở đâu mà có những bậc chân tu đáng kính, ta đều hướng về, ta lễ bái, cung kính, ta cúng dường, ta hỗ trợ.

[30:04]Ví dụ như là ta nghe ở Nepal có một cái vị mà ngồi thiền mười tháng, có nghe không ạ? À mặc dù là tuổi còn trẻ, nhưng lòng ta vui mừng, hy vọng. Ta vui mừng, hy vọng là ta nói biết đâu, hy vọng rằng sau này khi nào vị đó cất lên cái tiếng thuyết pháp mà đúng với Tứ Diệu Đế nữa thì đây đúng là đạo Phật, và vị đó đúng là một vị Bồ Tát xuất hiện giữa đời, phải không? Ta cứ chờ đợi và cứ hy vọng. Hoặc là hôm rồi có một cái vị Pháp vương ở Tây Tạng qua đây, quý Phật tử có nghe tin không? À thì ngài cũng đi thuyết pháp rồi ngài nói câu này, ngài nói: "Mặc dầu tôi xuất thân từ cái Tây Tạng Mật tông, nhưng tôi lại không quan tâm đến Mật tông,

[30:47]mà tôi lại quan tâm đến giáo lý nguyên thủy." Nghe câu đó cả hội trường bừng vỡ lên liền. Mà đúng như vậy, đạo Phật là phải lấy nguyên thủy làm gốc thì không ngờ một cái vị Pháp vương của cái xứ Tây Tạng Mật tông, mình cứ tưởng là cái vị đó sẽ xiển dương cái Mật tông, bắt mình tụng chú rồi cho linh, nhưng không, ngài nói: "Tôi lại quan tâm đến nguyên thủy Phật giáo." Ta thấy đây là một vị rất là chân chính. Nghĩa là không có chấp cái nguồn gốc của mình, mà lúc nào cũng giữ cái gốc của đạo Phật từ ban đầu là cái giáo lý nguyên thủy. Thì ở đâu mà ta nghe được những cái bậc như vậy, lòng ta khấp khởi vui mừng và cung kính hướng về.

[31:23]Ta nghe như vậy rồi, ta biết rằng Thánh Tăng là phước điền cho cuộc đời là như thế, ta khát khao ta đi tìm những bậc Thánh Tăng để ta nương tựa. Nhưng, nhưng ta cũng phải buộc mình phải trở thành một vị thánh cho chúng sinh nương tựa. Đúng không ạ? Vì ta biết cuộc đời cần rất nhiều những vị thánh như thế. Chúng sinh cần những bậc thánh để nương tựa, ta cũng cần những bậc thánh để nương tựa. Nhưng ta cũng phải tu làm sao đó để cũng phải thành thánh để làm chỗ nương tựa cho cho đời, vì đời rất là thiếu những bậc thánh như thế. Cho nên, khi ta học bài này thì ta phải xuất hiện hai cái tâm lý. Tâm lý thứ nhất là lúc nào ta cũng khát khao,

[32:15]mong mỏi có thêm nhiều bậc thánh đến với trần gian để cho chúng sinh trên đời này bớt đau khổ, chuyển được nghiệp, tăng được phúc và phát sinh được nhiều phước điền cho cuộc đời này. Đó là tâm lý thứ nhất. Nhưng tâm lý thứ hai, mà ta biết rằng những bậc thánh cũng rất là hiếm hoi, rất là khó gặp, nên ta buộc chính mình phải cố gắng tu hành tinh tấn, chân chính để làm một vị thánh cho đời.

[32:52]Ai chịu làm thánh thì giơ tay lên?

[32:58]Cái làm thánh nó khó lắm. Nghe nói như vậy ví dụ như ta nói ở đâu có một vị thánh để ta đến ta cung kính á thì rất là dễ, phải không? Rất là dễ. Vì khi mình cung kính một bậc thánh như vậy, mình phát sinh được cái tâm khiêm hạ. Mình quỳ lạy trước các ngài và mình thấy mình nhỏ bé, mình được cái đạo đức khiêm hạ rất là quý. Còn bây giờ bắt mình làm thánh để cho người khác cung kính, mình sợ liền. Vì như vậy là mình có tự cao chăng, có tổn phước chăng, phải không? Cho nên khi thầy hỏi là: "Ai muốn làm thánh giơ tay?" thì hầu như mọi người đều khôn ngoan không giơ tay, chỉ có một người liều mạng giơ tay mà rút xuống kịp thời.

[33:32]Có một người liều mạng. Thế bởi vì chính mình làm thánh thì nó rất là tế nhị. Ta đánh giá là khi nào mà biết mình đã là thánh?

[33:44]Nói điều này cho những người muốn làm thánh, nghe không? Thì đây là những cái điều mà ai cũng phải muốn làm thánh. Và để biết mình đã làm thánh hay chưa thì có bốn tiêu chuẩn này. Nghe kỹ nha, coi mình có hay không là biết mình đã làm thánh chưa. Thứ nhất, là nhập được định sâu. Có chưa? Chưa. Rồi. Tới cái thứ hai, là lòng kính Phật tuyệt đối. Có chưa? Có. Không dám đâu!

[34:16]Chỉ khi nào ta chứng thánh ta mới có lòng kính Phật tuyệt đối. Còn bây giờ ta đang kính Phật thiết tha, ta muốn kính Phật tuyệt đối và ta đang kính Phật thiết tha thôi, chứ chưa kính Phật tuyệt đối đâu. Khi nào ta chứng thánh rồi một cái là tự nhiên lòng kính Phật là tuyệt đối liền. Đó là cái tiêu chuẩn thứ hai là lòng kính Phật tuyệt đối. Tiêu chuẩn thứ ba: lòng thương yêu chúng sinh vô hạn. Có chưa? Chưa. Bây giờ là nói đúng á, nói thành thật. Ta ước mơ là ta sẽ yêu thương chúng sinh vô hạn. Hằng ngày ta quỳ dưới chân Phật ta đều lễ Phật và cầu nguyện: xin cho con trải lòng thương yêu khắp tất cả chúng sinh, phải không?

[34:58]Thì đó là ta mới ước mơ thôi, chứ còn để thật lòng mà thương yêu chúng sinh vô hạn thì khi nào ta chứng thánh rồi ta mới được chứ không phải. Bản ngã ta tan vỡ rồi thì lúc đó tất cả chúng sinh là chính mình. Chỗ này thầy chưa định nói, nhưng mà thôi sẵn hôm nay thầy nói luôn, có thể mai mốt thầy sẽ nhắc lại trong một bài giảng nào đó. Thường á là từ một phàm phu mà tu thành thánh rồi chứng Niết bàn luôn thì ta thấy thế này: cái người mới đầu là một phàm phu bình thường, ta ban ân nghĩa, ta làm phước rất nhiều, ta đem lợi ích rất nhiều cho chúng sinh, nó tạo thành cái công đức vào trong tâm rồi ta tu

[35:35]tập thiền định, khai mở tâm linh cái ta bước lên ta làm thánh. Và khi bước lên làm thánh rồi là ta đã bước khỏi cái thế giới của người phàm tục, ta đứng ở bậc trên, ta cách ly khỏi cuộc sống này. Nhưng mà bậc thánh như vậy vẫn phải tiếp tục làm phước. Nghĩa là thấy cuộc đời mình là của chúng sinh, là sống vì chúng sinh, sống cho chúng sinh, không còn sống cho mình nữa. Đó là một bậc thánh. Cho nên tuy tâm mình không còn dính với thế gian, nhưng mà cái cuộc sống của mình hết kiếp này và những kiếp khác đều sống vì chúng sinh. Cứ như vậy đến vô lượng kiếp, đến khi thành Phật đắc đạo vào trong Niết bàn.

[36:12]Như vậy là không còn dính gì với chúng sinh nữa, đúng không ạ? Nhiều người sẽ hiểu lầm rằng khi một bậc A-la-hán hay một vị Phật nhập Niết bàn rồi không còn dính gì với chúng sinh nữa là một cái sai lầm, một cái sai lầm. Những cái vị mà ở trong Niết bàn thì những vị đó là tất cả chúng sinh. Nỗi khổ, nỗi đau chúng sinh là những vị đó biết hết. Nên trong Niết bàn có yên không? Yên không? Không yên sao là Niết bàn được? Niết bàn là cực kỳ an lạc, nhưng mà không chuyện gì không biết. Đây là một nghịch lý rất là lạ. Nên ta tưởng à tôi tu tôi nhập Niết bàn, tôi yên tĩnh không còn dính với cuộc đời là một sai lầm.

[36:54]Chính vào trong Niết bàn này mới cảm ứng với tất cả chúng sinh. Tuy nhiên không trực tiếp làm gì hết, không trực tiếp giáo hóa cứu độ chúng sinh, nhưng mà tất cả những tâm nguyện của mình và chúng sinh cảm ứng cầu nguyện mình thì đều được chư Thiên và chư Bồ Tát ra tay cứu giúp. Còn những vị ở trong Niết bàn chỉ dùng cái đức của mình mà thôi. Đây là một bí mật của Bồ Tát đạo, thầy không có giảng. Hôm nay thầy nói sơ sơ, thầy không có thời gian. Muốn phân tích về điều này là cả bao nhiêu bài giảng phức tạp nữa. Nên thầy nói lại là ba tiêu chuẩn đầu là: nhập được định sâu, lòng kính Phật tuyệt đối, lòng thương yêu chúng sinh vô hạn.

[37:31]Và tiêu chuẩn thứ tư là không thấy mình là gì nữa. Không thấy mình là gì nữa. Cho nên còn nếu người nào đó ví dụ thầy hỏi: "Ủa, lâu ngày quá không gặp bác, lúc này bác làm gì?" Thì bác Phật tử trả lời: "Dạ thưa thầy, lúc này tôi làm thánh à." Thì phải thánh không? Không. Tại vì cái vị đó còn thấy mình là cái gì đó thì chưa phải là thánh. Cái đặc điểm quan trọng thứ tư của một bậc thánh là không thấy mình là gì nữa thì mới là thánh. Như trong kinh Kim Cang mới nói sao? Một vị A-la-hán không thấy mình là A-la-hán thì mới là A-la-hán. Còn nếu ai là A-la-hán mà lúc nào cũng xưng mình là A-la-hán thì là sao?

[38:12]Thì không phải A-la-hán. Ta nhớ điều đó giùm. Nên bốn tiêu chuẩn: nhập định sâu, kính Phật tuyệt đối, thương yêu chúng sinh vô hạn và không thấy mình là gì nữa là bốn tiêu chuẩn để làm thánh. Mà nếu ai đã thấy mình đủ bốn tiêu chuẩn đó thì hãy giơ tay lên để thầy biết đó là thánh.

[38:34]Ngoài ra còn một vài cái tính chất khác của thánh như thế này: đó là người không muốn điều gì và cũng chẳng sợ điều gì. Sở dĩ ta sợ hãi chuyện này chuyện kia trên đời vì ta còn muốn điều gì đó. Khi lòng ta không còn muốn điều gì nữa thì không có điều gì để làm ta sợ nữa. Ví dụ cái người rất giàu thì sợ gì? Sợ nghèo, sợ mất tài sản. Một người có chức có quyền thì sợ gì? Mất chức. Một người có danh tiếng thì sợ cái gì? Sợ mất danh. Ví dụ như nói rằng như thầy là người có tiếng đi, những bài giảng được lan ra thì cái tâm lý thầy sợ gì? Sợ người ta nói xấu, sợ người ta bôi nhọ mình. Nhưng thầy cho nói xấu thoải mái.

[39:18]Cứ nói xấu, cứ tiếp tục bôi nhọ không sao hết. Rồi một cái tính chất của thánh nữa là: tận tụy làm mọi việc mà không chấp công, tận tụy phụng sự cuộc đời mà không bao giờ chấp công của mình. Rồi một tính chất của thánh nữa là: luôn luôn sẵn sàng san sẻ. San sẻ cái tài vật mình có để cứu giúp người khác, san sẻ những kiến thức mình có để hướng dẫn người khác. Một tính chất nữa là: sẵn sàng lắng nghe và thông cảm. Một tính chất nữa là: biết nghiêm khắc để dạy dỗ. Thì một bậc thánh không bao giờ là một người dễ dãi, không bao giờ, luôn luôn phải nghiêm khắc để dạy dỗ. Đó là những tính chất của thánh. Ta có chưa ạ?

[40:04]Coi có chưa? Nhiều khi cũng có hơi hơi thấy không? Thấy mình theo Phật, mình nghe đạo lý nhiều quá rồi, những cái này khi kể ra mình thấy mình cũng có chút chút chút chút chứ không phải không. Mà chính nhờ có những cái chút chút đó mà đời sống mình cũng có một phần nào an lạc, mình có cái niềm tin, có cái tự tin để sống trên đời vì biết mình đã đi đúng hướng, vì chân lý cho ta cái sức mạnh. Một con người dù họ rất là yếu, nhưng mà nếu họ sống đúng với đạo lý, ta nhìn vô ta vẫn thấy tinh thần họ rất là mạnh. Vì đạo lý luôn luôn cho ta cái sức mạnh như vậy đó. Còn những người giống như thánh mà không phải thánh

[40:40]là như thế này ta nghe để mà biết phân biệt: là lúc nào cũng thích thuyết giảng để mong cái sự kính trọng của người khác. Thấy như thánh mà không phải thánh. Nên cái người nào mà ham nói, ham nói nhiều, ham thích thuyết giảng là người đó không phải thánh. Nên những cái bậc thánh chân chính á họ cũng có thuyết pháp chứ không phải không, nhưng mà họ không hề mong muốn thuyết pháp nhiều. Bất đắc dĩ, đúng bổn phận thì làm, còn không thì thôi, không có mong. Còn người nào cứ đi thích tìm chỗ này thuyết pháp, tìm chỗ kia thuyết pháp đều không phải là thánh, mặc dù dòm thấy giống thánh. Thứ hai nữa là:

[41:17]hay phê bình, chê bai người khác để chứng tỏ mình giỏi hơn thì không phải thánh.

[41:25]Bậc thánh có đôi khi nói lỗi người khác, mà thường là nói riêng. Còn nếu mà nói công khai là chỉ khi nào cái người kia đã quá đáng, đã gây cái tổn hại cho cộng đồng quá nhiều, buộc phải nói lên công khai để cảnh báo cộng đồng để cho người cộng đồng đừng bị lầm theo, chứ còn không thích nói xấu ai, không muốn nói xấu ai. Chỉ thích nói điều tốt của mọi người để cho mọi người thương nhau, quý nhau mà thôi. Còn người nào mở miệng cứ chê người này, trách người kia thì ta biết ngay người này là cứ muốn mình giỏi, muốn chứng tỏ mình giỏi bằng cách chê người khác thì người đó dòm thấy giống là thánh mà không phải thánh.

[42:04]Rồi một cái dấu hiệu thứ ba nữa là: thích xuất hiện trước mặt mọi người để tìm sự chú ý, thích làm nổi. Nổi, coi chừng. Cái dấu hiệu nữa là: có thể là người đó có một chút tài, có một chút trực giác rồi cứ hay khoe, hay bày tỏ cái khả năng của mình. Cái đó cũng giống thánh mà không phải thánh. Và cái người mà giống thánh mà không phải thánh như vậy cái quả báo tương lai là sự sụp đổ thê thảm, sẽ thất bại và và mất hết tất cả. Bài kệ này ta vừa nghe qua thì ta đã nghe được cái yếu tố là chuyển nghiệp mà Phật dạy, đó là nếu ta cung kính được cái bậc đáng kính thì ta được cái nhiều phước lành trong đời.

[42:44]Tuy nhiên là trong cái câu chuyện mà tạo thành cái bài kệ này, ta học được rất nhiều điều hay ha, rất là lạ. Giờ ta qua một cái bài kệ khác: Dẫu sống một trăm năm Ác giới không thiền định Tốt hơn sống một ngày Trì giới và thiền định. Cái câu chuyện mà để Phật nói lên bài kệ này là như thế này: Có Sa-di tên là Sankicca là đệ tử của ngài Xá Lợi Phất. Thì lúc đó có bên 30 vị tỳ kheo tu cái bỗng nhiên đạt được cái thiền định rất là tốt, mới xin phép Phật nói: "Thôi cho con về một cái nơi vắng vẻ để chúng con tập trung sâu vào thiền định, tại vì bắt đầu thiền định đã khai mở, chúng con bắt đầu nhập được thiền,

[43:28]thì cho con về nơi vắng vẻ để nhập thiền cho sâu mà đắc đạo luôn." Đức Phật nói: "Thôi, hãy bảo Sankicca đi theo." Mà vì sao Đức Phật bảo đi theo thì cũng không ai hiểu, cho đến khi mà chuyện xảy ra rồi thì ta mới biết rằng Phật đã thấy trước. Sa-di Sankicca này rất là lạ, là lúc mà mẹ có mang ngài thì bả bị bệnh chết. Dân làng mới đem bà bỏ lên thiêu, còn nguyên cái bụng bầu sắp sinh bỏ lên thiêu luôn. Thiêu thì bà cháy hết mà cái bào thai không cháy, sống, đem ra vẫn sống. Rất là lạ như vậy. Cho nên cái người làng mới đem về nuôi. Khi Sa-di lớn lên một chút, biết cái thân thế của mình là như vậy,

[44:13]là mẹ mình sắp sinh mình rồi lại chết và bị thiêu mà mình còn sống, ngán ngẩm cuộc đời nên mới xin cái người trong làng là đi tu. Thì khi đi tu, Phật cho làm đệ tử của ngài Xá Lợi Phất, thì ngài đi tu một thời gian ngài đắc quả A-la-hán, ngài vẫn sống thầm lặng chứ không nói gì. Bây giờ thì 30 vị tỳ kheo đó đi tìm nơi ẩn tu thì Đức Phật mới sai ngài đi theo. 30 vị đến một cái ngôi làng mới được dân làng nhiệt tình giúp đỡ, nên các vị mới ở ven làng, cất những cái chòi, những cái cốc trong cái khu rừng sơ sài để ở và có Sa-di Sankicca ở đó. Trong làng đó có một cái ông già nghèo khổ bị con cháu hắt hủi,

[44:56]nên ổng không có nơi nương tựa, ổng mới đến xin với các vị tỳ kheo, nói: "Các vị cho con ở nhờ, tại vì con cháu con nó xua đuổi con, con khổ quá, đói quá." Nên các vị thương tình nói: "Thôi, ông ở đây, mỗi ngày chúng tôi đi khất thực thì đem về chia cho ông miếng ông ăn, ông nên cứ quét dọn quanh quanh vậy cũng được." Thì sống được một thời gian như vậy thì các vị thì cứ ngồi thiền rồi đi khất thực rồi đem về mỗi người xớt cho ông muỗng cơm ông cũng ăn được, sống qua ngày, cũng mọi việc bình thường. Nhưng mà đúng cái nghiệp thế gian, con cháu nó hắt hủi, nó xua đuổi mình mà vẫn nhớ, vẫn thương. Tâm lý này có không?

[45:33]Có, rất là lạ. Có những bậc cha mẹ già bị con cháu hắt hủi, đi thì khóc bù lu bù loa kiếm chỗ khác ở, ở ít bữa nhớ nó quá chạy về thăm chút xíu, thăm rồi nó nói nặng nói nhẹ bỏ đi nữa, có không? Trên đời có đó, rất là lạ. Thì cái ông già này cũng rơi vào trường hợp đó. Bị nó xua đuổi, buồn tủi đến nương nhờ với chư Tăng, mà ở được một hai tháng cái nhớ, cái lén bỏ khu vực đó không xin phép, đáng lẽ đi phải xin phép, không xin phép, lén về thăm cháu. Nhưng về nửa đường, lúc đó nhằm mà có một cái băng cướp, băng cướp này thì nó cứ mỗi năm nó phải giết một người để nó tế thần. Băng rừng đi sao không biết lại đúng ngay tụi nó chụp cổ ổng vô, trói lại. Cái nói:

[46:14]"Thôi khỏi đi đâu tìm nữa, có cái ông già này đây giết tế thần." Ổng quỳ ổng lạy, ổng nói: "Thịt tui già, tế thần ăn không ngon. Tui biết chỗ đó có 30 ông thầy tu, thịt ngon lắm, cúng lên thần mê lắm." Cái thì tên cướp thấy có lý: "Đâu, ngươi dắt ta lại." Thì đúng là khi dắt lại thì có 30 vị tỳ kheo đó. Nó đưa gươm ra nó dí hết, nó nó tính bắt một người. Thì lúc đó Sa-di Sankicca mới nói: "Thôi, tôi còn trẻ để tôi tế thần ngon hơn." Cái nó mới dắt ngài đi, dắt ngài đi lại cái chỗ cái tế đàn của nó dựng ở trong rừng. Thì khi mà ngài ngồi lặng lẽ như vậy, nó mới nhảy chung quanh nó cầu nguyện, đốt lửa đốt khói lên, nó rút dao nó chém ngài một cái bụp

[46:56]vô cổ thì nghe một tiếng như chạm vào kim loại, không đứt. Nó ngạc nhiên rồi nó lấy dao lấy nó đập, đánh vô đầu mà không xi-nhê, ngài vẫn ngồi bình an bất động. Bắt đầu từ cái hung hãn thì nó biến sang sợ hãi và quỳ lạy hết. Cái ngài mới thuyết pháp cho nó nghe. Thuyết pháp cái hóa độ sao đó tụi nó mới xin làm đệ tử của ngài. Thì ngài mới dắt mấy chục tên cướp đó về gặp Phật, thì Phật mới khuyên bằng bài kệ, đó là: Dẫu sống một trăm năm Ác giới không thiền định Tốt hơn sống một ngày Trì giới và thiền định. Làm bọn cướp cả đời làm ác thì có ích lợi gì đâu, thà một ngày sống tốt vẫn có cái lợi hơn, nói để dạy cho bọn cướp.

[47:37]Cái chuyện đó là là như vậy. Giờ ta phân tích câu chuyện này: Không hiểu sao á trong cái lịch sử mà giáo hóa của Đức Phật thì ngài Xá Lợi Phất có cái duyên làm bổn sư nhiều cái Sa-di nhỏ tuổi mà nhiều Sa-di đều đắc đạo, ta không biết như thế nào, rất là lạ. Câu chuyện cứ để lại như vậy, cho nên ta cứ theo truyền thuyết mà đón nhận và suy ngẫm. Có những cái điều thế này: cái người mà có duyên chứng A-la-hán trong kiếp đó rồi thì không bao giờ bị chết. Đó là cái nguyên lý, đó là quy luật. Nhiều chuyện lắm, nhiều chuyện trong suốt cuộc đời Đức Phật giáo hóa đó, nhiều vị sau đắc A-la-hán thì đều có một cái lần nào đó trong đời đã gặp một

[48:19]cái tai nạn khốc liệt, khúc quanh nghiệt ngã, nhưng mà vượt qua hết. Đức Phật luôn luôn nói như vậy: một cái người nào sinh ra mà trong kiếp đó đắc A-la-hán thì người đó không bao giờ bị một cái gì nguy hiểm tới tính mạng hết, dù là trong hoàn cảnh nào. Đây là một cái đặc tính như vậy. Và một cái điều ta thấy thế này nữa nè: thần thông dễ khuất phục được những kẻ hung hãn, còn đạo lý chỉ dành cho những người biết suy nghĩ. Như hồi xưa mà Thầy Minh Phát ở Ấn Quang còn sống, không biết quý Phật tử có nghe nói về Thầy Minh Phát không? Thầy Minh Phát hồi còn trẻ tuổi hồng hào, đẹp. Người ta hay đồn ổng là Phật Di Lặc á.

[49:03]Người ta đồn là thầy Minh Phát có thần thông rất là nhiều. Những Phật tử mà lớn lớn tuổi mà hay chùa Ấn Quang có nghe tin này. Có vài người có thấy không? Như vậy là nhiều người mới đi chùa ở đây không biết à? Chứ mấy người nào đi chùa lâu lâu là có nghe chuyện thầy Minh Phát. Ừ thầy có nhiều chuyện hay... cũng nhiều truyền thuyết rất hay lắm, mà nhiều truyền thuyết mình càng nghe càng lạ lùng, càng hấp dẫn. Ví dụ cũng có cái chuyện này: Thầy Minh Phát thì thầy là đệ tử của Hòa thượng Thiện Hòa. Hòa thượng Thiện Hòa lúc đó là là Phó Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Thống nhất ở trước Giải phóng.

[49:35]Thì lần đó cái một cô bé gái đến xin ngài đi xuất gia thì Hòa thượng mới nói: "Ở đây chỉ là chỗ ở Tăng, con là nữ không có tu được." Cái cô bé đó về nhà lên nằm chết liền. Sau có một gia đình khác đầu thai lên một đứa bé trai. Rồi cái đi vô xin xuất gia. Cái Hòa thượng nói: "Sao con còn nhỏ quá?" Cái đứa bé trai mới than: "Hồi trước thì nói là con gái không cho tu, bây giờ chê người ta nhỏ." Ô sợ! Cái Hòa thượng thấy vậy sợ quá thôi cho xuất gia, làm chú Minh Phát. Thì từ lúc mà ngài còn nhỏ cho tới lớn lên thì nhiều truyền thuyết về thần thông. Và cái đặc biệt của thầy là gì? Là ngài khuất phục mấy người mà ở bến xe.

[50:15]Hồi đó gần Ấn Quang có cái ngã bảy có cái bến xe, có cái bến xe đò đó. Xe chạy từ các tỉnh về là chạy tuốt cho tới ngã bảy đậu đó, nên cái khu đó cực kỳ phức tạp. Dân đứng bến xe đó, mà dáng đứng Bến Tre thì đẹp chứ mà dáng đứng bến xe thì rất là đáng sợ. Nhưng mà nguyên cái đám mà lơ xe đứng bến xe đó là cứ vô quy y với thầy Minh Phát hết. Thì thầy có thần thông thầy khuất phục được. Nên ta thấy là cái tiền bạc có thể khuất phục người khác, quyền chức có thể khuất phục người khác, cái võ lực có thể khuất phục người khác, thần thông có thể khuất phục người khác, mà những con người khó bảo. Còn đạo lý chỉ dành cho những người biết suy nghĩ thôi.

[50:57]Ví dụ bây giờ bao nhiêu người ngồi đây nghe thì hầu như là chỉ là những người biết suy nghĩ thôi thì mới đến nghe thầy giảng. Chứ còn nếu mà cái người hung dữ một chút, ngang tàng, ngỗ nghịch, họ không đến đây nghe thầy giảng. Tại vì biết thầy không có gì hết: Thầy không có tiền, không có quyền, không có thần thông, hổng sợ, hổng nghe. Nên chỉ có những người mà thích đạo lý, biết suy nghĩ thì mới đến đây để ta nghe giáo pháp. Chỉ có Phật thôi là ngài đầy đủ hết tất cả mọi phương diện, cho nên ngài nhiếp phục được hết tất cả, từ những người mà có đạo hạnh, biết suy nghĩ cho tới những người ngang tàng, ngỗ ngược.

[51:35]Còn như là những người mà có thần thông như Sa di Sankicca hoặc là những một số vị khác thì mới khuất phục được những người ngỗ ngược, ngang tàng. Còn như thầy là chỉ chia sẻ với những người biết suy nghĩ, những người tâm tính đã thuần rồi thì mới đến đây. Nhưng nó cũng có cái điều quan trọng thế này. Cái điều quan trọng là à dù có dùng tiền bạc để mình khuất phục người, hoặc là mình dùng quyền chức để khuất phục người, hoặc là dùng võ lực khuất phục người, thậm chí dùng thần thông để khuất phục người, nhưng cuối cùng vẫn phải dùng vẫn phải dùng gì? Đạo lý. Thì mới độ được người, mới giáo hóa, mới dạy dỗ được người, phải không?

[52:20]Chứ ví dụ như mình cho người ta tiền, người ta theo mình, rồi hết tiền người ta theo nữa không? Không. Nên phải sau khi cho tiền người ta theo mình rồi, phải cho người ta đạo lý. Nên có những cái tôn giáo vậy, cho người ta tiền để người ta theo, nhưng mà người ta theo rồi người ta thực sự người ta cũng thờ ơ lắm, vì cũng chẳng có đạo lý gì quan trọng. Cứ ràng buộc nói: "Hồi trước tao cho mày tiền mày hứa mày theo đạo tao, rồi sao giờ mày cà lơ mày không đi..." Cái người ta cũng cười cười cười tại vì sau đó không có đạo lý. Cho nên ban đầu dùng tiền khuất phục tạm được, nhưng phải có đạo lý. Hoặc là người có quyền chức cũng vậy, ra lệnh là:

[52:55]"À, phải theo cái đạo này hết nha. Không theo là không được à." Cái người ta sợ người ta cũng theo. Nhưng mà không có đạo lý rồi người ta cũng lơ lơ. Mai mốt gặp đâu có đạo lý người ta lại ngả theo lại, cũng vậy. Hoặc là dùng võ lực, hoặc là dùng thần thông cũng vậy, ban đầu người ta nể, người ta sợ, người ta khuất phục người ta theo, nhưng mà nếu không có đạo lý để giữ tâm hồn thì lần lần người ta cũng buông ra. Vì vậy, đạo lý vẫn là cái phương tiện hóa độ cuối cùng mà ta không thể làm gì khác hơn được. Cho nên là nếu ai mà muốn chia sẻ đạo lý, muốn giáo hóa chúng sinh thì phải giỏi đạo lý. Chính mình phải thực hành tu tập và mình cũng phải biết

[53:38]nói lên lời đạo lý thì đó mới là cái giáo hóa bền bỉ. Còn nếu ai ỷ mình có tiền, có quyền, có chức, thậm chí là có thần thông rồi mà nghĩ rằng người ta sẽ theo mình vì những điều đó thì sẽ biết rằng điều đó không có bền, không có bền. Nên người nào khôn ngoan nhất thì vẫn phải hướng về đạo lý. Có một số ông thầy bói ổng biết xem phong thủy, địa lý, ổng biết trần yểm bùa chú, cúng kiếng là trừ ma, vân vân, và cũng được một số người người ta theo làm đệ tử. Có không? Cái số thầy đó cũng đông lắm đó chứ không phải không. Biết bùa chú, yếm, trấn, hoặc biết coi phong thủy, cũng được một số thân chủ.

[54:21]Thân chủ người ta theo người ta nhờ vả mai cúng cái này, nay cúng cái kia, rồi coi bói giùm chuyện này, gieo quẻ chuyện kia, thì cũng được một số người thân chủ đi theo như là đệ tử, nhưng mà cái đó không bền. Không bền. Rồi sau đó mình cũng hết phước vì mình hưởng những cái điều người ta cúng dường, rồi còn cái người kia họ cũng không biết nhân quả, họ không tạo phước thêm, rồi cuộc đời họ cuối cùng cũng hết phước rồi cũng tàn lụi, rồi cả thầy và trò đều đi xuống. Nên nó dù mình có cái năng lực gì thì năng lực, nhưng mà cái tối cao, cái cuối cùng, cái cứu cánh vẫn phải là đạo lý. Vì vậy, nếu ai mà đã lỡ có những ưu thế khác như là tiền

[55:03]bạc, quyền chức, thần thông, hoa thuật, vân vân, thì phải nhanh chóng bổ sung cho cho mình cái đạo lý. Vì có cái đạo lý đó mới thực sự là lợi ích cho mình và lợi ích cho những người đi theo mình. Còn nếu mình cứ ỷ y vào cái năng lực mà thấy người ta nể phục mình, người ta theo mình ngang đó là đủ rồi, thì không cần đạo lý nữa, nói: "Thôi chỉ cần cái tài này là người ta theo tôi ùn ùn rồi." Cái câu nói đó rất là ngạo mạn và rất là nông nổi. Vậy chứ đến lúc mình hết phước người ta sẽ bỏ mình. Và người ta theo mình mà người ta lần lần ta cũng không thấy được cái lợi ích vì thực sự không có phước, rồi dù mình có sửa cửa,

[55:43]sửa nhà, dù mình có dán bùa, cuộc đời người ta vẫn lận đận, vẫn đau khổ rồi người ta cũng sẽ bỏ mình vì nhân quả vẫn là chi phối tất cả. Còn những hoa thuật như là địa lý hay bùa chú, trấn yểm chỉ tạm bợ chứ không phải là cái gốc. Vì vậy, vẫn phải là đạo lý cuối cùng. Còn trường hợp mà các vị Tỳ kheo không thuyết phục được mấy chục tên cướp vì các ngài lúc đó nói đạo lý tụi nó không nghe, kẻ đang cầm gươm mà nói đâu nghe. Mà lúc đó các vị chưa đắc đạo để có thần thông nên cũng không có năng lực khuất phục. Mà không ngờ là Đức Phật đã biết trước chuyện này nên Đức Phật mới sai Sa di Sankicca đi theo.

[56:24]Rồi lúc mà chuyện xảy ra rồi, ta mới hiểu là Đức Phật đã thấy trước và đã sắp xếp cái chuyện vậy và độ được ba chục tên cướp đó. Cái chuyện cũng rất là là hay. Câu chuyện trên cho ta một cái nghịch lý thế này: Là mấy trăm tên cướp lớn tuổi nhưng bị thuyết phục bởi một Sa di nhỏ tuổi. Thì như vậy ta hiểu thêm điều nữa là ở trên đời này, cái tuổi tác là không quan trọng mà cái đạo hạnh mới là mới là quan trọng. Tuổi tác không quan trọng. Có người sinh trước, có người sinh sau, nhưng mà trong luân hồi sinh tử, cái người già nhưng kỳ thực đời xưa lại là cái người nhỏ. Nên chuyện cái tuổi tác nó rất là không quan trọng.

[57:04]Tuy nhiên, cái tâm lý của xã hội thì tuổi tác vẫn đóng một vai trò đáng kể mà buộc ta phải tuân thủ. Còn trong cái vòng luân hồi sinh tử này, cái yếu tố tuổi tác thì không phải là yếu tố quan trọng lắm. Cho nên ta sống trên đời, ta có cái nhìn để cân đối hai bên. Ta biết rằng theo tôn ti, trật tự, truyền thống của xã hội cũng như theo sinh lý của con người thì tuổi tác có một yếu tố nhất định nào đó và ta cũng phải khéo léo tuân thủ. Tuy nhiên, theo cái nhân quả nghiệp báo thì tuổi tác lại không quan trọng lắm. Nên ta cân nhắc giữa hai yếu tố đó để ta sống và nhờ vậy, ta sống đúng, ta sống tự tại, sống thanh thản và không sai lầm.

[57:46]Tương quan giữa người và người á, ban đầu chưa biết được là ai hơn, ai kém, cho nên xã hội thường dùng tuổi tác để phân định cái lớn nhỏ, cái tôn ti, trật tự. Nên khi cái người Việt Nam ta, ta có đại từ xưng hô cực kỳ phức tạp mà trên thế giới hình như không ai có. Ta gặp một người lớn ta đoán cái người đó đối với mình là ngang cái vai vế nào thì ta dùng cái chữ để ta xưng. Thấy người này ngang với anh, ta gọi là anh; cái người thấy ngang chú thì gọi chú; người ngang bác gọi là bác; rồi cái người già ngang ông, bà mình, ta gọi là ông, là bà. Như vậy, nên người Việt Nam ta ta có cái phân biệt. Rồi khi ta gặp người nhỏ hơn cũng vậy, ta xem cái người này đáng em, ta kêu em;

[58:28]cái người đáng con, ta kêu con; người đáng bạn thì kêu bạn, vân vân. Thì cái lối xưng hô của Việt Nam người nước ngoài học không được, học họ than trời. Nói: "Hôm nay cái người tôi vậy kêu bằng chị, tới chừng mà gặp người khác kêu bằng chị bị người ta chửi, nói phải kêu bằng dì, không biết làm sao. Cái gặp người khác kêu bằng dì nói: "Bộ tui già lắm hả?"" vân vân, đủ thứ hết. Thì trừ một số quốc gia là họ cứ I, you, wǒ, nǐ gì thì thôi thì ý thức phân biệt tôn ti tuổi tác của họ không nhiều, nhưng mà Việt Nam ta thì ý thức mà phân biệt theo tuổi tác rất là rất là quan trọng. Đó là cái ban đầu là tuổi tác,

[59:04]nhưng sau đó thì xã hội phân định lớn nhỏ theo tài năng. Ai có tài nhiều sẽ được kính nể; theo địa vị, ai ở chức lớn thì được kính nể; theo huyết thống, cái người nào thuộc dòng dõi mà quý tộc hay là cao quý gì đó thì người ta kính nể; rồi theo tài sản, người nào giàu hơn thì được người ta nể phục hơn, vân vân. Đó là như vậy. Còn theo Phật pháp thì ta phân định tôn ti trật tự theo hai cấp. Ban đầu là tuổi đạo, về sau thì là đạo hạnh. Là khi mà ta chưa biết ai tu giỏi thì cứ người nào tu trước thì được kính trọng hơn, là cái tuổi đạo trước. Hoặc người nào vô chùa quy y trước thì cứ làm sư huynh,

[59:47]nhưng mà sau đó đó, bắt đầu tu một thời gian rồi thì có những người họ đi sau mà họ lại vượt lên trước do cái trí tuệ, cái tài năng, cái đạo hạnh, sự tinh tấn của họ họ vượt lên thì sau đó bắt đầu đánh giá lại. Đánh giá lại là tái thẩm định lại là cái người này tuy là sư đệ thế nhưng mà ông thầy ổng phải nhấc lên cao hơn chút xíu để làm việc, vì cái năng lực, cái đạo đức, cái đạo hạnh nó lại cao hơn, lúc đó lại quan trọng hơn. Cho nên ban đầu ta tạm dựa vào tuổi tác để sắp một cái tôn ti tương quan với nhau, nhưng về sau kỹ hơn thì phải luôn luôn đánh giá vào trong đạo hạnh. Cũng vậy, cái ban đầu á, ta gặp những người tu hành thì ta đều kính trọng.

[1:00:29]Hễ xuất gia, cạo đầu tròn, mặc áo cà sa thì ta đều kính trọng, đó là ban đầu. Nhưng về lâu về dài thì ta phải nhìn kỹ vào đạo hạnh, là phải coi cái vị đó tu hành có tinh tấn không, có chân chính không để ta đặt lên lòng kính trọng, chứ không phải là cứ như ban đầu hễ đầu tròn áo vuông là ta kính trọng. Thì như vậy ta cũng sai. Sai là sao? Sai là ta tiếp tay cho những người tu giả. Cái người tu giả họ biết rằng hễ họ chỉ mang cái hình tướng này, họ sẽ được cái sự cúng dường, cung kính, phục vụ, nên họ cứ tha hồ mà mang hình tướng. Có khi là hoàn toàn không có chùa, không có thầy, không học, không gì hết, chỉ cần hình tướng thôi là đã lừa người ta được.

[1:01:11]Thì ta cũng vậy, theo hai tiêu chuẩn: Ban đầu cứ dựa vào hình tướng, nhưng sau đó phải tìm hiểu kỹ về đạo hạnh. Mà nếu tất cả những người Phật tử đều biết xét nét một người xuất gia theo đạo hạnh thì đạo Phật sẽ rất là phát triển. Lúc đó người ta không dám đi tu giả nữa. Cái người nào muốn xuất gia là phải tự xét mình, nhắm mình có tu hành chân chính được hay không rồi hãy đi tu. Vì sao? Vì biết rằng Phật tử xét nét rất kỹ, chứ Phật tử không dễ dãi. Thế còn mà ta cứ nghe dụ, nói rằng hễ mà cúng dường chư Tăng là được phước á thì câu nói rất là hời hợt, nó chưa có bảo đảm. Quan trọng phải nói thêm là cúng dường những người xuất gia tu hành chân chính.

[1:01:54]Thêm cái chữ tu hành chân chính nữa thì mới bảo đảm nha. Cái bài mà Phật nói á là: "Dẫu sống một trăm năm ác giới không thiền định, tốt hơn sống một ngày trì giới và thiền định" thì ta thấy thế này, cái ý nghĩa về thời gian trong cuộc sống và đạo đức tu hành, cứ mỗi một ngày trôi qua lại là một trách nhiệm đè lên vai chúng ta. Nếu như người biết sống, biết suy nghĩ, biết tu hành, ta quý từng ngày vì một ngày 24 giờ trôi qua rồi không trở lại nữa. Lời nói nói ra rồi không lấy lại được nữa, cái chén đã vỡ rồi không nối lại được nữa, thời gian đã qua rồi không kéo lại được nữa. Vì vậy, cái người mà biết tu,

[1:02:34]biết suy nghĩ, đi qua một ngày, đi qua trong tâm trạng cực kỳ có trách nhiệm, biết lo lắng và biết cố gắng chứ không phải là đi qua một ngày hời hợt. Còn nếu ta sống qua một ngày, ta sống cứ thanh thản để cho thời gian trôi qua là biết ngay ta là người không có trí tuệ, không biết suy nghĩ. Cũng vậy, mỗi tháng mỗi năm đi qua là cái món nợ ân nghĩa với đời rất là nhiều. Ta cứ sống qua một tháng một năm, ta ăn bao nhiêu bát cơm, mặc bao nhiêu cái quần áo, đi trên bao nhiêu con đường, thắp bao nhiêu bóng đèn điện, sử dụng bao nhiêu công việc thì cái đó là đều là ân nghĩa đối với cuộc đời, đối với xã hội hết.

[1:03:16]Mà nếu trong một năm một tháng đó, ta tu hành không tốt, ta không làm điều gì có lợi cho đời thì cái ân nghĩa đó buộc ta phải đền trả lại. Đền trả lại, kiếp nào đó ta phải trở thành cái người hầu hạ, phục vụ mà không được gì hết. Phục vụ cúc cung tận tụy mà quyền lợi không có. Có nhiều người nhìn vào ta mới nói, bất mãn, nói: "Tại sao cái số người này làm việc rất là cực khổ mà xã hội không cho người ta một cái quyền lợi gì, cứ để người ta nghèo khổ?" Người ta bất mãn, cái bất mãn đó cũng đúng nhưng mà nó cũng có cái nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của nó là cái những người này trong những kiếp xưa

[1:03:52]đi qua một cuộc đời sống hời hợt, hưởng thụ, không biết lo lắng, không có trách nhiệm, cho nên là bây giờ phải trả nợ đời. Vì vậy, cái người có trí tuệ, họ tiếc từng chút thời gian để tu và làm các công đức. Còn cái người ngu si thì trôi qua từng ngày trong hưởng thụ và tội lỗi. Nhắc lại: Cái người trí tiếc từng chút thời gian để tu và làm các công đức, còn người ngu thì trôi qua từng ngày trong hưởng thụ và tội lỗi. Hãy nhớ điều đó khi ta nhìn về thời gian.

[1:04:29]Ta nghe thêm một bài kệ nữa. Bài kệ thế này: "Ai sống một trăm năm ác tuệ không thiền định, tốt hơn sống một ngày thiện tuệ tu thiền định." Cái câu này rất là giống cái bài kệ trước, nhưng mà cái chuyện tích thì hơi khác chút xíu, là có một vị trưởng lão tên là Kha-nu-khon-đa-na, ngài là một bậc A-la-hán đắc đạo. Hôm đó ngài có việc ngài phải đi trên đoạn đường dài, lúc đi giữa đường rừng cái ngài mệt. Thay vì như mình là mệt cái mình lăn đùng ra ngủ, ngài mệt cái ngài đến một cái phiến đá, ngài ngồi xuống ngài nhập định, ngài nghỉ bằng cái nhập định. Thì lúc đó cũng có một bọn cướp, cũng cướp nữa.

[1:05:11]Cái xã hội thời đó sao nhiều cướp quá. Nó đi đâu cướp đâu được về nó mang nhiều món đồ về. Đi tới đó, tới đó cũng khoảng giữa đường cái nó cũng mệt. Rồi cũng trời đã tối, mà trong bóng tối nó nó nó dòm nó tưởng ngài là cục đá tại ngài ngồi bất động á, cũng lẫn lẫn với cây rừng, sao nó cứ chất đồ nó chất đống nó dựa vào cái người của ngài. Đồ nó chất chất chất chất lên nó chất luôn đầu ngài một đống luôn. Rồi cái tụi nó lăn khoèo ra tụi nó ngủ. Sáng ra khi mà bắt đầu tụi nó dậy để lấy đồ, nó tháo đồ ra thì nó mới té ngửa ra đó là một ông thầy tu, mà ngài cũng vừa xuất định. Ồ, tụi nó đâm đầu tụi nó sợ quá chừng sợ.

[1:05:46]Cái ngài mới dạy tụi nó, cái tụi nó nể phục ngài. Thì ngài này là được cả hai: Là ngài vừa đắc đạo mà vừa biết thuyết pháp, cho nên ngài mới kêu tụi nó lại, nói: "Thôi tụi con lại đây ngồi ta nói cho nghe." Giảng dạy đạo lý cái nể phục quá nó xin theo làm đệ tử. Thì ngài cũng đưa về Đức Phật thì Đức Phật cũng dạy bốn cái câu kệ như vậy: "Ai sống một trăm năm ác tuệ không thiền định, tốt hơn sống một ngày thiện tuệ tu thiền định." Thì ta giải thích chút xíu cái chữ "ác tuệ" và "thiện tuệ" là gì? Ác tuệ là gì? Cái tuệ là cái khôn ngoan, nhưng mà cái ác tức là ta dùng cái khôn của mình để làm ba chuyện tào lao.

[1:06:26]Ví dụ như là ta mưu tính cái chuyện hại người, tính ra đủ cách để hại người khác thì đó là ác tuệ. Tức là đem cái khôn của mình để làm cái chuyện ác gọi là ác tuệ. Rồi ta so đo hơn thua, phê bình và chỉ trích, ta quanh co, ta dối trá, những cái mánh mun, lươn lẹo đó gọi là là ác tuệ. Thì ở đây ai ác tuệ đâu giơ tay lên thầy coi? Có ai ác tuệ không? Ai mà mánh mun rồi giỏi không? Nói dối rồi giỏi không? Cái người nói dối là người có tuệ lắm đó nha, tại nói dối dễ quên lắm. Chỉ lỡ nói dối một lần phải suốt đời nhớ mình đã nói cái gì, mai mốt nói lại cho nó ăn khớp, chứ không thôi quên mai mốt nói lại trật lất à.

[1:07:08]"Mấy bữa tôi tôi hỏi mượn tiền anh, anh nói là ngày hôm đó là thấy ăn cướp mới giật tiền anh, nhưng mà hôm nay sao anh kể tôi là cả đời anh không bao giờ bị ăn cướp giật tiền là sao vậy?" Té ra là quên, vì hôm trước là ác tuệ cái nó quên, là nói dối nó dễ quên lắm. Còn cái thiện tuệ là gì? Là buộc mình, buộc cái tâm mình phải nghĩ theo cái đạo lý từ bi. Nhiều khi nó suy nghĩ chuyện này chuyện kia là bắt nó phải nghĩ cho đúng cái đạo lý từ bi, không cho nghĩ chuyện tầm bậy tầm bạ. Ví dụ như trong lòng mình mình nhìn một người, buổi chiều cái họ đi dạo chơi công viên, cái trong lòng mình mình nghĩ theo kiểu này, mình nói: "Trời, rảnh quá ha.

[1:07:49]Rảnh thì không chịu đi tu, đi chùa, làm phước. Cái giờ này rảnh cái đi dạo công viên." Ta phê bình, ta nghĩ xấu. Thấy ông thầy mới dạy là cái người trí là phải tiếc từng chút thời gian, đây có thời gian mà đi dạo công viên sướng quá ha, đó ta chê một câu. Nhưng mà ta phải nghĩ lại, ta buộc mình phải nghĩ lại theo cái đạo lý từ bi. Ta phải nghĩ thế này: Trong cuộc sống của con người, có khi người ta chưa có duyên gặp đạo lý, thì cái giờ phút rảnh rỗi, người ta đi dạo giữa công viên để người ta hưởng cái không khí trong lành và lòng người ta thanh thản, cởi mở, thì đó là cái quyền được sống của con người.

[1:08:26]Con người ta sống trên đời, ngoài những lúc tất bật lo toan, người ta cũng được những giây phút mà thư giãn lành mạnh như thế này. Mà thư giãn lành mạnh như thế này là quá hay, còn hơn ổng đi giờ này ổng đi nhậu, phải không? Gió mát, còn hơn giờ này đi nhậu. Cho nên khi ta muốn chê ai, ta nghĩ lại, thay đổi lại, ta thông cảm, ta đồng cảm. Và chính vì cái thông cảm, đồng cảm đó mà ta bớt căng thẳng, lòng mình cũng bớt hẹp hòi. Chớ nhiều khi nghe đạo lý Phật dạy rồi, ta đem cái đạo lý đó để ta chê trách người khác, ta chê trách người khác. Mình nhiều khi cũng chưa ngon lành gì mà cứ dựa vào lời Phật dạy

[1:09:00]để chê người khác, cái thành ra lòng mình hẹp hòi và mang tội. Cái đó là ác tuệ đó, tức là ỷ học được một vài câu kinh Phật rồi đem câu đó làm thước đo mọi người. Và điều đó trở thành cái ác. Cái giáo lý của Phật là để thương nhau, không ngờ mình dùng cái giáo lý đó để mình phê bình, mình chỉ trích, để làm thước đo, ai mà vô cái khuôn của mình, cái ni của mình thì mình được, còn ai ngoài cái ni này cái mình chê trách, mình ghét. Thành ra là lời của Phật dạy biến trở thành cái vũ khí để mình hơn thua, mình chê bai. Vì vậy, ta phải buộc cái tâm mình suy nghĩ theo cái đạo lý từ bi để thông cảm, để yêu thương con người, tìm cách là thông cảm, yêu thương con người.

[1:09:40]Đó là cái đấu tranh giữa cái đó là cái thiện tuệ. Một bên là cũng lấy đạo lý nhưng để chê, nhưng một bên nghĩ lại để có cái sự thương yêu, quý hóa con người. Cái mình lách qua lách lại để mình có được cái suy nghĩ thông cảm, yêu thương con người, đó là thiện tuệ. Giống như ví dụ nói thế này: Trong một những quy luật của nhà Phật là không cho ăn quá ngọ, tức là quá 12 giờ không ăn. Thì có người mới nói thầy đó: "Thưa thầy, ở trong luật người ta nói là quá 12 giờ mà ăn là có tội." Thầy mới trả lời, thầy nói: "Hồi nhỏ tới lớn thầy cũng suy nghĩ chuyện đó hoài. Từ khi thầy biết đạo Phật cho đến bây giờ thầy vẫn

[1:10:19]suy nghĩ là tại sao qua 12 giờ ăn mang tội? Và thầy suy nghĩ mãi, thầy chưa bao giờ tìm ra được cái tội, chưa bao giờ. Ai giải thích, chứng minh cho thầy là qua 12 giờ ăn có tội, nói thầy nghe." Tìm không ra.

[1:10:36]Có cái tội gì khi mà ta ăn uống cho có sức khỏe để ta tu và làm Phật sự? Có tội gì? Không. Chỉ có cái là tới giờ ta ngồi thiền mà bụng vẫn còn đầy quá thì ngồi thiền không tốt, vậy thôi. Chứ còn ăn uống cho có sức khỏe thì có gì là cái tội đâu. Vì vậy mà Phật của ta mới tuyệt vời, là tùy theo hoàn cảnh mà Đức Phật chế giới này, chế giới kia, nhưng Phật cảnh báo một cái là giới cấm thủ là một tội lỗi, một cái kiết sử, một cái ngăn che. Cái người nào mà có giới cấm thủ, tức là cố chấp, nhìn giới luật mà chỉ nhìn trên cái khuôn thước, thì đó là một cái người chưa có chứng Thánh được, chưa chứng cái sơ quả đầu tiên là Tu-đà-hoàn.

[1:11:21]Vì cái người mà chứng Tu-đà-hoàn, bậc Thánh đầu tiên, là không còn bị giới cấm thủ. Nhìn vấn đề là nhìn cho tới nhân tới quả, chứ không có chỉ nhìn trên cái quy luật hời hợt ở ở bên ngoài. Thì cái mà nhiều khi ta dựa vào quy luật, giới luật để ta buộc tội nhau, nhiều khi cái đó lại là ác tuệ. Còn khi mà ta đạt được tới như Đức Phật nói là phá được cái giới cấm thủ, không còn cố chấp trong mọi vấn đề, thì lúc đó ta mới gọi là thiện tuệ. Mà khi nào tâm ta có thiện tuệ, có thiền định thì Đức Phật khen ngợi cái người đó sống từng ngày xứng đáng. Dù có thể là người đó không sống một trăm năm, nhưng sống từng ngày có cái thiện tuệ,

[1:12:05]suy nghĩ đúng, ứng dụng đạo lý đúng, không cố chấp, không cực đoan, không hại người, không ghét người, mà ta tinh tấn thiền định thì ta từng ngày sống rất xứng đáng, rất an lành. Sống một ngày gieo thêm được một cái nhân để đi trên đường về với cõi Thánh. Còn mà ta sống ác tuệ, nếu là phàm phu thì cứ hại người, lừa người, trách người, ghét người; còn nếu ở trong đạo thì lại dùng đạo lý để mà đo người, phê bình người, chỉ trích người, đó cũng là ác tuệ. Còn cái thiện tuệ vậy, ta dùng đạo lý một cách đầy chất từ bi, đầy chất từ bi. Đó, làm gì làm, nhiều khi thế này, nhiều khi thế kia, rồi cũng để cho con người thương yêu nhau, để con người thương yêu nhau.

[1:12:54]Chứ không phải là đem đạo lý ràng buộc, chê trách để làm cho con người mà bực bội với với nhau, như vậy. Nãy giờ ta nghe kể chuyện toàn cướp không. Vì sao vậy? Vì ngày xưa cái luật pháp, cái an ninh lỏng lẻo, cướp bóc nhiều và mạnh được yếu thua. Chính vì mạnh được yếu thua nên người ta dễ đi làm ăn cướp. Sống trong một ngôi làng, không biết ngày nào cướp tới viếng mình, nên hay nhất là dân làng phải tập võ và rèn giũa vũ khí. Quan binh không thể tới tiếp cứu kịp, cướp vô tự mình phải đánh trả thôi. Và đến khi là mình võ giỏi rồi có thể đánh được cướp, cướp cũng không tới mà nhà mình thì hết tiền, thì lúc đó mình sao?

[1:13:39]Kiếm làng khác ăn cướp luôn. Cái đời xưa là vậy, mạnh được yếu thua, mà triều đình cũng không đủ tiền để trả lương cho bộ đầu, hồi xưa gọi là bộ đầu bây giờ mình gọi là cảnh sát á, không đủ tiền trả lương cho bộ đầu mà phủ hết cả hang cùng ngõ hẻm, làng mạc xa xôi mà bảo vệ cho dân, không đủ sức. Cho nên là cướp thường xuyên xảy ra. Và trong cái lịch sử loài người mà ta nghe những ngàn năm trước á, chuyện cướp giật, trộm cướp, tấn công là đầy trang, đầy trang. Bây giờ thì đỡ hơn, bởi vì sao? Bởi vì hệ thống an ninh, cảnh sát của quốc gia tăng cường nhiều hơn, mà để có tiền để trả lương cho an ninh,

[1:14:19]cảnh sát như vậy thì buộc người dân phải đóng thuế nhiều hơn. Thật sự là chúng ta sống bây giờ ta phải trả tiền cho những dịch vụ đó qua thuế rất là nhiều, ta phải đóng thuế nhiều hơn để cho đường ta đi tốt hơn, nước cấp ta được đều đặn hơn. Tất cả những điều đó đều có trả trong tiền thuế hết. Và trả thuế cũng là một cái công đức. Khi ta đóng thuế đầy đủ, ta cũng góp phần cho nhà nước điều hành quốc gia tốt hơn, đời sống được an ninh nhiều hơn, là như vậy. Cho nên mình làm dân mình có cái cực của dân là phải đóng thuế, mà làm quan thì có cái cực của quan là phải giữ gìn điều hành cái đất nước này cho cho tốt.

[1:14:56]Ai cũng cực, và nói chung Đức Phật nói đúng: Sống trên đời là cực, Tứ diệu đế nói rồi. Và trong cái cực khổ của cuộc đời đó, dân cực theo dân mà quan cực theo quan, thì ai là người sướng nhất? Ai? Cái thời xưa á, dân cực vì cướp nhiều do quan không đủ sức. Đời nay, dân cực vì ta phải đóng thuế nhiều để cho nhà nước có tiền mà điều hành. Thì dân cực theo dân, quan cực theo quan, ai cũng cực hết. Vậy ai là người sướng? Thầy tu sướng hả? Không dám đâu. Thầy còn cực nhiều hơn nữa đó. Thầy rất là cực. Thầy cực lắm, thầy cực đủ mặt hết trơn. Nhìn thấy không biết thôi chứ thầy vất vả lắm. Hôm qua đi lại đây rồi đi bằng xe đạp nữa chứ đừng có nói á, thiệt á.

[1:15:49]Vậy người nào là người sướng nhất trên đời? Đức Phật nói rồi, cái người nào mà tâm được an nhiên, thanh tịnh là người hạnh phúc ở trên đời. Đó là lý do mà tại sao ở chùa Từ Tân ta phải mở khóa thiền hàng tháng để cho mọi người về đây tu tập để tìm được cái tâm an nhiên, thanh tịnh. Thì dù ở đời ta có tất bật, vất vả, nhưng nếu lòng ta an nhiên, thanh tịnh thì ta vẫn là người hạnh phúc. Chỉ sợ là trên đời ta đã vất vả, tất bật, bận rộn mà lòng ta thì phiền động, lăng xăng thì cái khổ chồng thêm cái khổ, và đúng đời là rất khổ. Nên làm gì làm, hãy một ngày phải có thiền định, một ngày phải có thiện tuệ như Đức Phật nói, ha.

[1:16:37]Ai sống một trăm năm ác tuệ không thiền định, tốt hơn sống một ngày thiện tuệ tu thiền định. Cho nên ta phải cố gắng tập tu thiền định, dù là việc mà nhiếp được tâm rất là vất vả nhưng phải hết sức cố gắng, nghe không? Cho nên ta mới có bài thơ: Đêm về nhìn lại trong ngày, đã làm gì để thêm đầy thiện căn? Dòng thời gian vẫn trôi lăn, gắng công thiền định bước dần đi lên. Đạo mầu Phật đã dựng nên, thương người ta sẽ giữ gìn, đắp xây. Tiếc từng phút, quý từng giây, sống đời đạo hạnh cho phước dày, tội vơi. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hồi nãy quý phật tử đến đây sớm, có nghe ở trên Chánh Điện ở trên tụng kinh mà nghe nhạc không? Có nghe không? Ừ.

[1:17:33]Thầy có soạn cái kinh tụng mà theo cái nhạc hiện đại, theo cái khuôn ngũ cung của dân ca. Một số bài như bài Kinh Tụng Tinh Yếu, bài Khấn Nguyện, bài Sám Hối, Lễ Phật Quy Y. Tại vì ngày xưa, cha ông mình các bậc thạc đức phía trước là cũng chuyển cái kinh Phật theo nhạc nhưng mà nhạc xưa. Mà nhạc xưa bây giờ thì nhiều người ít nghe được phải không? Nhất là lớp trẻ bây giờ nghe nhạc xưa cũng khó nghe. Cho nên là thầy đã mạo muội viết thành nhạc hiện đại, nhưng mà cũng viết theo ngũ cung, để truyền tải cái đạo lý của Phật lại. Biết đâu thấy thích thì nhờ vậy mình tụng rồi con cháu mình nó thích,

[1:18:13]nhờ vậy nó thích tụng kinh Phật thì cũng rất là rất là hay. Thì bây giờ là có ai hỏi gì thì thầy trả lời, còn nếu không ai hỏi trả lời thì thầy kể chuyện thầy đi Bắc một chút xíu. Vừa rồi thầy mới đi Bắc một chuyến 16 ngày, mà hết 15 ngày không thấy ánh mặt trời. Đi qua một cái cơn lạnh, quá chừng lạnh luôn thiệt chứ. Đến ngày thứ 16 là thầy giảng ở Nhà văn hóa Cầu Giấy, Hà Nội, lúc đó bắt đầu ánh nắng mới hiện ra thì chiều về là lên máy bay về luôn, ngoài đó lạnh quá. Như ở Đồ Sơn vậy, cái nền nhà vậy là ướt như là mình tưởng là ai dội nước lên vậy, hỏi ra là không, tự động là nó cứ ướt đẫm và người ta cứ phải lấy khăn lau mà lau.

[1:18:53]Ra cái chuyến đi vừa rồi vậy, thầy có đi đến nhà thờ thì nói chuyện. Nghe tin thầy đi về Nam Định giảng ở cái chùa, cái ông cha ở nhà thờ ổng mời đến nói chuyện ở nhà thờ. Thì hôm đó là không có nhằm cái ngày lễ Thánh gì đặc biệt của họ hết, chỉ là vì nghe tin thầy về trong ngày đó nên ổng mời thôi chứ mình không có thời gian để sắp xếp thêm, thời gian đi rất là sát. Thì vô nhà thờ thì đầu tiên là ổng làm cái lễ theo bên nhà thờ, mình cứ ngồi mình nghe, theo dõi. Sau đó thì ổng giới thiệu thầy lên nói chuyện. Thầy mới đối chiếu những cái điều gì mà trong cái giáo lý Thiên Chúa với đạo Phật cũng giống nhau.

[1:19:26]Có cái ông đó ổng đến vô đền Thánh cái ổng cúng mấy đồng tiền vàng, cái ổng đến ổng mới khoe với Chúa Giê-su. Nói: "Thưa ngài, tôi vừa mới cúng ở đền Thánh là ba đồng tiền vàng". Thì Chúa Giê-su mới nói thế này: "Khi tay phải ngươi làm điều thiện, thì đừng cho tay trái ngươi biết". Thầy mới nói thế này, cái đó rất giống với tinh thần Kim Cang của đạo Phật, là làm mà không chấp công. Nó rất là giống, cho nên có những cái đạo lý nó giống nhau giữa hai bên. Và cuối cùng thầy nói: "Nhưng mà đạo gì thì đạo thì ta cũng đều là người Việt Nam cả, và bổn phận của ta là phải yêu cái đất nước Việt Nam này.

[1:20:01]Ta phải yêu được đất nước Việt Nam này trước khi ta nói rằng ta yêu cả cái nhân loại này". Sau bài nói chuyện của thầy rồi thì ông cha ổng mới rút ra cái bản nhạc, ổng mới nói thế này, cái bài nhạc này ổng viết 20 năm mà không dám hát. Hôm nay nghe Thượng tọa nói về lòng yêu nước, nên ổng xin hát cái bài này, bài Máu Thắm Da Vàng. Ổng đã viết mà ổng giấu 20 năm, bài viết về lòng yêu nước rất là cảm động. Về cái Nghệ An thì giảng ở trên đỉnh núi Quyết. Tức là vào ban đêm mà trời sương lạnh, mây nó bay lả đã lả đã trên đỉnh núi. Mà cái đền thờ Quang Trung nhà nước xây rất là lớn, xây như một cái chùa á.

[1:20:34]Nhà nước làm cái băng rôn từ bên cổng bên này qua cổng bên kia rất là to để đón mừng cái đoàn của mình đến, tổ chức cầu siêu rồi thuyết pháp. Đêm nó rất là đẹp. Mình nhìn xuống con sông Lam á mênh mông, trắng sáng giữa cái ánh trời lấp lánh sao vậy, còn sương mờ. Về thành phố thì lên đèn. Trên quanh cái đỉnh núi thì sương bay lãng đãng, ngồi thuyết pháp. Nói là thuyết pháp, thầy chỉ nói cái lời tâm sự là: Quê hương nghĩa nặng tình sâu. Thật ra thầy gốc Nghệ An, nên khi về Nghệ An là như về lại quê hương của mình. Thầy nói là có một con người từ Nghệ An này đi ra mà dựng nên Phật pháp, đó là ba của Bác Hồ, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.

[1:21:14]Khi cụ đi vào Nam, cụ mới nói thế này: "Khi mà Pháp muốn chiếm Việt Nam thì Pháp truyền đạo Thiên Chúa trước. Chính tôn giáo đã đi trước và chiến tranh đi sau. Bây giờ là muốn giành lại độc lập, ta phải phát triển đạo Phật lại". Cho nên cụ mới đi hết chùa này tới chùa kia, bàn với các vị hòa thượng mà chấn hưng Phật pháp. Đi rất là nhiều chùa. Khi đến chùa Tiên Linh ở Bến Tre gặp Hòa thượng Khánh Hòa thì hòa thượng đồng ý. Tức là mới bắt tay nhau để tìm cách mà chấn hưng Phật giáo. Nhưng mà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là ba Bác Hồ thì về Cao Lãnh rồi lại mất sớm. Năm 1929 thì cụ mất. Còn Hòa thượng Khánh Hòa thì tiếp tục cái chí hướng

[1:21:53]đó mà chấn hưng Phật giáo miền Nam lên trước. Đến khi Phật giáo miền Nam được chấn hưng rồi, thì ở Huế miền Trung, các ngài như là các vị hòa thượng rồi cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám mới bắt tay nhau là chấn hưng Phật giáo miền Trung lên. Sau đó ngoài Bắc mới thấy như vậy mới chấn hưng Phật giáo miền Bắc lên, là có Hòa thượng Tố Liên rồi đó vân vân là như vậy. Và đến ngày hôm nay coi như Phật giáo cả nước được chấn hưng bởi một con người từ Nghệ An đi ra. Nhưng ngày hôm nay, trên quê hương của người đó không có chùa. Và thầy xem cái điều đó là điều hổ thẹn, không có chùa nào hết. Và thầy nói đây là điều mà nhân dân Nghệ An và chính

[1:22:28]quyền Nghệ An phải làm lại, chuộc lại cái điều này. Và thầy nói rất là mạnh. Nói mà ai cũng đồng lòng hết. Thầy có ra Móng Cái, đến đó thì bên ông giám đốc công an với cái ông chỉ huy biên phòng đó cũng mời thầy đi thăm, đi qua cái biên giới Việt - Trung á, đi tới cái cột mốc số 0 ở ở Sa Vĩ. Tức là ở ngoài kia là Biển Đông, bên kia là Trung Quốc, bên này là Việt Nam, cái cột mốc số 0 đầu tiên. Gió lạnh lắm. Hôm đó thầy giảng cái bài Cuộc Sống Tùy Duyên. Nhưng mà thầy cũng có nói, ban đầu nói về cái chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia phải được xây dựng trên hai, ba phương diện: luật pháp, lãnh thổ và tâm linh, chứ không phải là một cái.

[1:23:06]Và thầy nói điều này là đã được Lý Thường Kiệt nói trong cái bài thơ: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Nam quốc sơn hà là sông núi nước Nam là thuộc về lãnh thổ. Nam đế cư, vua nước Nam ở là thuộc về luật pháp. "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư", rõ ràng đã xác định ở trên sổ trời, đây là thuộc về tâm linh. Cho nên chủ quyền của quốc gia nó phải được xác định trên ba yếu tố: lãnh thổ, luật pháp và tâm linh. Ta quên cái yếu tố tâm linh là ta quên rất là lớn. Và cái tâm linh nào giữ gìn chủ quyền cho quốc gia ngày hôm nay? Là ai? Đạo Phật. Đạo Phật mà thôi. Lúc đó thầy đi trên đường của thành phố Hạ Long,

[1:23:47]có cái trục đường rất là lớn và rất là dài mà nhà nước treo rất là dài những dải cờ đỏ, cứ ở trên là sao vàng ở dưới là cái hoa sen vàng, trên là búa liềm dưới là hoa sen vàng. Cứ đi cả một cái trục đường như vậy đều là cái biểu tượng của nhà nước và hoa sen của Phật giáo treo khắp cả nẻo đường rất là dài, thì mới nói với đệ tử của mình, thầy nói: "Hãy nhìn quay phim lại, chụp hình những cái dải cờ này. Họ đã tính rất kỹ trong cái biểu tượng mà sao vàng và hoa sen vàng chung với nhau trên cái dải cờ đỏ này. Tức là nhà nước đã hiểu rằng cái tâm linh của quốc gia này là đạo đạo Phật. Đạo Phật". Rồi thì ra thầy mới gặp ông giám đốc công an ở Móng Cái, thầy mới hỏi:

[1:24:27]"Tại sao treo như vậy?" Ổng mới nói là: "Dạ cũng treo thử nghiệm. Treo thử nghiệm thử coi có ý kiến gì không. Nếu được thì vài bữa treo nữa". Thầy nói: "Tốt, cứ làm tới". Bữa Hà Nội thì thầy giảng cái bài Đạo Đức Trong Nghệ Thuật. Lúc đó cho các nhạc sĩ rồi nhiều lắm, những ca sĩ của họ đều có văn bằng cấp đàng hoàng chứ không có đào tạo ngang, họ đều là học hành đàng hoàng mới đi làm, có nhiều người là tiến sĩ. Họ đến họ ngồi nghe. Trong đó thầy kể chuyện, không có thời gian để mà theo dõi cái hoạt động nghệ thuật của đất nước mình, của xã hội. Cái lâu lâu là vô tình thấy ai chiếu, có một lần đi ngang đâu thấy cái màn hình chiếu có

[1:25:04]cái gì nó hoành tráng lắm, thấy cái sân khấu rất là đẹp, đèn treo trang trí đồ lộng lẫy, cái thầy tò mò coi không biết cái sự kiện gì đứng lại nhìn. Thì một lát thấy một cái cô ca sĩ cổ bước ra, không biết cổ hát cái gì cổ giật giật nhảy nhảy á, rồi có một số người ra sau lưng cổ cũng nhảy nhảy gì kỳ lạ lắm, không biết là cái gì. Thì thầy mới đứng lại coi cái này là cái gì. Tổ chức quá công phu, quá hoành tráng, quá tốn kém như vậy, họ muốn nói cái thông điệp gì với xã hội chăng? Cái thầy mới tò mò đứng lại, thì bắt đầu nghe cổ rên: "Anh bỏ em, em bỏ anh" gì á. Toàn chuyện tào lao. Và thầy nói rằng cái nhân quả nó xử liền.

[1:25:37]Cái công ty nào mà đứng ra tổ chức biểu diễn như thế này, rất tốn kém của cuộc đời, sức lực của con người, của nhân loại, mà chỉ không có cái thông điệp gì tốt lành để nói với cuộc đời, chỉ nói ba cái chuyện yêu đương nhảm nhí thì cái công ty này sẽ hết phước, sẽ sụp đổ, sẽ phá sản, không tổ chức được gì nữa. Đó là nhân quả. Cho nên nó có cái nhân quả trong hoạt động nghệ thuật. Khi ta làm người nghệ sĩ, ta đem cái hay cái đẹp đến cho đời, ta phải tải được điều thiện ở trong cái hay cái đẹp đó, để ta gây được cái cảm xúc tốt lành trong con người. Nghệ thuật bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ cảm xúc và sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Và kết thúc tại đâu?

[1:26:15]Kết thúc tại nơi cái thưởng ngoạn và cảm xúc của người nghe. Nhưng cái quan trọng là ta phải tạo cho cái cảm xúc tốt lành trong người nghe thì cái người nghệ sĩ mới có phước. Còn nếu ta gây nên một cảm xúc xấu, nhảm nhí thì người nghệ sĩ từ từ sẽ hết phước. Mà trong cái bài giảng ở Nhà văn hóa Cầu Giấy, thì thầy cũng không biết, cũng không ngờ, không ngờ là khi bắt đầu vào buổi giảng tự nhiên có lẵng hoa của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đem đến hai lẵng hoa nói là: "Chúc mừng buổi giảng". Thầy cũng rất là ngạc nhiên, không biết sao. Không biết sao mà các vị lại quan tâm.

[1:26:50]Thôi cái đệ tử thầy rút hai cái dải mà có đề cái chữ "Kính tặng" đem về làm kỷ niệm, còn bông ai cứ lấy thì lấy. Thôi để trả lời mấy câu hỏi một chút. "Mua bảo hiểm nhân thọ có phải là hình thức đánh bạc không? Và theo luật nhân quả thì khuyến khích hình thức này không thưa thầy?" Không, cái bảo hiểm á nó là một chính sách của xã hội mà quốc gia nào người ta cũng lần lần người ta chủ trương như thế này. Bởi vì cuộc sống con người có những cái lúc rủi ro. Rủi ro nhưng mà khi có tiền thì người ta xài hết, đến khi mà lúc gặp rủi ro thì người ta không có tiền để xử lý. Cho nên người ta muốn là mọi người để dành tiền để mà phòng hờ những lúc rủi ro.

[1:27:29]Nhưng mà để dành tiền bằng cách nào? Thì có những cái công ty họ mới lấy tiền của mình để dành, họ đầu tư. Thì đó, chỉ sợ công ty đó phá sản thì tiền để dành mình bay theo sương theo khói. Còn nếu công ty họ làm ăn nên làm ra thì cái số tiền mình để dành là có một cái công ty nó giữ giùm, thì đến khi mà mình có chuyện rủi ro thì họ sẽ lấy tiền họ lo cho mình. Nhưng mà chỉ sợ là lúc họ đem luật sư họ chứng minh là mình lường gạt thì họ sẽ giựt tiền luôn của mình thì ráng mà chịu. Nên bảo hiểm cũng không biết là công ty nó lương thiện hay không. "Mỗi tối con trì chú Đại Bi Tâm Đà La Ni có bị loạn

[1:28:00]tâm không?" Quan trọng có hiểu nghĩa hay không á. Nếu hiểu những đạo lý tốt lành thì không bị loạn, còn không hiểu gì hết mà chỉ tin và mê tín thì coi chừng bị loạn. "Bố con hả mang chứng bệnh nan y, gia đình chúng con đi chữa bệnh viện và cúng dường, làm từ thiện khắp nơi và phóng sinh như vậy có tốt không?" Thì đúng rồi, cứ vậy. Thật ra những cái bệnh nan y á, nhiều khi mà ta không có tiền ta chỉ thành tâm cầu nguyện không cũng hết. Còn nếu ta có tiền, ta làm thêm những cái phước nữa thì lại mau hết hơn. Nhưng mà cái quan trọng là những bệnh nan y nó đều có cái nguyên nhân tâm linh, nên ta thiết tha sám hối trong gia

[1:28:37]đình mình và cho cái người bệnh thì bệnh nó sẽ bớt. Cái vai trò của sám hối quan trọng lắm. Thầy mới sực nhớ là suốt đời thầy giảng nhiều mà chưa bao giờ thầy giảng một đề tài về sám hối nha. Không ai nhắc, để lúc nào chắc thầy phải giảng đề tài này, ý nghĩa sám hối hay lắm.

[1:28:56]Vào buổi tối con tụng bảy biến chú Đại Bi xong rồi con niệm Phật bảy chuỗi. Khi niệm Phật con cứ bị chảy nước mắt và ngáp mặc dù con không buồn ngủ. Như vậy con có làm sai không? Không, cái này là có cái vong nào đến gần á, có cái vong nào đến gần. Phải lễ Phật, ngồi thiền nha, phải lễ Phật, ngồi thiền thêm. Tại cái công đức lễ Phật lớn quá. Lạy Phật đầu sát đất với lòng thành kính thiết tha đó, cái công đức ta mới có cái nền. Chứ còn những việc khác thực sự cũng chỉ là cái ngọn. Bao nhiêu công đức tu hành đều bắt đầu từ ở dưới chân Phật á, của ta phải lạy đầu sát đất vậy mới có công đức nha.

[1:29:31]Gia đình con gồm có bảy anh em, cha mẹ con chỉ thương có bốn người, trong bốn người này được ăn học đến nơi đến chốn, còn lại ba anh em con thì bị hắt hủi, không có tình thương, không có trách nhiệm, coi như là con ghẻ. Nhưng chúng con vẫn rất có hiếu, nhưng trong lòng chúng con không cảm thấy có tình mẫu tử thiêng liêng. Vậy chúng con có tội hay không thầy? Không, nó là cái điều tự nhiên, thầy cũng không ép được. Tại cha mẹ đối xử như vậy đó, thực ra cũng không phải là cái duyên cha mẹ mà do một cái vô tình nào đó ta đầu thai vào gia đình này để ta trả nợ, nên ta không nhận được sự thương yêu.

[1:30:00]Còn những người kia họ có cái ân nghĩa gì với cha mẹ nên được cha mẹ thương yêu, còn ta giống như ta mắc nợ thôi, chứ ta không có được cái ân nghĩa. Cho nên thì thôi ta cứ không thương cha mẹ mình được như cái tình mẫu tử của thế gian thì cũng phải dùng cái lòng từ bi của Phật mà thương nha, như vậy để cho lòng mình nó đỡ khô khan. Chứ sống mà không thương yêu, lòng mình khô khan lắm.

[1:30:23]Con trai con rất nóng tính, nó thường xuyên mệt và hay đổ mồ hôi ướt đẫm cả người nên trong giao tiếp không được tự tin và bình tĩnh. Bác sĩ bảo không có thuốc trị bệnh đổ mồ hôi. Bên Tây y có nhiều cái bệnh đơn giản mà họ không có chữa được đâu. Thực ra á, cái nóng tính và bệnh đổ mồ hôi nhiều khi nó là một cái bệnh chung, từ cái bệnh sinh lý nó sinh ra tâm lý, cũng là cái nghiệp thôi. Là do cái chân âm nó bị bốc lên. Nên cái người này là phải biết tập Khí Công Nguyên Pháp và thụt dầu để liễm cái lực nó xuống dưới lại, nó giấu ở dưới đan điền lại thì nó sẽ bớt nóng tính và bớt đổ mồ hôi. Cái này là do lực nó bị chảy ngược lên trên.

[1:30:59]Thưa thầy, vợ của con cái tôi lớn quá, thầy giúp giùm con làm sao để cái tôi của vợ con giảm xuống? Khuyến khích vợ đi tu đi nha, đi tu thời gian bớt à, không có sao.

[1:31:13]Cái người mà cái tôi lớn quá đó, khó ai nói họ nghe lắm. Chỉ đến khi nào mà họ bị quả báo thê thảm á thì bắt đầu cái tôi họ mới hạ xuống, mà tới lúc đó thì nó quá khổ sở đi. Thôi thì ta cứ cầu nguyện trước, cầu nguyện đến lúc nào đó cái Phật tác động vào tâm cái người này từ từ thay đổi, chịu nghe giáo lý, suy gẫm lại cái tôi của mình, thấy được cái tôi của mình là nguy hiểm mà tự người đó buông bỏ. Nhưng đầu tiên họ phải tin Phật, kính Phật cái đã. Thưa thầy, vợ chồng con có bù phước được cho nhau hay không? Nếu được thì bao nhiêu phần trăm? Không, mình có liên quan với nhau đều nhân quả bù qua được hết á, hồi hướng á.

[1:31:49]Thế khi mình làm thì cái người mình hồi hướng được một phần, còn mình thì giữ lại được sáu phần. Nhưng mà tùy, nếu cái nợ mình nhiều thì mình mới bù qua được nhiều hơn. Trong nhân quả vẫn hồi hướng chia qua chia lại được, tại vì chúng sinh đều có ân nghĩa với nhau. Cho nên bù qua bù lại được. Con lấy chồng không phải là mình chọn mà là gia đình xếp đặt. Khi lấy chồng về rất nhiều chuyện xảy ra, chồng con nói, "Mày lấy tao vì đất một cục liệng, chi mày không có, mày không xứng đáng ở cái nhà này, mày đi ngay." Hiện con có một cháu tám tuổi. Con hỏi, "Vậy tôi không xứng đáng, còn con thì sao?" Chồng nói, "Cái con chỉ là bộc phát của

[1:32:21]dục vọng chứ chả là gì hết." Một người nào tàn nhẫn lạnh lùng dữ vậy trời. Đây cũng là cái nghiệp của mình. Khi mình không có chọn được người mình thương yêu, lấy nhầm cái người mà họ không có tình nghĩa, họ khô khan, họ vô cảm, họ vô tri thì cũng là cái nghiệp của mình. Vì đời xưa mình cũng ít có thương ai. Cho nên mình phải sống có tình nghĩa, có trách nhiệm, có thương yêu, có chăm lo thì mới chuyển được cái nghiệp này. Coi như đây là kiếp này mình mình trả nợ và mình lo đạo lý, lo thương yêu mọi người nha. Và cứ chấp nhận để mà trả nghiệp. Có một người theo đạo nhưng vì thấy nghịch cảnh và những điều không

[1:32:57]tốt trên đạo nên đạo tâm và nhiệt tình với đạo bị lui sụt. Vậy làm sao giúp cho người đó có lại đạo tâm, nhiệt tình với đạo như xưa? Chuyện này nhiều lắm á, chuyện này khắp nơi đều xảy ra, ở đạo nào cũng bị như vậy. Người ta đến với đạo, người ta hy vọng rất là nhiều nhưng mà thấy những người trong đạo nhiều khi có cái gì đó không tốt cái họ mất niềm tin với cả đạo. Nên ta phải cố gắng giải thích, kiên nhẫn. Nói rằng là giống như là khi anh đi học, thầy cho anh bài toán có bao giờ là tất cả mọi người trong lớp đều giải được mười điểm hết không? Thấy không? Một vài người được mười điểm thôi, còn bao nhiêu là tám, bảy, năm, sáu, có thậm chí có người zero luôn.

[1:33:31]Thì cũng vậy, đạo lý của Phật là như vậy, đâu phải là ai tu theo Phật là đều được mười điểm hết. Thì cũng có những người chín, người tám, người bảy, người sáu, người năm. Nhưng mà người ta đều ráng theo Phật là đã mừng rồi. Họ làm được một điểm là mình cũng đã có làm rồi, còn hơn là họ không làm gì. Cho nên dù họ có thể là không hoàn toàn, còn có những sai sót, nhưng mà nếu cái người đó họ còn yêu quý Phật pháp thì ta thôi cũng châm chước. Rồi từ từ ta góp ý. Nhưng mà quan trọng chính mình có tu được mười điểm hay không, mà mình cứ thấy ai chín điểm mình chê, thấy tám điểm mình chê, mà anh có làm được mười điểm chưa? Thấy không?

[1:34:01]Cố gắng giải thích cho người ta nha. Chứ chuyện này thì cũng nhiều lắm. Thứ Năm truyền hình có chiếu cảnh những người tu giả thường có cái lịch thông tin chùa nào cúng dường trai tăng thì tìm đến để ăn. Con thấy làm lạ, có những Phật tử hiểu biết, có những quý thầy có oai đức vẫn im lặng, không phản ứng để cho họ được tiếp đãi bằng cách cho họ ăn. Ăn xong họ lân la, họ thế này thế kia. Tại sao các thầy phải nhẫn nhịn như vậy ạ? Thực ra quý thầy không có nhẫn nhịn, nhưng quý thầy từ bi thôi. Thế trong bữa ăn mà lỡ đuổi người ta đi cũng kỳ. Trong số những người mà hay là vị tăng mà như vậy đó, không biết có ông nào là do cũng tu đàng hoàng mà

[1:34:41]kẹt quá nên cũng phải kiếm mấy bữa trai tăng ăn đỡ hoặc là ông nào giả thì cũng không phân biệt được hết. Thì thôi, bữa ăn không đáng gì, thôi cứ cho ổng ăn cho rồi. Quý thầy từ bi thôi chứ không phải là quý thầy nhẫn nhịn gì đâu. Nhưng đến lúc nào đó khi mà nó thành chuyện lớn quá rồi thì buộc giáo hội phải xử lý. Nếu mà chuyện nó thành lớn là người ta cứ xúm nhau mà mặc đồ tu mà đi kiếm mấy chỗ trai tăng mà đến ăn á, nó thành chuyện quá nặng là phải làm. Khi con ngồi thiền được 45 phút thì chịu không nổi nên xả, xả xong thì tiếc muốn ngồi lại được không? Được nha, tốt thôi, không sao đâu. Càng ngồi nhiều càng tốt, đâu có sao.

[1:35:15]Con tập Khí Công Nguyên Pháp mà 100 lần mà sao năm ngón tay vẫn còn tê? Năm ngón tay vẫn còn tê thì phải đi khám bệnh lại, tại vì nó có nhiều nguyên nhân đó. Thứ nhất nó về thần kinh, nếu nó về thần kinh thì phải chữa trị thần kinh. Mỗi khi nó vì bị tim thiếu máu đưa ra tới ngón tay thì phải chữa về tim và huyết. Nên tùy trường hợp, đi khám lại cho kỹ giùm thầy. Con bị nghi là lấy tiền của người khác nhưng sau đó mọi chuyện đã sáng tỏ ra là con không có lấy tiền của họ. Vậy con và người bị mất tiền này có nhân quả gì với nhau không ạ? Thực ra là do mình bị đa nghi thôi, trước đây mình cũng nghi oan cho ai á.

[1:35:48]Vậy thôi, chuyện này đơn giản thôi nha, không có gì lớn chuyện. Đeo mặt dây chuyền hình Phật và các vật dụng khác hình Phật có nên hay không ạ? Hoàn toàn không nên. Thật ra không nên đeo hình Phật. Hình Phật phải để nơi tôn kính để thờ. Còn nếu mà ta muốn chứng tỏ mình là người Phật tử thì ta nên đeo một cái biểu tượng gì của đạo Phật thôi. Cho nên vì vậy thầy có làm cái biểu tượng của đạo Phật là đâu rồi không biết, ở đây có ai có không để thầy đưa ra? À, lên đây đứng đi, lên đây đứng đi. Trước cái tình hình đó, lên đứng đây, đứng đây thầy nói. Kệ, lâu lâu làm người mẫu đi mà. Thầy có làm cái biểu tượng của Phật giáo,

[1:36:29]trong đó có năm cái hình ngũ sắc là tượng trưng cho màu cờ, ở giữa có cái hoa sen và đó là cách điệu của hình của người ngồi thiền. Cho nên khi ta đeo như vậy thì ta nhớ mình là Phật tử làm theo lời Phật dạy, đó cũng là cách tôn vinh của Đức Phật. Quay cái mặt lại, quay cái mặt lại nè, quay lại. Đó, và cũng làm đồ trang sức được luôn. Cho nên người nào điệu thì ta đeo cái này, còn người nào không điệu thì có một cái loại đơn giản rẻ tiền hơn. Ai cũng được hết. Rồi, thầy cảm ơn nha. Chứ đừng nên đeo hình Phật, đeo hình Phật ta phải đi tùm lum chỗ, có nhiều nơi không có sạch, rồi lại mang tội chết nha.

[1:37:05]Thời gian gần đây nở rộ ra một tin đồn là có một ông cha chuyên chữa bệnh vô sinh rất có hiệu quả với điều kiện tin tuyệt đối. Tin tuyệt đối, cứ lại bắt phải tin á, bắt phải tin. Mà đạo Phật mình có cái khoan tin, đạo Phật mình là khoan tin. Và trong thời gian mang thai, thai phụ không được siêu âm. Cái này nó cũng ngược với khoa học, những điều này nó không có hợp với khoa học. Trong đạo Phật á thì cái người mà có con hay không có con nó có cái nhân quả. Mà cái nhân quả của cái việc không con nó rất là nhiều. Ví dụ người ta không yêu quý con nít, hoặc trước kia có lần ta sát sinh những cái đứa bé, hoặc là sát sinh những

[1:37:41]con vật còn non, vân vân, hay tách bầy đàn ra. Nó có nhiều nhân quả mà đời này ta không bị có con. Cho nên nếu đời này ta chuộc lại bằng cách là ta yêu quý trẻ em, thường hay đến chỗ viện mồ côi để tặng quà từ thiện thì một thời gian ta sẽ có con lại, không sao. Lấy nhân quả nó chắc ăn hơn, hơn là nhờ một cái phép màu rồi vô tình dắt ta đi vào con đường sai. Những cái điều đó cũng không phải là hay lắm. Nãy thầy đã nói đừng bao giờ ta bị lạc lòng, bị cuốn hút bởi cái thần thông. Đừng bao giờ vậy. Thôi ta nghỉ nha. Chúc mọi người an lành, tháng sau gặp lại.

[1:38:19]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả

[1:38:34]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.