[0:39]Hôm nay chúng ta học cái bài yếu tố tâm linh. Vì để giảng được một bài giảng á ta có nhiều yếu tố, những yếu tố ta đã từng mổ xẻ trong những bài trước. Yếu tố thứ nhất là gì? Đạo lý. Đạo lý là chính. Không có đạo lý lấy gì giảng, phải không? Rồi yếu tố thứ hai một yếu tố để tạo thành cái tâm lực chung, nhưng mà đâu trong việc diễn giảng á, ngôn ngữ, Ừ phong cách, phương pháp trình bày, cách sắp xếp dàn ý, cách chọn đề tài, những phương pháp tạo thành bài giảng hay, vân vân mình đã học hôm giờ. Mình học rất nhiều cái yếu tố, từ tìm đề tài cho tới dựng được nguyên cái dàn bài, cái phân tích ý tưởng rồi phân tích câu, vân vân.
[1:28]Mình đã học rất nhiều nhưng hôm nay chúng ta học cái yếu tố vô hình. Yếu tố không phân tích được, yếu tố không thấy được, không nắm được, không rờ được, nhưng lại rất quan trọng là yếu tố tâm linh. Học cái bài này á chúng ta chỉ nói để gợi ý chứ không có thấy rõ được như là những cái bài trước. Bài trước ta thấy là ý đó hay ý kia dở, cái câu này nọ chuẩn câu kia chưa chuẩn, cái đề tài này vậy là tốt đề tài kia chưa tốt chúng ta có phân tích được. Nhưng học tới bài này chúng ta chỉ dùng tâm để nhận ra chứ không còn có cái gì để cụ thể nữa. Cho nên chúng ta sẽ nghe cái bài này nghe một lát rồi hết
[2:06]bài rồi không biết nói gì, không thấy nói gì hết. Thì bài này cái yếu tố này là yếu tố vô hình. Nhưng mà nếu ta có con mắt tuệ, ta có cái tâm tinh tế thì ta nhận ra được cái yếu tố này. Và ta mới thấy rằng cái yếu tố tâm linh này, cái sức mạnh của tâm này tuy vô hình nhưng mà chiếm một vai trò rất là quan trọng trong việc diễn giảng. Vì nếu một giảng sư mà thiếu cái yếu tố này, hay nói thẳng là tâm lực quá yếu thì không thể tạo nên cái sự cuốn hút đối với thính chúng được, đối với hội chúng được. Bài giảng sẽ tẻ nhạt á. Nên tuy là vô hình nhưng mà quan trọng gần như phân nửa của bài giảng rồi.
[2:53]Tôi nhớ mẹ, tôi nhớ hồi à Hồi lúc nhỏ đi học, kịp thời điểm thấp quá, mà nếu cái rõ nhất là từ cái ông thầy dạy môn Văn năm lớp 7 á, bắt đầu có học vô ổng ngồi ổng kể chuyện trời trăng mây nước để ổng làm quen với học trò. Nói chuyện thơ ca, nói chuyện thời tiết, mùa thu rồi ao có nước rồi đủ thứ chuyện. Thì những tưởng rằng sau cái bài nói chuyện đầu tiên đó thì thầy trò quý mến nhau rồi những bài sau học sẽ dễ dàng. Nhưng không, ngược lại. Đó là tới giờ ổng vô ổng nói gì nói, dưới này cứ nói chuyện chả thèm để ý. Riết rồi ổng bực quá ổng quát ổng tháo. Mỗi lần ổng vô là ổng có như là hình sự á, mà buổi học không vui nữa.
[3:32]Mặc dù ổng dạy thấy cũng hay, thì tôi tôi có cái tôi chăm chú học lắm, ai nói chuyện nói, chứ lúc nào cũng theo dõi ổng thầy không sót một cái hơi thở của ổng. Ổng nhúc nhích ổng ho hen gì là là nắm hết, mà học đàng hoàng lắm, học nghiêm túc. Thì cứ thấy ổng cứ bực bội vì mấy đứa nó rào rào, nó xào xào xào xào nói chuyện, mà ổng cứ gắt, cáu gắt gì cáu gắt hà, cũng không sợ. Từ nhỏ tôi đã thắc mắc chuyện đó rồi. Nói sao kì ta, ông thầy ổng bực bội đáng lẽ tụi nó phải tôn trọng mà học, mà sao tụi nó cũng chẳng để ý, không sợ ổng gì hết? Không biết tại sao. Cứ Cứ thắc mắc rồi để trong lòng. Tới năm lớp 9, năm lớp 9 thì tôi lại nhớ.
[4:08]Tôi nhớ học cái môn
[4:12]Môn lượng giác, đại số vậy á năm lớp 9. Có một ông thầy ổng cũng lớn tuổi già, lúc nào ổng cũng cầm cái ống, ống tẩu á, cái tẩu thuốc á hút phì phà, đeo kiếng đen. Đi dạy học mà ông thầy mới quái chiêu á, ổng đeo kiếng nhìn không thấy đôi mắt ổng liếc ai hết, nhưng ổng có tẩu thuốc hút phì phà phì phà. Vô ổng gầm gầm gầm không nói mà đứa nào nấy rét run hết trơn, lạ lùng lắm. Lúc đó tôi mới để ý, tôi nhớ lại cái ông thầy lớp 7, sao ổng làm hung làm dữ mà chả đứa nào sợ, còn ông này ổng ít nói mà sao đứa nào cũng sợ? Không hiểu được. Ổng mà cho làm bài kiểm tra là ổng leo lên bàn ổng ngồi. À ổng không ngồi ghế, ổng ngồi trên bàn ngồi ổng hút thuốc.
[4:49]Mà không sót một đứa nào ra khỏi cái tầm mắt của ổng. Cái thằng bạn ngồi kế bên vừa mới quay cái đầu qua nhìn bài tôi cái là ổng kêu tên liền, quay trở lại liền. Thấy ổng kiểm tra vậy. Ờ. Lúc đó mới nghĩ rằng còn một cái gì đó. Lúc hồi nhỏ mình không biết, còn cái gì đó. Cái lên năm lớp 10, học với ông thầy người Huế, ổng dạy cái môn Vạn vật. Bây giờ là kêu là Sinh vật á, hồi đó có môn Vạn vật, là dạy cả khoáng sản, đất đá mấy năm liền. Ông này có cái lạ là ổng bước vô lớp ổng nói vài câu là cả lớp bị thôi miên liền. Cả lớp như bị thôi miên liền, không rời khỏi cái miệng ổng được. Ổng nói rất hấp dẫn.
[5:23]Rồi sau rồi làm tôi cũng suy nghĩ, rồi cuối cùng hỏi ổng giảng hay chỗ nào ta? Bây giờ ba cái đất đá không có gì đâu hay. Chả có gì hay hết á. Cái năm lớp 10 thì môn đất đá, lòng địa cầu với vỏ địa cầu thì toàn đất đá thô eo à, mà ổng bước vô cái là cả lớp như bị thôi miên. Cứ ngạc nhiên hoài chuyện đó. À lúc đó là bắt đầu tôi có có cảm nhận cái đó rồi nhưng rồi chuyện nó cứ chìm vào quên lãng dần rồi mình không nhớ. Rồi sau này mình đi tu, đi tu rồi à ờ thì lúc đó là tôi là đệ tử của Hòa thượng Trúc Lâm á, Hòa thượng Thanh Từ. Thì Hòa thượng giảng thì nổi tiếng, ơ Hòa thượng giảng có cái thần
[6:01]thái thì mình ngồi mình học mình thích, cứ xem đó là bình thường, thấy ai giảng rồi cũng hay như vậy, thôi cũng chẳng có gì để ý. Mà tới khi mình đi giảng thì cũng được thính chúng chú ý thì mình nghĩ ai cũng giảng bình thường chả có gì. Có một lần hôm đó có một nhà Phật tử họ hình như là họ họ ăn chay tang, cái nhà họ cất to lắm, họ mời 100 tăng ni. 100 tăng ni mà dọn mà có bàn ăn quý thầy phải tưởng tượng đông lắm, ngồi cả cái nhà, cái phần nhà khách họ thiệt là rộng, ngồi chật cứng á. Trên hàng này là một hàng ghế của quý Thượng tọa, Hòa thượng chứng minh. Họ cũng họ cũng mời tôi đi cho bằng được,
[6:36]thì tôi tôi làm biếng ba cái vụ ăn trai tăng, nói sự thật mỗi lần ăn trai tăng ăn cơm không được, ngồi khó chịu á, mình ngồi mà có người đi qua lại hầu, người gắp miếng miếng ăn không được, cho nên ghét ăn trai tăng lắm. À nhưng mà lần họ mời quá phải đi, vô gặp toàn mấy vị lớn không cái thành thử mình cái bàn chứng minh mình ngồi nép ra bên ngoài, ngồi sát này. Thì tới khi mà họ vô thì họ sắp xếp họ nói: "Mời thầy ban đạo từ." Đâu có dám. Mấy vị ở trong toàn mấy ông Thượng tọa, Hòa thượng lớn thử đâu có dám mà qua mặt người đó. Thử a tới lúc mà Phật tử tác bạch xong ban đạo từ cái, đẩy qua mời ông Thượng tọa bên:
[7:09]"Thôi thầy thầy nói giùm con, thầy nói giùm con." Ban đạo từ, thì mấy vị lớn mấy vị nào cũng quen ban đạo từ hết á. Thì một Thượng tọa mới cầm micro ổng ổng nói, thì tôi ngồi một bên tôi mới mới ngạc nhiên, mới phát hiện ra một điều là những lời nói của vị đó nằm nơi cái miệng vậy đó, nghe thì không sai một chữ nào về đạo lý hết, không sai một câu nào, nói vẫn lưu loát, nhưng mà những cái lời vị đó nói cứ nằm ngay miệng à, nó không đi xuống tới tâm của thính chúng. Tôi cứ ngạc nhiên hoài, tôi nói ủa sao kì ta? Sao mà cái đó nó rất vô hình, quý thầy có thấy không? Cái đó có nhận ra được không? Không không không nhận ra được,
[7:45]cái đó là cái gì vô hình, nó không có để mình nắm bắt được. Mà lúc chỉ bằng cái tâm mình cảm nhận những lời vị đó nói sao cứ nằm ngay miệng à, mà mình nghe thì không sai một chữ nào hết, đạo lý không có gì trật á. Mà không đi tới cái tâm người ta, càng không đi tới những cái người Phật tử họ đang ngồi tuốt dưới kia họ đảnh lễ trán họ quỳ họ tác bạch, họ ngồi, họ quỳ nơi họ để cái bàn thờ ở phía dưới xa kia họ ngồi dưới, tại đông lắm. Rồi một lát tác bạch ban đạo từ xong rồi tôi trốn liền về, chứ không có ăn. Lên tàu từ chối liền nói: "Thầy bệnh." Ta nói mình chảnh, chịu chứ ngồi không được. Ngồi ăn mà người ta đi qua lại dòm, thấy lại lục, không ăn được.
[8:18]Nên trốn trốn đầu ăn vậy. Thì lần đó mới ngạc nhiên hoài, bắt đầu mới thấy có một cái gì trong diễn giảng một yếu tố khác. Rồi cũng một lần vô tình đi nghe một bài giảng, tôi ngồi xa xa ngồi nghe, nghe thì phát hiện một cái nữa là cái vị đó giảng cái tâm hay cái đạo lý nó không có tới thính chúng, nó có đâu ngồi ngay cái bàn, vị đó nói ngay cái bàn giảng đó thôi, nó không đi vô tới cái thính chúng được. Nằm tôi cứ ngạc nhiên hoài, sao nói sao lạ lùng vậy ta? Rồi chính vì những cái lần như vậy, lần lần tôi mới để ý là trong cái diễn giảng còn một yếu tố khác là yếu tố vô hình, yếu tố của tâm. Nên khi nào mà người giảng cái tâm của họ dính được với cái
[9:00]tâm của thính chúng thì đạo lý họ giống như có sợi dây nó nối á, bao nhiêu đạo lý rớt xuống vào tâm người nghe hết. Còn nếu mà cái người giảng tâm không dính được với tâm thính chúng á thì nói gì nói ở trên miệng của họ. Không dính, và người nghe tự nhiên không có có cảm giác là phải ghi khắc, không có bị ấn tượng, không có cảm xúc và không nhận được đạo lý gì. Khi đứng lên đi ra về, hỏi nãy ông thầy giảng gì, dạ không biết. Có một lần có một cái anh này ổng là sĩ quan bộ đội á, thì anh cũng bắt đầu nghiên cứu Đạo Phật. Làm người đảng viên nên họ cái tánh của họ cũng khách quan lắm, họ cũng không có không có cái có cái niềm tin kính như mình sẵn.
[9:41]Mặc dù truyền thống gia đình thì cũng theo Đạo Phật. Nhưng vì là đảng viên, cán bộ mà quân đội nữa nên họ họ khách quan, họ cũng quý trọng Đạo Phật một cách bình thường, nhưng không có nghĩa là họ họ dễ dàng kính tin. Thì họ nói, lần họ gặp tôi họ nói là con có đi nghe một vị nổi tiếng ở nước ngoài về giảng suốt ba tiếng đồng hồ. Thì vị đó cứ phải xem tài liệu và nói suốt ba tiếng đồng hồ, khi con ra về con không biết vị đó nói cái gì, không biết vị đó nói cái gì. Thì tại vì tôi cũng không được trực tiếp tôi nghe, nhưng mà tôi chỉ nghĩ là nó có hai cái lý do mà cái anh anh bộ đội đó, anh sĩ quan bộ đội đó anh nói là anh không hiểu cái gì.
[10:25]Là thứ nhất á, có thể là một là vị đó nói đề tài nó không rõ ràng, không tập trung, không thành một cái chủ đề xuyên suốt. Tức là chủ đề một đường nhưng mà khi giảng nó quẹo quẹo lung tung đi khắp nơi trời trăng thiên hạ rồi tới chừng hết giờ cái đứng lên hết, thì người ta sẽ không biết mình muốn nói cái gì, không có không có dàn bài rõ ràng. Đó lý do thứ nhất để gọi là không biết cái vị thầy đó nói cái gì. Lý do thứ hai là có thể là vị đó nói mà tâm á không có tới tâm thính chúng. Tại cái anh sĩ quan nói ổng cứ cúi đầu ổng dòm xuống bàn không à, không biết dòm tài liệu hay dòm cái gì. Thì có thể là vị đó tâm không tới tâm thính chúng,
[11:02]đạo lý thì rõ ràng nhưng mà tâm không đến tâm, thế là đạo lý không vào được cái lòng của người nghe, cái họ không biết mình nói cái gì. Rồi qua những trường hợp đó, thì tôi mới đúc kết rằng rõ ràng nó có cái yếu tố là tâm linh trong cái việc mà hoằng pháp diễn giảng. Nếu chúng ta không để ý cái điều này, thì mặc dù ta hết sức là cố gắng, ta soạn bài, ta sưu tầm giáo lý, ta thêm vào đó những yếu tố làm cho hấp dẫn như là chuyện kể, như ví dụ, thơ, ca, văn, nhạc gì đó, nghe cho hấp dẫn nhưng rồi cuối cùng tâm không đến tâm, chỉ vì tâm không connect, không kết nối được với tâm, mà đạo lý nó không đến được với lòng
[11:43]người, nó bay đâu vào trong hư không luôn, mất tiêu luôn, làm rất là phí phạm. Nên vì vậy, dù cái bài này dù cái yếu tố tâm linh là một yếu tố vô hình, nên bài này chúng ta sẽ nghe nó cũng rất trừu tượng, nhưng không ngờ nó lại là yếu tố quan trọng, nên quý thầy cố gắng để ý, cố gắng lưu tâm cái bài này, cái bài vô hình này, để sau này khi mà ta bắt đầu cái sự nghiệp diễn giảng của mình. Nên ở đây á là chính vì chúng ta nhận cái trách nhiệm là diễn giảng hoằng pháp đem đạo lý đến cho chúng sinh, thì ta phải bảo đảm rằng là cái bài giảng của ta đem đến lợi ích thực sự, người nghe nắm được, hiểu được để mà sống, mà tu.
[12:29]Và vì vậy ta không bỏ sót một yếu tố nào để tạo thành cái sự thành công cho bài giảng. Thì hôm nay khi ta nói về cái bài yếu tố tâm linh này, một yếu tố tưởng chừng như là vô hình, không quan trọng, nhưng nó thật sự là một yếu tố quan trọng và ta phải để ý, ta phải chú tâm. Cái bài làm sẽ sẽ buộc ta phải để ý đến vấn đề này. Bây giờ thì ta phân tích thôi. Có bao giờ quý thầy gặp một người cán bộ lãnh đạo cấp cao chưa?
[13:01]Hả? Không biết có ai tới thăm chùa mình chưa? Thường thường á những cái người mà lãnh đạo cấp cao họ có cái phước gì á, họ có cái thần uy, có cái thần uy. Cứ lên cấp càng cao họ càng có cái thần uy. Mà khi mà có cái thần uy mà có tài, có đức thật sự như vậy thì ta biết rằng họ lên bằng cái tài, cái đức của họ, dĩ nhiên phải có cái phần phước, nhưng mà họ có tài, có đức. Họ leo lên bằng cái tài, cái đức họ, mọi người nể rồi họ lên lần lần. Còn nếu ta gặp một người họ cái chức họ cao nhưng ta thấy họ không có cái thần uy, họ bình thường như mọi người, thì ta cũng đoán là họ lên chức bằng cái gì, bằng một cái mối quan hệ gì đó,
[13:44]bằng cái phương pháp gì đó mà nó không có lợi cho dân, cho nước lắm. Nó nhờ quen biết hay nhờ tiền bạc hay gì á, nói chung là có thể là đó là dấu hiệu của sự tham nhũng. Hiện nay là nói chung Đảng, Nhà nước Việt Nam thì đang đau đầu về cái việc mà mà tham nhũng. Đó là cuộc chiến muôn đời từ ngàn xưa cho tới ngàn sau, khi người ta có chức có quyền, người ta dễ vì đồng tiền mà làm sai luật pháp. Đó là cuộc đấu tranh rất là là dai dẳng. Thì những cái người mà cán bộ cao có năng lực để có thể mà quản lý được cái vấn đề từ trung ương trở lên, ta thấy họ có cái thần uy. Từ cấp tỉnh đặc biệt là đã có rồi, là họ có cái thần uy khác người
[14:29]mà cái người cấp dưới gặp họ tự nhiên phải nể phục, tự nhiên mới nể, kính, sợ. Chúng ta còn nghe kể có những cái giai thoại về những lãnh tụ mà siêu phàm trên thế giới và của Việt Nam, mà cái thần uy của họ mà người đời chúng ta không gặp chúng ta không tưởng tượng nổi. Ví dụ như ta có một nhân vật rất là nổi tiếng là vua Quang Trung. Cái lần mà vua Quang Trung đi ra ngoài Bắc để bình định chúa Trịnh là thì vua Quang Trung cũng có cái hay là ổng không có tham quyền lắm. Mặc dù là cái phước ổng rất lớn, quyền uy trong tay rất lớn, binh sĩ là đánh đâu thắng đó, nhưng mà ổng không có tham quyền cố vị, nên ổng ra khi mà dẹp được chúa Trịnh
[15:12]rồi vân vân rồi cái thì ông vẫn giao quyền lại cho vua Lê. Nhưng lúc đó là triều đình Lê đã hết phước rồi, không còn cái uy lực để mà lãnh đạo. Nên triều thần không có nghe, chỉ để đó làm hư vị bao nhiêu đời bao nhiêu năm rồi. Bây giờ là vua Quang Trung ra ổng dẹp nhà Mạc, ổng dẹp nhà Trịnh rồi ổng giành lại cái ngôi vua cho vua Lê Hiển Tông, nhưng mà vua Lê Hiển Tông già, yếu, chỉ có cái đức thôi, chứ còn không làm gì được nữa. Thì thì Nguyễn Huệ sau đó có cầu hôn một công chúa của vua Lê Hiển Tông là Ngọc Hân công chúa. Cái tục lệ ngày xưa á là cái nàng dâu dường như không bao giờ biết mặt cái người sẽ cưới mình, nên công chúa Ngọc Hân cũng không biết cái người
[15:56]mà gọi là Nguyễn Huệ đó, từ Bình Định đi ra đó, cưới mình là ai. Nhưng mà bà cũng tò mò, bà mới hỏi một người cung nhân. Thì người cung nhân là đi hầu hạ cho nên đi qua đi lại mới được thấy mặt. Người cung nhân đó mới nói: "Dạ thưa công chúa, con có nghe kể rằng là con cũng không có thấy mà nghe kể là Nguyễn Huệ là", hắn, kêu bằng hắn, tại lúc đó người ta cứ nghĩ là Nguyễn Huệ từ Bình Định đi ra như là những tay thổ phỉ, giặc cướp á, không phải là từ xuất thân từ dòng dõi quý tộc, quan lại, mà chỉ là đi buôn trầu ở đâu á, miền đá, núi rồi lên dấy lên đánh tan hết, đánh đuổi chúa Nguyễn rồi đánh luôn ra ngoài Bắc tiêu chúa Trịnh luôn.
[16:34]Thì cứ nghĩ như thổ phỉ á, nên kêu bằng hắn, nhưng mà diễn tả: "Hắn có đôi mắt nhìn không ai dám nhìn lại. Khi hắn chỉ tay ra lệnh là như sấm như sét, mà hắn đã ra lệnh rồi thì thà chết chứ không ai dám trái lời." Cái quyền uy khủng khiếp như vậy. Sau này khi mà Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai mới cho tập hợp hết những cái quan lại, những cái quan của nhà nhà Lê, nhà Trịnh hồi xưa lại. Có nhiều người trốn mất, sợ quá trốn mất, nhưng mà có nhiều người nghe tin cũng trở lại. Thì lúc đó người thấy Nguyễn Huệ đứng bên cạnh vua Lê, hai hàng quan lại đứng hai bên, mọi người xì xầm: "Bây giờ trong đời ta mới thấy được một vị thần sống."
[17:22]Tại vì nào giờ thần linh chỉ tưởng tượng, những vị thần linh mà uy quyền kỳ lạ như phép lạ là chỉ trong tưởng tượng và trong truyện, còn khi gặp Nguyễn Huệ rồi họ nói họ thấy được ông thần sống. Bởi vì tuy là một con người mà cái thần uy nó rừng rực rừng rực á, thấy rồi là ai cũng phải theo. Chính vì vậy mà Ngô Thời Nhiệm là một người quan tài giỏi, gặp Nguyễn Huệ rồi biết đây là minh chúa của mình, theo phò liền, và Nguyễn Huệ dùng liền, và Nguyễn Huệ nhận ra được cái tài của Ngô Thời Nhiệm. Nhận ra được, nên sau đó là vua tôi rất là tương đắc. Thì ở đây á, chính những người lãnh tụ phi thường như vậy,
[17:59]cái thần uy của vậy khi mà họ nói một điều á, cái lời họ nói á không biết sao cái uy lực của tâm á nó làm cho cái mệnh lệnh nó rớt nằm chặt vào trong cái tâm của người thuộc cấp, mà người thuộc cấp bị cái lệnh đó nằm ở trong tim rồi không nhúc nhích được nữa. Là người thuộc cấp đó mới đem cái lệnh đó ra chỉ huy tiếp những cái người phía dưới, thì cái mệnh lệnh cái tàn dư cái uy lực nó còn á, nó rớt vào tâm của những người cấp dưới, những người cấp dưới cũng bị dính bởi cái uy lực đó rồi không nhúc nhích được nữa, phải làm theo, phải chiến đấu thôi. Tức là khi nói là phải tiến lên thì binh sĩ chết chết chứ cũng phải
[18:31]cầm dao bước tới, cầm gươm bước tới, không dám lui, vì cái uy cái uy lực kỳ lạ của của cái người lãnh tụ như vậy, họ mới kéo được cả một đất nước đứng lên mà chiến đấu chống lại quân thù. Còn như mình mình không có cái thần uy như vậy, mình thử mình gặp ai mình kêu: "Tiến lên!", người ta có tiến không? Bây giờ quý thầy ra đứng ngoài đường chặn người ta lại đi, gặp người ta ai đi qua lại dừng lại kêu: "Tiến lên!", họ có tiến không? Có không? Tiến lại quánh mình, ờ.
[19:03]Nên cái cái gọi là cái uy lực thì chúng ta nghiên cứu cái uy lực của lãnh tụ để lần lần chúng ta sẽ thấy cái uy lực, cái tâm linh của người giảng sư nó sẽ như thế nào. Đó, bây giờ chúng ta thử gặp một người nghệ sĩ, gặp một người nghệ sĩ, quý thầy đã gặp nghệ sĩ chưa? Những người ca sĩ, những kịch sĩ, những diễn viên nổi tiếng á, gặp chưa? Thì họ dễ thương, nói chung vì họ hoạt động ở trong lĩnh vực nghệ thuật nên họ dễ thương. Họ dễ thương cho nên họ có tiếng tăm, được quần chúng yêu thích. Rồi khi ta gặp họ, ta có cái tò mò, ta tò mò không biết người này nhìn từ đầu tới chân họ có cái gì lạ, săm soi họ:
[19:38]"Họ tằng hắng làm sao, họ gãi đầu gãi chân làm sao?", vì ta tò mò, ta thích, thấy ai cũng thích, họ nổi tiếng nên ta cũng tò mò. Nhưng mà nó không có cái làm cho ta khiếp sợ vâng lời như là một lãnh tụ, nó khác nhau, vì họ dễ thương thôi. Nhưng mà trong cái dễ thương của người nghệ sĩ á cũng có cái thần của họ. Nếu mà chúng ta gặp những người mà nghệ sĩ mà ở tầm cấp quốc tế á, ở cấp quốc tế đó, chúng ta mới thấy. Nhất là những diễn viên mà siêu đẳng cấp quốc tế, ta gặp họ ta thấy họ có cái thần thuyết phục người khác dễ sợ. Họ đứng họ nói chuyện mình mình tự nhiên mình nghe lời liền, mặc dù họ không phải là người có quyền hành,
[20:18]nhưng mà họ có cái sức thuyết phục, có cái sức thuyết phục kỳ lạ. Chính vì cái thần, cái sức thuyết phục đó, họ nhập vào trong cái vai của diễn diễn, họ thành công, nên làm nhiều người yêu mến. Thì một bên là dễ thương, một bên là uy lực,
[20:38]Cái người cái người lãnh tụ á thì họ có cái uy lực, cái người nghệ sĩ nổi tiếng á thì có cái dễ thương, còn người giảng sư có cái gì? Hả? Người giảng sư có cái gì? Đúng rồi, cả hai. Một điểm. Nhưng mà họ không nhiều, ví dụ người giảng sư họ không quá dễ thương như một người nghệ sĩ, họ cũng không quá uy lực như một lãnh tụ, phải không? Nhưng phải có cả hai. Phải có cả hai. Vì sao mà có cái dễ thương, vì sao có cái uy lực? Muốn hiểu điều này ta phân tích về Đức Phật của ta. Đức Phật ta là một người vừa dễ thương mà vừa uy lực. Nếu mà ta được gặp Đức Phật lúc Đức Phật còn tại thế, ta sẽ thấy Ngài đầu tiên như là một người đầy uy lực,
[21:29]bởi vì cả trời, rồng đều còn phải kính ngưỡng mà. Đức Phật đi đứng khoan thai, không một cử chỉ nào thừa: ngồi lên, đứng xuống, nhìn qua, nhìn lại, hoặc là mỉm cười, hoặc nói một câu, hoặc im lặng, hoặc ngước nhìn cái gì thì không có thừa. Không có như mình, lâu lâu cái thừa mình rảnh quá không có gì mình đứng trừng chơi. Không có. Phật không bao giờ mà thừa một cái ngón tay, ngón chân, không bao giờ. Không đứng vầy là kênh đời vầy là không được rồi đó. Nghĩa là Đức Phật, nghĩa là lúc nào cũng trong cái đoan chính, trong cái nghiêm trang, tề chỉnh, oai nghi. Đó là biểu hiện của Đức Phật. Nên ta thấy là Đức Phật rất uy lực.
[22:09]Nhưng mà cái tâm từ của Đức Phật tỏa ra bàng bạc bàng bạc khắp chốn, làm cho chúng sinh thấy thương mến, thấy Đức Phật dễ thương. Là cả con thú, con chim gì bay ngang qua Đức Phật cũng muốn đậu lại. Còn con người thấy Đức Phật uy nghi, nghiêm chỉnh như vậy nhưng lúc nào cũng muốn đến gần, bởi vì cái tâm từ của Đức Phật làm Đức Phật thấy dễ thương. Đức Phật dễ thương, từ ái, nhưng mà lại rất là là uy nghi, rực rỡ. Hai cái yếu tố đó ta chỉ bằng lý luận chứ ta không hình dung được hết. Chừng nào mà ta gặp Phật thì ta mới có thể hình dung được. Gần đây nó có một cái hiện tượng ừ hơi sai lầm xuất hiện
[22:49]là có nhiều cái nhà điêu khắc hoặc là kiến trúc họ đã cho tạc những hình Đức Phật để họ trang trí trong cái gia đình của họ. Mà hình Đức Phật không còn đúng cái cái khuôn mẫu, không cần đúng cái nguyên tắc à như kinh điển nói là Đức Phật nghiêm trang, uy nghi. Có khi họ tạc hình Đức Phật ngồi gục đầu trên gối như một thiếu nữ, nó rất là xúc phạm. Tạc nhiều cái hình đầu Phật cho mấy đứa nít nó cầm nó thảy nó chơi trong nhà họ. Hiện nay cái tình trạng đó đang bắt đầu phổ biến, thành như một cái mốt. Cho nên chúng ta cũng kêu gọi quý thầy, quý cô, kêu gọi Giáo hội và tất cả các Phật tử là nếu gặp những người quen mình mà có hiện tượng đó thì phải làm sao?
[23:34]Phải làm sao? Mình đến mình gặp những gia đình đó, mình nói nhỏ nhẹ nha, là: "Đừng có đem hình tượng Phật ra mà giỡn chơi như vậy nữa, vì đây là một vị Thánh tối cao. Lúc nào Ngài cũng uy nghi, tề chỉnh mà để trên bàn thờ, còn nếu mà để hình Phật mà giỡn chơi như vậy thì tôi đem bom tôi đánh sập nhà à nha." Mình nói nhẹ nhàng ha, đừng có nói nặng với họ.
[24:01]Nói nhẹ nhàng thôi, đừng có nói nặng lời người ta, ha, đó nghen. Thì mình nói nửa đùa nửa thật để cho người ta tin thì tin thôi, kệ người ta. Nhưng mà hễ làm nữa là biết á. Nên cái người giảng sư á cũng vậy, chúng ta cũng giống như Phật á, mặc dù chúng ta không được như Phật, nhưng chúng ta mỗi cái chúng ta cũng được một phần, là người giảng sư vừa có cái cái từ ái gì nó toát ra, tỏa ra với mọi người làm chúng sinh thấy nhìn vô thấy cảm mến, nhưng cũng vừa có cái uy lực làm cho chúng sinh có cái kính sợ. Tại sao chúng ta cần có cái dễ thương để chúng sinh cảm mến và cần có cái uy lực để chúng sinh kính sợ? Tại sao? Ai trả lời được?
[24:42]- A Di Đà Phật. Theo con thấy thì cái người giảng sư mà muốn cho có một cái quy lực để cho thính chúng nghe thì đó phải do có một cái sức công phu tu tập thiền định, thì trong trong cái thiền định, cái tâm định nó nó phát xuất ra một cái từ trường điện rất là mạnh khiến tỏa ra cái - Không không, trả lời trả lời trật cái ý của thầy muốn nói rồi. Dạ. Nó như thế này nè, thầy hỏi cái này nè: Là vì sao người giảng sư cần hai yếu tố này? Chứ không có hỏi là tại sao, do đâu mà có được hai yếu tố này. Phải không? Chúng tôi không có hỏi, tôi không hỏi là do đâu mà mình có hai yếu tố này. Tại sao cần phải có hai yếu tố này để việc diễn giảng được tốt đẹp? Trả lời lại.
[25:27]- Mô Phật. Kính bạch thầy là cái uy lực gì con xin trả lời là vì uy lực làm cho chúng sanh khiếp sợ và còn dễ sợ - Kính sợ, kính sợ, chứ khiếp sợ nghe ớn quá. Kính sợ thôi. - Còn dễ thương để chúng để cho mọi người gần gũi. - Nói lại, kính sợ để làm gì? - Kính sợ để mà nghe lời theo. - Chính xác! Chính xác! Một điểm. Tuyệt vời, đúng á, câu trả lời rất là chính xác, chính xác hoàn toàn luôn, không cần bổ sung nữa. Kính sợ để cho người nghe họ vâng lời. Mà cái dễ thương làm chúng sinh muốn đến nghe hoài, gần gũi. Nên người giảng sư cũng phải có cả hai yếu tố đó. Là chúng ta không được hoàn toàn như Phật, Phật thu hút được cả chúng sinh
[26:12]trong bao la pháp giới luôn, còn ta với những chúng sinh có duyên thôi. À thì gặp một vị thầy giảng sư ổng lên giảng, bước lên thấy ông thầy dễ thương quá ha! Nhưng bắt đầu ông thầy nói là phải nể liền. Cái oai nghi đĩnh đạc là phải nể liền, nên phải vâng lời. Chứ còn có nhiều Phật tử thương một ông thầy vì ổng dễ thương nhưng mà không nghe lời, ổng nói đâu cãi đó. Có không? Đi chùa mà quen rồi, ông thầy nói gì cũng cãi, nhưng mà không bao giờ bỏ chùa đó hết. Lúc nào cũng thương, hỏi đi đâu cũng đi chùa đó, nói: "Không, đi chùa ông thầy Đức Hòa ổng dễ thương dữ hởng." Vì dễ thương, nhưng mà để nghe lời ông thầy
[26:46]hay không thì cần cái uy lực của ông thầy nữa. Thì giảng sư cũng vậy, giảng sư là chỉ gặp thính chúng trong một thời gian ngắn chứ không ở chung, nhưng mà dù trong thời gian ngắn ngủi đó, thính chúng vẫn cảm thấy thương vì cái dễ thương, từ ái, mà vẫn phải kính sợ vì cái uy lực đó. Ta nhớ hai điều này, đây cũng chỉ là yếu tố của tâm, yếu tố của vô hình. Cái gì là cái sự liên kết từ tâm tới tâm rõ rệt nhất? Cái gì nối kết dễ nhất? Đôi mắt, đúng, chính xác. Cho một điểm rồi không cho nữa. Đôi mắt á, vì ta nói đôi mắt là cửa cửa sổ của tâm hồn, còn cửa cái nằm đâu?
[27:28]Cửa cái nằm đâu thì tính sau. Mà cửa sổ thì cái đặc tính của cửa sổ là sao? Hả? Thấy nhưng mà không thể leo vào được vì nó có có song. Đúng. Thường á, ví dụ như nếu quý thầy tu lâu, có chứng được thiền định, quý thầy trực giác phát sinh, quý thầy nhìn đôi mắt một người, quý thầy biết hết cuộc đời người đó liền, biết hết cả tính tình người đó, biết hết cái phúc đức của người đó, biết cái vận mệnh người đó, biết luôn kiếp trước kiếp sau người đó luôn. Chỉ cần nhìn đôi mắt thôi. Nhưng mà nếu mà mình không phải là người có một cái chứng ngộ nào để có thể hiểu được điều đó, thì bình thường bằng mắt và mắt chúng ta cũng trao đổi với nhau nhiều điều.
[28:13]Đó là ví dụ như khi Phật tử vừa đến chùa gặp ông thầy, ông thầy đưa con mắt nhìn một cách từ ái thì Phật tử hiểu được điều gì? Ông thầy nói gì? Nói sao? À: "Thầy rất quý mến quý mến Phật tử đã đến đây." Phải không? Và người Phật tử chỉ bằng đôi mắt thôi, cái là Phật tử yên tâm vô tiếp, vô tiếp đi lạy Phật rồi đi hỏi han, chỉ bằng đôi mắt thôi. Đúng không? Còn nếu mà bước vô gặp ông thầy ổng lườm cho một cái cái rồi sao? Hiểu được ổng nói gì? Ổng vừa quăng cái gì vô trong cửa sổ? Ổng vừa quăng gì trong cửa sổ? À, ổng quăng vừa vừa quăng cục đá vô cửa sổ, mà tâm hồn mình bị đau nhói liền, phải không?
[28:53]Còn bước vô ông thầy ổng ném vào đó một cành hoa vào trong cửa sổ là mình thấy mình dễ chịu, mình tươi mát liền.
[29:02]Cho nên do đó, cái người giảng sư rất cần một đôi mắt có uy lực. Cái đôi mắt có uy lực là đôi mắt như thế nào? Có cái nhìn sáng, mạnh.
[29:16]Có cái nhìn sáng mạnh cho nên và khi mình nhìn tới đâu thì mình kết nối tới tâm của người đó tới đó. Vì vậy một người giảng sư thường là đừng nhìn một chỗ lâu. Khi giảng vậy ta thường ta cứ nhìn qua nhìn lại khắp hội chúng như vậy để lúc nào cũng tạo cái sự kết nối. Và những người hội chúng họ mới cảm thấy mà họ không bị, không bị bỏ quên. Nhiều khi họ ngồi trong xó nhưng mà họ thấy tia mắt của ông thầy có quét qua nhìn họ một chút, họ thấy tâm có đến với tâm, kết nối được. Trừ những cái người mà ngồi kẹt vách thầy chịu thua nha. Có ai ngồi núp sau vách không? Cho nên vì vậy là quý thầy cứ phải nhìn qua nhìn lại.
[29:54]Cũng có một lần tôi có kể tôi bị cái sư cô đó viết thư trách, nói: "Con nghe thầy giảng hay mà con nhìn phim thấy thầy mắt láo liên, giảng láo liên." Tại phải nhìn qua nhìn lại á, tôi mới nói: "Nếu mà thầy không có láo liên mà thầy nhìn một chỗ thì trong hội chúng sẽ trách thầy. Đúng không?" Vì ví dụ bây giờ quý thầy nếu mà trong hội chúng này quý thầy muốn tôi nhìn chỗ nào một chỗ? Nói? Nhìn ở đâu? Hổng lẽ cứ ngồi nhìn thầy Đức Hoàng? Cứ giảng cứ nhìn thầy Đức Hoàng giảng hoài à. Nói giảng cho hay nha, giảng tốt nha, cứ đứng nhìn thầy Đức Hoàng giảng hoài. Sao, được không? Mọi người khó chịu, thầy Đức Hoàng cũng khó chịu, phải không?
[30:35]Còn bây giờ hổng nhìn ai hết, cứ nhìn cái gầm bàn nói: "Quý thầy nửa lớn phải giảng cho hay nha, sau này đi khắp nơi giảng." Mà cứ nhìn cái gạt bồn giảng giống ai không? Cũng không được. Cho nên vì vậy là phải dùng đôi mắt mình để hỗ trợ cho cái lời nói của mình. Là lúc nào cũng tạo sự kết nối với đại chúng, lúc nào cũng cái luồng điện từ tâm đến với tâm, cửa sổ này đến với cửa sổ kia. Rồi ta nhìn vào cửa sổ ta thấy được tâm hồn nhau, giống như là ta nhìn vào cái cửa sổ hàng xóm. Quý thầy có nhìn cửa sổ hàng xóm không? Có không? Ừm. Nhìn coi chừng người ta cự nha, không được. Tuy nhiên, cái thần lực của đôi mắt của một giảng
[31:15]sư á không phải là do mình luyện đâu. Mình mà do mình sống, do mình sống tự nhiên đôi mắt tốt lên. Còn muốn luyện mà phải còn tuổi còn nhỏ thì mới luyện được, chứ lớn quá luyện cũng không tốt lắm. Hôm trước như tôi có nói một lần không cách luyện đôi mắt á. Đúng rồi dùng cây nhang, mà phải trời tối hết á, đừng có ánh đèn mờ nào hết á. Cắm trong bóng tối cách khoảng chừng 5 m, ngồi kiết già mở mắt nhìn. Mở mắt nhìn và gửi vào cây nhang cái lòng từ bi của mình, lòng từ bi thương yêu chúng sinh gửi vào đó. Rồi sau này tự nhiên đôi mắt mình dịu xuống, đôi mắt từ ái. À khi mình nhìn ai cũng vậy, nhìn ai cái
[31:53]là tự nhiên người ta nhận ra được cái tình thương yêu của mình. Nó tạo một cái thần lực liền, một lực vô hình nhưng mà nhìn liền. Quý thầy thấy tôi có đôi mắt có từ ái không? Có nhiều người nói dữ. Dữ không, dữ hay từ ái? Cả hai.
[32:11]Nhiều khi phải nghiêm á, nhiều khi phải nghiêm. Tuy nhiên có những lúc không phải là đôi mắt nha. Tại mới đầu tôi cũng tin như vậy, tôi cũng nghĩ rằng đôi mắt là cái mà tạo ra cái uy lực, sự kết nối với tâm. Nhưng có một lần nhiều trường hợp tôi quan sát cách khác tôi lại thấy như... À quý thầy có coi phim xã hội đen Hồng Kông chưa? Có, hiểu. Thấy vào cái cảnh mà một cái tay đàn em á gõ cửa phòng cốc cốc cốc. Ở trong có cái tiếng nói lạnh lùng vang ra: "Vô đi!" Thấy không? Ta mới bước vô thì cái tay mà thủ lĩnh á, cái tay mà mà trùm á nó đâu có ngồi đó nhìn đàn em đi vô. Lúc đó nó đang làm gì?
[32:50]Nhìn sau lưng à? Anh nhìn cái gì sau cửa sổ tay anh khoanh thế này. Đó tay thằng kia là run như cầy sấy á, anh đứng nhìn. Mà không nhúc nhích nha, nó đứng im bất động. "Sao? Tới đâu rồi?" Như vậy thằng kia nói: "Dạ hàng nó bán được rồi, ví dụ thấy không, mà mấy hai thằng là bị công an bắt." "Mày không lấy nó ra được thì mày đừng về đây gặp tao." Nói vậy. Nói vậy mà thằng kia run. Mà ổng có nhìn đâu, có nhìn không? Không. Cho nên cái cử chỉ gì đó như là trầm lặng cái gì đó cũng có cái uy nữa. Rồi có một lần lần đó mua coi cái phim của Châu Nhuận Phát, Châu Nhuận Phát Hồng Kông á đóng cái vai sát thủ.
[33:30]À ảnh đeo mắt kiếng đen thì coi như đôi mắt hết thấy luôn. Tại vì thường á trong cái nghệ thuật mà diễn xuất của điện ảnh á người ta nói cái diễn xuất quan trọng nhất là đôi mắt. Nên cái diễn viên mà nổi tiếng nhất của Hồng Kông là Lương Triều Vĩ. Là bởi vì ông có cái đôi mắt diễn tả những cái tâm trạng cực kỳ phức tạp mà diễn tả được. Cho nên là hễ mà bộ phim mà có Lương Triều Vĩ là bảo đảm là người ta tin liền. Nhờ đôi mắt ổng diễn tả, những diễn viên khác theo không nổi. Mà lạ lùng của trời cho. Mới sau này mà mà Lương Triều Vĩ đóng trong cái phim mà Hero - Anh hùng, quý thầy coi chưa? Bữa nào lấy phim coi đi.
[34:06]Phim Anh hùng. Mà nói về chiến đấu với với Tần Thủy Hoàng thì Lương Triều Vĩ lúc đó đóng vai Tàn Kiếm. Đánh võ siêu đẳng nhưng mà cái nội tâm thầm lặng, trầm lặng mà sâu xa, thông minh, bí hiểm cái đôi mắt. Rồi có lần đóng vai là Infernal Affairs, phim này rất là nổi tiếng gần đây. Nó về cái xã hội đen đấu tranh với công an thì Lương Triều Vĩ đóng vai một người công an mà nằm gài nằm trong tổ chức xã hội đen. Lập được nhiều chiến công nhưng rồi sau bị giết. Mà cái đôi mắt của một con người nghĩa là vừa kiềm chế, vừa khát khao, vừa yêu thương, vừa chịu đựng, vừa tuân lệnh, vừa hy sinh, bao nhiêu cái tâm trạng nằm hết trong đôi mắt.
[34:51]Nên đóng phim này là ai cũng sợ luôn, phải công nhận là giỏi nhất luôn. Nhưng mà đến khi Châu Nhuận Phát đóng vai xã hội đen được bịt bằng hai cái kiếng đen, mình nhìn nói: "Ủa, đóng vậy làm sao diễn xuất?" Nhưng không ngờ không phải nha. Chỉ bằng cái cử chỉ thôi, một cái trầm lặng vô hình gì trong tâm nó vẫn toát ra, mình vẫn đọc được. Vẫn đọc được là họ muốn nói gì, muốn diễn tả cái gì. Cho nên vì vậy tuy chúng ta nói với nhau rằng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn nó tạo sự kết nối từ tâm đến tâm, nhưng nếu cái người mà có thần tốt nhiều khi không cần nhìn mình, mình vẫn bị thu hút nha. Mà bởi vì tôi chưa có kinh nghiệm đó.
[35:25]Vì tôi giảng tôi vẫn còn đôi mắt nên vẫn phải nhìn. Nên tôi không biết được ngày nào đó mình không còn đôi mắt mà mình giảng coi có ai nghe không? Ví dụ ngồi đây giảng, bây giờ tưởng tượng mình không còn đôi mắt ha, mình che kiếng đen hoặc là không thấy nữa ngồi giảng. Lúc đó nói năng giảng pháp thao thao bất tuyệt, rồi sao nữa? Giảng xong không còn ai vỗ tay hết vì đi đâu mất tiêu hết trơn, họ ngủ hết. Vì mình không còn đôi mắt để kết nối nữa đó. Nhưng mà những người mà họ có thần lực á, không cần có đôi mắt họ vẫn kết nối, cái tâm họ vẫn tỏa ra. Nên cái yếu tố vô hình của tâm nó không lệ thuộc đôi mắt.
[35:57]Tuy đôi mắt vẫn là một công cụ tốt để để mà nối kết với nhau. Ừm. Nên vì vậy là cái yếu tố tâm lực vô hình rất là rất là lạ, có khi nó không theo những đường đi bình thường mà ta biết. Giờ cái người giảng sư khi đứng lên bục giảng mà có cái sức mạnh tâm linh khiến cho cái người nghe bị thu hút và khiến cho đạo lý của người giảng đi tuốt vào trong lòng của người nghe. Cái gọi là đạo lý đi tuốt vào trong lòng, nằm yên trong lòng người nghe. Để hiểu điều này ta có một ví dụ đơn giản một chút. Ví dụ hôm nào đó chùa ta có ba bốn trăm Phật tử đến, họ ở lại họ dự lễ và họ ăn cơm. Và ta có hai cách cho họ ăn.
[36:45]Một cách á là ta bưng hộp cơm tới nơi, bưng muỗng tới, bưng chai nước tới mời họ ăn. Một cách. Một cách thứ hai là tới giờ cơm rồi họ phải đi vô bếp họ xin. Ta sẽ chỉ họ đũa đó, chén đó, tô đó, nồi cơm đó, thức ăn đó, múc ha, mọi người vô lấy rồi múc múc múc đi một vòng rồi đi ra, rồi kiếm gốc cây ngồi ăn. Thì trong hai cách như vậy, Phật tử sẽ thích cách nào hơn? Cơm dâng cho tới tới miệng ai cũng vậy, họ không cần phải đi, không phải xin mà họ cảm thấy họ được tôn trọng, được phục vụ. Con người ai cũng vậy hết, đó là tâm lý chung. Còn bây giờ tới giờ cơm rồi không ai ngó ngàng, có cái thông báo: "A, Phật tử hả?
[37:27]Ai ăn cơm vô bếp kiếm ăn." Họ cảm thấy bị xúc phạm. Còn mà tới giờ cơm rồi tự nhiên có những người bưng từng mâm cơm mâm cơm tới phát, mời ha: "Mời bác dùng nha, mời chị dùng nữa." Tự nhiên họ thấy làm sao? Rất là ấm lòng, họ đi chùa họ được tôn trọng. Còn cái đội ngũ Phật tử mà đi phục vụ bưng cơm mà đi mời từng người á thì Phật tử đó làm sao? Rất là có phước. Bởi vì nhiều khi ở nhà mình làm ông, làm cha ai không biết nhưng mà tới trong buổi lễ mình hạ mình thành một người phục vụ, phụng sự phước rất là lớn. Còn những người Phật tử mà được phục vụ á thì thấy rất là ấm lòng. Rất là ấm lòng. Thích hơn thì cũng vậy, trong giáo lý cũng vậy.
[38:03]Nghĩa là khi mà ngồi nghe một bài giảng nó có hai cách để ta hiểu. Một cách á là cứ ngồi nghe thôi không cần động não. Nhưng mà bao nhiêu đạo lý ông thầy ổng giảng, trình bày quá rõ ràng nè. Ta chỉ ngồi nghe một cách thụ động, ta hiểu hết, nắm hết. Nắm hết, không cần phải suy nghĩ gì nữa. Và cách thứ hai, ông thầy ổng nói một câu mình phải động não ba bốn thứ, ba bốn bước mới hiểu ổng muốn nói cái gì. Mình phải suy luận thêm nữa. Nói thí dụ nói thế này: "Lòng từ bi là phải có trí tuệ nha, từ bi mà không có trí tuệ là sai lầm á." Nói xong rồi hiểu không? Hiểu không? Câu đó chưa rõ ràng, không rõ gì hết.
[38:46]Phải suy luận, đúng, phải suy nghĩ thêm, phải động não thêm. Và như vậy cứ mà vừa nghe vừa động não, vừa nghe vừa động não thì qua nửa tiếng là người thần kinh thép thì qua nửa tiếng là thua. Còn bình thường Phật tử là 15 phút thôi là bắt đầu ngáp liền, động não lát mệt liền. Bắt đầu từ 15 phút sau đó, sau 15 phút rồi là ông thầy nói gì Phật tử hết hiểu rồi. Giảng xong ra hỏi: "Ông thầy nói gì?" "Giờ không biết nữa." Bị vậy đó. Còn nếu mà người giảng sư giảng á vừa có cái thần kết nối để mà tải đạo lý vào, vừa giảng dễ hiểu, khúc chiết, mạch lạc, Phật tử không cần suy nghĩ gì hết, chỉ ngồi yên lặng thôi, thụ động thôi,
[39:24]cơm nó chui vô bao tử hết, vô hết vô hết vô vô vô. Lát rồi hỏi ông thầy giảng gì là ngồi giảng lại cho người khác nghe liền. Có không? Có không? Hả, có trường hợp mình nghe một bài giảng mà mình nắm vững đến nỗi mà sau khi bước ra hỏi: "Ông thầy giảng cái gì?" Mình có thể nói lại được một số ý. Có không? Có nha, có, nói vậy. Và như vậy mình thích cách nào? Mình thích cái cách mà cơm dâng tới miệng, phải không? Là giáo lý ổng giảng tuôn hết vào trong trái tim mình luôn, quá dễ nghe vì có cái tâm của ông thầy ổng nối vào tâm mình, đạo lý của ổng thì mạch lạc, khúc chiết. Vì vậy Phật tử thích. Ta làm giảng sư ta cũng phải đạt được cái mục tiêu đó,
[40:02]là giảng làm sao mà Phật tử họ nghe một cách thụ động, hiểu hết, nắm hết, không cần phải động não nữa. Rồi nó nằm yên trong trái tim họ, biến thành đạo lý của chính họ và họ sống tốt với mọi người. Đây mới là mục tiêu của ta. Ta làm sao những bài giảng của ta gửi gắm vào, nằm im trong lòng người và nó nó lọt vào trong rồi nó nó quậy tung cái lòng của người ta hết và nó biến người ta thành con người khác. Quý thầy có biết cái virus trong vi tính chưa, trong computer chưa? Có hiểu khái niệm đó không?
[40:40]người ta gọi là virus, hay có khi họ gọi là worm, mấy con sâu. Tức là trong cái computer trong cái ngành vi tính tin học nó có cái màn thế này, một cái tay lập trình nào đó gọi là hacker ảnh viết một đoạn mã, một cái chương trình bí mật, à cái ảnh gài cách nào qua email hoặc là qua những cái đĩa gài lọt vào cái máy người khác. Thì cái cái đoạn mã chương trình đó gọi là virus nó nằm trong đó, nó quậy, nó thay đổi những cái chương trình trong máy người ta hết. Nó bí mật âm thầm và tự động nó quậy hết. Nó lấy cái tài khoản bí mật của người ta, nó bí mật nó gửi thư người ta đi qua chỗ khác, nó bí mật nó lấy những bí mật của người ta nó gửi trở ngược về cho cái tay hacker đó.
[41:21]À nó thay đổi nó thay đổi nó xáo trộn, nó phá tan trong đó, hoặc là nó dựng lên những nội dung mới. Là gởi một cái đoạn mã virus này vào. Thấy máy mà bị nhiễm virus rồi, nhiều khi mở lên: ủa sao bữa nay máy tui không chạy? Ủa cái file tui mới đánh máy một chút đâu biến mất rồi? Lại coi chừng máy ta đã bị virus ăn rồi, nó thay đổi trong đó rồi. Và người giảng sư giỏi là phải giảng như là virus, giảng như là virus vậy. Nghĩa là sao? Nghĩa là đứng mình nói cái cách nào không biết đạo lý nó chui tọt vào trong lòng á, cái người Phật tử họ không biết. Họ thấy: à tui đi nghe giảng về tui cũng chưa tu gì hết,
[41:55]nhưng bỗng nhiên họ về họ đã thay đổi khác rồi. Nghĩa là đầu buổi đi vô chùa, chiều về thành con người khác một chút liền. Người nhà nhận ra liền. Người nhà nói là: trước khi ổng đi nghe giảng mặt ổng chầm hăm như là hình sự, như là ác quỷ giữa thiên đường. Ổng về cái bỗng nhiên ổng dịu dàng: con ăn cơm chưa, ba đút cơm con ăn nha, hay vậy, sao em, sao đi chợ về mệt không, hay là Tự nhiên thành con người khác à. Bữa trước còn gầm: sao hôm nay nấu ăn không ngon, rượu bia của tui đâu à. Nhưng mà đi nghe giảng về biến thành Nhưng mà ổng chưa hề tu gì hết trơn. Chưa hề tu, bởi vì sao? Bởi vì bị virus, virus của của mấy thầy ở Thiền Khánh, virus Thiền Khánh.
[42:34]Nghe giảng nó chạy tuốt trong lòng nó nằm trỏng nó quậy trong á, nó quậy nó tự động. Thì cái đó là một cái, cái đó là hiệu quả tột cao của một người giảng sư. Người giảng sư mà giảng được tới cái trình độ đó là tột cao. Người Phật tử họ nghe, họ không cần tu mà họ tâm họ thay đổi. Có không? Có, có trường hợp đó đó. Và quý thầy sau này phải giảng đạt tới mức độ là virus giết người. Nghĩa là nghe xong họ không tu gì hết trơn, họ biến thành người khác luôn. Từ từ từ từ họ không hay. Rồi sau đó, chính con virus nằm trong tâm họ thúc đẩy họ phải làm gì? Họ đi làm phước, thúc đẩy họ ngồi thiền, thúc đẩy họ lễ Phật, thúc đẩy họ lần lần họ biến thành vị Thánh luôn.
[43:13]Mà do mình cấy cái nhân vào trong lòng họ, mà họ thụ động không ngờ. Giảng tới mức độ đó là rất là cao siêu và thành công. Hôm nay ta nói vậy là yếu tố tâm linh là vậy đó. Là chính cái tâm lực của người giảng sư đẩy cái đạo lý nằm lọt trong tim người ta luôn. Nhưng bây giờ thứ nhất làm sao để có cái tâm lực đó? Phương pháp thứ nhất là gì, ai đoán ra? Lễ Phật, chính xác! Cho một điểm rồi không cho nữa. Thứ nhất là phải lễ Phật nha. Đó là công đức căn bản. Khi ta lễ Phật với trọn lòng tôn kính, ta lễ Phật có thể ta chết vì Phật được thì từ từ ta có tâm lực. Ba năm sau, năm năm sau khi chúng ta đứng bục giảng mọi người bị thu hút liền.
[43:59]Mà ta bắt đầu đạo lý ta nói là nó thành virus nó chui qua lòng trong á nó quậy người ta liền. Nên tạo thành cái uy lực, khi ta lễ kính Phật tạo thành cái uy lực. Nên tôi vẫn khuyên mọi người lễ Phật là lễ cá nhân á. Ngoài những giờ thời khóa lễ chung, ta nên có cái thời lễ cá nhân. Vì khi lễ chung á tâm ta bị phân tán, ta phải nghe tiếng chuông, ta nghe tiếng khánh, ta quan sát đại chúng để mình nhịp nhàng, nên tâm bị phân tán. Còn khi ta lễ cá nhân á là ta dồn hết lòng tôn kính Phật nên ta có thể tha thiết được. Có một lần gặp một vị thầy, ông bị đau chân. Tưởng ông già bị đau chân, hỏi ra là ổng luyện cái môn là lễ Phật khí công. Hỏi:
[44:48]lễ Phật sao khí công? Là kết hợp với hơi thở, hít lên xuống và lạy Phật để mà vừa được lạy Phật mà vừa được luyện nội công á. Được đâu chừng mấy ngày Phật quở, sưng chân liền. Lý do tại sao? Lý do tại sao? Đúng, không tập trung. Bị phân tâm. Lễ Phật chỉ có một mục tiêu duy nhất là tôn kính Phật thôi. Chứ không có được luyện khí công. Cho nên ai mà mà lễ Phật mà còn có còn có phân tâm vì một ý niệm khác là ta bị sai hết, nhớ như vậy nhớ như vậy. Chúng ta phải lễ Phật làm sao mà mỗi giờ lễ Phật chúng ta thấy hạnh phúc thật sự. Chúng ta an ổn, chúng ta hạnh phúc, chúng ta buông hết mọi việc đời. Chúng ta cảm thấy trần gian này mọi điều đều vô nghĩa hết.
[45:34]Chỉ còn cái giây phút mà ta quỳ dưới chân Phật là ta hạnh phúc tràn đầy rồi thì lúc đó mới là ta nhiếp tâm thành tựu được cái công hạnh lễ Phật. Chúng ta mới biết là hạnh phúc là khi quỳ dưới chân người. Quý thầy có nghe bài đó rồi phải không? Cái bài mà tôi có viết cái bài hát á. Hạnh phúc như là khi con quỳ bên chân Người. Đời sống bao khổ đau biết tìm đâu tiếng cười. Từng bước chân lầm than trong mê mờ u tối. Hạnh phúc như soi sáng lúc quay về bên Người. Nghe chưa? Nghe rồi.
[46:21]Nên chúng ta khi nào mà lễ Phật đến mức độ đó thấy tất cả đều vô nghĩa, khi quỳ trước bàn Phật rồi thế gian này vô nghĩa, không còn gì nữa hết, chỉ còn cái niềm hạnh phúc khi được quỳ dưới chân Phật thôi. Thì lúc đó ta lễ như vậy năm năm sau, 10 năm sau xuất hiện cái uy lực tràn đầy. Mà cái công đức đó tồn tại theo ta vĩnh kiếp. Muôn ngàn kiếp về sau không bao giờ ta mất cái duyên với Phật Pháp hết. Dù chúng ta trôi lạc ở đâu sẽ có người kéo chúng ta đi lên trở lại. Mà cái cái công đức làm Thánh tăng lên từ từ, tăng lên từ từ. Hạnh lễ Phật rất quan trọng. Đó là phương pháp thứ nhất để luyện tâm lực.
[46:57]Cái thứ hai để luyện tâm lực là gì? Là gì? Ai trả lời?
[47:04]Chính xác! Sao nói đâu đúng đó vậy cà? Lòng từ bi á, ừ. Ta phải tập từ bi mỗi ngày, hoặc ta ngồi thiền, hoặc lúc lễ Phật lúc nào cũng trải lòng thương yêu chúng sinh. Rồi khi gặp con người trong cuộc sống này dù người đó không biết nhưng ta vẫn thầm trong lòng ta nguyện lòng ta thương yêu những người đó hết. Thấy một con chim bay qua bầu trời ta cũng cảm thấy mình thương yêu, thấy một tia nắng rớt qua kẽ lá ta cũng cảm thấy thương yêu cuộc đời này. Cái lòng từ bi thương yêu nó tràn ngập vậy á. Nhiều khi một bụi cỏ dại nó từ bên lề đường nó bò bò đi vào đường, nhiều khi mình cũng thấy thương không không nỡ giẫm qua.
[47:43]Thấy cái gì cũng để cho ta thương yêu được hết. Mà mình tu như vậy tới năm năm, 10 năm sau, 20 năm sau cái lòng từ bi mình như vậy nó tràn ngập hết tất cả hết. Ai mình cũng thương được, con vật nào cũng thương được, cái gì cũng thương được á. Một cái mầm non mới nhú lên trong cái tia nắng mùa xuân lấp lánh lấp lánh ta cũng thương yêu nó, thương yêu và sợ ai đi ngang bẻ mất cái lộc. Đó Tết ai đi bẻ lộc á. Thì cái người mà tu được cái lòng từ bi như vậy thì có cái tâm lực tự nhiên làm cho chúng sinh họ thương mến. Là cái hội chúng thương mến đã đành rồi, những người ta gặp trong cuộc đời cũng thương mến ta
[48:24]và những chúng sinh trong thế giới vô hình, những loài như ma, quỷ, những cái vong linh vất va vất vưởng, chư thiên, trời, rồng gì cũng cũng quý mến ta. Và phải tập cho chân thành và sâu đậm chứ không có tập giả dối được. Nên cái từ bi mà ta tụng trong kinh á đó chỉ mới là khẩu hiệu, mới là chiêu bài, mà dễ trở thành lời nói dối nếu ta không thực hành. Ví dụ mình tụng bài: con nguyện thương yêu chúng sinh, mà chỉ tụng cho xong bài kinh thì rất dễ đó là lời nói dối, vì nói mà không làm là nói dối. Còn những lúc ta âm thầm không ai biết, không ai nghe mà ta nguyện lòng thương yêu chúng sinh đó là cái hạnh tu chân thật.
[49:05]Mà chính cái đó tạo thành cái uy lực và sự dễ thương. Làm cho ta đứng trên bục giảng mọi người tập trung quý mến thương yêu ta, lắng nghe ta. Bài giảng ta đến được với với tâm của con người. Nên cái lòng từ bi là điều không thể thiếu trong cái việc mà ta rèn luyện tâm lực để thành một giảng sư xuất sắc, một giảng sư thành công. Quý thầy cảm thấy mình sau này phải hoằng pháp, phải đem đạo lý đến cho con người thì bây giờ từng ngày, từng giờ đừng quên quán từ bi. Làm đệ tử Phật mà không quán từ bi là một thiếu sót lớn nha. Đạo của ta là đạo từ bi. Nên cái người tu theo Phật dù là người xuất gia hay tại gia
[49:50]phải luôn luôn quán từ bi mỗi ngày, phải thương yêu mọi người. Ngay cả những cái người mà họ có xúc phạm tới ta, họ chửi mắng ta, họ hạ nhục ta, ta vẫn thương họ được, vẫn thương họ được. Vẫn cảm thấy xót xa cho họ vì cái quả báo mà họ sẽ phải chịu chứ ta không giận, không ghét họ. Nếu có nghiêm khắc là chỉ bởi vì ta muốn cho họ đừng tạo nghiệp thôi chứ không phải vì ta hận, ta thù, ta ghét họ. Nhớ như vậy, cái lòng từ bi nó phải thấm như vậy mà phải được thử thách. Ví dụ như quý thầy nguyện lòng thương yêu chúng sinh thì mình gặp cái người giàu mình thương không? Cưng thấy mồ á, càng giàu càng dễ cưng chứ đừng nói.
[50:33]Rồi nhưng mà gặp cái người nghèo cưng không? Cưng luôn, đúng. Hông lẽ cho một điểm thì kỳ quá, đáng lẽ là đúng á. Người nghèo mà càng nghèo càng cưng. Chúng ta đi trên đường, ta thấy một cái người già cầm một xấp vé số đi mời từng cái người để mà họ mua giùm cho tờ vé số. Mà nếu ta nhìn ta thấy bình thản ta đi qua luôn thì ta chưa có lòng từ bi. Nhưng mà đừng mua. Thương thôi, để đó thôi đừng mua. Và mình mong rằng sau này mình sẽ dạy cái đạo lý cho mọi người đó để ai cũng biết tu, ai biết làm phước để họ không còn đi bán vé số dạo như vậy nữa. Là những cái mảnh đời bất hạnh á là ta phải có cái thương xót.
[51:10]Như có một cái tờ báo chụp được cái tấm hình ở cái vùng mà mà chiến tranh á, chụp hình một đứa bé lúc đó là trong cái thị xã đó bị loạn lạc đứa bé đó chạy vô cửa hàng ăn cắp, giật được một cái tảng thịt, một cục thịt bự bự cỡ này. Nó chạy được nó mừng quá nó đâm đầu nó chạy về nhà. Không biết sao phóng viên chụp được bức hình đâu ở Phi Châu á. Nhìn đôi mắt của nó là vừa mừng mà vừa sợ. Sợ vì sợ ai nắm đầu lại oánh, mừng là bởi vì ôm được tảng thịt cho gia đình nó vì lâu quá không có thịt ăn. Mà chụp được cái bức hình đó đôi mắt nói lên tất cả mọi điều. Bức hình đó được giải liền, được giải báo chí liền.
[51:44]Thì chúng ta thấy nhìn vô tại sao được giải? Bởi vì thế giới thương yêu thế giới họ biết thương xót cái cảnh khổ đó nên họ cho cái bức hình đó là đạt giải. Nè bức hình đó nói đến cái nỗi đau khổ, thiếu thốn, nghèo đói của cái cái vùng đó, khu vực đó. Và cái lương tâm con người là như vậy nên bức hình nó được giải thì ta cũng vậy, đi qua những cảnh đời đau khổ ta phải thương yêu. Rồi cái thử thách nó phải được đi qua trong nghịch cảnh. Có người nó không thương ta, họ ghét ta, để coi ta có thương lại được hay không á. Chứ cái người mà thương mình mình thương lại thì sao? Bình thường. Người ghét ta mà trong lòng ta vẫn không ghét,
[52:22]ta vẫn thương họ được thì đó mới là sự chín muồi của lòng từ bi. Nên quý thầy tu nhớ như vậy mà cầu mong cho quý thầy sau này sẽ gặp được nhiều người ghét. Nha. Nhiều người ghét nói bậy, chửi mình nữa. À phải cầu mong như vậy, lúc đó ta mới có dịp để rèn luyện cái lòng từ bi mình vững chắc, kiên cường không nhúc nhích. Lúc đó ai cũng khen mình nói: "Thầy hay quá, thầy đẹp trai quá, thầy giảng hay quá, chùa thầy to quá, con thương thầy quá." thì bảo đảm mình thương lại liền. Nhưng gặp mặt này: "Nè nè, nè thằng đó tu giả dối nha." Mà mình vẫn thương họ. Họ xúc phạm mình tới mức độ đó nhưng mà lòng vẫn thương họ.
[53:04]Thì lúc đó lòng từ bi mới gọi là chín muồi. Đồng ý không? Thì cầu chúc cho quý thầy nha, sẽ gặp được những người như vậy. Rùng rợn không? Phải vậy nhưng phải đối diện. Trong đời ta phải có đối diện những nghịch cảnh như vậy đó. Những cái người mà họ ghét mình như vậy, họ hạ nhục đến mình như vậy nhưng mà thẳm sâu mình vẫn thương họ. Rồi cái yếu tố thứ ba để tạo thành cái tâm lực là sự quan tâm đến với những người chung quanh của mình. Là này hồi nãy chúng ta tập cái tâm từ bi á là tập tổng quát, bây giờ tới cái sự quan tâm cụ thể là những huynh đệ chung quanh ta lúc nào cũng nằm trong cái tầm phủ sóng của ta. Ừ.
[53:41]Nằm trong tầm phủ sóng của ta là sao? Ta biết luôn luôn biết huynh đệ của ta ở trong chùa chung một chùa á cái người đó hôm nay khỏe hay là mạnh, buồn hay vui, việc học có tiến bộ hay không, việc tu hành có tiến bộ hay không, có phạm sai lầm nào phải cần sửa đổi hay không. Lúc nào cũng nằm trong sự quan tâm của ta để ta giúp người đó vượt qua khó khăn. Người đó yếu, bệnh để ta chăm sóc. Người đó buồn, ta tìm cái giúp người đó vững lòng đi qua. Người đó có phạm sai lầm, ta giúp người đó đứng lên vượt qua khỏi cái sự vấp ngã, vân vân. Là luôn luôn như vậy. Và cái công đức mà sống vị tha, quan tâm như vậy á
[54:19]cái công chính công đức này nè nó mới tạo thành cái tâm lực rất là khủng khiếp. Tại sao? Cái nhân chỗ này nè. Cái nhân mà ta quan tâm sâu sắc vào trong tâm hồn và đời sống của huynh đệ ta sau này nó thành một cái tâm lực kết nối ta với thính chúng rất dữ dội. Khi ta xuất hiện trước hội chúng mọi người chăm chú nhìn vào ta, theo dõi từng lời từng ý của ta liền. Tại sao? Cái nhân chính ở chỗ này. Tại sao? Ai biết? Tại sao cái nhân quan tâm mà lại tạo ra cái sự cuốn hút đối với thính chúng?
[54:58]Vì nó có hai lý do. Một cái lý do khi mà ta hay ta hay quan tâm, quan tâm mà tới nỗi mà biết cái đời tâm tình đời sống người đó thì cái mức quan tâm đó cái tâm của ta để ý như vậy có sâu sắc không? Rất là sâu sắc. Cái sau này cái lâu ngày nó thành cái bản lĩnh. Thành cái bản lĩnh của ta lạ lắm, khi ta đứng trước mọi người vậy cái sự sâu trong đời sống của ta đi vào trong tâm mọi người nữa, nó thành cái sâu. Cái đó không nói được. Yếu tố tâm linh không nói được. Nhưng mà khi ta quan tâm mọi người một cách sâu sắc cụ thể như vậy để ta giúp đỡ thì khi ta đứng trước hội chúng ta nhìn xuống thì tâm ta kết nối rất chặt với mọi người.
[55:40]Đó là cái thứ nhất là coi như rèn luyện cái tâm lực. Cái thứ hai nó thuộc về nhân quả. Là ta quan tâm tới người thì người quan tâm tới ta. Nên tự nhiên ta đứng trước là mọi người chú ý mình liền. Dù mình không muốn nhưng mà tự nhiên mọi người chú ý liền bởi vì ta hay chú ý người khác. Ta chú ý trong cái thương yêu chứ không phải ta canh chừng, ta bắt bẻ, ta săm soi, ta xỉa xói, không phải. Nhưng vì ta luôn luôn quan tâm để thương yêu nên sau này ta xuất hiện ở đâu mọi người cũng quan tâm mà quan tâm với lòng thương mến ta, thương mến ta. Chứ không phải là quan tâm để canh chừng ta, bắt bẻ ta. Đó ổng nói câu đó cái chữ nãy ổng nói hơi ngọng á. Nói:
[56:19]"Ủa, ông này cười như vô duyên quá à. Người ta đang giảng giảng cứ đứng đi qua đi lại hoài." Thì cái đó là không phải là quan tâm, chú ý thương mến mà là canh chừng, bắt bẻ. Nhưng mà ta không có gieo cái nhân đó. Huynh đệ ta có khi có lỗi ta vẫn thương chứ ta không bắt bẻ, canh chừng ai hết. Nên sau này ta được cái sự cuốn hút trở lại. Rồi thiền định, đây chỗ này chỗ thầy Minh Lẫn mới nói mới đúng nè. Thiền định tạo thành cái tâm lực rất rõ. Cái người mà chứng được thiền định ở mức độ nào đó, bắt đầu có chứng thì tự nhiên có sức thu hút. Chứng được chánh niệm tỉnh giác thôi, chưa nói tới sơ thiền, nhị thiền, tam thiền.
[56:56]Chứng được chánh niệm tỉnh giác là bắt đầu có sự thu hút đối với mọi người rồi. Mắt ta không nhìn thấy nhưng quỷ thần nhìn thấy. Cái người mà chứng được thiền định á quỷ thần nhìn vô thấy người đó tỏa hào quang. Còn mắt người không thấy. Nên quỷ thần chú ý vì thấy được người đó có hào quang. Còn ta, ta bị người đó thu hút một cách tự nhiên ta không biết tại sao do mắt ta không thấy người đó có hào quang. Mà tại sao đó là nói là hào quang, nhưng mà tại sao là cái người tâm họ trống thì họ lại thu hút? Vì nó có cái quy luật vật lý. Ví dụ như là nước đi từ đâu tới đâu?
[57:39]Ừ, từ đổ từ cao đi xuống xuống thấp, đúng vậy. Gió? Đúng rồi, cũng đi từ nơi áp suất cao đổ về nơi áp suất thấp, đó, cũng vậy. Chúng ta thấy cái gì thấp á, cái gì không, cái gì thiếu, cái gì trống á là tỉ là cái nơi nơi đón nhận. Cũng vậy, ví dụ như à ta quên mình, ta không thấy mình là quan trọng nữa, tâm ta trống bốc không thấy có mình nhưng mà tự nhiên mọi người lại thích nhìn ta, thích chú ý ta. Còn nếu ta lúc nào cũng muốn làm nổi thì mọi người họ chán ghét á. Không tin quý thầy muốn làm nổi đi. Đi đâu cũng gõ thùng, gõ chén, đi đâu cũng nói lớn tiếng đi. Tự nhiên mọi người chán ghét à. Tôi nhớ hồi nhỏ có một lần đi Cần Thơ
[58:29]vào ở trong cái lễ hội gì đó đông người ban đêm đông người lắm. Mọi người cũng đi bộ trên đường á, đường phố không còn chỗ đi xe, chỉ đi bộ thôi vì đông nghẹt à, lúc đó đường phố cũng còn nhỏ. Con đường đó gần cái bến Ninh Kiều á, lúc đó có cái ngôi nhà cổ nào đó mà dơi nó bay ra đầy đây đây đây hết trơn. Mọi người đang đi bình thường bỗng nghe tiếng ba bốn cô gái la thất thanh lên, mọi người dừng lại quay. Vì lý do gì? Ba cô đó gặp một người quen. Thì người quen gặp thì chào được rồi mà la lên vậy đó. Để làm chi vậy? Để làm chi? Đúng, gây sự chú ý. Thì sau đó mọi người còn chú ý nữa không? Khi tìm ra nguyên nhân rồi, chỉ mấy người nữ lãng nhách.
[59:09]Gặp người quen tới họ tiếp tục đi và không chú ý nữa, chỉ còn một người duy nhất nhớ ba cô đó là ai? Người này. Mấy chục năm qua rồi vẫn còn nhớ cái sự kiện đó để mà hiểu được sự đời thêm chút nữa, không gì hết. Có một lần tôi đi tham quan cái vùng núi đó, đi vô gặp cái ông đó, ổng mặc đồ tu. Đầu ổng cũng cạo mà lăm nhăm lăm nhăm vậy đó, nói chung ổng ôm cái bát nhang cắm cây nhang vô ổng ôm. Ổng đi từ chân núi ổng lên, ổng la: "Nam mô A Di Đà Phật!" Ổng đi mà cứ ổng ôm ổng đi ổng la la la la la lên. Không biết ổng tu kiểu gì lạ, ôi cái pháp môn này rất là lạ, ôm bát nhang đi cùng núi từ chỗ vùng này qua vùng kia mà niệm:
[59:45]"Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát!" Ổng la lên. Cứ lạ lùng quá mà mới tôi mới hỏi đường á tôi hỏi: "À đường trên núi đi về vùng đó đi đâu?" Ổng nói: "Rồi, thầy theo tôi." Đi với ổng mà mình đi mình mắc cỡ, giống như ổng là cái ông đạo nào mình đệ tử đi theo ổng ổng la. Cười chết mồ. Rồi sau này cái sau này cả núi người ta ghét ổng. Tại vì gây sự chú ý á. Gây sự chú ý cái người ta lại ghét. Còn khi mà tâm mình trống, mình quên mình, mình không để ý tới mình nữa, mình thấy mình như cát bụi, như hư vô thì tự nhiên được mọi người thương mến. Cho nên cái thiền định á nó đạt được hai yếu tố: là khi tâm ta trống á thì bỗng nhiên ta như thấp xuống
[1:00:29]nên ta cũng là một yếu tố để gây sự cuốn hút mọi người. Cái thứ hai nữa là khi tâm ta trống á, bỗng nhiên tâm ta sáng, tâm ta mạnh. Nhớ như vậy, khi tâm ta trống thì tâm ta sáng, tâm ta mạnh, cũng thêm tạo nên cái yếu tố tâm linh rất rõ ràng, rất rõ ràng. Khi tâm ta trống thì ta như thấp xuống nên ta thu hút là đành rồi. Nhưng khi tâm ta trống thì tâm ta cũng mạnh lên, sáng lên, cũng tạo thành yếu tố thu hút. Do đó một giảng sư mà muốn có tâm lực thì giảng sư đó phải làm sao? Phải làm sao? Phải phải tọa thiền thôi, không còn cách nào khác. Phải ngồi thiền.
[1:01:12]Có lần tôi nghe một vị thầy đó ở đâu dưới Cao Lãnh á, nghe nói vị thầy đó giảng hay, người ta thích. Thì khi tìm hiểu thêm thì mới thấy rằng vị đó ngồi thiền rất là tốt. Nên tôi hiểu đó là nguyên nhân đó. Có thể là lời nói vị đó mộc mạc, đơn sơ, không có màu mè, không trau chuốt, nhưng mà do cái sức thiền định nên khi vị đó xuất hiện trước mọi người cũng làm mọi người yêu mến, muốn nghe, cũng là cái tâm lực do thiền định mà có. Nên quý thầy vậy, là muốn làm giảng sư giỏi, có cái sức cuốn hút, có cái tâm lực để đi vào lòng người, thì quý thầy cũng phải ráng tọa thiền, siêng năng tọa thiền, đừng bao giờ bỏ,
[1:01:55]phải nghiêm khắc với chính mình, buộc mình phải tinh tấn không gián đoạn, chứ đừng có ngồi được một bữa rồi ba bốn bữa bỏ, rồi sanh cái trớn. Phải làm sao cái người tu trong đạo Phật á xem cái việc ngồi thiền giống như việc ăn cơm, uống nước á, chứ đừng có ngồi được một bữa rồi ba bốn bữa bỏ, rồi sanh cái trớn. Phải làm sao cái người tu trong đạo Phật á xem cái việc ngồi thiền giống như việc ăn cơm, uống nước á, nó là điều không thể thiếu. Mà muốn như vậy á thì nó có hai trường hợp. Một là ngay từ đầu quý thầy đi vô chùa là quý thầy được tu thiền rồi, cho nên cái sự nghiệp tu thiền nó theo mình suốt đời luôn, mình thành ăn cơm, cơm ăn, nước uống luôn.
[1:02:37]Trường hợp thứ hai là nếu mình vào cái chùa đó, chùa đó không phải tu thiền, thì quý thầy phải đi tìm hiểu pháp môn tu thiền và kiên trì giữ gìn suốt đời luôn, tự mình dựng lên một cái nề nếp mới để cuộc đời mình bước thêm một bước rất dài, đó là quyết tâm tu tập thiền định suốt đời, chứ không có bỏ. Có lần vậy, hồi trước tôi có ở với một người sư đệ ở chung trong thiền viện thì cái việc thiền định là coi như bình thường, sau này người đó rời chúng đi về Sài Gòn học, tôi mới hỏi lại là: "Ủa em có ngồi thiền nữa không?", nói nói dạ khi nào em mệt em mới ngồi, tôi thất vọng liền. Và tôi thấy rằng cái người này việc tu thiền
[1:03:14]nó chưa có thành là cơm ăn, nước uống, có thể bỏ được, nó mất cái cốt của cái người xuất gia, rất là uổng. Nên ở đây quý thầy phải ráng siêng năng, siêng năng mà ngồi thiền. Rồi một cách nữa là sau này khi quý thầy tập giảng, quý thầy phải tập vừa giảng vừa theo dõi tâm của thính chúng. Theo dõi. Ta rất là bận tâm, phải vì sao? Sắp xếp câu chữ, phải không, dàn ý trong đầu mình, ý đó sắp nói tới ý gì, rồi nói ý gì kế tiếp, câu đó phải nói như thế nào cho mạch lạc, nên thường ta bị bận tâm rồi, ta không còn dư cái tâm để mà theo dõi thính chúng nữa. Nhưng mà nếu ta đạt được cái bản lĩnh cao của một vị giảng sư thì
[1:04:04]ta vừa giảng, miệng thì nói, lòng thanh thản, ý tứ tuôn trào, mà lúc nào cũng quan sát thính chúng xem họ như thế nào. Có một biến động nhỏ ta biết liền, một sự chểnh mảng, lơ đễnh ta biết liền để ta điều chỉnh liền. Mà chính cái sự vừa giảng vừa theo dõi nó tạo thành tâm lực của ta. Tâm lực lúc ta giảng luôn luôn có sự kết nối giữa tâm với tâm, giữa người giảng và người nghe, là chính nhờ cái sự theo dõi chặt chẽ, thường xuyên này. Nên nếu mà ai giảng đạt được cái mức độ miệng vẫn nói lưu loát, ý tứ vẫn chặt chẽ, nhưng mà vẫn theo dõi được thính chúng là người đó đạt được cái bản lĩnh rất cao trong việc diễn giảng,
[1:04:48]mà lúc đó tâm lực đã xuất hiện, tâm lực đã xuất hiện rồi. Và thường cái người nào mà vừa giảng hay mà vừa vẫn theo dõi được thính chúng thì thường bài giảng rất hấp dẫn, tại người nghe bị cuốn hút bởi cái tâm lực đã có rồi, họ sẽ đón nhận được bài giảng rất là tốt. Và cao hơn nữa, cao một mức nữa,
[1:05:11]là đến mức độ thế này là khi ta giảng mà tâm ta ở nơi thính chúng á, tâm ta không còn ở nơi ta nữa, tâm ta không còn ở nơi cái miệng, nơi cái đầu ta để phân tích câu chữ nữa, mà tâm ta ở nơi thính chúng. Quý thầy thử trình bày cái hiểu của mình về cái trạng thái là khi giảng mà tâm mình ở nơi thính chúng á. Ai cầm micro trả lời đi.
[1:05:42]Giảng mà tâm ở nơi thính chúng á,
[1:05:47]nó cao hơn cái mức độ vừa giảng vừa theo dõi, nghĩa là gì? Giảng mà tâm ở nơi thính chúng nghĩa là gì? Thật ra trạng thái đó là trạng thái không nói bằng lời được đâu. Không nói bằng lời. Chúng ta sẽ cố gắng diễn tả, nhưng mà lời không nói hết, bởi vì đó là một trạng thái xuất thần. Trạng thái xuất thần á là do lúc sống ta quan tâm được với mọi người, lúc giảng ta theo dõi được thính chúng, và kết hợp với ta có cái thiền định nữa, lúc ta giảng tâm ta lúc nào cũng dưới mọi người á. Mà cái trạng thái tâm đó nó an trú chứ nó không phải là dồn như là thầy Minh Lãng nói đâu. Không phải là ta phải cố gắng dồn ép, không có,
[1:06:28]không hoàn toàn không có cố gắng dồn ép gì hết, tâm lúc nào cũng tự nhiên nằm ở dưới. Đạo lý ta giảng hết câu này tới câu kia không phải từ tâm ta nữa mà từ tâm của đại chúng nó vang lên. Chính từ tâm của đại chúng, của hội chúng á mà ta có hết câu nói này đến câu nói kia nó vang ra. Chứ không phải là từ tâm ta suy nghĩ, không phải là do ta động não, ta sắp xếp câu chữ trong đầu ta nên ta nói ra miệng, mà đến cái mức độ này là sự xuất thần, tâm ta dưới đại chúng á, vì hội chúng như thế nên câu đó sẽ được phát ra, vì hội chúng như thế câu đó sẽ tiếp tục phát ra, câu đó tiếp tục phát ra, ý đó tiếp tục phát ra thành hết bài giảng luôn.
[1:07:04]Mà đây là một trạng thái rất nhẹ nhàng, rất tự nhiên, đó là một trạng thái xuất thần, và người nghe như bị mê hoặc, lúc nào họ cũng bị dính chặt với đạo lý và dính chặt với người giảng. Đây là trạng thái rất đặc biệt, là do nhiều yếu tố hợp thành. Có thể là quý thầy cũng hiểu mơ mơ phải không, nhưng mà mà nói ra không hết được. Đây là trạng thái xuất thần, xuất thần nhẹ nhàng thôi. À. Rồi tầm cỡ của hội chúng cũng là sự thử thách của giảng sư. Ví dụ như một người có thể nói rất hay trong một cái buổi đàm đạo chừng mười mấy hai mươi người, nhưng mà hễ một trăm người bắt đầu lúng túng, bởi vì cái tâm lực không đủ phủ sóng, không đủ phủ trùm.
[1:07:43]Hoặc có người một trăm người nói hay nhưng mà năm trăm người là lúng túng. Hoặc có người năm trăm người nói thì bắt đầu hay nhưng mà ba ngàn người trước mặt mình là run liền, do tâm lực không đủ để phủ sóng, phủ trùm để mà tâm lực mình khống chế được hết tâm của người nghe, mà tâm người nghe đông quá nó tạo thành một cái rừng tâm lực rất là mạnh, mình xuất hiện trước đó mình bị khớp liền, là do cái tầm cỡ của hội chúng nó lớn hơn cái tâm lực của mình, bị run. Còn như Phật thì sao? Phủ trùm vô hạn. Cả người ngồi trước mặt Phật nghe cũng bị hấp dẫn, cái người khuất sau vách cũng nghe cũng bị hấp dẫn,
[1:08:20]người trời rồng ở trên xa cũng bị hấp dẫn, tâm lực của Phật là vô lượng. Còn chúng ta cố gắng càng nhiều càng tốt là do lòng từ bi mình lớn, do lòng kính Phật mình vô hạn, do sức thiền định mình an ổn, do cái đời sống vị tha, thì cái tâm lực của ta sẽ càng lúc càng càng lớn, nghĩa là hội chúng lớn mà ta không bị bị lung lay. Ta vẫn vững vàng nhiếp được hội chúng trong cái tâm của mình, nghĩa là nhiếp được tâm của hội chúng trong tâm của mình, là ta đạt được tới cái bản lĩnh rất cao của một giảng sư. Hội chúng càng lớn, tâm ta càng lớn theo, năm ngàn người ta cũng nhiếp được tâm của hội chúng, mười ngàn người tâm ta cũng nhiếp được tâm hội chúng vào
[1:09:00]tâm của mình để mà cho mọi người bị cuốn hút theo bài giảng luôn. Thì đó là cái cái bản lĩnh rất là cao và chúng ta ráng tu tập để mà đạt được như vậy. Mà khi mà ta có được cái tâm lực đó rồi á thì tâm lực đó nó tồn tại vượt thời gian, không gian. Ví dụ như là những lời Phật dạy từ ngàn xưa được truyền dịch qua nhiều ngôn ngữ, nhưng mà tới ngày nay ta đọc lại ta vẫn cảm nhận như là Phật đang còn đang còn hiện diện, ta vẫn cảm thấy cái xúc động, cái uy lực của Phật tràn đầy trong từng lời Phật nói, dù đã đi qua nhiều ngôn ngữ, đi qua nhiều thời gian, đi qua nhiều không gian. Còn tâm lực ta yếu hơn á thì khi mà dịch cái lời ta qua ngôn
[1:09:45]ngữ khác ta thấy mất cái lực liền, hoặc là cách một tháng, một năm mà nghe lại cái băng đó ta thấy mất cái lực liền. Còn nếu cái người mà có tâm lực á thì cái tâm lực đó nó dính trong cái lời giảng, trong bài giảng nó truyền đi, nằm trong cuốn sách, cuốn sách đọc tới ai người đó xúc động, rớt vào trong cái băng, cái đĩa, rồi đi qua nhiều lớp, qua nhiều thời gian, người ta nghe người ta vẫn xúc động, vẫn bị thấm, giống như là nghe gần như nghe cái người giảng hiện diện trước mắt mình, là nếu bài giảng có tâm lực ở trong. Còn nếu bài giảng không có tâm lực, có cố gắng thu băng, đem và bỏ máy qua người khác nghe, nghe họ nhàm họ bỏ đi chỗ khác liền,
[1:10:20]họ không chú ý nữa, là vì không có tâm lực dính trong bài giảng á, tâm lực yếu quá. Còn nếu bài giảng có tâm lực, ta thâu trong cái băng, cái đĩa, ta đem qua cái máy đó, ta thâu nữa, ta thâu sang qua máy nữa rồi sang qua máy nữa, sang qua mấy lần như vậy, mở ra cái người nghe vẫn bị cuốn hút. Nên cái tâm lực nó vẫn tồn tại, nó không có biên giới, cái hay của nó vậy, nó vô hình nhưng mà khi nó có rồi thì nó xuyên xuyên thấu, trùm phủ và kéo dài rất là lâu, ảnh hưởng rất là lớn. Nhưng để có cái yếu tố tâm linh, cái tâm lực đó thì ta phải tu, tu phải rất là tốt, khá nhiều. Thì chúng ta nhắc lại, cái người mà càng quên
[1:10:57]mình, thấy như mình không quan trọng, dù giảng được một bài giảng hay vẫn không thấy, không chấp công, làm mọi việc công quả trong chùa vẫn không có kể công, được nhiều người yêu mến vẫn không thấy đó làm tự hào, vì người đó quên mình, vô ngã thì người đó càng gây được sự cuốn hút, càng có được tâm lực. Giống như một vị A-la-hán, một vị A-la-hán là người đã ngộ vô ngã hoàn toàn, thì trong kinh Tứ Thập Nhị Chương gọi là gì? Gọi vị A-la-hán là làm sao? Trụ... động... Đúng. Thầy thuộc bài đó, trụ động thiên địa. Là tuy vị đó thấy mình như hư vô, mình không còn là gì cả vì vô ngã, nhưng mà vị đó hiện diện ở đâu là cả trời
[1:11:44]đất rúng động, cái sức cuốn hút mạnh mẽ như vậy. Dùng cái từ mà kinh Tứ Thập Nhị Chương gọi rất là hay: trụ động thiên địa. Thì cũng vậy, ta chưa phải là một vị A-la-hán, nhưng mà khi ta biết quên mình, không thấy mình là gì quan trọng hết, thì tự nhiên ta lại cũng có cái sức cuốn hút như vậy. Tôi có một cách để đánh giá rằng một người có cái năng lực tâm linh, có tỏa sáng tâm linh hay chưa, là bằng cách nhìn người đó làm những việc bình thường, quan sát người đó làm những việc bình thường, là biết người đó có cái năng lực tâm linh tỏa sáng hay chưa. Vì sao? Hồi sáng quý cô trả lời câu này dữ lắm á, mà trả lời trật.
[1:12:22]Là sao quan sát một người làm việc bình thường, là biết được cái người đó có cái tâm linh tỏa sáng hay chưa? Hồi sáng á, quý cô cứ trả lời thế này: Cứ nhìn cái người đó làm việc điềm đạm, tươm tất, chu đáo, là biết người đó tỏa sáng tâm linh. Thực ra, những cái yếu tố mà khi mình làm việc mình tươm tất, chu đáo, điềm tĩnh thì chỉ là căn bản thôi, chứ chưa phải là tỏa sáng tâm linh. Cái tỏa sáng tâm linh á là làm một việc này mà vẫn biết được nhiều việc khác. Làm một việc này rất chu đáo, rất tươm tất, nhưng mà những việc chung quanh xảy ra cái gì biết hết. Đó là người có sức tỏa sáng tâm linh đó, tâm lực bắt đầu có rồi.
[1:13:03]Mà thường là những người mà có khả năng lãnh đạo sau này đó mới có cái tâm lực đó. Thế còn ví dụ ai ngồi lặt rau là chỉ biết cọng rau, không còn biết gì nữa; ăn cơm chỉ ngồi biết gắp gắp cơm ăn, không còn biết gì nữa; những người đó không có tâm lực. Hoặc là nói giao cắt bánh thì chỉ biết cắt bánh thôi, thậm chí lát mất miếng luôn cũng có nữa. Thì người đó không có tâm lực. Chúng ta để ý đó, cái cách ta làm việc chỗ đó đó, quan sát chính mình là mình hiểu là mình có tâm lực chưa. Cái bài tập này á, kỳ này chúng ta sẽ làm bài tập như thế này: Ta sẽ nhận xét ba vị giáo thọ, nhưng mà đừng nói tên ra.
[1:13:37]Ta chỉ làm cái mã số thôi, và cũng không cần người chấm bài không cần biết là ai. Ta nhận xét là vị giáo thọ A, giáo thọ B, giáo thọ C, tâm lực của mỗi vị đó khi trình bày vấn đề, khi giảng dạy như thế nào, mình nhận xét. Và chỉ mình mới biết người A này là ai, B là ai, C, chứ mình không nói tên. Tại vì phê bình như vậy nó mà phải là người thật, việc thật chứ không được tưởng tượng nha. Và người Đ, người D là ai? Là chính mình. Là chính mình là người D này. Mình nhận xét coi cái tâm lực mình như thế nào khi mình nói chuyện, khi mình trình bày, khi mình nói đạo lý, là cái sức cuốn hút của mình như thế nào với mọi người, cảm nhận cái vô hình đó.
[1:14:17]Tức là hôm nay chúng ta làm bài tập là cảm nhận yếu tố tâm linh, cái tâm lực của người người giảng, gồm có ba vị giáo thọ và một là là mình. Cũng nói như vậy, gọn chừng 5, 10 phút thâu vào trong băng rồi nộp bài. Kính chúc mọi người có được tâm lực phi thường để làm giảng sư xuất sắc. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.