[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:29]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:42]Chúng con cũng thỉnh sư phụ an tọa, cũng thỉnh quý ngài đồng an tọa. Xin mời quý Phật tử chúng ta an tọa.
[1:15]Dặn đừng có ai đi tới đi lui nữa nha, không có nhúc nhích á.
[1:28]Thấy ai đứng lên ngồi xuống nắm kéo lại, không có để nhúc nhích đi tới đi lui thế này, không có nói chuyện. Ai bên cạnh mình nói chuyện, nhắc người ta.
[1:44]Thấy ai đi kéo người ta lại.
[2:01]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con kính bạch trên ngài Phó Tăng thống Phật giáo Vương quốc Campuchia. Chúng con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng và Ni đang có mặt trong đại lễ kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo tại Thiền Tôn Phật Quang này. Kính thưa tất cả quý Phật tử.
[2:30]Hiện nay, cái số người mà ta đếm được là đang là 45.000 người có mặt ở đây cùng ngồi thiền.
[2:46]Năm nay trời rét hơn mọi năm.
[2:51]Để khi 4:00 sáng mai ta bắt đầu cử hành lễ chính, ta sẽ cùng nhau im lặng ngồi thiền 30 phút để tưởng niệm giây phút mà Đức Phật đắc đạo sau 49 ngày nhập định. Và sáng mai, chúng ta lo việc cá nhân xong sớm thì đúng 4:00 tất cả ngồi yên bất động ở đây. Chúng ta sẽ làm lễ hướng về nơi đại tượng chứ không hướng về ở đây nữa, hướng về phía trên đó.
[3:35]Hôm nay, chúng ta được vinh dự đón đoàn của Đức Tăng thống Phật giáo Campuchia về đây dự lễ cùng với chúng ta, để chia sẻ cái niềm tôn kính lên với Đức Phật, cũng là để nối kết cái tình đoàn kết của Phật giáo của hai dân tộc, mà cũng là tình đoàn kết của hai dân tộc.
[4:01]Đừng để mấy đứa nhỏ nó la, nó la làm động tâm người khác không nghe pháp được mang tội.
[4:14]Bồng ra ngoài.
[4:21]Hồi
[4:40]chiều, có đài truyền hình Bà Rịa phỏng vấn thầy
[4:49]nói về cái ý nghĩa của cái việc mà đoàn Phật giáo của Vương quốc Campuchia sang đây để dự lễ thành đạo. Thầy có, dĩ nhiên là ý của đài muốn ta nhấn mạnh đến cái tình đoàn kết của hai dân tộc. Sẵn đó thầy có nói điều này: Ta nên có một điều ước quốc tế bắt buộc các quốc gia nào cùng có chung đường biên giới thì vĩnh viễn không được xung đột với nhau, không được gây chiến với nhau, phải sống với nhau trong hòa bình, yêu thương, tử tế, đùm bọc. Đó là điều mà Việt Nam và Campuchia đã làm được và đang làm được. Cũng giống như hồi chiều trong buổi giao lưu, Đức Tăng thống Đức Phó Tăng thống đã nhắc lại cái sự kiện mà quân đội Việt Nam sang để
[5:50]giúp đỡ để bảo vệ cái dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Cũng giống như Đức Phó Tăng thống đã nói, Phật giáo Campuchia sang giúp đỡ dựng lại cái Phật à Phật giáo Việt Nam sang giúp đỡ dựng lại cái Phật giáo Campuchia. Ngài rất là khách quan, nói những điều nghĩa tình như vậy.
[6:15]Đó là điều mà chúng ta đã thực hiện, là khi hai dân tộc mà ở gần bên nhau thì phải đùm bọc, đoàn kết, yêu thương, bảo vệ nhau. Chúng ta đã làm được điều đó trong quá khứ, và ta cũng yêu cầu không phải chỉ Việt Nam với Campuchia, mà ta yêu cầu toàn bộ thế giới phải làm giống như Việt Nam đã làm cùng với Campuchia đã làm. Những quốc gia nào chia sẻ chung một đường biên giới thì không được xung đột với nhau. Mà ở đây vậy, cùng với tinh thần mà xây dựng hòa bình đó vậy, cái Phật giáo Campuchia, Phật giáo Việt Nam chúng ta đoàn kết với nhau. Đoàn kết nhau, chúng ta học hỏi được nhiều điều từ Phật giáo Campuchia, cũng giống như Phật giáo Campuchia cũng
[7:08]sẽ học hỏi được nhiều điều từ Phật giáo Việt Nam. Như hôm nay vậy, các ngài qua đây, các ngài cũng khen ngợi cái đại lễ thành đạo của chùa Thiền Tôn Phật Quang là một mô hình mà các ngài nói các ngài cũng tham khảo để về có thể áp dụng lại bên Campuchia. Đó là cái tinh thần của các ngài là vậy.
[7:34]Hôm trước, ngài Tăng thống của Phật giáo Mã Lai cũng ngỏ ý sang đây trong dịp này, thì ta cũng chuẩn bị mọi thứ, và cứ nghĩ rằng sẽ có dịp Phật giáo Việt Nam chúng ta đón cả đoàn Tăng thống của Malaysia và đoàn Tăng thống của Campuchia. Nhưng bất ngờ có cái trục trặc về cái thủ tục hành chính một chút. Không ngờ ngài Tăng thống của nước Malaysia lại mang quốc tịch Sri Lanka, ngài không đổi qua quốc tịch Malaysia thì nó không được hưởng cái quy chế của khối ASEAN. Vì những quốc gia trong khối ASEAN thì được hưởng một quy chế đi xuyên biên giới tự do, không cần visa. Ta đến biên giới, đến cửa khẩu, ta chỉ trình cái passport
[8:22]thôi, cái hộ chiếu thôi, không cần phải xin visa. Là nước trong khối ASEAN nào được cái quy chế hưởng quy chế đó. Nhưng mà ngoài cái khối ASEAN thì phải xin visa. Thì lúc đó cái cái Tổng Lãnh sự, Đại sứ quán của Việt Nam ở Malaysia thì ổng nói ổng không có chức năng là ở Malaysia mà lại cấp cái cái visa cho một công dân của Sri Lanka. Nó lại trái nguyên tắc. Cho nên cứ nhì nhằng nhùng nhằng rồi hết thời gian. Cho nên ngài Tăng thống Malaysia là ngài Dhammaratana cũng gửi lời sang xin lỗi vì trục trặc thủ tục ngài không qua được, nên chúng ta cũng không có được hân hạnh đón tiếp ngài. Nhưng tuy nhiên cái sự
[9:06]cái cái tấm lòng nhiệt tình của đoàn của ngài ngài Tăng thống Phật giáo Campuchia đã đến đây đã chia sẻ làm cho chúng ta cũng rất là cảm động. Thì thầy định là nhân dịp có hai đoàn Tăng thống của hai nước, thầy có một cái đề xuất
[9:29]là xin cùng với Việt Nam, xin Phật giáo Campuchia và Phật giáo Malaysia đề xuất lên tổ chức UNESCO một điều
[9:42]là xin hãy công nhận ý nghĩa sự giác ngộ của Đức Phật là một di sản văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá của loài người.
[9:59]UNESCO là một tổ chức của Liên Hiệp Quốc, là một tổ chức phi chính phủ
[10:06]về giáo dục, khoa học, văn hóa. Và thiên nhiều về văn hóa. Thì thường UNESCO hay có công nhận những cái di sản quý của thế giới, gọi là di sản văn hóa của thế giới. Di sản văn hóa của thế giới thì gồm hai loại: loại là tangible, hữu hình; một loại intangible là phi vật thể, vô hình, chỉ là những khái niệm.
[10:42]Ví dụ như là ở Campuchia có cái quần thể kiến trúc Angkor là di sản văn hóa của thế giới. Campuchia có đền Prasat Preah Vihear, hổng biết nói có đúng tiếng Campuchia không, biết nói phát âm biết có đúng không nữa. Cũng là di sản văn hóa của thế giới được công nhận. Hoặc là khu đền Sambor Prei Kuk là địa điểm khảo cổ của Ishanapura cổ. Không biết phát âm có đúng không, sợ ngài cười hổng hiểu nói cái gì.
[11:19]Còn Việt Nam ta cũng có những di sản văn hóa gọi là vật thể đó, hữu hình. Ví dụ như là phố cổ Hội An, quần thể di tích Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, à Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ. Đó là những di sản tangible là hữu hình nhìn thấy được. Rồi còn cái di sản mà văn hóa phi vật thể mà được UNESCO công nhận á, ở Campuchia có là: vũ kịch cung đình của Campuchia, nghệ thuật sân khấu Sbek Thom, không biết nói có đúng không nữa.
[11:58]Cái nghệ thuật sân khấu á, ngài Phó Tăng thống ngài nhìn ngăm ngăm giống như nhìn người ngoài hành tinh, chắc là nói trật rồi, phát âm trật rồi, ngài nhìn... Đó là đó là hai cái cái cái loại hình nghệ thuật mà được UNESCO công nhận là văn hóa phi vật thể. Còn Việt Nam ta thì có Nhã nhạc Cung đình Huế, có Dân ca Quan họ Bắc Ninh, có Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương cũng là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận. Còn trên thế giới thì nhiều lắm, nhiều những loại đó. Ví dụ như Áo có cái kỹ thuật cưỡi ngựa cổ điển cũng được gọi là di sản văn hóa phi vật thể. Còn Ấn Độ, truyền thống tụng kinh Veda,
[12:42]truyền thống tụng kinh Veda mà họ họ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, lạ vậy, chỉ là nghi thức tụng kinh. Ừm.
[12:56]Như Hàn Quốc có lễ hội truyền thống của đền Jongmyo, không biết ai Hàn Quốc thì cũng nghe thì cũng biết cái đó không cãi. Đại khái là như vậy. Thì hôm nay vậy,
[13:10]ta long trọng đề xuất công nhận ý nghĩa giác ngộ của Đức Phật là di sản văn hóa phi vật thể quý nhất của thế giới, bởi vì những lý do sau đây. Nhưng một mình Phật giáo Việt Nam thì không đủ sức đề xuất, ta bởi vì ta mới nhờ các Phật giáo các nước bạn mà nhất là nước Campuchia, sau này ta sẽ nhờ thêm các nước khác, phải đề xuất lên điều đó. Bởi vì những lý do sau đây mà ta mạnh dạn đề xuất như vậy: Thứ nhất, vì chính cái sự giác ngộ này đã mở ra một tôn giáo yêu chuộng hòa bình nhất thế giới.
[13:57]Nếu không có sự giác ngộ của Đức Phật, ta không có đạo Phật. Có thể là ta có một vĩ nhân tên là Shakyamuni dòng dõi Gautama, có thể ngài cũng sẽ là một vĩ nhân, một con người vĩ đại trong lịch sử của Ấn Độ hay của nhân loại, nhưng không bao giờ ta có đạo Phật, không bao giờ ta có một giáo chủ nếu không có đêm thành đạo. Nên rồi từ cái đêm thành đạo đó,
[14:28]ta có một đạo Phật mà được gọi là một đạo yêu chuộng hòa bình nhất thế giới là vì sao? Là vì trong đạo Phật, ta kiêng kỵ, ta cấm ngặt, ta tránh né, ta sợ hãi, ta không dám làm điều gì tổn thương đến chúng sinh. Mà chúng sinh này bao hàm nhiều khi cả tới sâu bọ mà lên tới cả những loài thú tới loài người mà nói luôn cả chư thiên. Nói chư thiên thì hơi quá đáng, không có ai đụng được chư thiên đâu, nhưng cái ý nghĩa của chúng sinh mà chúng ta là những người đệ tử Phật thì không bao giờ được phép để làm tổn thương. Chẳng những là không làm tổn thương mà ta còn không làm tổn thương thể chất và không làm tổn thương tinh thần của người khác.
[15:21]Đạo Phật là một đạo từ bi, yêu thương, tử tế đến mức độ sâu sắc. Mà không phải chỉ là ngại làm tổn thương đến các các các cái sinh thể động vật, mà Đức Phật còn dạy ta ngại làm tổn thương đến những sinh thể thực vật. Có những câu chuyện vậy, nghĩa là có một cái tên cướp nó chặn đường một vị Tỳ-kheo, lúc đó nó không có dây trói, nó lấy cỏ nó trói ngài lại, ngài không nỡ làm đứt cái cái cái cuống cỏ đó, ngài cứ ngồi chịu cho tới khi đợi một ai đi ngang gỡ cỏ ra thì ngài mới bước đi. Chứ nếu mà ngài bung ra đứt dây cỏ thì ngài sợ cái bụi cỏ nó chết, làm tổn thương cái lòng từ bi yêu thương mà Đức Phật dạy phủ trùm đến tất cả muôn loài.
[16:13]Cái lòng từ bi và cái tôn trọng sự sống trong đạo Phật là chưa từng có, chưa từng có trong một tôn giáo nào cả, nên ta mạnh dạn nói rằng đạo Phật là một đạo yêu chuộng hòa bình nhất thế giới. Không có vì đó là đạo mà yêu chuộng sự sống nhất thế giới, như vậy.
[16:39]Bởi vì cái lý do thứ hai là bởi vì sự giác ngộ của Đức Phật đưa đến một hệ thống kinh điển trí tuệ cũng nhất thế giới.
[16:54]Thế giới này có nhiều tôn giáo, mỗi tôn giáo đều có một loại kinh điển. Nhưng chưa có một tôn giáo nào mà có một hệ thống kinh điển được giảng dạy bởi một giáo chủ đầy đủ, chu đáo, đồ sộ như trong đạo Phật. Vì có cái
[17:18]bởi vì vậy, Đức Phật ngài có thời gian thuyết pháp rất là dài. Và đặc biệt, ngài có những đệ tử đắc đạo có trí tuệ, nhất là ngài Ananda ghi nhớ lại hết toàn bộ lời dạy của Đức Phật. Cái trí nhớ của ngài Ananda là một loại huyền thoại. Một lần đã nghe giảng qua tai, vĩnh viễn không bao giờ quên một câu, một chữ nào. Thì ta có thể thắc mắc, ta có thể thắc mắc làm gì có cái chuyện mà có cái trí nhớ huyền thoại đến như vậy. Nhưng mà gần đây có những cuộc thi trí nhớ phi thường ở cuộc thi Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, ta cũng ghi nhận có nhiều người có khả năng ghi nhớ phi thường. Như thời Đức Phật vậy, không riêng gì ngài Ananda,
[18:11]có một người khác cũng có cái trí nhớ phi thường như vậy, đó là y sĩ Jivaka, ta gọi là y sĩ Kỳ Bà. Ngài là con nuôi của vua Bình Sa Vương, hồi nhỏ bị mẹ vất ra rồi Vương tử Vô Úy nhặt về nuôi, lớn lên ngài đi học y sĩ, học thầy thuốc. Mà bây giờ ta mới biết là cái hệ thống y học của Ấn Độ thời cổ rất vĩ đại. Hồi đó họ hạn chế chữ viết tại viết chữ rườm rà quá, không có giấy, viết thì phải khắc lên mảnh tre, mảnh sứ, đất sét, quá phức tạp để tạo ra một chữ viết, nên họ chỉ cố gắng nhớ thôi. Người này nói rồi người kia nhớ lại, người này nói rồi người kia nhớ lại. Nên ông thầy dạy học trò chỉ nói và học trò cố gắng ghi nhớ.
[18:55]Nên cái lời nói của người ta quan trọng. Mình bây giờ đó, bút sa gà chết, ký tên viết chữ mới quan trọng, lời nói không quan trọng. Nhưng mà thời xưa lời nói là tất cả. Nói một lời rồi là như đinh đóng cột, tất cả giá trị của con người nằm ở lời nói. Anh nói mà anh nuốt lời cái người đó không đáng sống giữa cuộc đời này. Cái lời nói nó quan trọng vì nó không có cái giấy ghi. Và y sĩ Kỳ Bà là một loại người học mấy chục năm với ông thầy của mình không quên một chữ nào của ông thầy, nên ngài trở thành một đề một học trò xuất sắc của ông thầy thuốc. Cái thời đó mà trong kinh ghi lại, trong cái Đại phẩm ghi lại
[19:37]là ngài Kỳ Bà đã mổ não và lấy cái u não ra khỏi người ta. Trong kinh ghi lại, kinh cổ đó, mà ngày nay ta thấy là không phải nước nào ngày hôm nay có thể mổ não lấy u não ra được, vậy mà thời đó y sĩ Jivaka đã mổ não cho một ông đại gia. Ổng la là bị bệnh đau đầu, ôm đầu la khóc. Thì ngài Jivaka đến chẩn bệnh xong phát hiện, ông nói: "Ông bị một khối u não phải mổ ngay, không mổ ngay trễ thêm một nửa tiếng đồng hồ nữa chết liền, u não phình ra chết liền." Thế là người nhà sợ quá, mà phải tin vì không còn cách nào khác. Thế là ngài dùng những cái thuốc gì của ngài thời đó nấu làm ổng mê, mổ não lấy cục u ra ổng sống lại, ổng thưởng cho ngài một đống vàng.
[20:19]Là ngài Jivaka cũng là người trí nhớ. Và ngày nay vậy, trong Phật giáo của chúng ta cũng có những vị thầy mỗi khi giảng dẫn chứng kinh điển thì dẫn chứng luôn cái số trang trong cuốn sách nào, nói thao thao mà dẫn chứng kinh điển như vậy, cái trí nhớ cũng tuyệt vời như vậy. Nên dựa vào những người mà có cái trí nhớ như vậy nên ta công nhận rằng là thực sự đã có một ngài Ananda, đệ tử thân cận của Đức Phật, có cái trí nhớ phi thường ghi lại toàn bộ lời dạy của Đức Phật. Nhờ vậy mà trong đạo Phật có một hệ thống kinh điển đồ sộ nhất tất cả các tôn giáo. Do đó, khi đọc lại kinh điển ta mới ta mới khiếp sợ cái trí tuệ của Đức Phật.
[21:04]Vì nếu mà nói nếu mà
[21:11]Không phải là một người phi thường, thánh triết đắc đạo, không ai có thể nói ra những lời kinh cao quý đến mức độ đó. Những lời đó không có tưởng tượng mà nói được, không có tưởng tượng nói được. Ví dụ ta có tưởng tượng hay lắm thì dựng lên một câu chuyện giống như Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Ta có tưởng tượng hay lắm thì ta làm được những pho kiếm hiệp của Kim Dung kể chuyện cho vui. Nhưng mà để nói được những đạo lý sâu sắc, nhìn hết toàn bộ cái hệ thống pháp giới vũ trụ này như thế nào, nhìn hết những thẳm sâu trong nội tâm tham sân si vô minh kiết sử của con người như thế nào, nhìn thấy những tầng bậc tu chứng của
[21:50]con người như thế nào, nhìn thấy những thánh quả như thế nào, những luân hồi sinh tử nghiệp báo như thế nào thì thật sự đó không phải là chuyện tưởng tượng, mà phải đó là những bậc thánh cao siêu, nhìn thấu suốt mọi điều trong vũ trụ này mới có thể nói ra được. Cho nên vì vậy, từ cái sự giác ngộ này mà ta có một hệ thống kinh điển trí tuệ nhất thế giới. Đó là lý do thứ hai mà ta đề nghị phải công nhận sự giác ngộ của Đức Phật
[22:22]là di sản văn hóa phi vật thể quý nhất của loài người, nha. Ý nghĩa thứ ba,
[22:32]sự giác ngộ của Đức Phật đã tạo nên sự thay đổi tốt đẹp, lớn lao trong tâm hồn của bao con người.
[22:45]Chúng ta vốn là ngu si, chúng ta tự nhiên là ích kỷ, chúng ta bản chất tự nhiên là ác độc. Thầy nói câu này đừng giận, đó là tự nhiên. Có những cái tự nhiên rất là négatif, rất là tiêu cực.
[23:11]Ngày xưa Đức Phật nói câu này: Bản chất cuộc đời tự nhiên là đau khổ. Câu nói này đến ngày nay vẫn nhiều người nghi ngờ, họ thấy đời không khổ. Nhưng thực sự nếu ta càng ngày ta càng có kiến thức khoa học, ta mới thấy lời Phật nói là một câu nói khoa học chứ không phải chỉ là một câu nói triết học. Vì sao vậy? Là vì khi đứa bé vừa mới chào đời thì đứa bé nó làm điều gì trước?
[23:46]Làm điều gì trước? Khóc, cry. Tại sao nó khóc? Vì nó đau khổ. Không tin nhớ lại coi đúng không? Giờ quên rồi. Tại sao ta khóc? Tại vì ta đau khổ. Đó là phản ứng tự nhiên của cơ thể. Đau khổ là một cảm xúc. Mới đẻ ra mà biết gì cảm xúc? Không, nó tự nhiên nó biết. Ta vừa lọt lòng là ta đau khổ liền, cảm giác đau khổ tràn ngập toàn thân ta. Ta khóc liền. Thất tình cũng không đau khổ bằng lúc mới vừa lọt lòng mẹ. Không tin nhớ lại coi đúng không? Cái cảm giác đầu tiên khi ta vừa có mặt trên cuộc đời, một cảm giác đau khổ tột cùng toàn thân làm ta bật khóc liền, dù lúc đó chưa biết gì là yêu đương cả, nha.
[24:43]Khóc liền vì cảm giác đau khổ nó gây phản ứng tự nhiên. Tại sao vậy? Tại vì cấu trúc của toàn bộ hệ thống não của ta là đau khổ. Nhớ như vậy, là đau khổ. Sau đó một ít phút sau, khoảng 30 giây sau khi ta chào đời, não mới bắt đầu hoạt động là tiết ra cái chất dopamin, một loại hóa chất gây niềm vui. Cái hóa chất dopamin não vừa tiết ra gây niềm vui, nó chặn lại cái cảm giác đau khổ của đứa bé sơ sinh. Thế đứa bé bắt đầu mới hết khóc. Nhớ lại coi ai cũng đã trải qua, nhớ lại đúng hay không? Đó là ta nói về cái cấu trúc sinh lý và tâm lý.
[25:28]Rồi một điều nữa, có ai đẻ ra cái là có có quần có áo, có nhà có cửa liền không? Không. Ta đẻ ra ta trơ trụi và ta đối diện với nguy cơ chết liền. Ta đối diện với cái risk, cái nguy cơ là từ bỏ sự sống ngay, vì ta quá mong manh, ta quá mong manh. Một đứa bé sơ sinh ra rất dễ chết liền, nhưng mà may mắn do ta được cha mẹ yêu thương bảo bọc suốt nhiều năm rồi ta mới sống, và sau này lần lần mình mới tự chủ cuộc sống mình, mới tự bảo vệ lấy mình được. Chứ còn nếu ta không được cha mẹ bảo vệ, ta chết ngay cái lúc sơ sinh liền. Nên bản chất của cuộc đời là mong manh, dễ tổn thương, dễ hoại diệt. Bản chất cuộc đời thực sự là đau khổ.
[26:22]Chỉ có cái ta nhờ một cái phước gì đó, nhờ cái may mắn gì đó rồi ta đi qua, ta vượt qua, ta quên mất cái bản chất cuộc đời là khổ, đến cho Đức Phật phải nhắc lại. Và ngoài cái những bản chất về khổ đau đó, ta có những bản chất tự nhiên: tự nhiên là ta ích kỷ, tự nhiên ta phải giành ăn, tự nhiên ta phải hận thù, ta giận hờn, ta ganh ghét. Đó là những điều tự nhiên của một con người. Tự nhiên không cần ai dạy là ta tự nhiên ta ích kỷ, không cần ai dạy tự nhiên ta tham lam, không cần ai dạy tự nhiên ta thù hận, ta ganh ghét. Nói: Dạ tụi con đâu có đâu. Không, ta nhờ dạy.
[27:08]Ta nhờ cha dạy, mẹ dạy, thầy dạy, đạo dạy và ta kiểm soát được tâm hồn mình từ từ, ta mới vượt qua cái sự ích kỷ đó, tham lam, thù hận đó để có thể sống hòa hợp với mọi người. Mà nếu nói nữa là đừng bị luật pháp trừng trị, nên ta nhờ luật pháp khống chế, điều khiển, điều chỉnh tâm hồn ta. Ta nhờ văn hóa, tập quán, ta nhờ những lời dạy cao đẹp điều chỉnh tâm hồn ta. Nhờ vậy mà ta kiềm chế lại cái bản năng tự nhiên của ta. Chứ cái bản năng tự nhiên của ta vốn là ích kỷ, là tham lam, là thù hận. Thì từ cái sự giác ngộ của Đức Phật mở ra cả một nguồn đạo lý cao thượng vô tận làm lay động lòng người, để mỗi khi ta nghe đến cái
[28:02]sự giác ngộ đó, ta nghe đến những lời dạy của Đức Phật đó, ta đủ cảm xúc để chiến thắng lại những sai lầm của chính mình. Ta ích kỷ, nhưng từ sự vĩ đại của Đức Phật, từ sự đắc đạo cao siêu của Đức Phật, ta xúc cảm vô tận và nguyện với lòng mình sẽ không sống ích kỷ nữa, sẽ sống tử tế, yêu thương. Cũng vậy, ta vốn tham lam, nhưng vì ta cảm xúc bởi sự giác ngộ của Đức Phật, cho nên ta nguyện lòng mình không tham lam nữa, biết chia sẻ, biết nhường nhịn, biết tử tế, yêu thương. Cũng vậy, bản chất chúng ta là thù ghét, ai làm mình khó chịu, mình thù, mình ghét, nhưng cũng chỉ bởi vì chúng ta cảm xúc với sự giác ngộ cao siêu của Đức Phật
[28:55]mà ta nguyện với lòng mình ta nhẫn nhục, tha thứ, tử tế, độ lượng để không thù ghét ai nữa. Vì vậy vì vậy ta phải nói rằng lý do thứ ba để ta đề xuất công nhận ý nghĩa giác ngộ của Phật là một di sản văn hóa phi vật thể vô cùng cao quý chỉ bởi vì sự giác ngộ này đã tạo nên sự thay đổi lớn lao, tốt đẹp trong tâm hồn của biết bao con người trên thế giới trong lịch sử và còn tiếp tục nhiều hơn nữa. Như vậy. Lý do thứ tư mà để ta đề xuất là bởi vì cái sự giác ngộ của Đức Phật đã nâng tầm triết học của thế giới lên một bước nhảy vọt cao vời. Trước Đức Phật cũng có nhiều cái nguồn triết lý, đạo lý của những hiền giả, hiền triết,
[29:52]nhà tiên tri nơi này nơi kia, nơi Ấn Độ, nơi Ai Cập, vùng Hy Lạp hoặc là bên Trung Quốc, vân vân. Nhưng mà chưa bao giờ loài người có thể có được một cái nền triết học nhảy vọt nói về vô ngã.
[30:16]Tất cả các triết lý của thế giới đều nói về bản ngã, về tôn vinh bản ngã như ngày nay ta thường nghe vậy: Cứ hãy yêu mình trước đi, hãy thương mình trước đi, đừng làm gì tổn thương mình, đừng để ai tổn thương mình, như vậy mới là cuộc sống. Tất cả đều xoay quanh bản ngã, đều xoay quanh cái tôi. Chỉ có Đức Phật dạy ta buông bỏ bản ngã để sống. Nói: Cuộc đời này mong manh, dễ tổn thương, dễ đổ vỡ, sống với con người dễ va chạm, dễ xung đột, nếu mình không biết tự bảo vệ mình thì mình sẽ bị tổn thương. Đức Phật dạy ta hãy risk, hãy liều đi, buông bỏ chính mình đây đi, đừng sợ bị tổn thương chính mình,
[31:02]cứ sống yêu thương, phụng sự người khác đi rồi sẽ thấy cái điều màu nhiệm xuất hiện. Thứ nhất là ta có một cái quả báo, thứ hai ta đạt được sự giác ngộ. Vì giác ngộ là vô ngã, vô ngã là giác ngộ. Vô ngã là vị tha, vị tha là vô ngã. Nên chính nơi cái sự vô ngã đó, trên con đường đi tìm cái sự vô ngã đó, ta mở ra biết bao nhiêu phúc lành, làm được biết bao nhiêu điều cống hiến, hy sinh, phụng sự cho mọi người. Trên con đường đi đến vô ngã đó, ta khai mở tâm hồn mình hướng về ánh sáng giác ngộ. Nên vì vậy mới nói rằng ta đề xuất công nhận sự giác ngộ của Đức Phật là một di sản văn hóa phi vật thể vô cùng cao quý chỉ bởi vì cái nền
[32:01]đã mở ra một, nâng tầm lên một cái nền triết học chưa từng có trên thế giới bằng cái ý nghĩa cao quý vô cùng, đó là ý nghĩa vô ngã.
[32:17]Cái triết học nói về bốn mức thiền là điều chưa từng có. Rất nhiều người trong cuộc đời, hay là các tông sư, các đạo sư, các triết gia nơi này nơi kia cũng nói về sự thanh tịnh nội tâm. À nói khi mà tập trung cao độ, không còn bận tâm gì việc gì khác, con người ta làm việc rất là hiệu quả, con người ta thông minh hơn. Nói đến đó là hết. Hoặc là thanh thản, không bận tâm, à sống là buông xả, nói tới đó là hết. Nhưng Đức Phật dạy con người bốn mức thiền. Mà để đạt được bốn mức thiền, hay là Chánh Định á, Phật dạy ta cái giai đoạn trước đó là Chánh Niệm. Thì hầu hết tất cả các đạo sư, tông sư trên thế giới chỉ đạt tới Chánh Niệm là hết chuyện.
[33:10]Tâm nhàn nhàn, thanh thản, rỗng rang, à là yên lắng, vậy là hết. Thì những cái nhàn nhàn, rỗng rang, yên lắng, trống trải rỗng đó chỉ là Chánh Niệm thôi, chưa bao giờ đạt được tới mà Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền như mà Đức Phật diễn tả. Cho nên cái nền triết học về Tứ thiền của Đức Phật là một điều siêu việt khỏi những cái nền triết học và đạo học của thế giới đã từng có trên thế giới, mà mãi mãi sau này cũng chưa bao giờ có một nền đạo học, triết học nào có thể đủ sức nói một cách sâu sắc về Tứ thiền như Đức Phật đã nói.
[33:50]Hoặc là Đức Phật nói về tứ quả Thánh: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Tứ quả Thánh được Đức Phật chuẩn hóa một cách rất là khoa học. Còn ta, ví dụ như ta thấy ai tốt quá là mình cảm động thì cứ nói làm sao? "Trời! Ngài là thánh của con". Chỉ vì ổng tốt tốt chút á. À hoặc cũng vậy. Ví dụ như thầy, thầy mới phát hiện có một cái bà mẹ đó lương thì thấp mà nuôi một đứa con bị bại não, xoay xở cực kỳ vất vả. Thầy cứ lén lén gởi tiền cho, chút chút chứ cũng không được nhiều. Thì thì bà bà mới đầu thì bà bà nghĩ rằng thầy chỉ ừ giúp một, hai lần, nhưng mà thầy cứ kiên trì giúp tại vì phát hiện ra đứa bé nó vẫn chưa phục hồi, cứ bại não hoài.
[34:47]Thì bèn mới nhắn tin: "Thầy là ông Bụt của cuộc đời con". Tức là tức là người ta công nhận là thánh thì cực kỳ dễ dãi. Và rất nhiều cái danh hiệu thánh được phong trên thế giới này, kể cả các tôn giáo khác, coi vậy chứ rất dễ dãi. Chỉ trong đạo Phật, bốn mức thánh được quy định kỹ lưỡng, rõ ràng, chặt chẽ, có quy chuẩn rất khoa học. Ví dụ như nói bậc thánh đầu tiên là Tu-đà-hoàn thì phải phá được ba cái bản năng sâu thẳm trong tâm hồn của chúng ta mà chúng ta không biết luôn: một là ích kỷ, hai là cố chấp, ba là
[35:34]do dự không biết cái gì đúng cái gì sai. Ba cái đó có bao giờ mình biết không? Chưa bao giờ có một cái tâm lý học nào nói, chưa bao giờ có một nền đạo học nào phân tích. Mà đó là cái quả thánh cơ bản thấp nhất ban đầu thôi đó. Cái người mà chứng quả thánh Tu-đà-hoàn đầu tiên phải tột cùng vị tha vì không còn ích kỷ được nữa. Phá được cái thân kiến rồi, người đó không sống cho mình nữa, chỉ sống vì chúng sinh mà sống thôi. Tất cả mọi việc làm, thở, ăn, uống, đi, nói hay làm gì đó, mặc quần mặc áo, làm mọi chuyện gì vì người khác mà làm, vì người khác mà sống, không còn vì mình nữa. Đó là bậc thánh Tu-đà-hoàn. Mà chỉ là một bậc thánh rất sơ sài.
[36:13]Mà mình nhìn ai trong cuộc đời này mà hơi giúp mình một chút xíu mình đã la lên người đó là thánh. Nhưng mà trong đạo Phật, cái gọi là thánh được theo một tiêu chuẩn cực kỳ khắt khe. Mà cái tiêu chuẩn đầu tiên là một đời sống vị tha mình vượt qua không nổi. Vị tha hoàn toàn, ta vượt qua không nổi. Ta cứ bị cái ích kỷ tiềm tàng chi phối chi phối trong tâm hồn. Ta phải tu đến mức độ nào thực sự ta gột sạch hết cái ích kỷ trong lòng mình thì đó mới là vượt qua được cái bản năng ích kỷ, gọi là được vị tha. Mà không biết một cái vị tha thì cũng chưa đủ để được gọi là một bậc thánh đầu tiên Tu-đà-hoàn, ta phải phá tiếp cái cố chấp, cái lờ mờ không biết đúng sai rõ ràng.
[36:56]Còn cái người mà chứng Tu-đà-hoàn rồi, nhìn mọi việc trên đời này rất rõ ràng cái gì đúng cái gì sai, không bao giờ nhầm lẫn nữa. Dễ làm không? Còn ta suốt một đời confused, mơ hồ, lấp lửng giữa điều đúng và điều sai, làm rồi không biết sai chỗ nào đúng cái nào. Nhưng một bậc thánh Tu-đà-hoàn rồi, không có cái ngờ vực đó nữa. Điều gì đúng là chắc là đúng, điều gì sai là chắc là sai, tách bạch rõ ràng ra. Điều này bao nhiêu phần đúng, bao nhiêu phần sai, biết rất rõ luôn, không có mơ hồ. Chỉ nhiêu đó là ta thấy đã khó rồi, mà đó là Đức Phật nói là bậc thánh Tu-đà-hoàn phải đạt được cái trí tuệ đó.
[37:37]Không phải dễ. Cho nên trong bốn bậc thánh mà Đức Phật nói vậy, theo tiêu chuẩn từ Tu-đà-hoàn cho tới A-la-hán, chưa bao giờ có một tôn giáo nào, chưa bao giờ có một đạo sư nào có thể nói được. Bởi vậy, sự giác ngộ của Đức Phật đã nâng tầm triết học của thế giới lên một bước rất cao. Chỉ có cái là ta quên lãng, ta hiểu không nổi rồi ta quay lưng. Nên vì vậy, ta cần phải phải quay trở lại với những giá trị mà Đức Phật đã dạy để giữ gìn cái giá trị văn hóa tinh thần cao quý cho loài người. Vì đã có lần một bậc đạo sư vĩ đại xuất hiện giữa cuộc đời này, đắc đạo và khai sáng cho cho chúng sinh. Ta không bao giờ được phép làm cho cái ánh sáng thành đạo của Đức Phật bị bị tắt.
[38:30]Dù chết, dù sống thế nào, vẫn nguyện lòng tu hành và truyền bá để giữ cho ánh sáng giác ngộ của Phật không bao giờ tắt giữa thế giới này. Vì sao vậy? Vì đó là một cái ánh sáng vô cùng quý giá ta đã có trên cuộc đời này rồi, đừng để mất, đừng để mất. Đó là lý do thứ tư. Rồi lý do thứ năm: vì sự giác ngộ của Đức Phật mở ra một thế giới quan, một vũ trụ quan mới lạ, hợp lý và gây cảm hứng cho sự tiến bộ của khoa học rất là lớn. Như ta thường hay nhắc cái lời của nhà bác học Einstein, ổng là nhà bác học vĩ đại, và ổng bắt đầu mới đọc sách tôn giáo rồi ổng trở thành triết gia. Sau khi đọc qua nhiều sách tôn giáo rồi, ổng kết luận một câu:
[39:21]sau này chắc thế giới sẽ cần một cái tôn giáo chung, và cái tôn giáo đó phải
[39:30]đáp ứng được các đòi hỏi của khoa học và đi trước khoa học. Rồi ổng nhận định dòm đi dòm lại chỉ có đạo Phật mới làm được điều này, chỉ có đạo Phật mới đáp ứng được cái đòi hỏi khoa học và đi trước khoa học. Tại sao vậy?
[39:48]Tại vì khoa học không có niềm tin, khoa học không có cái giả thuyết, mà khoa học là tính toán, là thực nghiệm, là chứng minh, là tạo ra kết quả, tạo ra sản phẩm. Chứ không có nói chơi, không có ước đoán, không có niềm tin. Nên bây giờ mình gặp ông nhà khoa học mà nói về thần linh, mấy ổng cười cười à. Vì sao vậy? Mấy ổng không có tin. Cái gì chứng minh giùm, tính toán giùm, làm thực nghiệm giùm, tạo ra sản phẩm giùm cho ổng coi rồi ổng mới công nhận. Và nhiều tôn giáo không đáp ứng nổi cái đòi hỏi đó của khoa học. Hễ nói tới tôn giáo ta cứ nói là gì? "Trust, believe, believe", tin, cứ tin tin tin.
[40:37]Còn khoa học thì chúng ta "put aside the belief", bỏ cái niềm tin qua một bên. Lý trí, tất cả là "reasonable", tất cả là phải "logical", phải hợp lý, phải chứng minh, phải tính toán. Thì đạo Phật có chứng minh, có tính toán không? Đạo Phật không cần chứng minh tính toán, nhưng mà chỉ ra sự thật, khoa học tiến tới đâu, thấy tới đó. Ví dụ từ cái thời đó, Đức Phật cầm ly nước nói: "Ta thấy bốn vạn tám tám vạn bốn ngàn con trùng nằm trong ly nước này, mắt chả ai nhìn thấy". Đức Phật đã nói. Và sau này thì khi ta có kính hiển vi rồi ta mới thấy điều đó. Hoặc là Đức Phật đã nói tới vô số cõi giới trong
[41:18]vũ trụ này, trong vũ trụ pháp giới này. Hoặc là Đức Phật Đức Phật đã nói rất có nhiều nền văn minh của loài người đã xuất hiện rồi tàn lụi, xuất hiện rồi tàn lụi. Mà bây giờ thì ta chỉ nói là ờ con người xuất hiện được mấy trăm mới mấy trăm ngàn năm nay, rồi xây dựng cái nền văn minh coi như là vài trăm năm nay hết à. Nhưng gần đây, có những cái khoa khảo cổ họ tìm ra được những cái dấu hiệu, những thiết bị. Ví dụ như là ở Nga vậy, họ lấy được một cục đá, trong đá có một cái chấu cắm điện, ba chấu. Tức là dòm thấy đúng là chấu cắm điện ba. Thử cacbon là ba trăm triệu năm, trước cả thời khủng long.
[42:01]Mà không biết con vật nào làm trừ loài người thông minh nhất. Thì những cái điều những liên tiếp xảy ra như vậy, khi khoa học càng tiến bộ như vậy thì mới càng thấy điều Đức Phật nói đúng à.
[42:14]Có vi khuẩn nhỏ nhất, có vũ trụ bao la mênh mông chứ không phải cuộc đời này chỉ có chừng ấy, con trái đất đây và bầu trời trên này, không phải. Rồi cái cái sự thăng trầm của trái đất, những lần sinh rồi diệt, những lần sinh diệt, những lần tận thế của kiếp người, Đức Phật đã nói rồi, không phải. Rồi đặc biệt nữa này. Đức Phật nói về nhiều cõi giới: địa ngục, thiên đường, cõi trời và cõi trời, nhiều loại cõi trời. Những điều này chưa bao giờ có một tôn giáo nào nói được. Ví dụ các tôn giáo chỉ nói à chết, làm ác chết xuống địa ngục. Hay làm thiện chết lên cõi trời. Dùng một chữ thiên đường, cõi trời hết.
[43:00]Nhưng Đức Phật phân ra hai mươi mấy loại cõi trời. 25 loại cõi trời. Những cõi trời mà con người sống tốt vừa vừa, không làm việc gì thiện nhiều, mà không gì xấu lắm, có một cõi về đó ở. Vừa vừa, thấp thấp. Rồi có cái cõi mà con người tích cực làm được nhiều điều thiện thì cái cõi trời nó cao hơn. Rồi có những cái cõi mà con người vừa làm những điều tốt, mà nội tâm rất là đạo đức thì lên những cõi trời tầng cao hơn nữa. Thân hình to lớn hơn nữa, hào quang sáng hơn nữa, trí tuệ thông tuệ, thông suốt hơn nữa. Đó là Phật phân ra nhiều tầng tờ trời, nhiều tầng trời. Và cái vũ trụ quan đó cực kỳ khủng khiếp. Ừ.
[43:44]Và như ngày hôm nay vậy, ngày hôm nay các nhà khoa, vừa rồi là năm nay vậy, à thế giới giải Nobel là là thưởng cho ba nhà vật lý học của Mỹ nói về cái vướng lượng tử. Hờ, ta nghe cho vui thôi chứ không hiểu nổi đâu. Muốn hiểu thì bây giờ quay lại trường học thêm 10 năm nữa, lượng tử. Vì nói về vật chất ở cấp độ nhỏ, ta có ba cái loại tử.
[44:15]Thứ nhất là phân tử. Khi ta có một số nguyên tử kết hợp lại, ta có cái cái là thành phần nhỏ nhất căn bản của các vật liệu, các vật chất, ta gọi là phân tử. Nhỏ hơn phân tử là gì? Molecule là phân tử, nhỏ hơn phân tử là gì? Atom là nguyên tử, là cấu trúc cơ bản nhỏ hơn gồm có hạt nhân, proton trong và những electron quay bên ngoài là nguyên tử. Mà nhỏ hơn nguyên tử là gì? Quantum, lượng tử. Tới lượng tử là mình hết biết rồi, vì nó quá nhỏ. Ta chỉ hiểu nó bằng trí tuệ thôi chứ không thiết bị nào đo được nó nữa vì nó quá nhỏ. Nhỏ hơn lượng tử là gì? Tự tử là trời. Nói rồi. Biết gì nữa nữa mà biết?
[45:08]Thì khi mà nghiên cứu ở mức độ lượng tử, quantum, thì qua rất nhiều lý thuyết và chỉ là lý thuyết thôi. Sau này thực nghiệm rất là vất vả. Thì bây giờ khi ta thực nghiệm như vậy, các nhà khoa học phát hiện ra một cái gọi là vướng lượng tử. Cái khái niệm vướng lượng tử là gì thì ta không có thời gian để bây giờ giải thích. Nhưng chỉ có một cái kết luận thế này. Bỗng nhiên các nhà bác học sau khi mà phát hiện ra cái vướng lượng tử này rồi mới nói rằng quả thật trong vũ trụ này có cõi giới khác mà ta chưa biết. Có một cái another world ta chưa biết. Đó là điều mà bắt đầu ta đi tới cái bờ mé của cái công nhận à có thế giới siêu hình
[45:55]mà khoa học công nhận chứ không phải là ta nói bằng niềm tin, ta không nói bằng sự áp đặt nữa. Bắt đầu ta đi bằng con đường khoa học và đã tới bờ mé của cõi giới siêu hình. Chính nhờ cái giải Nobel hôm nay năm nay giải Nobel năm nay thưởng cho ba ngài nhà vật lý học nổi tiếng. Mà cái công trình của các vị đó là khám phá ra vướng lượng tử. Ờ, còn ta hơn cả lượng tử nữa, tự tử tại không hiểu gì hết. Nhưng mà không sao. Điều đó ta thấy rằng vậy là khoa học càng tiến bộ thì càng chứng minh lời Phật dạy là đúng. Và Đức Phật cứ thanh thản, đạo Phật cứ thanh thản, ta không cần phải chống đỡ. Từ từ khoa học cứ tiến bộ đi rồi sẽ thấy điều Đức Phật nói là đúng.
[46:44]Ta hạnh phúc vì ta được là đệ tử của Phật. Ta đi theo con đường, bảo đảm đó là chân lý. Bảo đảm đó là chân lý.
[46:58]Hoặc là một điều này nữa.
[47:04]Ta luôn luôn thích nói cái gì cũng có bắt đầu và chấm dứt vì nó là điều tự nhiên, ngắn hạn. Nó là cái gì? Natural in the short-term. Điều tự nhiên, ngắn hạn. Ta sinh ra rồi ta chết đi mấy chục năm á. Cây mọc rồi ngày nào sẽ tàn.
[47:30]Rồi tình yêu thương có khi biến mất.
[47:36]Trong ngắn hạn thì có bắt đầu, có chấm dứt. Rồi con người quen cái nhìn ngắn hạn đó áp đặt tất cả mọi thứ dài hạn, vô cùng.
[47:50]Cũng trên cái quan niệm là cái gì cũng phải có bắt đầu, phải có chấm dứt. Nhưng thực ra, Đức Phật mới dạy cho ta một cái điều không có bắt đầu, không có chấm dứt. Cái pháp giới vũ trụ này không có bắt đầu, không có chấm dứt. Nghĩa là vũ trụ này chưa bao giờ có bắt đầu, chưa bao giờ có chấm dứt, chỉ thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Ngôi sao có thể nổ bùng thành năng lượng, năng lượng có thể tập hợp lại thành vật chất biến thành ngôi sao trở lại, không bao giờ có cái bắt đầu, không bao giờ có cái chấm dứt, ta gọi là self-existence. Tự hiện hữu, không cần ai tạo ra, không cần ai sinh ra.
[48:31]Và điều này đánh đổ mọi cái khái niệm tầm thường của con người cứ muốn rằng cái gì cũng phải có bắt đầu, cái gì cũng phải có chấm dứt. Mà cái điều đó những cái đầu của mấy ông bác học cao siêu nhất vẫn còn bị vướng và cứ muốn cái vũ trụ này phải có bắt đầu bằng một vụ nổ Big Bang hơn 13 tỷ năm trước. Cứ muốn như vậy, một ngày nào đó các ngài sẽ vỡ mộng. Các nhà bác học sẽ vỡ mộng. Một ngày nào đó bất ngờ ông chụp được một ngôi sao cái tuổi đó 16 tỷ năm rồi, xong. Cái lý thuyết Big Bang 13 tỷ năm nó sẽ sụp đổ. Một ngày nào ta chờ cái ngày đó, ta cứ cười cười chờ cái ngày đó vì Đức Phật đã dạy rồi, không có sợ.
[49:11]Cho
[49:16]nên ta cứ thanh thản là vậy, vì Phật đã dạy rồi. Một điều mà để ta đề xuất sự giác ngộ của Đức Phật là một di sản văn hóa phi vật thể quý giá nữa là bởi cái Thiên Nhãn Minh của Phật trong đêm giác ngộ đó thì định nói chỉ một tiếng đồng hồ mà đã hết một tiếng đồng hồ mà bài giảng chưa xong. Nhưng không thể dừng lại cho bài hôm nay quan trọng quá. I'm sorry. Samdech. Samdech Preah Sangha. Xin xin lỗi, xin Ngài xin lỗi vì con phải nói dài hơn dự định. Con phải nói dài hơn dự định nha. Vì bài hôm nay quan trọng. Bởi vì có các ngài cho nên cái bài hôm nay rất là quan trọng thì con xin nói cho hết ý.
[50:02]Trong khi mấy ca sĩ, mấy ca sĩ ngồi kia cứ ngồi vái cho sư phụ ngừng lại, đừng có giảng nữa để ra hát. I'm sorry. Ráng nghe nha mấy a...
[50:18]Sự giác ngộ của Đức Phật với cái Thiên Nhãn Minh của mình, Đức Phật đã nhìn thấy thấu suốt về luật nhân quả và luân hồi tái sinh. À, luân hồi tái sinh. Các ông khoa học nói: "Không chứng minh." Có những điều không cần chứng minh. Ví dụ như Newton vậy, ổng ngồi trái táo rớt đầu cái bộp. Và ổng công nhận là ổng lý luận là: "Tại sao trái đó trái đất trái táo nó rụng ra nó không chịu bay lên trời mà nó lại rớt xuống đầu, trúng đầu tui?" Chỉ bởi vì có lực hút giữa trái đất và trái táo. Ổng không bao giờ chứng minh tại sao có lực hút. Ổng chỉ công nhận có. Vì ổng thấy nó rớt trúng đầu ổng. May nó trúng đầu ổng.
[51:02]Chứ trúng đầu cô hàng xóm thì chúng ta không có một l- cái định luật về lực hấp dẫn. May rớt trúng đầu ổng, hên ghê! Cho nên ta có cái lực hấp dẫn. Nhưng mà ổng không bao giờ chứng minh tại sao có lực hấp dẫn, chỉ công nhận thôi. Cũng vậy, rất nhiều hiện tượng tái sinh khắp thế giới đủ để ta công nhận có tái sinh. Chỉ có các nhà khoa học tiếp tục bướng bỉnh, stubborn. Resistance, bướng bỉnh không chịu công nhận. Trong khi Newton chỉ cần một trái táo, ổng mở ra cả một nguyên lý lớn của khoa học. Còn ở đây cả thế giới này vô số trường hợp tái sinh được công nhận. Công nhận là điều đứa bé đó nói đúng.
[51:43]Nhất là đứa bé trường hợp ở Thổ Nhĩ Kỳ vậy, nó nói nó bị giết chết bởi cái ông đó, ở ngay chỗ đó, cái rìu chôn chỗ đó. Ông kia còn sống. Thế là cảnh sát ập tới tìm, bắt ông đó, ổng công nhận ổng có giết người đó, ổng chôn ngay chỗ đó, cái rìu chôn đó. Thằng bé nó tái sinh nó nói chính xác hết. Đó được ghi trong hồ sơ. Thì chỉ cần một điều đó thôi là ta phải công nhận có tái sinh nếu ta đủ thông minh, nhưng con người ta không đủ thông minh. Tiếc rằng ước gì ông Newton ổng mà là cảnh sát thì ổng tuyên bố liền, công nhận có tái sinh liền. Ổng chỉ cần một trái táo mà mở ra cho cả một một cái hệ chân trời mới cho vật lý thiên văn vũ trụ.
[52:24]Còn ta biết bao nhiêu người tái sinh có có chứng cứ rõ ràng mà cứ không chịu công nhận, khoa học này vừa bướng vừa ngu.
[52:34]Nhưng mà với cái Thiên Nhãn Minh của Đức Phật, Đức Phật đã thấy điều đó rồi. Và khi thấy Thiên Nhãn Minh, thấy những kiếp tái sinh, Đức Phật thấy luôn luật nhân quả chi phối mọi thân phận của chúng ta. Tại sao chúng ta đẹp như vậy? À, tại sao chúng ta xấu? Tại sao chúng ta giàu? Tại sao chúng ta nghèo? Tại sao chúng ta thông minh hay là ngu si? Tất cả đều do karma, luật nhân quả. Tại sao ngài làm Phó Tăng thống? Ta hãy nhìn vào đôi mắt của ngài. Cái đôi mắt của một con người lúc nào cũng đau đáu lo cho việc chung. Đúng không? Ta nhìn thấy không? Thấy không? Đôi mắt nhân hậu lúc nào cũng lo cho cái việc chung.
[53:11]Và ngài phải làm Tăng thống.
[53:19]Tại sao ngồi bình an như vậy? Bởi vì phải làm Hòa thượng phó ban trị sự. Cái gì cũng có cái nhân quả. Cái gì cũng có nhân quả cả. Và với cái Thiên Nhãn Minh từ cái đêm giác ngộ đó, Đức Phật mở ra cả một chân lý cho chúng ta. Cứ từ đây, chúng ta không tự mình thấy nhân quả, chúng ta không tự mình thấy tái sinh, nhưng tin vào lời Phật dạy, chúng ta tin nhân quả, tin có tái sinh và điều chỉnh lại cuộc sống của mình. Muốn suy nghĩ điều ác, bỏ đi; muốn làm điều dữ, bỏ đi, chỉ cố gắng làm những điều thiện từng chút, từng chút một. Hôm nay, thấy cục đá nằm ngoài đường, xe đi vướng một cái có thể té và gây tai nạn,
[54:00]dừng xe lại ta nhặt cục đá đi một chút để tránh một cái tai nạn cho người người sau. Thấy một người buồn khổ, ta nói một lời động viên để người đó vượt qua được nỗi buồn mà đứng lên đi tiếp, vân vân. Vậy từng chút từng chút, từng ngày từng giờ trong cuộc sống này ta cố gắng chỉ làm điều thiện, bởi vì ta đang gieo cái good karma cho mình ở những đời đời sau, gieo những thiện nghiệp cho mình ở những đời sau để hy vọng rằng đời sau ta được sung sướng, đúng không? Vỗ tay là sai.
[54:38]Vì mùng sáu nói rồi nha, ta gieo rất nhiều việc thiện để ở những kiếp sau ta đủ năng lực mà tiếp tục giúp đỡ mọi mọi người. Đó mới là câu trả lời đúng nha. Để nói lướt lướt qua cho nhanh thôi. Bởi vì từ cái sự giác ngộ của Đức Phật đã đem đến cho văn hóa của nhiều dân tộc những cái nghệ thuật,
[55:03]những phong tục, những lối sống đạo đức đẹp ngời như vậy, ví dụ như vậy. Thì chúng ta, nếu không có Đức Phật, không có sự giác ngộ của Đức Phật, ngày hôm nay chúng ta không ngồi đây với nhau yêu thương nhau, tôn trọng nhau như thế này. Nhiều khi chỉ đi qua đường gặp nhau rồi quên, có khi đụng chạm một cái gây lộn cũng có nữa. Nhưng chỉ bị bởi vì có sự giác ngộ của một vị nào ngồi đó, chúng ta ngồi đây với nhau hôm nay 45.000 người nhìn nhau trong yêu thương, trong tử tế, trong tôn trọng và không bao giờ muốn xa nhau. Nhưng mà sợ, cứ ở đây hoài đói, nên phải về đi làm ăn, nhưng mang theo cái tình yêu thương với nhau mà đi về lại với cuộc sống của mình.
[55:45]Và ta cũng mang cái tình yêu thương nơi đây đi để đối xử với mọi người trên khắp tất cả nẻo đường đời này, như vậy nha. Chỉ bởi vì có sự giác ngộ đó. Và bởi vì có sự giác ngộ này nên một có một con đường được mở ra là con đường đi từ phàm lên lên thánh.
[56:04]Chứ nào giờ chúng ta bị ta bị bó buộc bởi cái phàm phu, ngu si, mê muội, tăm tối. Nhưng chính vì có sự giác ngộ của Đức Phật, Ngài mở ra một con đường Bát Chánh Đạo, ta có một lối đi rõ ràng để có thể khước từ cái thân phận phàm phu của mình mà tiến lên thân phận của một bậc bậc Thánh, dù con đường rất là khó. Nghèo mà biến thành giàu đã là không dễ dàng, phàm lên thánh lại còn khó hơn nữa. Ví dụ như ta có Bí thư Huyện ủy huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đang ngồi kia thì dễ mà ta lại giành chức của ổng không? Không, không được. Tại vì phải có năng lực như vậy, phải có thành tích như vậy, một người mới làm cái quan chức đó.
[56:51]Chứ mình bây giờ là người dân thường không có lên giành chức đó được, không phải dễ làm quan. Từ dân thường lên làm quan rất là khó, từ nghèo lên giàu rất là khó và khó gấp một triệu lần đó là từ phàm lên lên thánh. Nhưng chỉ bởi vì có sự giác ngộ của Đức Phật ta có con đường đó và ta sẽ đi. Ta sẽ nguyện lòng đi mãi theo chân Đức Phật để khước từ, quên, chấm dứt cái thân phận phàm phu của mình. Bởi vì có cái sự giác ngộ của Đức Phật mà nhân loại mới biết đến Tứ Diệu Đế, 12 Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo. Nếu không có Phật, vĩnh viễn thế gian này đừng hòng có ai hiểu về Tứ Diệu Đế, về Bát Chánh Đạo, về 12 Nhân Duyên, những đạo lý cao siêu vô cùng.
[57:39]Chính vì có Đức Phật nên điều đó mới được tuyên dương. Hầu hết các tôn giáo đều dễ trái với khoa học, làm cho các nhà khoa học khó chịu mà không nói ra. Ví dụ như một nhà khoa học gặp một nhà giáo sĩ cười cười ngoại giao, không có bàn luận, không nói chuyện nhiều, tại nói chuyện thế nào cũng xung đột. Hai ông đó người một bên là cứ niềm tin, ông kia không có niềm tin, phải thử nghiệm, phải lý trí, phải tính toán. Hai người đó dễ xung đột và không ưa nhau. Nhưng chỉ riêng đến với đạo Phật thì các nhà khoa học được thỏa mãn mọi điều. Vì đạo Phật không cần niềm tin. Nên Đức Phật mới dạy là: "Chánh pháp là đến để mà thấy chứ không phải đến để mà
[58:21]tin." Đây là định nghĩa của Đức Phật về Phật pháp: "Hãy đến để mà thấy." Đó là cái mà đến để chứng kiến, đến để mà thấy không phải đến để mà tin. Nên đạo Phật cũng phải khước từ... Ta cần trí tuệ thật nhiều, lý trí thật nhiều để hiểu thật kỹ về Phật pháp. Vì...
[58:46]Nếu sau này loài người yêu chuộng hòa bình
[58:52]và thấy có một lý do làm cho hòa bình của thế giới khó tồn tại là sự chia rẽ, xung đột về tôn giáo và người ta sẽ ước mơ thế giới này có một tôn giáo chung để con người không còn bị chia rẽ bởi sắc tộc và tôn giáo nữa. Sắc tộc thì có cách giải quyết nào đó ta không rành lắm, nhưng mà xung đột vì tôn giáo là một điều thiệt thòi lớn cho nhân loại. Và ai yêu chuộng hòa bình đều mơ ước, rồi phải mơ ước, có một tôn giáo chung cho cho nhân loại. Và nếu ta đi tìm một cái tôn giáo chung cho nhân loại thì buộc ta phải lấy sự giác ngộ của Đức Phật làm cốt lõi. Con đường đi đến vô ngã đó sẽ là điểm quy đồng chung
[59:45]cho mọi điều thánh thiện của thế giới này. Và chỉ có cái mục tiêu hướng về vô ngã ta mới tìm thấy một tôn giáo chung tốt đẹp nhất cho cho loài người. Cho nên vì vậy, khuya mai 4 giờ, ta im lặng
[1:00:05]tập hợp ở đây hướng về Đức Phật, ta ngồi thiền lặng lẽ theo cái phương pháp thiền mà hồi nãy Thầy Khải Tạng có hướng dẫn nha. Ta ngồi thiền với nhau và đợi đợi sự hướng dẫn tiếp theo tiếp theo để ta xong cái buổi lễ thiêng liêng chính kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo. Rồi ta sẽ chia tay nhau ra về, mỗi người về lại với trú xứ của mình. Nhưng sau ngày mai, khi ta về lại với trú xứ của mình, ta sẽ mang trong tim mình một trách nhiệm, đó là lan truyền ý nghĩa giác ngộ của Đức Phật.
[1:00:48]Và mãi mãi mãi mãi cho đến muôn đời sau, ta xin được quỳ xuống đảnh lễ sự giác ngộ phi thường của Đức Phật. Và mong rằng cái ánh sáng của sự giác ngộ đó mãi mãi chiếu soi trên thế giới này để cho con người được an vui, được hạnh phúc, hòa bình, yêu thương, tử tế, và rồi ai cũng được đặt chân đi lên trên con đường giác ngộ cao thượng đó. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:01:25]Con xin cảm ơn. Khnhom mean orkun samdech. Xin cảm ơn ngài đó, nói tiếng Khmer. Các ngài đã hoan hỷ, kiên nhẫn lắng nghe và hộ niệm cho chúng con trong cái buổi pháp thoại này. Bây giờ con cũng xin mời các ngài sẽ lên xe đi về lại chỗ nghỉ ở Vũng Tàu. Rồi mong rằng trước 4:00 khuya mai, các ngài sẽ về đây cùng với chúng con để cử cái lễ tôn vinh Đức Phật thành đạo nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con xin thành kính Chúng con xin thành kính tri ân Sư Phụ và chúng con xin cung thỉnh chư tôn đức Tăng Ni cùng toàn thể quý Phật tử khởi thân, chắp tay trang nghiêm để cung tiễn quý Đức Phó Tăng Thống Vương quốc Campuchia
[1:02:15]cùng quý chư sư và quan chức trở về nơi nghỉ để cùng tham dự. Ngày mai, quý đoàn sẽ cùng trở lại Thiền Tôn Phật Quang để tham dự buổi lễ chính thức của Đại lễ Phật Thành Đạo năm 2022, Phật lịch 2566.
[1:03:08]Đệ tử chúng con thành kính tri ân những lời đạo từ vô cùng quý giá của Sư Phụ trụ trì đã thắp lên trong lòng chúng con niềm tin và ước nguyện về sự giác ngộ siêu việt theo con đường của Đức Thế Tôn vĩ đại ạ. Chúng con thành kính cung thỉnh Sư Phụ an tọa ở hàng ghế danh dự ạ. Kính mời toàn thể chư tôn đức Tăng Ni và quý Phật tử đồng an tọa.