[0:23]Sao Mai từ góc trời lên, tử sinh đã dứt, não phiền đã tan, mười phương thế giới hân hoan, mừng đấng Chánh Giác với ngàn lời ca. Phật thành đạo là một sự kiện hy hữu từng làm cho trái đất chấn động. Ngày hôm nay, hơn 2500 năm sau, để tưởng niệm nhớ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, người đã khơi nguồn đạo lý cho nhân loại, chúng ta hãy quy tụ về chùa tổ chức đại lễ kính mừng Phật thành đạo như một truyền thống cho Phật giáo Việt Nam chúng ta.
[1:03]Trước hết, chúng ta chọn tấm thiệp nào ý nghĩa và đẹp nhất để nhắc bạn đồng đạo hãy nhớ đến ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch là một ngày trọng đại, làm tâm hồn, làm cuộc đời chúng ta thay đổi. Chúng ta cũng mời gọi những bạn mới quen, mới biết, hãy cùng chúng ta tham dự đêm thiêng liêng ấy.
[1:27]Phật Đản, Vu Lan là những lễ hội quen thuộc, được tổ chức chỉ vào ban ngày đã cần sự chuẩn bị, huống nữa, Phật thành đạo là lễ hội tổ chức trong 2 ngày, mùng 7 và mùng 8 âm lịch, chúng ta còn cần sự chuẩn bị nhiều hơn và chu đáo hơn thế nữa.
[1:51]Vấn đề cơ bản là dự trù việc ăn ở ít nhất là 2 ngày 1 đêm của một số lượng khách đông đảo đến tham dự. Nếu chưa có đủ phòng ốc, chúng ta thực hiện sườn nhà lắp ráp, rồi phủ bạt lên che mưa nắng, tuy có vẻ đơn sơ, tạm thời nhưng cũng giúp quý Phật tử không thấm nhiễm sương khuya, tạo cho quý Phật tử sự gần gũi thiên nhiên hơn, đồng thời Phật tử có những cơ hội san sẻ tình đồng đạo với nhau.
[2:21]Để tăng thêm phần trang nghiêm cho buổi lễ, chúng ta không thể quên phần hình thức như băng rôn kính mừng đại lễ Phật thành đạo, và chúng ta nhớ bố trí các bảng chương trình lễ cùng các bảng nội quy từ cổng chùa vào nơi cử hành lễ, để ai cũng có thể thông hiểu một cách dễ dàng.
[2:43]Chúng ta cũng nên trang bị đồng phục cho số Phật tử quen việc và làm nòng cốt cho các ban. Những vị này phải nghiêm chỉnh đeo bảng tên có dán ảnh để thuận tiện cho việc tiếp xúc, điều động trong ngày lễ đông người. Ban thư ký cũng phải lo sẵn ấn in đủ cho khách đến dự lễ.
[3:07]Dù mặt bằng khiêm tốn, chúng ta phải dự trù làm sao giải quyết việc ăn uống tươm tất cho một số lượng trên 6000 người đúng giờ quy định và ít mất thời gian nhất.
[3:27]Chúng ta cũng phải chuẩn bị và cân đối nguồn lương thực, thực phẩm để phục vụ tất cả khách đến tham dự lễ như thế nào đảm bảo được các yêu cầu vừa gọn nhanh, lại vừa ngon, bổ, rẻ, vệ sinh.
[3:48]Bước sang phần lễ đài và sân khấu, dù chúng ta trang trí giản dị nhưng không kém phần trang nhã. Sân khấu lắp ráp phải đảm bảo an toàn, chắc chắn, nhất là bộ phận âm thanh, ánh sáng phải có hiệu quả phục vụ cao.
[4:12]Bên cạnh những việc đã nêu trên, chúng ta chú ý một số các việc khác trong dịp lễ hội như chăn màn, đồ ấm, xem lại tiện nghi trong phòng tắm và nhà vệ sinh, đồng thời tổng vệ sinh từ bãi đậu xe đến khu vực quanh chùa.
[4:34]Phải có phòng giữ hành lý đủ rộng để Phật tử được yên tâm khi dự lễ. Chúng ta chọn vị trí thuận tiện và dễ thấy nhất để đặt bàn thư ký, bàn hướng dẫn ghi tên quy y, nơi tiếp lễ, nơi nhận cầu an, cầu siêu. Và chúng ta cũng không quên chọn nơi bố trí các thùng nước uống như thế nào để mọi người không phải đi tìm xa xôi, khó khăn khi cần thiết.
[5:06]Công tác chuẩn bị cuối cùng là quét dọn chánh điện sạch sẽ và trang trí cắm hoa nơi bệ Phật. Chúng ta không quên chuẩn bị hoa tươi sao cho mỗi người một cành hoa để tự tay mình dâng lên Đức Phật, thể hiện hạnh phúc của người Phật tử ngày lễ Phật thành đạo. Hòa trong niềm vui của những người con Phật, chùa Phật Quang chúng tôi đã long trọng chuẩn bị ngày lễ mừng Phật thành đạo với trọn tấm lòng tôn kính và biết ơn Đấng Cha Lành. Chung tay với quý thầy cô, có những Phật tử thu xếp việc nhà, việc cơ quan để về chùa công quả từ nhiều hôm trước.
[5:47]Những đoàn người, đoàn xe từ muôn phương cùng quy tụ về đây từ sớm tinh mơ mùng 7 âm lịch làm cho buổi lễ thêm phần vui tươi, trang trọng, ấm áp.
[6:03]Nơi đây là chư tôn đức Tăng Ni khả kính trong màu áo nâu giản dị hay những tấm y vàng rực rỡ, kia là những cư sĩ thuần thành đang dìu dắt những người mới phát tâm tìm về Phật đạo. Một bó hoa tươi thắm trong vòng tay bé thơ xinh xắn, một ít quà trĩu nặng nghĩa tình của cụ già phơ phơ tóc bạc sẽ mãi mãi không thể nào phai nhòa trong ký ức chúng ta.
[6:31]Trời ngả chiều, người và xe vẫn đổ về hối hả cho kịp dự lễ đêm nay làm cho buổi lễ đã trang trọng lại càng thêm ý nghĩa. Bên cạnh đó, chúng ta cũng bắt gặp hình ảnh những chàng thanh niên, những cô thiếu nữ trẻ trung, trong sáng đã cùng nhau bàn bạc, lo liệu và tạo điều kiện giúp đỡ những nhu cầu, những tiện ích cần thiết cho ngày lễ hội ở chùa. Đó là hàng Phật tử thấm nhuần đạo lý: phục vụ chúng sanh là cúng dường chư
[7:11]Phật.
[7:20]Chương trình đại lễ mừng Phật thành đạo bắt đầu vào sáng mùng 7 tháng Chạp âm lịch, nhằm ngày Chủ nhật, 16 tháng 1 năm 2005. Như thường lệ, nhóm thanh niên Phật tử thành lập ban tiếp tân đón khách từ các nơi xa gần về dự lễ. Ban bảo vệ đảm trách trật tự an ninh chung và có cả ban y tế để chăm sóc sức khỏe Phật tử trong không khí đông đảo ngày lễ hội.
[8:22]Đặc biệt lần này, trong không khí chan hòa, thành kính, chùa Phật Quang chúng tôi tổ chức lễ kỳ siêu chung cho tất cả nạn nhân trong trận đại hồng thủy vào ngày 26 tháng 12. Tăng Ni, Phật tử đã đọc tụng bài sám cầu siêu cho hương linh chết nước trong niềm thương tiếc và cùng cầu nguyện cho các hương linh bất hạnh này tìm được nơi an lành nương tựa. Chiều lại, gần 500 người mới phát tâm đã tề tựu nơi chánh điện cùng quyết định một điều trọng đại, một bước ngoặt trong cuộc đời mình: xin quy y Tam Bảo. Thật vậy, không còn gì đúng đắn, hạnh phúc hơn khi: Nguyện trọn đời đi theo bước Phật, Quyết tu hành nẻo thật đường ngay,
[9:05]Tĩnh tâm từng phút từng giây, Dù bao gian khó không thay đổi lòng.
[9:29]Tiếp đến là bài thuyết trình của Giáo sư Bùi Quốc Châu về y đạo Việt Nam và những động tác xoa nắn huyệt ở vùng mặt để tự chữa một số bệnh, đem lại cho những hiểu biết mới mẻ và niềm vui thích cho người tham dự.
[9:52]Đến 6 giờ 30 tối là buổi tọa thiền của toàn thể Tăng Ni và Phật tử. Đến 7 giờ 15 tối là thời thuyết pháp của Thượng tọa trụ trì chùa Phật Quang với chủ đề: Tứ đức của Niết bàn.
[10:29]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Để chúng ta tưởng niệm ngày mà Đức Thế Tôn của chúng ta thành đạo, chúng ta đã cùng nhau vân tập về đây để cử hành buổi lễ long trọng gọi là Lễ Mừng Phật Thành Đạo. Lễ đó sẽ cử hành chính thức vào 4:00 khuya mai, còn đêm trước là đêm mà chúng ta sinh hoạt, thuyết pháp, văn nghệ, vân vân. Bây giờ chúng ta vào cái thời thuyết pháp. Đề tài hôm nay chúng ta nói với nhau là nói về bốn cái đức của Niết bàn là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Thì bốn đức của Niết bàn có cái ý nghĩa rất là sâu xa, vì vậy cái bài giảng hôm nay sẽ rất là khó hiểu. Do đó, thỉnh thỉnh quý thầy, quý cô, cũng như quý phật tử chúng ta hết
[11:22]sức là tập trung, không có xao lãng, vì bài này nó không có vui tai, không có nhiều chuyện, và không có cụ thể như những bài pháp khác. Bài này cực kỳ khó, cực kỳ trừu tượng, nói lên bốn cái đức của Niết bàn. Và mong rằng ví dụ người nào cũng cảm thấy không hiểu thì thôi cứ để trong bụng, từ từ chúng ta sẽ hiểu, nha. Còn những ai mà đã nghiên cứu Phật pháp lâu thì hy vọng là chúng ta cũng dễ nắm bắt, vì bài này rất là trừu tượng. Bài này được nói chính xác là trong cái Kinh Đại Bát Niết Bàn. Là ở Nam Tông, trong Kinh Nguyên Thủy, chúng ta cũng có bài Kinh Đại Bát Niết Bàn, và ở bên Bắc Tông, Đại Thừa,
[12:02]cũng có bài Kinh Đại Bát Niết Bàn, hai bài kinh khác hẳn nhau luôn. Thì hôm nay chúng ta nói đề tài này là chúng ta lại dựa vào hệ thống Bắc Tông của Phật giáo Đại Thừa. Khi mà nói về bốn đức tính của Niết bàn của một vị Thánh khi chứng đạo là chúng ta vừa nói ngược lại với bốn tính chất của thế gian. Bốn tính chất của thế gian là gì? Là vô thường, là đau khổ, là duyên hợp, là bất tịnh. Thế gian là như vậy. Thế gian là bốn cái điều thô: vô thường là thay đổi nè, đau khổ, duyên hợp và bất tịnh. Thì ngược lại, Niết bàn có có bốn cái tính là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Hôm nay chúng ta muốn hiểu về bốn đức tính của Niết
[12:50]bàn, là khi một vị Thánh mà chứng được Niết bàn, tức là có được bốn đức tính đó, để chúng ta hiểu sự cao quý của nơi quả vị trong tâm của các vị đó. Thì trước khi hiểu được bốn đức tính Niết bàn, ta phải hiểu về bốn cái đức tính trái ngược của thế gian: là vô thường, là đau khổ, là duyên hợp, là bất tịnh một chút. Vô thường nghĩa là gì? Vô thường có nghĩa là mọi sự vật, mọi sự việc trên đời đều thay đổi. Điều này có lẽ chúng ta ai cũng biết rồi, phải không? Khi đến với đạo, chúng ta nghe giáo lý này rất nhiều. Cuộc đời là vô thường, mọi thứ đều biến đổi, đều vô thường. Tuy nhiên, cái sự thay đổi có hai cái trạng thái:
[13:33]là có khi sự việc thay đổi từ tốt trở thành xấu, có khi sự việc thay đổi từ xấu trở thành tốt. Thế nào là thay đổi từ tốt sang xấu? Ví dụ như là con người ta sống, bỗng nhiên người ta lại bị bệnh rồi người ta chết đi. Đó là đang tốt mà thành xấu. Hoặc là có những người thương yêu nhau, đang sống với nhau trong cái đầm ấm, hạnh phúc, bỗng nhiên có một cái sự biến gì xảy ra, người ta phải chia ly, phải chia xa. Giống như cái trường hợp sóng thần vừa rồi vậy, cái người mẹ để con chơi dưới bãi biển, cơn sóng thần ập qua quay xuống thì biến mất hết tất cả, chỉ còn một bãi cát trắng và đống đổ vỡ vụn,
[14:16]thì đó là cũng là vô thường mà từ tốt trở thành xấu. Hoặc là cái hoa đẹp đẽ như thế này, nhưng mà chỉ được vài hôm rồi sẽ sẽ tàn úa. Như vậy là sự việc trên đời là thường là có cái mặt xấu là từ tốt trở thành xấu. Mọi thứ rồi sẽ mục rã. Ví dụ một cái cây, một cái bàn chúng ta dùng làm vật liệu, chắc chắn ngày nào đó cái vật liệu nó bị những cái lỗ cực kỳ nhỏ, bị nước thấm vào, bị không khí chui vào, chui làm mềm cái chất liệu đó đi dần dần, rồi vi sinh vật nó luồn vào đó nó ăn, thế là cái gỗ này không tồn tại với thời gian, lúc nào đó sẽ mục, sẽ rã ra. Hoặc là nói trên tinh thần vậy, người ta thương yêu nhau rồi từ từ cũng cũng phai nhạt.
[15:06]Cuộc đời cũng thường là như vậy. Là khi mọi người mới thương yêu nhau, người ta có nhiều hy vọng, người ta nghĩ rằng tình yêu này là bất diệt, là bất tử. Thấy là: "Dù cho sông cạn, núi mòn, ta vẫn thương nhau mãi mãi". Nhưng mà sự thật thì sao? Sự thật thì sông chưa kịp cạn, núi chưa kịp mòn thì ta đã quên nhau. Cái tình thương con người cũng vậy, lòng người cũng dễ thay đổi. Nên những trường hợp xảy ra như vậy, ta gọi là mọi vật vô thường. Đời có tốt rồi sẽ thành xấu. Nghĩ như vậy, khi mà chúng ta xem nó là một quy luật, ta chấp nhận nó với thái độ bình thản thì ta cũng bớt đau khổ. Ví dụ như một người giàu sang, đến khi cái có làm ăn thua lỗ,
[15:53]bị giảm sút đời sống, thì cũng nghĩ đến lời Phật dạy: "Thôi, cuộc đời là vô thường, có hợp có tan, có còn có mất", nghĩ chấp nhận, không đau khổ. Nên cái mà làm chúng ta bớt đau khổ chính là chúng ta chấp nhận một thực tại, để chúng ta không tiếc nuối quá khứ nữa, là làm cho chúng ta bớt đau khổ. Nên khi hiểu được lý vô thường làm tâm ta an hơn, đó là cái lợi ích khi một người mà nghiên cứu chuyên sâu cái giáo lý vô thường này. Rồi sự việc cũng không phải là luôn luôn cứ từ tốt rồi trở thành xấu, mà sự vật, sự việc cũng có khi từ xấu trở thành tốt. Ví dụ như là nơi một chỗ đó, người ta cứ mỗi ngày người ta
[16:33]đổ rác, nhưng mà rồi người ta đổ nhầm luôn một cái cái hạt bí rợ lên đó, một thời gian sau mình thấy làm sao? Thấy cái sợi dây bí mọc lên, mọc tràn lan ở cái bãi rác đó, rồi nó lại ra hoa, lại ra ra trái. Như vậy từ cái gì ta vứt đi nhưng có cái gì đẹp đẽ nó đã vươn lên. Hoặc là cái mùa đông lạnh lẽo rồi bắt buộc phải đi tới mùa mùa xuân, trời sẽ ấm áp hơn, cây sẽ đâm chồi, nảy lộc, ra hoa, kết trái của mùa hạ, chim chóc sẽ lại reo vang và con người ta đón mừng năm mới, gặp nhau chúc những lời tốt đẹp, vân vân. Đó là cũng thay đổi từ xấu thành tốt nha. Hoặc là có những người cuộc đời họ họ đau khổ, họ bất hạnh, ví dụ người mồ côi,
[17:24]nhưng mà đó là cái xấu, nhưng mà trong cái mồ côi cút đó họ cố gắng hết sức để họ học hỏi, họ phấn đấu, họ vươn lên, họ làm từng những điều thiện nho nhỏ, rồi không ngờ cũng trở thành thành đạt, nhiều người quý mến, kính trọng, rồi cũng nổi danh, có khi cũng trở nên giàu có, khá giả. Đó là những cái điều mà từ xấu nhưng không ngờ dần dần rồi cũng có lúc trở thành tốt đẹp. Như vậy, vô thường có hai mặt như vậy. Thì như vậy, thường thường á, đa phần chúng ta bi quan khi mà sự vật nó đổi từ tốt sang sang xấu, và có khi chúng ta lạc quan vì sự vật nó đổi từ xấu sang tốt, đời như vậy. Nhưng nếu lúc nào ta cũng thấy cả hai khía cạnh, lúc nào ta cũng thấy sự vật sự việc
[18:15]khi thì từ xấu sang tốt, khi thì từ tốt sang xấu, thì tâm ta sẽ trở nên bình thản. Lúc đó bình thản, lúc đó mình đạt được đạo, đạt được đạo là bình thản. Ví dụ như có một người trước đây ốm, xấu giống như cái người đang ngồi trước mặt quý Phật tử, rồi một thời gian sau bỗng nhiên người đó trở nên đẹp giống như cái người mà quý Phật tử nhìn thấy trong gương, giống như vậy. Thì cái người mà đẹp đó cái được nhiều người khen, nói sao lúc này cô đẹp quá, thì mình lại không mừng. Chứ nếu trước đây không hiểu đạo mình sẽ mừng. Bây giờ hiểu đạo rồi mình mới hiểu rằng à cuộc đời về sự vật như vậy, có khi từ xấu thành tốt, có khi từ tốt thành xấu,
[18:58]hiểu như vậy cái mình bình thản trước lời khen của người khác. Hoặc là một lúc nào đó tự nhiên mặt mình nổi mụn lên, xấu xí, ốm nhom, ốm nhách, tong teo, cái người ta gặp người ta quở, người ta nói: "Trời sao lúc này tệ quá, xuống sắc", nhưng mình cũng bình thản không buồn, bởi vì biết cuộc đời là như vậy, biết như vậy. Nên hiểu được điều đó, chúng ta không phải bi quan theo cái mặt này, chúng ta không lạc quan theo khía cạnh kia, mà ta bình thản trước cái sự vô thường biến đổi của cuộc sống là như thế. Thường thường á là chính vì ta thấy rằng đời có khổ, có vui, cho nên ta suốt cuộc đời lúc nào cũng tránh cái khổ, cũng tìm cái vui.
[19:38]Chúng ta đi làm lụng từng ngày là để tránh cái đói, tránh cái nghèo, phải không? Đi tìm cái no ấm, cái giàu sang. À, rồi chúng ta mặc quần áo đẹp là chúng ta tránh cái xấu để tìm cái cái đẹp. Nhưng mà đâu biết rằng chính cái tránh đó, đi tìm đó, cái đó là cái cái nhọc lòng, cái vất vả, cái cực khổ cả một đời, và chính đó là đau khổ. Ví dụ một người chúng ta thấy họ giàu sang, chúng ta cho họ sung sướng, muốn gì cũng được, nhưng thực sự là họ cũng phải đánh đổi bằng biết bao nhiêu công đức đã làm từ trước kia. Và bây giờ trong cái giàu sang, sung sướng đó, họ chỉ cần sơ sẩy, họ kiêu ngạo, họ khắt khe, họ ăn hiếp, một lúc nào đó họ rơi xuống lại, nghèo khổ lại liền.
[20:27]Nên nếu chúng ta đang giàu thì chúng ta hãy cẩn thận điều đó. Còn nếu chúng ta đang nghèo thì biết đâu trước đây ta đã từng từng giàu, mà ta cũng đã khắt khe với người khác, nên bây giờ phải chịu đựng cái thân phận này để ta hiểu thế nào là cái người nghèo, để sau này ta thương yêu được người nghèo. Đó, như vậy cuộc đời là như vậy. Ban đầu á, chúng ta hiểu cái khổ có nghĩa là những hoàn cảnh bi đát, giống như nghèo đói, bệnh tật, tai nạn, thương yêu mà phải chia lìa, hoặc là chiến tranh, thiên tai, hoặc bị xúc phạm, vân vân, tức là nhiều cái đau khổ trong cuộc đời. Nhưng mà sâu hơn á, nếu một người hiểu sâu hơn, thì đau khổ nghĩa là gì?
[21:09]Đau khổ có nghĩa là tâm bị bức xúc, nếu định nghĩa sâu hơn. Ví dụ bây giờ nói một người mà chưa hiểu nhiều á, ta hỏi người đó: "Theo bạn, thế nào là đau khổ?", thì người đó trả lời là: "Nghèo". Chúng ta gặp một triết gia, chúng ta hỏi: "Thế nào là đau khổ?", thì cái người đó sẽ nói rằng là tâm bị bức xúc.
[21:34]Ví dụ như cũng người nghèo như nhau nhưng có người khổ, người không khổ. Hơ là có người thấy cái khổ mình là một cái nhục nhã, lúc nào cũng buồn tủi, là thấy thua sút người này, thua sút người kia. Nhưng có một người họ nghèo mà họ an vui trong cái nghèo, họ thanh bạch trong cái nghèo, họ thanh thản trong cái nghèo thì nghèo mà không khổ. Như vậy với một người có trí tuệ thì cái hoàn cảnh bên ngoài như chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, nghèo khổ, chia cách không phải là nỗi khổ, mà chính cái bức xúc của tâm mới là nỗi khổ. Và bây giờ muốn đừng đau khổ là làm sao? Là giữ cái cái tâm của mình. Thế là hoàn cảnh xảy ra gì đó thì dạ xảy,
[22:16]nhưng tâm ta không bức xúc, không dao động, không buồn phiền thì không khổ. Thế là họ tìm ra được bí quyết đó. Và khi họ tìm ra được cái bí quyết đó rồi, họ tu tập như thế rồi, bỗng nhiên họ rất là bình an. Như gặp một người xúc phạm, họ không thèm giận, họ không khổ. Rồi ví dụ đi vào cuộc chiến tranh nhà cửa tan nát, khói lửa ngút trời, nhưng mà họ không đau khổ, họ bình thản làm lại từ đầu bởi vì biết là nghiệp của mình, chấp nhận an vui. Hoặc là lỡ lúc nào đó trong nghèo khổ thì trong cái nghèo đó họ cần cù, họ tận tụy làm lại từ đầu, gieo lại từng chút phước trở lại, họ không khổ. Tức là tâm không thèm khổ, dứt khoát không để dao động, không buồn phiền.
[22:56]Họ làm chủ được tâm họ, họ nắm được tâm họ nên họ không đau khổ. Và như vậy, cái khổ ban đầu mà ta định nghĩa là nghèo nàn, tật bệnh, chia cách, đau khổ vì xúc phạm, vân vân thì những đó là cái khổ bên ngoài, chưa phải là cái khổ gốc. Và cái khổ gốc chính là nơi tâm ta. Và cái người biết tu là giữ được cái tâm, không cho tâm đau khổ dù hoàn cảnh có trái ngang, sâu hơn một chút. Tuy nhiên, sâu hơn nữa thì cái mà chúng ta vất vả toan tính á, cái đó là cái đau khổ. Những cái trò vui mà ta xao động theo đuổi cả đời, đó chính là đau khổ. Ví dụ một đứa bé nó thích cái trò chơi game điện tử, nó ngồi nó cứ bấm, ngồi nó tính toán,
[23:41]nó tranh hơn tranh thua trong cái máy điện tử thì một người có trí tuệ nhìn vô biết là thằng bé đang đau khổ bởi vì tâm nó đang xao động. Hoặc là một cái người đàn ông giàu có rồi đi theo đuổi những cái bóng hình, những trò vui, những cuộc nhậu thì chính cái xao động á gọi là đau khổ, không phải là sung sướng đâu. Như vậy. Nên vì vậy là cái người trí tuệ họ nhìn vô, họ hỏi thế nào là đau khổ, họ trả lời là ngày nào mà tâm còn xao động, còn si mê là còn đau khổ. Nên cái khổ mà sâu hơn là họ đi tới cái chỗ đó, không còn là hoàn cảnh bên ngoài nữa. Bây giờ chúng ta nói tới một cái tính chất của thế gian nữa là duyên hợp.
[24:21]Duyên hợp có nghĩa là thế này: vật gì, việc gì cũng do nhiều yếu tố hợp thành. Đó, điều này chúng ta dễ biết, học lớp bốn, lớp năm là ai cũng biết rồi. Cái nhà là phải do nhiều yếu tố: gạch, cát, xi măng, công thợ, không gian, thời gian mà làm thành; cây cối cũng là nhờ chất liệu từ đất, nước, không khí, ánh sáng, vân vân để mà mà thành, ai cũng biết rồi. Và khi mà nhìn mọi thứ trên đời nếu lúc nào ta cũng nhớ là mọi thứ đều do duyên hợp thì bỗng nhiên tâm ta không tham muốn vì ta biết chuyện gì cũng tạm thời, cũng chỉ là giá trị tạm thời. Ví dụ như là khi chúng ta nhìn thấy bức tranh của một cô gái lõa lồ
[25:01]thì cái người mà không có trí á, nhìn vô cái bị hình ảnh đó làm cho động tâm. Nhưng một người có trí tuệ họ nhìn vô họ không động tâm. Vì sao? Vì họ biết cái đó là cái gì? Chỉ là giấy và màu. Chứ có phải là cô gái không? Không phải cô gái, phải không? Nên họ nhìn họ tỉnh. Và bây giờ thật sự nếu có một cô gái lõa lồ thì tâm họ làm sao? Với cái người không có trí tuệ thì bị xao động theo bản năng, nhưng một người có trí tuệ nhìn vô thì thấy cái gì? Chỉ là thịt, xương, tứ đại thôi. Nên đó là họ nhìn thấy cái duyên hợp cho nên không còn tham muốn. Hoặc là ví dụ khi chúng ta nhìn thấy một cái sự giàu sang,
[25:46]một cái nhà cao cửa rộng của ai đó thì cái người không có trí tuệ sẽ thấy ham thích, muốn mình cũng được như vậy. Còn người có trí tuệ nhìn vô thì thấy đó là gì? Thấy đó là gạch, là đá, là sắt, là cao su, là sự lao động, là sự vất vả, sự đấu tranh, sự tranh hơn tranh thua, nhìn đó biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt, sự toan tính, nên tất cả nhiều duyên hợp mới tạo thành những điều đó nên họ thấy họ bình thản. Vậy những điều mà người khác ham muốn nhưng mà cái người có trí tuệ nhìn thấy cái lý duyên hợp rồi, không ham muốn nữa. Nhìn thấy không ham muốn.
[26:24]Và bây giờ ví dụ như là khi chúng ta nhìn một bức tượng Phật thì ta thấy là gì?
[26:35]Có phải Phật thật không? Không, phải không? Nhìn một bức tượng ta sẽ biết đó không phải là Phật thật vì đó chỉ là cái chất liệu hoặc là gỗ hoặc là bê tông, vân vân và những đường nét. Những cái chất liệu đó, đường nét đó được cái sự khéo léo, tinh tế của nghệ sĩ tạo nên và làm biểu tượng cho Phật. Nhưng rồi lại biến thành cái chỗ quy hướng cho cho chúng sinh. Vì vậy là ta khéo, ta không
[27:06]cố chấp nhưng mà không bác bỏ. Vì sao vậy? Vì tuy là duyên hợp nhưng mà người nghệ sĩ họ đã đặt cái tâm của họ đây là Phật vào nơi đó. Do đó có thần lực của Phật ứng chứng vào nên tượng Phật cũng linh thiêng làm cái chỗ để ta quy hướng. Nên tuy tượng Phật chỉ là bê tông, là cốt sắt, là đất sét hay là gỗ, nhưng mà đã có thần lực của Phật giáng vào đó, khi chúng ta lễ lạy ta cũng được công đức rất là nhiều. Đó là cái nhìn về duyên hợp nhưng mà ta thấy nhiều khía cạnh. Cũng giống như khi một người họ vẽ bức tranh phong cảnh đẹp vậy, thì ta nhìn vào đâu phải là phong cảnh thật, đâu phải là cây, suối, chim, rừng, đó chỉ là đường nét thì chúng ta không có chấp.
[27:54]Nhưng ta cũng quý mến cái công lao của người nghệ sĩ đã tạo nên cái đường nét đó để tạo thành những cái đẹp cho cuộc đời, những niềm vui cho cuộc đời. Vì vậy, khi hiểu cái lý duyên hợp ta không bác bỏ và không cố chấp, là như vậy. Cái tính xấu thứ tư của thế gian nữa là bất tịnh. Bất tịnh có hai nghĩa: nghĩa là cái thân này không sạch sẽ và cuộc đời này nhiều lầm lỗi. Thân này không sạch sẽ nghĩa là làm sao? Thật ra trên căn bản là cái thân phải rất là sạch, là máu ta phải vô trùng, tế bào ta phải tuyệt đối vô trùng, bởi vì nếu có nhiễm trùng mình sốt liền. Nên do đó thân phải rất là sạch. Tuy nhiên, phía sau cái sạch đó cái sự tuần hoàn của nó lại
[28:36]không sạch, vì ta phải ăn thức ăn rất là sạch nhưng mà cái chúng ta bài tiết ra từ thức ăn đó thì rất là rất là bẩn. Và tế bào ta rất là sạch nhưng những tế bào chết của ta nó loại ra ngoài da, chúng ta kỳ kỳ cọ cọ nó ra từng đốm, đốm cáu ghét. Ừ. Hoặc là máu ta rất là sạch nhưng mà cái mồ hôi ta tiết ra thì nó không không phải là sạch, vân vân. Đó, nên thân này không phải là sạch mặc dù nó vô trùng đấy. Thứ hai, ý nghĩa thứ hai nữa là cuộc đời này là đầy lầm lỗi. Cho nên là vì sao? Vì thực sự là chúng sinh sa đọa quá nhiều.
[29:15]Nói thì chúng ta không nói hết được đâu. Tất cả chúng ta đều giống nhau như vậy là bởi vì chúng ta ham vui, chúng ta ích kỷ, chúng ta tham lam, giận hờn, thù hận, cho nên chúng ta quá nhiều lầm lỗi. Và chính cái lầm lỗi, cái sa đọa đó làm cho cuộc đời này bị gọi là bất tịnh. Và chúng ta sống với nhau mình không thấy, nhưng khi một vị thánh ở trên cao nhìn xuống thế gian này, nhìn xuống chúng ta, thật giống như chúng ta nhìn xuống cái ao tù nước đọng mà nơi đó có những con cá giành giật với nhau từng cái miếng mồi. Như vậy chúng ta cũng như vậy, nên cuộc đời này là bất tịnh. Chúng ta không thấy, nhưng mà nếu nhìn bằng con mắt của
[29:54]thánh thì thấy cuộc đời này quả thật là lầm lỗi. Đó, bốn cái ý nghĩa của thế gian là là vô thường, là đau khổ, là duyên hợp, là bất tịnh nghĩa là như vậy. Và khi chúng ta tu, chúng ta đi tìm cái cái đạo quả thì đạo quả đó nó ngược lại hết, tức là nó là thường, lạc, ngã, tịnh. Thường là gì? Thường nghĩa là khi một vị thánh mà chứng được Niết bàn thì Niết bàn là cái gì đó tuyệt đối không biến dịch, không thay đổi nữa. À. Còn những cái gì mà chúng ta có nơi được nơi thế gian này đều có lúc biến dịch, có lúc thay đổi. Ngay cả như Đức Phật của ta cũng vậy. Có nhiều lần ngài đã nói ngài đã từng là vị bá chủ thế giới,
[30:38]trong kinh gọi là Chuyển Luân Thánh Vương á, mình dịch là bá chủ thế giới. Nhưng khi mà Đức Phật sắp nhập Niết bàn, tự nhiên một điều rất lạ lùng là ngài cứ đi thôi, năm đó 80 tuổi rồi, mà ngài cứ lặng lẽ ngài đi du hành vượt hết cái làng mạc này tới thị trấn kia, băng qua hết con sông này tới đồng ruộng kia để đi về một cái xứ là Kusinara. Thì ngài đến đó và ngài quyết định nhập Niết bàn. Thì các vị tỳ-kheo đệ tử của Đức Phật mới ngạc nhiên hỏi: Thế Tôn là bậc tôn quý giữa trời người, nhiều vị vua còn phải làm đệ tử của Thế Tôn, thế mà tại sao Thế Tôn không có chịu tịch, tức là nhập Niết bàn, nơi một phố thị,
[31:21]nơi một kinh thành để được vua chúa làm lễ trọng thể, được tôn vinh trọng thể mà về nơi cái xứ hẻo lánh, cái khu làng mạc Kusinara này có cái rừng sa-la và bên cạnh đó là một cái dân làng không lấy gì làm sung túc lắm? Các vị tỳ-kheo hỏi Đức Phật. Đức Phật mới nói: Đừng nói như thế! Này các tỳ-kheo, đừng nói như thế! Nơi đây vào khoảng mấy chục vạn năm trước chính là một kinh thành cực kỳ hoa lệ và Như Lai đã từng là vị vua trị vì ở kinh thành này. À lạ lùng như vậy. Và bây giờ chỉ còn là một cánh rừng hoang, không có gì hết. Lạ lùng. Thì như vậy chúng ta thấy có những lúc Đức Phật cũng đã hưởng những
[32:05]cái phước cực kỳ vinh quang, nhưng mà rồi đều phải thay đổi. Và ở cái kiếp cuối cùng, ngài cũng khước từ cái địa vị quyền chức để đi tìm cái đạo quả giải thoát mà nơi đạo quả giải thoát đó, ngài trở thành vị Thầy của tất cả thế gian gồm cả trời, cả người, vân vân, là như vậy. Một vị mà đã chứng được đạo quả Niết bàn rồi thì dĩ nhiên không bao giờ bị thoái chuyển. Nhưng mà những cái mức độ tâm linh khác thì còn có thoái chuyển. Nghĩa là sao? Nghĩa là có những vị thiền sư, chúng ta nghe nói vị đó ngộ đạo, chứng đạo, đắc đạo. Nhưng mà nếu vị đó chưa đạt được cái Niết bàn đồng như Phật thì vị đó vẫn có thể bị thoái chuyển, bị thay đổi.
[32:51]Tức là kiếp này là một thiền sư, nhưng kiếp sau lại trở thành là một người bình thường. Mặc dù cũng có tâm linh, nhưng không còn cái đạo quả xuất sắc như kiếp trước nữa, vì có một cái sai lầm gì đó mà đạo quả bị thoái chuyển mất luôn, cũng rất là lạ. Rất nhiều người lắm chứ không phải là không đâu, rất nhiều người. Có thể là trong những Phật tử đang ngồi đây, có một người nào đó kiếp xưa cũng đã từng là một thiền sư, không biết chừng. Vậy mà kiếp này mất à. Mất tiêu đạo quả đó, bây giờ lui lại là một người mộ đạo, yêu thích đạo lý, kính Phật, bắt đầu tu lại từ đầu, còn đạo quả ngày xưa mất luôn.
[33:28]Đây là điều rất là lạ và có thật. Bởi vì sao? Bởi vì cái đạo quả mà kiếp xưa ta chứng chưa phải là Niết bàn thật sự, mà trong cái thời đó ta có cái kiêu mạn, ta tưởng là ta đã tuyệt đối, ta đã quá cao rồi, cho nên không ngờ là vì cái kiêu mạn đó làm ta tổn phước, kiếp này ta bị lui lại, ta phải bắt đầu lại từ đầu. Đó, do đó, khi mà chúng ta tu theo Phật pháp, hãy nhớ một điều là không bao giờ được tự mãn. Dù chúng ta làm được rất nhiều công đức, vẫn thấy chỉ là những cái tầm thường nhỏ nhoi. Dù chúng ta tinh tấn ngồi thiền được nhiều giờ, vẫn thấy còn rất ít. Dù tâm ta cực kỳ thanh tịnh, phải nhớ là vẫn còn phiền động.
[34:09]Thì nếu mà người nào thường có cái ý nghĩ như vậy thì người đó sẽ không bị lui lui sụt, không bị thoái chuyển. Còn nếu không, chúng ta tưởng mình hay thì ta sẽ bị thoái chuyển. Chỉ những vị nào mà chứng được Niết bàn thì vị đó không bị thoái chuyển. Mà Niết bàn là gì? Niết bàn là bản chất cuối cùng của vật chất. Khi cái chúng ta thấy đây là vật chất là đất, là đá, nhưng mà nếu ta đi tìm tới bản chất sâu thẳm sâu thẳm, chúng ta sẽ gặp cái bản chất tâm linh của vật chất. Khi vật chất mà phân tích mịn ra rồi thì biến thành tâm linh, mà cái tâm linh đó mà phân tích ra tới tận cùng nữa biến thành Niết bàn luôn, tuyệt đối luôn. Ừm.
[34:47]Cái khái niệm không gian và thời gian vật lý của chúng ta, ví dụ chúng ta một năm có 365 ngày, mỗi ngày có 24 tiếng đồng hồ, đó là khái niệm của vật lý. Nhưng nếu một người mà họ sống trong cái cõi trời thì một ngày của họ có khi bằng mấy chục năm ở trần thế này. Là vị đó họ mới lên cõi trời, họ sống mới một ngày, tới chừng họ trở xuống lại thì mọi điều đã thay đổi hết, vì một ngày trên đó nhiều khi bằng mấy chục năm dưới này, khái niệm thời gian nó thay đổi không giống nhau. Và Niết bàn thì còn khủng khiếp hơn nữa. Nơi Niết bàn thì một khoảnh khắc tức là vô tận. Đây là điều rất là khó hiểu, mà chúng ta cứ tạm chấp nhận như vậy.
[35:25]Tức là một tích tắc tức là một thời gian vô tận luôn, bằng nhau luôn. Là một hạt bụi cũng là cả chứa đựng cả một vũ trụ luôn. Cho nên do đó là chúng ta nói tính chất của Niết bàn tức là không biến dịch, là thường, chúng ta đừng nghĩ là nó cứ kéo dài hoài, không phải, bởi vì nó không thời gian. Niết bàn là không thời gian, nên chúng ta gọi là vĩnh viễn, là bất diệt, là vô tận, nhớ như vậy. Bây giờ cái tính chất thứ hai của Niết bàn tức là lạc, lạc tức là hạnh phúc á. Niết bàn là hạnh phúc. Chúng ta đừng hiểu lầm Niết bàn là trống trơn. Có nhiều người khi tu theo đạo Phật, cứ nghe nói cái gì cũng không,
[36:03]rồi cứ tưởng là tu để tìm cho được cái không, cái gì cũng không là hay, không phải, thật sự Niết bàn là hạnh phúc. Bây giờ chúng ta muốn hiểu cái hạnh phúc của Niết bàn là như thế nào thì chúng ta hãy có một cái ví dụ như thế này. Ví dụ có một cái người đó làm công nghèo khổ, cái bị cái người chủ cái họ bắt gánh một gánh đá, ừm, đi từ cái nơi này sang nơi kia, cứ gánh đá đi hoài. Thì người đó khổ không? Khổ không? Khổ, phải không? Nếu mà trên vai chúng ta cứ phải gánh cái gánh đá đi hoài, chúng ta sẽ khổ. Nhưng bất ngờ thì cái ông gặp ông chủ tốt bụng, cái ổng lại đổi cái gánh, ổng không cho gánh đá nữa
[36:44]mà ổng cho cái gánh vàng, sung sướng không? Sung sướng không? Sung sướng, phải không? Rồi. Rồi khi gánh một gánh vàng, cái gặp cái ông chủ ác, cái ổng bắt cái gánh gánh đá. Gặp ông chủ thiện thì ổng cho gánh cái gánh vàng, cái thấy rất là sung sướng. Gặp cái ông chủ ác ổng bắt gánh cái gánh đá, rất là đau khổ. Nhưng mà cái hạnh phúc thật sự là gánh nào?
[37:08]Hạnh phúc thật sự là gánh nào? Không, đá là nặng, đau khổ. Thật sự, hạnh phúc thật sự là bỏ cái gánh xuống.
[37:20]Bỏ cái gánh xuống mới là hạnh phúc. Không gánh vàng, không gánh đá, nhẹ nhàng, thanh thản, thư thái. Đồng ý không? Mọi người đồng ý không? Nhớ. Chúng ta hãy cảm nhận điều này để hiểu Niết bàn là như vậy. Tức là chúng ta sống trong thế gian này khi chúng ta gánh đá, khi chúng ta gánh vàng, và cái người chứng Niết bàn tức là người buông cái gánh xuống, không gánh đá, không gánh vàng nữa. Đó, hiểu điều đó. Nhưng mà sẽ có người không chịu, nói: "Thôi thà gánh, không gánh vậy nó buồn. Thích có cái gánh." Nhưng mà cái người nào buông được cái gánh xuống rồi, bây giờ bắt bỏ gánh lên lại, cho gánh vàng cũng không gánh.
[38:01]Bởi vì mới biết buông cái gánh xuống mới thật là hạnh phúc tuyệt vời. Vì chúng ta chưa buông gánh xuống, cho nên bây giờ mà bắt là: "Bỏ hết cái gánh đi! Đừng gánh đá, đừng gánh vàng", nhiều khi mình không chịu, mình nói: "Không, tôi gánh đá để lát nữa tôi được gánh vàng." Nhưng mà đâu biết rằng gánh vàng rồi lát lại gánh đá. Gánh đá lát rồi gánh vàng, gánh vàng lát gánh đá. Còn người nào tu tập bỏ luôn cái gánh, không gánh đá, không gánh vàng mới là chân hạnh phúc. Hoặc là Phật có cái ví dụ là như một người mà chứng được Nhị thiền thì họ thấy thân tâm mình như cái suối nguồn hạnh phúc tuôn trào vô tận.
[38:37]Niết bàn là hai tính chất: vừa là bất động, vừa là hạnh phúc. Còn nếu chúng ta hiểu Niết bàn là bất động không có gì hết là ta hiểu một chiều. Phải hiểu cả hai: vừa là bất động mà vừa là hạnh phúc. Cái người mà mới bắt đầu phát tâm tìm đến Niết bàn á, ví dụ là như tất cả chúng ta là chúng ta phát tâm tu hành á, chúng ta không hiểu hết được cái hạnh phúc của Niết bàn, là chúng ta chỉ muốn làm cái gì? Khi mà chúng ta phát tâm theo Phật pháp là trong đầu chúng ta sự thực là mình không có biết là mình đang đi tìm một cái hạnh phúc tuyệt đối đâu, mà mình chỉ muốn một điều: là không muốn làm một phàm phu tầm thường nữa thôi.
[39:18]Khi tất cả chúng ta ngồi ở đây là những người chúng ta đi theo Phật, theo tu hành, dù ít dù nhiều chúng ta có phát tâm, chúng ta chả biết hạnh phúc Niết bàn là gì đâu, mà chỉ muốn làm một điều: là không muốn làm một cái người tầm thường như trước đây nữa thôi. Nhưng mà không ngờ, không ngờ là trên con đường Phật đạo này ta cứ đi tới mãi, đi tới mãi, cho đến cái ngày cuối cùng ta đạt được Niết bàn rồi thì ta cũng đạt được cái hạnh phúc tuyệt đối vô tận luôn. Đây là cái thành quả bất ngờ, một cái kết quả rất là bất ngờ. Chính vì cái quả phúc của Niết bàn quá lớn nên ta cũng phải có cái giá phải trả tương xứng,
[39:57]nghĩa là những công đức đã gieo trồng cũng phải rất là tương xứng, phải rất là lớn chứ không có nhỏ được. Vì nhớ nha, hạnh phúc Niết bàn là tuyệt đối vô tận, cho nên cái nhân mà ta gieo cũng phải tuyệt đối vô tận. Nghĩa là sao? Nghĩa là ngày nào mà tâm ta đạt được cái tình thương yêu đến với chúng sinh vô hạn thì đó là cái nhân để sau này chúng ta chứng được Niết bàn, hạnh phúc tuyệt đối. Còn nếu chúng ta có cái tình thương yêu đối với mọi người mà còn hạn chế, thương người này không thương người kia, tâm vẫn còn có chút cục bộ hay ích kỷ, thì ta không thể chứng được Niết bàn tuyệt đối, có thể ta chứng được một quả thánh nào đó nho nhỏ rồi dừng lại.
[40:41]Còn cái người mà nguyện lòng thương yêu tất cả chúng sinh, sống một đời tận tụy, hy sinh, làm tất cả mọi điều lợi cho mọi người, không mong cầu cho mình dù là một hạt bụi nhỏ, thì đó là người có cái nhân để sau này chứng được Niết bàn. Chúng ta nhắc lại chỗ này chút xíu. Người nào mà có thể thương yêu tất cả chúng sinh, nguyện cả một đời tận tụy đem lợi ích đến cho mọi người, thì người đó có cái nhân sẽ làm Phật sau này. Tuy nhiên, tuy nhiên, đừng liều mạng. Có nhiều người hiểu lầm câu này. Hiểu lầm nói rằng là một đời tận tụy tất cả cho mọi người, không mong gì cho mình, thế là người này cứ liều mạng giúp
[41:19]người khác mà bất kể tới sức khỏe của mình, bất kể tới gia đình mình, thì đó là một cái liều mạng sai lầm, chứ không phải là cái người tận tụy hy sinh đúng nghĩa. Vì cái người tận tụy hy sinh đúng nghĩa họ làm mà chừng mực. Tại vì sao vậy? Họ biết giữ cái thân này lại để mà tu tập lâu dài, chứ không được liều mạng phí cái thân, nhớ như vậy. Cái tính chất thứ ba của Niết bàn là ngã. À, nghe cái ngã rất là lạ. Chúng ta nghe cái ngã chúng ta đừng tưởng Niết bàn là bản ngã nha. Bởi vì sao? Bởi vì Niết bàn là vô ngã. Cho nên khi mà các vị nói cái tính chất của Niết bàn là ngã thì không phải là cái chấp ngã của phàm phu bình thường như chúng ta.
[41:59]Chúng ta hiện nay ai cũng có cái chấp ngã là thấy trong tâm mình có cái ta, từ cái ta này ta có cái tham lam, có cái ích kỷ, có thù hận, đủ thứ hết. Thì cái người tu mà đạt được vô ngã thì tâm không còn tham lam, thù hận, ích kỷ nữa, gọi là cái vô ngã là đỉnh cao trong sự tu hành của đạo Phật. Nhưng mà tại sao Niết bàn là đỉnh cao đạo Phật mà các vị lại nói là có cái ngã ở trỏng? Cho nên chúng ta hiểu cái ngã đây không phải là cái chấp ngã như ta, mà ngã đây có nghĩa là sức làm chủ phi thường, sức làm chủ phi thường. Niết bàn tức là sức làm chủ phi thường. Tất cả chúng sinh như chúng ta không ai làm chủ được cuộc đời mình, tâm hồn mình cả.
[42:42]Nhớ như vậy, tất cả chúng ta ngồi đây không ai làm chủ được cuộc đời mình và tâm hồn mình. Chúng ta muốn ngày mai chúng ta giàu sang, nhưng ngày mai có giàu không? Không, không giàu. Chúng ta muốn ngày mai đừng bệnh, nhưng mà ngày mai vẫn vẫn bệnh, à vân vân. Nghĩa là ta không hề làm chủ được cuộc đời mình. Chúng ta muốn người khác thương mình, nhưng người ta vẫn ghét mình. Ta không làm chủ được cuộc đời mình, và tâm hồn mình cũng vậy. Chúng ta muốn tâm ta sáng suốt, nhưng nó cứ ngu là nó cứ ngu. Ừm, chúng ta muốn tâm ta vui, nhưng mà nó cứ phiền muộn là cứ phiền muộn, nên ta không hề làm chủ. Và tại sao vậy?
[43:20]Vì chúng ta si mê. Từ xưa chúng ta si mê, chúng ta làm bao nhiêu tội lỗi nên bây giờ quả báo tới khiến cho thân ta bất an, tâm ta bất an, hoàn cảnh ta khổ sở. Là cái chuỗi nhân quả cứ nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại đến vị lai, ta đã gây nhân xấu, bây giờ là ta không làm chủ cuộc đời mình được nữa. Nên có nhiều người tưởng là nói tôi làm chủ cuộc đời tôi là tôi muốn làm gì tôi làm, không có đâu. Ta chỉ làm chủ cuộc đời ta qua nhân quả thôi. Nếu chúng ta gây một cái nhân sáng suốt, ta làm một điều đúng, thì sau này ta được tự do, ta làm chủ được thân tâm của mình. Còn nếu ta gây cái nhân sai lầm, ta hại người khác,
[44:03]ta làm người khác đau khổ, thì sau này ta không làm chủ được cuộc đời mình, ta muốn cuộc đời mình vui nhưng nó cứ khổ, bởi vì luật nhân quả có cái sức mạnh rất là khủng khiếp. Do đó, khi chúng ta muốn làm chủ cuộc đời mình thì chỉ có một điều duy nhất là ta phải gieo nhân lành mà thôi, tức là đem niềm vui đến cho người khác, đem hạnh phúc, đem lợi ích, đem đạo lý đến cho người khác, thì đó là chúng ta sẽ đạt được cái sức làm chủ tương lai, sau này ta muốn ta vui, ta sẽ vui. Là ta đạt được cái ý của mình chỉ bởi vì ta đã làm chủ ngay từ cái nhân ban đầu, nhưng mà đa phần là mọi người không làm chủ được.
[44:43]Những kiếp xưa ta đã làm nhiều điều sai lầm, bây giờ cái thân ta, tâm ta, cuộc đời ta nó bị cái nhân quả đẩy đi theo một cái dòng nghiệp nhất định, ta không cưỡng lại nổi, á, nhớ ta phải chịu thôi. Còn cái vị mà giác ngộ rồi thì vị đó đã giác ngộ từ rất xưa, không phải là vị đó ờ nói tu kiếp này cái nghe tin vị đó đắc đạo rồi tự nó tự tại, không phải đâu. Để được ngày hôm nay đắc đạo thì vị này 300 kiếp trước đã bắt đầu làm những điều đúng rồi, 1.000 kiếp trước đã bắt đầu làm những điều đúng rồi, nên ngày hôm nay những điều đúng nó dồn lại dồn lại, khiến cho vị đó làm chủ được thân mình, làm chủ được tâm mình, làm chủ được cuộc đời mình.
[45:25]Nên đây là cái sức làm chủ rất là sâu xa. Và cái vị nào mà đắc đạo thì vị đó chỉ thuần còn cái thiện nghiệp của quá khứ, không bao giờ làm điều ác, nên vị đó hoàn toàn được tự do, được làm chủ được cuộc đời của mình. Cho nên vì vậy, nơi một cái vị chứng đạo thì thân của vị đó là một lâu đài công đức, tâm của vị đó là pháp giới bao la, còn trí tuệ của vị đó là thấu suốt hết mọi điều trong vũ trụ, sáng suốt tuyệt đối luôn, mà vị đó không có cái chấp ngã ích kỷ nhưng lại có sức làm chủ. Đây là điều khó hiểu của Niết Bàn. Chúng ta cứ tưởng ta có cái ta thì mới có cái muốn để chúng ta muốn điều này, muốn điều kia.
[46:08]Trong Niết Bàn không còn cái ta, nên không còn cái muốn, nhưng mà lại vẫn có sức làm chủ. Đây là điều rất khó hiểu, nên chúng ta phải cảm nhận thôi. Cái bài hôm nay khó là vì những chỗ này. Chúng ta nhắc lại một chút. Tất cả phàm phu chúng ta đó, chúng ta có cái bản ngã nên ta muốn đủ thứ chuyện trong đời, chúng ta muốn đẹp, muốn sang, muốn giàu, muốn mọi người thương thương mình, muốn được cung phụng, muốn được nổi tiếng, muốn được đủ thứ hết. À chúng ta muốn tâm an lạc, thân an lạc, chúng ta muốn vừa được điều trong đạo, vừa được điều trong đời, chúng ta tham đủ thứ hết. Còn cái người mà họ chứng đạo, cái ta không còn nên cái muốn
[46:45]không còn, không có tham gì hết, không muốn giàu, không muốn sang, không muốn nổi danh, là không muốn được gì hết, nhưng lại được cái sức làm chủ, lạ lùng như vậy. Không có cái ta mà lại có sức làm chủ. Đây là điều cực kỳ khó hiểu, nên mong mọi người chúng ta cố gắng cảm nhận nha, chứ không hy vọng là ta hiểu hết được. Nhưng thôi ráng cảm nhận được phần nào là chúng ta có thiện căn phần nấy. Tức là nơi Niết Bàn không hề có bản ngã nhưng có sức làm chủ. Mà cái sức làm chủ đó người xưa họ lại không biết dùng chữ nào, họ dùng luôn cái chữ ngã để vô. Nên sau này chúng ta nghe nói Niết Bàn là thường,
[47:19]lạc, ngã, tịnh thì đừng tưởng là Niết Bàn còn bản ngã, mà chỉ hiểu rằng Niết Bàn là có sức làm chủ tuyệt đối, chứ không phải là còn bản ngã nha. Và cái sức làm chủ này nó cũng khác với cái đại ngã của ngoại đạo, cái cái đại ngã của ngoại đạo vẫn còn là ngã, chỉ có trong đạo Phật mới đạt được cái vô ngã và chính cái vô ngã của Phật là cái sức làm chủ tuyệt đối luôn. Đó. Bây giờ chúng ta nói qua cái tính chất cuối cùng là cái tịnh. Tịnh nghĩa là không còn lầm lỗi dù là một hạt bụi nhỏ. Niết Bàn là một nơi thuần khiết, trong sạch, thuần thiện, không bao giờ có một lầm lỗi nhỏ. Cho nên cái vị mà chứng Niết Bàn là vị đó cực kỳ sáng suốt,
[48:01]không còn cái vô minh, không còn cái mê lầm, đó. Đây là cái cái giá trị cao cả của Niết Bàn, là tuyệt đối không còn lỗi lầm. Còn tất cả chúng ta, chúng ta còn nhiều lỗi lầm, mà nếu người nào tu có tiến bộ một chút thì bớt lỗi lầm thôi chứ vẫn không thể hết sạch được lỗi lầm. Còn cái người mà đạt được Niết Bàn tuyệt đối như Phật và các vị A-la-hán thì không còn lỗi lầm dù là một hạt bụi rất nhỏ. Nên cái chữ tịnh của Niết Bàn nghĩa là như vậy. Nhưng mà muốn đạt được cái tịnh đó, tức là cái tuyệt đối không lỗi lầm đó, thì chúng ta cũng phải có cái nhân tương xứng. Cái nhân tương xứng đó là sao? Cái nhân tương xứng đó là từ bây giờ bản thân ta cố gắng đừng
[48:45]làm lỗi lầm và giúp mọi người chung quanh đừng phạm lỗi lầm. Giúp mọi người chung quanh ta đừng phạm lỗi lầm nghĩa là sao? Nghĩa là luôn luôn chúng ta đem giáo lý mà giúp cho mọi người được được thông hiểu. Đó. Khi mọi người thông hiểu được đạo lý rồi, họ không lỗi lầm nữa thì chính là ta, ta đã gây được cái nhân của ta sau này không phạm lỗi lầm nữa, nhớ như vậy. Ờ cái nhân quả cái tương quan, chúng ta muốn điều gì cho mình thì cũng hãy làm điều đó cho người khác trước rồi ta sẽ đạt được. Vì vậy, cái lý tưởng của một người tu hành từ bây giờ là vậy, là mong cho chúng sinh được an vui, được hạnh phúc và không lỗi lầm, nhớ như vậy.
[49:24]Nên chúng ta đem cho mọi người một bát cơm, một lời khen, à một sự giúp đỡ, tức là đem cho mọi người được hạnh phúc, nhưng nếu chúng ta đem cho mọi người một cái đạo lý, tức là chúng ta đem cho mọi người được sự thanh tịnh, không lỗi lầm, và cái nhân đó mới là cái nhân chính đáng, lâu dài. Nên bốn cái đức của Niết Bàn hôm nay chúng ta nói: Thường, lạc, ngã, tịnh là bốn tính chất tuyệt đối, mà Niết Bàn còn rất nhiều tính chất tuyệt đối khác nữa, nên ta nói hoài không hết. Cái bài hôm nay, chúng tôi cũng xin lỗi là bài hơi khó hiểu, hơi cao, hơi trừu tượng, là để đón mừng cái ngày Phật chứng đạo, thành tựu được Niết Bàn,
[50:00]nên ta nói bài này, hơi khó hiểu, mọi người thông cảm một chút. Nhưng mà nếu ai nghe bài này mà có được một chút cảm nhận thì người này có được cái phước duyên rất là lớn đối với Phật pháp. Xin cũng chúc cho quý Phật tử được càng ngày càng hiểu sâu cái đạo lý Niết Bàn để mà tu tập.
[50:41]Ngàn xưa rừng thẳm hoang vu, Người ngồi bất động như là hư vô. Màn đêm yên vắng từ canh ba và nhẹ bước dần sang canh tư, đó là lúc Sa-môn Gautama kết thúc 6 năm khổ hạnh và 49 ngày tham thiền nhập định, chứng đạt tam minh. Vũ trụ chợt bừng sáng, toàn thể tăng ni, Phật tử đã thức giấc từ 3 giờ 30 và xếp chân kiết già tĩnh tọa nơi chánh điện trang nghiêm. Ngày hôm nay, tuy chưa ai chứng đạt, chứng ngộ được như Ngài, nhưng chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy nét rạng ngời an lạc của hơn 6.000 người đang thầm hứa muôn kiếp nghìn đời một lòng theo chân Phật. Ôi thiêng liêng biết bao khi từ đây Người thành Phật và mở ra một kỷ
[51:27]nguyên mới cho nhân loại, được xây dựng bởi từ bi và tuệ giác. Tất cả chúng con quỳ đây, bên thánh tượng Người rực rỡ hoa thơm và lung linh ánh sáng, chúng con xin dâng lên những lời tâm nguyện chân thành, với lòng tha thiết vô vàn, sẽ gieo chánh pháp trên ngàn thế gian, giữ gìn ánh sáng từ bi, cùng nhau dâng hiến đời vì đạo thiêng.
[52:05]Mặt trời lên cao làm khuôn mặt mọi người thêm tươi hồng khi lên xe ra về, trở lại với đời sống thường ngày. Sau hai ngày một đêm ở lại dự lễ với những tiện nghi ít ỏi nhất, nhưng mọi người không hề thấy mệt mỏi và ngược lại thấy lòng mình tin sâu Tam Bảo hơn, thương yêu cuộc sống này hơn và thầm nguyện sẽ đối xử tốt với nhau hơn để xứng đáng là người đệ tử Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.