Transcript: Bậc Thánh Thấy Như Thế Nào - Kinh Kim Cang 06

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:32

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:13]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:27]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:38]Kính mời quý Phật tử ngồi xuống. Nay chúng ta nghe tiếp cái Kinh Kim Cang, mà ngay cái đoạn: "Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh nhược tâm thủ tướng, tắc vi trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nhược thủ pháp tướng, tức trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nhược thủ phi pháp tướng, cũng tức trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Thị cố bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp. Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết: Nhữ đẳng tỳ-kheo tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp." Ở đây trang 9 trang 10 ạ. Cái đoạn này thì nó cũng giống như cái ý ở trên chúng ta nói, nhưng mà được lặp lại để nhấn mạnh, cho nên chúng ta cũng phải lặp lại. Vì sao?

[1:25]Vì nếu những chúng sinh đó mà có tâm chấp thủ, thủ tướng tức là chấp đó, tổng quát thôi chứ không cần phải định nghĩa tướng là gì, thì ắt là sẽ dính vào bốn tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Bốn thứ này chúng ta nói với nhau rồi. Nếu chấp pháp tướng, tức là chấp cái tướng của kinh điển, chấp vào cái hình thức kinh điển thì cũng vướng vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, mà nếu bác cái kinh điển là phi pháp hay là chấp tà pháp thì cũng vướng vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Cho nên đừng chấp gì cả. Từ đạo lý đó, Như Lai vẫn thường dạy tỳ-kheo các ông rằng: "Những giáo lý của Ta cũng giống như chiếc bè,

[2:00]chánh pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp." Cái câu mà nói là "chánh pháp còn phải bỏ huống là phi pháp" hình như cũng có một mình đạo Phật nói, không có đạo thứ hai. Mình nghe thì thấy bình thường nhưng mà không ai đủ can đảm nói câu đó trừ Đức Phật. Thường á cái điều gì mình đã dựng nên rồi thì mình yêu quý, mình giữ gìn, ca ngợi, mình tôn vinh, mình bảo vệ. Chỉ có một mình Đức Phật suốt một đời thuyết pháp rồi coi như không có gì. Chỉ có đạo Phật mới kỳ cục như vậy thôi, không có đạo nào kỳ hết trơn. Chúng ta hiểu thế này, cái bộ Kinh Kim Cang coi vậy chứ ngắn ngủn à. Cái bản dịch là gồm cả cái tiếng Việt và chữ Nho có nhiêu đây.

[2:39]Cắt làm đôi còn có chút xíu à, nên mỗi đoạn ý tứ nói rất là ngắn. Nên đọc theo nguyên văn cái câu chữ Nho mình không hiểu mà nó cô đọng quá, không có hợp. Cho nên trong cái thời đại này mà muốn cho người ta hiểu mình phải nói rất là dài. Còn người xưa thì cái chữ viết khó, in cũng khó, cho nên đa phần người ta chủ trương là nói gọn, viết cho gọn để mà dễ truyền bá, dễ giữ gìn. Khác với thời đại nay ai cũng có cái máy in, ai cũng có thể ghi, có thể viết lách nên nhiều khi cũng một cái ý đó mà người xưa họ nói chừng một câu, mà người nay có thể nói thành 10 trang giấy, à lạ như vậy. Nên vì vậy, khi chúng ta học những bản kinh cổ

[3:18]như thế này chúng ta phải kiên nhẫn dữ lắm. Kiên nhẫn ở chỗ là... là mình không có học vội được, mình phải nghiền ngẫm từng chữ từng chữ, cẩn thận dò đoán cái ý của cổ nhân. Tại vì sao vậy? Tại vì cả mấy ngàn năm rồi, cái người xưa họ nói chữ đó nhưng mà nhiều khi nghĩa khác mình thời nay. Rồi mình cứ tưởng là giống nghĩa mình thời nay cái mình hiểu trật hết liền. Ví dụ như cái người xưa mà họ dùng cái chữ quậy nghĩa là cái gì? Nghe chữ quậy là mình sẽ vui bởi vì giống như khuấy nước chanh đường đưa mình uống, nhưng mà thời nay cái chữ quậy là sao? Mình phải né, nó khác nhau nhiều lắm. Cho nên trong đây nè, Đức Phật cũng dạy

[3:57]là nếu mà chúng sinh chấp tướng, tức là nhược tâm thủ tướng á, thì mình vướng trở lại bốn cái hình thức tồn tại, tức là ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Cái này chúng ta không nói lại nha, mọi người chịu khó nghe băng cũ. Đó là thứ nhất là chấp vào mọi thứ trên đời này. Ví dụ mình chấp vào tài sản, vào sắc đẹp, vào tình thân quyến, vào thọ mạng, vào tài năng, vân vân thì lập tức mình sẽ thấy có sự tồn tại của mình. Dù là cái tồn tại đó nó tầm thường như là một chấp ngã hoặc là nó cao thượng như là thấy mình đồng với tất cả chúng sinh cũng đều vẫn còn là chấp, nếu chúng ta chấp. Cho nên vì vậy Phật khuyên là đừng chấp gì hết.

[4:39]Thì cái câu mà được khuyên đừng chấp gì hết á, chúng ta nghe chúng ta hiểu không? Hiểu không? Hiểu, sao không hiểu, dư sức hiểu. Hiểu và dư sức hiểu để có thể giảng lại cho người khác được nữa, đúng không? Nhưng mà làm được chưa? Đây là cái chỗ khác nhau thôi. Chứ đa phần chúng ta hiểu và có thể nói lại, có thể viết sách lại được, nhưng mà có cái là mình chưa hành được thôi. Chúng ta phải phải biết điều này một chút. Nên theo chỗ khác nhau là khi chúng ta hiểu được giáo lý về cái những cái điều thế này là đừng có chấp gì hết, chúng ta có thể khuyên người khác cũng đừng chấp gì hết, nhưng phải hiểu một điều là cả mình và người đó cũng chưa ai làm gì được nhiều.

[5:17]Do đó chúng ta khiêm tốn trong cái câu nói. Ví dụ bây giờ mình gặp một người họ đang phiền não, họ đang buồn vì cái chuyện gia đình họ đổ vỡ, hay tài sản họ hao hụt. Mình thấy họ buồn quá, mình đến mình khuyên họ: "Ờ chuyện trên đời như mây nổi, như gió bay. Thôi anh đừng có buồn nữa, đừng có chấp nữa, những cái đó nó vô thường, nó đến rồi đi." Thì cái cách mình nói như vậy hoàn toàn đúng đạo lý vì mình có hiểu như vậy, và mình cũng muốn cho người kia hiểu như vậy, tu được một chút vậy để đỡ buồn thì hoàn toàn tốt, những cái điều như vậy hoàn toàn tốt. Và chúng ta nên nói như vậy với người khác

[5:54]để giúp cho mọi người trong cuộc đời này họ bớt buồn bớt khổ. Điều đó như vậy. Nhưng chỉ có một cái điều là cái cách mình nói á phải khiêm tốn một chút, chứ đừng có nói theo kiểu là như mình đã chứng rồi. Ví dụ như có người nói: "Anh đi đâu vậy?" Họ thấy mình đi trên đi ngoài đường á, mình đi lơn tơn ngoài đường họ hỏi: "Anh đi đâu vậy?" Cái mình nói: "Tôi không đến không đi." Nói nói cái giọng đó là làm như mình chứng tới nơi rồi. Thì cái đó là sai. Còn ví dụ như cho nên là không nên là đem cái giáo pháp mà mình trình bày với một cái ý khoa trương, khoe khoang như vậy. Ví dụ người ta hỏi mình đi đâu thì mình nói làm sao? Mình nói làm sao?

[6:34]Mình đi đâu mình nói đi đó thôi. Chỉ trừ trường hợp mình đi những công chuyện quá bí mật thì không thể nói được thôi, phải không? Thì mình chỉ nói là: "Thôi tôi đi có công chuyện một chút", bình thường. Bởi vì trong các nhà Cát Đằng có một câu chuyện, đó là hai ông thầy, hai cái chùa gần nhau rồi hai ông thầy có hai đệ tử. Mà bên thầy kia thì cái chú đệ tử chú lanh, chú có trí tuệ, và bên chú này thì muốn thắng, cái hỏi đáp hỏi đáp mà lần nào cũng bị thua. Cái lần này mới gặp nhau mới hỏi đáp, nói: "Chú đi đâu vậy?" Nói: "Tôi đi đâu mà chân tôi bước." Về ông đệ tử này lần sau hỏi ông thầy, ông thầy nói là:

[7:07]"Nếu mà anh không có chân thì đi đâu?" Rồi cái lần gặp, cái ông kia đi, nói: "Anh đi đâu vậy?" Cái nói: "Tôi đi nơi đâu gió thổi." Cái không có trả lời giống như lần trước nên làm ông này không bắt bẻ được. Ổng cứ bị chấp vào cái quá khứ đó, chấp vào cái đã qua cho nên không nắm được. Rồi cái lần sau cái về hỏi ông thầy, ông thầy nói: "Thì con phải hỏi là nếu không có gió thì anh đi đâu?" Cái này ổng canh, gặp ông kia nói: "Anh đi đâu vậy?" Cái anh này trả lời: "Tôi đi chợ mua rau." Rồi, huề luôn. Tức là khi mà mình chấp theo cái chữ nghĩa để mình đối phó, mình tranh hơn tranh thua thì nó đã qua mất, cái chuyện nó đã qua.

[7:39]Còn cái người mà có trí tuệ họ sống trong hiện tại thì từng giờ từng phút họ linh động. Mà cái chú kia có thể trả lời thiệt chứ chú cũng không phải là chú muốn bắt bí hay làm khó khăn. Ví dụ như câu đầu tiên hỏi: "Anh đi đâu vậy?", nói: "Tôi đi đâu mà chân tôi bước" thì có khi ảnh trả lời thiệt, tại vì ảnh không biết đi đâu nữa, thì chân ảnh đi đâu thì nó đi đó, tức là hoàn toàn ảnh vô tâm ảnh không có chủ định, ảnh trả lời thiệt tình. Còn anh này cứ muốn là anh này trả lời bí hiểm, mình muốn tranh hơn thì cái người muốn tranh hơn lại không được gì hết. Vì cái chấp cái tranh hơn đó mà để lần sau

[8:10]mà canh để trả thù thì lần này ổng lại nếu đi hóng gió, cho nên ổng nói thiệt: "Anh đi đâu vậy?", nói: "Tôi đi nơi đâu gió thổi." Thì ổng nói thiệt trong bụng ổng vậy, ổng đi hóng gió, ổng không có quan trọng. Còn cái người mà có tâm hơn thua thì khổ sở, cứ canh hoài. Rồi cái lần thứ ba bắt bí nữa thì lần này ổng đúng đi chợ mua rau thiệt, ông thầy sai ổng đi mua rau. Ở đây chúng ta thấy khi mà mình có cái cái chấp thì trong cái chấp này nó có nhiều cái phiền toái, có ngã, có nhân, có hơn, có thua, chỉ làm cho cuộc sống mình phiền muộn. Giờ mình gặp cái người mà mình khuyên người ta: "Thôi đừng chấp gì hết" thì cái câu mình khuyên người ta

[8:45]đừng chấp thì nó phải thực lòng, không có khoe khoang. Ví dụ như là mình mặc bộ đồ nó rách, lỡ bữa đó là mình bị đi té rách hay là lâu quá rồi mình không vá gì nó rách, thì có người mới gặp mình vậy mới hỏi: "Ủa, sao nay anh mặc đồ rách vậy?" Thì mình trả lời làm sao? Mình trả lời là lành hay rách, đẹp hay xấu gì cũng bằng, phải không? Nói vậy. Thì cái đó là sao? Cái đó nói xạo. Tại vì á thì đúng cái lý đó, trên cái lý đó thì đúng là với một người có trí tuệ đó thì mình thấy cái áo lành hay áo rách gì nó cũng vậy, như là sắc tức thị không, không tức thị sắc. Cái người mà tâm được thanh tịnh rồi đó, bỗng nhiên họ vượt qua đó,

[9:27]họ thấy cái lành hay rách hay đẹp hay xấu gì cũng vậy thôi, thì câu đó không có sai. Nhưng mà khi mình trả lời câu đó thì cái tâm mình nó đang ở tình trạng gì? Khi mình trả lời câu đó, tâm mình nó có hai cái trạng thái: một là bắt chước, phải không? Hai là khoe khoang. Thành thử nó trật, trật vì cái đó đó. Chứ còn nếu mà một người mà họ tâm họ thanh tịnh và đúng là họ bình họ đã thấy lành với rách nó bằng nhau rồi đó, họ có cách trả lời khác. Nó cũng nói cái ý như vậy mà nó nhẹ nhàng. À ví dụ như họ hỏi: "Ủa sao anh mặc cái đồ rách vậy?", họ nhìn nhìn cái đồ rách họ cười cười, họ xoa xoa, rồi thôi, họ không bận tâm là biết người này.

[10:07]Ví dụ họ nghèo mà họ bình thản, họ thanh thản, chứ họ không nói câu gì mà nghe nó nó khủng khiếp như trong kinh hết, à họ bình thường thôi, thì người đó coi chừng tâm họ thanh tịnh. Còn cái người mà nổ nghe ầm ầm á thì coi chừng vậy chứ không có gì, miễn văng um sùm chứ mà không trúng ai. À mà cái kẹt á là cái mà mình chấp á thì nó thành ra là cái bốn tướng trong lòng mình nó còn đầy đủ là ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Mà đoạn này nhắc lại chỗ là nếu mà mình chấp pháp tướng thì mình cũng bị mắc như vậy. Chấp pháp tướng nghĩa là vướng vào cái từng lời từng lời trong kinh điển. Ừ. Nên ở đây là có những tu sĩ, trong đạo Phật cũng vậy,

[10:45]có những tu sĩ chấp từng chữ trong kinh như vậy đó, sợ sai với kinh điển và tự cho mình là chánh thống, cho mình mới đúng đạo Phật, còn ai nói khác là không phải đạo Phật, tại vì mình là người giữ từng dấu phết, dấu chấm của kinh. Nhưng mà có khi người như vậy mới hiểu sai Phật á, là bởi vì sao vậy? Bởi vì cái giáo lý, cái giáo nghĩa đó nó nằm xuyên qua khỏi chữ nghĩa, nó nằm ở trong tâm của Đức Phật á mà Đức Phật thể hiện qua bằng lời, bằng chữ. Và bây giờ mình không chịu dựa vào cái lời chữ đó để mình tìm cái nghĩa trong tâm Đức Phật mà mình chỉ chấp cái chữ, cái nghĩa đó, cho đó là chân lý cuối cùng, là chỗ dừng lại thì thật là oan cho Đức Phật.

[11:24]Nên ở đây chúng ta học kinh Kim Cang, chúng ta học được một cái điều vô cùng quý giá, vô cùng quý giá là chỗ này: là chúng ta nương vào cái chữ nghĩa của Phật để hiểu được tâm của Phật.

[11:41]Nhớ như vậy đó, nương vào chữ nghĩa của Phật để hiểu được tâm của Phật. Cho nên à khi chúng ta đọc một đoạn kinh, có cái đoạn nào đó lờ mờ mình không hiểu thì mình đừng có ngồi mà cứ mày mò mày mò mấy cái chữ đó, chấp từng chữ rồi tra từ điển từng chữ từng chữ, coi chừng lại không hiểu. Mà lúc đó nên lắng lòng thanh tịnh hướng về Phật, hướng về Phật với lòng thành kính, đoán xem Phật muốn nói điều gì. À tự nhiên bỗng nhiên mình sẽ được Phật gia hộ, mình hiểu đúng được cái nghĩa Phật muốn nói. Đây là cái chỗ quan trọng. Chúng tôi cũng dùng cái bí quyết này. Khi chúng tôi học kinh điển, chúng tôi cũng dùng cái bí quyết này.

[12:28]Nghĩa là khi đọc một đoạn kinh cổ, có những từ không hiểu được mà tra từ điển thì cái người mà họ diễn giải từ điển thì họ cũng sống thời đại của mình, họ cũng chẳng hơn gì mình. Rồi lúc đó là chỉ lắng lòng thanh tịnh hướng về Phật, hướng về Phật để tìm xem Phật muốn nói gì và cầu Phật gia hộ thì tự nhiên lại sáng lên. Nên nhờ như vậy mà khi đọc tới đoạn kinh Kim Cang này, chúng tôi rất là là tâm đắc, rất là mừng vì thấy là mình đã vô tình đi đúng được điều kinh Kim Cang dạy là chúng ta chỉ nương chữ nghĩa để hiểu tâm của Phật, chứ đừng có dừng lại ở chữ nghĩa rồi tranh cãi với nhau. Đó như vậy. Mà nếu chúng ta vượt qua được cái chữ nghĩa,

[13:14]hiểu được tâm Phật á thì trong kinh khen: người này có công đức lớn, người này không có vướng vào bốn tướng à ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. À Phật khen như vậy. Rồi Phật cũng cảnh giác: nhưng mà nếu bác hết giáo lý thì cũng bị rơi vào bốn tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả lại. Bởi vì sao vậy? Bởi vì nếu không có cái chữ nghĩa để gợi ý thì mình không thể hiểu sâu được vào trong tâm của Phật. Nghe cái câu nói này, nhiều người chúng chúng ta sẽ hơi ngạc nhiên nói: làm sao mình hiểu được tâm Phật? Phàm phu sao hiểu được tâm Phật? Thì chúng tôi xin trả lời thế này: là tâm Phật, mình nói với nghĩa rất rộng,

[13:55]chữ tâm Phật đây không có phải là cái tâm chứng của Phật, không phải là quả vị Phật. Quả vị Phật hay tâm chứng của Phật thì chỉ có Phật và Phật mới biết. Nghĩa là đoạn sau kinh Kim Cang chúng ta sẽ đọc tới cái đoạn mà Phật nói là Phật có ngũ nhãn á, có là nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn, thì lúc đó chúng ta sẽ giải thích lại cái chỗ này. Đó là cái chỗ tâm chứng thì chỉ Phật và Phật mới biết. Còn ngoài cái tâm chứng đó ra, ví như Phật khi giảng kinh, Phật có cái ý trỏng, có cái ý chứ không phải là không. Và khi chúng ta hiểu, muốn hiểu giáo lý là chúng ta hiểu cái ý đó đó, hiểu cái ý đó chứ không phải là hoàn toàn không.

[14:33]Có nhiều người hiểu lầm thế này, có người nhiều người hiểu lầm đạo Phật là: khi một vị mà tu cho tới chứng đạo thì tâm vị đó sạch, không còn một cái ý niệm nào nữa, không còn ý niệm nào nữa, nghĩa là đến nỗi quỷ thần nhìn không thấy được trong tâm vì vì tâm đó trống hoàn toàn không có một cái gì hết. Thì xin thưa hiểu như vậy là hiểu lầm. Hiểu như vậy là hiểu lầm. Phật vẫn có ý, vẫn có ý mà Phật gọi là tác ý. Ở đây như thế này, chúng ta hiểu cái tác ý như thế này: ví dụ bây giờ Phật đang ngồi ở một cái tịnh xá của Ngài, lúc buổi sáng tới giờ mà đi khất thực, mặt trời đi lên vừa khỏi ngọn cây cao

[15:16]đó, lúc đó không có đồng hồ, là coi như chư tăng biết là tới giờ đã đi khất thực. Thế là nhìn vào cái mặt trời đã lên là biết. Cả vị A-la-hán hay Đức Phật đều lúc đó phải biết là đã tới giờ đi. Mặc dù trong tâm thanh tịnh nhưng mà thẳm sâu trong cái thanh tịnh đó nó vẫn có một cái tác ý là đã tới giờ đi khất thực, nhưng mà nó không thành cái câu là chữ là "đã tới giờ đi khất thực" như mình, nhưng mà vẫn có cái ý là tới giờ và đứng lên cầm y bát đi. Hoặc là trên đường đi, nhiều khi Đức Phật nhìn thấy thời gian còn sớm và Ngài nghĩ hôm nay cũng là thuận duyên, Ngài muốn ghé thăm gia đình của tín nữ Visakha,

[15:54]cái Đức Phật lại tạt vào, nghĩa là thay vì Ngài đi thẳng vào thành rồi đi về, cái Ngài lại rẽ vào một cái lối khác, Ngài đến viếng gia đình của tín nữ Visakha. Vào thời Đức Phật, có một tín nữ rất là tuyệt vời là Visakha. À bà có duyên với Đức Phật từ hồi bà còn mấy tuổi. Lúc là bà còn mấy tuổi là đã gặp Đức Phật, đã đảnh lễ, đã quy y. Lớn lên thì bà lấy chồng rồi bà về cái kinh thành Xá Vệ bà ở, thì không ngờ là Đức Phật cũng giáo hóa tại vùng đó nên bà gặp lại Phật. Thì bà là một nữ tín chủ mà đã chứng quả Tu-đà-hoàn, hết lòng hộ đạo và một đời sống là phẩm hạnh tinh khiết, đoan chính, phải nói là tuyệt vời, một người phụ nữ cực kỳ đặc biệt.

[16:37]Thì Đức Phật rất là thương bà. Nhiều khi Đức Phật đi mà rảnh thời gian Đức Phật hay ghé thăm bà. Tức là thầy trò ngồi nói chuyện, chư tăng Đức Phật chỉ dẫn theo một số thôi, cứ dẫn theo một số chừng mười mấy vị đến với Đức Phật, bà mời ngồi, Đức Phật thuyết cho bà một bài pháp gì chút đỉnh, nói ngắn rồi Đức Phật lại đi tiếp. Lúc đó Đức Phật lại không nhận sự cúng dường. Cái hình ảnh thầy trò đó rất là đẹp. Thì khi mà Đức Phật tạt ghé vào như vậy á thì Ngài có cái ý trỏng chứ không phải không, không phải không có ý nha, chứ đừng có tưởng là trống bốc mà không có. Nhưng trong cái đoạn Thiền sư có cái đoạn:

[17:10]có một lần Ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện, Ngài cũng đi từ trên núi xuống Ngài thăm một trang chủ ở dưới chân núi. Ở dưới chân núi dưới chùa đó có một trang chủ rất là giàu có. Cái trang trại ông rất là rộng lớn, nhà cửa ông nhiều nhà, gia nhân rất là đông mà trong đó ông phòng bị có cả luyện võ thuật nữa, nó giống như một cái một cái doanh trại riêng của ông vậy á, ông giàu lắm, và là người ủng hộ cái chùa cho Ngài Nam Tuyền. Ngài Nam Tuyền là thầy của Ngài Triệu Châu á, Thiền sư đắc đạo cao siêu. Thì vì trang chủ ủng hộ chùa nhiều nên cũng có cái ân tình, hôm đó có duyên sự gì đó thì Ngài Nam Tuyền xuống thăm.

[17:48]Vừa xuống tới thì thấy trang chủ bày biện lễ nghi sẵn sàng chờ đón thì Ngài mới ngạc nhiên hỏi là: "Sao ông biết là ta ta đến thăm mà bày biện?" Nói: "Dạ hôm qua con được thổ địa mách, báo mộng." Thì Ngài Nam Tuyền mới tự trách mình và nói: "Ta tu hành vô lực, bị quỷ thần thấy tâm." Tức là Ngài trách là quỷ thần bình thường như ông thổ địa cũng thấy được tâm Ngài, thấy được cái tác ý của Ngài. Thật ra Ngài trách vậy là không nên, vì sao vậy? Bởi vì ai cũng có tác ý hết, Đức Phật ngày xưa cũng vậy. Kinh kể như thế này: là lúc Đức Phật vừa thành đạo, lúc mà Ngài an hưởng cái cái thiền định của Ngài,

[18:25]đầu tiên là Ngài thấy cái quả vị này Ngài nhớ tới những vị thầy của mình. Những vị thầy đầu tiên là ngài Alara Kalama với ông Ramaputta, những vị mà đã dạy cho mình cũng rất là chí tình, rất là thương mình. Đức Phật mới thấy là những vị đó rất gần tới cái quả vị giác ngộ rồi, không còn xa. Nếu mà Đức Phật đến chỉ điểm chút xíu là những ông thầy của mình có thể đắc đạo được. Thì khi Đức Phật có cái tác ý đó thì chư thiên thấy liền. Ngay lúc đó chư thiên, một vị Phạm Thiên hiện ra trước mặt Phật, đảnh lễ Phật thưa là: "Bạch Thế Tôn, ngài Alara Kalama vừa mới quy tịch lên cõi trời." Khi Đức Phật lại nghĩ tới ngài Ramaputta thì chư thiên lại đảnh lễ thưa tiếp là:

[19:04]"Bạch Thế Tôn, Ramaputta cũng đã thác sinh về cõi trời." Như vậy chư thiên thấy tâm Phật không? Thấy, có tác ý là thấy hết, chứ không phải là không đâu. Vì vậy là các vị thánh á họ biết tâm nhau là vậy, mà không phải là riêng ở cõi người, lên cõi trời cũng vậy. Lên cõi trời, các vị chư thiên không ai giấu ai điều gì được nữa, tâm người này người kia biết hết. Nên vì vậy có ai dám nghĩ bậy không? Không. Cho nên sống rất là thanh tịnh. Cho nên bây giờ vậy nếu mà một ngày nào đó ở cõi người mình mà cũng được như vậy, đó bỗng nhiên cái khoa học họ quá tiến bộ đó, cái họ chế được cái màn hình tinh thể lỏng đeo trước ngực,

[19:38]hễ mình nghĩ cái gì trong đó màn hình tinh thể lỏng nó chạy nó hiện ra hết trơn. Khi mình nghĩ đến ăn, cái nó hiện ra cái món gì mình muốn nó hiện ra. Cái mình giận cái trong đây hiện lửa lên, ví dụ vậy. Thì lúc đó loài người tự nhiên sao? Vô cùng, vô cùng thánh thiện, tại vì không ai dám nghĩ bậy nữa, mình nghĩ thì người ta biết hết. Muốn nghĩ bậy phải lấy tay che cái màn hình lại thì người ta biết ờ đang nghĩ bậy. Cho nên là cái tác ý là cái có chứ không phải là không có. Và khi mà chúng ta tu hành thì những cái mà tâm hơn thua chấp thủ á là bị thấy hết. Ở đây, Đức Phật cảnh giác chúng ta là những cái điều chấp thủ đó dù

[20:17]của tà pháp hay chánh pháp đều là làm cho chúng ta vướng bận. Cái đoạn này Đức Phật nhắc lại một cái đoạn kinh trong kinh ví dụ con rắn của Nikaya là "pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp", cả chánh pháp còn phải bỏ, huống là là phi pháp. Đoạn này chúng ta khéo một chút xíu, tại vì nếu mà chúng ta không hiểu á thì nhiều người hay nói những cái câu kênh kiệu, chê bai kinh điển thì mang tội rất là nặng, mang tội rất là nặng. Cái câu mà "pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp", rất nhiều vị giảng tới câu này rồi xem thường kinh điển thì lại rất là dễ xuống địa ngục, nên cẩn thận. Mặc dầu Đức Phật nói câu này là nói cho những người tu rất là sâu,

[20:56]cái chỗ chứng cũng rất là cao, cho nên cảnh giác các vị không phải là chấp từng chữ từng nghĩa, nhưng mà nó như chiếc bè, trước chúng ta nói với nhau vậy. Mình qua sông rồi, đối với mình chiếc bè không cần thiết nữa, nhưng mà chiếc bè đó là sao? Vẫn cần cho người cho người sau. Vì vậy, mình phải tôn trọng. Nghĩa là mình qua sông rồi thì cái chiếc bè đó mình coi còn lở khuyết chỗ nào mình đóng, mình giặm, mình sơn, mình phết, mình che lại để cho người sau sử dụng, nghĩa là làm sao? Nghĩa là nếu mình tu mình đắc đạo rồi thì đối với những kinh điển mình vẫn phải sao? Vẫn phải tôn trọng, vẫn phải tôn thờ,

[21:31]đôi khi mình bổ sung có những chữ nghĩa nào in mờ hay chỗ nào nghĩa chưa rõ mình giải thích lại để cho người sau nhờ đó mà đi tới, chứ không phải mình đắc đạo rồi người ta hỏi là: "Ông nhờ kinh gì mà chứng đạo?", mình trả lời: "Ta nhờ kinh Vô Tự", nói câu đó là nói ẩu, nói là đập thuyền á, qua sông xong rồi đập thuyền cho chìm luôn, không được nói như vậy. Ví dụ như chúng ta nghe có một vị Tổ Việt Nam mình nói câu này là: "Kinh điển lưu truyền tám vạn tư, học hành không thiếu cũng không dư, đến nay ngẫm lại chừng quên hết, chỉ nhớ trên đầu một chữ như." Bởi vì cái vần của thơ ngài phải nói là một chữ như, nhưng mà chữ như nghĩa là chữ gì?

[22:10]Không chữ gì hết á. Thì cái câu đó có phải bác kinh điển không? Có không? Không, không có bác. Tức là ngài học ngài tu rồi tâm thanh tịnh, cho nên là ngài không còn giữ từng chữ nữa, nhưng mà cái tinh túy của kinh đã biến thành sự thanh tịnh của tâm hồn, chứ câu đó không có bác kinh điển. Cho nên cái bài kệ rất là hay. Nhưng mà nếu chúng ta hiểu lầm, chúng ta mới nói: "Ồ, chỉ còn một chữ như để tu, mình bây giờ học chi tùm lum, bỏ kinh" là sai liền. Học kinh Kim Cang chỉ cẩn thận mấy chỗ này. Rồi cái đoạn tới này mới nghe khủng khiếp, Phật hỏi nè: "Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề gia?

[22:47]Như Lai hữu sở thuyết pháp gia?" - Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, Như Lai có chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng, Như Lai có thuyết pháp chăng? Đó Đức Phật hỏi. Thì Tu-bồ-đề ngôn: "Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, vô hữu định pháp danh A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, diệc vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết. Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết pháp giai bất khả thủ, bất khả thuyết, phi pháp phi phi pháp. Sở dĩ giả hà? Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt." Ngài Tu-bồ-đề thưa rằng: "Theo như con hiểu lời Phật dạy thì không hề có một thánh vị nhất định phải gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

[23:21]Cũng không hề có thật cái gọi là Như Lai thuyết pháp, vì sao? Bởi vì pháp Như Lai là không chấp, không lời, không là chánh pháp cũng không ngoài giáo pháp." Cái câu cuối cùng nghe nó không có logic lắm vì văn người xưa. "Vì sao vậy? Bởi vì tất cả hiền thánh tuy cùng tu tập pháp vô vi đó nhưng lại thành tựu rất khác biệt nhau." Hai câu này ý khác nhau, không có giải thích gì nhau hết. Nên khi chúng ta học kinh tới chỗ này phải tự mình giải thích thêm vô. Cái đoạn này là Đức Phật muốn nhờ chính cái miệng của ngài Tu-bồ-đề để báo cho mọi người biết rằng là không có chuyện Đức Phật chứng đạo, cũng không có cái chuyện Đức Phật thuyết pháp.

[23:58]Những đoạn kế tiếp trong cái đoạn kinh sau này chúng ta sẽ thấy là kinh cũng nói về cái việc là vô chứng vô đắc. Bây giờ cái việc mà Đức Phật đắc đạo, bây giờ theo mình trả lời có không? Có hả? Chắc ha? Chắc chưa? Chắc không? Chắc không? Giỏi. Trước hết phải trả lời như vậy cái đã. Chứ còn ai mở miệng nói không là mang tội, mình không được hiểu như vậy. Phải hiểu một điều chắc rằng Đức Phật đã đắc đạo, ngài thành Phật. Nơi cái tâm Phật của ngài tuyệt đối phủ trùm cả vũ trụ, chuyện gì cũng biết, cực kỳ thanh tịnh, cực kỳ từ bi, cực kỳ trí tuệ. Đây là điều mình phải khẳng định trước thì bắt đầu mới hiểu cái kinh này.

[24:42]Từ từ tại sao mà ngài Tu-bồ-đề nói rằng theo cái ý của Phật thì ngài thấy không có một cái thánh vị để gọi là Phật quả Vô Thượng Bồ Đề? Chúng ta mới từ từ phân tích. Nhưng trước hết phải hiểu là ngài có đắc đạo. Mà ngài đắc đạo nghĩa là cái tâm của ngài đó, bây giờ mình nói, khoan nói Phật, mình nói mình thôi, ví dụ bây giờ mình muốn từ cái phàm phu này mà cho tới lúc mình được giải thoát, mình tu cái tâm đó càng lúc càng sao? Thanh tịnh, phải không? Càng thanh tịnh tức là mình tu càng lúc càng tiến. Mà thanh tịnh tới mức độ nào thì mình chứng quả nào đó, tới mức độ cao hơn thì chứng quả cao hơn,

[25:19]rồi tới khi mà hoàn toàn thanh tịnh thì mình chứng quả A-la-hán, được giải thoát, được giác ngộ viên mãn vân vân, đó là mình hiểu như vậy. Thì như vậy ở đây có hai cái cách nhìn nha, chúng ta xác định để chúng ta hiểu tại sao kinh Kim Cang lại nói có vẻ ngược ngạo là Phật không chứng gì hết. Chúng ta theo định nghĩa thứ nhất là hễ tâm càng thanh tịnh tức là càng chứng đắc, đó là cái định nghĩa thứ nhất mà nãy giờ chúng ta đồng ý với nhau, phải không? Khi mà chúng tôi hỏi là Đức Phật có chứng không, quý Phật tử trả lời Phật có chứng, bởi vì quý Phật tử hiểu thế này: Hễ tâm càng thanh tịnh thì càng chứng, càng đắc, phải không?

[25:58]Đó, đó là cách thứ nhất, thông thường, căn bản và không hề sai. Cứ nắm như vậy cho thầy, không có sai. Bây giờ đây là cách thứ hai nè: Là tâm càng thanh tịnh thì trong tâm càng không có gì, đúng không? Đúng. Và càng không có gì thì không có gì hết, lấy gì nói có cái gì chứng, phải không? Thì cách thứ hai này đúng không? Đúng luôn, không trật, phải không? Cho nên, nào giờ chúng ta hiểu theo cái cách thứ nhất là tâm càng thanh tịnh thì càng chứng đắc, thì cách đó không sai, rất đúng, nhưng mà chưa đủ thôi, phải không? Và không hề sai nha, cứ tiếp tục nói như vậy, không hề sai. Tuy nhiên chưa đủ, muốn đủ chúng ta hiểu thêm cách thứ

[26:38]hai là tâm càng thanh tịnh thì càng không còn gì nữa. Nghĩa là vọng tưởng mình bỏ, phiền não mình bỏ, kiết sử mình bỏ, bản ngã mình bỏ, vô minh mình bỏ, hết luôn không còn gì nữa hết trơn á. Bây giờ hỏi: "Tu riết anh có gì không?" - "Không còn nữa hết trơn anh ơi. Tôi không còn gì nữa hết, hết rồi." Thì coi chừng cái người đó chứng tới nơi rồi đó, phải không? Chứ đừng nghe họ than, họ nói không còn gì hết cái mình nói: "Trời ơi tội quá ha", vỗ vai cái bịch, "thôi đi uống bia với tôi nè, trời ơi tu gì đâu không còn gì hết", coi chừng trật. Họ nói theo cách thứ hai mà mình không hiểu nổi. Mà kinh Kim Cang cái đoạn này nói theo cách thứ hai.

[27:10]Mai mốt mình gặp ai á, ví dụ mình hỏi: "Anh tu riết rồi giận được gì không?" thì họ nói: "Tôi không còn gì nữa" thì mình phải coi gương mặt họ để mà họ cái không còn gì nữa theo nghĩa nào. Nếu họ nói: "Tôi không còn gì nữa" mà mặt họ bình thản, thanh tịnh, rạng rỡ, coi chừng ổng là ông thánh. Còn nếu ổng nói: "Không còn gì nữa" mà mặt méo á thì biết là ổng tu mà riết mà nhà mạt luôn, nghĩa là gạo không ăn, tiền không có mà nghĩa là vợ đói con đau, nhà hết gạo, cái đó là mà không còn gì nữa nguy hiểm, mình phải coi cái gương mặt ổng. Nếu ổng nói: "Tu riết mà tôi không được gì hết" mà tâm thanh thản,

[27:42]thấy mặt ảnh thanh thản rạng rỡ thì thôi mình lạy ổng được rồi. Còn ổng nói: "Tôi không còn gì nữa" mà mặt ổng méo, ổng muốn khóc là thôi, mình lo mình lấy gạo mình cứu ổng đi, ổng tu trật rồi, ổng tu cái gì mà nhà nghèo luôn không biết. Cho nên trong cái hai cách nói này thì cả hai đều đúng, nhưng mà nếu tách ra một cái thì nó không đủ hoàn toàn. Nên hôm nay chúng ta học kinh Kim Cang, kinh Kim Cang cho chúng ta cái lý luận, cái quan điểm của cái thứ hai để chúng ta nhìn về cái quả chứng. Bây giờ nếu mà so sánh theo cái tâm phàm phu á là một cái người này nào giờ là phiền động nè, tội lỗi nè, ác độc nè, ích kỷ nè, nhỏ mọn nè, đủ thứ hết.

[28:19]Thì bây giờ khi mà tâm người đó thanh tịnh, thánh thiện lên, thậm chí là tu đắc thần thông, có thể biết quá khứ vị lai, có thể bay được vân vân. Cái người tu như vậy là họ vượt hơn hẳn cái người thường, phải không? Cái họ họ đạt được, họ chứng được cái gì đó. Cho nên trường hợp như vậy mình phải tán thán, phải khen ngợi là hoàn toàn chính xác, tu vậy là có được. Còn nếu mình nhìn theo khía cạnh là cởi bỏ dần kiết sử, vô minh, bản ngã, càng tu càng không có gì, hết sạch mất hết thì cũng là một cái cách nhìn. Tuy nhiên nó có cái này, nếu mà nói tu có được á Khi mà mình nói tu được thì phải có một cái à mình nói ví dụ trong bình thường á, ví dụ như hỏi:

[29:03]"Anh anh có nhận được cái quà tôi gửi không?" Mình nói nói: "À tôi có nhận được." Thì như vậy phải có cái người nhận và cái món quà, phải không? Thì mới nói rằng: "À tôi đã nhận được." Giờ cũng vậy, nói: "Anh tu có chứng gì không?" Nói: "Tôi chứng." Thì như phải có một cái người để chứng được một cái quả. Như vậy là có hai cái, phải không? Đó, cho nên cái cách nói thứ nhất mà chúng ta nãy giờ đồng ý là đúng đó, nhưng mà cuối cùng là trật. Cái cách nói thứ nhất á, ví dụ nói: "À tu người này tâm càng lúc càng thanh tịnh, thần thông phát khởi, trí tuệ từ bi được sung mãn, đầy ra thêm, mọi cái tư cách phi phàm."

[29:41]Mình thấy người đó như vậy cái mình gọi người đó chứng, tức là nói theo cách của mình thôi, mình ca ngợi. Nhưng mình hỏi người đó, nếu người đó nói là: "Ờ tôi có chứng", thì như vậy trong bản ngã người đó còn không? Nên phải có một cái bản ngã để nó đón nhận cái quả vị. Nên do vậy, mình nói thì được nhưng mà chính người đó nói thì trật. Đó, vì bản ngã còn. Nên do đó, khi mà có hai cái cách nói là một người tu chứng mà lại thấy không có gì hết, thì như vậy chính bản thân cái vị thánh thì phải sao? Phải luôn luôn nhìn theo cách thứ thứ hai là tu càng lúc không còn gì hết trơn. Mà mặt không méo là đúng vị thánh.

[30:16]Đó, còn mình á thì mình phải nói theo cái cách thứ thứ nhất là người này tu có tiến, có chứng, mình phải ca ngợi, mình phải tôn trọng, mình phải đảnh lễ. À phải như vậy thì đó là đúng. Chứ còn ví dụ cái người đó tu càng lúc càng thanh tịnh, càng sáng suốt, càng phi thường mà mình cứ nói: "Ờ ổng không có chứng gì hết trơn á", rồi mình không đảnh lễ, không tán thán, không ca ngợi thì mình mình sai, mình mất phước liền. À cho nên chúng ta thấy nghĩa là không phải luôn luôn một cách nói là đúng cho mọi người để được quyền nói đâu, không được quyền. Ví dụ như chính bản thân Đức Phật và các vị A-la-hán á thì các

[30:52]ngài đều quyền nói rằng các ngài không chứng gì hết, vì các ngài có bản ngã đâu mà để nhận một cái quả vị, mất bản ngã rồi. Nhưng mà mình đứng ở ngoài đó mà mình nói Phật không chứng gì hết là mình mang mang tội liền. Nên đây là chỗ cái sự và lý rất là nghiêm chỉnh, rất là chỉnh nha, chứ không được mà ví dụ cái lý của Phật nói mà mình bắt chước mình nói theo cách của mình để nhìn Phật như vậy là mình hiểu sai, mình mang tội, là không tôn vinh được Phật Pháp, làm cho Phật Pháp bị suy yếu vì cái lối hiểu kiểu này. Nên mình nói mình không chứng thì được, chứ mà người khác phải nói là người đó chứng.

[31:25]Hễ ai cao siêu mình phải ca ngợi, phải tán thán thì như vậy là mình không mang tội mà Phật Pháp được hưng thịnh, bởi vì mình biết suy tôn những bậc thánh, như vậy. Còn chính các bậc thánh thì luôn luôn nói mình không có gì. Đây là cái cách, những cái cách nói mà rất là chuẩn mà không bao giờ sai, chúng ta từ đây phải để ý điều này và mình phải áp dụng điều này. Ví dụ chúng ta tu bao nhiêu năm vậy rồi ai hỏi mình là: "Là bạn tu tới đâu rồi?" Thì mình phải trả lời làm sao? Nếu mà mình chưa chứng đạo hết, mình mới tu được một khúc thôi, tâm thanh tịnh thôi thì mình phải trả lời theo cái khiêm hạ chứ chưa phải là vô ngã.

[32:01]Trả lời theo cái khiêm hạ là mình nói thế này: "Ơi cảm ơn bạn thì tôi cũng cố gắng, nhưng mà cũng chưa có được gì nhiều lắm, mình cũng ráng đang sửa." Đó là mình trả lời theo cái khiêm hạ là vì mình chưa chứng hoàn toàn, mình mới tu được một phần. Còn nếu mà mình chứng hoàn toàn, mình vô ngã hoàn toàn thì mình trả lời làm sao? Là: "Ờ không có gì bạn ơi", đó vậy đó rồi cười cười, thì coi chừng người kia nếu mà họ có nghe bài Kinh Kim Cang này thì họ sẽ lạy mình. Còn họ chưa nghe bài Kinh Kim Cang này thì họ nheo nheo mắt họ nhìn mình thôi thì thôi kệ họ, không hiểu gì hết. Đó là mình nói về mình.

[32:34]Còn bây giờ nếu mà cái người đó họ hỏi về một người khác, à họ hỏi là: "Là bạn tu chung với cái ông đó lâu ngày rồi bạn thấy ông đó tu tới đâu rồi?" Thì mình không được trả lời theo kiểu của mình mà mình phải trả lời làm sao? Trả lời: "À trong suốt thời gian qua chúng tôi tu bên cạnh nhau, chúng tôi thấy cái huynh đó tu rất là tiến bộ, giới hạnh càng lúc càng hoàn chỉnh, tâm hồn có lẽ chắc là thanh tịnh, bởi vì thấy cái oai nghi, cử chỉ, đạo đức càng ngày càng tăng trưởng." Mình phải nói như vậy, chứ không có đừng nói theo kiểu mình, nói: "Ờ ổng cũng không có gì", là không được, sai, cái cách trả lời vậy là trật.

[33:09]Cho nên trong hai cái cách nói thì chúng ta phải biết mình đứng ở vị trí nào. Nên ở đây, lạ một cái đó là Đức Phật lại hỏi ngài Tu-bồ-đề để ngài Tu-bồ-đề nói giùm Phật, nói giùm Phật. Nghĩa là "như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa", là "theo như con hiểu cái nghĩa mà Phật dạy", theo như con hiểu ngài nói một câu này rào rào đón không? Ngài rào ấy, ngài đâu có dám nói là ngài nói đâu. Ngài đâu có vô ngài nói liền. Cứ ví dụ Phật hỏi ngài chứ là: "Như Lai có đắc đạo không?" Ngài trả lời: "Như Lai không đắc đạo", là ngài trật liền, phải không? Cho nên ngài mới đi rào, ngài biết là Phật muốn ngài nói cái câu đó đó, cho nên ngài đi rào một đường là:

[33:51]"Dạ theo như con hiểu cái nghĩa Phật dạy", đó là ngài mượn Phật liền, mượn danh Phật để trả lời câu đó, chứ không phải là ngài nói quan điểm của ngài. Nghĩa là ngài sẽ trả lời giùm cho Phật câu đó và ngài cũng ghi chú rõ ràng là đây là ý của Phật. Ngài rất là cẩn thận nên bài kinh cái chỗ này đó, chúng tôi phải nói rất là nể bộ kinh này, bởi vì cái câu này rất là cẩn thận, không có nói đại. Ví dụ như thầy trụ trì ở đây đi, ổng tu ổng đắc đạo, ví dụ vậy, rồi có ai hỏi mình à nói: "Thầy trụ trì đây tu có chứng gì không?" Mình sẽ có hai cách trả lời. Nếu nói theo cái nhìn của mình thì nói: "Chắc là thầy đã chứng, bởi vì thấy thầy đã cao siêu,

[34:29]nói đâu ai cũng cười đó", ví dụ vậy, rồi chắc thầy đã chứng rồi. Đó là cái cách của mình. Nhưng mà nếu mình muốn trả lời theo cái kiểu không chứng á thì mình phải nói thế này: "Là theo tôi hiểu cái ý của thầy thì thầy không bao giờ nói mình chứng." Nếu mình muốn trả lời kiểu kia thì mình phải trích là: "Đây là ý của thầy trụ trì chứ không phải của mình." Cẩn thận, và trong kinh này ngài Tu-bồ-đề ngài đạt được cái cẩn thận như thế, rất là khéo, rất là khéo. Thì cái chỗ này, khi mà chúng sinh nhìn vào một vị thánh á, thấy giới hạnh, trí tuệ, từ bi, tất cả đều tuyệt vời mà lại không có không có chứng, không có chứng là bởi vì không có gì?

[35:11]À không có bản ngã nên không có chứng. Thì cái này nó giống như là một cái vườn xoài giống như một cái vườn xoài đầy trái ngọt mà không có chủ thì ai cũng có thể ai có thể vào hái mà ăn. Giống như một cái vườn hoa, hoa rực rỡ, đẹp đẽ, không có chủ thì ai cũng có thể vào mà mà ngắm. Thì cũng vậy, là chúng ta nhìn thấy có một cái con người tâm hồn người đó cao cả, nhân cách người đó thánh thiện, trí tuệ người đó siêu xuất, thần thông người đó quảng đại mà người đó không có bản ngã thì tất cả chúng sinh nào cũng có thể được được lợi ích. Thì Phật là như vậy, các vị A-la-hán là như vậy đó. Các ngài tu riết, tu riết rồi thì tất cả mọi điều

[35:54]cao siêu đều thành tựu nhưng bản ngã mất. Cho nên tất cả chúng sinh đều được hưởng cái ơn phước từ đó hết. Nghĩa là chúng ta sống gần một vị thánh như vậy chúng ta hưởng không biết bao nhiêu là cái lợi ích trong từng giây, từng giây. Ngày nay đó chúng ta thiếu phước, chúng ta không được sống gần những vị thánh, cho nên chúng ta không hiểu được cái lợi ích mà của một người sống gần một vị thánh. Còn ngày xưa các vị Tỳ-kheo sống gần Đức Phật á thì cái hạnh phúc nó đến với các ngài từng giây, từng giây. Nghĩa là tuy ở cõi người mà hạnh phúc như ở cõi trời vì hạnh phúc nó đến với các ngài trong từng giây, từng giây.

[36:31]Cái câu này chúng tôi nói không biết quý Phật tử có thông cảm, cảm nhận ra không? Có không? Có vài người là có trí tuệ ghê gớm lắm mới nhận ra chỗ này. Nghĩa là mình không được gần vị thánh mà cảm nhận được điều đó, đây là chỗ mình đi ngược lại thời gian vào thời Đức Phật. Mình sẽ nhận, các vị Tỳ-kheo ví dụ như trong một khu vườn, cái tinh xá rừng nhiều lắm, nghĩa là những rừng cây to to to còn nhiều, bởi vì cái khu rừng này của Thái tử Kỳ-đà, ông Cấp Cô Độc mua lại cúng Đức Phật, cây còn để nguyên. Mà cây ngày xưa to lắm, cao ngút lên trời vậy đó, bóng mát đầy. Dưới đó có những cái nhà, cái nhà do ông Cấp Cô Độc ổng xây,

[37:07]xây rất đẹp nha, đừng tưởng là những cái chòi sơ sơ, không có. Thì trong đó dãy nhà của Phật và những dãy nhà của những chư Tăng, có những nhà vệ sinh, rồi có cái ao lớn để tắm. Thì các vị Tỳ-kheo đó bây giờ đứng bên cái dãy nhà bên kia thì cứ nhìn lại cái thấy cái hương phòng của Phật, thấy cái tịnh thất của Phật. Thì thỉnh thoảng nhìn vào thấy Phật đang ngồi thiền, thấy Phật đang đi kinh hành hoặc là thấy Phật nằm nghỉ. Nhưng mà dù có khi Phật không nói gì thì sống gần Đức Phật tâm rất là hạnh phúc và rất là thanh tịnh từng ngày, từng giờ như vậy. Huống hồ là mỗi khi Đức Phật nhìn tới mình, ngài nhìn bằng tất cả cái sự thương yêu hoặc là

[37:44]ngài dặn mình điều gì với tất cả cái sự sâu sắc, ân cần, thương yêu và kỹ lưỡng làm cho mình được lợi ích, cái hạnh phúc đó không thể nói được. Cho nên cái việc mà sinh vào cái thời cùng với Đức Phật, ở gần Đức Phật, hạnh phúc lớn hơn là sinh lên cõi trời. Thì ở đây như vậy tức là từ cái vị thánh không có bản ngã các ngài không giữ gì cho mình, nhưng mà những chúng sinh chung quanh ngài đó thì hưởng được vô số cái từ bi của ngài, vô số cái trí tuệ của ngài, vô số cái nhân cách cao cả của ngài, nên thật là tuyệt vời. Hiểu không? Nhận ra được. Chúng tôi ít khi nào dám hỏi hiểu không, tại hỏi hiểu không giống như coi thường cái người nghe ngu không

[38:24]vậy đó, nên rất là cẩn thận không dám hỏi câu này, không bao giờ dám hỏi hiểu không. Nhưng mà bữa nay phải hỏi hiểu không, tại vì cái điều này nó tế nhị quá. Mà sống gần một bậc thánh vô ngã để mình hưởng được cái từ bi, trí tuệ của ngài đó, cái điều này nó quá tinh tế đi, không phải ai cũng đủ cái tấm lòng để nhận ra điều đó. Thì ở đây, chúng ta giữa hai cái khía cạnh, hai cách nhìn, một cách nói là có chứng và một cách nói là không chứng thì bậc thánh chính mình luôn luôn là đứng trên khía cạnh không chứng gì hết, vì đó là dấu hiệu của vô ngã, nó đi đúng hướng. Đây là cái vị thánh như vậy, là mình cũng vậy,

[39:02]khi mà mình tu á mà đúng hướng á, cảm thấy càng lúc mình càng không còn gì. Để ý lại nha, để ý lại chỗ này. Nghĩa là như vậy, từ đây về sau chúng ta tu hành mà nếu mỗi ngày tu trôi qua mình cảm thấy mình không có gì, không là gì nữa thì mình đang đi đúng hướng. Còn nếu mà mình tu đến người ta hỏi: "Lúc này anh tu tới đâu rồi?", bắt đầu mình thuyết pháp nha, nói như mây như mưa, kinh này nói này, kinh kia nói kia, tâm tôi thanh tịnh, tôi biết hết này kia nọ, tức là mình càng tu thấy mình càng có nhiều thì mình đã đi đi sai hướng, nhớ cẩn thận lại. Nhờ cái bài Kinh Kim Cang này mình đối chiếu với cái sự tu hành của mình.

[39:36]Mà hôm giờ mình thấy mình thêm hay bớt? Hôm giờ nói thiệt tình nghe coi, nói hết trong tim đen ra coi. Nó đây là một cái cái khó ghê lắm. Nếu mà mình chú ý tới khía cạnh chứng á là mình thấy: "À tâm tôi càng ngày càng sáng hơn nha, trời càng lúc nó càng phủ trùm mọi nơi, hay quá, nó tràn đầy." Thì sao? Thì cái bản ngã và kiêu mạn nó dấy khởi. Ví dụ như mình tinh tấn tu hành, tinh tấn tọa thiền, tâm càng lúc càng an định mà phải thấy mình không có được gì. Đây là cuộc chiến đấu gian khổ nhất. Mình phải từ khước một cái mà mình tôn thờ, mình khát khao mình đi tìm. Tìm được mà phải bỏ, phải không thấy có nó. Cái này dễ làm không?

[40:19]Không dễ làm. Cả một đời mình ước ao cái đắc đạo quả, mình khát khao, mình hy sinh hết cuộc sống, bỏ hết những niềm vui thế gian để đi tìm cái đó, mà khi được cái đó rồi thì phải thấy như không. Điều này dễ làm không? Không hề chút nào, không hề dễ làm chút nào. Cho nên chúng ta có cái câu thế này, là: “Chiến thắng vạn quân không bằng chiến thắng chính mình.” Đồng ý cái đó chưa? Đồng ý rồi phải không? Mà chiến thắng chính mình là chiến thắng cái gì? Nghĩa là mình diệt trừ được cái phiền não mình phải không? Cái vọng tưởng mình, những cái tánh xấu mình, những cái tham, cái sân, cái ganh tị, ích kỷ, đúng không? Khó không?

[40:56]Khó vô cùng, phải không? Nghĩa là chiến thắng vạn quân bên ngoài không bằng chiến thắng những cái tánh xấu của mình như thế, để mình tu hành mà được thanh tịnh như thế. Nhưng mà chiến thắng chính mình tuy khó nhất mà vẫn chưa phải là chiến thắng cuối cùng. À! Quý Phật tử có xem cái vở kịch “Chiến Thắng Cuối Cùng” trên núi chưa? Thầy mới viết xong tập ba à. Hẹn là Thành Đạo lên coi tập ba đó, còn hôm Vu Lan là tập hai. Đưa “Chiến Thắng Cuối Cùng”, nhưng mà cái tựa của vở kịch nhiều tập đó là “Chiến Thắng Cuối Cùng”, nhưng mình thấy chiến thắng cuối cùng tới chưa? Chưa. Mới là chiến thắng chính mình thôi phải không?

[41:32]Ví dụ như là tên cướp, tên cướp như đang ngồi trên lầu á. Ví dụ như là tên cướp á, là oánh ai cũng thắng, nhưng mà cuối cùng cái sự cảm hóa của thiền sư rồi vượt qua được cái tâm mà hơn thua tàn bạo của mình để quay về với Phật Pháp, thì cái đó là chiến thắng chính mình, phải không? Trong tập hai là cũng chiến thắng đại khái vậy, rồi tập ba cũng chiến thắng đại khái vậy, nghĩa là nhưng mà chưa phải chiến thắng cuối cùng. Chiến thắng chính mình chứ chưa phải chiến thắng cuối cùng. Chiến thắng cuối cùng là cái gì? Chiến thắng cuối cùng là cái gì? Nghĩa là khi mình chiến thắng cái vọng tưởng, cái phiền não, cái tánh xấu, những ích kỷ,

[42:10]tham lam, thù hận của mình hết là chiến thắng chính mình. Nhưng mà còn một cuộc chiến cuối cùng phải vượt qua, đó là... đó là không thấy mình chiến thắng gì cả. Đó là chiến thắng cuối cùng. Đồng ý không?

[42:31]Chúng ta nhấn mạnh lại chỗ này chút xíu. Chiến thắng vạn quân không bằng chiến thắng chính mình, nhưng mà chiến thắng chính mình cũng còn chiến thắng cuối cùng phải vượt qua là thấy mình không chiến thắng gì cả. Dễ hiểu không? Dễ hiểu. Mình nói lại được không? Nói được. Nhưng mà làm được không? Còn khuya.

[42:56]Nên vì vậy khi mà học đạo á, đến những cái chỗ mà cái đạo lý nó lý thú như thế này phải không, cái chiến thắng cuối cùng lý thú như thế này, thì mình thường có thể nói lại cho người khác nghe. Nhưng mà khi nói lại phải làm sao? Phải... phải khiêm tốn. Chứ đừng có làm như mình đã chiến thắng cuối cùng rồi. “Tôi nói cho anh nghe nha, chiến thắng vạn quân không bằng chiến thắng chính mình hiểu không? Mà chiến thắng chính mình không bằng cái chiến thắng cuối cùng là anh không thấy anh chiến thắng gì nữa, nghe không?” Nói cái giọng đó là sao? Tức là mình nói cái giọng như mình ngon lắm rồi, mình đã được rồi, thì cái đó lại là một cái sai.

[43:28]Nếu mình có chia sẻ cái đạo lý đó, mình phải nói rất là khiêm tốn. Phải nói là: “Dù mình có diệt trừ được cái tham, sân, vọng tưởng để được tâm thanh tịnh, coi vậy chứ khó anh ơi, còn cái mà không thấy mình được gì cái đó thiệt là khó.” Đó, mình nói như vậy người ta nghe thấy khiêm tốn, mà mình san sẻ được cái đạo lý quý giá đó cho người khác. Tại vì sao vậy? Bởi vì đệ tử Phật hễ mà thấy đạo lý hay đâu có giữ lại phải không, luôn luôn tìm cách san sẻ cho người khác. Nhưng mình san sẻ thế nào để mình đừng có nói theo cái giọng mà người ta thấy mình như ông nội người ta, không có được. Nghĩa là mình nói như một người bạn, như một người mà cũng còn nhiều sai lầm,

[44:05]nhiều khiếm khuyết mà yêu thương cái chân lý, biết chia sẻ chân lý. Rồi mình phải nói với một cái giọng khiêm tốn như vậy đối với những cái đạo lý hay. Đó, thì cái cách chúng ta cẩn thận. Chứ xưa giờ có nhiều người nghe một cái đạo lý cao siêu rồi đi nói lại giống như là mình đắc đạo tới nơi rồi đó, làm cho mình bị tổn phước, rồi cái đời tu sau này khó khăn. Nói xong rồi 30 năm sau là tâm bấn loạn lên không lấy lại được. Nhớ nha, một câu nói bậy 30 năm mất phước. Mà nếu nói bậy tiếp tục nữa, không biết dừng lại nữa thì sẽ điên. Câu mà nói mà nghe ngông nghênh cái gì cũng không, không, cái gì cũng bác á thì sẽ điên đó.

[44:43]Cho nên nhớ những cái đạo lý khéo léo thế này, hay thế này mà mình có cái nhiệt tình muốn san sẻ thì phải tập cái cách nói. Chúng ta trở lại chỗ này. Là khi mà đã được cái chiến thắng cuối cùng, tức là thắng mà không thấy mình thắng, đó là chiến thắng cuối cùng, thì đây là đỉnh cao của đạo đức. Đây là thực sự chứng ngộ mà không còn thấy mình chứng. Đây không phải là cái lý luận lý thuyết mà là đỉnh cao của sự... sự thực hành. Nhớ như vậy. Phải là đỉnh cao của sự thực hành mới hiểu nổi cái chỗ là được mà không thấy mình được, thắng mà không thấy mình thắng, chứng mà không thấy mình chứng. Do đó, hôm nay là một ngày chúng ta nghe tới đoạn này,

[45:24]mà nếu những người mà có thiện căn nghe tới chỗ này phải xúc động, nên chúng ta nguyện hứa trước Phật là chúng ta sẽ càng tu càng thấy mình không được gì, để giữ cái quan điểm này, giữ cái sườn cốt này đi suốt cuộc đời còn lại, rồi tới qua những kiếp sau. Chúng ta hứa với Phật là: “Con xin nguyện trước Phật, con hết sức tinh tấn tu hành, nhưng mà càng tu...” Tuy nhiên ở chỗ này đó, đây là cái người hiểu thì như vậy, mà nếu cái người không hiểu á, thì nghe nói là tu không chứng, à nói: “Ôi, tu đạo Phật là không chứng không đắc, vô chứng vô đắc.” Nói như vậy rồi bắt đầu cái đánh mất cái sự tinh tấn tu hành thì sao?

[46:02]Không có ráng để làm cho tâm mình được thanh tịnh thì tiếp tục làm phàm phu chìm trong luân hồi. Cho nên cái câu nói mà “không chứng không đắc” là không phải đụng đâu cũng nói. Như vậy, không phải đụng đâu cũng nói. Mình chỉ nói cho những người nào mà họ đủ cái thâm trầm, đủ trí tuệ, đủ thiện căn, thì nói rằng cái người tu lâu rồi không thấy mình chứng đắc gì cả, là chỉ người nào rất trí tuệ mình mới nói. Vì sao vậy? Người đó nghe câu đó bỗng nhiên bừng hiểu ra một cái đạo lý lớn và càng nỗ lực tinh tấn hơn. Còn cái người không đủ thiện căn, không đủ trí tuệ mà mình nói: “Tu là để tới cái chỗ không chứng không đắc”,

[46:38]cái người kia họ buông xuôi tu liền, họ giải đãi liền. Họ nói: “Ôi, ờ uống rượu cũng như uống nước lã chứ gì? Hay là đi nhảy đầm cũng giống như tập thể dục chứ gì? Là sống phóng túng và cho rằng là mình tu không chứng không đắc.” Làm cho người ta chìm trong luân hồi trở lại. Nên đây là điều hết sức là cẩn thận. Khi mà một người tu tiến bộ á thì nhiều cái cảnh giới thù thắng hiện ra trong tâm. Những cảnh giới mà mình chưa bao giờ kinh nghiệm. Ví dụ như tâm mình thanh tịnh, rỗng rang, có trí tuệ, có thần thông, có nhiều cảnh giới của thiền lắm mà ví dụ người tu tới từ từ thì người ta mới biết chứ còn mình tu chưa tới mình không biết.

[47:16]Ví dụ như khi một người ngồi thiền, biết toàn thân, biết tâm còn phiền động, rồi bỗng nhiên tâm nó vào trong thanh tịnh. Khi trong tâm thanh tịnh mà biết rõ toàn thân vậy, tự nhiên thấy mình không phải ngồi đụng đất. Thấy rõ ràng á, thấy mình đang tỉnh táo, bình thường, rỗng rang thanh tịnh mà ngồi không đụng đất, mà thân cũng không phải bay lên, vẫn ngồi yên chỗ đó, mà không hề thấy ngồi dính dưới đất nữa. Thì những cái điều nó rất là lạ ở trong cái đường tu, cứ càng đi tới càng đi tới thì nhiều cái cảnh giới nó mở ra dần, mở ra dần. Thì nhiều cái cảnh giới lạ nó hiện ra thì đồng thời là cái trạng thái

[47:50]tịch tịnh hư vô nó cũng tồn hiện diện, nó cũng đến từ từ từ từ. Nghĩa là cái thù thắng hiện ra thì cái tịch tịnh cũng hiện ra, cái cao siêu nó hiện ra thì cái thanh tịnh nó cũng hiện ra. Hai cái nó cứ đi tới dần, đi tới dần, đi tới dần. Tuy nhiên, chỗ đó là cái chỗ ngã rẽ quan trọng. Ngã rẽ quan trọng là làm sao? Là nếu mình chú ý vào trong cái thù thắng á thì kiêu mạn dấy khởi liền. Ví dụ như mình nói: “Ồ, tôi ngồi chứ là không có dính cái giường, bởi vì tôi ngồi xuống tôi nhập định một cái là tôi thấy người mình ngồi không còn dính cái giường nữa.” Thì cái đó là để ý vào cái khía cạnh thù thắng, cao siêu thì kiêu mạn dấy khởi liền.

[48:29]Lúc đó phải bỏ mấy cái đó đừng để ý, mà chỉ để ý là cái mức độ tâm thanh tịnh và biết rằng tâm mình đã thanh tịnh chưa? Chưa, còn phiền động nhiều. Cho nên để ý, so sánh trên cái tịch tịnh hư vô mà mình vẫn chưa phải thật sự đạt được, cứ làm cho mình được khiêm tốn, mình không có kiêu mạn. Đây là cái ngã rẽ. Bởi vì kinh Kim Cang nói về thiền định nên chúng ta nói toàn cảnh giới của thiền định là vậy. Cho nên mình chỉ nhắm tới cái mục tiêu vô ngã thôi, biết mình còn chấp ngã thì mình giữ được cái khiêm hạ, mình bớt chấp tu, chấp chứng. Ví dụ mình được nhiều cái rất là thù thắng, ngồi mà thấy thân này nó tan vỡ cả hư không,

[49:05]phủ trùm hết, có khi ngồi ở đây mà xuyên bên vách người bên kia người ta làm cái gì thấy, ví dụ vậy, mà cũng không để ý, bỏ đi, biết là bản ngã còn. Mà bản ngã này mới là cái khủng khiếp. Mấy cái thù thắng hiện ra coi vậy chứ chỉ là rơm rác không quan trọng, mà cái bản ngã á mới là cái tên giặc nguy hiểm mà nó tồn tại thì những cái khác không quan trọng. Cho nên hiểu như vậy thì lúc nào cũng khiêm hạ, không dám vui mừng, không dám tự hào và càng không dám khoe khoang ra bên ngoài. Đó là cái cái chỗ ngã rẽ đó phải cẩn thận. Cho nên vì vậy là vào thời Đức Phật, Đức Phật không có cho sử dụng thần thông.

[49:42]Vì nếu mà sử dụng thần thông bừa bãi thì cái bản ngã của người tu tăng lên liền. Vì sao vậy? Vì khi mà dùng thần thông á, cái người đó phải có cái tác ý. Tác ý nó tế nhưng mà nó vẫn phải có tác ý. Thì cũng tôi nói ví dụ thế này, như là bây giờ mình muốn cho cái bình bông nó lơ lửng lên trên thì mặc dầu mình không có thò tay tới, nhưng mà trong tâm phải có cái muốn trong đó. Tâm thanh tịnh phải có cái muốn cho bình bông nó lên thì nó lên. Theo ý muốn của mình phải có cái muốn, và cái muốn đó vẫn là cái gì? Vẫn là tâm, vẫn là ngã. Nên vì vậy, một người chưa chứng được vô ngã hoàn toàn mà khởi cái

[50:17]thần thông thì bản ngã được kích thích để tồn tại, để phát khởi. Vì vậy Đức Phật không cho dùng thần thông. Vì cách dùng thần thông vẫn là phải kích động tới bản ngã. Nên ở đây, chỉ có những bậc A La Hán á thì Phật mới cho dùng thần thông. Dùng thần thông đúng chỗ và dùng thần thông mà đã vô ngã rồi, nên không có sợ. Nên có một lần đó, có một vị Tỳ kheo, ổng tu không biết chứng tới chỗ nào không biết, thì có mấy vị cư sĩ tới nói: "Con nghe ngài đã chứng thần thông, à xin ngài thi triển thần thông cho con xem." Thì vì sao vậy? Bởi vì lần trước á, lúc mà các cư sĩ nó mời nguyên chư Tăng đến nhà để thọ trai, sau khi ăn cơm xong,

[50:57]thuyết pháp xong, đi về, trời nắng, nắng quá chừng, nắng Ấn Độ khủng khiếp lắm. Có khi lên tới năm chục độ, người máu muốn sôi lên luôn. Thì nắng mà cư sĩ cũng sợ, từ nhà đi về tịnh xá không không phải gần, mà trời nắng như đổ lửa. Thì cái vị Tỳ kheo đó, ổng đi ổng thấy nắng quá vậy, cái ổng đưa tay lên trời ổng khua một cái vậy, là lập tức mây xuất hiện liền, mây che cái đoàn người liền và mưa lất phất lất phất, nó theo cái đoàn của Tỳ kheo đi dần dần. Thế là mây che đúng trên đầu cái vị Tỳ kheo, đi về tới tịnh xá luôn. Nên các vị cư sĩ họ thấy, họ đồn nhau. Cho nên khi về tới tịnh xá rồi, cái chiều đó, cái mấy ông cư sĩ tới vô tới phòng ngài, đảnh lễ quỳ:

[51:35]"Xin ngài thi triển thần thông cho con coi." Mà nói không biết mấy ông cư sĩ đó ổng lì, ổng dai làm sao không biết á, dai nhách. Dai cũng gần bằng mấy cư sĩ mình ở đây. Nói quá rồi cái ngài cũng chịu hết thấu rồi, ngài mới kêu cầm cái y của ngài để ra ngoài sân, để trên cục đá rồi chất lên đó đống rơm. Ngài đóng cửa lại, ngài mới thổi một cái lằn lửa tức đi xuyên qua cái lỗ khóa trong cái cửa ngài đó, nó tới nó đốt cháy sạch cái đống rơm đó luôn. Nhưng mà giở phủi ra rồi y ngài vẫn còn nguyên, vẫn sạch. Rồi các cư sĩ tán thán, đảnh lễ ngài, rồi sau đó ngài đắp y, mang bát, ngài biến biệt cái xứ đó đi mất luôn.

[52:09]Không dám trở lại, bởi vì sợ cái nước cư sĩ bị dai á. Nguy quá. Mà biết là vi phạm điều của Phật nói, Phật không cho sử dụng thần thông. Có nhiều cư sĩ vậy, lên gặp chúng tôi nói: "Thầy biết năm nay sao con làm ăn không được, thầy coi giùm con sao cái tuổi con là tuổi Quý Tỵ hay là Ất Mão gì không biết nữa." Thì chúng tôi trả lời: "Nói đợi ba năm, hẹn ba năm, thầy đi học bói về cái đã." Không biết ai đồn nữa. Cho nên, khi mà chúng ta hiểu cái điều này, hiểu thần thông là cái gì á, chúng ta thấy mình tu theo đạo Phật, mà nếu những cái tông phái nào mà chú trọng thần thông, thì mình biết sao? Tông phái đó nguy hiểm, không phải hay đâu. Thí dụ nói:

[52:49]"Thôi anh tu theo cái này hay lắm nha, tu thành công anh đưa cái ly nước cho người ta uống là hết bệnh liền. Hoặc là người ta làm ăn không được ha, anh chú nguyện người ta làm ăn được liền." thì rất nguy hiểm. Mấy cái đó Phật tử mình phải cẩn thận. Bởi vì đó là dùng tới sự linh ứng hay thần thông, thì cái người thầy hay người trò hay người tu theo, lúc nào cũng phải tác ý, phải có mong muốn. Chính cái tác ý, cái mong muốn đó làm bản ngã dấy khởi. Đây là con dao hai lưỡi, nên vì vậy mà chúng ta cứ an ổn trong cái nhân quả, trong cái vô ngã, trong cái từ bi vì mà chuẩn. À chứ còn dùng tới thần thông để can thiệp vào nhân quả

[53:24]lại là một điều hết sức là bất đắc dĩ và nguy hiểm vì nuôi dưỡng bản ngã. Trong đạo Phật đây là điều chúng ta hết sức cẩn thận. Nên mà nghe ai rủ mà tu có gì linh dị coi chừng. Như có một lần vậy, có một người Phật tử kể chúng tôi nghe câu chuyện là có một người Việt kiều ở bên Mỹ về, cái mời người Phật tử bên đây tới nói chuyện, và mới nói rằng mới gặp một nhóm người ở bên Mỹ về, nói: "Chúng tôi tu theo đạo Phật, một tông phái có một sư phụ phi thường, tôi thay mặt sư phụ là thấy bạn là người có căn cơ, nên mời bạn tới đây đưa cho bạn một câu thần chú. Thì khi bạn đọc cái câu thần chú này thì tự nhiên sẽ có tài lộc đến với bạn.

[54:04]Khi mà bạn được cái tài lộc đó bạn phải có bổn phận là trích 30% đó ra cúng lại cho sư phụ, đưa cho chúng tôi, chúng tôi sẽ gửi về cho sư phụ bên Mỹ." Họ nói như vậy. Rồi đó là mấy tháng thứ nhất, những tháng sau mà có những cái tài lộc như vậy thì phải cúng hẳn 50%. Thì cái người Phật tử mới hỏi: "Nhưng làm sao biết cái đó là tài lộc do câu thần chú đưa tới?" Cái người này mới trả lời: "Đó là cái tiền đến mà không phải là do tiền lương." Thì người Phật tử mới nói: "Tôi chưa bao giờ sống nhờ tiền lương. Tôi chưa bao giờ sống nhờ tiền lương. Thế làm sao mà có chỗ căn cứ?" Thì chúng ta thấy là có những cái giáo phái họ cũng mượn danh đạo Phật,

[54:40]nhiều khi họ cũng mượn danh cái chữ Mật tông à để họ có thể khai thác cái lòng tham tiền bạc của con người, để họ cho mình câu thần chú mà tụng ra tiền, rồi sau đó họ bắt mình nộp tiền một loại thuế. Mà mình có biết có phải là tiền đó là của câu thần chú không, phải không? Rồi cuối cùng vô tình cái đống thuế đem cho họ xài, họ đem qua Mỹ đâu mình không biết. Đây là một lằn lối lừa đảo trắng trợn. Đó là mình chưa nói tới những người mà dùng thần thông có thật. Dùng thần thông có thật cũng đã là sai, cũng đã là dấy khởi bản ngã, huống hồ là lợi dụng cái danh nghĩa Mật tông để mà lừa đảo tiền bạc, thì đây rất là nguy hiểm.

[55:16]Chúng ta cảnh giác trước những cái loại giáo phái kiểu này. Nghĩa là sau này, nếu ai nói chúng ta có một loại sư phụ có những cái thần thông giúp chúng ta làm ăn được, thì phải biết ngay là coi chừng chúng ta rơi vào cái vòng lừa đảo, phải cẩn thận hết sức. Có một cái câu thế này, là: "Vô hữu định pháp danh A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề", tức là không hề có một cái thánh vị nhất định để gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nghĩa là ngài Tu bồ đề, ngài nói theo tâm trạng của Đức Phật, không có cái quả vị tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nghe câu này chúng ta đồng ý với ngài không? Đồng ý không? Đồng ý không?

[55:52]Sự thực á cái chỗ mà tâm chứng nó có tên không? Không. Nghĩa là muốn nói tới cái chỗ tâm chứng đó, cái chỗ đó không có gì hết, mà nếu mà không nói tên thì thì làm sao mà nói thành câu thành chữ, cho nên buộc lòng Đức Phật phải đặt một cái tên. Cái tên đó là Phật quả, là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là Phật, là Như Lai, là gì gì đó đại khái đặt một cái tên cho cái chỗ mà không thể nói, không có chữ, không lời, bản ngã cũng mất, vô minh cũng hết nữa, lấy gì mà có cái tên. Á nhưng mà buộc phải nói có một cái tên cho vui thôi. Cho nên vì cái chỗ mà không tên này, cái chỗ không hề có tên gì, không có một chỗ để gọi, thì ngài Tu bồ đề mới nói là không hề có một

[56:34]thánh vị để gọi là, danh, để gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chỗ đó có gì đâu, vô minh đã hết, bản ngã đã hết, thì nói thêm một chữ cũng là là thừa, phải không? Nói thêm một chữ cũng là thừa. Sở dĩ mà Phật đặt cái tên để khuyến khích chúng sinh chúng ta tiến tu, chúng ta hướng tới. Phật tạm gọi cái cảnh giới cái chỗ mà đã hết vô minh, hết nghiệp chướng á thì gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là tạm gọi thôi. Chứ còn nếu ngay đó mình chấp cái tên rồi bị kẹt lại liền. Chỗ đó đâu có tên. Nên vì vậy mà chỗ này chúng ta nếu nghe ai nói đó, nói: "Anh tu theo đạo gì?" - "Đạo Phật." - "Ồ, Phật tu tới đâu?" Nói:

[57:14]"Tới tới vô ngã, tới tuyệt đối." Thì nói: "Như vậy thua tôi, tôi tu tới chỗ là Siêu Phật." Ví dụ muốn đặt cái tên để hơn chơi, thì cũng chỉ là cái tên thôi. Nhưng mà chấp vào cái tên đó bắt đầu chia rẽ, nói: "Không, Phật mới hay." - "Không, Siêu Phật mới hay." Không nói: "Tôi tu theo là đạo là Siêu Thánh." Phải không? Nói: "Siêu Thánh không ngon bằng Siêu Thần." Cuối cùng cãi nhau cái tên, mà thật sự cái chỗ chứng ngộ tận cùng không hề có tên gọi. Ngay cái đó một niệm cũng không có, một hạt bụi vô minh cũng không còn, thì đâu có cái chữ nào là tên. Nên nếu mà chúng ta nghe ai nói chấp cái tông phái, nói:

[57:51]"Phải tu theo tông này mới là chánh đạo, tông kia là sai. Tu thì chứng tới chỗ này mới là đúng, cái vị thần này vị Bồ Tát này mới linh, Bồ Tát khác không linh." thì mình biết ngay những người đó làm sao? Đều là chấp danh chấp tướng, không hiểu được tới cái tận cùng, cái sự linh thiêng cao cả tột cùng trong đạo Phật không hề có tên gọi. Chỗ cực kỳ thanh tịnh không có tên gọi. Nên hiểu được cái chỗ này rồi, nhiều khi chúng ta buồn, chúng ta buồn là một đạo Phật tuyệt vời như vậy, vậy mà rất nhiều đệ tử Phật đã chấp danh chấp tướng để rồi chia rẽ nhau. Cái người chấp tông này, người chấp tông kia cũng chỉ là những

[58:25]tên gọi, mà chia rẽ nhau tan nát hết, rất là đáng buồn. Hiểu được như chỗ này như vậy. Nên do đó thì từ đây chúng ta hiểu được điều này, chúng ta nguyện lòng chúng ta là những sứ giả, những chiến sĩ của Phật để tạo lại cái sự đoàn kết hòa hợp trong đạo Phật. Mình đến đâu mà mình nghe nói bên này cứ chấp cái danh quá, mình nói: "Thôi anh bớt chấp danh lại, anh chấp danh anh sẽ gây chia rẽ trong đạo Phật." Có một lần có một người hỏi chúng tôi, nói: "Nghe nói thầy là lập ra một cái tông phái mới, phải không?" Thì chúng tôi trả lời là: "Tôi ghét nhất là lập ra một tông phái mới." Cái người đó mới hỏi:

[59:02]"Nhưng mà thấy thầy giảng mới lạ." Giảng mới lạ. Chúng tôi trả lời là: "Chúng tôi chỉ mong là góp ý vào cho các tông phái để các tông phái xích lại một chỗ với nhau, nên cái điều mà để bổ sung cho các tông phái thì nghe có vẻ mới, nhưng kỳ thực nếu mà mọi nơi chấp nhận điều này thì đạo Phật tự nhiên gần nhau lại. Ví dụ người tu Tịnh Độ thì cũng không cảm thấy là Tịnh Độ mới là hay nhất, cũng không phải quan trọng cái tên đó. Hoặc một người tu Thiền cũng không quan trọng cái tông phái mình là nhất, thì vẫn có thể quý trọng cái tông phái khác. Hoặc một người tu theo Pháp Hoa Tông, một người theo Mật Tông, vân vân, không chấp cái tông phái nữa. Bởi vì sao?

[59:43]Bởi vì chỗ thanh tịnh cực kỳ không có tông, không chữ, không tên. Hiểu như vậy rồi mình gặp ai mình cũng vui. Cái duyên mình đi con đường này vậy thôi, nhưng vẫn có thể bổ sung thêm con đường khác, và vẫn thương quý con đường khác, không bao giờ độc tôn, không bao giờ cho mình là hay nhất. Hễ mình đến mình gặp một người nào tu theo đạo Phật mà họ tự cho rằng cái tông họ hay nhất thì mình biết người này làm sao? Hiểu lầm, hiểu lầm, chấp danh chấp tướng. Không có cái nào hay nhất hết trơn á. Chỉ có con người thôi, tu đúng thì hay nhất, tu trật thì tông nào cũng dở. Những cái điều trong đây rất là quan trọng.

[1:00:17]Đây là những tư tưởng để xây dựng lại đạo Phật, chúng ta phải hiểu như vậy. Cái người vậy, cho nên học mình hiểu cái nhìn của Kim Cang Bát Nhã là không bao giờ để thích chia rẽ, không thích chia rẽ. Cái người mà không hiểu Kim Cang á, cứ chấp danh chấp tướng á thì mới hay gây chia rẽ. Chúng ta thấy thế này: một bậc thánh mà có trí tuệ á thì các ngài vừa sâu sắc tinh tế, nhưng mà lại vừa giản dị bình thường, cái phong cách của bậc thánh. Giản dị bình thường là làm sao? Là mình thấy các ngài không có phân biệt à tông này tông kia, sống sao cũng được, sề soà gặp ai cũng vui, mặc đồ rách cũng được, đồ lành cũng được,

[1:00:55]đồ đẹp cũng được, đồ xấu cũng được, nghĩa là các ngài bình thường, giản dị. Nhưng mà lại rất sâu sắc tinh tế là sao? Tức là một cái lỗi cực nhỏ trong tâm phát hiện ra liền, bỏ liền. Đó là sâu sắc tinh tế. Rồi ví dụ như một cái lỗi của chúng sinh nhìn thấy liền, nhúc nhích cái là biết liền, biết người kia còn nhược điểm chỗ nào thấy liền. Thấy liền nhưng mà lại sao? Rất là rất là khoan dung, từ bi, chứ không phải là biết lỗi người khác rồi mà ghét mà đem đi rêu rao. Nó khác với mình như vậy. Còn mình là phàm phu thì mình lại bị cái nhược điểm mình là ngược lại, tức là đôi khi mình rườm rà mà trong tâm mình lại hời hợt.

[1:01:31]Mình không thấy được lỗi mình, nhưng mà trong đời sống mình mình chấp cái này mình bày biện cái kia rắc rối, hoặc là mình có lỡ biết được lỗi ai cái thì mình vịnh vào đó để công kích, nói xấu người ta, không có khoan dung không tha thứ. Đó là ngược lại. Còn cái tinh thần của đạo Phật, của kinh Kim Cang nhắc chúng ta một cái điều đó, là à không chấp danh tướng, nhưng mà cái nhìn thâm thẳm cho tới cái chỗ mà thanh tịnh cùng cực không còn bản ngã, không danh không tướng, chỗ đó rất là sâu sắc. Cái chỗ mà không chấp danh nè, mà chỗ mà ngài Tu-bồ-đề nói trong kinh Kim Cang là không có một thánh vị nhất định để gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng

[1:02:08]Chánh Giác, thì trong bộ kinh khác là bộ Đại Bát Nhã 600 quyển. Trong đạo Phật chúng ta có một bộ kinh dài nhất, dài khủng khiếp á là bộ Bát Nhã 600 quyển. Trong bộ kinh đó có một cái đoạn khi nhiều người đọc tới chỗ này đều rúng động. Thì lúc đó có một vị thiên tử hỏi ngài Tu-bồ-đề. Lúc đó ngài Tu-bồ-đề mới nói là: "Không thấy có Phật, không thấy có Pháp, không thấy có chúng sinh." Thì chư thiên mới có người hỏi: "Không lẽ nào mà không có Phật?" Cái ngài Tu-bồ-đề mới nói: "Cái quả vị Phật cũng không có thật, cũng là huyễn là hoá." Chư thiên mới trợn mắt hỏi: "Lẽ nào mà quả vị Phật mà cũng là huyễn hoá?" Ngài Tu-bồ-đề mới trả lời:

[1:02:52]"Nếu có một pháp nào cao hơn cái Vô Thượng Bồ Đề, ta cũng nói là như huyễn, như hoá, như mộng mà thôi." Đoạn kinh khủng khiếp luôn! Đọc cái đó, nếu một người mà không trí tuệ, tâm không thanh tịnh, choáng váng không hiểu nổi, không hiểu nổi. Thì trong kinh Kim Cang này chỉ giới thiệu một chút thôi, là theo như con hiểu cái ý nghĩa Phật dạy thì không có một thánh vị nhất định nào để gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thì trong đây là giới thiệu cho mình một đoạn. Nếu mà đi vào sâu nguyên cái bộ Đại Bát Nhã 600 quyển, chúng ta sẽ bắt gặp những cái đoạn khủng khiếp như kiểu kia. Sau này nếu mà có duyên thì mình xem, còn không có duyên thì thôi

[1:03:27]vì bộ đó dài quá, không ai giảng nổi, rất ít ai giảng nổi. Chúng ta thấy cái nói mà không có một thánh vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác á mình phải hiểu vậy. Nếu mà nói không chứng gì cả thì sai, phải không? Ngay từ đầu hồi nãy mình đã khẳng định là Phật có chứng. Nên phải nói nếu không chứng gì hết thì sai, tại vì nếu không có chứng gì hết mình tu để làm cái gì? Phải không? Chúng ta tu là để đi đến một cái kết quả. Khẳng định như vậy. Nhưng mà cái chứng trong đạo Phật nó khác với cái đạt được của thế gian là thế này. Ví dụ bây giờ mình ráng học, cuối cùng mình đạt được tiến sĩ, phải không? Mình ráng làm ăn, cuối cùng mình cất được cái nhà.

[1:04:05]Nó có một cái kết quả rõ. Mình ráng mua vé số, cuối cùng mình cuối cùng mình hết sạch tiền. Ở đó mà có trúng độc đắc. Nhưng mà trong đạo Phật cái quả chứng nó kỳ khôi á, khi mình mình chứng tới cái mình mơ ước thì bản ngã biến mất. Mà bản ngã biến mất thì các vị thánh á khi mà bản ngã không còn rồi thì các ngài không có giữ một cái tên gọi, một hạt bụi trong tâm nữa, thì có một cái cục nào để gọi là Vô Thượng Bồ Đề không? Có không? Không. Chính vì vậy khi khi bản ngã hết rồi thì cái gọi là có một cái quả vị cao siêu không có. Cái chỗ này chúng ta phải thấm, cái đoạn này nhắc tới nhắc lui để chúng ta áp dụng cho cái đường tu của mình, nhớ.

[1:04:48]Có câu thế này là: "Diệc vô hữu định pháp, Như Lai khả thuyết." Tức là cũng không hề có thật một cái điều gọi là Như Lai thuyết pháp. Phật không thuyết pháp. Sự thật thế này, chúng ta mới thấy điều này mới khủng khiếp trong đạo Phật á mà không có một tôn giáo nào bằng được. Giờ có một cái người, người tốt trong cuộc đời này, có một thằng trộm vô nhà ổng cạy tủ, ổng để dành được 20 cây vàng, vô nó dí dao vô cổ ổng, ngồi đó, cái cạy tủ lấy 20 cây vàng đi. Khi công an tới hỏi hay là người ta đổ xô tới thì thấy nét mặt ổng tỉnh bơ, không có buồn. Vậy con người này họ có cái phẩm giá và tinh thần họ vững vàng, không có vì mất 20 cây vàng họ buồn. À.

[1:05:34]Nhưng mà rồi bữa sau có một người tới nói thế này: "Người ta nói ông nói xạo, không hề có ăn cướp nào tới lấy tiền của ông hết, ông dựng chuyện lên để mà cầu mong cái sự thương cảm của người khác." Thì bữa nay mới đau nè. Bữa nay mới đau. Bữa trước mất 20 cây vàng không đau, mà bữa sau người ta xuyên tạc, người ta nói xấu mình làm cho mình mất cái giá trị, mất danh dự, cái này mới đau. Đúng không? Rơi vào trường hợp mình mình cũng như vậy. Nếu mình là một người Phật tử chân chính, mình tu vừa vừa không quá cao, cao quá thì mình không buồn, mình vừa vừa đó mất 20 cây vàng mình không đau, mà ai lại dựng chuyện

[1:06:09]nói là mình xạo mình đau, buồn, mất danh dự đau hơn, đúng không? Nên đối với người có trí đó cái giá trị tinh thần nó cao hơn cái giá trị vật chất, phải không? Chúng ta đồng ý với nhau điểm này. Cái người phàm phu tầm thường á, nhiều khi á họ chửi mình một câu rồi họ cho mình 1 triệu mình ừ lấy liền, tại danh dự không quan trọng, 1 triệu quan trọng hơn. Đó là cái người không có phẩm giá. Còn cái người mà có phẩm giá thì họ chỉ liếc mắt mình mà nhìn không vui cái là mình không muốn nói chuyện nữa, không thèm gặp nữa, mình tự trọng. Vì giữ cái giá trị tinh thần nó quan trọng hơn, phải không? Thì bây giờ ví dụ một cái vị mà suốt một đời thuyết thành vô lượng cái giáo pháp

[1:06:50]cao siêu thì cái giá trị tinh thần nó lớn lớn biết chừng nào, phải không? Cái giá trị đó lớn ghê lắm chứ đâu phải là giỡn. Vậy mà vị đó dám nói mình không hề thuyết bài pháp gì, phủ bỏ luôn, thì chúng ta thấy vị này như thế nào? Đúng là Phật. Đúng là Phật. Đó, chỉ có Phật, ngay cả cái giá trị tinh thần, cái sự nghiệp tinh thần mà mình dựng được cả một cuộc đời mà vẫn xem nhẹ như không, không có gì hết, thì đó mới thật là một bậc thánh siêu việt, chứng ngộ là như vậy. Đó mình quay trở lại cái ông nhà giàu hồi nãy, đó nếu mà hôm trước ổng mất 20 cây vàng ổng không buồn, ngày hôm sau có người tới vu khống nói ổng như vậy mà ổng

[1:07:26]vẫn tỉnh bơ không buồn, ổng này sắp làm thánh rồi đó. Tức là cả cái giá trị tinh thần ổng cũng không màng, bình thản luôn. Người đó rất là hay. Đó, nhưng mà thường chúng ta khó đạt được như vậy. Còn ở đây cái sự nghiệp tinh thần mà chúng ta tạo dựng cả một đời vậy mà vẫn tự mình xem như không, cái này mới là quá sức vĩ đại. Chỉ có Phật mới làm nổi, mà chỉ có kinh Phật mới nói điều này, chứ các tôn giáo khác không có. Các tôn giáo khác á, hễ mà kinh của giáo chủ phán ra rồi đó, ai nói trật một chữ là bắn liền, giết liền. Họ chấp từng chữ từng nghĩa trong kinh, từng câu trong kinh, đụng tới là coi như đụng

[1:08:03]tới điều cấm kỵ họ trừng phạt thê thảm liền. Cho nên các tôn giáo họ nhiều khi cực đoan, cuồng tín và có khi dùng tới bạo lực. Chỉ có trong đạo Phật thật là hiền lành, tức là chính Đức Phật là người mà dám xem cả cái sự nghiệp lớn lao của mình như là như mây, gió, bụi, thật là đặc biệt. Mà tại sao Đức Phật lại không xem mình có thuyết giáo pháp gì hết? Tại sao? Mà cái này không phải là cái điều tưởng tượng, mà đây là một điều thực tế, một điều rất thực tế Đức Phật xem thấy mình không có giảng gì hết. Mục đích Phật thuyết pháp để làm gì? Để làm gì? Để chữa cái tâm bệnh của chúng sinh, phải không?

[1:08:49]Chữa những sai lầm của chúng sinh. Đó, mục đích như vậy. Nếu mà chúng sinh không sai nữa thì cái giáo pháp để làm gì? Không có chuyện làm gì nữa hết trơn, không cần nữa, phải không? Cho nên, giáo pháp là vì có cái điều ác nên mình phải trình bày điều thiện. Vậy thôi, nếu điều ác không còn thì tự nhiên điều thiện này bỗng nhiên dư. Bởi vì nó đã là thiện rồi thì không cần phải thêm nữa. Nên vì vậy, khi mà Ngài nói Ngài thuyết pháp để Ngài chữa cho người này hết bệnh, người đó hết bệnh rồi thì Ngài cũng cảm thấy cái điều mà mình đã nói nó tan thành mây được rồi. Không quan trọng nữa, như vậy. Nên ngài Tu Bồ Đề rất là thấu đáo điều này,

[1:09:31]cho nên ngài mới dám nói là không thật có một cái điều gọi là Như Lai thuyết pháp. Cái giáo pháp mà Đức Phật dựng nên á, nó khác với việc như chúng ta xây một cái cung điện hay một cái lâu đài. Khi mình xây lên một cái lâu đài, một cái cung điện, mình chấp thì có hình có tướng, còn cái giáo pháp vô hình vô tướng và khi nhiệm vụ nó xong rồi thì nó không cần thiết nữa, là ý là như vậy. Giống như là cái người nào có bệnh thì mình đem ampicillin mình cho uống, hết bệnh rồi mà mình bắt uống ampicillin nữa thì sao? Thì cơ thể người đó tiêu liền, phải không? Ruột sẽ mất men, xây xẩm, mất máu gì đó, đại khái vậy.

[1:10:06]Giống như nhà mà có bụi dơ thì mình lấy chổi mình quét, mình lau. Mà không dơ nữa thì mình cứ cầm hoài chổi quét lau hoài thì sao, người ta nói mình nói mình tưng tưng gì đó, không phải khùng đâu, chưa khùng đâu. Cho nên, chúng ta ca ngợi giáo pháp là để giúp cho người khác đến với giáo pháp và họ được lợi ích để chữa được cái tâm bệnh của họ, chứ không phải chúng ta ca ngợi giáo pháp để rồi chúng ta chấp cái giáo pháp đó thành cái niềm tự hào, thành cái kiêu mạn, thành cái phe phái thì sai lầm liền, sai lầm liền. Đó là cái giáo pháp, chứ đừng nói tới mà cái tông phái hay giáo hội nữa nha. Người chấp giáo hội này, giáo hội kia để rồi chia là phải giáo hội này

[1:10:45]mới đúng, giáo hội kia là sai thì đó lại là một cái bệnh lớn nữa. Không có đúng với tinh thần của Kim Cang. Nên đạo Phật là một tôn giáo hòa bình là vì vậy. Ngay cả cái đạo mà mình tôn thờ mình cũng không tự hào để gây chia rẽ để chống đối với đạo khác nữa, đạo Phật hiền lành là như vậy. Cho nên, nếu mà vì lý do sắc tộc hay tôn giáo hay xã hội để kích động chiến tranh chống đối lẫn nhau thì đó là một điều rất tầm thường, tội lỗi và ác độc, hoàn toàn sai với Phật pháp. Đây là chỗ chúng ta để ý. Chúng ta học trong tinh thần kinh Kim Cang chúng ta thấy là Phật dạy rất là rõ. Ngay cả cái quý giá nhất là pháp

[1:11:25]mà Phật cũng xem như không, ngay cả cái quý giá nhất là quả chứng mà Phật cũng xem như không, thì huống hồ những lý do khác. Nên có những số người họ sống trên đời, nhiều khi họ xem nặng những cái điều vụn vặt mà kích động lên thành lớn chuyện, rồi thậm chí gây nên chiến tranh để cho nước này đánh nước kia, thì những người đó chúng ta thấy nếu so sánh với đạo Phật là một cái sai lầm rất là nặng. Cho nên trong cái đất nước chúng ta vậy, chúng ta hiểu cái tinh thần đạo Phật chúng ta giữ kỹ cái tinh thần hòa bình này. Không bao giờ vì lý do mà sắc tộc, tôn giáo để cho người ngoài kích động mà gây chiến tranh. Nhớ như vậy.

[1:12:01]Cái hòa bình rất là quý. Nếu chúng ta xem Phật pháp là quan trọng thì phải sống yêu thương và gìn giữ hòa bình cho nhân loại. Còn cái người nào mà cứ thích gây rối, kích động, thích chống đối thì người đó ở ngoài Phật pháp. Có khi họ vì cái hiểu sai, có khi vì họ được thuê bằng tiền mà họ kích động để cho sắc tộc này chống sắc tộc kia, tôn giáo này chống tôn giáo kia. Thậm chí trong một tôn giáo mà chống lẫn nhau có khi từ một nguồn tiền duy nhất. Ví dụ như có một kẻ xấu nào đó họ đến với đạo Phật, thế là họ cho ông thầy này 100 triệu, nói cho ông thầy A 100 triệu kêu chống ông thầy B, họ đến với ông thầy B họ cho 100 triệu kêu ông thầy B chống lại ông thầy A.

[1:12:46]Thế là hai người đó chống nhau kịch liệt mà cái sự xúi giục từ một người duy nhất. Thì như vậy, rõ ràng đạo Phật mình bị rơi vào cái âm mưu của người xấu để rồi mình chống đối, chia rẽ lẫn nhau. Rất là oan. Mà thật sự là chúng ta đang bị như vậy. Là vì sao? Vì mình không giữ vững được cái tinh thần hòa bình, hòa hợp, thương yêu của đạo Phật nên mình bị kẻ xấu lợi dụng. Họ muốn phá đạo Phật thì họ phải làm cho đạo Phật chia rẽ trước. Mà muốn cho đạo Phật chia rẽ thì họ phải kích động ông thầy này chống ông thầy kia. Cho nên khi mà mở miệng chống nhau, chúng ta vô tình rơi vào âm mưu của kẻ xấu.

[1:13:24]Chúng ta dùng chỉ chữ kẻ xấu là nhẹ, chứ sự thật cái kẻ xấu nó khủng khiếp lắm, nếu mình biết thực sự cái tên của họ rồi là mình rùng mình liền. Mà trên thế gian này đầy như vậy, đầy như vậy. Nên chúng ta phải hiểu rõ điều này, một tinh thần Kim Cang Bát Nhã: không chấp danh, không chấp tướng, yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng sự hòa hợp để mà giữ gìn Phật pháp. Khi mình hiểu như vậy thì không có đồng tiền nào mua mình được, không có một sự xúi giục nào làm mình lung lay được. Nếu có ai đó đến xúi mình phải chống người kia, mình từ chối liền, biết cái người đó là muốn phá đạo Phật. Hoặc là có ai vin vào một lý do là tông của mình như vậy tại sao để cho

[1:14:03]người ta lấn, phải không, tại sao để cho người ta giành hết Phật tử của mình, mình nghe mình cười liền, nói ai giành cũng tốt hết. Cái quan trọng của mình không phải là những Phật tử đã biết đạo rồi, tại Phật tử đã biết đạo rồi thì họ đã có đường đi. Cái quan trọng của mình là những người chưa biết đạo. Những người đó mình phải thương yêu, mình phải đến với họ để giúp cho họ biết Phật pháp. Còn huynh đệ mình đã biết đạo rồi thì đi đâu cũng được, tu chùa nào cũng tốt, không sao, vì họ đã quy y, họ có hướng đi rồi. Nay họ có duyên với mình, mai họ có duyên với người khác, đều tốt hết, không sao,

[1:14:36]không gì phải giành, không phải hơn thua, không có sợ mất. Nên Tăng Ni không được sợ mất Phật tử, mà cái điều mình sợ mất là gì? Mình sợ mất cái tâm từ bi, mình không quan tâm đến cái người chưa biết đạo. Cho nên vậy, chúng tôi vẫn thường hay nhắc nhở quý thầy, quý cô, quý Phật tử là khi chúng ta đã là đệ tử Phật thì điều mà chúng ta phải quan tâm là những người chưa biết đạo. Xung quanh mình còn ai chưa biết đạo, giúp cho người ta biết đạo. Chúng ta hãy nhớ tới Đức Phật, cả một hệ thống giáo lý ưu việt, đẹp đẽ, đầy trí tuệ, cao cả được Phật vất vả cả một đời tuyên thuyết, vậy mà Phật cũng xem như không.

[1:15:15]Chúng ta hãy nhớ. Thì bây giờ mình nhìn lại bản thân mình, nếu chúng ta có làm được một chút điều lành thì đừng có kể đi, kể lại, cả trong tâm mình cũng đừng có cố chấp gìn giữ. Vậy thì cái điều lành mà chúng ta làm được là để làm gì? Để, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:15:43]Có ai hỏi gì không? Chúng ta có được ít thời gian. - Bạch thầy, mỗi khi con có ý nghĩ tự cao khởi lên trong đầu là con dập tắt ngay, vậy dù ý đó chỉ mới khởi chút xíu có bị tổn phước không? - Tùy theo cách dập tắt của mình. Tùy theo cách dập tắt thế này, ví dụ như bây giờ, ví dụ mình nghĩ: "Công nhận mình giỏi ha, mấy người ở đây không bằng mình", cái ý nghĩ vừa khởi lên như vậy, cái mình nói thôi bỏ, bỏ ý nghĩ đó, thì cái ý nghĩ đó chưa hết, cái tội còn. Mà để xóa cái tội đó mình phải nghĩ một cái ý nghĩ tiếp thứ hai ngược lại: "Không, ý nghĩ đó vừa sai lầm. Thật ra, mình chỉ là cỏ rác, là cát bụi.

[1:16:23]Những người xung quanh chúng ta còn nhiều điều hay mà mình chưa biết được". Phải có ý nghĩ thứ hai như vậy nó mới tắt cái tội kia, thì nhớ như vậy, chứ còn buông dừng nó lại vẫn chưa hết tội nha. Ví dụ như bây giờ có một lần nào đó mình giận mình muốn đánh ai, mình nói: "Trời ơi, giọng vô mặt nó một cái", cái nói thôi thôi, không không thèm nghĩ tới nữa, thì cái nghiệp vẫn còn. Một ngày nào đó mình sẽ giơ tay giọng người ta đó, dù bây giờ có dừng lại, giận nhưng mà gần tới thì dừng lại, tại ngày xưa mình dừng lại. Còn mà để không khởi tay giọng người ta nữa đó thì lúc mà ngay ban đầu mà nóng giận muốn đánh người ta đó:

[1:16:53]"Thôi không, xin lỗi sám hối, không bao giờ ta đánh ai nữa, không bao giờ ta đánh ai nữa", phải lặp cái câu đó thì nó mới hết cái nhân quả. - Ba con mất năm nay được 12 năm, khoảng trong vòng 1 tháng nay con nghe văng vẳng bên tai đọc Chú Đại Bi cho ba. Con đã đọc thì không nghe nữa, con xin hỏi đọc xong Chú Đại Bi có câu chú nào xả không? - Xả là gì?

[1:17:15]Thật ra Chú Đại Bi là cái niềm tin thôi. Cái niềm tin rằng sẽ được Phật gia hộ, sẽ được thần lực của Phật, và chính cái niềm tin này nó tạo thành cái kết quả chứ không phải là bài Chú Đại Bi. Tại bài Chú Đại Bi mình đâu có hiểu gì đâu. Nhưng mà cứ người này nối người kia tin, mà bởi vì cái nguyên văn cái bài Chú Đại Bi tiếng Ấn Độ là một lời cầu nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm cầu cho chúng sinh, cái ý nó rất cao thượng. Chính vì cái ý nó cao thượng nên nó linh. Và khi mà mình đọc theo cái phiên âm: "Nam mô hắt ra đát na" thì mình không hiểu gì hết, nhưng mà mình được truyền cái niềm tin là bài chú này thiêng liêng

[1:17:50]của Phật, mình do kính Phật mình tụng, cái bắt đầu nó linh thiệt. Nên nếu mình có một bài tụng khác mà rõ nghĩa hơn, mà cũng cao cả, cũng thiêng liêng như vậy thì cũng sẽ linh, mà nó hay hơn được về ý nghĩa nữa. Không cần xả, đọc rồi xả cái gì. - Con đọc xong Chú Đại Bi và trì Ngũ Bộ Chú: "Úm lam, úm sĩ lâm, úm mani bát mê hồng", tới câu "Úm sanh lê sanh đê", cái này còn giỏi hơn thầy nữa, thì hai tay con tự nhiên bắt ấn, kiết ấn dưới đưa ấn qua bên trái niệm ba lần, rồi xoay phải niệm ba lần, xong lên trán, vai trái, mặt, ngực, miệng đều niệm một lần từng chú của ngài Phật Mẫu Vương Chuẩn Đề.

[1:18:25]- Này coi chừng bị nhập. Cái này là người này có duyên Mật tông nè, nghĩa là kiếp nào có tu Mật tông, rồi có thờ có lạy bên các vị Mật tông, cho nên cái duyên nó còn, cái khiến có một cái tác động từ bên ngoài cái tự nhiên mình lặp lại cái hành động mà mình đã làm từ kiếp trước. Đời trước có tu Mật tông. - Thưa thầy, người ta nói là có điển và người ta nói là có vong. Như vậy, có điển là gì, có vong là gì? - Có điển tức là có sự tác động của cái thế giới bên ngoài, ví dụ những vị thần, những vị thần họ truyền một cái năng lực gì cho mình, họ truyền một cái ý muốn cho mình, hoặc là truyền một cái tư tưởng cho mình để mình làm theo, cái đó gọi là có điển.

[1:19:02]Họ truyền một năng lực làm cho mình mạnh hơn, hoặc họ xúi giục cho mình làm một cái ý gì đó, một cái ý muốn. Những vị mà ở trên cao á thì thường xúi mình làm điều tốt. Còn cái vong á, đôi khi họ xúi mình làm những điều sai. Ví dụ cái người nào mà tự nhiên đổi thái độ, bỗng nhiên giận chửi mắng tùm lum hoặc là chạy ra ngoài đường cởi trần cởi truồng la hét thì đó là cái vong xấu, vong thấp. Còn có người nào tự nhiên cái khiến xúi mình, mình đi chữa bệnh, mình bố thí, mình làm phước thì đó là thường là cái sự trợ giúp, cái xúi khiến ở trên, ở trên cao mình gọi là có điển. Vậy thôi chứ hai bên đều giống nhau là mình chịu một

[1:19:32]sự tác động từ bên ngoài của thế giới siêu hình. Nhưng mà cái thế lực tốt thì đẩy mình làm điều tốt, cái thế lực xấu thì đẩy mình làm điều xấu. "Thưa Thầy, có điển có cảm giác nặng trên đỉnh đầu và chạy dài xuống cổ phía sau và ra cả hai trong tư thế ngồi đọc chú, đầu gật gà gật gù như say sóng và buồn ngủ, và trong người ra mồ hôi nhiều. Thưa Thầy, nếu thực sự là có điển, phải làm sao cho hết điển hoặc là xả điển cho thân thể của mình khi ngồi đọc chú không còn bị hiện tượng như trên?" À. Cái này là mình bị tác động ở bên ngoài thì mình cứ lạy Phật thôi. Mình lạy Phật với cái ý muốn là không muốn điều đó xảy ra nữa.

[1:20:05]Mà mình cứ nhiều năm như vậy, nếu mà mình à quá lâu thì cứ nhiều năm như vậy thì tự nhiên nó sẽ hết. Mà mình lạy Phật với lòng thành kính, không chấp tướng. Kiến chư tướng phi tướng á, lạy Phật mà không chấp hình tướng và mong muốn những cái điều này đừng xảy ra. Mà nếu sau này mình làm điều gì đều từ trí tuệ của mình, từ sự gia hộ của Phật chứ đừng có sự tác động bằng cái lực như vậy làm cho mình khó chịu mà mình không tự chủ được, mình không thích điều đó thì lâu ngày nó sẽ hết. Quyết tâm không thích thì hết à. Cho nên ma nhập cũng vậy, là do mình mời mới vào. Mời thực ra cũng bị nghiệp. Nhưng mà thế này, ví dụ cái người mà bị ma nhập á,

[1:20:39]họ sẽ có cảm giác rợn lạ mang tai, cái họ tò mò coi coi nó làm sao. Cái ý mà tò mò coi coi nó làm sao, cái nó vô luôn. Còn nếu cái người nào mà nghe rợn rợn rợn, bỗng nhiên quyết không cho vô nữa, là ngay đó hết luôn, không bao giờ nó vô. Còn những người tò mò là những người mời ma nhập vô. Điển cũng vậy, khi mà nó rân rân rờn rợn trên đầu, cái tự nhiên mình để coi sao để coi sao là bắt đầu từ từ nó tấn xuống vai, xuống lưng là hết là khống chế mình luôn. Còn nếu vừa rần rợn trên đầu thì mình dứt khoát buông ra đứng dậy, gạt ngưng không cho vô nữa thì sẽ hết. Nó như vậy. "Kính bạch Thầy, khi con ngồi niệm Phật,

[1:21:11]tâm thức con thấy những vong con không hề biết và những vong con biết. Xin Thầy giải thích cho con biết hiện tượng đó, những vong đó nói chuyện với con." Thì hết 90% là điều này có thật, là có thấy vong thật, có vong đến thật. 10% thì có thể do ảo tưởng của mình khi sắp điên, 10% thôi, nhưng mà 90% là có thật, có vong thật. Mình không điên, rất tỉnh và thấy. Thì đây là mình có cái duyên thấy người cõi âm. Có cái ngộ lắm nha, mỗi người có một cái năng lực gì trên não cấu tạo không giống nhau. Cho nên có những người thì tự nhiên thông minh, có người giỏi văn, giỏi thơ, có người dễ thấy ma, có người có trực giác mạnh, và có người cái người mà thấy vong

[1:21:46]là thuộc người dễ thấy ma, do cái cấu tạo não của họ, mà cũng là do duyên đời xưa làm sao đó tự nhiên họ dễ thấy ma hơn những người trước. Thì cái người niệm Phật mà thấy vong là cũng do cái cấu tạo não mình hơi lạ hơn người mà thấy như vậy. Mà nếu mình không sợ mà mình có thể khuyên họ được thì tốt, mà tốt hơn hết đừng thấy nữa. Tại vì mình chưa chứng đạo, đừng thấy là tốt nhất. Mình nói với họ là cứ tu và thôi không cần phải tiếp xúc với nhau. Không có gì quan trọng đừng tiếp xúc, cứ nương theo tu tập với nhau, mình cúng thí thực cho họ ăn, và vậy được rồi đừng để thấy. Bởi vì để thấy mình sẽ lẫn không biết cái sự thật và ảo tưởng

[1:22:20]như thế nào khi mình chưa chứng đạo, rồi mà cái điều đó mà mình tò mò mình thích thú thì một ngày kia mình sẽ điên. Họ tấn công vào luôn, vì mấy ma chưa tốt đâu. Nó thấy mình cởi mở dễ là nó nhào vô luôn, cho nên mình phải khước từ, phải biết khước từ. "Thưa Thầy, con xịt thuốc giết nhiều ổ kiến để bảo vệ chim muông, mèo hoang, khi cho chúng ăn không bị kiến cắn. Như vậy Thầy chỉ dạy cho con cách giải thoát nghiệp sát sanh của con." Đây là vấn đề cũng rất là phức tạp. Hồi sáng á chúng tôi với thầy trụ trì ngồi nói chuyện với nhau về vấn đề mà giới sát trong đạo Phật. Thì à quan điểm của chúng tôi với thầy trụ trì rất là gần nhau.

[1:22:56]Như chúng ta nói trên đời là chúng ta thương yêu tất cả chúng sinh, nhưng mà bây giờ con sư tử nó ăn thịt con mèo, con chồn, hai con mình thương hết, bây giờ mình binh con nào bỏ con nào? Phải không? Đó là những cái mâu thuẫn mà rất là thực tế trong cuộc sống. Ha? Hay giờ bây giờ con kiến nó lên nó cắn con chim, mà hai con mình thương hết thì binh con nào bỏ con nào? Đó là những cái mâu thuẫn. À tuy nhiên là thứ nhất cái quan điểm của chúng tôi là thế này, chúng ta giữ giới không sát sinh là chúng ta giữ gìn cái môi trường sống của trái đất này trước, ưu tiên một, ưu tiên một. Nên những cái điều gì mà làm tổn hại tới môi trường

[1:23:31]sống, chúng ta phải tìm cách chặn đứng lại. Đó là giới sát sinh thứ nhất. Cho nên có những trường hợp mà nhiều khi ví dụ như ruồi nó phát sinh quá, chuột nó phát sinh quá, rồi khi nhà nước có chiến dịch mà phải tiêu diệt để bảo vệ cái môi trường sống lành mạnh, chúng ta không được quyền phản đối, không được quyền nói là phạm giới sát sinh. Bởi vì đó là đạt được cái mục tiêu cao nhất là bảo vệ môi trường sống của trái đất. Rồi ví dụ như là khi mà rừng bị phá nhiều quá, thì đó là tội ác rất nặng, mình phải quyết tâm bảo vệ rừng. Bởi vì rừng mà hết là nhân loại chết hết luôn. Cho nên phá rừng là không phải là một cái việc mà tham

[1:24:06]lam sơ sài mà đó là tội ác chống nhân loại, làm cho sự sống trên trái đất bị tiêu diệt hoàn toàn. Nên tội phá rừng đúng ra là phải tử hình, chứ không có bắt mà xử lý sơ sơ kiểu đó. Mà không phải là chỉ những người lực lượng kiểm lâm sơ sơ mà đi bảo vệ rừng, toàn dân bảo vệ rừng, toàn quân đội bảo vệ rừng, toàn bộ công an phải bảo vệ rừng, bởi vì đó là sự sống của nhân loại. Ngày nào đó giết một con chó không có tội bằng cưa một cái cây, khi mà cây đã quá ít.

[1:24:37]"Con hay bị những vong linh tác động đôi khi bị nhập hẳn." Người khi mà mình bị nhập á nó có cái nguyên nhân là hồi xưa lúc mình làm ma mình có nhập người ta rồi. Lúc mình có nhập nên bây giờ mình bị quả báo bị nhập lại. Hiện nay đó là mình có cái cửa ngõ dễ bị người ta vô. Tinh thần mình hơi yếu, mình chưa điên là bởi vì mình còn phước, chứ hầu hết khi bị ma nhập sau đó bị điên. Tại vì sao vậy? Bởi vì khi có ma nhập vào họ đánh hư cái bộ não của mình. Họ xuất ra rồi, bộ não mình còn bị tổn thương nên bị điên luôn. Điên là do bộ não hư, mà nguyên nhân là do ma nhập. Ma nhập rồi họ làm hư bộ não mình, cho nên đừng cho ai nhập.

[1:25:15]Giống như là nhà mình á, mà người xấu đừng cho vô ở, họ vô họ phá hư nhà hết. Cái bộ não mình rất là quý, ma nhập rồi nó phá hư bộ não mình, mình điên liền. Mà có nguyên nhân, bây giờ mình chuộc lại bằng cách mình làm nhiều điều phước, lạy Phật thật nhiều, ngồi quán từ bi thương yêu tất cả chúng sinh, tự nhiên mình có cái uy lực, lần lần lần lần ma không dám lại gần nữa. Ma không dám nhập là một chuyện, mà đến mức độ mà mình lạy Phật nhiều, khởi lòng từ bi thương yêu chúng sinh nhiều, làm được nhiều việc phước rồi, ma không bao giờ đến, dám đến gần mình trong vòng mấy chục thước á. Không bao giờ dám đến gần.

[1:25:48]"Phương pháp chữa bệnh bằng nhân điện có thật sự tác dụng tốt cho sức khỏe hay không?" Nhà nước đang cấm nhân điện. Bởi vì kết luận về khoa học chưa có hoàn chỉnh và có nhiều người đã lợi dụng nhân điện kết nối với địa mẫu và mê tín luôn. Rất là nhiều vậy, cho nên ví dụ một người bình thường tỉnh táo, một nhà khoa học họ dùng nhân điện thì khác, họ đặt cái tay lên, điện truyền qua nó giống như châm cứu. Nó hơi khác châm cứu chút xíu nhưng mà rất là giống về tác động huyệt đạo. Còn đa phần người ta lợi dụng nhân điện để biến qua hình thức mê tín, đồng bóng, địa mẫu thì rất là nhiều, cho nên nhà nước vừa ra lệnh là cấm nhân điện.

[1:26:23]Còn để nghiên cứu lại, chưa cho sử dụng. Tức là giống như cái vị thuốc mà chưa có bảo đảm cái tác dụng tốt thì cấm lưu hành. Thì hiện nay cũng vậy, xã hội mình cấm nhân điện. "Một người tu tập thiền định tâm để tại đan điền, nếu người này rèn luyện phương pháp nhân điện, tâm để ở luân xa 7, tức ở đỉnh đầu, thì có bị ảnh hưởng đến việc tu tập thiền định không?" Tâm mà để đỉnh đầu lực nó chạy lên à, lực chạy lên sau này nó trống lực hết thì cái đầu sẽ hư đó. Nó trống ở dưới chân, dưới bụng, lực nó chạy hết lên đầu, nó căng bộ não thì nó phá vỡ bộ não, rất dễ điên. Cho nên là cái nguyên tắc theo cái quẻ mà Địa Thiên Thái

[1:26:59]trong quẻ Dịch, cũng giống như trong thực tế của đông y, trong thực tế người tu tập thiền định, lực mình lắng ở dưới bụng, dưới chân, đầu rỗng, thì đó là một cấu trúc hợp lý, làm tâm mình thanh thản, nhẹ nhàng, có trí tuệ, mà khỏe mạnh, đó là như vậy. "Sau khi ngồi thiền chắp tay hồi hướng bắt đầu ngồi rèn luyện nhân điện ngay có hại gì không?" Thì vì Thầy không biết là người này rèn luyện như thế nào nên không biết có hại hay không. À tuy nhiên là thật ra ngồi thiền đã là nhân điện rồi. Bởi vì sao vậy? Bởi vì người mà được chánh niệm tỉnh giác thì tự nhiên nhân điện phát sinh. Không cần rèn luyện nhân điện thêm nữa.

[1:27:35]Tức là người mà đi năm cái hơi thở là: thở vào biết thân này vô thường, thở ra biết thân vô thường; hoặc là: thở vào biết tâm này còn phiền động, thở ra biết tâm còn phiền động, tự nhiên nó xuất hiện cái tỉnh giác vằng vặc vằng vặc, không có quên, thì cái đó nó nó tạo thành cái nhân điện liền. Và mình thí nghiệm để mình thử coi bữa đó nó có lực hay không, như thế này mình thí nghiệm mình biết nè. Ví dụ khi ngày đó mình ngồi thiền, cái buổi đó mình ngồi thiền mà tâm thường xuyên tỉnh giác thì khi mà ngồi thiền xong mình đừng xả, chân mình bắt nguyên, mình chống 10 ngón tay, mình chống 10 ngón tay xuống mình nhấc cái người mình lên.

[1:28:06]Mình để coi mình để được bao lâu. Thì nãy giờ mà nếu mình cái sức tỉnh giác mình mà tốt á, tự nhiên mình chống như vậy lực nó chạy ra 10 ngón tay nó trụ nó giữ người mình nhấc hổng lên được lâu, là nãy giờ mình có điện, có lực. Còn nếu bữa đó mà cái sức tỉnh giác yếu, mình nhấc 10 ngón tay nhấc hổng người mình lên, nhấc không lên, là bữa đó lực nó yếu. Mà ngay thiền định đã là nhân điện rồi, đừng rèn luyện nhân điện khác mà nó đi sai là Thầy không bảo đảm được kết quả. Nói tu thiền chùa Từ Tân mà điên cái người ta lên mắng vốn thầy trụ trì, chứ còn Thầy thì trốn mất rồi, sợ.

[1:28:38]"Sau khi xả thiền, nếu uống nửa lít nước ngay có được không? Nếu mệt, nằm nghỉ ngay có hại gì không?" Thường thường xả thiền xong uống nước đâu có hại gì. Nửa lít, nửa lít có nhiều không ta? Thầy đâu biết đâu. Chắc được, không sao đâu ha. Cứ uống thử coi chừng nào có gì báo Thầy biết nha, chứ Thầy cũng chưa uống nhiều như vậy, Thầy uống có một ly à. "Nếu mệt nằm nghỉ ngay có hại gì không?" Hồi đó Thầy nhớ lúc mà Thầy tu trong chúng, Thầy với ông sư huynh Thầy á, ngồi thiền buổi sáng xong á, vừa xả thiền xong, hai huynh đệ hay nằm dài trên đơn chút, nằm trên đơn chừng 2 phút, 3 phút rồi mới ngồi dậy đi làm việc, thì thấy rất là khỏe.

[1:29:11]À đâu thử coi, nhưng mà đừng thành 20 phút rồi ngủ luôn hai tiếng thì kỳ lắm. "Trước khi hành thiền ngồi kiết già niệm Phật 20 phút rồi vào thiền có được không?" Thì cũng đâu có cái gì đâu mà không được, phải không? Tại niệm Phật có phước, nhưng mà tuy nhiên Thầy thì Thầy chủ trương là mình lạy Phật trước. Khi mà lạy Phật thiết tha như vậy là đã được cái công đức đó rồi, thì khi vào thiền mình đi thẳng vào pháp môn luôn, không cần niệm Phật nữa, bởi vì như nhau, đó không có gì hại hết. Thôi vậy thôi ha. Rồi chúc cho quý Phật tử nha hiểu được kinh Kim Cang để mình ai biết mình biết làm, mình đi theo kinh Kim Cang tức

[1:29:45]là đi con đường đạo đức, mà đạo đức này là được nâng cấp ở cái mức độ rất là cao, thuộc loại kỹ thuật siêu cao về cái vấn đề mà xây dựng đạo đức, chứ không phải cái lý không của Kim Cang là nói về không, mà là để nâng cao đạo đức của con người. Chúc mọi người khỏe, hẹn gặp lại vào ngày mùng 1 tới ha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:30:07]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sinh đều