[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:21]Mời quý thầy, quý Phật tử ngồi xuống.
[0:27]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học bài thiền thứ 17 nói về những cái pháp môn tu hành mà được phổ biến trong ngày hôm nay, trong cái thời đại hôm nay. Bài này cái đề tài rất là lớn, mà thời gian thì rất là ít ỏi.
[0:52]Cho nên là chúng ta sẽ nói không được có kỹ lưỡng, chu đáo. Cho nên như vậy trong đây chỉ là những cái phần gợi ý, rồi sau này quý thầy chịu khó theo thời gian tu học mà nghiên cứu, đào sâu thêm. Cái bài hôm nay cũng sẽ có một số điều khi nói ra có vẻ như nó đụng chạm với nhiều nơi, nhưng mà vì là chúng ta nghiên cứu trên tinh thần khoa học, khách quan cho nên buộc phải nói, mà không nói thì thì không được, không nói không được.
[1:30]Giờ chúng ta tạm chia đạo Phật ra thành bốn thời kỳ chính. Nói bốn chứ hồi phải năm mới đủ.
[1:42]Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy là tồn tại trong khoảng thời gian từ thời Đức Phật tại thế cho tới sau Phật là khoảng 100 năm.
[1:56]Thời kỳ Phật giáo phân phái hoặc bộ phái cũng được, là sau Phật 100 năm cho đến khoảng 600 năm. Đến thời kỳ Phật giáo phát triển hay mình còn gọi là Phật giáo Đại thừa là bắt đầu từ sau Phật 600 năm trở đi. Chúng ta thêm một thời là thời kỳ Phật giáo biến thái.
[2:21]Biến thái là do Phật bị pha trộn đủ thứ trơn trọi, pha trộn cái tín ngưỡng bản địa, văn hóa bản địa rồi không còn giống nhiều với đạo Phật ban đầu. Và năm là Phật giáo hiện đại.
[2:37]Cái này nếu mà chúng ta có thời gian đọc qua cái lịch sử Phật giáo Ấn Độ, lịch sử Phật giáo Trung Quốc, lịch sử Phật giáo Việt Nam thì chúng ta sẽ nắm cái này rõ hơn. Hôm nay chúng ta chỉ gợi ý thôi chứ không có thời gian. Mỗi thời kỳ như vậy rất là nhiều tài liệu nói tới, nhưng đại khái thế này: Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy là trong thời Đức Phật còn tại thế và sau Phật nhập diệt 100 năm, tức là cái nề nếp được giữ rất là tốt. Rồi tới thời kỳ Phật giáo bộ phái, tức Phật giáo phân phái là có sự phân hóa về một vài cái quan điểm tu hành, một vài quan điểm về giới luật. Ví dụ như trong thời Phật giáo nguyên thủy thì tịnh xá tịnh xá nhen là không bao giờ
[3:19]được giữ đồ ăn qua đêm, không được giữ muối, không được giữ tiền rồi vân vân. Nhưng đến thời bộ phái thì bắt đầu ở phía Bắc, các Tỳ kheo tự nhiên lại giữ đồ ăn riêng qua đêm, giữ tiền, giữ muối này kia. Thì những vị trưởng lão miền Nam mà đi du hành lên họ bắt gặp, họ mới nói: "Ủa sao miền Bắc này tu hành kỳ kỳ, không còn giữ nguyên nữa?" thì mới đem ra cãi. Cãi thì các vị trưởng lão miền Nam là những vị lớn ra cãi, nhưng mà Tỳ kheo trẻ miền Bắc cãi lại. Tỳ kheo trẻ miền Bắc thời đó cũng giống như quý thầy ở Thiên Khánh vậy á, cãi cũng giỏi lắm. Mới nói: "Ủa, sao luật chế ra là không cho để đồ ăn qua đêm?
[3:58]Bởi vì xin bữa nào xong phải bát, rửa bát là sạch sẽ không còn gì hết, mà sao chất tùm lum vậy?" Vì vì nghĩa là không cho có nhà bếp nè, không có chứa củi, không có frigidaire, không có tủ lạnh rồi không có gì hết trơn á, không được chứa gì hết. Giờ lên thì thấy mấy thầy Tỳ kheo miền Bắc bây giờ có mở nhà bếp, có củi, có lửa, có frigidaire, có tủ lạnh đủ thứ để chứa đồ ăn qua đêm. Mấy vị trưởng lão ngạc nhiên hỏi, hỏi cái nói: "Thì để để, tu tu, có gì đâu nè ngài ơi ngài khó quá à." Cái nói: "Ủa, sao nói là không đồng nào hết trơn mà sao thấy thì có cái bình bát, ba y nhưng mà móc móc trong cái y ra thì có mấy chỉ vàng?" Nói:
[4:35]"Thì mấy chỉ vàng phòng thân mà mấy ngài khó chịu quá à, người ta chút đỉnh." Tức là bắt đầu mà chứa tiền chứa đồ vậy cái khuynh hướng. Thì miền Nam không cho, miền Bắc thì tu tu giấu giấu sao cũng giải thoát tính, có gì. Đại khái nên sau đó phải kiết tập kinh điển lần thứ hai để ấn định lại giới luật, kinh tạng. Nhưng mà xác định nhưng mà khi xác định mà bắt buộc phải đúng như cũ vậy thì các vị ở miền Bắc họ họ quen cái cuộc sống hơi tiện nghi, nên họ không chấp nhận cái bảo thủ miền Nam mà họ tách ra làm một bộ phái riêng là Đại chúng bộ, đời sống dễ dãi hơn. Thì nhưng mà thực sự Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ,
[5:12]chữ Thera có nghĩa là Thượng tọa đó, Theravada là Thượng tọa bộ. Thì bên Đại chúng bộ và bên Thượng tọa bộ lại phân ra nhiều nhánh trong đó nữa. Tức là Thượng tọa bộ cũng chia ra khoảng 11 bộ phái, Đại chúng bộ cũng chia ra khoảng 9 bộ phái, thành ra 20 bộ phái. Rồi bắt đầu cái sự cải cách của Đại chúng bộ nó lớn mạnh lên cho tới cái ngày Đại thừa phát triển. Thì Đại thừa Phật giáo nó đã manh nha từ sau Phật 200 năm. Những bài kinh sớm nhất như bộ kinh Kim Cang, kinh Kim Cang Bát Nhã, những bài tiểu phẩm Bát Nhã là đã manh nha từ sau Phật 200 năm đã có rồi. Nhưng mà bước sang thời kỳ Đại thừa là khoảng 600 năm sau Phật với sự
[5:49]xuất hiện của ngài Long Thọ thì kinh Đại thừa xuất hiện ồ ạt luôn. Có nhiều bài kinh nổi tiếng như kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, kinh Viên Giác, kinh vân vân, kinh Lăng Nghiêm á. Thì không biết là tại sao vào cái đời trước ngài Long Thọ một chút và sau ngài Long Thọ là xuất hiện ào ạt những bài kinh Đại thừa mà trước kia chưa bao giờ có. Chính và vì vậy mà các nhà sử học họ mới khẳng định là kinh Đại thừa do người sau viết. Đó, đó là một cái cái thực tế khách quan. Do vì nói cái kinh mà thời Đức Phật là văn nói, là những cái ngôn ngữ nó vẫn còn ít ỏi, cái bối cảnh văn hóa xã hội thời đó nó nằm ở trong kinh rất là đơn giản.
[6:30]Nhưng qua tới thời Đại thừa thì kinh là văn viết rõ ràng, những cái ngôn ngữ mới hoàn toàn, ngôn ngữ mà thời Đức Phật chưa có bây giờ bắt đầu mới có. Rồi những cái văn hóa xã hội, bối cảnh thời đó được diễn tả trong Đại thừa nó cũng mới hẳn lên. Cho nên họ kết luận là cái thời đại để xuất hiện kinh Đại thừa vào những năm nào năm nào họ họ tìm ra được hết. Ví dụ bây giờ mà mình nói câu này: "Ồ, cái này ngon hết sẩy ha!", thì biết hoặc chữ "hết sẩy" này vào thời nào? Ở đâu? Ở thời đại này nè, cuối thế kỷ 20 phải không? Chứ không thể nào mà nói là một bản văn của vua của Lê Quý Đôn từ thời xưa mà có chỗ là:
[7:07]"Các ngài trạng nguyên giỏi hết sẩy", không bao giờ có, không bao giờ có, phải không? Cái chữ đó chỉ chắc chắn là nằm ở thời đại này. Cho nên căn cứ theo cái sự xuất hiện của ngôn ngữ và người ta đánh giá cái văn bản nó xuất hiện vào thời nào, phải không? Ví dụ như bây giờ nói: "Mấy thầy Thiên Khánh đẹp trai dễ sợ!", thì thời kỳ nào? Câu đó bảo đảm là gần đây thôi, phải không? Không thể mà hồi xưa mà có chữ "dễ sợ" được. Nó vậy. Thì cái thời kỳ mà Phật giáo Đại thừa này á,
[7:40]kinh điển Đại thừa xuất hiện nhiều là do có bối cảnh cũng cần thiết lúc đó. Ví dụ như là bộ kinh kinh Duy Ma Cật.
[7:50]Kinh Duy Ma Cật là nói về một ông trưởng giả,
[7:55]ổng tên là Vimalakīrti. Chữ V này trong cái chữ Ấn Độ hay đọc là W, Wimalakirti. Thì mình âm theo cái chữ Nho là Duy Ma Cật á, tức là Vimalakīrti. Thì nói về một ông trưởng giả ổng giỏi đến cái nỗi mà không có một đệ tử nào của Phật mà có thể gặp ổng mà đối đáp nói chuyện, đàm đạo rồi cho nó nghĩa là nó nó thắng, có vẻ là ưu thế được, tức là ổng nói thắng lướt hết mọi người. Thì người ta mới nói rằng là kinh này không phải thời Đức Phật có. Vì sao vậy? Bởi vì những kinh mà thời Đức Phật không hề có một cái ông trưởng giả tên này. Bởi vì nếu có một ông trưởng giả giàu như thế, nổi tiếng như thế, giỏi như thế thì buộc phải
[8:31]xuất hiện rất nhiều kinh điển, phải không? Phải nơi này nói chút, nơi kia nói chút. Ví dụ như ông trưởng giả Cấp Cô Độc là con người mà thường xuyên có mặt hộ trì Đức Phật nên ở đâu kinh nào cũng hay nhắc nhắc ổng chút, hoặc là tín nữ Visakha, vân vân. Hoặc là vua Ba Tư Nặc, hoàng hậu Mạt Lợi, thế nào cũng rải rác lác đác kinh này nói chút, kinh kia nói chút. Còn cái ông Vimalakīrti này, ông Duy Ma Cật này tuyệt đối không có kinh nào có, mà chỉ có kinh Duy Ma Cật mới nói. Như vậy họ kết luận là sao? Nhân vật này không có thật. Là sau thời Đức Phật mấy trăm năm, bảy tám trăm năm gì đó mới ai viết bộ kinh này để đề cao vai trò người cư sĩ.
[9:07]Mà tại sao phải đề cao vai trò người cư sĩ? Bởi vì lúc đó tăng đoàn đã suy yếu. Người cư sĩ mà những người có quyền, có chức, có tiền đã thao túng được hết tăng đoàn rồi, nên bộ kinh này xuất hiện theo yêu cầu của thời đại. Hoặc là bộ kinh Thắng Man phu nhân nói về một người phụ nữ cực kỳ đặc biệt, giỏi, trí tuệ siêu việt hơn hết trơn. Bởi vì sao? Bởi vì thời đại đó người nữ đã bắt đầu chiếm ưu thế trong Phật giáo, làm được nhiều việc. Giống như bây giờ vậy, bây giờ đi chùa thấy toàn nữ không à. Đi tu thấy toàn nam nhưng mà đi chùa thì toàn nữ. Sao kỳ vậy? Thành thử nó thành một sự đe dọa cho tăng đoàn
[9:47]khi mà người nữ đi chùa đông, ví dụ vậy.
[9:54]Thì trong những cái, nghĩa là thí dụ kinh điển Tịnh độ tông, Mật tông, Thiền tông rồi những cái Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông xong rồi, ôi, xuất hiện hết vào trong những thời kỳ này rực rỡ. Nhưng mà lần lần là những tông phái khác suy tàn, chỉ còn lại ba cái tông mạnh nhất là tông Tịnh độ tông, Thiền tông và Mật tông. Còn bên Nam tông thì họ phủ nhận hoàn toàn kinh điển Đại thừa mà họ cho kinh không phải Phật thuyết là ngoại đạo, và tất cả những người tu theo Đại thừa họ đều cho là cư sĩ ngoại đạo, không dính dáng gì tới Phật giáo. Ví dụ chúng ta gặp một người, một vị sư Nam tông, chúng ta có xá chào họ theo lịch sự, họ đứng im cho mình xá họ
[10:30]không đáp lại, tại vì họ nói đó là bổn phận của cư sĩ phải chào người tu. Mình họ cho là ngoại đạo cư sĩ nha. Nên các sư chấp bảo thủ cực kỳ luôn, là do quan điểm mà bảo thủ dữ dội. Mà bảo thủ đó thật ra vẫn có cái hay nha, lát chúng ta sẽ nói, chúng ta cũng nhờ cái bảo thủ này nhiều lắm chứ không phải không. Nhưng mà trước mắt thấy kỳ kỳ. Qua tới thời kỳ Phật giáo biến thái á là do Phật giáo du nhập vào những cái nước khác mà Phật giáo tại nước gốc là đã bị Hồi giáo giết hết rồi. Từ thế kỷ thứ tám tới thế kỷ thứ 13 là Hồi giáo đem quân giết sạch hết đạo Phật luôn, nghĩa là không theo Hồi giáo là giết, chùa chiền đập phá, Tăng Ni chặt đầu hết.
[11:10]Sau này chúng ta học tới những môn Hoằng Pháp, khoảng tháng 9 chúng ta bắt đầu học, chúng ta sẽ lặp lại những lịch sử đau lòng đó và không cho phép điều đó lặp lại trong tương lai nữa. Chúng ta sẽ có cách làm việc mới, giờ thì biết sơ sơ. Thì lúc đó là Phật giáo đã đi vào các nước hết. Nó ở phía Nam thì Phật giáo giữ cái Phật giáo Nam tông là gồm các nước Tích Lan, phía đông là Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, rồi Indonesia. Indonesia sau này bị Hồi giáo chiếm rồi, đại khái còn ít nước nhỏ nhỏ vậy thôi. Ừ. Thì còn các Phật giáo Bắc tông mà đi vào Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam,
[11:48]vân vân, đó thì biến hóa, pha trộn với cái văn hóa bản địa, tín ngưỡng bản địa để thành những Phật giáo cũng nó khác nhiều so với Phật giáo ở Ấn Độ, chúng ta gọi là thời kỳ Phật giáo biến thái. Bây giờ còn cái thời kỳ thứ năm là thời kỳ Phật giáo hiện đại. Phật giáo hiện đại á thì cũng may mắn là chúng ta nhờ có cái phương tiện khoa học kỹ thuật, chúng ta có điều kiện để nghiên cứu suốt từ cổ chí kim. Thời xưa, ví dụ ở trong chùa, mình vào chùa mình tu, ông thầy mình ổng dạy nhiêu mình biết nhiêu, nghĩa là ổng nói: "Con tu tông Tịnh độ là nhất nha con", thì thôi rồi cuộc đời mình kể như là đóng nắp tịnh độ, hoặc là thiền:
[12:23]"Thấy chỉ có Thiền tông là nhất nha con", rồi là mình chỉ biết Thiền tông. Nhưng mà ngày hôm nay nhờ là phương tiện nghiên cứu hiện đại nên mình biết hết, mình nhiều khi xuất thân từ một ngôi chùa Tịnh độ, nhưng mà sau đó mình nghiên cứu suốt từ Phật giáo nguyên thủy, các tông phái khác biết hết, biết hết. Do như vậy, cho nên cái người tu bây giờ là không bị ràng buộc bởi tông phái mà có cái nhìn đại thể khắp hết Phật giáo, và thậm chí là nhìn sâu vào ngược lại thời kỳ nguyên thủy để tìm lại được một cái đạo Phật trung đồng nhất, nên đây là cái lợi, cái lợi của Phật giáo hiện đại. Nhưng cũng có cái hại, cái hại là hiện nay cũng có một
[12:56]số giáo phái vay mượn tư tưởng của đạo Phật, lập ra những giáo phái chống lại đạo Phật, tiêu diệt đạo Phật. Hiện nay rất nhiều giáo phái như vậy. Ví dụ như là giáo phái Thanh Hải, quý thầy có nghe không? Thì giáo phái Thanh Hải là vay mượn những tư tưởng của đạo Phật như là Phật tánh nè, ăn chay, ngồi thiền, gì đó, là dựng cái chiêu bài lên rồi đồng thời là cứ nói xạo thiệt nhiều về cái người giáo chủ, nói có thần thông phép lạ, sự thật bả chả có gì hết trơn. Nhưng mà để dụ tín đồ vô, dụ tín đồ vô xong rồi là vô đó rồi cấm lạy Phật, cấm thờ ông bà, phải thờ Thượng Đế và phải chống Nhà nước. Cái giáo phái đó, nghĩa là nhiều giáo phái vay mượn đạo Phật xong
[13:39]quay lại chống đạo Phật, vay mượn đạo Phật để lấy tín đồ thôi, tại thấy là người tín đồ là yêu những điều của đạo Phật nên họ vay mượn để họ lấy, và sau đó thì lọt vô rồi họ kiểm soát rất là kỹ, mà ra khỏi đạo họ giết bằng thuốc độc bí mật chết liền. Và cấm lạy Phật, cấm thờ ông bà, lúc nào cũng coi thường các vị tôn túc trong đạo Phật. Nghĩa là họ dạy, họ nhồi nhét cái tư tưởng đó vào trong tư tưởng của người đệ tử của họ, tín đồ họ là phải khinh bỉ những những thầy, những cô trong đạo Phật. Nên những cái giáo phái rất là nguy hiểm mà hiện nay chúng ta chưa lường được hết những cái những cái ảnh hưởng, cái tác hại của nó.
[14:15]Ừ. Thì thời kỳ này có nhiều cái hay nhưng mà cũng có những điều chúng ta phải cảnh giác, cảnh giác như vậy, nhiều giáo phái chứ không phải riêng là giáo phái Thanh Hải. Hôm nay tôi buộc phải nói nhanh nha, bởi vì bài dài quá. Bây giờ á, bối cảnh Phật giáo hiện nay á thì trong đạo Phật thực sự chỉ còn có bốn tông phái chính: là ba của Phật giáo Bắc tông là Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông và một của Nam tông là Theravada là Thượng tọa bộ, thế còn chúng ta đừng nói là nguyên thủy nha, bởi vì nguyên thủy này chỉ tồn tại sau Phật trăm năm nữa là hết. Còn hiện nay, tuy các sư đó vẫn gọi là mình là nguyên thủy nhưng
[14:51]không nguyên thủy đâu, chúng ta cứ gọi bình thản là Nam tông hay là Thượng tọa bộ, tức là Theravada, thế còn nguyên thủy thì cũng không nguyên thủy nữa, bởi vì biến thái cũng nhiều lắm rồi. Ừ. Khi mà học bài này đó, chúng ta yêu cầu những điều này, chúng ta sẽ đối diện điều này là chúng ta sẽ phân tích cái ưu nhược điểm của mỗi tông phái. Phân tích ưu điểm thì không ai cự chúng ta nhưng khi phân tích nhược điểm thì giống như chúng ta đụng chạm, nhưng mà buộc lòng thôi, vì chúng ta phải vượt qua khỏi quan điểm của thành kiến của tông phái để nhìn cho ra hết vấn đề, vì chúng ta ngồi trên một nhà trường chứ mình không phải ở chùa.
[15:30]Thầy tổ mình á, ổng có thể cực lực ổng bênh vực cái pháp môn của ổng, mình tôn trọng cái tình thầy trò, mình tôn trọng, nhưng mình là một người học tăng đi tìm sự thật, đi tìm chân lý khắp, phổ quát cùng khắp nên mình phải biết cho hết chứ không phải là bị bó hẹp lại, vì ông thầy ổng xây ba bức tường, bốn bức tường ổng chặn ổng nhốt mình trong á, nhưng mình học ở trường thì mình được biết hết bên ngoài luôn, cái gì cũng phải biết hết để mình định hướng đi lại cho Phật giáo. Bởi vì sao? Vì giống như biển cả mênh mông vậy, lớp sóng sau đè lớp sóng trước, cái người đi sau phải có bổn phận giỏi hơn
[16:01]người đi trước thì đạo Phật mới phát triển. Nên mình mình biết ơn thầy tổ mình, mình kính quý thầy tổ mình và bổn phận của mình là mình phải biết nhiều hơn thầy tổ mình để mà phát triển Phật giáo. Đó là điều báo hiếu chân chính chứ không phải là mình tự cao mà nói: "Ờ, con được đi học con giỏi hơn thầy", không có. Nhưng mà cái điều mình biết có thể ngược với cái điều biết của ông thầy, nhưng mà đó là điều tất nhiên phải chấp nhận. Thầy hiểu ra thầy cũng sẽ vui và chúng ta phải hiểu rằng cái điều ta báo hiếu cho thầy mình là phải biết nhiều hơn thầy mình. Đó như vậy, mà điều đó không phải là tự cao mà đó là bổn phận.
[16:38]Nhớ như vậy, đó là bổn phận, là trách nhiệm của một người đệ tử muốn phát huy được Phật pháp phải biết nhiều hơn thầy mình. Ừ. Chúng ta sẽ dựa trên vài đạo lý căn bản nhất, ví dụ như giáo lý vô ngã, giáo lý nhân quả, vân vân, để chúng ta đánh giá hết những cái pháp môn hiện nay. Và cái cuối cùng, ước mơ của chúng ta vẫn là xây dựng lại một đạo Phật hòa hợp, đoàn kết và không còn bị phân hóa trầm trọng như hiện nay. Đó là cái ước mơ của chúng ta. Bây giờ chúng ta nói về Tịnh độ tông. Giới thiệu tổng quát, thì Tịnh độ tông xuất hiện theo tinh thần của kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà. Khi mà sang Trung Hoa thì được những vị cao tăng như là Huệ Viễn,
[17:19]Đàm Loan, Đạo Xước, vân vân, nhiều lắm, cực lực xiển dương, cho nên là phát huy rất là rộng rãi. Những vị đó cũng có cái quyết tâm, cũng có cái đạo đức cao rộng cho nên nhiều người đổ xô theo quy hướng. Và các ngài cũng có cái cái lập trường rất là rõ, là nói rằng bây giờ đối với đa phần quần chúng bình dân thì dạy cho người ta là cứ chuyên tâm lúc sống niệm Phật A Di Đà và lúc chết được vãng sinh về cõi Cực Lạc thì đó là điều mà phù hợp nhất, dễ chịu nhất, mà cái quan điểm của các ngài rất là rất là đúng. Tại vì sao vậy? Bởi vì có nhiều cái người quần chúng bình dân họ không biết giải thoát, giác ngộ là gì, không biết.
[18:03]Nói tu theo đạo Phật được giải thoát, họ không hiểu giải thoát gì. Nói tu theo đạo Phật được giác ngộ, họ không biết, không biết giác ngộ là gì. Tại sao chúng ta thiết tha mong cầu giải thoát? Hôm trước chúng ta nói rồi. Bởi vì chúng ta hiểu được nỗi đau khổ của của của luân hồi. Nghĩa là cái người mà suy nghiệm về luân hồi cho đến sâu sắc, thấy chán luân hồi, sợ luân hồi, thì người đó mới bắt đầu khát khao giải thoát. Còn người nông dân họ không bao giờ suy nghiệm được là kiếp trước, nhân quả chồng chất rồi những kiếp trước nữa, kiếp trước nữa, họ không hiểu. Rồi nói mình khát khao cầu giác ngộ bởi vì mình thấy cái đau khổ của si
[18:39]mê, tăm tối, có nhiều điều mình không biết nên mình làm sai, làm bậy, nên bây giờ mình cần giác ngộ để làm điều gì phải đúng điều đó. Nhưng mà người nông dân họ không biết, họ không thấy họ sai. Họ chỉ thấy họ cứ ra đồng làm việc, lớn lên lấy vợ, lấy chồng rồi sinh con, đẻ cái rồi miễn đừng có đói, đừng khổ là đạt yêu cầu, không biết thế nào là si mê, tăm tối hết, nên nói cầu giác ngộ không biết, nhưng mà sống như vậy được rồi. Rồi khi chết về chỗ nào nó sướng hơn cõi này một chút cũng được, thì đó cõi Phật. Ha, được được. Niệm Phật, chết sinh về cõi Phật là ngon, trên đó sướng lắm. Ở đây mình tìm chỉ vàng không ra, trên đó đất là vàng.
[19:15]Ở đây mà không bao giờ mà người ta cho mình thấy được viên ngọc, ở trên đó là trái cây là ngọc, đính trong những góc tường là ngọc, ngọc ngà không. Ở đây hàng xóm chửi lộn, bè e bè é rồi đứa tốt, đứa xấu, không, trên đó toàn là Bồ tát làm bạn mình không, thánh làm bạn không, vân vân. Nghĩa là dựng ra một cái cõi đẹp để đáp ứng những cái mơ ước bình thường nhất của con người. Là như vậy. Vậy mà rồi người ta thấy: "Thôi được, vậy dễ hiểu, cũng được, thôi tu." Thế là niệm Phật rồi tu. Thế nên là nhiều người đã đổ xô theo đạo Phật bởi lý luận rất là đơn giản như vậy của tông Tịnh độ. Thì theo cái tông Tịnh độ á,
[19:49]mình chết ở đây mình sinh về trên đó thì sinh ở trong đâu? Trong hoa sen. À, cái người nào mà đủ duyên thì hoa sen nở ra rồi bước ra ngoài, bắt đầu sống một đời sống chung với chư thánh. Ở đó thì cõi đất trời trang nghiêm đẹp đẽ, chúng sinh thì thuần hóa, hiền lành, sáng suốt, đại khái như vậy. Mà cái ý niệm mà nói là niệm Phật A Di Đà rồi được vãng sinh về Cực Lạc là do chúng ta tin vào cái 48 lời nguyện của ai? Của ai? Nói lại. Đúng rồi, Tỳ-kheo Pháp Tạng, chứ không phải Phật A Di Đà. Đây là điểm hở lớn của Tông Tịnh Độ. Vì sao vậy? Bởi vì lời hứa của một người chưa thành Phật khác hẳn với lời tuyên bố của một vị Phật. Khác hẳn. Khác hẳn.
[20:39]Nghĩa là một người á chưa thành Phật hứa, hứa đủ điều hết. Ví dụ bây giờ Phật A Di Đà là thành Phật rồi, thì bắt đầu ổng tuyên bố nha, "Giờ ai niệm danh hiệu ta, ta rước liền." Câu nói đó khác nha. Câu nói đó cực kỳ giá trị. Nhưng mà khi mà chưa thành Phật, nói "Sau này tôi thành Phật rồi mà ai niệm danh hiệu tôi, tôi rước liền", câu nói đó xét lại. Hai cái đó một trời một vực khác nhau. Đó là lý do tại sao mà chúng ta thấy các đời tổng thống Mỹ á hứa rất nhiều trước khi mà ứng cử, nhưng khi đắc cử rồi thì hầu hết xù. Bởi vì khi mà lên làm tổng thống rồi họ biết được nhiều vấn đề thực tế, những lời hứa của mình chỉ để lấy phiếu thôi chứ làm không nổi.
[21:19]Cũng giống như chuyện này, đây là cái điểm rất là quan trọng quý thầy để ý. Ví dụ như tôi hay kể chuyện có một đứa bé buổi sáng Chủ nhật bố dắt đi ra ngoài phố chơi, đứa bé đói bụng thì nói "Thích ăn gì? Đi ăn hủ tiếu với bố?" Nói: "Mua con ổ bánh mì thịt." Ghé vào mua ổ bánh mì thịt. Thì đứa bé chưa kịp ăn, nó thấy cái người đàn ông rách rưới, nghèo khổ bên đường nhìn chăm chăm vào ổ bánh mì và nước miếng chảy ra ngoài, chảy rớt rớt này. Đứa bé nó thấy tội quá cái nó cầm ổ bánh mì cái lại cho ổng, đưa hai tay đàng hoàng, thế là đứa bé có rất có đạo đức. Ổng mừng quá ổng nhai nhai nhai ổng nuốt rẹt mất
[21:53]tiêu ổ bánh mì, ổng dòm nữa coi còn không. Tại ông này ba ngày chưa có gì vô bụng. Đứa bé nó buồn cái nó mới nói với ba nó thế này: "Con phát nguyện sau này con sẽ làm để con giàu nhất thế giới, mà khi con giàu nhất thế giới rồi, bất cứ ai trên cuộc đời này mà xin một tiếng con cho ăn liền. Nghĩa là chỉ cần lúc đó bốc lên phôn lên là gọi con cho người chở đồ ăn tới nơi liền, trên thế giới này không để một người nào bị đói." Đứa bé phát lời nguyện tốt không? Tốt không? Quá tốt đi chứ hả? Trên đời này không có người nghĩ ra được điều đó. Và 30 năm sau, chuyện đó đã trở thành sự thật, đứa bé trở thành tỷ tỷ tỷ phú giàu nhất thế giới.
[22:32]À, bắt đầu đứa bé đó mới tập hợp coi như là những nhân viên dưới tay mình là 300 tiến sĩ để phục vụ cho cái công cuộc kinh doanh của ổng. Tức là ổng kinh doanh mà để mà giàu nhất thế giới là ở dưới nhân viên toàn là thứ siêu đẳng không, toàn là tiến sĩ kinh tế, tiến sĩ đủ thứ hết trơn. Mỗi tháng trả lương rất là hậu, đó, mỗi tháng là mấy ngàn đô một người vân vân để mà làm việc cho ổng, đầu tư cho ổng. Và ổng nắm được hết kinh tế thế giới trong tay luôn, giàu. Ổng mới tập hợp 300 tiến sĩ lại, ổng nói câu này: "Hồi nhỏ ha, tôi đã ước mơ, tôi đã hứa điều đó là nếu tôi giàu nhất thế giới thì tôi sẽ cho thức ăn hết tất cả những người nào cần đến.
[23:08]Nghĩa là ai bốc điện thoại gọi đến là cái nhân viên của mình ở gần chỗ đó là chở đồ ăn tới cho liền. Và bây giờ bắt đầu tôi thực hiện lời hứa đó, sẽ công bố khắp thế giới: từ đây ai cần ăn cứ bốc điện thoại gọi lại những cái cơ quan đại diện của mình trên khắp nơi trên thế giới và sẽ có những nhân viên chở tới liền." 300 tiến sĩ mới quỳ xuống lạy, nói: "Ngài ngài làm ơn dẹp giùm cái lời hứa tào lao của ngài." Ổng nói: "Sao vậy?" Nói: "Ngài thử ngài làm một cái thế giới này loạn nổ tung lên liền." "Vì sao?" "Bây giờ ha, nếu mà người ta chỉ cần gọi điện thoại tới người ta có ăn, như vậy người ta có cần phải làm không?
[23:42]Không cần phải làm phải không? Rồi cái nhân viên mà ngài trả lương để phục vụ đó, người đó cần phải đi làm cho ngài nữa không? Cần không? Không, ổng ở nhà ổng bốc điện thoại thôi, mà ổng là người là được phục vụ, ổng là người là sẽ chở đồ cho người ta, bây giờ ổng không thèm làm để lấy lương nữa tại vì ổng sẽ ổng cũng giống như mọi người, ổng bốc điện thoại ổng gọi là ổng có ăn liền. Mà 300 tiến sĩ tụi tôi cũng xù không thèm làm lấy lương luôn, tôi cũng ngồi ở nhà tôi chờ để bốc điện thoại gọi có ăn tới, tôi không thèm làm nữa. Thì toàn bộ kinh doanh của ngài làm sao? Không còn ai làm nữa thì cái kinh doanh của ngài làm sao?
[24:14]Sụp đổ liền, thế giới loạn lên liền, cảnh sát không thèm đi bắt tội phạm, người quân nhân không thèm giữ đất nước, nghĩa là người nông dân không thèm cày ruộng nữa rồi ngài lấy đâu mà chế ra lương thực? Nghĩa là người công nhân ngành mỏ bỏ, cọp dầu mỏ không thèm khai thác dầu mỏ nữa lấy đâu mà cho ngài bán? Ví dụ vậy ha, rồi ngân hàng họ bỏ luôn ngân hàng không thèm làm nữa, bởi vì họ bất cứ lúc nào cũng có ăn, không cần phải làm gì vẫn có ăn phải không? Như vậy cái thế giới này làm sao? Sụp đổ liền. Như vậy cái lời hứa rất thiện chí của ngài không hề thực tế. Ngài làm ơn dẹp lời hứa tào lao đó giùm." Rồi
[24:46]thôi, ngậm ngùi đành dẹp chứ làm sao giờ. Tại vì thực hiện cái lời hứa cực kỳ thiện chí tốt đẹp lại là phá hoại thế giới. Quý thầy đồng ý không? Thấy hợp lý không? Suy nghĩ coi. Chưa hiểu ra hả? Đúng không? Phải không? Và như vậy quý thầy đừng bao giờ hứa điều đó nữa nha. Thấy không?
[25:11]Cho nên nghĩa là khi mà nhắc lại 48 lời nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng, chúng ta chỉ nhắc cái thiện chí thôi, đừng bao giờ nghĩ rằng đó là điều sự thực. Bởi vì khi một vị Phật đắc đạo rồi thì các ngài sẽ giật mình nhìn lại những lời hứa của mình trước kia là không thực tế. Hãy nhớ như vậy, bởi vì sao? Bởi vì trên cuộc đời này còn có sự công bằng. Người ta được ăn no mặc ấm bởi vì công đức của người ta, vì công lao người ta đóng góp với cuộc đời, chứ không thể tự nhiên mà có ăn có mặc được. Cuộc đời như vậy, phải có công bằng như vậy người ta mới tiến bộ được. Còn nếu không có công bằng, tự nhiên không còn sự tiến bộ, tất cả sẽ đổ vỡ, nhớ như vậy.
[25:46]Chính vì tin vào công bằng mà người ta mới phấn đấu. Cũng giống như chúng ta muốn dựng lên một cái đạo đức cho dân tộc ta. Ví dụ bây giờ chúng ta nghe than phiền là tại sao đạo đức của đất nước ta bị đi xuống, cán bộ đạo đức cũng thoái hóa rồi tham nhũng nhiều, lớp trẻ đạo đức thoái hóa bây giờ hư hỏng, và chúng ta khát khao muốn dựng lại cái đạo đức cho dân tộc mình, thì xin thưa phải dựng cho được cái sự công bằng cái đã, phải làm cho mọi người tin tưởng vào sự công bằng cái đã. Có sự công bằng người ta mới phấn đấu để đi đạt được đạo đức, còn nếu không tin vào sự công bằng không ai phấn đấu đi tìm đạo đức hết.
[26:19]Nên nhà nước mà muốn dựng lại đạo đức của dân tộc, xin thưa phải dựng lại sự công bằng. Mà lấy gì để dựng lại sự công bằng? Lấy gì? Phải đề cao luật nhân quả, phải đem luật nhân quả vào trong trường học mà dạy. Mà dạy luật nhân quả thì phải tin có luân hồi, có luân hồi mới có nhân quả. Và nếu dạy nhân quả phải dạy luân hồi, tức là phải dạy toàn bộ, toàn bộ gì? Đạo Phật. Đó, muốn dựng lại đạo đức dân tộc ta thì xin nhà nước phải đem Đạo Phật vô trường học mà dạy, không còn cách nào khác. Bởi vì chỉ có luật nhân quả mới có cái nền tảng công bằng để mọi người tin theo mà phấn đấu. Đó, và Tịnh Độ tông cũng phải như vậy, chứ không thể mà bằng bỏ ra một công lao
[27:06]rất ít mà đạt được cái quả phúc rất lớn trên cõi Cực Lạc là điều không có. Lát nữa chúng ta nói. Bây giờ chúng ta nói cái ưu điểm của Tông Tịnh Độ là thế này: đó là một cái tông không có triết lý rườm rà nên dễ được quần chúng bình dân chấp nhận, nên nhờ như vậy mà tín đồ của Phật giáo đông lên hẳn luôn. Người ta cứ kéo nhau ban ngày đi làm lụng cực khổ, ban đêm tới chùa tụng kinh niệm Phật, và lúc chết tin rằng mình sẽ chết được về nơi yên lành, tu rất đơn giản. Vậy đó mà người ta đến với Đạo Phật rất là đông trong cái thời đại đó, lúc đó chưa có tôn giáo nhiều, vậy. Mục tiêu mà vãng sinh nó cũng gần giống như các tôn giáo khác,
[27:43]tôn giáo nào cũng hứa hẹn chết xong lên cõi trời, thì ở đây mình cũng chết lên cõi trời mà mình chơi khôn, mình nói: "Cõi trời còn bèo lắm, cõi Phật ngon hơn." Rồi các tôn giáo khác á lên cõi trời xong là hết phim, mình không, lên cõi Phật chưa hết phim, còn tu rồi còn hoằng nhập Ta-bà trở lại độ chúng sinh, mình chơi phim nhiều tập hơn. Nghĩa là nghĩa là vãng sinh này là cái màn mà cạnh tranh được với các tôn giáo khác rất hấp dẫn, cũng là cái hay. Rồi còn cái nếu mà mình nhìn trên khía cạnh mà tu hành thực tế thì chuyên tâm niệm Phật cũng là một cách nhiếp tâm trong thiền định, phải không? Cứ ngồi mình niệm Phật A Di Đà giùm thì cũng là tâm không
[28:20]tán loạn mà được công đức nữa, cho nên ngon lành. Vừa được nên là niềm tin, được yên tâm rồi mà cũng được nhiếp tâm luôn, ngon lành, đại khái nhiều thứ hết trơn. Ngoài ra là do không tốn nhiều thời gian cho triết lý, cho nên Tông Tịnh Độ xuất hiện được cái nghi lễ cúng kiếng để đáp ứng được cái nhu cầu của Phật tử. Mình nói gì thì nói, ví dụ bây giờ ông thầy tu cao siêu gì không biết, nhưng mà khi người Phật tử hữu sự, người tín đồ hữu sự, chạy lại chùa méo mó: "Thầy ơi, ba con chết ngắt rồi." Thế mình cái bây giờ: "Thầy lại thầy cầu nguyện giùm." Lúc đó mình ngồi mới nói: "Thôi con à, sống chết là lẽ thường ha, vô thường là điều hẳn nhiên.
[28:59]Con cứ coi ba con như không có, thấy không, về đem chôn ổng cho rồi." Thì họ tới chùa nữa không? Không. Chơi kỳ nhe, nói là: "Nào giờ cúng thầy quá chừng, bây giờ ba chết thầy nhờ thầy cúng giùm thầy chơi vậy? Thầy chơi với ai, phải không? Nghỉ chơi thầy." Nhưng mà nếu lại thầy, cái thầy: "Ờ, được được được", cái thầy khăn mõ, thầy đem mõ đem chuông lại thầy tụng, thầy tụng kinh, tự nhiên người ta thấy được an ủi. Và cái vai trò đó rất quan trọng. Nghĩa là thầy tu làm gì làm không biết, cao siêu gì không biết, nhưng mà chia sẻ được, an ủi được lúc người ta hữu sự là là, nghĩa là cái vai trò mà dìu dắt,
[29:29]làm chỗ tựa về tinh thần của một người tu sĩ rất là quan trọng. Và Tịnh Độ tông đáp ứng điều này rất ngon lành. Hoặc là người ta bệnh, bệnh thì bây giờ cái thời xưa đó, thuốc chữa cũng đâu phải là lành hẳn, phải không? Nhiều khi mắc quá cũng không có tiền, thành thử chữa thì chữa nhưng mà phụ thêm cầu nguyện, mà mình cầu mình nhắm mình không tu không cầu được thì nhờ mấy thầy cầu. Mấy thầy: "Ờ, được liền, được, đưa tên đây thầy cầu an cho con." Thì người ta cảm thấy sao? Được được an ủi. Nghĩa là không biết ông thầy cầu đó hết không hết, nhưng mà thầy có cầu chân thành thì tức là thầy đã chia sẻ
[30:02]được cái nỗi đau, cái chuyện buồn với gia đình người ta. Nên là đó là cái vai trò mà gọi là chia sẻ về tinh thần rất là lớn, mà Tịnh Độ tông làm điều này rất là ngon, rất là ngon. Ngay cả bây giờ vậy, ngay cả bây giờ là cái nền y học tiến bộ như vậy, nhưng mà còn hơn 50% bệnh hoạn, bệnh tật y học vẫn chưa chữa được. Và có những bệnh chữa được nhưng cực kỳ mắc tiền, người ta không đủ tiền chữa. Cho nên vì vậy đa phần khi bệnh, người có niềm tin người ta vẫn đến, chữa thì chữa nhưng vẫn nhờ quý thầy cầu nguyện thêm nên mình có nghi thức cầu an, rất là tốt. Đó, đó là cái vai trò mà bên Tịnh Độ tông là làm cái này rất là ngon lành.
[30:41]Rồi những người mà có đạo đức rồi thêm cái chuyên cần niệm Phật nên khi họ họ chết họ cảm thấy rất là đã yên lành, sống thì được bình an, có nhiều người chết còn có xá lợi nữa. Thưa xin thưa xá lợi là một chuyện mà vãng sinh lại là chuyện khác nha. Đừng có nghĩ rằng hễ có xá lợi là vãng sinh. Cũng giống như khi thiêu người có xá lợi, đừng tưởng vị đó là người ngộ đạo, cũng không dính gì nhau hết. Xá lợi là cái gì?
[31:14]Xá lợi là gì?
[31:19]Tức là thế này, khi mình xác mình đem đốt á thì thịt nó sẽ làm sao? Nó cháy ra hết phải không? Thành tro khô trên. Còn cái xương á thì đúng nguyên tắc nó cũng cháy và nó tan ra, vỡ vỡ vỡ vỡ ra hết thành ra lớp vôi. Nhưng mà riêng cái người có xá lợi nó ngộ vậy á là khi mà nung tới một nhiệt độ đó bao nhiêu độ á bỗng nhiên nó chảy quánh lại chứ nó không còn rã ra. Cái người mà không có xá lợi đó với cái nhiệt độ đó cái xương rã ra, còn cái người có xá lợi đó với cái nhiệt độ đó bỗng nhiên nó chảy mềm ra. Nó chảy ra cái nó biến, nó cấu trúc cái phân tử lại. Những cái phân tử mà canxi, phốt pho ở trong đó,
[31:52]xi-lích ở trong đó nó nó quánh lại cái nó thành ra một tinh thể mới, lấp lánh lấp lánh à như viên ngọc. Nó khác cái là rã ra với một cái là chảy lỏng. Mà khi nguội lại cái nó thành từng cục, từng cục. Đó, mà người nào tu tốt thì tự nhiên là khi chết cái xương nó lại có khuynh hướng trở thành xá lợi. Nhất là những người ngoan ngoãn, học hành đàng hoàng.
[32:19]Cho nên a có nhiều người cư sĩ đó chết thiêu có xá lợi cái người ta nói là ông này vãng sinh á là kết luận ẩu nha, chứ không có chắc. Giống như trong truyện Thiền cũng vậy, trong cái chúng đó ở chùa đó có một ông a có một tỳ kheo ông ngồi ông nhập định được mấy ngày nên chúng ai cũng nể phục hết trơn. Cái ông tri sự, không ngờ ông tri sự lại là người ngộ đạo. Ông tri sự mới kêu lại hỏi một thiền ngữ, ổng không trả lời được. Rồi ổng đi vào phòng ổng ngồi kiết già ổng tịch luôn. Đem thiêu ổng ra một lon xá lợi. Lon xá lợi chúng ngạc nhiên hết, ổng nhập định được 3 ngày thiêu ra một lon xá lợi, nhưng mà tại sao hỏi thiền ngữ không đáp?
[32:53]Ông tri sự ổng mới lại ổng gõ gậy ở ngay cái bàn thờ. Ổng nói: "Cho dù huynh đốt ra được một đấu xá lợi cũng không bằng lúc tôi hỏi huynh trả lời một câu cho đúng. Bởi vì chứng tỏ ông chưa ngộ." Trong nhà Thiền ghi lại câu chuyện rất là đặc sắc. Ừ. Thì à đó là ưu điểm của Tịnh Độ Tông, bây giờ nhược điểm của Tịnh Độ Tông. Là nhược điểm của Tịnh Độ Tông là xa rời mục tiêu vô ngã của Phật. Nên nếu không khéo người tu có thể trở thành ích kỷ dần dần mà không hay. Bởi vì sao? Bởi vì trong suốt những cái quan điểm của Tịnh Độ không bao giờ nói tới vô ngã, à chỉ nói niệm Phật cầu vãng sinh. Do đó là trước khi mà mình được vãng sinh không không
[33:31]biết, nhưng mà lúc mình sống cái mình ích kỷ dần dần do mình cầu cái gì đó cho mình mà thôi. Nhớ nha, hễ cầu cái gì đó cho mình mà thôi thì cái ích kỷ từ từ tăng lên, có thể mình tu 40 năm thì ích kỷ mình nó lớn hơn người mới tu. Khủng khiếp như vậy. Nên có những người Phật tử vậy mới đi chùa dễ thương, đi 10 năm sau rồi không ai chịu nổi do ích kỷ quá sức nên tham, sân, si, có không? Có trường hợp đó không? Hay là càng đi chùa rồi hàng xóm trốn luôn là vậy. Bởi vì sao? Vì tu theo cái lối mà ích kỷ.
[34:05]Do đó mà để bổ sung điều này á, khi mà niệm Phật á chúng ta không được niệm mà cầu vãng sinh cho mình, mà niệm với cái tâm nguyện là cầu cho thế giới này thành Tịnh độ và cầu cho tất cả mọi người sau khi chết được về nơi cõi Phật an lành. Nghĩa là lúc nào cũng niệm vậy đó, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật. Nhưng mà tâm là trải hết khắp tất cả chúng sinh thì như vậy mới đạt được cái vị tha vô ngã. Còn mà Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật với cái tâm nguyện chỉ mong cho mình chết vãng sinh thì ích kỷ càng ngày nó lớn lên từng câu niệm rất là nguy hiểm. Đó một nhược điểm. Một nhược điểm khác là do chỉ ao ước vãng sinh Tịnh độ cho nên người
[34:43]ta bỏ quên cái thế giới thực tại này không lo xây dựng, đóng góp. Mà đúng nhân quả công bằng á là muốn vãng sinh về cõi Phật thì lúc sống mình phải góp tay xây dựng cõi này thành cõi cõi Phật trước. Đó mới là công bằng. Còn mình không làm điều đó thì bảo đảm chết không có sinh về cõi Phật. Nhưng mà vì không đề cập đến vấn đề công bằng này, chỉ tin vào nguyện lực của tỳ kheo Pháp Tạng nên mọi người đã không xây dựng được nhiều công đức, chỉ lo niệm Phật. Mà quên mất tỳ kheo Pháp Tạng khác mà Phật A Di Đà khác hẳn nhau. Cho nên bây giờ mình biết điều đó mình bổ sung bằng cách là lo chung tay góp sức xây
[35:19]dựng cõi này thành cõi Phật, làm sao cho khắp mọi người biết được Phật pháp. Chính vì cái nhược điểm này vừa rồi nhà nước mới thống kê về tôn giáo trên đất nước này thì chúng ta chỉ có 9,1 triệu tín đồ đạo Phật. Thiên Chúa 5 triệu mấy gần bằng mình. Mà trong khi họ mới đến đây, còn chúng ta có mặt ở đây mấy ngàn năm rồi mà truyền đạo không được bao nhiêu hết, lỗi của ai? Lỗi của những người đã không lo truyền đạo, tức là đệ tử Phật mấy ngàn năm qua lo tu cái gì cho mình thôi, không lo truyền đạo. Vì vậy để bổ sung lại điều này chúng ta phải bổ sung vào tông Tịnh độ một cái điều khác, một cái giáo lý khác là thế này.
[35:55]Sau này quý thầy ví dụ quý thầy tiếp tục tu theo tông Tịnh độ, quý thầy phải dạy đệ tử thế này. Đó là: "Tụi con mà muốn được vãng sinh về cõi Phật á thì mỗi một người tụi con phải đem về cho thầy quy y, dạy dỗ 100 người chưa biết đạo. Là tụi con lùng cho hết trong gia đình, họ hàng, hàng xóm, bạn bè, láng giềng đủ 100 người về đây, thầy quy y cho. Thầy dạy dỗ cho họ và họ biết tu hành tốt thì lúc chết thầy ấn chứng tụi con được vãng sinh." 99 không được nha, 99 rưỡi cũng không được nữa, đủ 100 à. À. Mà giả không được nha, thời này là không có được xài đồ giả. Là phải bảo đảm 100 người. Nghĩa là một phải thành 100.
[36:34]Như vậy sẽ vãng sanh. Thì như vậy mới có công đức, tức gọi là mình góp tay xây dựng cõi đời này thành cõi Phật. Mà tại sao cõi đời này thành cõi Phật? Chỉ bởi vì nhiều người biết Phật pháp, nhiều người tin nhân quả, nhiều người sống đạo đức, hiền lành thì tức là cõi này thành cõi Phật. Mà muốn cho có nhiều người biết Phật pháp thì mình phải kêu đệ tử mình đem về chùa cho mình dạy dỗ, quy y, 100 người nhớ nha. Còn quý thầy thì mấy trăm? Quý thầy không biết, nhưng mà một đệ tử quý thầy thì được 100, hễ quý thầy được năm đệ tử thì phải thành ra năm 500, 10 đệ tử thành ra 1.000, cứ vậy mà tính. Nhắm vậy đó mà tính mà tu nha, thì quý thầy bảo đảm được
[37:14]vãng sanh do mình hưởng hưởng hưởng hưởng tiền cò. Tức là mình độ được nhiều người họ về với đạo Phật họ vãng sanh quá thì mình tự nhiên cũng được vãng sanh, đó là đương nhiên.
[37:29]Chính vì cái mà mình nghĩa là tu mà cứ lo tu cho mình vãng sanh á, quên mất cái cõi này nên mình quay lưng với thế giới thì thế giới cũng quay lưng với mình, nên đạo Phật suy yếu. Đó là lý do tại sao mà chúng ta cứ xem hễ những cái thời kỳ nào mà Tịnh Độ Tông mạnh lên thì sau thời đó Phật giáo suy yếu liền. Nên do cái sai không biết bổ sung, tin vào tỳ kheo Pháp Tạng mà không tin vào Phật A Di Đà. Thế nào là tin vào tỳ kheo Pháp Tạng? Tức là tin vào cái lời nguyện hứa của ngài quá thiện chí mà không công bằng. Thế nào là tin vào Phật A Di Đà? Đó là tin trí tuệ của một vị giác ngộ luôn luôn phải dựa vào cái nhân quả công bằng.
[38:05]Nhớ như vậy, hai cái nó khác nhau hoàn toàn.
[38:10]Một cái nhược điểm của tông Tịnh độ nữa là câu niệm Phật á có thể là phương tiện để an trú tâm ban đầu rất là tốt nhưng mà lâu là phải bỏ. Bởi vì phải niệm cho tới vô niệm nên các vị sau này bổ sung bằng cách là niệm cho tới vô niệm. Mà thế nào là niệm cho tới vô niệm? Là ban đầu á là mình niệm liên tục, hít vào: "Nam Mô A Di Đà Phật", thở ra: "Nam Mô A Di Đà Phật", hít vào: "Nam Mô A Di Đà Phật", thở ra: "Nam Mô A Di Đà Phật". Nhưng mà quen rồi đó, mình hít vào: "Nam Mô A Di Đà Phật", nín thở hổng niệm, rồi thở ra: "Nam Mô A Di Đà Phật", hít vào: "Nam Mô A Di Đà Phật", nín thở không niệm, rồi thở ra: "Nam Mô A Di Đà Phật".
[38:45]Rồi một thời gian sau á, khi mà tâm nó còn yên rồi nghĩa là năm hơi mình mới niệm một lần, năm hơi mới niệm một lần. Mà vẫn giữ được, kiểm soát được tâm chặt chẽ cho tới cái ngày mình bỗng nhiên mình nhập định được, mình bỏ câu niệm Phật luôn. Đó là niệm tới vô niệm, chớ đừng giữ. Còn nếu mà chấp là phải luôn luôn niệm thì nó trở thành một nhược điểm liền. Còn mà niệm để khéo đi từ từ đi tới vô niệm thì niệm là ưu điểm, đó là như vậy.
[39:15]Cho nên có nhiều vị tôn túc họ cũng đã nhận ra được cái nhược điểm của Tịnh Độ Tông cho nên họ bổ sung, chúng ta đã nghe nhiều vị tôn túc bổ sung, ví dụ như là cái hoàn nhập Ta-bà cũng là cái bổ sung sau này, chứ nguyên trong kinh của Di Đà không có chuyện đó. Hoặc là chữ tín, hạnh, nguyện cũng là cái lý luận sau này của các vị luận sư về sau. Hoặc niệm Phật theo hơi thở, niệm Phật đến vô niệm hoặc là Tự tính Di Đà, Duy tâm Tịnh độ, đó đều là những cái bổ sung về sau. Còn chúng ta là nên nếu mà ai mà đi theo tông Tịnh độ tiếp tục thì phải tập ngồi kiết già, phải điều thân, thấy thân là vô thường,
[39:45]hư ảo, phải rèn luyện khí lực để hỗ trợ cho công phu tu tập. Nhớ như vậy, đó là điều mà mình bổ sung. Bây giờ mình nói qua Thiền tông. Thật ra nói về Tịnh Độ Tông nói năm, mười ngày chưa hết, nhưng mà mình không có thời gian. Thì chúng ta Bây giờ nói về Thiền tông, Thiền tông được cho là truyền thừa từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền dần đến Lục Tổ Huệ Năng. Lục Tổ Huệ Năng có hai đệ tử ưu tú là ngài Thanh Nguyên và ngài Hoài Nhượng. Ngài Thanh Nguyên thì xuất ra một một cao đồ là Hy Thiên Thạch Đầu, còn ngài Hoài Nhượng thì xuất ra một cao đồ là Mã Tổ Đạo Nhất. Thì từ hai vị này mà Thiền tông phát triển rực rỡ
[40:22]khắp nơi và lấn hết các tông phái khác và trở thành bộ mặt chính của đạo Phật Bắc phương luôn. Thiền tông có cách dạy đạo hơi khác, hôm trước chúng ta có nói về hiện tượng đốn ngộ á là cách dạy đạo là nó hơi lạ, nó ra ngoài truyền thống kinh điển mà được được tuyên bố qua cái bài mà cũng được cho là Tổ Bồ Đề Đạt Ma, chúng ta hay dùng cái chữ "được cho", bởi vì sao? Bởi vì là cái truyền thuyết về Bồ Đề Đạt Ma có nhiều nghi vấn. Nhưng mà hôm nay mình không có phân tích thời gian nhiều, phân tích nha, chỉ nói thế này, là cái lời tuyên bố thế này là: "Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm,
[41:02]kiến tính thành Phật." Đó là cái lời tuyên bố như vậy, nói là của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Nhưng về sau các nhà sử học họ nghiên cứu lại thì họ hồ nghi về nhân vật gọi là Bồ Đề Đạt Ma. Vì sao vậy? Vì khi mà họ lục hết trong sử sách ra thì họ thấy là ngoài cái sử mà do ngài Thần Hội viết thì tô điểm ngài Bồ Đề Đạt Ma rất là cao siêu, thần thánh, nhưng một cái những cái sử trước ngài Thần Hội á thì lại viết về một ngài Bồ Đề Đạt Ma khác hẳn luôn. Ngài Bồ Đề Đạt Ma mà trước kia đó, sử trước á mới có đó, ngài là một người Ba Tư (Iran), ngài học được đạo Phật ở đó, ngài đắc đạo, ngài đi qua Trung Quốc và ngài sống tới khoảng 150 tuổi.
[41:44]Ngài cũng đi nơi này nơi kia ngài dạy thiền. Nhưng mà ngài dạy cũng rất là truyền thống, chứ không có cái chuyện mà Huệ Khả tới chặt tay cầu pháp dưới đêm mưa mà ngồi Thiếu Lâm bích quán, mà dường như ngài chưa bao giờ tới chùa Thiếu Lâm nữa. À, ngài hay ở Trường An, có giáo hóa Trường An, đi về nơi này nơi kia dạy đạo, dạy thiền và đắc đạo, thực sự có một vị đó. Nhưng mà nó không huyền thoại, không đầy huyền thoại như là cái chuyện Bồ Đề Đạt Ma mà do Thần Hội viết mà chúng ta được học, tức là quẩy chiếc giày rồi này kia nọ đấy. Nên nó có điều rất là lạ. Vào thời xưa cái môn sử học chưa có phát triển,
[42:19]ai cũng tin như đinh đóng cột là Bồ Đề Đạt Ma là sơ tổ. Khi chết là rồi sau đó bí mật bỏ lại chiếc giày trong cái cái tháp phải không? Rồi một mình là treo một chiếc giày còn lại trên cái gậy mà đạp sóng đi về Tây, đi về Tây. Lúc đi ngang núi Hùng Nhĩ thì gặp Tống Vân. Tống Vân mới hỏi: "Ủa, ngài đi đâu đây?", nói: "Ta đi về Tây Trúc", và ngài đi phăng phăng đi mất. Tống Vân về mới kêu vua Trang Đế quật mộ lên thấy chỉ còn chiếc dép, mà trong khi trước đó ổng đã chết chôn ổng trong trong tháp rồi. Thì câu chuyện đó người ta tin là thần thoại, nhưng đến đời thiền sư Thường Chiếu Việt Nam ổng không tin.
[42:57]Thiền sư Thường Chiếu, nghĩa là có người đệ tử hỏi ổng, à lúc đó là Thông Thiền mới hỏi, nói: "Thế thế còn cái chuyện mà huyền thoại về ngài Bồ Đề Đạt Ma mà ra khỏi tháp đi về Tây Phương như thế nào?". Ngài Thường Chiếu dám nói một câu xanh rờn: "Một con chó lớn sủa láo".
[43:15]Tức là nói huyền thoại đó là do một người nào đó bịa ra. Thiền sư Thường Chiếu Việt Nam đó, ông đó thiệt là bản lĩnh, vì thiền sư không biết ổng đắc đạo sao ổng biết được sự thật. Đó chính là cái cái giai thoại đặt ra sao, ổng dám nói một câu: "Một con chó lớn sủa láo, mấy con chó nhỏ sủa theo". Ồ, chỉ có một ông thiền sư Việt Nam mà dám bác thôi, còn ai cũng tin như chết vậy á, ngộ ngộ ghê.
[43:41]Mới ban đầu á, chủ trương của Thiền tông á là không có tu căn bản, mà chỉ khai thị cho người đệ tử đốn ngộ cái đã. Cái đốn ngộ là hôm trước chúng ta học rồi. Khai thị ha, nghĩa là người học trò không cần phải tu gì hết, hễ tới ông thầy hỏi qua đáp lại ổng đánh, ổng hét, ổng đạp, ổng nhận đầu xuống nước làm sao đó không biết, miễn sao mà cho đốn ngộ một cái cái đã, rồi là kiến tánh thì thành Phật. Nhưng mà sau đó thì thực tế có nhiều người đốn ngộ mà không thành Phật. Có nhiều người đốn ngộ rồi sau đó vẫn không tự tại với sinh tử, có nhiều người đốn ngộ rồi mà tâm vẫn không nhập định được, có người đốn ngộ rồi mà đạo đức vẫn hư.
[44:17]Cho nên các ngài mới thấy cái đốn ngộ thành Phật nói kiến tánh thành Phật nghe không ổn, mới sửa lại là kiến tánh rồi thì khởi khởi tu, hoặc là đốn ngộ mà tiệm tiệm tu là để bổ sung lại, bởi vì trong thực tế có nhiều người kiến tánh mà không hề thấy thành Phật.
[44:36]Rồi sau này cái thời cận đại á thì Thiền tông xuất hiện một cái lối tu là tham thoại đầu, là nêu một câu hỏi trong đầu á để mà nghiên cứu tìm câu trả lời. Thì cái lối này cực đoan khủng khiếp, bác hết Phật, bác luôn kinh điển của Phật, bác hết mọi pháp môn, mọi tông phái, không công nhận ai hết, chỉ công nhận câu thoại đầu của mình. Thì cái pháp môn này nguy hiểm, pháp môn này nó làm cho đạo Phật bị suy yếu rất là nhanh bởi vì phá bỏ Pháp bảo. Kinh điển của Phật dạy mà dám bỏ thì đúng là phá tan đạo Phật luôn. Nên những người tu theo pháp môn thoại đầu thì sau này không có thành công lắm, ít khi thành công, hiếm có người thành công.
[45:11]Mà thành công rồi đi dạy người ta cũng không được tại mình không có cái nền căn bản. Còn những người mà có những vị mà họ dạy thoại đầu dữ dội thì họ đều không có cái quả báo an lành, lần lần cũng suy, vân vân. Bây giờ, mình nói về ưu điểm của Thiền tông. Cái ưu điểm của Thiền tông á là giúp phát huy tính tự lực của bản thân, nên thực tế hơn các tông phái mà dựa vào sự linh thiêng của chư thánh. Và vào những thời kỳ hưng thịnh thì Thiền tông sản sinh ra nhiều vị thiền sư đạt ngộ rất là cụ thể, có tâm chứng rõ ràng. Do vậy, cho nên là thuyết phục được quần chúng người ta tin theo. Ví dụ tu theo các tông phái khác á thì
[45:51]phải chờ chết rồi mới thấy, hoặc là chờ kiếp sau mới được quả báo. Còn theo Thiền tông thấy nhan nhản trước mắt mình những thiền sư đắc đạo, ông thì ngồi tịch, ông đứng tịch, lại ông có phép này phép kia. Mà còn một cái ưu điểm của Thiền tông nữa là từ cái trí tuệ tâm chứng đó các vị có nhiều cái sáng tạo về văn hóa, đóng góp vào trong kho tàng văn hóa của Phật giáo rất là lớn. Nói là bất lập văn tự là không nói một chữ nào, nhưng mà sự thực sách của Thiền tông thì nhiều hơn tất cả các tông phái khác, nhiều gấp mấy lần. Tỉ Tông Tịnh Độ mình thấy một số luận giải, tông này tông kia số luận giải, Hoa Nghiêm,
[46:26]Thiên Thai số luận giải, mà Thiền tông thì đầy ngập, ông nào cũng viết sách được hết. Ổng chứng rồi một cái, ổng ngộ một cái, tự nhiên trí tuệ khai thông ổng nói ào ào, viết ào ào ra không. Nên cũng làm cái lạ. Cái người mà nói mình không nói chính là người nói nhiều nhất, ha ha, ngộ, đời nó kỳ khôi vậy. Cho nên nói a nói a nói: "Ai nói tao sân phải không? Tao oánh cho bể mặt bây giờ!", thì đó là người sao? Người mà tự nói mình không sân chính là người người sân dữ dội nhất, phải vậy. Nên Thiền tông cũng vậy, nói: "Tôi là bất lập văn tự", thấy không? Nhưng mà không ngờ là sách của Thiền tông lại lại nhiều nhất.
[47:05]Thiền tông cũng có cái tính trong sáng là không chấp nhận những cái ảo giác của tâm, thiệt. Ví dụ như có những tông phái ngồi thiền mà thấy này thấy kia đó là coi như được khen, là mình được tu tiến, nói: "Con ngồi thiền con mới thấy Phật hiện ra, ồ con ngồi thiền con thấy hào quang sáng hết", ông thầy nói: "Ờ, bữa nay con khá á". Nhưng mà Thiền tông là không có vụ đó à nha. Thiền tông là tu yêu cầu ngồi im không thấy gì hết, trống không mới được. Đây là cái hay của Thiền tông. Vì vậy, chúng ta có câu chuyện rất nổi tiếng của ngài Văn Hỷ đi cầu đi lễ lạy Bồ Tát Văn Thù ở Ngũ Đài Sơn, quý thầy nghe chưa?
[47:37]Nghe rồi phải không? Có cần kể lại không? Là thế này, có ngài Văn Hỷ tự nhiên ngài thương Bồ Tát Văn Thù không biết sao thương dữ lắm, ngài mới đến Ngũ Đài Sơn ngài viếng. Nhưng mà do lòng thành hay cái duyên xưa không biết cái ngài ngài gặp Bồ Tát. Đó là ngài Bồ Tát giả làm ông già chăn trâu tiếp ngài, hỏi đạo, tức là nói chuyện đạo rất là lý thú. Ông già chăn trâu nhưng mà phong thái rất là đường bệ, đĩnh đạc, uy nghi. Rồi đến khi mà ổng xin ở lại thì không cho, mới sai đồng tử đi ra. Khi đồng tử đi ra rồi á, qua vài câu nói chuyện thì ngài mới biết là mình vừa mới gặp Bồ Tát Văn Thù. Thì khi trong đầu ngài vừa mới biết thì tất cả biến mất liền,
[48:17]cả lâu đài cung điện mà nãy giờ ngài ngồi trong đó tất cả biến mất. Rồi ở trên cao là Bồ Tát Văn Thù cỡi sư tử bay qua bay lại, rồi đám mây bay ngang che mất luôn. Ngài đi về, sau này ngài đến cái chỗ ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch ngài thọ pháp và được ngộ đạo ở đó. Khi ngài ngộ đạo rồi, lần đó tới phiên ngài nấu cháo, nấu cháo cho 500 người ăn thì cái nồi cháo nhỏ hay lớn? Phải không? Mình nhảy trong mình bơi được, ha. To thì trong cái khói cháo nghi ngút như vậy Bồ Tát Văn Thù hiện lên trở lại, giống như cái hình mà ngài đã thấy lúc ở Ngũ Đài Sơn. Nhưng mà ngài cầm cái dầm cháo ngài đập liền, ngài đập cái Bồ Tát Văn Thù bay lên né, nói:
[48:54]"Không, ta, ta là Văn Thù". Cái ngài mới nói: "Văn Thù kệ Văn Thù, Văn Hỷ kệ Văn Hỷ", ha, Văn Hỷ. Thế là ngài Văn Thù mới cười mà nói bài kệ nữa ha, đó là đó là: "Dưa đắng thì đắng tận gốc mà dưa ngọt thì ngọt từ nơi rễ", ha. "Ta tu hành đã 300 đại kiếp mà còn bị tăng đánh đòn", nhưng mà ngài nói câu đó tức là ngài khen ngài Văn Hỷ. Bởi vì sao? Ngài Văn Hỷ không chấp nhận ảo giác, không chấp nhận hình tướng lạ. Đối với ngài, đạo là ngoài cái sự thanh tịnh của nội tâm là những điều thực tế trong cuộc sống. Mình sống cuộc đời chân chính với mọi người đó là đạo, chứ không tìm một cái gì huyền hoặc, xa lạ, kỳ lạ, khác lạ.
[49:36]Nên Thiền tông có cái tính trong sáng hơn các các tông phái khác là chỗ này. Đây là điều rất đáng khen. Một cái ưu điểm của Thiền tông nữa là những thiền ngữ bí hiểm của thiền sư thật ra là những đạo lý đầy giá trị chứ không phải vô nghĩa. Những người họ có duyên đến gặp các thiền sư nói một câu bí hiểm, mình nghe thì bí hiểm, nhưng mà cái người đó họ tới cái duyên rồi họ hiểu được, họ ngộ đạo luôn, họ đốn ngộ luôn. Chứ không phải là là vô nghĩa nên rất là lý thú. Chỉ tiếc một điều là chúng ta không được phép giảng các thiền ngữ đó. Đạo lý tràn đầy trong các thiền ngữ của các thiền sư. Từ cái ngài im lặng trong trường hợp đó im lặng là đạo lý gì?
[50:15]Trường hợp đó ngài nhìn trừng trừng là đạo lý gì? Trường hợp ngài phất tay bỏ đi là đạo lý gì? Ngài hét một tiếng là đạo lý gì? Mỗi tiếng hét mỗi trường hợp khác nhau hết, không có trường hợp nào giống nhau. Hoặc đánh, có cái đánh là khen, có cái đánh là phạt, vân vân, có cái đánh là để kích thích sự đốn ngộ, vân vân, nghĩa là rất nhiều, mỗi trường hợp đều có ý nghĩa chứ không phải vô nghĩa. Mà ở đây là một cái đạo lý bí hiểm còn giấu kín của Thiền tông mà cái mảng đó rất là lớn, mà rất là thú vị. Chỉ tiếc rằng chúng ta không được phép giảng, vì giảng là phản bội chư tổ. Rồi thời còn Đức Phật á thì Đức Phật đưa ra một cái
[50:53]thang tu chứng rõ ràng theo Tứ thiền và Tứ quả. Tức là tu chứng những thế này thế này là thuộc trong Tứ thiền, chứng đạo đức thế này thế này là thuộc trong Tứ quả, có Phật minh định. Nhưng đến thời Thiền tông thì không có, không có cái thang tu chứng như đó nữa, nên tùy mỗi vị các ngài đưa ra cái định nghĩa về tu chứng khác nhau. Tuy nhiên, nó có một cái thang tu chứng rất là thú vị là 10 bức tranh chăn trâu. Chúng ta không có một cái chuyên đề về bài này, bởi vì tôi giảng về 10 bức tranh chăn trâu mấy lần ở những nơi khác, nên sau này có duyên thì quý thầy nghe cho biết, chứ còn hôm nay chúng ta không có duyên để giảng.
[51:28]Tuy nhiên là chúng ta cũng nhắc sơ một chút. Nếu quý thầy mà xem 10 bức tranh chăn trâu của Thiền tông, tranh chăn trâu của Thiền tông là trâu đen nha, chứ không phải là trâu trắng, trâu trắng là của Đại thừa không có hay. 10 bức tranh chăn trâu của Đại thừa là ý nghĩa nó dở, những người nào do kiến giải thường thường vẽ ra. Còn 10 bức tranh chăn trâu của Thiền tông á vẽ con trâu đen á, mới là người đắc đạo vẽ nổi á. Thì bức tranh thứ sáu đó là tương đương với Sơ thiền, bức tranh thứ bảy á là tương đương với Nhị thiền, bức tranh thứ tám á là tương đương với Tam thiền và bức tranh thứ chín là tương đương với Tứ thiền.
[52:02]Đó, quý thầy về quý thầy nghiên cứu lại, có thể là tự nghiên cứu cho cho biết. Nhưng mà vô tình là cái thang tu chứng mà các thiền sư đưa ra qua 10 bức tranh chăn trâu lại ăn khớp với Tứ thiền của Phật. Đây cũng là một điều bất ngờ, bất ngờ mà rất là hay. Trong cái bức tranh thứ sáu này á là diễn tả cái người mà chăn trâu ngồi trên con lưng trâu thổi sáo, không chăn nữa mà con trâu tự đi về nhà, đúng không? Quý thầy nhớ không? Không coi lần nào đâu mà nhớ. Thế là tượng trưng cho cái trạng thái của một người tu không cần dụng công nữa. Không cần dụng công nữa mà tâm mình tự đi vào định, giống như là con trâu tự nó nó tìm đường về nhà, nên đúng với Sơ thiền luôn.
[52:51]Một cái ưu điểm của Thiền tông nữa là Thiền tông cũng đòi hỏi sự tinh tấn quyết liệt, không chấp nhận tu cầm chừng. Nghĩa là những vị mà tu theo Thiền á, phải nghĩa là tinh tấn miên mật từng giờ từng phút, không có lơ lỏng. Có nhiều ngài mà hỏi đến là các ngài nói không có thời gian làm chuyện này chuyện kia, bởi vì các ngài đang nhiếp tâm. Chúng ta nhớ có câu chuyện là trong chùa có người sư đệ lúc nào cũng mũi dãi lòng thòng. Quý thầy có nghe chuyện đó không? Nghĩa là mũi nó chảy. Y như thầy Đức Toàn hồi nhỏ vậy, chảy lòng thòng. Cái, cái có ông sư huynh hỏi "Trời ơi, sao sao sư đệ không chịu lau mũi?", ổng nói "Em không có thì
[53:30]giờ." Sau này cả chùa mới phát hiện ra ổng là, ổng thánh, ổng đắc đạo đời nào. Cái câu mà ổng nói "không có thì giờ" là để báo cho mọi người biết tu là không sơ hở một tâm niệm nào. Ừ, như vậy. Ừ. Thì đó là cái ưu điểm tuyệt vời của Thiền tông. Nó làm sáng lên cái tinh thần Bát Chánh Đạo trong cái Chánh Tinh Tấn. Chánh Tinh Tấn cũng phải quyết tâm như vậy, quyết liệt như vậy. Là Thiền tông thực hiện được điều đó. Đây là ưu điểm. Giờ mình nói qua nhược điểm của Thiền tông. Là Thiền tông lại cũng ít để ý đến mục tiêu vô ngã của Phật. À, Tịnh Độ cũng bị cái này, Thiền tông cũng bị cái này. Có một số thiền sư khi ngộ đạo rồi thì các ngài
[54:06]lại tự mình tìm ra được cái vô ngã, cũng hay. Nhưng mà nhiều vị khởi điểm là không có để ý tới vô ngã mà chỉ để ý tới gì? Phật tánh. Nghĩa là cái chủ thuyết của Thiền tông là Phật tánh có sẵn trong tâm. Đó là chủ thuyết. Thì cái chủ thuyết này về lý luận nó sẽ gặp nhiều mâu thuẫn. Là vì sao vậy? Bởi vì nếu trong tâm mình có sẵn Phật tánh thì nó đụng hàng. Bởi vì trong tâm chúng ta cũng có sẵn cái gì ở trỏng? Bản ngã. Phải không? Trong tâm này có sẵn bản ngã, mà rồi theo Thiền, Thiền tông thì trong tâm này cũng có sẵn Phật tánh. Như vậy trong tâm mình cùng một lúc có hai cái có sẵn, vừa bản ngã vừa Phật tánh.
[54:43]Hai cái nằm chung một chỗ mà vẫn sống chung hòa bình. Ngộ vậy? À, ngộ vậy. Cũng trong tâm này. Rồi đồng thời thế này, bây giờ á mỗi khi mà chúng sinh đó, chúng sinh đang có Phật tánh đó đó, mà đi quậy, đi ăn trộm ăn cắp, giết người rồi đọa địa ngục, Phật tánh không hề can thiệp. Không hề cản được giùm nha. Do đó, chúng ta thấy là người ta vẫn tiếp tục đi vào tù, tiếp tục xuống địa ngục, tiếp tục chửi bậy, làm tầm bậy hết, mặc dầu chúng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Nghĩa là Phật tánh không hề giúp cho người ta trong việc tu hành. Không biết tập pháp Phật tánh đâu có biết, mà không hề có công lao gì hết.
[55:21]Nằm kề kế bên bản ngã mà không hề giúp được bản ngã một đá bay ra khỏi để cho người ta được vô ngã. Mà bản ngã luôn luôn thắng, là thấy người ta làm bậy nhiều hơn là làm đúng. Như vậy chứng tỏ là Phật tánh không làm gì được, vâng, Phật tánh thua bản ngã. Mà khi bản ngã mà xúi người ta làm bậy thì Phật tánh không cản được, người ta cứ làm bậy dài dài trong suốt cuộc đời này, trên thế giới này, la con ra rả. Rồi muốn cho ngộ được Phật tánh thì Phật tánh không tự mà hiển lộ, mà mình phải tu gần chết mình mới ngộ được Phật tánh, đúng không? Tu gần chết mới ngộ Phật tánh. Như vậy thì cái công lao lại nằm ở cái người tu chứ không
[55:54]phải Phật tánh, Phật tánh cái gì đâu không hiểu. Cho nên, do đó, về cái lý luận thì Phật tánh bị điểm hở về chỗ này, trong Thiền tông bị chỗ này.
[56:05]Rồi thêm một màn này nữa, thêm cái nhược điểm này nữa là từ khi mà cái người đó cho mình có sẵn Phật tánh, họ trở nên kiêu căng, lập dị. Thí dụ cái người đó đến học đạo ông thầy, ông thầy mới nói thế này, "Trong tâm ngươi sẵn có Phật, phải không? Tâm ngươi là Phật, đừng tìm Phật bên ngoài, phải không?" Có không? Quý thầy có nghe chưa? Đó, "Đừng tìm Phật bên ngoài, tâm ngươi là Phật, phải biết là Phật, nghe không?" Đó, cái ông này ổng mới đầu ổng nghe ổng ngơ ngớ, ổng không biết gì. Cái trên đường ổng về, ổng nói "Tâm mình là Phật há, mình là Phật không tìm Phật bên ngoài." Bắt đầu về ổng lên giọng với vợ ổng nha.
[56:37]"Mấy người phải biết nha, tâm này là Phật, tâm ta là Phật, mấy ngươi là thứ ngu, không biết tâm là Phật, ta mới là Phật, tâm là Phật đây nè." Tự nhiên nó ngộ nó nói, bắt đầu bà vợ ổng mới dòm ổng thon thỏ, bắt đầu không biết nay sao ổng đi chùa về sao ổng điên. Tức là cái người mà cho rằng tâm này có sẵn Phật, tự nhiên cái nó thay đổi nhân cách, tức là kiêu căng, lập dị. Nhiều người bị cái này lắm. Ừ hử. Rồi cái nhược điểm nữa là có nhiều người được sư phụ công nhận là kiến tánh, nhưng mà bản thân người đó chưa có đạo đức, và trầm trọng hơn, nhiều người còn hư hỏng luôn nữa. Ừm. Cho nên là cái Phật tánh mà thậm chí cả cái kiến tánh rồi
[57:10]nữa, cái đốn ngộ rồi cũng không làm nên đức hạnh. Mà muốn có đức hạnh, người ta cũng phải tu dưỡng rất là vất vả, cực khổ. Đây cũng là một cái nhược điểm. Ừm. Rồi ví dụ như là khi mà một người bên Thiền tông á tu chứng vào cái cảnh giới nào đó thì nếu nếu mà thời còn Đức Phật á, cùng cái cảnh giới đó, Đức Phật không công nhận là Phật tánh, mà Đức Phật chỉ nói "Ở đây là nằm trong mấy thiền, nằm trong quả gì, trong thang Tứ thiền, Tứ quả", chứ Phật không nói Phật tánh. Mà Thiền tông thì cũng cảnh giới y chang như vậy thì lại nói là Phật tánh. Nên cùng một cảnh giới chứng ngộ nhưng cách lý giải của Thiền tông khác với Phật thời nguyên thủy.
[57:53]Đó, đây là cái điểm mà mâu thuẫn về, về lý luận, về giáo huấn. Ừm. Với nữa là các cái lý thuyết về Phật tánh có sẵn nó rất gần với đại ngã, chân ngã của Ấn Độ giáo. Các kinh điển về Vệ-đà, Upanishad thì đều có muốn nói về một cái chân ngã có sẵn, rất là giống với Phật tánh. Mà chỉ có Đức Phật mới nói được vô ngã. A! Đây là điều rất là lạ. Chúng ta để ý đây nè, là các triết gia hay là các đạo gia thấy con người ta chấp ngã dữ quá thì mới than phiền rõ ràng con người có cái bản ngã, có bản ngã hẹp hòi đưa đến ích kỷ, tham lam, thù hằn, đủ thứ. Và thời gian người ta tu, tu đến tâm thanh tịnh, tu đến tâm thanh tịnh rồi người ta cảm thấy người ta tốt hơn,
[58:41]và cái tâm thanh tịnh đó cảnh giới nó cao siêu, nên người ta gọi nó là chân ngã, hoặc là để thần thánh hơn, người ta mới gọi là thần ngã, hoặc là đại ngã, hoặc là thánh ngã, đại khái là vậy. Ta thấy những kinh điển cũ của Ấn Độ giáo là người ta không còn cái bản ngã tầm thường của phàm phu nữa, mà người này tu đã tìm thấy được chân ngã, thần ngã, đại ngã, thánh ngã có sẵn, mà không bao giờ thoát ra khỏi chữ ngã. Tới chỉ tới Đức Phật của chúng ta tu chứng thành Phật mới tìm ra được cái vô ngã này. Nghĩa là bao nhiêu vị đạo sư trước Phật tu gì tu là cũng chỉ lọt vào những cái ngã này. Chỉ cho tới Đức Phật cái ngã này mới tan,
[59:24]bắt đầu chúng ta mới có một Phật giáo, mới có Tứ Diệu Đế để học, là cái vô ngã này. Nhưng mà Thiền tông thì chứng không nổi vô ngã này nên đã lui lại, lui lại cái gần giống với kinh điển của Ấn Độ giáo mà lập nên một cái tên khác, không gọi là chân ngã, thần ngã, đại ngã, thánh ngã hay thường ngã nữa, thường lạc ngã tịnh nữa, mà gọi là Phật tánh. Cho nên thật ra đó là dấu hiệu của một sự suy giảm so với thời kỳ Phật giáo nguyên thủy.
[59:52]Một cái nhược điểm của Thiền tông nữa là Thiền tông quá chú trọng tìm kiếm cái hiện tượng đốn ngộ mà ít có chú trọng tu tập từ từ căn bản. Hôm trước chúng ta nói, nên ngài Triệu Châu, Thiền sư Triệu Châu ngài cũng thấy được cái sai lầm của Thiền tông. Ngài mới cảnh báo các thiền sinh, ngài mới nói câu này, nghĩa là "Nếu các ông dừng được một niệm trong tâm, còn hơn 10 năm đi hành cước." 10 năm hành cước là gì? Tức là vào thời đó đó, mấy các vị mà tu Thiền tông không chịu ngồi thiền, mà cứ đi lang thang hết chùa này tới chùa kia, hy vọng gặp ông thiền sư nào ổng nói mình một câu, ổng hét mình một câu cái mình ngộ đạo. Là đi tìm cái đốn ngộ.
[1:00:29]Ngài Triệu Châu mới thấy cái đó nó quá tốn sức. Nói thôi ông ở chùa ông ngồi ông nhiếp tâm giùm cho tui, hễ một vọng tưởng mà khởi lên mà ông buông được là còn hơn 10 năm ông đi lang thang ra bên ngoài đi hành cước. Thì như vậy cái chủ trương của ngài Triệu Châu rất giống với Phật là tu từ căn bản, từ cái tiệm tu đó, nó căn bản hơn là đi tìm sự đốn ngộ. Giống như hôm trước chúng ta nói đó, khi làm toán á, chúng ta vẫn phải chú trọng cái làm toán bằng thủ công hơn là hơn là bấm bằng máy tính là vậy. Cứ đi tìm bấm máy tính, đụng chuyện tính toán không có máy là mình tính không được. Còn cái người mà bấm thủ công thì
[1:01:00]có máy mình cũng tính được mà không máy mình vẫn vẫn tính được. Nên mình tu từ căn bản thì rủi mình không đốn ngộ mình vẫn tu suốt cuộc đời ngon lành. Còn có đốn ngộ thì là một bước nhảy vọt ngon hơn. Còn cái người mà không biết tu căn bản rồi đó, hễ không đốn ngộ rồi là không biết đường đi luôn. Như vậy, nên đây là nhược điểm của Thiền tông mà sự thật là chính ngài Triệu Châu cũng đã cảnh báo chứ không phải không. Rồi một cái nhược điểm của của Thiền tông nữa là do để tâm trên đầu nhiều quá nên âm lực bị mất. Âm lực bị mất. Nên thời gian đầu có vẻ nhiếp được tâm, nhưng thời gian sau thì bắt đầu thoái thất, bất an.
[1:01:37]Một nhược điểm của Thiền tông nữa là nhiều người hay bắt chước nói thiền ngữ, thành ra khoe khoang và hơn thua. Bây giờ chúng ta bổ sung cho những điều đó là chúng ta lấy cái mục tiêu vô ngã làm chính, lấy cái việc tu dưỡng đạo đức làm nền và mình rèn luyện khí lực để hỗ trợ để có được những điều đó, rồi thì chúng ta bổ sung được những cái nhược điểm của Thiền tông. Giờ chúng ta nói qua Mật tông.
[1:02:05]Chiếc nôi của Mật tông là ở đâu? Tây Tạng. Ừm. Là bởi vì nơi Tây Tạng trước đó có một cái đạo phù thủy là đạo Bôn. Đạo này chuyên là làm những chuyện phù phép thôi, giống như bên bên bên Trung Hoa cũng vậy, có đạo phù thủy, mấy ông thầy pháp, nhưng đạo đó rời rạc. Đến khi mà đạo Phật tràn sang thì đạo Phật mới gom hết mấy ông thầy Bôn đó vô trong đạo Phật hết luôn, hoặc là mấy ông thầy phù thủy đó tu theo đạo Phật luôn, rồi trộn qua trộn lại cái thành ra cái Mật tông Tây Tạng. Nên Mật tông Tây Tạng là hay chú ý để tạo nên cái quyền năng vừa là khí lực, vừa là tâm linh. Những cái môn mà nội công của bên các nhà sư Tây
[1:02:42]Tạng là bên Trung Hoa nhiều khi thua xa. Ví dụ như là bên Trung Hoa đó, một người nào mà họ luyện cái nội công của họ đến cái mức độ mà dùng một ngón tay mà xỉa lủng gỗ là mình thấy sao? Thượng thừa rồi phải không? Đưa một tấm ván, tấm ván mỏng chừng 10 phân mà nếu người nào lấy ngón tay xỉa bốc vô mà lủng là thuộc loại thượng thừa. Nhưng mà gặp mấy nhà sư Mật tông Tây Tạng thì nói chuyện bèo, đưa tấm ván ra, ổng thè lưỡi ổng xỉa một cái lủng liền. Khí công của bên Tây Tạng còn dữ dội hơn Trung Hoa nữa, là các nhà sư luyện trên núi cao, các ngài có phương pháp bí mật. Và đồng thời tức là nếu mà nói mà đem khí công ra đo ha,
[1:03:20]mấy ổng biểu diễn một cái là hết hồn, đến chừng mà đem bùa phép ra đo, đó rồi ổng lại xuất chiêu bùa phép ra làm cho tiếp tục, cái là hô biến đồ cũng là ào ào luôn được. Nên cả cái đất nước Tây Tạng, dân thấy mấy ông Lạt-ma, ông nào ông nấy dễ sợ quá. Trời mưa tuyết mình núp trong nhà, mấy ổng cởi trần ổng đi lang thang ngoài đường tuyết rơi xuống vậy thấy ai không nể, phải không? Hoặc là hễ mà nơi nào có ma lại ổng hô tai hô biến nó hết liền, hễ bệnh ổng lại ổng vuốt đầu cái hết bệnh liền, ai mà không theo. Nên toàn dân Tây Tạng theo đạo Phật hết là vậy. Bởi vì cái quyền năng của Mật tông nó khủng khiếp,
[1:03:50]có hiệu quả dữ dội chứ không phải không. Đó là nói quyền năng, còn về lý luận thì dễ sợ hơn nữa là kinh của Mật tông nhiều hơn kinh của các tông phái khác nữa. Có nhiều cái bản kinh mà các tông phái khác không có, chỉ trong Mật tông mới có. Khi cần mà nói lý luận tính Không, một Lạt-ma Mật tông nói còn hay hơn Thiền tông nữa. Thiền tông là đã chuyên về tính Không phải không, nói về chữ Không rồi, vậy mà gặp Mật tông coi chừng chào thua đó. Cái Không của Mật tông còn dữ dội hơn nữa, không còn một chỗ chê, dễ sợ. Trước kia đó thì Mật tông của Tây Tạng là do một cái phái, người ta kêu là cái phái Hồng Mão tức là phái Mũ Đỏ.
[1:04:29]Các nhà sư Lạt-ma là mũ đỏ, thì các nhà sư đó lần lần trở nên bê tha, trụy lạc, là có vợ, có con, rồi nhậu nhẹt, rồi tham lam, tích trữ, rồi làm nhiều điều bậy bạ, suy đồi. Lúc đó dân chúng bắt đầu chán nản. Mặc dù mấy ông có phép nhưng mà đạo đức quá suy đồi. Cho đến khi ngài Tông-khách-ba xuất hiện, ngài dựng lại một cái Mật tông mới là Mật tông Hoàng Mão, là Mật tông đội mão vàng, thì chủ trương giữ giới luật cho nghiêm minh, nên lần lần dựng lại được cái niềm tin từ vua chúa cho tới dân. Và dưới tay ngài Tông-khách-ba này có hai đệ tử xuất sắc là Đạt-lai Lạt-ma và Ban-thiền Lạt-ma. Thì hai vị Đạt-lai và Ban-thiền này đó có cái tục lệ
[1:05:12]là mỗi trước khi chết chỉ cái chỗ mình sẽ tái sinh. Rồi sau khi chết, kêu đệ tử tới đó tìm đem về dạy lại, tái sinh lại ngài, tu tiếp và lãnh đạo tiếp, ngài lớn lên là lãnh đạo trở lại, đời đời cứ trở lại để lãnh đạo Phật giáo, hai ngài nối qua nối lại. Hiện nay, đức Đạt-lai Lạt-ma ở Ấn Độ hiện nay là Đạt-lai Lạt-ma thứ 10 14. Và ngài Ban-thiền Lạt-ma thì hai thuyết. Bên Trung Quốc chỉ công nhận một đứa bé do Trung Quốc chọn là mới là Ban-thiền mới tái sinh, còn cái người Tây Tạng ở bên ngoài thì chọn một đứa bé khác, nói là đây mới là Ban-thiền tái sinh. Cho nên bây giờ không ai biết ai là Ban-thiền
[1:05:50]thiệt, Ban-thiền giả, cũng rắc rối. Vì thấy rắc rối quá nên ngài Đạt-lai Lạt-ma mới nói thôi, ngài nghỉ chơi cái vụ mà tái sinh, ngài hết kiếp này ngài không có tái sinh nữa, đừng đi tìm nữa. Và như vậy đến đời ngài Đạt-lai Lạt-ma này là cuối cùng, sẽ không còn hiện tượng tái sinh đi tìm lại nữa.
[1:06:09]Vào đời nhà Mãn Thanh ở Trung Hoa là do nhà Mãn Thanh xuất phát từ cái đất Mãn Châu, Mông Cổ, họ theo Mật tông lâu đời. Lúc đó ngài Ngọc Lâm quốc sư là làm quốc sư cho triều đình nhà Mãn Thanh nên ngài cũng đi theo Mật tông. Mà theo ngài Mật tông cho nên ngài ngài phát huy, truyền bá Mật tông mạnh hơn. Chúng ta ai cũng có đọc cái cái cuốn mà "Thoát vòng tục lụy" rồi phải không? Trong đó cái nhân vật chính lại Quốc sư Ngọc Lâm cực kỳ đẹp trai và hiền lành. Và khi quý thầy đọc trong đó, nhiều khi quý thầy cũng mong chờ một Thiên Kim tiểu thư thử coi nó như thế nào. Nhưng mà... Thiệt là. Ngài Ngọc Lâm quốc sư mà trong thực tế thì không có hiền như vậy, ngài hơi cứng rắn.
[1:06:54]Lúc đó ngài mới đặt ra cái nghi lễ mới và ngài ra lệnh là toàn cái cõi Trung Hoa phải thực hiện theo nghi lễ của ngài, đó là khuya dậy tụng năm đệ Lăng Nghiêm. Bởi vì thời đó đó, Trung Hoa dậy họ tụng bài kinh khác và họ ngồi thiền, nên nhiều vị đắc đạo. Nhưng mà đến đời ngài, ngài dẹp đi, ngài không cho, ngài bắt phải tụng năm đệ Lăng Nghiêm. Khi mà tụng năm đệ Lăng Nghiêm như vậy, khi mà cái lệnh được truyền ra thì nhiều chùa nhao nhao phản đối. Nhưng mà ngài mới ra một cái sắc chỉ, ngài bắt buộc phải thực hành, và ngài ra lệnh trên toàn quốc là những quan quân phải kiểm tra các chùa có làm đúng hay không.
[1:07:27]Tức là khi khuya dậy, mấy ông quan là phải thay phiên nhau đi lại gần chùa nghe. Bắt đầu là cóc cóc cóc cóc gì mà tụng Lăng Nghiêm vậy á là ok, thôi không sao. Chùa nào không tụng là vô mời ông thầy trụ trì ra còng bắt đi liền. Rất là cứng rắn, nhờ vậy mà bây giờ là tất cả đều phải tụng Lăng Nghiêm hết. Là lý do như vậy. Mà tôi không có cái duyên tụng Lăng Nghiêm, không biết sao kỳ. Lúc vô chùa tu thì tới giờ khuya cái mấy thầy giao đi nấu cơm sáng, thì khỏi tụng Lăng Nghiêm, mà khỏi tụng thì khỏi phải khỏi phải học. Sau này có ông thầy quản sự ổng mới phát hiện ra, ổng trên Sài Gòn xuống ổng quát, phát hiện ra là:
[1:08:03]"Ồ, thằng điệu này nó không không thuộc Lăng Nghiêm." Mà không thuộc, mới ra lệnh: "Chúng mày mà không thuộc Lăng Nghiêm thì đuổi ra khỏi chùa." Rồi thấy tình hình căng quá mới lại, tôi mới thưa thầy chúng trưởng: "Thưa thầy, thầy cho con năm buổi chiều, ba buổi chiều, buổi sáng vẫn phải lao tác để con học." Thì tôi học ba bữa năm bữa là tôi thuộc. Thuộc xong hết rồi, chuẩn bị để bắt đầu lên chánh điện tụng như người ta thì có một cái sự cố xảy ra. Không tụng nữa, và vĩnh viễn tới bây giờ chưa bao giờ lên chánh điện tụng Lăng Nghiêm. Hồi xưa không biết số làm sao, nên quên mất luôn. Học thuộc rồi không tụng là quên liền.
[1:08:38]Chắc hồi xưa chắc chửi bới ngài Ngọc Lâm hay sao á, nên đời này không có tụng.
[1:08:45]Giờ cái ưu điểm của Mật tông là thế này: là Mật tông là tạo thêm một khía cạnh năng lực tâm linh trong đạo Phật. Cho nên nhiều hành giả Mật tông họ thành tựu được thần thông ở mức độ nào đó, nên cũng làm cho ngạc nhiên mọi người và thuyết phục được mọi người. Vì sao vậy? Cái cuộc sống con người ta đó có nhiều cái khó khăn, có nhiều cái bế tắc mà xử lý theo cách thường thường xử lý không được, mà phải dùng tới năng lực thần bí. Ví dụ thế này, ví dụ hôm nào á tự nhiên có một anh chàng lại chùa khóc lóc, khóc rống lên. Hỏi: "Có chuyện gì con? Ai chết?" Nói: "Dạ không, người yêu con bỏ." Người yêu bỏ, nhưng mà bây giờ mình trả lời làm sao?
[1:09:23]À nếu mình mà không có cái quyền lực á, mình trả lời thường thường mình trả lời thế này: "Thôi con, cuộc đời này ái là là đau khổ, phải không? Con thoát cái người yêu đó nhiều khi là con thoát một cục nợ." Trong khi ảnh gào khóc, nói: "Không phải thầy ơi, con..." Mới nói: "Đó là người yêu trong mộng, người yêu lý tưởng gì của con. Giờ không có nàng con không thể sống được." Ví dụ vậy. Nói, giờ cái anh chàng đó mình đem đạo lý gì nói cũng không được hết trơn á. Phải không? Mà nếu mà mình không mà làm cho ảnh thỏa mãn được, ổng đi kiếm kiếm ông thầy khác à, hay qua qua Chúa à, qua đạo Thiên Chúa à, ngồi cầu, quỳ lạy Chúa Ba Ngôi:
[1:09:53]"Cho con lấy được vợ rồi con sẽ thôi nhà thờ." Ví dụ vậy.
[1:10:02]Thiệt là. Thì những trường hợp như vậy đó buộc phải giải quyết. Rồi nếu đó mà gặp ông thầy Mật tông là làm ngon lành liền, nói: "Rồi, được." Thấy không? Rồi bây giờ ổng vô lên bàn Phật, ổng lấy ly nước ra ổng ổng chú nguyện, ổng tụng chú gì Án ma ni bát di hồng gì loạn xạ xong ổng gói vô bình nước lên rồi: "Con bỏ theo túi, thấy không? Rồi con làm như vậy như vậy, là con đến con gặp cô ta, hễ tìm được cô ta con uống nước vô ngậm con phún vô mặt cô ta thì cô ta sẽ rượt theo con." Rồi. Rồi. Là đúng.
[1:10:33]Và anh chàng kia mừng quá, xách chai nước về, vô lạy Phật. "Trước khi về vô lạy Phật nghe con." Rồi vô lạy Phật kia nọ xong, đi tìm cô ta. Tìm cô ta chưa nói chưa rằng cái đem hớp ngụm nước phún vô mặt cô ta cái rồi, đúng là cô ta rượt theo thiệt. Chuyện sau đó thì mình không nghe kể nên mình không biết là cô ta rượt theo với mục đích gì. Đại khái là cũng rất là linh, hết là linh.
[1:10:57]Thật ra, mấy thầy mình á, à nhất là những vùng quê á, nhiều khi xử nhiều chuyện khó xử lắm. Mà nếu không có cái quyền năng tâm linh, mình không giải quyết được. Xưa có nhiều ông tướng vì trong cái hoàn cảnh chính trị, mấy ổng mới trốn vào miền quê, giả làm sư tu hành. Nhưng mà ổng giỏi cực kỳ. Cái gì cũng giỏi. Nhưng mà dân chạy vô: "Thầy thầy, trời ơi con tui mất con bò rồi, không biết ai dắt hay nó đi lạc. Thầy coi giùm tui coi nó đi đâu." Ổng liền bấm bấm cái lóng tay, ổng nói: "Giờ đi về hướng Tây Bắc, đến gặp con sông, phải không? Bên cạnh con sông có ngôi nhà, vô đó tìm." Thế là: "Rồi cảm ơn thầy", đâm đầu chạy về đúng về hướng Tây Bắc
[1:11:35]thấy con sông, qua đó thấy nhà, con bò nằm trỏng. Vô thương lượng lấy con bò về. Tin ông thầy không? Tin quá đi chứ! Thế là ngày rằm nào cũng vô đem nải chuối lại cúng Phật, sám hối rồi từ đó tin liền. Cho nên chính cái quyền năng đó làm cho nhiều người cũng tin đạo Phật là vậy. Chứ người dân họ đâu phải đến đạo Phật bằng cái cái cái đạo lý đâu. Cái gì làm cho họ có cái kết quả, lợi ích trong cuộc sống họ mà những cái chuyện rất là tào lao nhưng mà mấy thầy phải làm được. Mà để làm được chuyện đó, nhiều khi Mật tông lại giải quyết được, mà người thường thường không giải quyết được. Nên nó cũng có cái lợi là vậy.
[1:12:11]Cái nhu cầu của tín đồ nhiều lắm. Còn cái câu thần chú mà tối nghĩa, sự thật á nói cho trắng ra á, nói mà cho thật ra á, câu thần chú á không có giá trị gì hết. Nhưng mà cái giá trị nằm ở đâu mà nó lòi ra thần thông? Nó nằm ở chỗ nào mà nó ra thần thông? Ví dụ cái câu này, ví dụ câu này:
[1:12:39]"Om Mani Padme Hum", mình đọc là "Án ma ni bát di hồng". Đọc có hiểu gì không? Nhưng mà tiếng Ấn Độ dịch ra hiểu. Chữ "Om" này là một cái thần ngữ, thế là nó là một cái tiếng linh mà đầu câu thần chú nào cũng phải đọc: "Om...". Cứ ngân cho lâu là người đó mau đắc thần thông. Mà càng ngày cái cái người mà họ tu lâu họ cái cái tiếng Om họ hay lắm. Thay vì mình cứ "Om" mình đọc "Án", đọc lẹ lẹ, "Án ma ni bát di hồng, Án ma ni...", chữ "Án" đọc không rõ. Chứ còn không, họ mà tu lâu họ ngồi họ: "Om..." y như Hồi giáo á. Ngân nga rồi uốn éo như Hồi giáo cười chết một. Mà họ vậy mới linh, cứ để ý câu này là thần
[1:13:20]ngữ, cái chữ "Om" này là thần ngữ nha. "Mani" là gì? "Mani" là viên ngọc, "Padme" là hoa sen, "Hum" là ở trong. Tức là: "Om, viên ngọc trong đóa sen." Có nghĩa gì không? Thì nghĩa vậy thôi, làm sao lòi ra được thần thông? Thần thông ở chỗ này nè. Thần thông ở chỗ này nè: cái ông thầy của mình á, thần thông là tại cái ông thầy của mình. Ông thầy mình ông kêu mình tới, phải không? Nói là: "Bây giờ con tụng cái câu này nha, 'Án ma ni bát di hồng'. Con mà tụng một thời gian rồi á là con chữa ai hết bệnh người đó. Nghĩa là bệnh nghĩa là viêm gan siêu vi B ha cũng sẽ hết, nghĩa là bệnh mà sốt xuất huyết cũng hết, thương hàn hết, phải không?
[1:14:11]Mù mắt cũng hết, mà si-đa sẽ chết." Nó đại khái là
[1:14:17]Thì do mình, mình tin mình tin tức là mình ôm cái câu đó mình tụng là: "Án ma ni bát di hồng, Án ma ni bát di hồng", nhưng mà cái niềm tin là hết bệnh nó nằm thầm thầm đi theo. Có không? Có. Chính cái niềm tin do ông thầy ổng cấy vào trong tâm mình á, thấy mình là hết, câu này chỉ học câu này là hết bệnh hết bệnh. Cái niềm tin âm thầm nó đi theo cái tu tập của mình. Chính cái niềm tin đó, cái sự chuyên chú lâu ngày đó, chính cái niềm tin nó làm thành năng lực chữa bệnh, chứ không phải câu thần chú này. Nên sau này gặp người ta bị bệnh, cái mình để tay ly nước mình cứ: "Án ma ni bát di hồng, Án ma ni bát di hồng" đưa người ta uống.
[1:14:48]Uống sau khi mà cái người đó sốt, uống xong là đúng là hết sốt liền. Mà nếu họ sốt nặng hơn thì mình chở đi cấp cứu đi, không sao hết.
[1:15:00]Cái ưu điểm nổi bật của các tu viện Mật tông Tây Tạng là những phương pháp mà luyện khí lực rất là hiệu quả. Cho nên nhờ những phương pháp đó mà các Lạt-ma họ chịu được cái lạnh như cắt ở trên núi cao. Mà cái khí lực đó với cái tâm linh hỗ trợ, cho nên khi mà khí lực sung mãn rồi tự nhiên tâm linh cũng khai mở luôn. Hai cái đó đi đôi với nhau. Chúng ta nói, chúng ta nhớ khi chúng ta học thiền học, ba cái nền của thiền là gì?
[1:15:29]Đạo đức, công đức, khí công, đúng. Thì ở bên Tây Tạng họ luyện khí lực rất là siêng cần, có nhiều cái bí quyết rất là đặc biệt. Vì vậy mà khi khí lực có rồi thì tâm linh cũng khai mở luôn, nó là vậy. Chúng ta mong rằng họ đừng để thất truyền. Quý thầy có đọc cái "Suối nguồn tươi trẻ" chưa? Các cái thế luyện á thì cũng được cho rằng là từ các tu viện Mật tông phải không? Mình không biết là phải đúng hay không, nhưng mà nếu đúng thì đó lại cũng như phương pháp luyện tập trong các tu viện Mật tông ra như vậy. Còn bên trong họ bí mật hơn. Những cái mà dạy ra bên ngoài khắp thế giới biết là những cái xoàng xoàng, cái vỏ thôi.
[1:16:04]Còn các cái chuyên sâu á để mà dùng cái lưỡi mà đục cái lủng cái miếng ván liền là bí mật họ không dạy ai. Là khi mà đánh võ, các sư Thiếu Lâm là được cho là giỏi nha, nhưng mà đụng các sư mà Lạt-ma Tây Tạng trên núi cao là chịu phép đi. Họ đánh bài quyền kỳ lạ, họ nhảy lên cao họ lộn một vòng, họ cắm đầu xuống đất, họ cắm một ngón tay nè chỉa xuống đất mà đứng yên bất động chuyện đó. Những bài quyền mà nếu không có cái nội lực phi thường, không bao giờ đánh nổi những bài quyền đó. Nên trong truyện của Kim Dung là chuyên môn đưa mấy ông Lạt-ma vô vô Trung Quốc quậy tứ lung tung lên hết á, mấy ông siêu đẳng không ai quánh lại hết là vậy.
[1:16:38]Chỉ đợi tới khi nào mà có Quách Tĩnh rồi Dương Quá rồi luyện được thần công thì mới cự lại thôi, chứ còn không là thua. Hoặc là gặp Đoàn Dự rồi đó hay là Tiêu Phong rồi đó mới cự nổi, chứ còn không là không ai chịu nổi mấy ông Lạt-ma hết trơn. Bây giờ nhược điểm của Mật tông: nhược điểm của Mật tông á là chính cái việc mà sử dụng quyền năng làm tăng trưởng kiêu mạn. Tại vì sao? Bởi vì muốn sử dụng có thần thông là mình phải khởi cái ý muốn, ý muốn của hành uẩn. Hành uẩn cũng là nơi chứa bản ngã, cho nên khi động cái ý muốn là động luôn bản ngã. Vì vậy, cái người mà sử dụng thần thông nhiều thì
[1:17:13]một thời gian bản ngã tăng lên rất là nhiều. Hôm nay tôi nói hơi nhanh nha, quý thầy thông cảm, tại bài ý nhiều quá, không nói chậm được. Nhiều cái phái Mật tông là thờ sọ người để rèn luyện quyền năng. Không biết họ đào mả lén người ta hay làm cách nào đó, miễn sao trên bàn thờ vô thấy một đống sọ người trổng. Nên hồi mấy năm trước, ở Ấn Độ có một số du khách phương Tây đi vào Ấn Độ chơi, sau này mất tích, chính quyền tìm ra thì xác mất đầu hết luôn. Và họ nghi, họ nghĩ ngay đến Phật giáo. Vì họ nói rằng cả đất nước Ấn Độ này chỉ có mấy người mà Mật tông Tây Tạng Phật giáo mới thờ sọ người, chứ không ai thờ kỳ khôi.
[1:17:53]Chúng ta thấy cũng buồn, mang tiếng. Đức Đạt-lai Lạt-ma thì ổng mới yêu cầu là các tông phái Mật tông khác đừng có thờ bậy bạ, phải đi theo đạo Phật chân chính thì ngài được gửi bức thư lên cảnh cáo liền, nói ngài đừng có nói năng lộn xộn, ngài cứ lo bổn phận ngài, ngài đụng tới tui là ngài không toàn tánh mạng. Dữ như vậy đó chứ không phải vừa. Ngài Đạt-lai Lạt-ma thì được cái hay là ngài đi khắp thế giới dạy á thì ngài dạy cái giáo lý đúng, giáo lý đúng. Ai kêu ngài dạy thần chú Mật tông thì ngài chỉ dạy câu "Án ma ni bát di hồng" để nhiếp tâm thôi, ngài không có đào sâu thần chú. Rất là hay, làm cho mình kính phục ngài ở chỗ đó,
[1:18:28]ngài không có có tạo nên cái vẻ huyền hoặc. Nhưng mà những cái vị Lạt-ma khác thì không bảo đảm nha. Ổng dạy cái gì cho chúng là không bảo đảm.
[1:18:39]Có nhiều cái nhược điểm nữa là có những bài kinh của Mật tông á đi tới cái cực đoan là cho rằng trì tụng bài thần chú này còn công đức còn cao hơn A-la-hán nữa. Thật ra Phật cũng công nhận mình là A-la-hán thôi, vậy mà có những bài kinh nói dữ dội như bài Phật Đỉnh Tôn Thắng á, nói tụng câu chú này công đức hơn A-la-hán. Tức là Mật tông đã đi đến chỗ cực đoan quá sức, vượt ngoài cái cái kiến giải chân chính của đạo Phật. Điều chúng ta bổ sung cho Mật tông, tức là Mật tông phải thiết lập chánh kiến với Tứ diệu đế, lấy mục tiêu vô ngã làm định hướng, phải không, phải rèn luyện đạo đức ngay từ ngày đầu xuất gia. Tại vì sao vậy?
[1:19:14]Bởi vì cái ngày đầu xuất gia tâm hồn chúng ta như tờ giấy trắng, chúng ta cần được định hướng đúng với những điều gì? Là chúng ta cần có cái lý tưởng nè, lý tưởng tu hành, giác ngộ giải thoát nè; chúng ta cần lòng tôn kính Phật; chúng ta cần cái gì? Từ bi, chúng ta cần khiêm hạ, chúng ta cần lý tưởng độ sinh, chúng ta phải phát nguyện là sau này chúng ta phải hóa được thật nhiều chúng sinh. Đó là những cái tư tưởng ban đầu khi mới vào chùa chúng ta phải được gieo mầm. Mà gieo mầm cho vững chắc để suốt cuộc đời dù chúng ta đi qua rất nhiều sóng gió nghiệt ngã, không bao giờ mình lay chuyển. Nhưng mà khi mới tu chúng ta bị quất cho năm đệ Lăng Nghiêm
[1:19:53]nằm vô trám chỗ trong tâm mình, mất phương hướng đi. Bởi vì năm đệ Lăng Nghiêm không có nghĩa lý gì hết, lại mất phương hướng đi. Chứ đúng ra nếu mà ban đầu mình được đào tạo những cái mục tiêu này cho thật vững thì mình đỡ lạc phương hướng. Đó cũng là một cái nhược điểm Mật tông mà mình phải bổ sung lại. Cho dù ví dụ quý thầy có tu theo Mật tông, quý thầy cũng nhớ củng cố cái này lại: cái lý tưởng giải thoát, lòng tôn kính Phật tuyệt đối, lòng từ bi vô hạn, lòng khiêm hạ tột cùng và lý tưởng giáo hóa hết tất cả chúng sinh, vân vân. Những cái ý niệm đó phải cho kiên cường, vững chắc, phải không?
[1:20:25]Bây giờ chúng ta nói về Theravada. Phật giáo Nam tông Theravada truyền khắp từ các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia và một phần nhỏ ở Việt Nam. Đối với Nam tông á là họ bảo vệ cái kinh Nikaya của Phật dạy rất là hay và bài bác hết kinh điển Đại thừa. Và họ cho kinh Đại thừa là ngoại đạo. Bởi vì họ biết chắc 100% kinh Đại thừa không phải Phật thuyết, cho nên họ thẳng tay nói đó là ngoại đạo, không nhân nhượng. Họ chỉ có tôn thờ kinh Nikaya và thêm bộ luận là Abhidhamma là bộ Vi Diệu Pháp, ừm. Cái các sư Nam tông thì rất chuyên chú tu tập thiền định, giữ nhiều cái giới luật thời xưa, cái nền nếp thời xưa.
[1:21:05]Do vậy được ăn tam tịnh nhục hay ngũ tịnh nhục, tức là ăn cho gì ăn nấy, mà ăn cái thứ là không phải do tự tay mình giết, phải không? Không có chứng kiến cảnh con vật bị giết, không nghe tiếng con vật nó la lúc nó chết, mà biết chắc là người ta không phải giết cho mình, người ta giết cho người ta ăn, rồi vô tình mình đi ngang người ta chia thôi, chia thôi, ừm. Ờ đến nữa nên rất là dễ. Hả? Ờ thêm nữa là cái chiếc y vàng á, y đỏ nâu nâu đỏ đỏ tí tí đất nghệ á, nó vừa đẹp mắt mà nó vừa rườm rà là báo hiệu cho mình biết là các ngài quyết liệt giữ truyền thống, ha. Giữa một cái thế kỷ mà người ta ăn mặc thời trang từng ngày
[1:21:45]đổi mốt từng ngày, các ngài cứ quấn một đống vải vô. Nó vừa có đẹp mắt mà vừa rườm rà. Đó là phải nói rất là bảo thủ. Rất là bảo thủ. Cái ưu điểm của Nam tông là thế này, là bảo vệ một đạo Phật truyền thống để kềm bớt cái sự cải cách của Phật giáo Bắc tông. Về bên Bắc tông thì cứ cải cách tới nỗi mà biến thái đi mất tiêu luôn, nhưng mà nhờ có ông Nam tông bảo thủ quyết liệt như vậy, cho nên Đại thừa phải kềm bớt lại. Nói, "Ông mà cải cách quá, ông quá xa cái gốc, người ta thấy thì ông đi xa khỏi đạo Phật, thành ngoại đạo thiệt á chứ không phải không." Nhờ vậy, Bắc tông kềm mình lại bớt. Rồi, cái sự quyết liệt của Nam tông cũng làm cho Bắc tông dè dặt bớt tự tôn.
[1:22:24]Bắc tông cho mình là Đại thừa, chê Nam tông là Tiểu thừa thì Nam tông quất lại, "Anh mới là ngoại đạo, tôi mới là đạo Phật chân chính." Quất lại một câu cái là kềm lại cái sự tự tôn của Bắc tông liền, nó cũng là cái hay. Rồi, cái sự tu tập và truyền bá phương pháp thiền định là cũng nêu cao được giá trị của đạo Phật ngày hôm nay trong thế giới đầy căng thẳng. Nên ở các quốc gia mà Nam tông người ta hay mở các tu viện, tu thiền, và nhiều người trên thế giới đổ xô về để học thiền nơi đó, nên cũng là một cái đóng góp rất là sáng giá cho đạo Phật, cho thế giới của đạo Phật. Chứ còn các Bắc tông thì lại ít có những cái thiền viện như vậy.
[1:22:58]Bắc tông thì thường là nghi lễ tụng tán này kia thôi, chứ còn mà chuyên tu thiền thì Nam tông mới hay hơn, ừm. Và chính vì là các vị Nam tông họ tôn thờ kinh điển Nikaya cho nên là kinh điển đó bắt đầu được thế giới chú ý và họ tìm thấy trong Nikaya vô số lời dạy của Phật vô cùng quý giá. Chứ còn nếu mà Nam tông không tôn thờ Nikaya dám người ta bỏ hết luôn, người ta nói Tiểu thừa. Với lời văn tối nghĩa, lời văn từ thời xa xưa mộc mạc á, không hấp dẫn, mình dám bỏ qua. Nhưng mà chính vì Nam tông họ tôn thờ quyết liệt, cho nên là buộc mình phải chú ý. Khi chú ý rồi mới phát hiện trong đó quá nhiều cái
[1:23:35]đạo lý tuyệt vời của Phật, chính Đức Phật nói. Mà nếu đọc sơ sơ mình không hiểu hết được. Rồi, sự quyết tâm mà duy trì giới luật người xưa cũng là một cái hình ảnh đẹp, giống như mình giữ những món đồ cổ vậy đó, có cái giá trị truyền thống. Mặc dù cho là nhiều khi có nhiều cái giới luật không còn phù hợp. Với so với Bắc tông thì Nam tông khắp thế giới đồng nhất hơn. Ví dụ Nam tông đó truyền qua Đức, truyền qua Anh, truyền qua Mỹ, truyền qua Úc, rồi so với cái Nam tông ở Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Việt Nam họ giống hệt nhau, không có cái sự khác biệt. Còn Bắc tông là khác à, Bắc tông mà nhích ra chút
[1:24:10]xíu là mất liền, nhích ra chút xíu là khác liền. Nhưng mà Nam tông đi đâu là cũng tụng kinh bằng tiếng Pāli, nề nếp giống giống giống nhau hết nên họ dễ, họ nhảy đi đâu cũng dễ được. Còn mình qua chùa khác là mình không sống nổi đâu, bởi vì mỗi nơi một khác. Đây là cái hay hơn.
[1:24:27]Nam tông có cái hay là tôn trọng cái mục tiêu vô ngã của Phật rất kỹ. Rồi những cái chuẩn mực từ thiết lập từ thời Phật như là tứ thiền tứ quả là họ vẫn tôn trọng và và theo đuổi. Lịch sử về Phật hay các vị thánh tăng là được kể lại mặc dù có thần thông nhưng mà vẫn thực tế và trong sáng, chứ không có huyền hoặc giống như Bắc tông, Bắc tông là thôi. Cái hay của Nam tông nữa là cái lối tu minh sát tuệ của họ theo dõi hơi thở phồng xẹp ở bụng á, nó tạo nên chân âm, khí lực rất là mạnh. Cái lối tu này thì thời Phật không có, nhưng sau này họ chế ra. Họ theo dõi bụng hít vô thì bụng nó phồng ra, thở ra bụng xẹp lại thì họ cứ theo dõi cái phồng xẹp
[1:25:01]đó thôi, không chú ý gì nữa, tạo thành lối tu. Hít vô coi nó phồng à. Xẹp xẹp à. Phồng ha, xẹp ha. Cứ vậy đó, cứ để ý vậy riết á mà họ cũng tạo được cái khí lực, cái chân âm, rồi cũng nhiếp được tâm luôn. Nhiều vị sư Nam tông có cái kết quả thiền định rất là thuyết phục đến nỗi mà được nhiều người xưng tụng là A-la-hán luôn. Bây giờ là nhược điểm. Nhược điểm của Nam tông là là bác Bắc tông quá nên không chịu bình tâm lại để nhìn những cái hay của Bắc tông, Đại thừa. Đây là cái nhược điểm. Nên phải phải xem Đại thừa có những tư tưởng hay, những đóng góp cần thiết trong cái xứ sở và thời đại đó để mình hòa hợp.
[1:25:38]Hễ là ai thờ Phật đều là anh em, dù là khác nhau, từ từ mình giải quyết cái sự tương đồng lại, chứ đừng có chống nhau. Giờ mình nói như vậy trước. Mình đi ra ngoài đường có thể là người đó chùa này chùa kia không biết, nhưng mà hễ đầu cạo, bước vô quán ăn chay cùng với nhau thì mình trong lòng mình phải nghĩ là anh em liền. Ha ví dụ mình vô quán cơm chay, mình là người tu, cái người kia cư sĩ, cư sĩ họ chẳng biết mình họ chẳng thèm chào nữa, nhưng mình cứ nghĩ trong đầu hễ chịu vô quán ăn cơm chay là anh em với ta hết. Đồng ý không? Đó, cứ vậy đó, cứ nghĩ vậy đi cho đoàn kết, ừm. Hiện nay đó, có rất nhiều cái âm mưu chống phá đạo Phật
[1:26:13]mà nếu mình mà không đoàn kết là đạo Phật sẽ suy yếu liền. Nhưng vì vậy, mình mong rằng cả Nam tông Bắc tông phải đoàn kết với nhau. Mà đất nước ta có cái hay là nhờ nhà nước tổ chức một giáo hội duy nhất, nên Nam tông Bắc tông phải ngồi chung một chỗ, không ai được coi thường ai. Nhờ vậy mình có được cái đoàn kết. Nếu mà cái này mà không giữ được là đạo Phật sẽ phân hóa trở lại liền, là Nam tông Bắc tông chống nhau liền. Nhưng mà nhờ cái cơ chế của nhà nước nói, "Phật giáo trong một đất nước chỉ một giáo hội, không cho hai, ba." Nên các sư các thầy mới phải ngồi với nhau, cũng là hay. Cái nhược điểm trong Nam tông nữa là có nhiều vị sư Nam tông á đi tới cực đoan
[1:26:46]coi cái Abhidhamma đó là Vi Diệu Pháp hay hơn kinh điển của Nikaya của Phật. Đó là dấu hiệu mà Nam tông xa rời cái cái cội gốc ban đầu. Đây là một cái cái sai. Nghe mấy sư nói phát biểu câu đó mình lạnh người luôn á. Là nói, "Tu mà nắm được Vi Diệu Pháp, Abhidhamma rồi không cần đọc Nikaya nữa." Nói, "Chết rồi, như vậy tiêu." Bởi vì Nikaya muôn đời vẫn là gốc, vẫn là từ trí tuệ của Phật mà không thể có vị nào so sánh được. Abhidhamma nói gì nói chứ cũng không thể nào so sánh được với Nikaya. Mà chưa chắc bảo đảm. Rồi cái nhược điểm nữa là cái cách thiền tập của Nam tông không thống nhất được tứ niệm xứ.
[1:27:23]Trong tứ niệm xứ chúng ta có bốn cái chỗ quán, bốn phép quán là: quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp, bốn phép quán. Nhưng mà có một số thiền viện ở Miến Điện họ tổ chức là ở cái thiền viện này quán thân thôi, chỗ khác thì quán thọ, chỗ khác quán tâm, chưa có chỗ nào quán pháp. Cho nên như vậy, tu như vậy là nó bị bị khiếm khuyết. Trong khi thời Đức Phật là tứ niệm xứ là phải tu tập chung hết, cùng một lúc hết, nhất quán, thông suốt hết, thì các sư lại chẻ ra. Như vậy cũng là một cái không còn đúng với cái cái gốc nữa. Hầu hết á, cái nhược điểm nữa là cái lối sống của các sư Nam tông rất thụ động, không chú trọng nhiều đến việc truyền
[1:28:03]bá Phật pháp, cho nên nhiều khu vực của Nam tông mất dần vào tay Hồi giáo, như miền Nam Thái Lan vậy đó. Hiện nay là là một đất nước mà Phật giáo là quốc giáo mà không lo giữ, đến nỗi Hồi giáo họ truyền được vào xong bắt đầu giờ họ nổi loạn lên. Họ cầm súng họ đánh phá tùm lum, họ giết đạo Phật, đập phá chùa đồ tùm lum hết á, miền Nam Thái Lan hiện nay. Như Indonesia cũng vậy, cũng là đất nước Phật giáo mà ngày nay Hồi giáo chiếm hết, là do các sư không truyền bá được. Hoặc là các xứ Khmer của mình ở miền Tây của mình vậy, là nào giờ nhiều đời ta theo đạo Phật nguyên thủy, rồi các sư trông coi, mà cái ông mục sư Tin Lành tới khều khều,
[1:28:36]ổng nói cho theo ổng cho 3 triệu, bỏ bàn thờ Phật đi, thờ thánh giá lên, theo liền. Ông sư lại nói, "Trời ơi, sao chơi kỳ vậy?" Nói, "Theo sư cúng dường sư mệt quá, theo ông Lục cúng dường ông Lục mệt quá, theo cái ông này ổng cho tiền." Đơn giản. Mà tại sao họ không có họ dễ bỏ đạo? Bởi vì họ không biết đạo lý. Mà tại sao họ không biết đạo lý? Bởi vì không ai dạy. Mà tại sao không ai dạy? Bởi vì không ai chịu dạy. Phải không? Thấy như vậy. Các sư không chịu hoằng hóa.
[1:29:08]Như cái Nam tông của Thái Lan các vị, là đất nước là Phật giáo là quốc giáo nhưng mà Thái Lan là một xứ mà trụy lạc khủng khiếp. Họ hấp dẫn du khách nghĩa là cái trò gì trụy lạc trên thế giới có là Thái Lan có đủ. Và các sư không làm gì để bảo vệ cái văn hóa đạo đức của dân tộc mình. Nhiều cô gái miền quê nhà nghèo lên thành phố làm gái, đem tiền về cho cha mẹ, đem đến cúng dường sư, được sư ân cần tiếp đãi, vinh dự.
[1:29:36]Chúng ta thấy, cái là các sư không có ý thức trong việc bảo vệ cái truyền thống văn hóa của dân tộc họ nên mất hết, Thái Lan mất hết. Còn bên Miến Điện á thì hiện nay là phe quân nhân họ nắm quyền nên họ bảo vệ đạo Phật. Nhưng mà cũng đang bị cái thế lực bên ngoài phá bằng cách họ dựng lên một phe của cái bà Aung San Suu Kyi là dân chủ theo Thiên Chúa giáo, đang tìm cách chống phá lại để lật đổ cái phe quân nhân đi để phá cái truyền thống, cái cái chỗ dựa của đạo Phật. Nhưng mà bởi vì là coi như cái đất nước Miến Điện á, các sư tăng được ưu đãi quá nó lại có một nhược điểm là nơi một cái tu viện mà các sư ở đó bước vô như khách sạn năm sao,
[1:30:12]ăn uống thì thừa mứa thịt cá, nhưng mà đứng trên cái tu viện đó mình nhìn xuống dưới thì những cái làng quê dân nghèo, mái vách lá, làm lụng cực khổ. Và như vậy người ta nhìn vào người ta đánh giá rằng như vậy đó chỉ là một đạo Phật có lợi cho giai cấp tăng lữ, chứ không phải là một đạo Phật mà có lợi cho cộng đồng quần chúng, họ sẽ nghĩ như vậy. Cho nên đúng ra những người xuất gia là những người đệ tử Phật, là những người đi phục vụ chúng sinh chứ không phải người mà chờ đợi để chúng sinh phục vụ mình. Nhưng mà vì chúng ta hiểu sai cái ý nghĩa của Tam Bảo, mình nghĩ mình ngon lành, mình cứ ngồi chờ người ta tới cung phụng,
[1:30:48]nên vì vậy là mất dần cái cái giá trị, người ta sẽ bị sẽ bị phê bình. Sau này có dịp chúng ta sẽ nói về cái này trong cái bài hoằng pháp. Tức là người tăng tức là người dấn thân và phụng sự, chứ không phải ngồi chờ người ta dâng bát cúng dường. Tôi nhớ có một lần á, có cái ông thầy ngày xưa ổng tu bên Bắc tông, thế sau cái ổng chuyển qua Nam tông, ổng trở lại ổng thăm chùa. Ổng thăm chùa thì thôi ổng tông nào tông thì mình cũng quý mến cái tình cảm như ngày xưa, rồi tới giờ ăn cơm ngồi ổng không thèm ăn. Mình ngồi mình thấy ổng cứ ngồi quài ổng không thèm ăn, hỏi: "Sao sư không thèm ăn?", ổng nói:
[1:31:20]"Theo luật của Nam tông phải có người lại năn nỉ ăn, cúng mới ăn." Mà không, không thèm ăn, giờ ổng lại để ổng đói, rầu ghê, bắt đầu mới nhờ kiếm cái cô cư sĩ nào không biết thôi lại đây, thế là quỳ xuống, lúc đó đại chúng vẫn ngồi ăn bình thường, phải quỳ lạy ổng tới cúng dường rồi năn nỉ sư ăn giùm, bắt đầu mới ăn. Bởi thế, phát triển Phật giáo cho nên đạo Phật mình bị thu rút dần, rút dần. Nhưng mà sự thực, các sư cũng không giữ được cái giới luật như ngày xưa. Bằng cớ là bây giờ rõ ràng các sư cũng phải giữ tiền, cũng không thể đi chân không được, cũng phải đi xe, và thậm chí đi khất thực bằng nguyên một chiếc xe lam luôn.
[1:31:52]Đi qua Thái Lan mình sẽ thấy, có bên Thái Lan có chiếc xe lam tuk tuk á. Thế là các sư thay vì mà ôm bình bát, tại vì kinh nghiệm thôi chứ không phải là mấy sư cố ý. Mới đầu các sư ôm bình bát đi các thứ, thấy sư lại cúng, người chất cái này, sư không có chỗ để nữa, để dưới chân sư một đống, bao bún, bên kia bao mì gói, một thùng mì gói, bữa nọ một một ký thịt bỏ vô, ký thịt sống, nọ sư đứng im, vây quanh là toàn đồ ăn đứng ngập tới, sư buộc lòng ngoắt chiếc tuk tuk lại, chất lên, chất lên. Mấy lần như vậy thôi, sư kinh nghiệm là lần sau sư không thèm đi, sư trước khi ra tới chùa là ngoắt chiếc tuk tuk lại chờ sẵn,
[1:32:25]leo lên đó ngồi luôn, cứ đi, ông kia lái tàn tàn tàn tàn, tới đây người ta chất lên một đống, tới kia chất lên một đống rồi lái luôn về chùa một vòng khỏi đi gì hết, cười.
[1:32:39]Nên cái bổ sung cho Nam tông á là chúng ta cần một Nam tông năng động trong việc truyền bá chánh pháp, là phải năng động lên chứ không thụ động. Một Nam tông mà thông cảm với Bắc tông, một Nam tông dấn thân phục vụ hơn là thụ động lặng lẽ ngồi chờ phục vụ, đó điều chúng ta bổ sung như vậy. Giờ chúng ta nói rút lại là trong một bối cảnh đa dạng Phật giáo như ngày nay thì chúng ta có bổn phận đi tìm lại cái chung đồng nhất, cái đúng nhất, cái hợp lý nhất của đạo Phật để chi? Để cho nghĩa là đạo Phật được đoàn kết lại. Là trong những cái mà chung đồng đó làm cho đạo Phật đoàn kết đó thì chúng ta thấy là có những
[1:33:18]giáo lý căn bản là giáo lý nhân quả phải được đề cao, được dạy dỗ lại cho đúng. Tôi vẫn ước ao có một cái lúc nào đó, chắc không phải khóa này, khóa khác tôi sẽ dạy bộ môn về nhân quả học, nghiệp học, một bộ môn. Là phải trình bày trình bày nhân quả lại, xong rồi nghỉ. Là thấy là căn bản được, đạo đức, Nikaya có rồi, thiền, hoằng pháp nữa, thêm bộ môn nhân quả nữa là được. Rồi cái mục tiêu vô ngã phải được đề cao nè, cái đạo đức phải được dạy dỗ kỹ nè, môn thiền định phải được chuẩn hóa nè, rồi những cái phương pháp hoằng pháp như thế nào là cũng phải được minh định xác định lại cho có hiệu quả.
[1:33:56]Rồi khi mà những điều đó được chuẩn hóa lại hết, tông phái nào cũng phải lấy những cái đó giống nhau, là phải tin vào sự công bằng nhân quả chứ không có ít công đức mà làm được cái quả phúc lớn. Thiền định, phải biết thiền định để nhiếp tâm, lắng tâm; phải là năng động truyền bá chứ không có thụ động ngồi một chỗ; và phải lấy mục tiêu vô ngã chứ không có bị kẹt trong những cái ngã nửa chừng như vậy. Đó. Và như vậy, chúng ta tạo thành một cái đạo Phật, một cái Phật giáo chung đồng hòa hợp, dấn thân gây tạo được nhiều công đức và làm được lợi ích cho cái cộng đồng, cái địa cầu này. Đó. Và đạo Phật nhờ như vậy mà sẽ đoàn kết lại,
[1:34:33]hòa hợp lại, mạnh lại trong một cái thế giới mà ngày hôm nay nó đủ mưu ma chước quỷ nó đang phá đạo Phật. Các đạo khác hiện nay đó họ đang tìm cách lấy cái hay của đạo Phật để họ xài và họ phá bỏ bức đạo Phật đi. Xin nhớ như vậy nha. Hiện nay âm mưu của các tôn giáo bạn, mình nên gọi là tôn giáo bạn bởi vì luật pháp quốc gia phải buộc chứ chúng ta không gọi là tôn giáo thù. Hiện nay âm mưu của các tôn giáo bạn là âm thầm học giáo lý của đạo Phật đem vô trong cái đền thờ, cái nhà thờ họ giảng, còn họ cho người lọt vào trong đạo Phật phá tan đạo Phật ra hết, xúi cho đạo Phật chống nhau. Người này chống người kia, người kia chống người nọ,
[1:35:09]người nào có tài nổi lên là dập đè xuống, tan hết đạo Phật. Nhưng mà trong nhà thờ của họ họ sẽ lần lần họ giảng những cái điều mà đạo Phật giảng. Nên như vậy, nên chúng ta phải biết đoàn kết, bắt tay, chung tay góp sức lại. Như thế nào là một đạo Phật mạnh mà đoàn kết thì đó là một cái dịp khác chúng ta sẽ nói, hôm nay chúng ta đã hết giờ. Thì cái câu hỏi là câu hỏi là: "Hãy nêu ước mơ về một đạo Phật cho thế giới ngày mai." Đó là câu hỏi rất là dễ ha. Rồi, tới đây. Có ai hỏi gì không? Cái bài hôm nay thì không có khó lắm thấy không? Dài thôi, nên phải phải nói nhanh cho kịp ý. Chúng ta còn ba bài nữa là hết môn này.
[1:35:52]Hết môn này chúng ta sẽ xin phép nhà trường thi hết môn luôn, là cũng thi luôn học kỳ hai. Rồi chúng ta có thể là nghỉ môn này chừng nửa tháng, một tháng, sau đó nghỉ nửa tháng, một tháng để tôi chấm bài, bắt đầu trở vào lại học cái môn hoằng pháp suốt ba năm luôn.
[1:36:12]Không ai hỏi gì thì thôi đứng lên. Nguyện đem công đức này,
[1:36:27]hướng về khắp tất cả,
[1:36:35]đệ tử và chúng sinh,
[1:36:42]đều trọn thành Phật đạo.