Transcript: Chánh Tinh Tấn - Phương Pháp Thiền Định - Phần 1

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:46:35

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:19]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thì ta nghe tiếp loạt bài Tứ Diệu Đế, qua tới phần Bát Chánh Đạo. Trong Bát Chánh Đạo thì hôm nay ta nghe tới phần Chánh Tinh Tấn. Bắt đầu giai đoạn khó của đạo Phật. Từ cái Chánh kiến, Chánh tư duy là ta chuẩn bị tâm hồn mình, rồi tới Chánh ngữ, Chánh nghiệp là ta chuẩn bị cho cái phước của mình, tới Chánh mạng là ta chuẩn bị cho đời sống của mình. Sau khi những điều chuẩn bị đó được hoàn chỉnh, được đầy đủ, được sung mãn, đạo đức có rồi, phước đức có rồi, đời sống có rồi, thì bây giờ tới lúc chúng ta phải chuyển tất cả những điều đó trở thành cái tâm linh giác ngộ, là bắt đầu thiền định.

[1:06]Vì nếu mà không thiền định, thì những cái phước mà ta đã làm từ xưa, nó sẽ chuyển thành cái phước nhân thiên, tức là nhân thiên hữu lậu á, tức là cứ hưởng rồi hết, hưởng rồi hết. Cứ hưởng rồi trong cái hưởng đó, chúng ta không giữ được mình, chúng ta dễ bị phạm lỗi lầm, rồi bị rơi xuống trở lại. Tất cả chúng ta ngồi đây hầu như ai cũng bị phạm điều đó. Trong những quá khứ, chúng ta cũng từng làm được rất nhiều việc phúc đức. Nhưng khi phước lên rồi, cái đạo đức ta không theo kịp, thiền định ta không theo kịp, cái vô ngã ta không có, thế là ta lại phạm lỗi lầm và rơi xuống. Nên nói á, không có phước thì đời sẽ khổ,

[1:56]nhưng nếu có phước, đời gặp rất nhiều cám dỗ. Vì lúc đó ta có quá nhiều chọn lựa. Khi có phước, ta có quá nhiều chọn lựa và hầu như chúng ta đều chọn lựa cái dục lạc của thế gian. Và ta rơi trở lại, đó là chưa nói tới những người mà bị kiêu mạn, rồi ác độc thì cái sự rơi đọa còn rất là là nặng nề. Nhiều khi là lên càng cao mà nếu phạm sai lầm thì cái đọa lại rất là nặng. Tại lúc đó, cái phước của mình ảnh hưởng tới thân phận của nhiều người. Phước ít, cái sức ảnh hưởng ta không nhiều, nên ta có gây tội thì ảnh hưởng không lớn. Nhưng nếu phước ta nhiều quá, cái ảnh hưởng của ta đố đối với cộng đồng nó rất là lớn, nên một cái sai lầm của ta

[2:47]sẽ gây cái đau khổ cho rất nhiều người, thành thử khi ta đọa là đọa rất là nặng. Thật sự là không ai có trí tuệ như Đức Phật, khi ngài dạy Bát Chánh Đạo, chúng ta đã chuẩn bị xong Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng hết rồi, bây giờ phải tới lúc tu. Tới lúc đi vào cái tâm linh thiền định để vượt khỏi cái bản ngã ngày xưa, vượt khỏi cái si mê lúc trước, mà hướng về con đường giác ngộ, giải thoát, vô ngã, nên phải đi qua Chánh Tinh Tấn. Nhưng mà khi từ một đời sống bình thường, quen với cái nội tâm loạn động và chấp ngã, bây giờ bước vào cái thiền định vô ngã, thanh tịnh là một sự chuyển tiếp, một sự thay đổi cực kỳ lớn, không dễ gì làm được.

[3:39]Cái chữ không dễ gì có nghĩa là khó. Và vì cái việc tu tập thiền định là khó, nên Phật mới dùng cái chữ Chánh Tinh Tấn, phải nỗ lực rất nhiều. Cái nỗ lực này là không phải nỗ lực làm phước nữa, mà nỗ lực này là nỗ lực ngồi thiền. Ngồi thiền là một việc khó khăn. Nhiếp tâm cho thanh tịnh là một việc cực kỳ khó khăn. Dù có phước rồi đó, nhưng không phải dễ nhiếp tâm trong thanh tịnh liền được. Cái quá trình này đòi hỏi nhiều thứ á. Chánh Tinh Tấn là cái sức mạnh thôi, nhưng ta đòi hỏi cái phương pháp, thời gian, công đức, đủ thứ hết trơn á. Nhưng mà đại diện đây là Chánh Tinh Tấn, vì nó rất là khó.

[4:29]Đó là lý do mà như như thầy thầy Toàn Định á, ổng trụ trì chùa Bửu Lâm á, cứ mỗi ngày vậy đều phải báo cáo về tổ đình cái sinh hoạt tại đó, hôm nay bao nhiêu người đến chùa tụng kinh, bao nhiêu người ngồi thiền. Nhưng có những bữa mà ngày sám hối, ngày rằm á, mới báo cáo thưa sư phụ, hôm nay 600 người đến chùa Bửu Lâm tụng kinh, ngồi thiền 90 người.

[4:58]Nói con con con con con giáo hóa làm sao mà 600 người ta bỏ về sạch, còn có mấy chục người ngồi thiền vậy trời? Nói dạ con cũng không biết nữa. Thì trách thầy cũng không được. Mà Phật tử á, nghe nói ngồi thiền, sợ. Nhất là càng lớn tuổi thì việc ngồi thiền càng khó khăn. Cái ngồi thiền mà từ lúc bé được ngồi á thì sẽ dễ dàng hơn, còn lớn mà ngồi sẽ khó khăn. Như những người tu còn nhỏ, từ cái lớp thiếu nhi, lớp thanh niên ngồi thiền còn đỡ, lớn tuổi chút xíu ngồi rất là khó. Nói cái ngồi thôi, chưa nói tới bao nhiêu kỹ thuật khác. Vì vậy, khi chúng ta có đạo tràng tu tập, thì nhiều người đến với đạo tràng khi tuổi đã lớn

[5:45]mà vẫn cố gắng ngồi thiền, thực sự đó là Chánh Tinh Tấn, là những người rất là đáng khen chứ không phải dễ đâu. Mình vỗ tay khen.

[5:56]Hồi xưa đó, lúc đó là ở chùa Từ Tân ta mỗi tháng có hai ngày tu tập Bát Quan Trai vào ngày mồng một với ngày rằm. Thì lúc đó là sư bác Từ Tân mới mời sư về để giảng. Lúc lúc đó là dạ lúc cái này đang xây thì giảng bên nhà bên kia. Ngồi dưới đất á, ngồi dưới đất chứ cũng chưa có ghế đồ đàng hoàng. Sư ngồi trên pháp tòa, Phật tử ngồi dưới đất, dòm ở dưới là trắng bóc hết á. Sư giảng cái từ từ dưới nó đen lại từ từ, đen lại từ từ. Nghĩa là cái gì? Cái đầu á, toàn là người già đi tu không à. Nhưng mà khi sư phụ giảng rồi, bắt đầu đưa thiền vào thì bắt đầu nó đen từ từ, đen từ từ, tại vì người già trốn hết.

[6:41]Cho tới khi qua cái khóa thiền, mở khóa thiền, chính thức mở khóa thiền thì hoàn toàn đen luôn. Đây còn mấy người trắng là hay lắm á, mấy người trăng trắng là hay lắm. Tức là người lớn tuổi không đủ sức ngồi. Cái bắt chân kiết già, hai chân tréo bẻ lại với nhau, giữ cái lưng cho thẳng, đừng nhúc nhích. 30 phút đầu tiên, thực sự khổ hơn tra tấn á. Khổ lắm, không phải dễ đâu, bứt rứt, khó chịu, bắt đầu chân nó từ từ nó đau. Đây ta sẽ ngạc nhiên một điều thế này: Tại sao tu bằng một cái kỹ thuật ngồi mà vất vả như vậy? Sao không ngồi cái gì cho nó dễ chịu, ví dụ ngồi ghế dựa? Ngồi ghế dựa vậy cho nó dễ chịu,

[7:24]tại sao là Phật phải bắt hai chân tréo lên rồi không được dựa? Khi ta tu lâu rồi, ta sẽ hiểu điều này. Bây giờ ta cho hai người, một người ngồi thiền bắt chân kiết già ngồi nửa tiếng, một người ngồi ghế dựa nửa tiếng. Hai người, một người ngồi ghế dựa, người ngồi kiết già, một người đứng giữa cầm cái roi, ai nhúc nhích quất một cái. Một lát nữa cái người ngồi ghế dựa giơ tay đầu hàng bỏ đi liền. Mà cái người ngồi kiết già, ngồi qua khỏi nửa tiếng ngồi luôn, vẫn ổn định được. Lúc đó ta mới thấy Phật sáng suốt, sự thật để mà ngồi lâu ổn định nhập vào trong thiền định và ngồi kiết già mới ngồi lâu được, còn mọi tư thế khác coi vậy chứ không bằng.

[8:06]À, lúc đó ta mới thấy. Nhưng ban đầu ta bị cái tê chân, bị cái đau chân hành hạ, khốc liệt, chết còn sướng hơn. Nên nhiều người người ngồi thiền mà thiếu điều khóc thét bởi vì chân đau á, cái thầy mới an ủi: "Xưa nay chưa thấy một ngôi mộ nào ghi trên cái bia 'Tôi chết vì ngồi thiền' cả, cho nên cứ ngồi đi không sao đâu, cứ ráng ngồi."

[8:33]Ngồi thiền khó, cho nên khi ta cách Phật xa từ từ từ từ rồi, người ta bỏ bớt cái thiền để tu cho nó dễ, và đạo Phật không còn đầy đủ Bát Chánh Đạo nữa. Đây là một cái thiệt thòi rất lớn cho chúng sinh. Vì nếu mà ở nơi nào cũng tu thiền, ở nơi nào cũng tu đầy đủ Bát Chánh Đạo, thì khi chúng sinh được tiếp xúc với Phật pháp, thì họ đều gặp thiền định liền, thì cái lợi ích của họ là đầy đủ, từ cái Chánh kiến cho tới cái Chánh niệm, Chánh định, họ đều học đầy đủ Phật pháp. Nhưng mà khi họ tiếp cận với đạo Phật trong thời đại của ngày hôm nay, nó bị cắt bỏ bớt rất là nhiều, mà nhất là bỏ bớt cái thiền định.

[9:19]Nhất bỏ bớt cái thiền định rồi, chúng sinh không được lợi ích, và giá trị của đạo Phật thì sao? Giảm liền. Khi ta nghĩ tới đạo Phật, người ta không còn nghĩ tới cái thiền định cao siêu giác ngộ nữa, mà nghĩ tới cái gì? Nghĩ tới những cái việc tu hành đơn giản hơn rất là nhiều. Và khi mà nghĩ tới đạo Phật, người ta nghĩ tới những điều đơn giản hơn rất nhiều, thì cái sự mà ngưỡng mộ đối với Phật pháp cũng làm sao? Cũng giảm bớt liền. Còn nếu khi người ta nghĩ đến đạo Phật là người người ta nghĩ đến những cái công phu thiền định thanh tịnh, giác ngộ của tâm linh cao siêu, thì lòng ngưỡng mộ của con người đối với Phật pháp cũng rất là rất là cao.

[10:01]Cho nên đây là một cái thiệt thòi của chúng sinh, nhưng mà bởi vì cách Phật đã xa, cái kỹ thuật thiền trong Bát Chánh Đạo, cái phần bắt đầu từ Chánh tinh tấn khó quá, nên nhiều khi đôi khi bị cắt xén. Giống như là có nhiều cái tài liệu từ xưa cũng vậy, cũng dễ bị cắt xén, thì trong đạo Phật, Bát Chánh Đạo cũng là một điều bị cắt xén. Vậy, trong thiền định trong Bát Chánh Đạo đó, phần thiền định được nói nói tới ba phần cuối cùng là: Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Chánh tinh tấn là bắt đầu dụng công thiền định, Chánh niệm là bắt đầu có kết quả, và Chánh định là có kết quả hẳn hoi. Cái phần ở giữa Chánh niệm á là phần bắt đầu có kết quả,

[10:50]vậy mà nó kéo dài cả một chi phần của Bát Chánh Đạo, rất là khó. Ta phân biệt thế này: Chánh tinh tấn là ta phải dụng công vất vả để giữ tâm đừng cho loạn động. Phần Chánh định là không giữ tâm nữa, tâm tự vào yên, định luôn, nhập định luôn, không cần dụng công. Còn cái phần ở giữa là Chánh niệm là cái phần hơi hơi, nhẹ nhàng nhẹ nhàng ta khéo giữ nhẹ nhàng nhẹ nhàng là tâm sẽ được thanh tịnh, lúc nào cũng thanh tịnh nhẹ nhàng nhẹ nhàng, hơi giữ rất ít. Dĩ nhiên mức độ chưa phải sâu, nhưng như vậy đã làm cho ta có cái niềm tin rất lớn đối với Phật pháp, vì lúc đó ta sống một cuộc đời khác hẳn rồi.

[11:33]Vì ở nơi Chánh tinh tấn á, ta còn phải chiến đấu, còn phải dụng công cho đúng phương pháp, và ta vẫn là con người của cái thế giới này. Vẫn là con người của thế giới này. Nhưng khi ta bắt đầu bước qua Chánh niệm là không cần phải dụng công nhiều mà đời sống đã bắt đầu ung dung tự tại, thực sự ta đã là một con người khác, đã sống một đời sống khác á. Lúc đó thấy mình vẫn cười, vẫn vui, vẫn bình thường, nhưng sự thật con người đó không phải của thế gian này nữa. Mọi cái suy nghĩ, mọi cái quan điểm, mọi cái nhìn đời khác hẳn khác hẳn hết rồi, không còn giống ai hết. Ừ. Lúc đó tiền bạc không mua chuộc được,

[12:16]uy vũ không khuất phục được, nói cái tính cách nó giống như một người quân tử trong đạo Nho vậy, họ thấy hiền lành nhưng mà cái sức mạnh của họ vô hình không có gì có thể phá được. Con người đã bắt đầu có Chánh niệm. Còn tới Chánh định thì thôi không nói nữa, không dụng công gì, tâm yên luôn, không cần làm gì nữa, và lúc đó người đó không phải cõi này, đâu cõi trời á, là cõi thánh gì đó, đó là khi mà tới Chánh định. Mà trong ba phần á: Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định rồi, chưa được gọi là chứng quả. Chứng quả đã nói phần trước ở Diệt đế rồi, đó là cái kết quả là thánh đạo nằm ở phần trước.

[12:55]Còn phần Bát Chánh Đạo này là phần tu tập, tu từ cái Chánh kiến, đi học đạo, rồi từ từ dụng công bao nhiêu tới, cho tới ngày hôm nay ta nói về thiền định là Chánh tinh tấn.

[13:09]Cái quan trọng của Chánh tinh tấn á, cái chữ "chánh" là đúng, cái "tinh tấn" là dụng công, dụng công cho đúng. Đúng đây là đúng cái gì? Đúng phương pháp. Vì nếu sai phương pháp, tu hoài không có kết quả, mà ráng thêm nữa, hư cái đầu, bệnh luôn. Đây là cái chỗ này đây là một điều ta phải hết sức cẩn thận khi nói tới thiền định là vậy. Vì nếu ta tà tinh tấn, ngang đó cuộc đời ta tan vỡ, bắt đầu bệnh tâm thần liền, não hư liền. Đó là lý do mà ta nghe nói cái ông đó tu thiền điên, bởi vì ổng tà tinh tấn, tu cái phương pháp sai lầm. Còn cái người mà mà tu Chánh tinh tấn á, có thể chưa đủ phước thì chưa chứng,

[13:55]nhưng không, bảo đảm không điên, không hư não, người cứ tỉnh tỉnh, khôn khôn, khỏe khỏe, để đó chờ, chờ đủ duyên để mà chứng đạo, còn không thì thôi đứng yên đó. Còn cái người tà tinh tấn, cái thứ nhất là bắt đầu họ nản từ từ. Nản từ từ, thứ hai có thể họ hư não, bị bệnh luôn. Như các thầy mình đã qua bên Hàn Quốc đến thăm một vị hòa thượng, thì khi mà đôi bên nói chuyện với nhau thì các thầy cũng trình bày cái con đường tu tập của chùa Phật Quang mình, thì cái vị hòa thượng đó người cũng rất là đức độ, coi chứ Phật giáo Hàn Quốc cũng tốt lắm nha. Vị đó nói thế này: Vị đó ngày xưa vị đó cũng bắt đầu bằng việc tu thiền,

[14:40]tu suốt 40 năm trời không kết quả, đành phải bỏ, đổi qua Tịnh độ. Ta nghe ta thông cảm hoàn toàn, ta thông cảm hoàn toàn. Với cái con người đó, với cái đạo đức đó, thực sự là những vị chân tu, nhưng chỉ bởi vì không có may mắn gặp được cái phương pháp đúng, nên ba bốn mươi năm rồi không hư não, nhưng không có kết quả và nản, rồi bỏ, bỏ thiền định, đổi qua một phương pháp khác để giữ được cái tu của mình, giữ được cái màu áo cà sa, giữ được cái đời sống trong chùa thanh tịnh, nhưng không thể tiến được nữa vì không có con đường của thiền định. Mà đã đi qua 40 năm thiền định không kết quả, ta nghe ta rất là đau xót.

[15:21]Với 40 năm đó mà nếu là có được phương pháp đúng rồi, thì bảo đảm phải có kết quả tâm linh nào đó, cũng có thể gọi là một thiền sư rồi, chứ không phải là không. Nhưng mà vì không có cái không có đường lối nên không có kết quả. Đây là cái thực trạng chung như vậy. Vậy ở đâu mà ta tìm được một cái phương pháp đúng để ta tu tập gọi là Chánh tinh tấn, cái phương pháp đúng?

[15:49]Ai đâu biết. Đây là một cái thử thách cho chúng ta, rất là lớn nha. Ta không biết ở đâu dạy đúng. Ai mở ra dạy thiền cũng đều nói mình là đúng nhất,

[16:03]mà không biết ổng kết quả ở đâu không biết, nhưng lúc nào ổng cũng nói rất là hay và nói là ổng đúng nhất. Đó là cái bệnh, cái cái tình trạng chung của các nơi dạy thiền, cả cái thế giới này là như vậy. Và nếu ta có duyên với ông nào thì ta tìm về cái ông gọi là thiền sư đó. Ta có duyên có nợ gì với ổng, tự nhiên ta mến, nghe ổng nói cái thấy thích, rồi về với ổng, ừ vậy thôi. Còn mà ta không có duyên thì nhiều khi ông thầy khác cũng dạy hay hơn à, nhưng ta không có duyên, thế là ta cứ lãng lãng lãng lãng đi bên ngoài, rồi hư một cuộc đời tu tập của mình rất là uổng. Cái gọi là cái duyên rất là khó giải thích vì nó thuộc về ở tiền kiếp.

[16:48]Như khi ta thương một người nào, nhiều khi ta xin ta xem lại ta thấy cái lý do nó không rõ đâu, nhưng mà chỉ bởi vì có duyên từ kiếp trước nên ta thương một cách tự nhiên, và thôi không thắc mắc, không thắc mắc bởi vì nó thuộc về nhân quả, thuộc về duyên nợ. Giống như ngày hôm qua vậy, có một người nhắn tin cho thầy nói: "Hôm nay con không đến khóa Thiền Từ Tân để nghe sư phụ giảng pháp được vì hôm nay giỗ của ba con". Thì thầy mới nhắn tin thầy trả lời: "Thầy cũng không đến được thắp nhang cho ông cụ. Con thắp nhang giùm cho sư phụ, và nói với ba con rằng thầy rất thương ba con".

[17:31]Mà trong đời thầy chỉ gặp ổng hai lần: một lần ổng lên núi thăm thầy, một lần thầy về nhà thăm ổng, nhưng mà thầy thương ổng sâu đậm.

[17:41]Cũng không bao giờ nói chuyện, tại ổng cũng già, ổng quê mùa, ổng cũng không biết nói gì, thầy cũng chưa bao giờ tra trao đổi, cũng không bao giờ ổng có điện thoại để nhắn tin. Nói chung chỉ cần một lần ngày xưa lắm ổng lên núi thăm ngồi đó ổng cũng ngồi đó ổng cũng không nói gì, rồi ăn bữa cơm rồi về. Rồi thầy về tới tận nhà thầy thăm ổng, hình như cũng ăn bữa cơm rồi về, ổng cũng cười cười không nói gì, nhưng lòng thầy rất là thương. Chỉ bởi vì cái duyên nợ, thầy hình như kiếp xưa thầy ở nhờ ổng hết 6 tháng, và ổng rất thương thầy trong thời gian thầy ở đậu đó, và thầy cũng rất thương ổng, cái tình cảm tới bây giờ và cũng

[18:16]không giải thích được cái tình thương yêu như vậy. Nên khi ta chọn một vị thầy để ta tu tập thiền định á, thì ta sợ nhất cái duyên nó chi phối ta. Ta không biết ông thầy đó đúng hay sai, mà chỉ vì ta thương ổng, ta nghe lời ổng rồi theo ổng, mà nhiều khi ổng dạy trật lất. Cái đó mới oan cuộc đời đó, đây mới là cái oan, vì cái duyên xưa nó kéo ta chứ không phải vì trí tuệ ta kéo ta. Nên cái chỗ này thì làm sao giữa nhiều người dạy thiền thì làm sao ta chọn được cái người dạy đúng mà ta không bị cái duyên xưa nó kéo? Chớ cái duyên xưa lại nó kéo ta qua ông thầy mà ông thầy ấy chưa chắc đúng à. Còn nếu mà ta may mắn, ta được cả hai:

[18:58]ta lựa được ông thầy dạy đúng mà kiếp xưa ta có duyên với ổng, ta vừa thương ổng mà được đón nhận một phương pháp thiền rất đúng của ổng, thì đó thật là may mắn trong đời.

[19:12]Không biết mấy người ngồi đây có may mắn không, không biết nữa, không biết may hay xui.

[19:22]Thì trong trường hợp này đó, ta chỉ còn có một cách duy nhất là lễ Phật xin thôi. Ờ là xin Phật gia hộ cho con gặp được một vị thầy dạy thiền đúng với ý của Phật nhất. Thì lúc đó đó trong trường hợp ta có duyên với một ông thầy này ổng dạy sai, nhưng mà vì cái lời xin của ta đối với Phật, Phật dắt ta qua ông thầy kia. Lúc đó ta vẫn thương ông thầy này nhưng ta vẫn phải học với ông thầy kia thì đó là điều may mắn. Cái duyên xưa ta không phụ, vì vì ta vẫn thương ổng không có bỏ ổng, nhưng mà thầy thông cảm, thầy thầy dạy nó có cái vấn đề gì đó nên Phật bắt con qua ông này, con dạy sẽ tốt hơn, con dạy xong mai mốt con về con góp ý với thầy lại không sao.

[20:03]Thì thầy vẫn thương con con vẫn thương thầy mà, à không sao, nhưng mà cái kỹ thuật thiền á là một điều nghiêm túc, nó là một điều lớn lao hơn những cái duyên nợ cá nhân. Con với thầy có duyên nợ cá nhân, nhưng chánh pháp của Phật là một điều thiêng liêng, vượt hơn hơn những cái tình cảm ư tầm thường, nên con xin phép thầy thông cảm. Lâu lâu con cũng về thăm thầy, không sao. Ha, nó đành phải như vậy. Đó là một cái cách như vậy. Rồi còn một cái nữa, cái ông thầy mà ổng dạy á, hầu hết tất cả những thiền sư dạy thiền đều lấy kinh nghiệm của mình ra dạy. Ngày xưa mình đã tu cái gì, mình chứng bằng cách nào thì đem nó dạy lại đệ tử.

[20:43]Nhưng khổ nỗi khổ nỗi là cái kinh nghiệm của ông thầy nó không phù hợp với người chúng sinh khác. Và cái kinh nghiệm của ông thầy chỉ là một góc nhỏ trên một cái bản đồ toàn diện của thiền định. Cái bản đồ toàn diện của thiền định đó là một bản đồ lớn đầy đủ những phép chỉ phép quán. Như ông thầy ổng phước ổng lớn quá ổng tu sơ sơ một góc nhỏ cái ổng chứng mất tiêu, ổng nhập định được liền. Rồi ổng đem góc nhỏ đó ổng dạy chúng sinh không lợi ích được. Tại vì chúng sinh cần một cái con đường dạy về chỉ quán đầy đủ hết toàn bộ cái bản đồ. Nên đây lại là một cái một cái vấn đề thứ hai mà làm cho người ta tu thiền không kết quả.

[21:25]Chỉ bởi vì ông thầy ổng dạy sơ sài. Mà tại sao ổng dạy sơ sài? Bởi vì ổng tu sơ sài. Ổng tu sơ sài sao ổng chứng? Vì cái phước ổng đủ. Nên đây ta sợ cái mấy người có phước là vậy đó. Thấy hay nhưng mà lại là cái họa. Cũng giống như bây giờ mình đến mình hỏi một ông nhà giàu, phải không, dạy tôi làm giàu. Ổng nói: "Ờ ban đầu tui tui ra cái lại cái nhà vườn, tui mua 10 trái táo, tui lau cho sạch sẽ tui gói lại cho đẹp, tui đem ra ngoài đầu đường tui bán. Cái là bữa hôm đó tui lời được 50 đồng. Rồi qua ngày hôm sau tui lại cũng mua như vậy, đem ra đầu đường tui bán tui lời được 50 đồng. Qua ngày thứ ba, ông nội tui chết để cho tui một

[22:15]triệu đô." Đó cái cách làm giàu là vậy đó. Vậy b- vậy bây giờ mình có ông nội chết để lại triệu đô không? Thế mình bắt chước ổng mình đi mua trái táo mình bán rồi chừng nào mình giàu? Thấy không? Đó cái cách ổng là ổng buôn bán sơ sài rồi bất ngờ cái phước tới ổng giàu chứ không phải vì cái ổng bán trái táo mà ổng giàu. Nhưng ổng dạy mình ổng sẽ dạy cái gì? Dạy mình bán trái táo, đời nào mình giàu. Rồi dạy mình cái gì? Chờ ông nội chết. Mà đâu phải ông nội nào cũng có một triệu đô để cho mình. Đó. Nên cái ông thầy mà ổng dạy lại lệ thuộc vào kinh nghiệm của ổng, ví dụ như ông thiền sư cũng vậy.

[22:56]Ổng nói ổng xô cửa vô hỏi ông thầy mình: "Thầy, thế nào là đại ý của tổ sư?" Ông thầy lấy cây quất cho cái bớt, ổng ngộ đạo. Thế là từ đó cả cuộc đời ổng ai hỏi đạo lấy cây ổng đập không à. Rồi cứ nói là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, không cần nói gì nữa trơn á, đập thôi là nó ngộ đạo, tại ngày xưa người ta đập ổng ổng ngộ đạo, còn bây giờ ổng vác coi ổng đập cả một đời ổng chỉ đập, và không ai ngộ đạo, chỉ người ta đau thôi, rồi người ta không biết gì người ta giận người ta bỏ đi luôn á. À. Nên cái kinh nghiệm của ông thầy nhiều khi lại là một cái điều hạn chế, đôi khi lại là một cái họa.

[23:35]Các thiền sư bị cái đó nhiều lắm á. Các thiền sư bị cái đó nhiều lắm. Ơ nếu ta may mắn mà gặp được một ông thầy nào ổng dạy cả một cái bản đồ chỉ quán đầy đủ, thì ta thực hành từng bước đầy đủ hết. Thì sau này ta sẽ dạy lại cho người khác, bản thân mình tu có lợi ích và mình sẽ dạy được cho người khác nữa. Nên như ừm sư phụ dạy vậy, thầy dạy thiền vậy, có nhiều người cũng dễ dàng đạt được kết quả, thầy bắt không. Tu lại cho đủ chỉ quán hết. Phải kinh nghiệm đi từng bước chỉ quán lại cho đủ hết, để sau này còn dạy người khác. Còn mới tu sơ sơ ngang đó có kết quả rồi là đứng ngang đó luôn và hủy diệt đạo Phật luôn.

[24:19]Bởi vì sau này mình dạy sơ sài, dạy ẩu. Mình có kết quả nhưng không ai có kết quả nữa. Vì cái duyên mình là chỉ tu nhiêu đó là được, nhưng người khác phải tu thêm bao nhiêu bước nữa. Và mình phải biết hết bao nhiêu bước, bao nhiêu kỹ thuật của thiền định để dạy người khác. Nên cái dạy thiền á, học thiền và dạy thiền phải học cho hết và dạy cho hết. Chứ nếu ta bị gói lại một góc nào nhỏ thì nhiều khi bản thân mình có thể có lợi ích nhưng sẽ không lợi ích cho chúng sinh. Hôm nay cái bài giảng này rất là khó nghe, chuyên sâu về thiền nên mọi người ráng nghe nha. Còn ai mà cảm thấy lơ mơ ngủ thì nhiều khi đây cũng là thay cho thuốc an thần, cái bài này nó vậy đó.

[25:02]Bài này nó khó lắm mà nghe.

[25:07]Nên thôi khi ta học về chánh tinh tấn á ờ là ta cần học đầy đủ hết về cái kỹ thuật về chỉ, về quán cho đầy đủ. Chứ đừng nghe cái ông đó ổng tu chứng mà dồn hết cuộc đời mình cho ổng, bởi vì đây là kinh nghiệm của mấy ngàn năm trong đạo Phật. Mấy ngàn năm trong đạo Phật ta bị cái tình trạng những người tu có kết quả nhưng dạy sai. Đây là một điều có thật và làm sao khiến cho sau này trong đạo Phật không còn ai có kết quả nữa, tu rất là khó. Như một ông hòa thượng bên Hàn Quốc ổng than, nói: "Tôi tu thiền 40 năm rồi không kết quả, đành phải bỏ." Rất là tội, nghe đứt ruột luôn vậy, đó là chỉ vì do đó, khi ta nghe ông thầy ổng chứng chứng

[25:50]chứng, đừng làm ơn cẩn thận lại, không biết ổng dạy cái gì. Cái quan trọng ổng dạy cái gì, có phù hợp cho tất cả chúng sinh không? Nên ở đây là thế này, ta cần một phương pháp giống như một cái lưới của Phạm Thiên á, tung ra một cái lưới thì cá lớn cá bé gì bị gom lại hết. Thí như ta tung một cái lưới đánh cá như một người ngư ngư dân đánh đánh đánh đánh cá bằng lưới, ở đây có ai thấy mà quăng lưới trên sông chưa kìa? Cảnh rất là lãng mạn á. Ông nông ông ngư dân ổng cực khổ nhưng mình nhìn cái cảnh đó mình chụp hình rất là đẹp, còn ổng thì đổ mồ hôi, bắt được con cá rất là khổ, là ổng cái lưới dưới rất là to và dưới lưới nó có cái chì nó nặng lắm,

[26:35]ổng phải dùng hết sức mạnh ổng tung ra để nó trải ra một khoảng diện tích mấy mét vuông thôi, rồi nó chìm cái lưới xuống, con cá nào xui lọt vào trong cái lúc mà cái lưới đang chụp xuống thì nó dính lại. Nhưng mà nó có mấy loại lưới, thì cái lưới mà mắt to đó, thì mấy cá nhỏ nó sẽ thoát ra. Còn lưới mà mắt nhỏ đó, thì cá lớn cá nhỏ gì cũng bị gom bắt hết. Thì ở đây vậy, ta cần cái loại lưới nhỏ, mắt nhỏ, tung ra một cái thì cá nhỏ cá lớn gì bắt hết, chúng ta là cá. Mà cái lưới đó là gì? Là phương pháp thiền định. Ta cần một phương pháp thiền định đầy đủ, là lưới mắt nhỏ đó, chụp một cái dính mình liền,

[27:13]đó là mình là con cá nhỏ, mình là cái sơ cơ, nhưng mà cái phương pháp nó chu đáo quá, cái phương pháp chỉ quán đó chặt chẽ quá, thế là mình không thoát được, là mình ứng dụng cái phương pháp đó có kết quả liền. Dù là ít, căn cơ mình thấp, mình ít nhưng có kết quả vì mình đã dính vào trong cái lưới đó rồi. Chỉ sợ ông thiền sư ổng tung cái lưới to, ổng tung ra cái đó là dính ai chứ còn mình bị lọt ra khỏi cái lưới. Cái phương pháp ổng dạy nó không kỹ, nên ai căn cơ cao thì có kết quả, còn mình căn cơ thấp lại bị lọt ra ngoài. Là đây cái chỗ ta cần một cái kỹ thuật rất là là chu đáo, chặt chẽ, chi ly, tỉ mỉ.

[27:57]Thì cái kỹ thuật về thiền á, nó gồm hai hai hai yếu tố là chỉ và quán. Chỉ, trong chữ Nho có nghĩa là dừng lại, stop, dừng lại. Đ- đình chỉ, chữ chỉ vậy. Nhưng mà nếu ta dùng cái ngôn ngữ kiểu khoa học thì ta gọi nó là kỹ thuật, một kỹ thuật. Cái thứ hai là quán, quán tức là soi, quán tức là soi là nhìn thấy một cái gì đó, một lẽ phải nào đó, một chân lý, một đạo lý nào đó, mà cái nhìn đó làm cho tâm ta thanh tịnh. Hai cái chỉ và quán này hai cái cách khác nhau trong thiền định, nhưng mỗi một cái có cái giá trị của nó. Chỉ á là một kỹ thuật để trị cái thân của ta, vì thân của ta cái cấu trúc sinh lý của nó

[28:52]là tạo ra vọng tưởng, nhớ như vậy, cái cấu trúc nó rất là phức tạp. Bộ não của ta tự nó mặc định là phải luôn luôn suy nghĩ. Đây đó đó là bản năng tự nhiên, đó là lý do ta rất khó nhiếp tâm, vì bộ não của ta tự nó luôn luôn phải suy nghĩ, nó được mặc định như vậy. Nên khi mà ta tu tập để làm cho nó dừng cái sự suy nghĩ là ta đang chống ngược lại cả cái bản năng một cái hệ sinh lý của cơ thể, không phải dễ chút nào. Cái cơ thể của ta tự nó cứ khởi vọng tưởng, nên chỗ này mà chỗ mà Phật nói là thân này không phải ta, tâm này không phải ta là vậy đó. Trong cái tập Đỉnh Núi Tuyết thứ 64 chúng ta sẽ gặp cái đoạn

[29:35]hội thoại giữa Đức Phật với ngoại đạo về cái chỗ này. Đức Phật chứng minh là thân này không phải ta, tâm này không phải ta, là ở cái chỗ ta ra lệnh nó không được. Cái thân này ta bắt nó đừng bệnh, nó muốn bệnh nó bệnh. Tâm này ta bắt nó đừng suy nghĩ, không được, nó cứ suy nghĩ, làm gì nhau? Đại khái vậy. Trong cái cơ chế của cái vọng tưởng vậy, ta không ra lệnh cho nó được, vì nó là điều tự nhiên của não bộ. Và cái khờ dại nhất của cái người tu thiền là tìm cách diệt vọng tưởng một cách trực tiếp. Khi ta tìm cách diệt vọng tưởng một cách trực tiếp thì có thể một tuần sau, một tháng sau hay tối đa 3 năm sau ta điên.

[30:23]Điên liền, không nói gì hết. Có nhiều người vậy, cũng khỏe mạnh, vui vẻ, xong thời gian vắng không nghe gặp lại, hỏi: "Ông đó làm sao rồi?" Nói: "Dạ, ổng điên rồi." Hết hồn liền, nói: "Sao vậy?" Ổng tu thiền, ổng luyện khí công, ấy rồi do ấy để tâm trên đầu, chú ý trên đầu,

[30:44]và trực tiếp tìm cách diệt trừ vọng tưởng, bộ não hư liền. Nên cái não bộ ta là một cơ chế phức tạp, và cái não bộ của ta nó ảnh hưởng tới toàn bộ cơ thể của ta. Cho nên ta nhìn cái đầu đừng nhìn cái đầu, mà nhìn toàn bộ cái cơ thể của ta. Nó ảnh hưởng từ dưới lên. Nên nếu ta xem cái cuốn mà Thiền Học Vấn Đáp, có coi chưa ta? Thiền Học Vấn Đáp, thì trong đó có câu trả lời: "Cái gốc của vọng tưởng nằm ở đâu?" Nằm dưới bụng, chứ không phải nằm trên đầu. Đây là điều rất là lạ. Thế giới chưa hề biết, chỉ có mấy người đọc cái cuốn Thiền Định Vấn Đáp mới biết thôi, thế giới chưa biết câu này. Cái gốc của vọng tưởng nằm ở dưới bụng, không phải nằm trên đầu.

[31:29]Đó là lý do mà cái người tu thiền không bao giờ khờ dại để tâm trên đầu. Nên cái phương pháp chỉ á là phương pháp đối phó với cái vọng tưởng có nguồn gốc sinh lý của thân, nên nó là kỹ thuật, kỹ thuật hoàn toàn, không có lý luận, không cần lý luận nhiều. À những phương pháp ta theo dõi hơi thở, ta để tâm chỗ này chỗ kia, nó là một loại kỹ thuật không có lý luận, và nó đối phó với cái nguồn gốc của vọng tưởng có nguồn gốc từ sinh lý của thân, ta nhớ như vậy. Còn quán là cái gì? Quán là ta suy ngẫm

[32:04]về đạo lý hay gọi là soi đến một cái sự thật, cái bản chất của thân tâm và cuộc đời như thế nào mà khi ta thấy đúng về nó thì vọng tưởng không khởi. À, cho nên quán là một cái cách mà đối trị vọng tưởng có nguyên lý, có có nguồn gốc của tâm lý, đối trị vọng tưởng có nguồn gốc của tâm lý. Hai cái đó đi nhau đi song song với nhau là vậy. Chỉ là đối trị vọng tưởng có nguồn gốc của của sinh lý của thân, và quán là đối trị vọng tưởng có nguồn gốc của tâm, tâm lý. Hai cái phương pháp đi kèm nhau và ta phải biết hết, ta phải biết hết. Để ta biết hết để lợi ích cho chính mình và sau này ta có thể dạy người khác được.

[32:50]Nên mỗi người học thiền đều phải chuẩn bị cái tâm thế là phải dạy được cho người khác. Nên mình phải biết hết và phải thực hành vất vả để dạy cho người khác. Và cái nhân quả là thế này: ai lúc nào cũng tìm cách chia sẻ điều tốt đẹp cho người khác thì người đó được cái nhân quả được cái quả báo là gì? Sẽ rất là giỏi, rất là giỏi.

[33:19]Hồi xưa thầy học giỏi. Này khoe lại chút. Chỉ bởi vì cái lý do là thầy học cái gì thầy cũng nghĩ cách chỉ lại cho người khác á. Hồi xưa là không có cái lớp học đàng hoàng đâu, không có tài liệu học gì đâu. Thầy phải học chữ Nho ở trong cốc một mình, trong cái chòi nhỏ một mình, tự học chữ Nho. Đến xin thầy của thầy nói: "Thầy ơi, sao tự nhiên con thích học chữ Nho quá, thầy cho phép con học chút chút." Thầy nói: "Học nhiều chứ học chút gì chú." Thế là về cứ mày mò tự học. Mà khi thầy học như vậy, mà hồi đó cái vở viết ít lắm nè, không có nhiều vở viết đâu. Có một cây viết, có một cuốn vở là mừng lắm á,

[33:58]không có chứ không có nhiều đâu, thời xưa cái xã hội mình còn nghèo. Thầy ngồi mà thầy viết rất là kỹ. Viết và phân tích nét nào viết trước, nét nào viết sau, nghĩa là gì, tại sao cái cái nét đó là như vậy, nó cộng lại bao nhiêu nét để thành cái nghĩa đó, thầy phân tích rất là kỹ để sau này người khác cầm cái cuốn đó lên học nhanh liền. Vì mình vừa đang học mà đã nghĩ tới cái cái truyền lại cái này cho người khác được dễ học giống như vậy. Rồi mình mới thấy à thì ra cái nguyên nhân của cái việc học giỏi là vì mình hay dạy người khác. Khi mình học đã nghĩ tới cách chia sẻ kiến thức này lại cho người sau chứ

[34:34]không phải giữ một mình, thì ra nhân quả của việc học giỏi là ở chỗ này, chứ không phải là tại mình giỏi, mà tại vì có cái nhân quả của nó. Lúc nào cũng muốn chia sẻ kiến thức cho người khác. Thì trong thiền định này cũng vậy. Ta mơ ước xây dựng một tinh cầu giác ngộ. Cả thế giới này chúng sinh nào cũng có thể bước vào thiền định được hết, mà sau này thiền định sẽ trở thành một điều bình thường, tự nhiên như là cơm ăn, áo mặc, như là việc tập thể dục mỗi ngày của mỗi con người. Ngày hôm nay đó thì thể dục được xem là một môn tập luyện khá như là bắt buộc của các nhà trường, của các cơ quan, các công sở và trong các gia đình.

[35:17]Sau này thiền định cũng sẽ là như vậy. Sau này thiền định cũng sẽ là một điều tập luyện tự nhiên của cả loài người trên thế giới này. Nhưng mà cái điều quan trọng là cái ngày đó nó tới thì con người đã nắm hết kỹ thuật thiền định chưa? Chỉ, quán đã hiểu hết chưa? Hay là còn hiểu lơ mơ, thiếu thiếu, tu điên à? Phải tu cho đúng, cái quan trọng là vậy. Đó là lý do khi ta nghĩ tới ngày đó, ta nghĩ tới cái ngày sau mà ngày sau thế giới tìm đến bên nhau, ngồi thiền bên nhau, hạnh phúc vô bờ thì cái phương pháp phải đầy đủ, phải đúng. Và cái trách nhiệm đó là ở nơi chúng ta ngày hôm nay. Ngày hôm nay khi chúng ta bắt đầu vào ngồi thiền vậy,

[35:58]ráng tu cho đủ, tu cho đúng để sau này ta tiếp tục truyền lại cho người khác cái đủ, cái đúng đó và mọi người được lợi ích. Phải nắm chỉ và quán rất là là kỹ là như vậy.

[36:19]Hôm nay chúng ta nghe bài pháp này không có tính thời gian nha, không tính thời gian. Tới tới đâu nó tới, tới nào hết thì thôi nha. Không cần ăn cơm, không cần uống nước, không cần gì hết, không cần nha. Quên hết, vợ chồng con cái là thôi bữa nay stop hết nha. Này chỉ nay chỉ có bài chánh tinh tấn thôi. Nói lỡ đang ngồi thiền á lỡ đang nghe pháp mà nhớ người yêu sao? Vọng tưởng, bỏ đi nha, có đó nha. Nhưng mà trong cái chỉ và quán đó, nhớ lúc nào có cái gì? Cái phước là cái nền của chúng ta. Chúng ta bước đi trên cái nền tảng của cái phước đó. Nếu chúng ta bước đi trên con đường thiền mà nó không có cái nền phước là sao?

[37:01]Vấp và hụt chân, và có khi hết phước rồi nó là cái vực, ta rơi xuống vực liền. Nó không còn là con đường nữa mà con đường đã bị đứt và nó là cái vực, rớt té liền á, té liền. Nên lúc nào cũng phải nhớ vậy, mặc dù ta đã tu đề đầy đủ từ cái chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh ngữ này kia nọ rồi, có tạo phước rồi, nhưng trong lúc tu thiền vẫn là phải làm sao? Vẫn phải tiếp tục mà mà làm phước, không được dừng. Vì phước là cái nền của thiền định, là như vậy.

[37:34]Bây giờ ta nói về phép chỉ trước, những cái kỹ thuật từ căn bản cho tới lên cao từ từ, mà mỗi cái căn bản lên tới cao này trong ngày hôm nay ta nghe liệt kê qua một cái hết liền, nhưng mỗi một phần đó ta phải tu tập mất 1 tuần, 1 tháng hay 1 năm mới mấy vài năm mới tới á. Nhưng mà nghe hôm nay thì biết cho hết nha. Tại vì có khi là mình căn cơ mình nhanh, mình tu một phần đó 1 tuần xong, tuần sau qua phần khác. Nhưng có khi căn cơ mình không phải nhiều, cái phần đó mình tu 3 năm mới xong, nhưng biết thì phải biết hết. Nên bây giờ ta liệt kê từng cái một chút xíu. Thứ nhất, cái căn bản của phép chỉ là ngồi đúng tư thế kiết già.

[38:19]Đây là thử thách đầu tiên, thử thách đầu tiên. Cho nên người lớn tuổi sẽ vất vả, bởi vì cái chân bắt chéo lên đau vô cùng.

[38:30]Và đây là lý do nhiều người sợ, người thấy lớn tuổi rồi nghe nói tới thiền trốn. Nhưng mà không sao, như sư phụ nhớ ba của mình cũng vậy, ông mất rồi. Khi ông ông đi tu rồi tuổi đời cũng đã lớn, rồi lúc đó thầy chỉ gửi cho ông mấy cái cuốn kinh Nikaya của Phật, ông ngồi ông đọc tới đọc lui và ông bắt chân. Là người già bắt chân khó đó, tại ông đã lớn tuổi lắm rồi mới đi tu. Vậy mà sau này có khi ông ngồi tới 3 tiếng đồng hồ. Cho nên là là là là thì cái căn bản ta nói là người lớn tuổi ngồi thiền sẽ khó nhưng không phải quá khó, ta vẫn có thể vượt qua được. Còn người trẻ thì ta cố gắng ngồi nha, ráng ngồi.

[39:13]Nhất mấy đứa nhỏ thì ngồi dễ lắm, mấy đứa nhỏ. Cái ngồi thiền đúng tư thế thì ta đi tìm các thầy, các cô để hướng dẫn cách bắt chân nào trước, bắt chân nào sau, tay để lên như thế nào, lưng thẳng mà đừng thẳng quá, hai vai xuôi, người buông lỏng, mắt nhìn xuống như thế nào. Thì mấy cái đó là nên được hướng dẫn trực tiếp, chứ còn nói qua lời nói thì nhiều khi ta hiểu nhầm. Cái đó phải được minh họa, được có người hướng dẫn từng bước như vậy. Điều đặc biệt là khi ta ngồi cái tư thế kiết già đó, hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và cái bụng dưới tụ lại một chỗ. Đó, đó là cái ý chỉ mà không có một tư thế nào khác có bằng được.

[39:59]Ta bắt chéo hai cái chân là hai lòng bàn chân xích lại gần bụng. Ta đặt hai cái bàn tay lên với nhau ngay trước hai bàn chân là hai cái lòng bàn tay cũng tụ về chỗ đó luôn, nên gọi là ngũ tâm quy tụ. Một cái bụng dưới cũng gọi là một cái tâm, hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân là bốn cái tâm là năm cái tâm tụ lại một chỗ. Đó là về kỹ thuật á. Ban đầu là vậy. Đó là lý do tại sao mà ngồi kiết già nó quan trọng như vậy. Rồi khi ta ngồi ta giữ cái lưng cho thẳng. Tại vì ngồi cái lưng cong rồi cái khí lực nó không chạy điều hòa, mà đừng có ưỡn quá. Ưỡn quá thành ra dằn ép nó sẽ căng não. Nên cái độ thẳng của xương sống nó lại một cái độ chính xác mà ta tự cảm nhận.

[40:43]Cái này phải khôn ngoan thôi, không ai dạy mình được. Nhiều khi mình ngồi thiền, quý thầy cô thấy quý thầy cô gõ gõ vào cái lưng để cho mình thẳng. Nhưng quý thầy quý cô cũng không thể điều chỉnh giùm mình cái mức độ thẳng chính xác được, chỉ mình tự biết thôi. Tại vì mình thẳng quá, mấy thầy cô thấy thẳng thẳng được rồi bỏ đi, đâu có biết là mình đã thẳng quá, mình ưỡn thẳng quá. Ưỡn thẳng quá thì căng não liền, mà nếu mình chùng quá nó không phát huy được tác dụng, nó không cái cái khí lực của mình và sự tỉnh giác nó sẽ giảm bớt liền. Nên cái độ thẳng của lưng tự mình biết. Cái này là không ai không ai làm thế cho mình được.

[41:22]Có những điều không ai làm thế cho mình được, không ai chỉ mình được, chỉ sơ sơ thôi, tự mình phải biết, vậy thôi. Thì khi bắt chân ngồi kiết già rồi, tay để vị trí đúng rồi đó, cái hai miệng ngậm lại, lưỡi đặt lên chân răng trên, mắt nhìn xuống chứ chưa nhắm. Ở giai đoạn đầu ta không nhắm mắt, ta nhìn xuống thôi. Nhìn xuống nhìn, nhưng mà không có nhìn soi xăm xăm cái cái cái cái chỗ cái đất ở phía trước mình. Tại vì ta mắc cái gì? Ta đang mắc chú ý bên trong của mình, về thân chứ không có nhìn mở mắt. Mà cái mở mắt ở ban đầu nó có cái tác dụng là gì? Ta nhúc nhích cái ta biết liền. Ví dụ mình mở mắt mình ngồi vậy cái mình thấy cảnh

[42:01]vật nó rung rắc cái mình biết mình chỉnh lại. Nên cái người mà ngồi thiền mà bị dao động nói: "Làm ơn mở mắt ra!". Tâm chưa đủ vững để nhắm mắt thì không được nhắm mắt, cứ phải phải mở mắt để biết mình có lắc hay không. Rồi tới sau một giai đoạn không biết bao nhiêu năm á mà tâm mình đã thanh tịnh, đã tỉnh, đã sáng và cái tâm nó giữ thân mình cứng ngắc, lúc đó mới nhắm mắt. Và nhắm mắt sẽ đi vào sâu luôn. Nên phải đợi tới lúc đó, chứ ban đầu cứ phải mở mắt nhìn xuống một chút như vậy. Có nhiều người nhắm mắt vội quá cái người bị lắc không hay, mà tưởng đó là cái gì đó, thiền lạc, thiền hỷ đó, sự sung sướng trong thiền, ai ngờ đâu trật lất à.

[42:44]Cái thiền lạc, thiền hỷ là thân phải rất là vững. Khi mà ngồi đúng hết rồi thì bắt đầu tác ý giữ cái thân là: "Giữ thân đừng nhúc nhích". Đó, đừng... Đây là cái thử thách kế tiếp nè, bắt chân lên đã đau rồi, bây giờ đừng cho nhúc nhích. Mà chúng ta dễ chịu chỉ khi nào được? Được nhúc nhích. Ngồi vậy chứ đâu có, cứ phải nhúc nhích hoài chứ đâu có ngồi yên được đâu. Cái người nghiêm túc nhất coi vậy chứ nếu mà soi camera mà chạy nhanh ta sẽ thấy người đó nhúc nhích nhích nhích nè. Tại vì ai cũng phải nhúc nhích chút xíu để cho dễ chịu. Còn khi ta ngồi thiền không được nhúc nhích là cái khổ đầu tiên đó.

[43:20]Cái cái vọng tưởng chưa nói, giữ cho thân cho yên đã là cái khổ đầu tiên. Nhưng đó là kỹ thuật, bắt buộc phải như vậy. Vì nếu ta không kỹ về thân, sau này cái sự dao động của thân nó phá tan cái công phu thiền định, mình không nhiếp tâm sâu được. Nên cái căn bản phải đi cho chắc, giống như mấy ông thầy tập võ vậy, ổng dạy đệ tử ổng dạy cái tấn trước à. Nói: "Sao thầy không dạy con đánh đấm này kia mà cứ bắt đứng không à?". Ổng nói: "Ờ, cái chân phải đứng cho vững, cái chân phải đứng thấp, sàn cái bước tấn này đi cho thật kỹ rồi sau này cái tay mình đánh mới linh hoạt". Cái ông thầy dạy võ ổng cũng vậy.

[43:52]Cũng vậy, khi ngồi thiền là nói nhiếp tâm, nhưng mà làm ơn ngồi kiết già cho kỹ, đừng nhúc nhích. Nên cái giữ đừng nhúc nhích thì giữ làm sao? Mình đâu có lấy dây bó hay cây sắt kềm kẹp cái thân mình được đâu, vậy giữ thân không nhúc nhích là bằng cái gì? Bằng cái gì? Bằng cái tâm mình thôi. Phải không à? Chỉ bằng tâm mình tự kiểm soát toàn thân. Cho nên lúc này tâm là kiểm soát cái thân, tâm giữ cho thân đừng nhúc nhích, xử lý cái thân là bắt đầu bằng cái tâm. Là đây là cái ta không nói tới vọng tưởng nha, nên nghĩa là: "Vọng tưởng không khờ dại diệt trừ, diệt trừ vọng tưởng não sẽ hư". Nên nào giờ ta không nói tới vọng tưởng, toàn nói cái gì đâu không à.

[44:40]Cho tới hết chỉ quán, sau khi ta ta tu tập đúng hết chỉ quán, không có một câu nào nói tới việc diệt vọng tưởng cả, nhưng vọng tưởng nó tự hết. Cũng giống như trong chánh mạng, cái tột đỉnh của chánh mạng là gì? Nhớ không? Tiền nó tự tìm tới tới mình, à đó! Chứ không phải là mình đi tìm tiền. Cũng vậy, khi mà ta tu đúng rồi, vọng tưởng tự nó tắt chứ mình không phải diệt vọng tưởng. Cái định tự nó xuất hiện, chứ ta không đi tìm cái định. Đó, khi ta tu chỉ quán đúng rồi, tâm ta tự vào định, như vậy. Thì trong lúc này, giai đoạn đầu này, ta dùng cái tâm để giữ cái thân đừng cho nhúc nhích. Ban đầu khó không?

[45:23]Ban đầu để ý cái chân thì cái tay nhúc nhích, để ý cái chơ... tay thì cái vai nó nhúc nhích, để ý cái vai, cái đầu kềnh cho nó ngay thì cái chân nhúc nhích, từng thớ thịt nó nhúc nhích. Cái chỗ này nó gồng lên chút xíu cái mình để ý cái buông nó ra thì chỗ khác cái cơ chỗ khác nó gồng lên chút xíu, mình buông ra cái cái chỗ khác nó gồng lên chút, có không? Nhìn bên ngoài thấy không nhúc nhích, nhưng mà toàn thân mình cái chỗ này nó vừa gồng cái nó lại buông ra chỗ kia, mình biết cái buông ra, cái này gồng cái buông ra, mà nếu không biết cái nó gồng luôn à. Nên ngồi cái nó cứ đơ vì đang gồng cái vai này gồng quá lâu.

[45:52]Biết rồi cái buông lỏng ra thì bắt đầu vơ cái đầu gối này, cái bắp đùi nó gồng lên vì nó đang đau á, cái nó gồng lên. Nên coi vậy ban đầu là đừng cho nó nhúc nhích trên cái hình dáng. Nhưng mà khi mà nó không nhúc nhích hình dáng rồi, thì bắt đầu nó đang nhúc nhích ở bên trong đó, là nó đang gồng cái chơ... cơ này chút, gồng cái cơ kia chút xíu, gồng cái bắp này, cái kia, có không? Ai đã kinh nghiệm ngồi thiền có nhớ cái đó không? Đoạn đường cay đắng qua cầu đều biết chứ không? Đây những cái nỗi khổ đầu tiên đó. Rồi, thì bắt đầu cái mà đừng cho nhúc nhích, rồi bắt đầu cái mình cứ gồng chỗ này gồng chỗ kia, thì ta cái thứ hai là:

[46:29]"Không nhúc nhích mà toàn thân vẫn phải mềm mại buông lỏng". Đây là bắt đầu cái tác ý thứ hai, hơi khó rồi đó. Ta cứ gồng này gồng kia, mặc dù thấy người không nhúc nhích về hình dáng nữa, soi camera không thấy nhúc nhích, nhưng mà ta đang gồng bí mật chỗ này chỗ kia, cơ cứng ở này, căng chỗ kia, thì tác ý thứ hai, kiểm tra hết, buông lỏng xuống hết. Buông lỏng hết toàn bộ mà vẫn không nhúc nhích, cái trạng thái nó rất là hay. Mà khi ta đạt được trạng thái đó rồi, ta cũng cảm thấy mình bắt đầu rất dễ chịu, tâm bắt đầu thư thái, là bắt đầu bớt nóng giận rồi đó, ra bên ngoài công việc xử lý là bớt căng thẳng rồi đó, nó có cái hay liền.

[47:04]Tâm chưa định, nhưng mà hôm qua đó mình nhớ, ví dụ hôm nay mình ngồi thiền nè, bắt đầu mình ngồi kiết già, giữ thân được bất động và buông lỏng toàn thân được mềm mại hết nè, ngồi... Tâm thì chưa yên đâu, vọng tưởng nghĩ tùm lum đủ thứ chuyện, nghĩ từ đây nghĩ qua tới Mỹ, qua tới Nga, qua tới Ukraina đi đánh nhau với Iran tùm lum á, nó tham gia chiến trường ở tùm lum các nơi đó, nhưng mà cái thân này mình giữ được cái gì? Bất động và mềm mại, thì nó có kết quả liền trong đời sống của mình. Kết quả trong đời sống bắt đầu mình đi chùa về, thấy ông chồng mặc quần xà lỏn ngồi đưa võng toòng teng, dưới kia một đống chén chưa rửa,

[47:40]quần áo chưa ai bỏ vô giặt, cái nồi cơm chưa ai cắm điện để nấu. Bình thường mà như vậy rồi là bắt đầu mình tới chuyện với mình rồi đó, tới công chuyện rồi đó, tới công chuyện của mình rồi đó. Rồi đó, nói là: "Tôi cưới ông bao nhiêu năm mà sao tới bây giờ ông chưa có nên thân?", ví dụ vậy đó là mình sẽ bắt đầu sổ tiếng Nho, tiếng đồ ra tùm lum. Nhưng hôm nay tại vì mình mới đi chùa, mình đã đạt được cái trình độ ngồi thiền bất động và mềm mại, cái mình thấy tùm lum hết, chén để tùm lum, đồ chưa giặt rồi cơm chưa cắm, và ổng ngồi ổng nằm trên võng toòng teng cái mặc quần xà lỏn hát vọng cổ, ví dụ vậy.

[48:15]Mọi lần là sôi máu rồi đó, nhưng bữa nay bỗng nhiên mình cứ cười cười, không nói gì, không giận. "Thôi, thôi lỡ cưới nhầm đứa em bé rồi thôi ráng chịu, cuộc đời cái nghiệp này vậy, thôi mình đi rửa chén làm vậy". Bắt đầu mình sực nhớ lại: "Ủa, hôm qua cái cảnh này là mình đã nhảy nóc nhà rồi, sao bữa nay mình cười cười?". Đó, chỉ bởi vì bắt đầu thiền có tác dụng đi vào trong đời sống của mình, là là đã giữ thân được mềm mại và bất động, nó đán... đánh vào tâm lý mình liền. Dù mình chưa thấy có kết quả gì, đang còn ngồi còn đau còn cực, nhưng mà chỉ mới cái giữ thân mềm mại, bất động trong tư thế kiết già

[48:49]thôi, mà bữa nay mình đã không không leo nóc nhà nữa, thôi, lạ thiệt.

[49:00]Sao toàn nói xấu mấy ông chồng không cà, kỳ thiệt. Rồi bây giờ cái chỉ kế tiếp, mấy cái cái đó ta tập được bao lâu mới được? Cái đó bao lâu? Tập được cái mềm mại, giữ thân mềm mại, bất động trong tư thế kiết già bao lâu thì xong? Hai tiếng đồng hồ phải không? Tập chừng hai tiếng. Bao lâu? Hai năm hả? Thôi. Không, thật ra thì vài tháng thôi, trung bình thì vài tháng, vài tháng là bắt đầu được rồi.

[49:33]Bây giờ, khi mà ta giữ thân được mềm mại, bất động rồi, bắt đầu tới cái chỉ kế tiếp là gì? Cái chỉ thứ là thứ ba đó, ngồi kiết già, giữ thân mềm mại, bất động, thứ ba là: "Biết rõ toàn thân".

[49:47]Mà không được để ý trên đầu. Đây là một bí quyết. Khi ngồi thiền, tuyệt đối không được chú ý trên đầu, không được để ý trên đầu, không được để tâm trên đầu. Biết toàn thân, nói là biết toàn thân nhưng vui lòng từ cổ xuống dưới thôi, mà càng thấp càng tốt. Vì sao vậy? Vì nếu cần thì ta lý giải bằng cái nguyên phương pháp âm dương, nguyên lý âm dương của vũ trụ. Cái âm là cái gốc, cái ở dưới là cái gốc, bồi dưỡng cái gốc ở trên tự nó tốt, không có khờ dại mà chú ý trên đầu.

[50:27]Hồi xưa thầy có một cái hối hận. Lúc gặp ông ông ông ông thầy, ông Thượng tọa, lúc đó còn Thượng tọa, giờ Hòa thượng rồi, ổng bị Parkinson, tay của bị rung rung nè. Thì mới nói là: "Hòa thượng", lúc đó kêu còn kêu bằng thầy, "tay thầy rung thầy đừng có chữa cái tay, thầy đừng đi châm cứu cái tay, tại cái tay thầy rung nó gốc nó trên não á, nên thầy chữa cái não nó mới hết cái tay rung". Cái lúc thầy mới quay qua ông thầy kế bên, tại ông thầy kế bên ổng là một thiền sư, ổng thiền sư ổng nhập định đồ tốt mà không ai biết tại ổng sống bình dị lắm. Ổng ngồi bên cạnh ổng bình dân, không ai hiểu, chỉ có thầy biết thôi, thầy biết ổng là ổng là một thiền sư. Nói:

[51:05]"Thầy vui lòng thầy để tay lên trên đầu của ông thầy đây, thầy thầy thanh tịnh thầy giữ tâm trổng, ổng chữa bớt sao ổng chữa bớt được cái đầu". Thì ông thầy ổng cái ông mà thiền sư ổng cũng ổng nghe lời, ông này cũng vui vẻ, hoan hỷ cái để tay lên đầu. Hai ổng để tay đầu nhau làm gì đó làm, thôi thầy đi chỗ khác. Rồi không biết nay ổng hết bệnh chưa không biết, còn ông thiền sư thì hôm nay thì ổng chết rồi. Mà ổng không ai biết ổng là thiền sư, ổng thiền sư cũng thật là giỏi đó chứ không phải vừa. Sống lẫn lận trong đạo Phật mình thì nhiều vị cũng kỳ đặc lắm, nhưng mà người ta không biết. Thì thầy rất là hối hận cái mà kêu ông thiền sư để tay lên đầu cái ông thầy kia

[51:38]để chữa Parkinson, ông thầy kia thì vẫn còn sống, giờ làm Hòa thượng lớn rồi. Cái thực ra là cái não nó hư thì tay mình mới rung, nhưng mà để chữa cái não hư đừng chữa cái não, mà chữa ở đâu? Dưới bụng. Tại vì gốc của mọi cái não nằm dưới bụng, nên lúc đó mà nếu để tâm dưới bụng thì não nó sẽ lành và não nó lành thì tay hết rung. Đó là nguyên lý. Mà hôm đó thì chỉ nói ngắn gọn như vậy, nói: "Tay thầy rung thì thầy đừng có đi châm cứu chữa cái tay mắc công, nó nằm trên não", rồi nhờ ông thầy kia chữa cái não, đó là một sự sai lầm của thầy. Sự hối hận tới bây giờ. Nhưng mà may sao ông thầy ổng vẫn còn sống,

[52:19]còn cái ông chữa ổng thì chết rồi, thấy sao kỳ. Nay nói xấu ổng, ổng ở trên cõi kia ổng nghe hết trơn tại ổng là thiền sư đắc đạo á, giờ này ổng còn cõi ở trển á. Thôi, thầy thông cảm, mô Phật.

[52:39]Tại sao ta biết toàn thân? À bởi vì gốc của vọng tưởng là ở phía dưới. Thật ra ta phải để tâm ở dưới bụng, ở dưới đáy bụng thì mới trị được vọng tưởng. Nhưng người mới ngồi thiền ta chưa thể ngay tức khắc mà ta để ý ở dưới liền. Do đó ta cần một giai đoạn bình thản là biết toàn thân. Mà cái biết toàn thân này ta sẽ áp dụng rất là lâu, kéo rất là dài kể cả sau này khi ta tu tới giai đoạn cao rồi, tâm thanh tịnh rồi thì cái biết toàn thân này vẫn ứng dụng trong đời sống hằng ngày. Ví dụ sau này khi ta ngồi thiền tâm vào định được rồi thì khi mà không ngồi thiền thì tu làm sao? Khi mà không ngồi thiền vẫn biết toàn thân.

[53:23]Đi tới đi lui, co duỗi tay chân, nói chuyện này kia nọ, làm lụng vẫn biết toàn thân. Nên cái biết toàn thân này là nó là một cái kỹ thuật xuyên suốt từ lúc ngày hôm nay ta ngồi kiết già cho tới sau này mình chứng rồi vẫn còn giữ nó để tu. Nên ta thấy cái người mà họ tu thiền mà có kết quả đó, họ cười họ nói với mình, họ vui vẻ đi tới lui chứ thật ra họ đang biết toàn thân. Lúc nào cũng an trú với chính mình, mà cái chính mình của họ là cái toàn thân. Rồi sau này không biết hôm nay có kịp nói tới không, sau này ta sẽ nói qua tới cái Tứ niệm xứ, ta sẽ hiểu tại sao là biết toàn thân nó là cái công phu xuyên suốt, xuyên suốt.

[54:07]Nhưng ban đầu ta phải cứ cứ biết toàn thân, biết toàn thân mà buông lỏng toàn thân. Mà lúc đó ta ngồi đã không nhúc nhích rồi, tại ta quen cái kiết già không nhúc nhích rồi, nhưng ở đây lúc nào cũng ngồi biết toàn thân và buông lỏng toàn thân. Lúc đó vọng tưởng còn không? Còn không? Còn, sao không còn. Nó còn mơ ước trúng Vietlott nữa chứ đừng có nói, nó ngồi nghĩ tùm lum hết trơn á, phải không? Nên biết toàn thân mà buông lỏng toàn thân, vọng tưởng vẫn đang chạy. Nhưng vọng tưởng nó chạy, nó chạy đi đâu? Chúng ta cái câu hỏi này rất là quan trọng nha, nhớ cái câu hỏi này vì câu hỏi này ta sẽ theo suốt

[54:45]hết cả cái thời gian thiền định của ta. Ta đang biết toàn thân, buông lỏng toàn thân nhưng vọng tưởng nó vẫn đang chạy, nó chạy đi đâu? Nó chạy khỏi thân, nhớ giùm. Đúng không ạ? Ta nghĩ tới những chuyện này, chuyện kia trên cuộc đời, ta nghĩ chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện làm ăn, chuyện lời, lỗ, buôn bán, úi, đủ thứ chuyện, mà thậm chí nhớ phim Hàn Quốc nữa, đại khái vậy, ừm. Tức là nó rời khỏi thân. Và như vậy, khi mà ta biết toàn thân có nghĩa là gì? Có nghĩa là kéo vọng tưởng lại, phải không ạ, đừng cho nó chạy xa. Đó là kỹ thuật đầu tiên. Nó không tắt đâu, nhưng mà nó nhắm chạy đi cái mình nhớ toàn

[55:30]thân cái nó quay lại, nó ở lại với mình, không khởi nữa. Đây là nguyên tắc đầu tiên để trị vọng tưởng. Do vọng tưởng nó nghĩ đủ thứ chuyện, nó rời khỏi thân mình liền. Nên đầu tiên ta biết thân là đã kéo vọng tưởng lại, trở lại, không cho nó chạy xa. Tắt thì không tắt, nhưng nó không chạy xa, nó luẩn quẩn, rồi nó lại khởi lại, ta biết toàn thân và nó quay lại với mình. Dễ không? Thấy rõ chưa? Thấy rõ kỹ thuật hợp lý không? Đó, một cộng với một là hai, đó, rõ ràng. Nên hôm nay ta nghe cái phương pháp thiền định như vậy ta thấy rõ ta đang đi từng bước một cộng một là hai. Vọng tưởng đi đâu? Ra khỏi thân, đi chạy hết cả thế giới.

[56:12]Vậy ta biết toàn thân là kéo vọng tưởng trở lại. Có cái gì thắc mắc không? Quá hợp lý phải không ạ? Đó, nó là căn bản là như vậy đó, ừm. Nhưng mà vọng tưởng nó không có đơn giản như là ta vừa nói. Nó không có đơn giản cái là chạy ra ngoài khỏi cái ta kéo ta biết toàn thân nó quay lại với ta rồi nó ngoan ở lại đó. Vọng tưởng nó hư lắm, nó hư lắm.

[56:36]Mình vừa kéo nó lại, nó sẩy cái nó chạy mất liền. À và lần này nó chạy đi mình, mình cũng theo nó luôn. Mình cũng không còn biết toàn thân luôn. Đây cái vấn đề là chỗ này đây. Vấn đề là vọng tưởng đi đâu? Ra khỏi thân. Khi mình biết toàn thân, kéo vọng tưởng lại. Nhưng khi vọng tưởng lại đi khỏi thân, nó kéo mình đi luôn. Mình không còn nhớ để biết toàn thân. Cái chỗ khó của thiền định là chỗ này. Là cái chỗ là vọng tưởng khởi lên nó khỏi thân và nó dắt mình đi luôn, đi vào thế giới luôn, đi vào cái nội dung của nó luôn. Nó có những vọng tưởng nó có cái nội dung và mình chìm trong cái nội dung đó luôn, mình cũng quên mất cái thân mình luôn.

[57:18]Đáng lẽ mình phải biết toàn thân để kéo nó lại, nhưng nó đi luôn và nó dắt mình đi luôn. Tới chừng mình nhớ ra là cái tiếng chuông xả thiền đã kêu thì ra là nửa tiếng đồng hồ, 45 phút vừa rồi ta thả hồn theo theo mây gió. Không có ngồi thiền điều gì cả. Cái khó là chỗ này. Cái khó là chỗ này, đúng không ạ? Ai tu thiền cũng là bị cái này. Vậy phải làm sao? Làm sao lúc đó là mình nhớ lại thân để kéo vọng tưởng về lại với thân? Nếu mà làm sao? Thực sự á có một số người có cái may mắn là có ơn trên theo dõi, khi mình bắt chân mình ngồi thiền cái là chư Thiên dòm. Khi thấy mình vọng tưởng chạy xa quá cái họ sẽ vỗ vai

[58:04]mình một cái hay làm tiếng động là mình tỉnh lại. À mình sực nhớ ô quay lật đật quay lại, chết cha rồi nãy giờ đi qua tới Mỹ rồi, bây giờ quay lại, quay lại với cái thân của mình. Thì đó là do chư Thiên nhắc. Nhưng mà trong trường hợp nhiều khi mình không được chư Thiên nhắc, không được chư Thiên chạm vai mình một cái như vậy, và có thể đi luôn thì cái gì nhắc mình để quay lại với thân?

[58:28]Tiếng chuông hả? Nhớ cái này, đây là bí mật và là căn bản: phước, nhớ như vậy, phước. Lúc này chỉ phước cứu mình thôi chứ không ai cứu mình được. Đừng có nói mình tài, đừng nói mình có tài là mình ngồi thiền nhiếp tâm giỏi lắm, tôi giữ chánh niệm chặt lắm, không có chuyện đó đâu. Hơn thua nhau là phước thôi. Người có phước tự nhiên rất dễ nhớ lại cái thân. Vọng tưởng vừa kéo mình đi cái phước khởi lên cái mình sực nhớ mình quay lại ờ an trú thân, kéo vọng tưởng lại. Một lát vọng tưởng nó khởi lên, mình lại nhớ cái thân, kéo lại. Chính cái mình thường xuyên nhớ được thân mình để kéo vọng tưởng quay lại là do phước, nhớ giùm nha, phước là gốc của cái này.

[59:11]Đừng nói ai tài hơn ai ở chỗ này, đừng nói ai thông minh, đừng nói ai giàu sang quyền quý, không có gì hết trơn. Chỗ này là cái chỗ cái phước tu bí mật mà không mình nói không nói tài nói giỏi, có nhiều tiền cũng thua, tiền cao bạc vạn gì cũng thua hết, chỉ có cái phước bí mật nào đó. Mà cái phước này thường là gì? Do tôn kính Phật, thương yêu chúng sinh, lòng khiêm hạ, giúp ai gì được thì giúp, nhất là rủ người khác đi tu. Phước mà độ người khác tu hành là chính là cái chỗ này nè, trong thiền định ta hiện ra điều này. Khi vọng tưởng khởi lên chạy đi khỏi thân, ta nhớ lại thân để kéo nó trở lại, chỗ đó là do phước, mà phước đó là do mình lo cho huynh đệ tu tập.

[59:55]Nên ai cũng vậy, nhớ mình rủ người này, độ người kia sao cho cả cái thế giới này cùng biết tu. Đó là mình sẽ có phước như vậy nha. Được rồi.

[1:00:10]Đó là cái bước thứ mấy rồi, thứ ba rồi. Bây giờ tới bước thứ tư. Nãy giờ là ta nói biết toàn thân, bây giờ khó hơn một chút là biết xuống dưới bụng, biết xuống dưới bụng, cái bụng dưới á, dưới rốn á, cái vùng nguyên cái vùng ở phía dưới dưới đó. Thì tơ khi mà ta yên cái toàn thân yên rồi ta mới có thể mà thu xuống dưới bụng được, chứ mà mới đầu mà thu xuống dưới bụng cũng không phải là dễ. Nên ta biết toàn thân một thời gian rồi, mấy tháng rồi đó, có thể một năm hay mấy tháng, quen rồi bắt đầu ta để ý dưới bụng mà nó không bị chạy loạn. Lúc này tâm bớt loạn rồi, dĩ nhiên vọng tưởng còn vì mình ta chưa có

[1:00:47]nhập được định thì vẫn còn loạn, ta đang tu đây là phép chỉ mà. Thì vọng tưởng làm sao nó cũng sao, nó đi, đi khỏi. Nhưng hồi nãy ta không nói là đi khỏi thân nữa mà đi khỏi bụng. Lúc này nhờ cái phước cũng vậy, cũng cái phước dắt ta đi. Như ta nói về phước là cái nền, làm cho ta nhớ lại cái bụng, quay lại với cái bụng thì vọng tưởng sao, không đi nữa. Đó, cũng là 1 cộng với 1 là 2 nhưng tới giai đoạn này là 2 cộng với 2 là là 4, cao hơn một chút, khó hơn một chút nhưng bắt đầu là tinh tế hơn, cái vọng tưởng bắt đầu bớt quậy hơn. Trước đây nói là vọng tưởng rời khỏi thân ta quay lại biết thân, bây giờ vọng tưởng rời khỏi thân ta quay lại biết cái

[1:01:28]bụng, biết sâu hơn, cái mức độ sâu hơn, vậy đó. Và cái biết dưới bụng này á thường ta khó áp dụng được trong đời sống hằng ngày. Vì trong đời sống hằng ngày á mà cái người có thiền định họ vẫn biết toàn thân. Cái biết toàn thân nó đi sâu vào thành Tứ niệm xứ mà biết thân, biết thọ, biết tâm, mà biết pháp là chứng A-la-hán rồi. Đó, cái đó là người, còn bình thường của ta đang trong ngồi thiền giai đoạn này bắt đầu tới giai đoạn kỹ hơn một chút, từ cái biết toàn thân rộng rãi, quay lại biết dưới bụng thôi, cái bụng dưới, phải không? Vì dưới bụng dưới này mới là cái gốc của vọng tưởng, nhớ như vậy. Nói:

[1:02:09]"Ai chứng minh được cái bụng dưới là cái gốc của vọng tưởng? Khoa học chưa nói á." Khoa học chưa nói bởi vì khoa học chưa biết, rồi ngày nào khoa học sẽ biết. Nhưng hôm nay khoa học đã bắt đầu biết rồi. Biết là như thế nào? Họ mới phát hiện ra là thường thường á cái thần kinh não chúng ta là những cái neuron thần kinh nó là những tế bào đặc biệt, những tế bào đặc biệt, còn cơ thể ta là những tế bào bình thường. Tế bào của cơ nó khác, tế bào xương nó khác, và tế bào não nó khác. Nên tế bào não ta gọi là những neuron thần kinh. Thì cái neuron thần kinh là ta hiểu rằng nó chỉ nằm trên não thôi vì nó là nhiệm vụ của nó là suy nghĩ và truyền tín hiệu.

[1:02:52]Còn những nơi khác, nó những cái tế bào của xương, của cơ, của ruột, của phổi thì nó là dạng khác. Nhưng bất ngờ khoa học phát hiện ra là dưới ruột ta có neuron thần kinh. À, không ngờ đây là cái cái điều mà đạo học của phương Đông đã thấy thì ngày hôm nay khoa học mới bắt đầu nhìn thấy. Không ngờ là dưới ruột ta có neuron thần kinh. Và cái ruột ta cái neuron thần kinh này giống như nhiệm vụ nó không phải suy nghĩ. Tại vì ta suy nghĩ toàn bộ trên não. Vậy cái neuron thần kinh dưới ruột để làm gì? Cái gốc của vọng tưởng nằm dưới bụng thì nhiều người sẽ nghi ngờ. Nhưng ngày hôm nay không ngờ khoa học cũng bắt đầu tìm thấy manh nha.

[1:03:36]Phát hiện các neuron thần kinh nằm dưới ruột, tim cũng có neuron thần kinh. Cho nên người ta nói là nghĩa là "I love you with all my heart" nghĩa là "Em yêu anh bằng cả trái tim" thì đúng. Cái tim nó có vì nó có neuron thần kinh trong đó, nó biết yêu chứ không phải không đâu. À nên Nhưng mà không ngờ dưới ruột nó cũng có neuron thần kinh.

[1:03:57]Và cái nhiệm vụ của neuron thần kinh ở dưới ruột để làm gì? Giống như không phải để suy nghĩ. Và cái nối kết nối giữa neuron thần kinh dưới ruột với neuron thần kinh ở trên đầu là cái gì? Thì đây câu trả lời nằm trong đạo học của phương Đông chứ khoa học cũng chưa tìm thấy. Nó chính là gốc của vọng tưởng. Mọi cái suy nghĩ trên đầu thực sự là do dưới bụng nó đi lên. À mà khi dưới bụng ta không được kiểm soát, được an trú thì nó cứ tuôn cái mầm đưa lên não và kích động não suy nghĩ. Đây là một bí mật. Cho nên ngày hôm nay, khi ta an trú ở dưới bụng là ta đang vỗ về các neuron thần kinh dưới ruột để làm

[1:04:36]trên não ta bắt đầu êm dịu từ từ, bớt vọng tưởng từ từ. Bớt vọng tưởng, có nhiều người ngang chỗ này đã nhập định được. Có người nhiều người nên là chỉ cần để tâm dưới bụng thôi là họ nhập định được liền. Và từ đó về sau, họ dạy cái phương pháp là cứ để tâm dưới bụng là vào thiền định, chứng thiền định liền. Thì chặn mất con đường không còn mở rộng. Thật ra thiền còn nhiều cái khác chứ không phải chỉ nhiêu đó. Nhưng họ hên quá, họ ngang đó họ chứng nên ta sợ những người tu dễ chứng. Những người tu dễ chứng họ dạy không kỹ. Dạy không kỹ nhiều người không có lợi cho chúng sinh, ở đây vậy, nhớ như vậy.

[1:05:14]Nên ơ khi mà ta để tâm được dưới bụng là một bước tiến khá lớn, tâm rất là dễ yên. Vì tâm, vọng tưởng rất khó đi xa. Hồi xưa khi ta để biết toàn thân á, coi chứ cái vùng thân rộng lớn nó còn lỏng lẻo, vọng tưởng nó còn đi mất ra khỏi thân. Nhưng ngày hôm nay, ta đã gom xuống dưới bụng rồi thì vọng tưởng rất khó thoát, bứt ra khỏi thân để chạy đi xa. Đó là lý do mà ở giai đoạn ta để tâm ở dưới

[1:05:44]bụng thì vọng tưởng bớt rất nhiều. Giai đoạn này vọng tưởng bớt rất nhiều là vậy. Vì ta neo nó chặt hơn, kỹ hơn như vậy. Bây giờ một kỹ thuật khác nữa là một phép chỉ khác nữa là hơi thở. Cái hơi thở của ta nó liên quan với với tâm ta. À. Hơi thở nó có hai cái tính, nó có hai thuộc tính, vừa là thuộc tính

[1:06:14]gọi là thực vật, vừa là một thuộc tính động vật. Thuộc tính thực vật có nghĩa là tự nó thở, mình không để ý tới nó, nó cũng tự thở, nên hơi thở nó có thuộc tính thực vật. Và nó có thuộc tính động vật là gì? Mình để mình cố ý thở thì nó thở. Hơ cái gì mình cố ý thì nó thuộc về động vật, còn cái gì mà mình không cố ý mà nó tự động nó làm, ta gọi là thực vật. Những cái từ ngữ này là chuyên môn trong y khoa, đúng không em? Nhỏ em bác sĩ đó, nói hỏi phải kiểm tra nó coi coi nó đồng ý hay không. Thì cái hơi thở ta nó có cả hai thuộc tính, một thuộc tính thực vật mình không cần để ý tới nó nó vẫn thở, tại không thở chết liền sao,

[1:06:56]và nó có thuộc tính động vật mình cố ý thở nó thở, rồi nó theo mình. Cái hơi thở rất là lạ. Và cái thuộc tính thứ ba là hơi thở phản ánh nội tâm.

[1:07:08]Ví dụ khi ta căng thẳng thì hơi thở làm sao? Rất là mạnh. Còn khi ta thanh thản thì sao? Hơi thở nó nhẹ. Đây chìa khóa cũng nằm ngay chỗ đó. Và như vậy, nếu ta điều khiển ta điều chỉnh được hơi thở khéo léo thì tức là ta điều khiển được tâm. À. Ta trở lại cái công thức là đừng trực tiếp mà diệt trừ vọng tưởng. Đừng trực tiếp diệt trừ vọng tưởng mà chỉ sao? Đối phó vọng tưởng qua trung gian. Mà nhiều cái trung gian nãy giờ thì hôm nay bây giờ ta nói tới hơi thở. Hơi thở cũng là một cái trung gian gián tiếp ta điều khiển vọng tưởng, chứ không khờ dại mà nhìn thẳng vọng tưởng, đối diện vọng tưởng, diệt trừ vọng tưởng.

[1:07:55]Nên ở đây hơi thở là một vấn đề, hơi thở là một thành tố, một yếu tố liên quan tới nội tâm nên ta phải xử lý hơi thở. Nghe mệt chưa? Cái bài hôm nay rất là quan trọng. Hôm nay ai có duyên nghe được bài này, cái người này phải nói là có công đức, người này được chư thiên yêu mến, hôm nay chư thiên mới bắt về đây nghe bài này. Bài này khó lắm, không phải dễ, nó chuyên sâu. Bao nhiêu bài Pháp khác á là đi hết cùng trời cuối đất, đủ thứ chuyện trên đời nghe rất lý thú, phải không? Nhưng cái bài này đi vào thiền định rồi, rất là khó nghe. Chỉ những người rất có tâm tu hành mới chịu khó nghe bài này.

[1:08:34]Còn không là vừa nghe vừa vừa đâu mất rồi? Ờ đó ngủ à?

[1:08:46]Ai nghe bài này mà không ngủ là con cưng của Phật, còn mà nghe mà ngủ là con thường thường của Phật.

[1:08:57]Bài này khó à nha, chứ không phải dễ. Ở đây đó ta khi ta biết rằng hơi thở nó liên quan tới tâm, thì bắt đầu ta phải xử lý hơi thở. Nhưng mà xử lý cách nào? Đây cái chỗ này mới là khó nè. Nếu ta cố ý điều khiển hơi thở để thở theo ý mình là ta đang khởi động bộ não lên, là não bị căng liền. Cho nên cái người ngồi hít là điên liền á. Là não căng lên liền, không biết tại sao tôi tu thiền mà đầu tôi bị căng, tâm tôi căng rồi tôi bứt rứt, ai nói gì tôi cũng muốn cãi lộn. Bởi vì ráng thở. Tại vì khi ta ráng thở não ta đang khởi động, thần kinh điều khiển hơi thở bị khởi động, và cái thần kinh điều khiển hơi thở khởi động nó làm

[1:09:43]căng hết toàn bộ não của ta luôn, những cái tình cảm, những cảm xúc này nọ nó động theo hết, nó lây lan dây chuyền. Thế là sau khi một buổi ngồi thiền ra là đừng ai đụng tới tui à, đụng tới chết liền, oánh liền á. Mới ngồi thiền ra xong là sẵn sàng đánh lộn liền, là tại vì nãy giờ điều khiển hơi thở. Nên vì vậy cái hơi thở này phải rất là khéo, hơi thở rất khéo. Nên ở đây là bước đầu tập hơi thở là ta tập biết mà không điều khiển. Đấy bước đầu là phải như vậy. Ta thấy nó thở vào mạnh, có khi nó thở vào nhẹ, có khi thở vào dài, có khi hơi ngắn. Luôn luôn khi ta biết hơi thở thì ta điều khiển hơi thở, đó là nguyên tắc của tâm.

[1:10:21]Nhớ như vậy. Nguyên tắc của tâm là mình không để ý hơi thở thì hơi thở nó chuyển sang cái thuộc tính thực vật, nó tự động thở. Nhưng khi mình để ý thở tới cái cái hơi thở thì hơi thở nó chuyển sang cái chế độ động vật là mình điều khiển liền. Cái chỗ này rất là tế nhị, sư nói chầm chậm lại chỗ này lại để hiểu nè, hiểu để mình giải thích cho mọi người. Khi mình không để ý hơi thở thì hơi thở nó chuyển sang chế độ thực vật, tự động thở. Nhưng khi mình vừa để ý hơi thở một cái, trong nhất là trong thiền, mình vừa để ý hơi thở một cái thì lập tức hơi thở nó chuyển sang chế độ động vật là điều khiển.

[1:10:57]Đó là cái tự nhiên của con người. Nhưng mà khi mình điều khiển hơi thở thì não sẽ căng, và não căng thì coi như cuộc đời tu hành mình thất bại. Mà nếu mình bỏ mặc hơi thở thì mình quên mất một yếu tố quan trọng để trị tâm. Vì hơi thở và tâm liên quan với nhau. Ta nhớ mình khi mình động loạn thì hơi thở mạnh, khi mình thanh tịnh hơi thở nhẹ, nó liên quan rất chặt chẽ. Do đó mình phải biết xử lý hơi thở, nhưng cái xử lý hơi thở phải khôn, phải khéo, phải trí tuệ, bởi vì hơi thở nó có hai thuộc tính vậy đó. Không để ý tới nó, nó trở thành thực vật, tự động thở; để ý tới nó trở thành động vật, mình phải điều khiển.

[1:11:38]Mà khi mình điều khiển thì não căng, não căng thì hư rồi. Cho nên để ý hơi thở mà não không căng. Cái trung đạo này là hôm nay ta phải phải phải phải hiểu. Thật ra nhiều người theo sư phụ lâu thì cũng biết cái này rồi, nhưng hôm nay sư phụ phải nói lại vì đây là một giáo trình chung. Là ta tập lúc mà ta ngồi thiền biết toàn thân rồi, biết bụng dưới rồi, bắt đầu ta để ý hơi thở, hơi thở vào, hơi thở ra, biết mà không điều khiển. Dễ không? Khó, phải thông minh lắm. Nên thực sự đi vào thiền là dành cho những người thông minh. Nói cái câu này thì hơi phân biệt đẳng cấp, phân biệt con người, nhưng nó là một sự thật.

[1:12:22]Nó làm sự thật chỉ những người thông minh mới ngồi thiền được, còn người không thông minh không ngồi thiền được. Đó là lý do mà 600 người tới chùa để sám hối, tới giờ phút bắt đầu ngồi thiền đếm lại còn 90 người.

[1:12:37]Ta không nói 500 người kia là không thông minh, ta chỉ nói rằng họ ta dùng chữ gì ta mà không xúc phạm cả?

[1:12:50]Khó quá, tìm chữ không ra. Nhưng mà thiền nó khó như vậy, nên thực sự cái người mà yêu thích thiền thì đầu tiên ta phải hiểu họ thông minh. Người thông minh mới yêu thích thiền định. Bởi vì bắt đầu đi tới giai đoạn này là khó nè. Biết hơi thở mà không điều khiển. Trong khi cái thuộc tính của hơi thở hễ ta biết nó một cái nó chuyển qua hệ thống động vật, hệ thống là chế độ động vật liền là phải điều khiển. Vậy mà ta phải điều chỉnh làm sao biết hơi thở mà không điều khiển. Nó dài, nó ngắn, cái chỗ này ứng với cái câu kinh trong Phật dạy, hơi thở vào dài tôi biết hơi thở vào dài, hơi thở vào ra dài tôi biết hơi thở ra dài,

[1:13:32]hơi thở vào ngắn tôi biết hơi thở vào ngắn, hơi thở ra ngắn tôi biết hơi thở ra ngắn. Trong kinh Phật dạy cái đó nghĩa là giai đoạn này nè, chính là giai đoạn biết mà không điều khiển. Là cái chỗ này ta phải đọc bản kinh đó để ta hiểu ý Phật. Nhưng mà ngày xưa cái ngôn ngữ Ấn Độ nó không đủ từ như mình bây giờ. Mình bây giờ mình có cái câu là nói biết mà không điều khiển. Biết mà không điều khiển năm chữ. Mình hôm nay là biết hơi thở mà không điều khiển. Ngày xưa Phật diễn tả cái năm chữ đó bằng một đoạn kinh rất là dài. À. Hơi thở vào tôi biết hơi thở vào, hơi thở ra tôi biết hơi thở ra, hơi thở vào dài tôi biết hơi thở vào dài,

[1:14:12]hơi thở ra dài tôi biết hơi thở ra dài, hơi thở vào ngắn tôi biết hơi thở vào ngắn, hơi thở ra ngắn tôi biết hơi thở ra ngắn. Ngủ chưa? Đó đọc kinh có cái lợi vậy đó, dễ ngủ lắm, đọc nhiêu đó ngủ à. Nhưng mà bởi vì hồi xưa cái từ ngữ không đủ, buộc lòng Đức Phật phải nói một cách dài dòng vậy đó. Rồi còn ngày nay mình nói đúng năm chữ: biết mà không điều khiển. Và mình hiểu được. Nhưng mà để làm được điều đó, bắt đầu ngồi biết hơi thở, bắt đầu nó chạy à. Khi mình biết rồi nó qua chế độ động vật liền, nó điều khiển nó dài, nó mạnh này hơn. Mà mình phải giữ đừng điều khiển, biết mà không điều khiển. Tập bao lâu thì được?

[1:14:48]Kinh nghiệm mỗi người tập bao lâu thì được? Xưa Sư Phụ dạy cái này Sư Phụ dạy khoảng sáu tháng à, hồi ở Từ Tánh ngày xưa đó, phải không ta? Hay một năm gì đó. Chỉ cái giai đoạn này không Sư Phụ cũng triển khai hết cả năm. Lần nào là biết mà không điều khiển nha, cái chỗ này đó. Rồi cả một thời gian dài vậy ta bắt đầu biết cái tất cả các phép chỉ từ biết toàn thân, biết bụng dưới, biết hơi thở, giữ thân mềm mại, bất động. Bắt đầu ta đi tới một cái hơi thở đỉnh cao của phép chỉ.

[1:15:21]Không điều khiển nhưng phải khéo điều khiển để hơi thở chậm, ít, êm. Cái chỗ này ta phải rất là thông minh. Tâm phải rất là thuần mới có thể thở được một cái hơi thở chậm, ít, êm trong khi tâm vẫn để dưới bụng, chú ý ở dưới bụng dưới. Chậm, ít, êm. Chậm, êm thì hiểu nhưng ít làm người ta ngạc nhiên. Vì nếu ít thì ta làm sao đủ oxy lên não? À. Cái chỗ này phải rất là khéo. Trên đừng để ít quá mà thiếu oxy lên não nhức đầu liền. Nhưng đừng để thừa hơi thở nhiều, tâm không nhiếp sâu vào định được. Nên cái chỗ mà hơi thở mà ít chỗ này nó có một cái điểm, một cái điểm tinh tế mà được cái điểm đó, ít vừa đủ đó thì tâm ta nhiếp lại liền.

[1:16:21]Đây là cái chỗ mà tâm nó chạm với hơi thở, hơi thở chạm được với tâm, cột lại với tâm. Đừng nhiều, đừng ít, ít mà ít vừa thôi, đúng cái ít thôi thì tâm nhiếp liền. Vậy chỗ này ai dạy mình, có thước nào đo không? Có đo được không? Hay là mình thở mình phải để cái máy đo hít vô mấy mấy hơ mấy mấy mấy

[1:16:44]mấy mấy cc vân vân à, hít vô mấy cc thở ra mấy cc, không có máy đo. Và chỗ này một lần nữa tự mình đo lấy mình, tự mình cảm nhận lấy mình. Mà tự mình cảm nhận để cái hơi thở ít vừa đủ thôi, vừa đủ để cột được tâm mình. Thì cái này cũng là một loại người rất là thông minh. Nên ta nói một lần nữa, chỉ những người rất thông minh mới vào thiền được. Còn những người thông minh bất ngờ nhập định thì thôi duyên phước thôi, ngày xưa họ cúng dường một vị thánh nào nhiều quá rồi, bây giờ cái cái trí thông minh họ chưa đủ nhưng cái phước xưa lớn quá thì họ nhập định luôn. Và họ nhập định rồi cũng không dạy ai được.

[1:17:24]Tại vì họ không đủ tinh tế để phân tích ra tới những điều như thế này để dạy người khác. Thì thấy một đời đạo hạnh thanh tịnh vui vui vậy thôi, không giáo hóa được. Tại vì họ không đủ tinh tế mà thiền thì cực kỳ tinh tế ở chỗ này. Nên khi ta giữ hơi thở chậm dễ hiểu phải không? Êm dễ hiểu nhưng ít rất là khó hiểu. Và tìm được hơi thở chậm, ít, êm vừa đúng cái mức của nó không nhiều hơn, không ít hơn, đúng chính xác một cái điểm đó để tâm mình nhiếp lại. Chỗ này là một sự cảm nhận cực kỳ tinh tế và phải rất là thông minh, không phải ai cũng hiểu. Mấy ngàn người ngồi trong pháp hội này cũng không phải ai cũng nhận ra được chỗ này.

[1:18:02]Nhưng mà ta cứ lễ Phật ta xin nha. Ta lễ Phật ta xin rồi một ngày nào đó ta sẽ nhận ra cái hơi thở chậm, ít, êm này. Lúc đó ta sẽ thấy an lạc, thấy hạnh phúc, nhiếp được tâm.

[1:18:18]Ta nói về cái phép chỉ, ta còn một vài cái phép chỉ bí truyền, phái sinh, bí truyền nhưng mà hỗ trợ rất là tốt cho thiền định.

[1:18:30]Một là khi ngồi thiền vậy ta để tâm ở cái mảnh xương cùng ở phía sau dưới thắt lưng. Nó là một cái mảnh xương cùng hình tam giác. Nó là một hình như là một miếng xương khá to so với cơ thể hình như nó to nhất nhì á, mảnh xương này. Thì khi ta để tâm nhẹ nhàng ở đó nó làm phát sinh nội lực liền. Ví dụ như lưng ta bị cong, ta không cần ráng giữ cái lưng cho thẳng mà chỉ cần để tâm ở dưới cái chỗ xương cùng, một luồng lực nó dựng cái lưng ta thẳng lên lại liền, chớ ta không cần cố ý. Mà nếu thường xuyên để tâm ở nơi cái cái xương cùng toàn bộ hệ thống cấu trúc xương của ta nó chắc lại từ từ. Mà nó tạo một cái nội lực ngầm ngầm ngầm ngầm bảo vệ bộ não ta luôn.

[1:19:13]Nên đây là một cái một cái bí quyết bí truyền không được nói công khai nhưng mà người xưa họ có áp dụng. Cái thứ hai nữa là ta để tâm ở dưới đáy buồng nơi hội âm. Ở dưới đáy á. Thì khi để tâm ở dưới đáy buồng hội âm á nó chữa hết bộ não của ta. Và cho tới ngày hôm nay thì Sư Phụ ít biết ít nhất ba người nhờ để tâm hội âm mà chứng thiền luôn. Ít nhất ba người đã được như vậy, đó là là cũng cái cơ duyên của họ. Để dưới hội âm an trú vậy bất ngờ chứng thiền nhập thiền. Nên a mà nếu mà ta không chứng thiền thì nó cũng sửa soạn lại bộ não ta hết. Bởi vì coi vậy chớ mỗi người chúng ta đều có một trục trặc nào đó trong cái não của mình.

[1:19:58]Thấy mọi người thấy mặt ngoài tươi tỉnh vậy chớ trong người ta đều có một cái bệnh nào đó, trong não ta cũng đều có một cái khuyết điểm nào đó ta không biết. Nhưng mà nếu ta để tâm với hội âm thì nó chữa những cái bệnh tiềm tàng tiềm tàng ở trong bộ não của ta làm cho mình thông minh hơn, điềm tĩnh hơn, khôn hơn một chút. Như vậy. Nhưng có một điểm cực kỳ quan trọng đó là cái điểm kanda, kinh xưa gọi là kanda. Điểm này rất là lạ. Bên Trung Hoa họ hay gọi là đan điền, mà cõi Ấn Độ ngôn ngữ cổ thì gọi là kanda. Sáu phân dưới rốn ở ngoài da, một điểm kinh xưa gọi kanda, giữ tâm nơi ấy không thay đổi, vọng tưởng tự nhiên không đi xa.

[1:20:48]Với cái điểm kanda này á thì ta có thể hình dung giống như một chiếc thuyền bị trôi dạt ngoài cái sóng gió mênh mông. Ta dùng rất nhiều cái kỹ thuật, nhiều phương pháp kéo nó lại về với bờ. Nhưng mà sóng vỗ vẫn có thể đánh bật cái thuyền đi ra ngoài kia trở lại thì lúc đó ta cần cái cọc rất là cứng ở trên bờ và một cái sợi dây cột cái thuyền neo lại cái chỗ đó. Cho nên dù sóng gió sóng vỗ gió thổi gì hết, cái thuyền nó có nhấp nhô còn đứng đó nhưng nó không bị đánh văng trôi ra ngoài biển khơi lại lần nữa nhờ cái cái sợi dây cột này. Thì cái điểm kanda này chính là cái điểm kỳ diệu đó. Ta phải dùng cái điểm kỳ diệu vì ai tu lâu rồi mới thấy nó mầu

[1:21:34]nhiệm, rất lạ lùng, không nói, không năng, không lý luận. Chỉ để tâm nơi một điểm kanda thôi, sáu phân dưới rốn ở ngoài da, một điểm đó thôi. Nhưng mà không dễ, ta phải đi qua một giai đoạn rất là dài của biết toàn thân, biết dưới bụng, biết hơi thở mà không điều khiển, rồi hơi thở chậm, ít, êm, ta đi qua rất nhiều cái giai đoạn trước đó, giai đoạn chỉ tức là kỹ thuật á trước đó. Khi tâm ta bắt đầu tinh tế, ta mới có thể an trú ở một điểm kanda này. Mà điểm kanda đa này là một điểm của trí tuệ chớ nó không phải là một điểm cụ thể giống như cái mụn ruồi mình rờ rờ thấy được, nó không có cái gì á, hoàn toàn nó vô hình, không cảm xúc.

[1:22:21]Mà mình định vị nó bằng trí tuệ mà thôi, không có một cái cảm giác gì không cảm xúc. Nên ai muốn tìm một cái điểm kanda cụ thể là sai lầm, là vọng tưởng, là căng não, là hư á. Nên không có gì hết, nó chỉ là một điểm vô hình, không cảm xúc, không cảm giác và mình biết nó nằm đó bằng trí tuệ và để tâm ở đó. Vậy thôi. Nhưng nó làm cái neo, vọng tưởng bị cột về đó hết.

[1:22:48]Nói gì nói thì nó là một cánh cửa, nó là bước thềm, nó là sợi dây neo tâm ta bị bắt buộc phải cột vào đó, không chạy đâu được hết. Khi mà ta có một điểm Kanda rồi, vọng tưởng rất khó chạy bứt khỏi thân ta. Trước đây ta để ý toàn thân nó vẫn vọng tưởng ra khỏi thân nó đi cả thế giới, rồi sau đó ta để dưới bụng dưới nó vẫn chạy nhưng ta dễ kéo về, còn nếu đã để được một điểm ở dưới Kanda rồi rất khó chạy thoát ta. Và đây là cánh cửa để nhập định luôn. Có thể là vào định được luôn. Nên ai mà tìm được cái điểm Kanda, nói là tìm chứ nó không phải là điểm cụ thể, mình hiểu như vậy thôi, thì là tâm đã đến giai

[1:23:29]đoạn rất là tinh tế, rất là an ổn rồi. Ngày xưa, Đức Phật cũng được các vị giáo thọ sư trong triều đình dạy cái điểm này. Ngài nhập định năm 12 tuổi, lúc đó ngài an lạc, vua cha thì đang làm lễ hạ điền ì xèo vậy, cái ngài thích quá, thấy bóng cây mát ngài ngồi xuống để tâm Kanda lát sau nhập sơ thiền luôn. Và ta nhớ ngài Milarepa, vì một đại, một thánh sư của Tây Tạng cũng vậy, chính nhờ ông thầy khi mà rời thầy để xin đi nhập thất trên núi xa, ông thầy cho cái bài kệ dạy về cái Kanda rồi ngài cũng đắc đạo luôn. Nên cái điểm Kanda này rất là kỳ lạ. Nghĩa là sau khi ta biết các phép chỉ, ta biết các phép quán rồi thì nhớ cái

[1:24:09]điểm Kanda này là cái điểm mà cuối cùng để ta ta đi, ta sống, ta tu. Mà cũng khó nói ra ngoài được vì nó thuộc một kỹ thuật bí truyền, do đó là ta không cần nói rộng rãi. Ai có duyên thì ta chia sẻ, đó, cho nên bao nhiêu người ngồi đây sống để bụng chết đem đi, đừng nói cho ai biết. Giữ bí mật nha, giữ bí mật cái này. Bây

[1:24:37]giờ ta qua tới phép quán.

[1:24:41]Phép quán thực sự nó là cái tác ý, nó là cái suy nghĩ.

[1:24:47]Ta có những cái suy nghĩ loạn tưởng, ta có những suy nghĩ sai lầm, ta có những suy nghĩ ác độc, mấy cái đó từ từ ta tu ở giai đoạn trước ta loại trừ hết rồi. Thì ta còn lại cái tác ý trong cái điều thiện và trong cái đạo lý. Cái người mà tu thuần rồi họ vẫn còn suy nghĩ, nhưng cái suy nghĩ của họ nó trong trong cái giới mức của đạo lý và trong điều thiện. Cái người đó mình nhìn vào tâm họ mình thấy họ hiền lành lắm, nhìn gương mặt họ mình thấy, tại không còn những cái ác tâm nữa, không còn những cái tâm hại người này mưu cầu cái tham vọng, ích kỷ không có. Tâm họ có vẫn còn động, nhưng cái suy nghĩ trong đạo lý và trong điều thiện.

[1:25:26]Thì cái đó ta không gọi là quán, cái đó ta gọi là như lý tác ý, tác ý suy nghĩ đúng với đạo lý. Mà cái đó nó cần thiết lắm. Nó cần thiết ví dụ, ví dụ như ta,

[1:25:46]ví dụ ta đi ngang con đường, có bà già bả nhìn ta, bả ngơ ngơ bả nhìn ta, rồi ta đi qua luôn, ta không nghĩ gì, thì cũng chẳng có lỗi gì. Tại hai người xa lạ.

[1:26:04]Thí dụ lại, ví dụ ta đi qua đường, có một bà già xa lạ bả đứng bên lề đường, bả nhìn thấy ta, bả đưa con mắt ngơ ngơ nhìn ta tại bả không biết ta và ta không biết bả, rồi ta đi qua luôn. Rồi thôi hết chuyện. Nhưng hết chuyện đó mới là một cái dở của ta vì ta không biết như lý tác ý.

[1:26:26]Nếu ta biết như lý tác ý, ta đi ngang qua bà già bả nhìn ta ngơ ngơ, thì trong cái nhìn ngơ ngơ đó nó có nhiều nỗi niềm. Cái nỗi niềm gì? Nỗi niềm của một người có có ai quen hay không. Nhìn ra tại vì người già nhiều khi cô đơn lắm, con cháu đi xa hết trơn rồi, đôi khi đứng bên ngoài chỉ trông chờ gặp một người quen hàng xóm bạn cũ nào đó để có thể có một nụ cười, có một câu thăm hỏi nó cũng ấm áp với tuổi già. Mà ta không quen bả bả không quen ta, cuối cùng kiểm tra nhìn nhau không ai quen ai ta đi luôn, cũng không có lỗi gì nhưng đối với đạo lý nó là lỗi, nó là thiếu cái như lý tác ý. Lúc đó nếu ta là người có như lý tác ý, thì cái đơn giản nhất là trong

[1:27:11]âm thầm ta xin gửi đến cụ một chút tình yêu thương rồi ta đi luôn. Cái chút đó thôi cũng là một cái như lý tác ý tốt. Mà nếu ta có thêm chút thời giờ, ta khẽ cúi chào cụ, cười một chút, cho cụ một chút ấm áp thật sự cụ nhìn thấy được, còn hồi nãy ta gửi tình yêu thương vô hình cụ cũng không biết, và cụ cũng tiếp tục cô đơn của tuổi già, nhưng ta chỉ cần khựng lại một chút xíu, ta chào cụ, mỉm cười một chút xíu ta đi luôn. Ngày hôm đó tâm hồn cụ có một chút ấm áp, một chút nở hoa, cái đó gọi là như lý tác ý, hoặc hay hơn nữa ta cất tiếng nói: "Con chào cụ ạ! Cụ có gần đây không?". Ngày đó ta cho cụ một món quà của ngày hôm đó

[1:27:54]với một người già cô đơn nhiều nỗi niềm. Đó cái như lý tác ý là vậy. Trong cái cuộc đời vô số chuyện đời, vô số tình huống, ta đừng là một người vô tâm, vô cảm, mà lúc nào cũng vậy cái đạo lý của từ bi, yêu thương, của sự khiêm hạ cũng đầy trong tâm hồn mình, đụng chuyện là những cái đó nó khởi lên liền, đụng chuyện là nó khởi lên liền. Ví dụ như như như như hồi nãy, nãy sư bác vậy, hôm qua ta thầy phát tâm viết một bài nhạc hát cho sư bác cái khóa thiền hôm qua với sáng nay. Sáng nay khi mà ngồi uống trà trên đó thì sư bác nói câu này: "Cái đau khổ nhất là cái mà tiếp nhận một niềm vui". Cái đó là người có như lý tác ý á. Là bởi vì sao?

[1:28:40]Bởi vì niềm vui, cái lời khen ngợi lúc nào cũng là cái mồi bẫy cho sự kiêu mạn. Nhưng sư bác là một người có tu hành và tỉnh táo, nên sư bác nói câu đó là cái đau khổ là khi tiếp nhận niềm vui lời khen ngợi. Tại sao gọi là đau khổ? Bởi vì phải đối phó với những cái kiêu mạn thầm kín nào đó nó chực chờ nó khởi lên. Đó là người có như lý tác ý, người có đạo lý. Bên trong đầy yêu thương, đầy khiêm hạ thì mình đụng chuyện mọi tình huống mình biết khởi như lý tác ý lên để giữ tâm mình trong đạo đức, trong trong điều thiện. Đó là như lý tác ý. Và cái như lý tác ý giá trị của nó là giữ tâm hồn mình trong đạo đức, trong điều thiện.

[1:29:21]Nhưng qua tới phép quán là một cái sự cao cấp để đi vào thiền định. Quán là để đối trị vọng tưởng có nguồn gốc của tâm lý. Tại sao ta loạn động? Tại sao ta suy nghĩ? Bởi vì ta ham muốn, bởi vì ta giận hờn, bởi vì ta ích kỷ, bởi vì ta kiêu mạn, bởi vì ta cố chấp. Đây là những cái tâm lý, rất nhiều các loại tâm lý, những cái tâm lý nó cứ tiềm tàng tiềm tàng trong nội tâm ta và nó làm khởi vọng tưởng lên liên tục, khởi cái này khởi cái kia lên liên tục. Nên khi mà ta khởi vọng tưởng thì ta dùng cái phép chỉ, tức là chặn cái nguồn gốc của thân, nhưng phải biết dùng phép quán để chặn cái nguồn gốc của tâm, cái kiết sử của triền cái,

[1:30:04]của những bản năng, tập khí, những thói quen, những cái tánh xấu từ xưa. Chính vì những cái tập khí xấu, những tánh xấu, những kiết sử, những triền cái xấu nó làm cho vọng tưởng tuôn trào không dừng được, và phép quán chính là đối trị những điều đó. Mà phép quán tại sao nó có thể đối trị với những điều đó? Bởi vì nó lọt vào một cái loại công thức như thế này, công thức mà ngày xưa Khổng Tử có nói:

[1:30:31]Khi ngu mà biết mình ngu thì là

[1:30:36]hết ngu, bớt ngu, đại khái vậy, chứ nói trí thì hơi quá đáng. Nhưng mà nếu mình ngu, biết mình ngu thì mình bớt ngu. Ngày xưa Khổng Tử đã dạy đó và đó là một công thức, và công thức đó áp dụng vào trong việc thiền định rất là đúng luôn, rất là đúng. Nên khi ta loạn, biết mình loạn thì bớt loạn. Khi ta chấp mà biết mình chấp thì bớt chấp. Khi ta sân biết mình sân thì bớt sân. Khi ta tham biết mình tham thì bớt tham. Biết đúng cái lỗi của mình thì cái đó tắt. Đó là nguyên tắc. Cho nên trong bài kinh Quán Tự Ngã thì sao? Thấy mình là cái gì thì cái đó sẽ mất. Thấy mình hay thì hết hay liền. Cho nên sợ nhất cái lời khen á. Ai khen mình rồi mình thấy ai khen:

[1:31:24]"Cô đẹp quá ha", bảo đảm mấy bữa sau bị thẹo trên mặt liền. Nên là nó xấu liền, nó nó bị một cái gì đó, tức là: "Ồ khen anh thông minh quá ha", vài bữa sau thế nào làm cái gì cũng ngu ngu. Nó kỳ vậy á. Nên thấy mình là cái gì thì cái đó sẽ mất. Nên vì vậy ở đây ta thấy bao nhiêu cái lỗi của mình, bao nhiêu cái sai của mình, rồi thấy được cái điều đó, quán soi được điều đó, suy ngẫm về được điều đó thì ta bớt bị những cái lỗi đó và tâm thanh tịnh. Vì những cái lỗi đó là những cái lỗi làm cho vọng tưởng tuôn trào, bây giờ những lỗi đó tắt thì vọng tưởng không khởi lên nữa, đó là nguyên lý của phép quán.

[1:32:05]Thì những cái phép quán nào, những cái điều gì ta phải suy ngẫm, những sự thật nào ta phải biết khiến cho những cái lỗi của ta bớt từ từ, bớt từ từ. Trong cái những cái như lý tác ý á mà ta cần phải củng cố trước là ba cái tâm hạnh mà khi vào ngồi thiền á ta phải tác ý. Khi bắt chân vào ngồi thiền, ta tác ý ba cái tâm hạnh căn bản. Một là gì? Tôn kính Phật tuyệt đối. Hai là gì? Từ bi yêu thương tất cả chúng sinh. Ba là gì? Giữ tâm khiêm hạ tột cùng. Ba tác ý này cực kỳ quan trọng, là như lý tác ý á. Cho nên mọi cái điều tốt đẹp của ta đều sản sinh từ ba cái chân kiềng này, từ ba cái tâm hạnh căn bản này.

[1:32:46]Nên mỗi ngày khi ngồi thiền phải luôn luôn là như vậy. Mà không phải đợi khi ngồi thiền, trong đời sống hằng ngày mà lúc nào nhớ cứ nhắc mình cái đó. Con nguyện lòng tôn kính Phật vô biên, tuyệt đối. Con nguyện lòng yêu thương chúng sinh vô hạn. Con nguyện xin giữ mình khiêm hạ tột kình, tột cùng, lúc nào cũng thấy mình như là cát bụi, như cỏ rác. Cứ vậy, cứ thường nhắc câu đó để giữ ba cái tâm hạnh này cho kỹ, ba cái như lý tác ý này thật kỹ. Còn phép quán thì là bắt đầu chỗ khác. Phép quán là thế này: Ta liệt kê các phép quán ra. Cái phép quán á, à hồi nãy ta nhớ lại cái công thức, biết mình ngu thì thì bớt ngu, biết mình động thì bớt động.

[1:33:29]Cái gọi là bớt ngu, cái gọi là bớt động nghĩa là gì?

[1:33:36]Là nó xuất hiện một trạng thái tỉnh giác trong tâm mình liền. Xuất hiện một trạng thái tỉnh giác vằng vặc vằng vặc trong tâm. Và cái trạng thái tỉnh giác vằng vặc vằng vặc trong tâm đó nó kiểm soát không cho vọng tưởng lừa mình qua mặt mình. Vọng tưởng nó khởi á, nó chạy ra khỏi thân mình, mình dùng cái pháp Chỉ kéo lại trong thân. Nhưng mà với cái pháp Quán á, mình xuất hiện một sự tỉnh giác tràn ngập rỗng rang trong tâm thì vọng tưởng nó vừa máy động mình thấy mặt nó rồi, không có đi nữa, ở lại là nó tắt. Nên đây là hai cái công năng nó khác nhau: cái Chỉ dừng tâm lại, kéo tâm về lại với cái thân mình, với cái can-đa của mình.

[1:34:20]Nhưng với cái Quán thì nó không kéo mà nó thấy, nó thấy cái vọng tưởng khởi lên. Tâm mình xuất hiện một trạng thái tỉnh giác vằng vặc vằng vặc, rỗng rang. Đây là giai đoạn của bắt đầu chuẩn bị bước vào cái chánh niệm, nhưng mà chánh niệm là qua bài kế tiếp ta mới nói, hôm nay ta nói chút chút vậy thôi. Mệt chưa à? Chưa ha? Thiệt không? Hết giờ rồi đó. Hôm nay ta giảng cũng sớm rồi, hai tiếng đồng hồ rồi đó, ngồi hai tiếng rồi đó. Thôi ráng hai tiếng rưỡi nha.

[1:34:58]Chưa được phân nửa bài. Vậy bởi vì cái chánh tinh tấn á vậy nó là phương pháp thiền á, mình phải nói cho hết để mình biết tu và biết dạy người khác. Nhớ trong đầu vậy, mình tu để dạy người khác chứ đừng có nghĩ là tu là tu cho một mình mình nha. Khi ta tu thiền phải nhớ trong đầu: tu rành rẽ để dạy người khác. Nên phải biết cho hết mọi cái đường đi ngóc ngách chi tiết của thiền, biết hết mọi thứ, không có cái gì sót hết. Biết rồi mà không ngồi thiền chết nha. Chết nha!

[1:35:30]Cái thứ nhất, cái liệt kê thứ nhất của thiền là quán thân vô thường. Vậy đó. Khi ta biết toàn thân rồi, hơi thở ra, hơi thở vào rồi, nhớ thân này vô thường, suy nghiệm về sự vô thường của thân. Thân này vậy chứ không có bền ha, ai cũng vậy, sinh ra, phát triển cơ thể lớn lên rồi đến lúc bắt đầu những cái tế bào nó trong cái quá trình nó phân chia tế bào nó bị suy thoái, nó bị lỗi, bắt đầu ta xuất hiện bệnh rồi già rồi chết, đại khái là như vậy. Đó là ai cũng bị như vậy hết. Có người già rồi mới bệnh, có người bệnh rồi mới trước khi già, vậy có người chết trước khi, có người chết sau khi bệnh, có người chết chưa già chưa bệnh cũng chết.

[1:36:11]Thân này thật là nó nó mong manh. Nhưng mà tại sao mãi tới khi tu thiền gặp Phật pháp, ta mới quán thân này vô thường trong khi cái việc mà cái thân này nó tạm bợ, mong manh vậy nó là điều hằng hữu, từ xưa tới giờ như vậy ai cũng biết nhưng không ai suy ngẫm cả. Và ta thành ra chấp thân, xem cái thân mình rất là quan trọng. Thôi xin lỗi con nha. Con con phải là làm cái nghề là diễn viên rồi đại khái vậy. Nhưng mà nhiều khi trong đạo lý nhiều khi nó hơi thẳng, nhưng thôi con ngoan thì con không giận đâu. Cái việc mà thân vô thường ai cũng biết, con người sống rồi ai cũng phải chết, ai cũng biết nhưng mà ta không bao giờ suy ngẫm về nó phải không ạ?

[1:36:54]Ta chỉ thỏa mãn, nô lệ, nuôi dưỡng cho thân và cái thân nó ràng buộc của ta dữ dội lắm. Cái tột cùng của cái thân là cái sợ chết. Là ai cũng sợ chết, ai hăm: "Tao giết mày à" cái sợ liền. Nhưng mà thực sự cái thân không cần đợi giết nó cũng phải chết. Ta thấy cảnh những trong phim á: "Thôi xin lỗi đừng giết tôi, tôi sẽ làm này làm kia" là ai cũng phải sợ chết, lấy cái chết ra đe dọa ai cũng sợ. Nhưng mà sự thật rồi ai cũng phải chết mà. Nên ta mới thấy anh hùng Nguyễn Văn Bảy á, nói "Này, ông có bay máy bay vô đội hình của giặc nó bắn sao?". Nói: "Bắn trúng, nó bắn chưa chắc trúng. Trúng chưa chắc rớt, mà rớt chưa chắc chết". Tỉnh queo luôn.

[1:37:37]Ông già ổng lì thiệt, sợ thiệt! Lì. Chứ còn bình thường của ta là ta yêu thân này, ta quý thân này và cái yêu, cái quý thân này thành một cái chấp thân, và từ cái chấp thân này ta đủ thứ tham, sân, si xuất hiện và vọng tưởng trào tuôn. Nên khi mà ta chặn được cái chấp thân, biết thân này là vô thường, ta bớt yêu thân, bớt chấp thân, bớt tham sân si quanh cái thân, vọng tưởng bớt liền và xuất hiện một sự tỉnh giác. Chỉ cần ngồi quán biết thân này vô thường, thân này sẽ già, sẽ bệnh, sẽ chết, bỗng nhiên cùng xuất hiện tỉnh giác cũng như bớt vọng tưởng liền. Thì một phép Quán là như vậy. Rồi cái gì nữa?

[1:38:16]Cái gì làm cho ta vọng tưởng nữa? Đời. Nên mới có chữ mê đời đó. Ở ngoài kia là gì? Bao nhiêu là niềm vui ờ bao nhiêu trò vui, bao nhiêu niềm vui, bao nhiêu cái sang, cái đẹp, tại vì cái xấu người ta giấu ở trong nhà đó, người bước ra ngoài đường ai cũng đẹp hết trơn á. Nhưng về vô trong nhà nó mới thấy cái xấu của mỗi người, còn bên ngoài ai cũng đẹp á, nên hào nhoáng của thế gian này là là cái gì nó đẹp, là cái gì nó vui. Nhưng thực sự bản chất giấu đằng sau của những cái vui, cái đẹp của thế gian này là cái gì? Là sự tạm bợ, là nguy hiểm, là lừa đảo, là ác độc, là gian tham, là lợi dụng.

[1:38:59]Rất khó có cái cái tình yêu thương chân thật giữa người với người. Chỉ những người tu tập rất là thuần, mình thương ai là thật lòng thương á, không trong tâm không còn có một chút tính toán. Còn đa phần á nói thương ai á, trong tâm vẫn còn có tính toán ở trong á. Kể cả những người đã lấy nhau làm vợ làm chồng, kể cả những người đưa tay thề sống chết với nhau, nhưng trong họ, trong bao nhiêu phần trăm tâm hồn vẫn còn một góc của sự gian dối ở trong á. Trên đời này không có ai thương ai thật lắm, trừ những người chứng đạo thôi. Người chứng đạo, ta nghe một người chứng đạo nói: "Thầy thương con" là ổng thương thiệt á, không một chút tính toán gì hết á,

[1:39:37]hoàn toàn thương, không một mưu đồ gì trong tâm. Còn đa phần: "Anh yêu em lắm", coi chừng ổng ổng nói có một phần ba, còn hai phần ba ổng giấu gì dối gian ở trỏng á, chứ không phải vậy. Tôi không có nói xỏ Nhật Kim Ngộ nha con. Nay này ổng tu lắm nên không không có phải lo. Sư không có nói xiên nói xéo gì đâu nha, không có. Nhưng mà người biết tu mình thật lòng, chứ ngoài đời cái thế gian này là như vậy: vô thường và gian dối và nguy hiểm, tạm bợ. Đó cũng là một cái để ta suy ngẫm. Khi ta suy ngẫm thế gian coi như hào nhoáng như vậy, coi vậy chứ ẩn giấu đằng sau là những điều tạm bợ, gian dối và nguy hiểm, hư ảo như một giấc mộng mà thôi.

[1:40:19]Thì suy ngẫm điều này cũng làm sao? Tâm ta bớt vọng tưởng, bớt tham đắm, bớt mê đời, bớt chạy ra ngoài. Vì sao vọng tưởng nó chạy đi đâu? Chạy ra đời! Chạy ra ngoài của cuộc đời, chạy trên đường, trên phố, trên xứ này xứ kia, phim ảnh và con người, đủ thứ sự việc, sự vật rần rần trong cuộc đời, nên khi ta nhìn thấy toàn bộ cuộc đời coi vậy chứ tạm bợ và hư ảo, bỗng nhiên ta bớt vọng tưởng liền. Nhiều người nói: "Nếu mà suy nghĩ cuộc đời hư vô, tạm bợ, hư ảo quá, vậy có phải tiêu cực không? Có phải tiêu cực, chán nản không?". Nói: "Không!". Mình phải nhìn thấy cái sự thật như vậy để cho khi mình đừng có bị cuộc đời này lôi kéo, mê đắm.

[1:40:59]Và cái gì còn lại sẽ là một sự thật? Cái gì còn lại sẽ là một sự thật là cái gì? Cái tình yêu thương chân thật, là trách nhiệm với cuộc đời này. Trách nhiệm với cuộc đời này là trách nhiệm cái gì? Trách nhiệm với gia đình mình, trách nhiệm với đất nước mình. Cái trách nhiệm cái còn lại chỉ là một cái trách nhiệm, chứ không còn là cái mê đắm nữa. Ta nói ví dụ bây giờ trong cái gia đình mình khi mà hai người họ thương nhau, họ thành cái vợ chồng,

[1:41:30]cái tình thương đó nó vừa giả mà vừa thật. Giả là gì? Vì nó là thuộc về duyên nợ, và nay còn mai mất không biết chừng bởi vì bao nhiêu cặp ly dị là vậy đó, bởi vì coi vậy chứ nó giả. Nhưng nó thật là gì? Nó thật là vì nó có cái gốc ở kiếp xưa đó, có duyên nợ gì bây giờ mới thương nhau. Và nó thật là gì? Khi người nào đó có tu tập thì cái tình thương họ là một cái trách nhiệm. Họ không sống vì cái ảo tưởng, vì cái hưởng thụ, vì cái mê đắm, mà vì trách nhiệm. Và họ hạnh phúc trong cái trách nhiệm, họ an vui trong trách nhiệm. Còn những người không có đạo đức thì trốn cái trách nhiệm, nhưng những người có đạo đức thì họ vui trong cái trách nhiệm. Bây giờ ta ví dụ:

[1:42:15]một anh chàng anh nói yêu một cô nàng là anh yêu cái gì?

[1:42:21]Đầu tiên là yêu sắc đẹp, phải không ạ? Đầu tiên của người ta là yêu sắc đẹp cái đã, còn cái đạo đức, nết na hay cái tánh hạnh gì đó từ từ tính sau. Đầu tiên đàn ông đi dòm dòm dòm dòm coi có đẹp hay không cái đã. Đó là bệnh đầu tiên đầu tiên của đàn ông. Hỏi hỏi vì đầu tiên cái câu mà thả thính mà tán tỉnh đầu tiên của người đàn ông là cái gì? Anh Từ Ân, hồi xưa nói câu gì, nói coi! "Em đẹp quá!", đúng không ạ? Đó là cái câu thả thính đầu tiên á. Giống như là có cái ông này ổng nhìn thấy người Lưu Diệc Phi cái ổng: "Trời ơi, đúng đây rồi!". Đó vậy. Đó "Em đẹp quá!", đó là cái câu đầu tiên, tức là cái thân. Đó vậy.

[1:43:01]Mà khi ta thương yêu, nhưng mà liệu đó là trở thành cái hưởng thụ cá nhân hay thành một cái trách nhiệm là vấn đề phía sau. Khi mà trách nhiệm nghĩa là gì? Trách nhiệm với cả cái thân của người đó nha. Khi anh khen đẹp, anh thương là trách nhiệm với cả cái thân, mà cái thân người đó là gì? Ổ bệnh hoạn. Cái già, cái bệnh, chết nó sẽ tới với cái thân đó, và anh phải đủ trách nhiệm để gánh cái thân đó cho tới khi họ chết, đủ hay không? Đó là thuộc về tình thương yêu. Nên cái bản chất của nó mình phải biết: thân này là vô thường, cuộc đời này là hư ảo, ta phải thấy. Và ta thấy điều đó không có nghĩa là ta trở thành

[1:43:38]một kẻ tiêu cực, chán đời, mà thấy điều đó để chỉ còn lại cái đạo lý, đạo đức là trách nhiệm, sống với trách nhiệm vậy thôi, an vui trong trách nhiệm, đó là người biết tu đó nha. Nên đây cái phép Quán này vậy.

[1:43:57]Đầu tiên là thấy thân này là vô thường, hay là thấy cuộc đời này là hư ảo, tạm bợ, nguy hiểm, coi vậy chứ giả dối, biết điều đó. Đó là cái thấy như vậy. Và cái thứ ba nữa là thấy thân này bất tịnh,

[1:44:16]bệnh tật. Tại sao nó nằm ở thứ ba? Bởi vì tới mức độ này tâm người ta thanh tịnh rồi mới thấy rõ cái sự bất tịnh của thân.

[1:44:27]Còn thân là bất tịnh, nhớ như vậy. Con người cũng vậy, người giàu cũng vậy, người nghèo cũng vậy, con người cũng vậy và con thú cũng vậy, thân là bất tịnh. Điều này không thể chối cãi. Ta không cần phải phân tích, hôm nay ai cũng hiểu rồi, ta không cần nói sâu. Thân là bất tịnh, nhưng thường ta quên. Ta quên vì sao? Vì ta che đậy sự bất tịnh nó lại bằng cái gì? Y phục đẹp nha, việc tắm rửa sạch sẽ, và đôi khi ta có sự trang điểm, ta có dầu thơm, vân vân. Những cái đó ta che đậy sự bất tịnh lại, chứ bản chất thân là bất tịnh. Còn khi một người mà họ có thiền định, tâm họ yên rồi, họ nhìn điều đó rất rõ.

[1:45:07]Họ nhìn điều đó rất là rõ. Nhìn coi vậy chứ một vòng, thân là bất tịnh. Nhưng mà cái cái trong cái bất tịnh đó, cái may mắn là có thể có một tâm hồn cao quý nằm ở trong đó nếu người đó là đệ tử Phật. Nếu người đó là đệ tử Phật, họ cũng đang mang một cái thân bất tịnh đó, nhưng mà giấu trong đó một cái tâm hồn cao quý, biết yêu thương, biết tin nhân quả, hướng về sự giác ngộ, có lòng tôn kính Phật, thì những điều đó rất là đẹp trong cái tâm hồn của người đó, chứ còn thân là bất tịnh. Mà nếu thương ai là phải gánh cái bất tịnh đó, có trách nhiệm với cái bất tịnh, cái già, cái chết đó. Và chấp nhận nó vậy thôi.

[1:45:46]Đó là duyên là nợ, đành phải chấp nhận như vậy. Nói vậy có buồn không ạ?

[1:45:57]Rồi một cái quán khác nữa là thế này. Cái cảm giác chúng ta,

[1:46:05]trong cuộc sống này có khi ta buồn, có khi ta vui, và ta thích tìm niềm vui, ta trốn tránh nỗi buồn. Trời, ổng không cho giảng nữa rồi. Thôi lần à lần sau đi nha. Thôi nghỉ đi nha, để nghỉ cho Phật tử ngoài kia nghỉ.