Transcript: Tứ Niệm Xứ 01

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 50:43

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:28]Từng ngày con nhớ Phật,

[0:43]dịu dàng nơi cõi lòng.

[0:48]Chiều tà trăng lững lờ,

[0:54]trời đẹp như ước mơ. Từng ngày khi nắng lên, mặt trời soi chiếu về...

[1:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên chư tôn Hòa thượng, Đại đức Tăng Ni. Hết sức là cảm niệm công đức các vị đã về đây dự lễ đại lễ Phật thành đạo nơi Thiền tôn Phật Quang này.

[1:27]Và cũng cảm ơn tất cả các Phật tử vì không có quản đường sá xa xôi, nhiều cái điều cũng không được thuận lợi về đây dự đại lễ Phật thành đạo này. Chúng ta biết rằng Phật đắc đạo nhờ thiền định, suốt cuộc đời của Ngài cũng dạy thiền định. Và vì vậy, ngày nào còn có người tu tập thiền định, ngày đó đạo Phật còn tồn tại. Ngày nào không còn ai tu tập thiền định thì lúc đó đạo Phật đã thực sự biến mất dù cái tên đạo Phật vẫn còn. Đó. Ngày nào còn đông người tu tập thiền định thì ngày đó đạo Phật còn đang hưng thịnh.

[2:25]Ngày nào rất ít người tu tập thiền định thì đó là ngày đạo Phật đã suy tàn. Nhớ như vậy. Nên hôm nay tưởng niệm Đức Phật thành đạo, chúng ta về với nhau như thế này, vai kề vai, chân đụng chân, tọa thiền để nguyện lòng đi theo con đường mà Đức Phật đã thực hành và dạy dỗ, đó là thiền định. Và nguyện sẽ đem cái thiền định này thắp sáng cả thế gian này. Phải làm sao ta lây lan cái thiền định này, lây nhanh hơn, lây nhiều hơn Covid-19. Ai đến gần ta rồi cũng phải yêu thích thiền định, như vậy để làm cho Phật pháp được hưng thịnh mãi mãi. Ta nói vậy, ai quen ta, đến gần ta, chạm vào ta lập tức bị lây

[3:23]cái thiền định liền, lây cái yêu thích thiền định liền. Bởi vì sao vậy? Bởi vì họ nhận ra ta quá tuyệt vời. Và họ hỏi tại sao ta có thể sống tuyệt vời như vậy, thanh tịnh như vậy, yêu thương như vậy, tử tế như vậy, siêng năng như vậy, tận tụy như vậy? Thì ta trả lời, "Bởi vì tôi có, tôi có thiền định của Phật dạy." Cho nên là và nếu bạn muốn có một cuộc sống hạnh phúc, thanh tịnh, yêu thương, tử tế, phụng sự, cống hiến như vậy thì hãy cùng tôi thiền định. Bằng cách đó, bằng cái sự thực hành nơi chính mình và sự giải thích đẹp đẽ với mọi người, ta làm cho thiền định được lây lan, thắp sáng lại hành tinh này bằng cái con đường

[4:13]thiền định thiêng liêng mà Đức Phật đã dạy dỗ.

[4:20]Có một lần, Đức Phật đến cái xứ Kuru.

[4:26]Cái xứ Kuru có một cái điều đặc biệt thế này là ngày xưa cha của vua Ba-tư-nặc là vua Mahā Kosala, ông có một vị tế sư siêu việt. Ông tế sư này là giống như cố vấn về tâm linh cho vua Mahā Kosala. Ông có khả năng tiếp xúc với các vong. À, ông có khả năng tiếp xúc nên ông nghe vong nói chuyện được, mách được. Do đó, khi vong mách ông chuyện này chuyện kia, ông cố vấn lại cho vua và cố vấn lại cho nhiều quần thần. Vì vậy là vua rất kính trọng ông và cái uy tín của ông đối với trong triều đình của nước Kosala ở Sāvatthī, Xá-vệ rất là lớn, nhiều người quy hướng về ông. Đến khi vua Mahā Kosala mất, ngai vàng mới trao về cho vua Ba-tư-nặc Pasenadi

[5:17]thì vua Ba-tư-nặc cũng kính trọng ông, cũng mời ông ở lại làm tế sư. Nhưng lúc đó, ông cảm thấy mình đã lớn tuổi à và ông xin phép là thôi ông được a từ giã triều đình, hoàng cung để đi tìm một nơi tu tập làm đạo sĩ. Thì vua Ba-tư-nặc cũng cảm cái tình của ông như vậy, cái tình nghĩa của ông bao lâu nên đã cho phép ông rời đi, đi làm đạo sĩ ở một nơi nào đó và cung cấp cực kỳ nhiều cái tài sản vật chất cho ông. Rồi khi ông đi như vậy, rất nhiều rất nhiều người ở thành Xá-vệ đã đi theo ông luôn, đi tu theo ông luôn. Mà không ngờ là ông đi rất là xa, ông tìm đến cái xứ Kuru bên bờ sông, ông dựng một cái đạo tràng tu tập.

[6:04]Và đạo tràng đó thực sự lớn hơn cả cái đạo tràng của Kỳ Viên Tinh Xá luôn, cả cái Trúc Lâm luôn vì cái uy tín của ông từ rất là lâu. Và đặc biệt là bởi vì ông có khả năng nói chuyện với vong, nghĩa là những người âm binh, những người đã chết vậy, những dạ-xoa, quỷ thần gì ông tiếp xúc được, họ mách cho ông chuyện này, mách ông chuyện kia là ông biết cái điều đó ông nói người này, ông chỉ bảo người kia, điều đó rất là đúng, nên làm cho người ta tin quá chừng tin. Đó, nó ở ranh giới của tà kiến, nhưng mà chỉ có cái may là ông Aggidatta này ông tâm ông thiện, ông không phải là người ác nên không thành một tà sư, chứ cái pháp mà ông sử dụng đúng là bờ vực của pháp tà.

[6:49]Thì sau này khi Đức Phật mới đắc đạo rồi giáo hóa, một hôm Ngài ngồi thiền, Ngài nhập định Ngài mới thấy rằng cái ông tế sư đó coi vậy chứ có duyên chứng được A-la-hán. Và nếu độ được ông thì cả hơn 10.000 đệ tử của ông cũng sẽ thành người đi theo Phật pháp luôn. Nên Đức Phật quyết định đi về đó để giáo hóa. Nhưng mà nhưng mà vì có một cái sự việc rất là khó chứ không phải là dễ, lúc đó có một sự việc rất là khó nên ngài Mục-kiền-liên phải đến trước để dọn đường, rồi Đức Phật mới đến sau để giáo hóa cho cái ông tế sư đó được đắc đạo. Ừm. Còn cái chuyện mà nó khó như thế nào, nó gay cấn như thế nào

[7:34]thì xin mời ta sẽ xem cái bộ truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết tập 42. Tiếp thị đó, tiếp thị hồi hộp như vậy.

[7:46]Thì sau khi giáo hóa được hết cái đạo tràng mười mấy ngàn người đó theo Phật pháp tu xuất gia hết thì Đức Phật cũng ở lại đó tiếp tục mà dạy dỗ. Và có một bài kinh cực kỳ quan trọng ở cái xứ Kuru đó là bài kinh Tứ Niệm Xứ. Đức Phật dạy về thiền định. À, bài kinh Tứ Niệm Xứ nằm trong Trường Bộ kinh, nằm trong Trung Bộ kinh. Ai cũng biết cả, ai cũng nghe, ai cũng đọc cả, nhưng thật sự rất ít người có thể hiểu thấu đáo về bài kinh Tứ Niệm Xứ này. Đây là một bài kinh dạy về phương pháp thiền rất là quan trọng, quan trọng mà hiệu quả đến nỗi Đức Phật nói rằng nếu ai thực hành được Tứ Niệm Xứ này thì có thể trong 7 năm đắc đạo.

[8:30]Mà đừng nói 7 năm, có thể 7 tháng đắc đạo, đừng nói 7 tháng, có thể 7 tuần đắc đạo, và thậm chí có thể 7 ngày có thể đắc đạo. Tức là Đức Phật hứa hẹn cái cái hiệu quả của cái phương pháp Tứ Niệm Xứ là như vậy. Nhưng mà sau đó thì cho đến nay cũng nhiều người ròng rã tu tập Tứ Niệm Xứ 70 năm rồi vẫn chưa thấy đắc đạo, chỉ bởi vì bài kinh Tứ Niệm Xứ nó không dễ hiểu. Do vì cái ngôn ngữ cách trở từ cái vùng Ấn Độ qua sang Việt Nam cách trở bởi thời gian hơn 2.500 năm trước cho tới bây giờ nên những cái từ mà Đức Phật nói, ta nghe lại ta không hiểu. Cái hồi xưa có dùng từ đó, bây giờ từ đó không ai

[9:16]nói nữa, nên bây giờ có dịch sang tiếng Việt Nam, dịch đi một từ cái tiếng Pāli sang tiếng Việt Nam rồi ta đọc ta cũng không hiểu Phật nói cái gì. Đó là một trở ngại rất là lớn. Và cái dù ta có hiểu rồi thì cái hệ thống bài kinh Tứ Niệm Xứ mà Đức Phật nói chi ly kỹ lưỡng giống như trình độ tiến sĩ về thiền định, còn ta thì mới chập chững ở cái cái học cái cấp một tiểu học, ta cũng không đủ trình độ để hiểu. Tuy nhiên, nếu ta không hiểu Tứ Niệm Xứ là một thiệt thòi rất lớn trong việc tu tập thiền định. Nên hôm nay nhân đại lễ Đức Phật thành đạo, chúng con cầu nguyện trên ơn Phật gia hộ cho chúng con được nghe bài kinh Tứ Niệm Xứ,

[10:02]được hiểu bài kinh Tứ Niệm Xứ dù ở cấp độ tiểu học để làm cái căn bản mà chúng con bước lên trên con đường thiền định vô tận cao siêu này.

[10:19]Tứ là bốn, niệm là nhớ, xứ là chỗ. Bốn chỗ để ta phải luôn luôn nhớ.

[10:29]Nghĩa là như vậy.

[10:33]Mà tại sao phải tu tập thiền định là phải có bốn chỗ để nhớ? Trong khi rất nhiều thiền sư dạy cho ta thiền định dạy một cái một thôi, một chỗ một thôi, nắm một cái gì đó để tu thôi. Và các vị tin rằng chỉ cần nắm một cái chỗ để tu thì có thể chiến thắng được vọng tưởng, vào được thiền định, rồi đạt được sự giác ngộ. Nhưng thực sự không dễ, Đức Phật dạy tới bốn chỗ. Nó giống như cái này, giống như

[11:07]trong cái ngôi trong cái thành kia đã bị giặc chiếm, giặc vọng tưởng nó chiếm. Bây giờ ta phải tấn công vào cái thành đó, ta tiêu diệt cái kẻ kẻ địch trong đó. Ta chiếm lại thành, xây dựng lại một cái vương quốc tốt đẹp. Ý là như vậy. Và ta đem một đội quân để tấn công vào thành đó. Ta tấn công ròng rã 10 năm.

[11:36]Giặc không sao cả. Ta cứ hao binh tổn tướng, mệt mỏi mà cái giặc vọng tưởng vẫn không nhúc nhích.

[11:46]Giờ phải làm sao? Thêm một cánh quân nữa. Thêm một cánh quân nữa, ta ròng rã thêm 10 năm nữa, kết hợp cả hai mũi tấn công, đánh vào cái thành đó để hy vọng là diệt được cái tên giặc ở trong đó, ta chiếm lại vương quốc, xây dựng một vương quốc tốt đẹp cho mọi người. Nhưng qua 10 năm nữa, giặc vẫn trơ trơ, vọng tưởng vẫn tồn tại, không không sao cả. Thế là ta phải thêm một cánh quân nữa là ba mũi tấn công. Ba mũi tấn công để đánh cái vào cái thành đó mà diệt cái giặc vọng tưởng thêm 10 năm nữa. Nhưng sao? Không, cũng không thành công, giặc vẫn tồn tại. Và Phật dạy ta phải bốn mũi tiến công. Nếu ta tiến công đủ bốn cái mũi tiến công này

[12:37]thì Phật hứa hẹn với chúng ta, Phật bảo đảm chúng ta giặc sẽ bị tiêu diệt. Đây là lời hứa của Phật, lời hứa rất trang trọng trong kinh Trường Bộ, trong bài Đại Niệm Xứ. Do đó, hôm nay ta nói về Tứ Niệm Xứ để hiểu về bốn cánh quân đánh vào cái thành trì vọng tưởng. Ta sẽ ngạc nhiên. Nói rằng nếu mà dùng tới bốn cánh quân như vậy thì tâm ta rất là căng thẳng, rất là bức xúc, và thậm chí rất là loạn động. Ta sẽ nghi ngờ như vậy. Là diệt vọng tưởng làm sao cho vọng tưởng đừng khởi lên nữa mà ta lại dùng quá nhiều cánh quân thì coi chừng chính bốn cánh quân này lại là một loại vọng tưởng chăng? Làm phiền thêm hay chăng?

[13:27]Không, don't worry, đừng lo, hãy đặt niềm tin vào Đức Phật. Hãy đặt cuộc đời của ta vào bàn tay của Phật. Nha, phải trọn niềm tin Phật tuyệt đối. Và ta yên trí rằng Phật đã dạy ta Tứ Niệm Xứ tấn công vào thành trì của giặc bằng bốn cánh quân, bao vây bằng bốn hướng thì ta cứ sắm sửa bốn cánh quân mà tu tập. Bốn cánh quân đó chính là Tứ Niệm Xứ. Phật định nghĩa Tứ Niệm Xứ là: quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Ai nghe câu đó hiểu gì không? Cái từ đó là từ hồi xưa dùng, đừng vỗ tay, có hiểu đâu mà vỗ tay. Quán thân trên thân, có hiểu gì không? Không. Vì cái từ đó ngày xưa Ấn Độ nói, mấy ngàn năm rồi không ai nói cái cái chỗ đó nữa.

[14:24]Ví dụ bây giờ ta gặp một cái hòa thượng à ta nói, "À, con gặp hòa thượng, con con nhìn hòa thượng trên hòa thượng."

[14:36]Hòa thượng có hiểu không? Không hiểu, hòa thượng ngơ ngơ không biết mình nói gì. Sau thấy hòa thượng ngơ ngơ mình nói, "Thôi hòa con xin lỗi hòa thượng, tại con đang nói cái ngôn ngữ của Ấn Độ 2.500 năm trước." Không giao dịch được với nhau, không giao tiếp được với nhau vì cái cách nói này ngày nay không còn ai nói nữa. Nên khi Đức Phật dạy Tứ Niệm Xứ là: quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp, không ai hiểu.

[15:04]Nhưng nhờ Phật gia hộ nên hôm nay ta sẽ hiểu.

[15:15]Nhưng trước khi mà muốn dùng bốn cánh quân đánh vào thành thì chuyện gì cần phải làm trước?

[15:33]Cho quân ăn no cái đã, bụng đang đói sao đánh giặc. Nên trước khi tu tập Tứ Niệm Xứ, trước khi quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp, vui lòng cho các cánh quân đó ăn no, đủ cái đã. Tức là trước khi thực hành Tứ Niệm Xứ, ta phải thực hành phương pháp hơi thở cái đã. À, bí quyết chỗ này. Cái hơi thở chính là cái hậu cần nuôi quân thì ta mới có thể ứng dụng được Tứ Niệm Xứ. Chưa tu tập hơi thở thuần thục thì tu tập Tứ Niệm Xứ không có hiệu quả, giống như đem bốn cánh quân đánh vào cái thành của giặc mà quân thì đói meo, không đánh được ai, chính mình đã gục ngã rồi.

[16:21]Trước đó phải tu tập hơi thở. Và Phật dạy phương pháp tu tập hơi thở trước khi tu tập Tứ Niệm Xứ là ta ngồi bất động như hồi nãy vậy. Cảm giác toàn thân. Hơi thở vào biết hơi thở vào, hơi thở ra biết hơi thở ra. Hơi vào dài biết vào dài, hơi vào ngắn biết vào ngắn. Hơi ra dài biết hơi ra dài, hơi ra ngắn biết hơi ra ngắn. Nói nhiều hơn một chút nhưng căn bản của hơi thở là như vậy. Thì căn bản hơi thở là trước hết ngồi thiền kiết già, đừng nhúc nhích, giữ thân mềm mại, bất động và cảm giác toàn thân, biết rõ toàn thân. Chỉ nhiêu đây thôi cũng rất nhiều người chưa thực hành được. Rất nhiều người chưa thực hành được.

[17:10]Cảm giác toàn thân, biết toàn thân. Khi ta biết toàn thân thì là biết làm sao? Biết cả trên và dưới, trước và sau, trong và ngoài mới gọi là biết toàn thân.

[17:29]Cả trên và phải biết ở dưới, dưới càng thấp càng tốt, trước và sau, trong và ngoài, ngoài và trong. Phải biết như vậy. Và như vậy, khi ta thực hành rồi ta mới thấy có những cái vùng mà ta không để tâm đến, không cho cảm giác đến, không biết tới nó thì đó là sai.

[17:54]Cũng giống như là ta không chốt được lại cái xích của cái cảm giác toàn thân là phải biết tới tận rất chỗ rất thấp của cơ thể, phải biết được tới cái chỗ ở phía sau, phía dưới của cơ thể mà chỗ đó là chỗ ta thường bỏ qua, ta bị quên. Nên ta tu tập không hiệu quả. Là chưa thực hành được cái căn bản ban đầu là cảm giác toàn thân, biết toàn thân. Nên nhắc lại, cảm giác toàn thân phải là biết tới tận cái ở dưới thấp nhất và tới tận ở cái phía sau nhất. Chỗ đó là cái chỗ ta khóa lại cái căn bản đầu tiên của việc biết toàn thân. Nên nếu khi ta ngồi bất động ngồi thiền, đầu tiên phải cảm giác toàn thân

[18:45]mà cái biết của ta chưa xuống tới dưới thấp nhất, cái biết của ta chưa ra tới phía sau nhất thì ta chưa thực hành đúng lời Phật dạy. Tức là nói về cái hậu cần để mà đi đánh giặc là sai, gạo chưa có. Có gạo rồi phải nấu, là hơi thở.

[19:05]Và cái hơi thở ban đầu ta đừng cố ý thở, đừng cố ý điều khiển theo ý muốn của mình mà phải sao? Biết mà thôi. Hơi thở vào biết hơi thở vào, hơi thở ra biết hơi thở ra. Không hề cố ý muốn là cho nó phải dài thế này, muốn nó phải ngắn thế này, ta không đưa cái ý chí mình vào trong hơi thở mà chỉ lặng lẽ biết, biết rất tỉnh giác. Vừa biết hơi thở, vừa biết gì? Toàn thân. Tại cái toàn thân là đi trước rồi. Thì sau đó bắt đầu ta thấy cái thân này nó đang thở. Khi ta biết toàn thân đúng rồi thì ngay lập tức ta sẽ biết hơi hơi thở. Đó là cái trình tự không thể khác được. Cái thiền đó là vất vả như vậy.

[19:50]Nhưng ta phải thiền để giữ gìn Phật pháp, ta phải thiền để làm lây lan cái thiền định cho mọi người. Nhưng rất là cực, vì nếu không cực tu không thành thánh được. Thì khi mà cái hơi thở ta biết hơi thở vào, biết hơi thở ra, biết chứ không điều khiển thì ban đầu hơi thở có khi nó động, có khi nó mạnh, có khi nó dài, có khi nó ngắn, nó không êm là do tâm ta còn loạn. Vì hơi thở là nó phản ánh nội tâm. Nhớ giùm như vậy. Hơi thở của ta phản ánh nội tâm của ta. Cái người tâm tư điềm tĩnh thì hơi thở sẽ êm dịu, người tâm tư vụt chạc xao động thì hơi thở sẽ dồn dập, gấp rút. Đó là nguyên tắc. Thì bây giờ ta nắm hơi thở cũng thực sự là đang nắm vào nội tâm của mình.

[20:44]Có nhiều người chỉ cho rằng chỉ cần nắm hơi thở có thể nhập định đắc đạo được, đó là những người mà căn cơ cũng rất là cao, ta không phủ nhận điều đó. Nhưng không đủ, vì Phật dạy ta tới Tứ Niệm Xứ mà Tứ Niệm Xứ là cái sau hơi thở. Thầy nhắc lại: ngồi thiền kiết già, bất động; cảm giác toàn thân rất kỹ, cảm giác tới chỗ thấp nhất, tới chỗ phía sau nhất. Bắt đầu khi ta biết toàn thân rồi thì ta phát hiện ra thân này đang thở thì ta cũng biết rõ thân này đang thở vào, thân này đang thở ra. Ban đầu hơi thở sẽ bị không ổn định, không đều, không êm do nội tâm ta còn rất nhiều xao động. Thì sau một thời gian, tâm ta bắt đầu...

[21:37]Trầm hòa lại thì hơi thở bắt đầu êm dần và chậm dần lại, nhớ như vậy. Ta không cố ý điều khiển hơi thở, nhưng mà hơi thở phải chậm, êm, ít mới đúng. Nếu hơi thở vẫn còn nhanh, còn nhiều, còn mạnh thì vẫn là sai. Ta không cố ý điều khiển, nhưng cái tiêu chuẩn của hơi thở vẫn phải là ít, chậm, êm. Chậm, êm, ít, êm, chậm ít, đại khái 3 yếu tố đó thì là đúng. Sau một thời gian mà ta tọa thiền, biết toàn thân, biết được hơi thở đến mức độ hơi thở chậm, ít, êm, rồi sau đó mới bắt đầu đi vào tứ niệm xứ. Lúc đó coi như hậu cần đã cung cấp cho quân lính đầy đủ lương thực, ăn đã no rồi, bắt đầu bước vào trận chiến,

[22:33]đánh vào thành, công thành để tiêu diệt cái giặc vọng tưởng ngàn đời của ta. Đầu tiên là quán thân trên thân. Chữ thân trên thân là ngôn ngữ của Ấn Độ ngày xưa, không ai hiểu cả. Nhưng bây giờ nhờ Phật gia hộ nên ta hiểu thế này. Quán thân trên thân có nghĩa là biết đúng như thật về cái thân tứ đại của mình. Thân này như thế nào thì biết đúng như vậy, không cần thêm, không cần bớt. Không cần cho rằng cái thân này nó là cùi lở mẻ sứt, không cần. Nhưng đừng tô vẽ cái thân này làm cái gì quá tốt đẹp, quá... quá hy vọng. Biết đúng về nó. Và biết đúng về thân thì Đức Phật dạy ta, thứ nhất, biết các thành phần của thân.

[23:25]Thành phần của thân là trong thân này gồm có gì? Da, thịt, gân, xương, bao tử, dạ dày, máu, mủ, óc, não, mắt, tai. Biết hết. Đức Phật dạy giống như là một người đồ tể xẻ một cơ thể người ra, đặt ở đây cái bao tử đây, gan đây, ruột ra, phổi đây, nhìn thấy tất cả từng bộ phận, không sót điều gì. Và đầu tiên ta hiểu về thân đúng như thật, là hiểu từng thành phần của nó. Rồi ta hiểu về thân như thật, là biết rõ cái tình trạng của thân mình đang như thế nào và sẽ như thế nào. Đang như thế nào nghĩa là sao? Là thân này đang khỏe hay đang bệnh, đang dơ hay đang sập? Nói thật một câu, ai nói rằng mình không hề có bệnh tật đâu?

[24:16]Giơ tay lên.

[24:22]Trong chúng ta vậy, người nào cũng ẩn chứa một cái bệnh tiềm tàng nào đó, đúng không ạ? Nên thật sự có vẻ còn trẻ thì có vẻ ít bệnh, nhưng càng lớn tuổi thì bệnh càng nhiều. Nên nhìn vào cái thân của ta, khi ta biết rõ từng thành phần đó rồi, thì biết rằng thân mình đang bất tịnh, không có sạch gì cả. Ngày đêm những chất bài tiết vẫn luôn luôn tiết ra bên ngoài. Thân này đang chứa nhiều mầm bệnh, có những bệnh đã phát ra rồi, có những bệnh chưa phát ra. Nên quả thật thân này là mong manh, yếu đuối và bệnh tật. Đó là thực chất của thân trong hiện tại. Và thân này trong tương lai là gì? Sẽ già, sẽ bệnh và sẽ chết. Chết rồi xong chưa? Chưa.

[25:11]Đức Phật chưa cho ta ngưng ngang đó. Đức Phật buộc ta phải nhìn cho tới cái chỗ lúc mà chết rồi, từ từ thân cũng sẽ sao? Hoại diệt, phân hủy, cuối cùng chẳng còn gì cả. Xương nào may mắn hóa thạch thì còn tồn tại, không may mắn hóa thạch thì cũng sẽ thành tro bụi mất chìm trong đất luôn. Đó là cái bản chất của thân, cuối cùng không còn gì và đó là sự thật, không thêm, không bớt. Nên nếu ta nói rằng quán thân trên thân, nghĩa là biết đúng như thật về cái thân của mình. Mà khi biết đúng như thật về thân thì thân này đẹp biết là đẹp, thân này xấu biết là xấu. Vậy ai biết thân mình là đẹp, giơ tay lên.

[25:55]Vậy ai nghĩ thân mình là xấu, giơ tay lên. Thank you. Đúng, thân này rất là xấu. Tại vì sao vậy? Nếu ai lỡ dại nghĩ rằng thân mình là đẹp thì sai. Vì ở các thiên tử, các thiên nữ trên cõi trời siêu siêu siêu đẹp hơn ta vạn lần. Nên hôm nào đó đẹp trời mà ta nhìn vào gương, ta chợt thấy mình đẹp, thì xin thưa đó chỉ là một sự hiểu lầm đáng tiếc nha, chỉ hiểu lầm đáng tiếc, không có đẹp đẽ gì cả.

[26:29]Nên ta trở lại cái việc ta bất ngờ ta gặp hòa thượng, ta nói dạ, ồ con thấy hòa thượng, trên hòa thượng. Thì nếu hòa thượng ngớ ngẩn không hiểu ta hỏi gì, thì ta ta nói dạ con đang nói ngôn ngữ của Ấn Độ 2500 năm trước là con biết hòa thượng đúng như thật, hòa thượng như thế nào, con biết đúng như thế. Hòa thượng không hiểu mình muốn nói gì, nên là là ý chú nói tôi làm sao? Thì mình nói rằng dạ hòa thượng đẹp trai.

[26:59]Hòa thượng...

[27:03]Tôi nói nữa hòa thượng buồn tại vì khi mà nhìn hòa thượng đúng như thật, tức là quán thân trên thân, thì phân tích như Phật rồi, ta... có buồn không ạ? Nếu ta biết đúng như thật mà ta sinh ra một cảm giác buồn, thì xin mời đêm giao thừa lên đây, ta sẽ giải quyết bài toán đó. Hôm nay không giải quyết tại không có thời gian. Cái bài này giới thiệu bài kia kỳ quá.

[27:33]Quán thọ trên thọ, thọ là những cảm xúc ta chia ra làm 3 loại: thọ khổ, thọ vui và thọ trơ, không khổ, khổ không vui. Nhưng sự thật không phải chỉ có 3 cảm giác đó. Ta có rất nhiều cảm giác: lo sợ, hồi hộp, mừng rỡ, hân hoan, hy vọng, tuyệt vọng, hồi hộp, hoảng hốt, tức là ta có rất nhiều loại cảm xúc mà phân làm 3 loại.

[28:04]Vui giống như là hân hoan, mừng rỡ vậy đó. Khổ là lo lắng, bất an, hồi hộp, ừm sợ hãi là khổ. Và một loại trơ, lạnh lùng, sương khói, không có cảm giác, không cảm xúc gì cả. Ví dụ như khi ta đi qua, ta gặp một cái người nghèo khổ, ăn xin bên lề đường, à, ta nhìn rồi ta đi luôn, không cảm xúc gì. Đó là loại cảm giác trơ, cũng chẳng tốt lành gì. Còn có những người nhìn thấy cái người khổ, họ xót xa, thương cảm là họ xuất hiện một cái cảm thọ, à, còn ta không xuất hiện gì cả, thì cũng là một cảm giác trơ. Có những lúc phải có cảm xúc mà ta không có. À. Thì trong 3 cái cảm thọ này, ta nhìn thấy được 3 cảm thọ

[28:52]này và hiểu một điều là cảm thọ nào rồi cũng chóng qua. Cái niềm vui nào rồi cũng hết. Cái mà ta tưởng là hạnh phúc cả đời, coi vậy chứ thật là ngắn ngủi. Và một điều nữa ta phải biết, thật sự một điều nữa, con người ta cứ đi tìm cảm giác vui. Ta bày tiệc tùng. Ta đi tìm những trò vui đủ trong cái ngũ dục để đi tìm vui. Và phải trả giá cho cái ngũ dục đó, trả giá cho những cảm thọ đó rất là lớn. Cứ bày trò này đi tìm cái kia để mong được vui. Nhưng thực sự trả giá cho những cuộc vui đó rất là lớn. Đến khi ta không còn đủ sức để trả giá cho những cuộc vui đó nữa thì cảm thọ khổ nó lấp đầy liền, lúc ta buồn chán, tuyệt vọng, có khi trầm cảm và tự tử luôn.

[29:50]Có nhiều người như vậy, giàu có, danh vọng, cứ đi tìm vui. Hôm bất ngờ ta nghe từ tự chết là vì hết vui nổi. Do đó, cái cảm thọ gồm 3 loại: thọ, khổ, trơ, và cảm thọ nào cũng chóng vánh, tạm bợ. Cảm thọ nào cũng động loạn, và để đi tìm những cảm thọ đó rất là đắt giá.

[30:19]Còn quán tâm trên tâm, tâm ta như thế nào thì ta biết rõ tâm như thế đó, không can thiệp. À, bí quyết lại nằm ở chỗ này. Bí quyết nằm ở chỗ là tâm như thế nào, biết như thế đó, không can thiệp. À, đây là điều rất là lạ. Trong khi ta tu tập thiền định thì ta cố gắng can thiệp để cho tâm ta được thanh tịnh, đừng vọng tưởng. À, hoặc là ta muốn tâm mình trở nên sáng suốt.

[30:51]khôn ngoan, đạo đức. Nhưng trong bài kinh Tứ Niệm Xứ thì Phật dạy một cái bí quyết cực kỳ lạ là không can thiệp, nhưng biết, bám theo nó, biết nó rõ như thật. Ta thường bị hai điều: một, ta không bám theo tâm ta; hai, ta muốn can thiệp vào tâm ta. Cả hai điều sai và Tứ Niệm Xứ dạy ta một bí quyết kỳ lạ. Hôm nay, ta cố gắng lắng nghe và hiểu. Hôm nay, ai hiểu được cái chỗ bí quyết này, người này có duyên phước rất là lớn. Ta cố gắng lắng nghe: biết tâm trên tâm, quán tâm trên tâm, tâm như thế nào biết rõ tâm như thế đó. Tâm ta như thế nào thì phân làm ba loại: tĩnh và động, tâm ta đang tĩnh hay tâm ta đang động?

[31:45]Hai, tâm ta đang thiện hay bất thiện? Ba, tâm ta đang sáng suốt hay ngu si? Ba loại của tâm. Thì thứ nhất là tâm ta đang tĩnh hay đang động? Tĩnh hay động ạ? Tĩnh hay động? Nói một câu. Động. Nhưng rồi cũng không phải động hoài. Cũng có khi tâm ta ngồi thiền nó được một chút yên tĩnh. Nhưng cái yên tĩnh đó rất là ít so với cái thanh tịnh tuyệt đối của một bậc A La Hán. Chỉ có một điều ta hiểu lầm, nhiều khi người ngồi thiền tâm chợt vào yên tĩnh cái tự cho rằng, "Ồ, tâm mình hôm nay đã thanh tịnh." Cũng là một loại hiểu lầm. Đáng tiếc, I am sorry. Cũng giống như một hôm nào đẹp trời ta nhìn vào gương và chợt thấy

[32:39]mình rất là đẹp thì xin nhắc lại đó chỉ là sự hiểu, hiểu lầm. Cũng vậy, hôm nào ngồi thiền, một hôm đẹp trời ngồi thiền tâm tự nhiên thoáng được thanh tịnh cái ta bèn kết luận, "Ồ, tâm ta đã thanh tịnh." Sorry, đó chỉ là hiểu, hiểu lầm. Vì sao vậy? Bởi vì khi ta phân tích tâm tĩnh hay động thì ta phải hiểu rằng cái tĩnh của một bậc A La Hán, cái tĩnh của một bậc giác ngộ nó cực kỳ sâu xa cho tới tuyệt đối không còn bản ngã, không còn ngã chấp, không còn vô minh. Nhưng mà cái tĩnh, cái yên tĩnh mà ta vừa mới đạt được một chút trong thiền định chỉ là gì? Rất là bọt bèo, nhỏ bé, cạn cợt. Nên khi ta phân tích tâm ta ba loại:

[33:29]tĩnh hay động thì ta thường biết rằng tâm mình đang là động, biết thôi đừng làm gì. Mà nếu hôm nào được tĩnh thì xin vui lòng cái tĩnh này còn rất là cạn cợt. Chìa khóa nằm ở chỗ này. Chìa khóa của công phu thiền định nằm ở chỗ này: khi tâm chưa tĩnh thì biết tâm này chưa tĩnh. Khi tâm được tĩnh rồi thì vẫn biết tâm này còn rất là động ngầm ở phía trong, chỉ là một chút bèo bọt nhỏ bé mà thôi, chưa bao giờ thật sự là thanh tịnh. Chìa khóa nằm ở chỗ này, cả Tứ Niệm Xứ nằm, chìa khóa nằm ở chỗ này.

[34:17]Lắng nghe giùm thầy chỗ này. Khi tâm ta còn động thì biết tâm ta đang động.

[34:27]Khi tâm thấy có tĩnh rồi thì vui lòng đừng nghĩ tâm này đã thanh tịnh rồi, đó chỉ là sự hiểu lầm. Vì cái thật sự là thanh tịnh còn rất là xa, cái cảm giác mà ta ngồi thiền được yên tĩnh một chút thật sự là còn rất là cạn cợt. Ai có thể hiểu được điều này là người đó là con ruột của Phật, người đó có thể đắc đạo. Khi tâm được một chút thanh tịnh mà vẫn biết rằng thật sự còn rất động loạn, rất kém dở, người này là con ruột của Phật. Vậy ai là con ghẻ? Con ghẻ là cái người mà tu vừa mới hơi hơi được chút, vội vàng kết luận là tâm mình đã thanh tịnh, người đó là con ghẻ của Phật. Muốn làm con ghẻ hay con ruột?

[35:17]Cái chìa khóa nằm ở chỗ này.

[35:21]Chìa khóa nằm để ta phân tích thêm một chút. Giống như khi ta tu tập một thời gian cái ta có một chút tiến bộ, giống như một người đi một thời gian đến gặp một ngã tư đường. Ngã tư đường nghĩa là gì? Đằng sau lưng mình là con đường mình đã đi qua. Đằng trước mình có ba ngã rẽ: một con đường trước mặt, một ngõ rẽ bên phải, một ngõ rẽ bên trái.

[35:50]Khi ta tu một thời gian, ta đến cái ngã tư, tức là ta vượt qua được một chặng đường và tâm bắt đầu có dấu hiệu của sự thanh tịnh là ta đến được ngã tư. Thì nơi ngã tư này ta có bốn cái chọn lựa: một là lui lại, không tu nữa, hôm nay đã được thanh tịnh rồi, biết rồi, rồi thôi không tu nữa, đi chơi. Đó là người tới được ngã tư rồi, quay đầu đi ngược lại. Và một cái chọn lựa nữa ta rẽ bên phải, là khi thấy tâm thanh tịnh rồi, ta rẽ phải, nghĩa là ta tán dương, ta ca ngợi cái tâm thanh tịnh này là vô cùng siêu việt, đó là người rẽ bên phải. Và khi nếu ta chọn con đường đi bên phải, ta sẽ xuống vực thẳm đang chờ ở đây.

[36:34]Nên cái người nào mà tâm được thanh tịnh một chút, vội vàng ca ngợi cái tâm đó là siêu việt thì sẽ rẽ bên phải và rớt xuống vực thẳm. Còn một người rẽ bên trái là nói rằng không biết đi đâu nữa, tới chỗ này rồi, tâm tu tới đây rồi, bây giờ không biết thực hành gì nữa. Đó là người rẽ bên trái: mờ mờ mịt mịt, hoảng lạng, hoảng loạn rồi phân vân, đó là người rẽ bên trái. Còn người nào là người đi thẳng? Người nào mà khi đã tới được tâm thanh tịnh, tới được ngã tư rồi sẽ tiếp tục vượt qua ngã tư đó đi thẳng là người nào? Đó là người biết rằng cái thanh tịnh này chỉ là còn rất cạn cợt, kém dở, vô số điều loạn động còn ngầm ở phía sau.

[37:24]Đó là người đi thẳng vượt qua ngã tư đi thẳng luôn. Và đó chính là Tứ Niệm Xứ, chìa khóa của Tứ Niệm Xứ nằm ngay chỗ này. Nên khi ta Vỗ tay đi, cái này thì vỗ tay được á.

[37:42]Nên khi ta ngồi thiền, khi tâm còn động loạn thì biết tâm mình động loạn. Đến khi tâm thanh tịnh, xin vui lòng đừng biết tâm mình thanh tịnh mà phải biết rằng vẫn còn rất là động ngầm ở phía sau. Đó là người vượt qua ngã tư đi tiếp. Đừng ca ngợi cái chỗ thanh tịnh đó là siêu việt mà rẽ phải xuống vực thẳm. Đừng có phân vân hoang mang không biết gì, không biết đi đâu, đó là người rẽ trái đi vô bụi gai. Ta đi thẳng, vượt qua ngã tư đi thẳng bằng cách biết rằng tâm này vẫn còn rất là loạn động. Chút xíu đó, chút xíu thanh tịnh đó chưa là bèo bọt gì. Nhớ như vậy. Như hôm nào mà nhìn gương mà thấy mình đẹp trai, I am sorry.

[38:31]Just misunderstanding, chỉ là hiểu lầm mà thôi nha, không có gì cả. Cũng vậy, tưởng tâm mình thanh tịnh chỉ là hiểu lầm mà thôi, misunderstanding.

[38:44]Đó là tĩnh và động. Rồi, ta còn một cái nhìn về tâm nữa là: thiện hay bất thiện? Vậy tâm ta đang là thiện hay bất thiện? Thiện hay bất thiện? Tâm đang thiện hay bất thiện? Ai nói tâm mình thiện giơ tay lên. Có con bé nhỏ nhóc 3 tuổi giơ tay lên, rất thật thà. Còn toàn bộ những người có biết suy nghĩ, không ai dám giơ tay cả. Và những người khi mà thầy hỏi, "Tâm mình thiện hay bất thiện? Ai thấy tâm mình thiện giơ tay lên?", không ai giơ tay, trừ em bé. Thì những người mà không giơ tay là những người có trí tuệ, tu đúng Tứ Niệm Xứ á. Bây giờ nói thế này, giữa những người đang ngồi đây và những người đang đi chơi ngoài đường kia, ai thiện hơn ai?

[39:39]Rõ ràng mình về chùa giống như mình thiện hơn phải không ạ? Chớ giờ này mà đi chơi mới sướng chứ. Nhưng mà không, nghĩ đến Đức Phật, tưởng niệm đến cái sự đắc đạo vĩ đại của ngài của Ngài, ta về đây. Thì rõ ràng tâm ta là những người thiện, những người có đạo đức, những người thiện tâm mới về đây trong ngày hôm nay. Chứ nếu không có thiện, ta không về đây. À! Thì như vậy, ta có thể nói là tâm ta thiện chứ! Nhưng những người khôn ngoan đã chọn một cái nhìn: tâm này chưa phải là thiện, tâm này chưa phải là thiện. Nên hồi nãy khi thầy hỏi: "Ai thấy tâm mình thiện giơ tay lên?", mọi người đã không giơ tay lên.

[40:22]Đó là người rất là khôn, không giơ tay. Vì sao vậy? Vì ta hiểu một điều cái gọi là thật sự là thiện trong đạo Phật đó là điều vô cùng vĩ đại. Chúng ta tưởng nhớ tới ngày Đức Phật thành đạo về đây với nhau, Đừng tưởng đó đã là thiện nha, chỉ là một chút gì bèo bọt, cạn cợt, kém cỏi mà thôi.

[40:49]Nói thưa thầy, nào giờ con cũng ăn hiền ở lành chả hại ai chả ghét ai thì như vậy tâm con là thiện rồi chứ? Nói: Chưa. Vì nếu đã thật là thiện thì người này đã là thánh. Thánh và thiện đi đôi với nhau. Ta chưa là thánh thì có nghĩa là tâm ta chưa thực sự là thiện, nhớ như vậy. Dù thấy mình cũng không hại ai, cũng ăn hiền ở lành, ừ chẳng giết gì mà sát sanh hại vật chẳng có phạm giới gì cả, rồi mà sao không được quyền nói mình là thiện? Thì đây mới là trí tuệ. Trí tuệ ở chỗ là không thấy mình phạm lỗi gì mà vẫn không thấy mình là thiện, vẫn thấy mình còn bất thiện, đó là người có trí tuệ xa, dài, trường, viễn.

[41:38]Người đó mới đi xa được. Còn cái người mà thấy mình không phạm lỗi gì, không phạm giới gì và kết luận rằng mình là thiện thì người đó cái tầm nhìn ngắn ngủi, hạn hẹp, người đó không đi xa được, không tiến lên làm thánh được. Nên ngay khi thấy mình không có lỗi gì mà vẫn biết mình chưa phải là thiện, người đó có thể đi xa được. Nên trong cái tâm, nãy ta vừa nói tĩnh với động, bây giờ ta nói thiện và bất thiện thì cũng vậy. Luôn luôn nhớ rằng tâm mình vẫn còn rất là bất thiện, đó là người khôn ngoan. Bây giờ ta nói tới trí và ngu. Vậy tâm mình đang là sáng suốt hay ngu si? Sáng suốt hay ngu si? Ngu si phải không ạ?

[42:26]Đó người nào mà nói tâm mình ngu si, người đó rất sáng suốt.

[42:33]Đây chỗ là Tứ niệm xứ đây. Ví dụ nói bây giờ trong một cái ngày lễ thành đạo, biết bao nhiêu người quên lãng, thậm chí có những chùa quên luôn cái lễ thành đạo luôn. Nhưng mà ta nhớ lễ thành đạo, ta nhớ đến công ơn của Đức Phật, ta nhớ đến cái sự kiện phi thường của nhân loại, có một con người đắc thành Chánh đẳng Chánh giác thì như vậy ta có trí tuệ không ạ? Có không? Có chứ. Nhưng có rất là ít, rất là nhỏ. Còn lại đa số ta là rất là ngu. Cái chữ ngu đó mình dùng cái chữ ngu thì nó hơi thô thiển, ta dùng cái từ nó văn chương hơn một chút: Ta rất là vô minh nha. Coi vậy chứ ta vẫn đang rất là vô minh,

[43:22]lâu lâu lóe sáng một chút xíu, hơi khôn ra một chút, đột xuất một chút, nhưng sự thực ta vẫn vô minh triền miên, nhớ như vậy. Nên bây giờ khi ta quán tâm trên tâm, biết sự thật về tâm của mình, tâm như thế nào biết tâm như thế đó thì trên ba tính chất: tĩnh và động thì biết tâm mình vẫn còn rất là động, dù ngồi thiền tâm có cảm giác yên nhưng đừng khờ dại cho rằng thanh tịnh. Thứ hai, thiện và bất thiện thì biết tâm mình vẫn còn rất là bất thiện dù thấy mình không lỗi lầm gì, thậm chí còn làm được nhiều việc công đức nữa mà, nhưng thực sự chưa phải là chưa phải là thánh thiện. Và cái thứ ba, tâm mình trí hay ngu thì biết tâm mình rất là

[44:09]ngu dù đôi khi khôn vặt được chút vài chuyện không đáng gì. Đó là biết sự thật về tâm của mình. Cái thứ tư là quán pháp trên pháp.

[44:25]Chân lý như thế nào, sự thật thế nào, biết sự thật như thế đó. Đó là quán pháp trên pháp. Và trong cái những sự thật của cuộc sống này như thế nào? Đầu tiên ta có một sự thật về luật nhân quả. Nhân như thế nào, quả như thế đó. Và trong cái luật nhân quả này, ta tự đánh giá mình có tội hay có phước? Tội hay phước? Những người ngồi đây là những người rất có có? Dám nói có phước lắm à. Vì nếu có phước ta ngồi đâu trên kia cà, ngồi bao nhiêu tầng ở trên á, chứ không phải ngồi bệt dưới đất này đâu. Ngồi có tòa sen đỡ, hào quang chiếu sáng, hương thơm ngào ngạt, nhạc trời vang lừng, trên đó đó mới là có phước,

[45:12]còn ngồi bệt dưới đất, thảm cỏ mà cỏ nhựa không phải cỏ thiệt nữa. Thì như vậy là có phước không? Không. Chúng ta có tội, có phước là hơi ngồi trên ghế đó một chút á, cái ghế da đó đó thì hơi hơi có một chút. Thực sự khi mà ta quán pháp trên pháp, biết sự thật của cuộc đời thì đó có một sự thật nổi bật là luật nhân quả. Trong cái luật nhân quả này nói về tội và phước thì ta nhận mình rất là tội lỗi, đồng ý không ạ?

[45:48]Ai dám nhận mình là tội lỗi, người đó tu đúng Tứ niệm xứ của Phật. Còn người nào mà thấy mình có phước tràn ngập

[45:59]thì người đó đi ra khỏi chánh pháp, người đó con ghẻ của Phật. Nhớ như vậy. Và một cái chân lý nữa đó là Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo. Ta phải biết điều này.

[46:17]Trong cái Tứ Diệu Đế, trong Bát Chánh Đạo, ta có một mục tiêu cần phải đi đến đó là vô ngã. Và hiện nay giữa cái chấp ngã và cái vô ngã ta đang ở giai đoạn nào? Ta đang ở giai đoạn nào? Ta đang rất là chấp ngã, phải đúng không ạ? Nhớ, mục tiêu ta là vô ngã nhưng ta vẫn đang là chấp ngã. Vì thế khi một bậc Bồ tát dù có đắc được một quả nào đó rồi, các ngài vẫn giữ Tứ niệm xứ trong tâm, lúc nào cũng nhớ mình vẫn còn vô minh, vẫn chưa đủ công đức. Nhớ, đó là bậc của Bồ Bồ tát, bậc thánh. Nhớ như vậy. Ngay cả một bậc A La Hán cũng vậy mà, một bậc La Hán biết mình thật ra cái công đức mình vẫn còn chưa bằng Phật.

[47:11]Vô minh thì hết rồi nhưng công đức vẫn chưa đủ. Còn những bậc mà thấp hơn, những quả vị nào đó, nhiều khi các vị bậc thánh đi trong luân hồi, đi trong cõi trời, cõi người để giáo hóa chúng sinh rất là cao siêu nhưng trong tâm các vị đều an trú Tứ niệm xứ, đều hiểu một điều rằng mình vẫn còn vô minh, mình vẫn còn chưa đủ công đức. Nhớ, đó là cái chỗ mà gọi là quán pháp trên trên pháp. Trong quán pháp trên pháp này ta thấy được nhân quả, trong cái thấy được nhân quả này ta hiểu về tội và phước, khi hiểu về tội và phước này ta hiểu một điều mình còn rất là tội lỗi. Nhớ, đó là Tứ niệm xứ. Chìa khóa của Tứ niệm xứ là đây.

[47:55]Bây giờ trở lại, để tu Tứ niệm xứ ta phải tu hơi thở trước, biết rõ toàn thân và tu tập hơi thở đạt được hơi thở chậm, ít, êm và cái cảm giác toàn thân phải biết luôn tới chỗ thấp nhất của thân, chỗ sâu nhất của thân. Bắt đầu mới đi vào Tứ niệm xứ, biết rõ về thân, thân như thế nào biết thân như thế đó và phát hiện ra một điều: thân ta mong manh, yếu đuối, bệnh tật, vô thường, già, chết, mất hết. Thứ hai, quán thọ trên thọ, ta thấy rõ những cảm giác của mình và thấy rõ những cảm giác đó là gì? Vội vàng chóng qua và trả giá đắt cho nó. Quán tâm trên tâm, thấy điều gì? Tâm mình rất là loạn, động.

[48:42]Được một chút xíu yên tĩnh cũng chưa đáng là bèo bọt gì. Tâm mình vẫn chưa hoàn thiện đạo đức gọi là còn bất thiện. Tâm mình vẫn chưa thực sự sáng suốt vì vẫn còn ngu si, vô minh. Khi ta quán pháp trên pháp thì ta thấy luôn nhân quả và thấy mục tiêu vô ngã phải đi đến, biết rằng mình vẫn còn chấp ngã. Và trong khi thấy nhân quả, phát hiện ra một điều mình rất là nặng tội. Đó là Tứ niệm xứ. Nếu ai nghe những điều này, hiểu điều này, thường xuyên quán nhớ những điều này thì người đó đang thực hành Tứ niệm xứ chân chính của Đức Phật. Trong khi ngồi thiền, trong khi đi, trong khi đứng, trong khi ứng xử với mọi người vẫn luôn nhớ bốn điều này:

[49:27]quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp thì người này Đức Phật hứa rằng người này sẽ đắc đạo. Đức Phật hứa chứ không phải thầy hứa.

[49:47]Khi mà ta nói những điều này về Tứ niệm xứ toàn là ta nhìn những điều kém dở, thấy thân mình thì yếu đuối, bệnh tật, vô thường; thấy thọ là nỗi đau khổ, trả giá đắt; thấy tâm loạn động, bất thiện, ngu; thấy pháp tội mình còn rất nhiều. Toàn thấy điều mình kém dở thì sẽ có người đặt câu hỏi nếu mà chỉ thấy mình kém dở như vậy ta có rơi vào cái bệnh bi quan và phát sinh một tâm lý tiêu cực là buồn chán hay không? Để trả lời câu hỏi này, ta sẽ gặp lại nhau trong đêm giao thừa. Đêm giao thừa sẽ trả lời câu hỏi này.