Transcript: Chánh Tinh Tấn - Phương Pháp Thiền Định - Phần 2

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:40:06

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên quý chư Tôn đức, kính thưa toàn thể quý vị! Chương trình đặc biệt buổi tối ngày hôm nay sẽ được mở đầu bằng những tiết mục nghệ thuật. Xin được gửi tới tất cả quý vị những ca khúc rất ý nghĩa: bài hát "Lời thì thầm cho nhau" qua phần thể hiện của chú Huy Đức Anh và ca khúc "Phía sau dáng hình Tổ quốc" qua phần thể hiện của chú Huy Đức Anh, huynh đệ Tịnh Nghiêm Hảo và huynh đệ Tịnh Khiêm Vinh. Xin trân trọng kính mời. Lang thang từ khi đi bôn ba, lòng đong lần bước bước về nhà.

[0:41]Khốn cùng đọa đày ôi đã lắm, rong rêu làm kiếp con người, vơi đầy xót xa.

[0:53]Xin được cảm ơn chú Huy Đức Anh với ca khúc "Lời thì thầm cho nhau" ạ. Và tiếp theo chúng con xin được kính mời trên Sư phụ, quý thầy cô cùng toàn thể quý Phật tử cùng thưởng thức ca khúc "Phía sau dáng hình Tổ quốc" qua phần thể hiện của chú Huy Đức Anh, huynh đệ Tịnh Nghiêm Hảo và huynh đệ Tịnh Khiêm Vinh. Xin được trân trọng kính mời ạ! Nơi khơi xa núi cao, hồn thiêng anh thấm vào, yêu quê hương biết bao, viết nên hình Tổ quốc. Trong gian lao khốn nguy, tuổi thanh xuân tiếc gì, sống chiến đấu quên mình, vì nước non bình yên. Vang đâu đây bước chân bao người lính, ánh kiên trung sắt son qua mọi miền, mang trong tim khát khao xây hòa bình.

[1:56]Kính bạch trên quý chư Tôn đức, kính thưa toàn thể quý vị! Để tiếp nối chương trình, ngay sau đây chúng con xin được kính mời toàn thể quý vị cùng đến với một tiết mục: ca khúc "Thiêng liêng một cuộc đời" do tốp ca Đạo tràng và Chúng thanh niên Phật Quang miền Bắc thể hiện. Xin dành một tràng pháo tay thật lớn hơn nữa để chào đón ạ! Ôi thiêng liêng đời Cha, dòng suối mát giữa đời khô cằn. Con ngu si lầm mê, Người mở bến cho con nẻo về. Và kính bạch trên Sư phụ, quý thầy cô và toàn thể quý Phật tử! Vào giờ phút này đây, đạo tràng của chúng con đã trang nghiêm thanh tịnh. Chúng con xin được thành kính cung thỉnh Sư phụ sẽ quang lâm

[2:37]pháp tòa để ban bố cho chúng con những lời pháp nhũ ạ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[2:54]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[3:08]Nam Mô

[3:12]Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[3:25]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sở dĩ hôm nay có bài giảng này, vì hôm trước trong cái khóa Thiền Từ Tân,

[3:35]Thầy giảng qua tới cái phần Chánh tinh tấn trong Bát Chánh Đạo, mà Bát Chánh Đạo là một chi phần trong Tứ Diệu Đế, mà Tứ Diệu Đế được xem như là một bản tuyên ngôn của đạo Phật. Nên cái người đệ tử Phật mà thực sự yêu đạo, tu hành chuyên sâu thì phải hiểu rất kỹ về Tứ Diệu Đế. Ba phần Khổ đế, Tập đế, Diệt đế là thuộc về lý luận và ta phải hiểu cho thật kỹ để cho ta có cái chánh kiến. Qua tới phần Đạo đế là sự thực hành tu tập để ta đạt được cái Diệt đế. Thì trong cái Đạo đế á, ta có Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo là đi từ từ Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng và vừa rồi bắt đầu ta đi vào Chánh tinh tấn.

[4:31]Nghĩa là với những cái chi phần Chánh đạo trước, ta dọn mình để chuẩn bị cho một tâm hồn thuần thiện, một cuộc đời tràn đầy công đức. Và đến phần Chánh tinh tấn thì ta đem hết tất cả những cái công đức đó đưa vào thiền định giải thoát. Vì nếu ta tạo phúc rất nhiều mà ta không có hướng về sự giải thoát thì cái quả phúc đó nó quay trở lại với chúng ta thành ta gọi là phước báo nhân thiên hữu lậu, là ta sẽ được những vinh quang trong cuộc đời của cõi trời hoặc cõi người nhưng không giải thoát, và Đức Phật xem đó là một sự phí phạm. Khi đã tạo được nhiều công đức rồi thì phải chuyển công đức đó vào trong cái thiền định vô ngã để đạt được giải thoát.

[5:35]Vậy, nhưng việc chuyển từ cái phước báo hữu lậu nhân thiên tràn ngập đó

[5:44]biến thành cái công đức giải thoát vô ngã, vô lậu không hề đơn giản chút nào. Khi ta bắt đầu tu tập thiền định là bắt đầu vào một hành trình phức tạp và khó khăn. Đó là lý do mà cái chi phần chuẩn bị đi vào thiền định Phật gọi là Chánh tinh tấn, nghĩa là cực lắm, vất vả vô cùng. Cái vất vả mà bên ngoài ta nhìn không thấy, nó không giống như một người đi cày ruộng, một người lặn dưới biển sâu, leo lên núi cao, chiến đấu với kẻ thù ở ngoài chiến tuyến, không phải. Nó là một cái gì vô hình, âm thầm, lặng lẽ nhưng cực kỳ vất vả. Nếu không phải là người có cái tinh thần thép, không ai đủ sức để tu tập thiền định.

[6:43]Ta vừa nói đến người có cái tinh thần thép mới đủ sức tu tập thiền định. Cái chữ "tinh thần thép" nghe hơi là lạ, nhưng nó là một sự thật, sự thật nó như thế này: Ta ví dụ như ta nhắc lại chuyện của anh hùng Nguyễn Văn Thương. Khi ông bị bắt vô, rồi địch tra khảo bằng cách cưa cái chân, cưa từ từ, cưa từng khúc, cưa tới ba khúc, cưa lên tới cái khớp háng luôn, ổng không khai. Lúc đó là bác Tư Cang rất là sợ. Nói: "Hễ ổng khai cái là đi sập hết nguyên một đường dây, bao nhiêu hệ thống điệp báo gài, cài cắm là tan vỡ hết." Nhưng bác Tư Cang có cái niềm tin là người của bác Tư Cang không phải là người phản bội.

[7:27]Bác yên tâm về người đồng chí của mình, nhưng bác cũng không ngờ là cái sự tra khảo nó đến kinh hồn như vậy. Cưa người ta mà cưa sống, mà cưa từng khúc, cưa khúc lên tới hết cái chân, mà anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Thương không hé nửa lời, thà chết không bao giờ khai đồng đội. Cái người đó ta gọi là gì? Tinh thần thép, đến nỗi cái địch, kẻ địch cũng phải bó tay nói rằng: "Tôi thua ông, ông là con người thép." Không phải con người thép mà là tinh thần thép. Thì cái việc mà ta bước vào thiền định cũng vậy, nếu ta không có tinh thần thép ta không thể đi trọn con đường thiền định được. Vì ban đầu những trở ngại về cái thân, về cái đau chân,

[8:10]tê chân, cái đau mình, cái vọng tưởng, loạn động và những cái phức tạp trên con đường thiền định, những cám dỗ, những cảnh giới, đủ, đủ thứ chuyện. Nếu ta không có tinh thần thép ta không đi hết được con đường của thiền định đó. Đó là lý do mà Phật gọi là Chánh tinh tấn. Nhưng để bước vào cái Chánh tinh tấn, chúng ta mang theo cái tinh thần thép từ cái Chánh kiến đi cho tới cái Chánh mạng mà cái người... Với cái chánh kiến ta bắt đầu hơi có thép rồi. Với chánh kiến ta bắt đầu biết được điều đúng điều sai giữa cuộc đời này. Mà khi biết được điều đúng điều sai giữa cuộc đời này, tự chúng ta bắt đầu có cái sức mạnh. Ở ban đầu thôi chưa nhiều,

[8:55]nhưng bắt đầu có sức mạnh là không chấp nhận làm điều sai. Không làm được điều đúng thì thôi, dứt khoát không làm điều sai. Thì cái mà dứt khoát không làm điều sai là bắt đầu của một cái gì? Của một tinh thần thép. Nhưng mà Phật yêu cầu bắt đầu ta tới từ từ, từ cái tư duy, chiến đấu với cái tư duy của mình, không để cho những suy nghĩ sai lầm xuất hiện. Cái đó vô hình, âm thầm, vất vả nhưng đó bắt đầu đang hình thành một khối thép trong trong con người của chúng ta. Rồi tới chánh ngữ cũng vậy. Ai nói sai nói đúng giữa cái cuộc đời nhiễu nhương, đen bạc, xáo trộn, rối ren này, người nói sai kẻ nói đúng tràn ngập.

[9:43]Nhưng ta dứt khoát hễ mình nói chỉ nói điều đúng mà thôi. Không bao giờ phải hùa theo ai, không bao giờ vì sợ ai mà phải nói điều sai trái. Không nịnh ai, không cầu xin điều gì và không cần điều gì, không sợ điều gì để buộc phải nói một điều sai. Ta ví dụ như ta biết người đó không có tội, nhưng có người yêu cầu ta phải nói người đó có tội và họ cho ta rất nhiều tiền. Ờ nếu ta ta hùa theo ta nói người kia sai, ta được tiền và nếu không nói ta bị có thể giết chết, ví dụ vậy. Nhưng vì ta hiểu cái chánh kiến của Bát Chánh Đạo, ta hiểu điều đúng điều sai, ta hiểu điều nhân quả tội phúc, cho nên ta có thể cầm ít tiền nhưng cái lời nói bậy,

[10:28]cái nghiệp mà gây ra rồi nó theo ta một trăm kiếp sau chứ không phải một kiếp này. Nên vì vậy, thà có khi ta phải hy sinh nhưng dứt khoát không bao giờ mở miệng nói một điều sai trái. Ta bắt đầu hình thành thêm cái chất thép trong con người của mình. Rồi tới chánh nghiệp, bắt đầu là con người thép thật sự ạ. Chánh nghiệp tức là dứt khoát không làm điều gì sai, chỉ làm điều gì đúng. Đây là sự chọn lựa quyết liệt, mà để có thể không làm điều sai, để có thể chỉ làm điều đúng đôi khi ta phải hy sinh cả cuộc đời của mình. Đôi khi ta phải hy sinh cả cái mạng sống của mình. Nhớ điều đó. Ví dụ ta nhớ trong chiến đấu vậy.

[11:13]Có những anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai, cái lúc quyết định đó chỉ trong tích tắc nửa giây thôi, vì nếu chậm thêm một giây cái khẩu pháo lăn tuột xuống không kéo lên lại. Trong lúc đó không được suy nghĩ, không có gì để chêm cái bánh lái, chỉ còn có cái thân mình và chỉ trong một phần mười giây thì quyết định liền: Lấy thân mình chèn cái bánh xe lại để cho khẩu pháo không tuột xuống rồi mình chết, nhưng khẩu pháo sẽ được lấy kéo lên tiếp. Thì những cái quyết định đó, như anh hùng lấp lỗ châu mai, anh hùng lấy thân mình chèn khẩu pháo, họ quyết định chỉ trong một phần mười giây và đó là những con người thép.

[11:49]Chúng ta có những lúc mà ta không không đến nỗi phải khốc liệt như những anh hùng đó, nhưng trong cuộc sống này cũng vậy, đôi khi có những cái đánh đổi khủng khiếp mà ta chấp nhận đánh đổi tất cả hết chỉ để được làm điều đúng, chỉ để không bao giờ phải làm điều sai lầm. Đó là cái con người thép, thưa quý Phật tử. Rồi qua tới chánh mạng cũng giống vậy, ta mang cái con người thép đó bắt đầu đi vào thiền định là đi vào chánh tinh tấn. Chúng ta sẽ thấy nhiều khi ta nhìn qua một loạt con người vậy, ta biết người nào tu thiền được hay không. Vì nhìn vô có thép chưa? Nếu nhìn vô còn thấy tre, nứa gì đó,

[12:31]bột nhão nếp gạo gì đó thì người này chưa thể tu thiền được, tu bữa được bữa không, bữa có bữa mất, bữa ngồi bữa đứng bữa chạy, đại khái vậy đó, chứ không thể ngồi lì lì mà ngồi hoài được. Còn nếu ta nhìn qua một nét mặt ta thấy con người có chất thép, cái đôi mắt nó hiền lành, trầm tĩnh mà lì rồi thấy con người này ngồi thiền được vì đã có thép rồi. Tức là cả một quá trình họ tu tập theo Phật, từ cái chánh kiến cho tới chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng họ lúc nào cũng làm điều đúng, vì cái chánh tức là đúng, luôn luôn làm điều đúng, ta thấy họ có thép rồi. Và bây giờ họ sẽ bắt đầu vào thiền được, vì thiền cần những con người thép.

[13:15]Nha, hôm nay ta đang nói chuyện với những con người thép.

[13:21]Cái bài này là bắt đầu dành cho những con người thép nha, người lì lợm không bao giờ làm điều gì sai lầm. Nghe thì vui, nhưng nếu người nào đã có thép trong tâm sẽ nhận ra điều thầy nói.

[13:40]Còn người chưa có thép không hiểu, không hiểu cái con người thép là gì. Như có một lần có một ờ một vị tăng đến hỏi ngài Triệu Châu, ngài Triệu Châu lúc đó là một thiền sư rất rất nổi tiếng á, nói: "Bạch hòa thượng, thế nào là đại ý của Phật pháp?" Ngài Triệu Châu trả lời: "Cây bách ở trước sân kìa." Này trước sân ngài chắc có lẽ có cây bách to to cao cao. Ngài nói: "Cây bách ở trước sân." Vị tăng ổng không hiểu nên ổng mới trách hòa thượng, ổng nói: "Hòa thượng đừng lấy cảnh để lừa người." Tức là lấy cái cảnh bên ngoài để lừa làm cho con mất cái tâm của con. Ngài Triệu Châu trả lời: "Ta không lấy cảnh lừa người."

[14:29]"Nếu vậy, thế nào là đại ý của Phật pháp?" Ngài nói lại một lần nữa: "Cây bách ở trước sân." Cái phần sau thì có người thêm và có người không thêm, có cái văn bản ghi là vị tăng thoắt nhiên đại ngộ, nhưng có văn bản không ghi cái câu đó. Nhưng mà cái công án mà ngài Triệu Châu để lại, cây bách ở trước sân, đó là một cái một cái đạo lý khá bí bí hiểm, đại khái như vậy, cứ để đó thử thách xem ai hiểu hay không hiểu và không ai dám giải thích, có những thiền sư họ cũng hiểu rồi, họ cũng không dám giải thích. Quý Phật tử có nghe giải thích chưa kìa? Chưa hả? Vậy là chưa phải con người thép.

[15:17]Khi ta bước vào thiền hình như hôm trước thầy có nói vậy, thiền rất là khó và đòi cái phương pháp rất là chuẩn xác, rất là đúng. Trên thế giới hiện nay cũng nhiều nơi dạy thiền, nhưng không bảo đảm là đúng, không bảo đảm là đúng. Và cái việc mà dạy thiền không đúng á nó không phải mới đây. Việc này đã kéo dài rất lâu từ sau khi Đức Phật, sau khi các vị A-la-hán nhập diệt từ từ mất thì thiền bắt đầu biến dạng. Mỗi vị thiền sư dạy theo một cách của mình, nó không còn toàn diện, không còn đầy đủ, không còn giống như ý của Đức Phật ngày xưa nữa. Và cái số người mà đã gieo đủ công đức để chứng đạo từ từ xuất hiện,

[16:04]đắc đạo làm thiền sư, đắc đạo làm thiền sư từ từ từ từ rồi hết luôn. Không còn cái người đủ công đức nữa thì thiền cũng mất luôn tới bây giờ. Bởi vì sao? Bởi vì sai. Các vị bản thân các vị tu thì đúng, có kết quả nhưng các vị dạy sai. Và vì dạy sai cho nên cái dòng thiền không còn người nối tiếp nữa. Như hôm trước vậy thầy có kể chuyện quý thầy qua Hàn Quốc gặp một vị hòa thượng á, vị đó nói là vị tu thiền 40 năm không kết quả, cho nên vị đành bỏ thiền để chuyển qua cái pháp môn khác tu dễ dàng hơn. Mình nghe mình rất là thương. Lỗi không phải tại vị đó, tại vì không có phương pháp, vị không nhận được một phương pháp chuẩn xác,

[16:51]tu loay hoay loay hoay rồi không có kết quả, mất cái niềm tin đành phải buông bỏ con đường thiền. Mặc dù biết thiền là cái con đường lõi của Phật của đạo Phật nhưng đành phải bỏ vì không kết quả, không có có phương pháp đúng như vậy. Nên là nói: "Tại sao mà các vị đó tu có kết quả mà lại dạy sai?" Đây là một cái trớ trêu, là một cái thực trạng nó xảy ra trong đạo Phật. Có những người tu có kết quả chỉ bởi vì họ có công đức, chứ không phải bởi vì họ tu đúng hết mọi điều. Đây là một cái trớ trêu trong đạo Phật. Và họ có kết quả rồi họ tự tin để làm thầy, tự tin xưng là thiền sư để dạy thiền nhưng họ dạy sai.

[17:39]Vì họ tu trước kia họ tu sơ sài, bỗng nhiên họ có kết quả. Rất nhiều người như vậy, tu sơ sài bỗng nhiên có kết quả, rồi sau này đem cái sơ sài đó dạy lại cho bao nhiêu người sau, hư hết mọi người. Đường thiền đóng lại luôn, không còn ai có kết quả. Rồi ta cũng nói vậy, nói về thiền thì có hai hai con đường, hai cách thức là Chỉ và Quán. Chỉ là một kỹ thuật, Quán là tác ý về đạo lý. Chỉ là kỹ thuật, tức là nó có tính là ngăn chặn cái vọng tưởng ở trong tâm có nguyên nhân sinh lý cơ thể. Còn Quán là tác ý đạo lý để ngăn chặn những vọng tưởng có nguyên nhân của tâm lý, bản năng. Hai cái đó nó phối hợp nhau để tạo thành

[18:35]một cái phương pháp mà khiến cho vọng tưởng tự phải dừng lại. Ta nhắc lại một lần nữa, không có chuyện diệt trừ vọng tưởng để cho tâm thanh tịnh, mà ta tu đúng Chỉ, đúng Quán rồi vọng tưởng tự dừng lại. Nhớ nha, ta nhắc lại một lần nữa. Ta nói ai mà cố gắng diệt trừ vọng tưởng là hư bộ não liền, nhớ như vậy. Kỳ trước ở Tùy Tân, thầy đã nói về Chỉ, là nói về những kỹ thuật, ví dụ như ta an trú để tâm ở đâu, ta theo dõi hơi thở thế nào, ta khéo léo giữ hơi thở chậm, ít, êm ra sao, đó. Thì có những người ngang tới cái chữ Chỉ này thôi đã nhập được định rồi. Như vậy thôi, bởi vì cái căn cơ, công đức họ đủ.

[19:21]Nhưng mà rất sợ cái người đó, vì cái người như vậy mà bước ra dạy thiền thì dạy sai hết, dạy không đầy đủ vì họ mới tu Chỉ à. Hôm nay ta nói về Quán. Hôm trước ta nói về Chỉ á là ta ngăn chặn những nguyên nhân từ cơ thể sinh lý làm nó phát sinh vọng tưởng. Ta nhớ bộ não của ta được mặc định là phải suy nghĩ, luôn luôn suy nghĩ. Bộ não ta là tự nhiên như vậy. Nên cái việc mà làm cho nó dừng suy nghĩ lại là chuyện khó như bắc thang lên trời, không phải dễ chút nào. Nên ta phải kiên nhẫn biết hết bao nhiêu cái cơ chế mà làm cho não bộ nó tuôn trào vọng tưởng liên tục, kêu nó dừng nó không dừng. Cho nên ta phải biết và phải khéo, chứ không có mà cứ đè cái vọng tưởng,

[20:11]diệt vọng tưởng, năm bữa bảy bữa phát điên liền, bộ não hư liền. Nên ở đây phải hết sức là tế nhị, không được để tâm lên đầu mà chỉ để tâm ở phía dưới thân. Vì sao? Vì nguồn gốc của vọng tưởng là ở dưới bụng, nhớ như vậy. Hôm nay, khoa học cũng đã tìm ra ở dưới ruột mình có rất nhiều nơron thần kinh, đó là một bộ não. Mà cái nơron thần kinh ở dưới ruột mới là cái, như là cái gốc. Cho nên người Việt Nam mình mới nói là: "Tôi định bụng như thế này, cái bụng tôi tính như thế này." À. Rồi à, người đó, cái người đó nó nó nó xấu bụng, ông này là người tốt bụng. Người Việt Nam mình toàn nói bụng chứ không nói đầu.

[20:55]Còn trong khi cả cái thế giới này nói đầu, cái đầu tôi nghĩ thế này, cái đầu tôi nghĩ thế kia. Chỉ có người Việt Nam là nói cái bụng tôi nghĩ thế này, cái bụng tôi nghĩ thế kia. Hồi nhỏ thầy nghe, nhiều khi nghe mẹ mình than nói trời tôi rầu thối ruột. Thối ruột chứ không phải rầu trên bụng, không phải rầu trên đầu mà rầu, biết rồi, rầu thối ruột. Hồi nhỏ nghe nói không biết đâu, tới chừng sau này tu hành rồi nghiên cứu rồi mới biết, ồ thì ra ông bà mình đã biết cái ruột mới là gốc. Vì bây giờ khoa học mới biết nơron thần kinh nằm ở dưới đó rất nhiều, là điều bí mật. Và vọng tưởng trên đầu của ta thật sự bị kích động từ ở dưới bụng.

[21:35]Và những vị đạo sư ngày xưa dạy ta lắng tâm an trú ở dưới bụng chính là chặn ngay từ cái gốc vọng tưởng. Đây là một phát minh cực kỳ tuyệt vời mà giúp cho ta tu hành đỡ vất vả. Vì nếu ta không biết cái gốc của vọng tưởng mà cứ ở trên đầu mà canh chừng nó, ta điên liền mà không hết. Tại vì cái gốc nằm ở dưới, dưới bụng ta á, như vậy. Rồi cái hơi thở ta phải thở chậm, ít, êm, vân vân. Đó những điều đó ta đã nói ở bài trước rồi. Nên hôm nay thầy nhắc sơ lại, bây giờ bắt đầu ta nói qua phép Quán. Phép Quán tức là ta chặn, hoá giải cái nguyên nhân của vọng tưởng từ tâm lý.

[22:21]Tâm lý của ta là cái gì? Nằm ẩn sâu bên trong tâm của ta là những kiết sử, những bản năng, những triền cái, những tập khí. Tức là vì ta tham nên ta phải suy nghĩ về điều đó, vì ta giận nên ta phải suy nghĩ về điều đó, vì ta ái nhiễm ta phải suy nghĩ về điều đó, vì ta tự cao, vì ta ganh ghét, vì ta ích kỷ, nghĩa là tất cả những cái kiết sử đó nó làm cho ta khởi vọng tưởng. Nhưng mà như thế này, không cần tác động gì, cứ để yên cho cái đầu ta tự suy nghĩ thì từ từ nó nghĩ bậy. Nhớ điều này, đây là công thức á. Nha, đừng đừng tác động gì.

[23:08]Đừng xúi làm điều ác, cũng đừng khuyên làm điều thiện, cứ để tự cái não ta nó suy nghĩ tự do theo nó, thì khoảng ba ngày sau, bảy ngày sau, trong tâm ta toàn nghĩ điều bậy không.

[23:25]Nếu khi nào ta có dịp mà có cái duyên tình cờ ta gặp một người lớn tuổi mà bắt đầu họ bị cái trạng thái giống như gọi là tai biến hay đột quỵ đó, có người không làm chủ được nữa, nằm đó mà nói bậy và nghĩ bậy, chữa không được nữa, nằm chờ chết thôi. Tức là họ cũng hiếm khi mà muốn ngồi dậy hay đi làm cái gì, họ giai đoạn bắt đầu tới lão suy nặng và không kiểm soát được mình nữa. Ta sẽ thấy dù họ sống trong gia đình gia giáo đàng hoàng, gia đình nề nếp, lễ giáo, đạo đức, nhưng nếu ta nhìn một người đó cứ nằm đó mà nghĩ và nói lải nhải, ta nghe lắng tai ta nghe ta sẽ thấy toàn nói chuyện bậy bạ.

[24:11]Bởi vì bản chất thẳm sâu của tâm chúng ta là tham, sân, si. Khi không còn việc kiểm soát, đừng ai tác động, đừng xúi thêm chuyện ác, đừng khuyên răn chuyện thiện, tự nó khởi toàn nói bậy không. Khi nào có dịp ta sẽ thấy, thầy có thấy một lần rồi. Thầy đến thăm gia đình đó đạo đức, lễ giáo, rồi cũng có ân nghĩa với thầy. Vô thì gặp ông chồng cũng già, yếu, nhưng còn tỉnh táo. Rồi ông nói vợ ông cũng bệnh nhiều năm nằm ở đó. Thầy bước ra đằng sau thì thấy bà nằm im trên giường mà miệng cứ lải nhải nói và nói toàn điều bậy bạ. Mà trước đó thì thầy biết gia đình đó cực kỳ đàng hoàng, rất là đạo đức, con cái rất là ngoan.

[24:54]Đó, nhưng mà cứ nói bậy. Thầy hiểu liền, gia đình không giải thích được nhưng thầy biết liền, biết liền bởi vì bộ não nó đừng tác động là cứ tự động nghĩ bậy. Thì vọng tưởng của chúng ta nó là một loại như vậy, để yên là nó tự khởi và đừng có nói gì nữa thì nó khởi bậy liền. Và bây giờ ta cần cái phép Quán để ngăn chặn nó. Cái phép Quán này tức là cũng là những suy nghĩ. Vọng tưởng là những ý tưởng, những suy nghĩ, và cái phép Quán cũng là những ý tưởng, những suy nghĩ. Nhưng thay vì thả cho cái tâm mình tự nó suy nghĩ thì bây giờ ta chủ động suy nghĩ. Thả cho tâm mình nó tự suy nghĩ ta gọi là vọng tưởng.

[25:38]Còn ta chủ động suy nghĩ thì ta gọi là tác ý, tác ý, tự mình khởi ý ra, tạo cái ý mình ra. Và cái tác ý đó lại cũng chia làm hai phần. Giờ nhắc lại một chút xíu này để nhớ. Khi mà ta để yên cho tâm mình tự nó suy nghĩ thì ta gọi là, gọi là? Vọng tưởng. Còn khi ta chủ động suy nghĩ ta gọi là tác ý, đó nhớ như vậy. Và tác ý nó cũng chia làm hai phần: Một là như lý tác ý, tức là suy nghĩ những điều đạo lý để hình thành cái đạo đức, cái chánh kiến trong tâm mình. Hai là tác ý những cái phép quán trong thiền định để cho tâm xuất hiện sự tỉnh giác và tắt vọng tưởng. À, cái đây nó là một điều mầu nhiệm, một điều kỳ lạ. Thầy nhắc lại cái tác ý.

[26:39]Cái không tác ý mà tự suy nghĩ là vọng tưởng, thôi không nói. Bây giờ cái tác ý là chia làm hai phần. Một phần là như lý tác ý để hình thành cái đạo đức trong tâm mình, và hai là cái quán chiếu, tác ý quán chiếu, suy nghĩ một cái gì đó mà làm cho tâm mình lại thanh tịnh không suy nghĩ nữa. Đây mới là một cái bí mật của thiền, ta gọi là phép quán chiếu. Cái mà cái tác ý đầu tiên là như lý tác ý, tức là ta suy nghĩ những điều gì đó hình thành cái đạo đức trong tâm mình thì đây là

[27:16]không có một cái bài học rõ ràng mà do phước của ta, do trí tuệ của ta mà ta tự tạo ra từng lúc, từng nơi, chứ lúc đó không ông thầy nào đứng ở đó để dạy mình từng cái suy nghĩ. Hả, nói ví dụ như một vị thầy vậy, đã làm thầy rồi, mặc áo cà sa, cạo tóc, thọ giới, tu hành nhiều năm, nhiều tháng. Thì khi một người Phật tử họ gặp mình thì họ làm sao? Họ xá chào, họ cung kính, đó là cái lễ trong đạo Phật, còn người ngoại đạo thì không nói. Nghĩa là quý Phật tử gặp các thầy thì hết sức là cung kính, chắp tay, cúi đầu, xá chào, thậm chí mà nếu mà thuận tiện họ quỳ xuống họ lạy luôn cũng có nữa, họ kính trọng đến như vậy.

[28:03]Còn nếu không thuận tiện họ chỉ chắp tay họ xá chào với tâm thành kính. Và ông thầy ổng nhận cái sự xá chào, lễ kính của người Phật tử đó một cách rất là bình thường vì đó là cái luật ở trong đạo, đúng không ạ? Đúng không? Sai.

[28:26]Đó, nó cái khó là vậy. Cái khó là thấy là đúng mà là sai rồi. Đúng là vì sao đúng? Vì nó là luật ở trong đạo. Cái người Phật tử cư sĩ gặp quý thầy phải cung kính xá chào, đó là luật. Và ông thầy, ổng nhận cái xá chào đó một cách bình thường, ổng sai vì ổng thiếu cái gì? Như lý tác ý.

[28:56]Khi đón nhận cái sự xá chào Phật tử, trong tâm không được bình thản, hư vô, tự nhiên không có gì. Không có đâu. Mỗi một cái xá chào là một món nợ,

[29:10]không hề nhẹ nhàng chút nào hết. Mỗi một cái xá chào, một sự cung kính của ai đến với mình đều là một món nợ.

[29:21]Không đùa được đâu. Cứ nhiều người chào là ta đang mắc nợ, dù mình tu cao gì đó cao kệ mình. Trừ khi mình chứng A-la-hán,

[29:34]lúc đó thành một phước điền vô tận của chúng sinh thì chúng sinh muốn chào nhiêu, muốn xá nhiêu, muốn lạy nhiêu đó lạy, họ được phước á. Còn chưa phải A-la-hán, mỗi một cái xá chào là một món nợ. Và ông thầy phải hiểu điều đó, để trong tâm tuy được xá chào, có thể cũng phải chắp tay chào lại đáp lễ, có khi không đáp được, trong tâm phải biết đây là món nợ. Phải tác ý cái gì đó để đáp đền lại cái xá chào người ta, chứ không được nhận cái lễ người ta bỏ đi qua tự nhiên. Đó. Nếu khôn, tối về lạy Phật hồi hướng lại cho những người đã xá chào mình, trả lại cái ơn nghĩa đó. Lấy cái phước của Phật đền lại cho người xá

[30:17]chào mình, họ được lời hơn rất là nhiều. Đây là những bí mật á của người tu phải biết á. Chứ còn cứ theo luật thì thôi bình thường, nhưng cái như lý tác ý và luật nhân quả nó khắt khe vô cùng. Luật nhân quả cực kỳ khắt khe. Thấy người ta chào mình đừng có tưởng bình thường, không, mỗi một cái chào là một món nợ. Nhiều người ngồi trong pháp hội này ngày xưa đã từng làm vua làm chúa, nhưng bây giờ không thể làm vua làm chúa nữa, vì cái đời đó nhận người ta lạy nhiều quá, hết cái phước đó rồi. Giờ chỉ còn làm giàu thôi. Không nói nữa, nhiêu đó thôi. Tự hiểu, tự hiểu vậy. Thì cái phần mà như lý tác ý á là mỗi khi đối diện với vô số hoàn cảnh

[31:06]trong cuộc sống này, mà những hoàn cảnh nó không ai nói trước, ta phải tự biết khởi cái tác ý lên để giữ cái đạo, đạo đức trong tâm mình. Qua tới cái tác ý mà của phép quán chiếu, thì đây là những, cũng là những tác ý, những suy nghĩ. Nhưng mà kỳ lạ là có những cái suy nghĩ mà ta nghĩ tới điều đó thì tâm ta thanh tịnh. Đây là một bí mật. Và trong cái phép quán của thiền định, Phật dạy những điều này để cho ta suy ngẫm, và khi suy ngẫm được những điều này, suy nghĩ về được những điều này, tâm ta bắt đầu thanh tịnh. Nói ví dụ, ví dụ như khi ta vọng tưởng, khi ta suy nghĩ thì ta nghĩ cái gì?

[31:52]Thì hầu hết là ta nghĩ về cuộc đời này, đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ yêu thương, đủ những cái ưa thích, những cái ham muốn, những cái vọng cầu, những cái giận hờn, những oan trái. Nói là trong cuộc đời này đủ thứ chuyện để cho tâm ta bám vào đó. Và chính vì ta bám vào cuộc đời nên ta suy nghĩ. Thì bây giờ cái phép quán chiếu là gì? Phật dạy ta thấy cuộc đời này là hư ảo, là chiêm bao, là giấc mộng. Mà nếu ta hiểu kỹ hơn nữa, cuộc đời này là tạm bợ, là nguy hiểm.

[32:36]Nên khi ta hiểu rằng cuộc đời này coi vậy chớ chỉ là vô thường, tạm bợ, là hư ảo, là nguy hiểm thì những cái vọng cầu hướng về cuộc đời nó làm sao? Bắt đầu nó dừng lại. Và khi nó bắt đầu dừng lại thì vọng tưởng làm sao? Không khởi nữa, không khởi về phía cuộc đời nữa, đó là nguyên tắc, đó là công thức.

[33:05]Cái mà quán cuộc đời này là giấc mơ, là hư ảo, là mộng huyễn là một cái công phu rất là thú vị. Dạ. Ví dụ bình thường ta đi trên đường, ta đi trên xe như vậy, ví dụ như mình lái thì phải lo lái, nhưng mà nếu mình không lái, mình ngồi nhìn cuộc đời, nhìn mây trời, sông nước, cảnh vật, phố xá mà mình tác ý quán cuộc đời này chỉ là gì? Một giấc mộng, một giấc chiêm bao, là hư ảo, bỗng nhiên tâm mình ngay lúc đó làm sao? Tỉnh giác, thanh tịnh liền. Người nào có kinh nghiệm này sẽ thấy rất là rõ. Trưa nhiều người không ngủ nhở? Rất nhiều người không ngủ trưa, hay là tại bài giảng này quá độc đáo nhở?

[34:04]Nhiều người tu thiền, tâm mà được tỉnh giác, thanh tịnh nơi cái phép quán mà quán ngoại cảnh, quán cuộc đời, quán vạn pháp này là hư ảo, là chiêm bao, rất nhiều người được kết quả như vậy. Cứ ngồi lặng lẽ nhìn mọi người, nhìn trời, sông, mây, nước rồi vậy, thấy tất cả chỉ là một giấc chiêm bao. Và nhìn vào cuộc đời, nhìn vào xã hội, nhìn vào danh vọng, thấy ẩn chứa bên trong là nguy hiểm và tạm bợ. Đó. Thấy vậy rồi bỗng nhiên vọng tưởng nó dừng lại, nó không khởi và ngay lúc đó ta được một cái gọi là tỉnh giác và bớt vọng tưởng. Nhưng lúc đó thôi, nó kéo dài một chút thôi, lát nó khởi lại à. Thì lát khởi lại ta lại quán lại một lần nữa.

[34:48]Cứ như vậy, cứ dùng cái quán để đối trị với vọng tưởng. Và như vậy, vọng tưởng nó là tự nó suy nghĩ. Và còn ta quán chiếu là ta chủ động suy nghĩ, mà ta suy nghĩ ngay cái gốc của vọng tưởng, ngay cái mà ham muốn của vọng tưởng thì ngay cái đó ta chặt nó, ta chặt bỏ cái gốc đó, gốc của sự ham muốn. Mà ta chặt bỏ nó không phải là lấy dao mà mà chặt, mà chặt bằng một cái nhận thức thấy được bản chất cuộc đời này là là hư ảo, là tạm bợ, là nguy hiểm. Nó vậy. Nhưng cái căn bản á thì Đức Phật dạy, Đức Phật dạy ta quán cái thân trước. Quán thân vô thường trước. Vì mọi cái cuộc sống của ta lệ thuộc vào thân rất là nhiều.

[35:36]Ta phải ăn cho thân được no, ta phải uống cho thân đừng bị khát, ta phải tắm rửa cho thân sạch sẽ, ta phải ngủ cho thân sảng khoái, ta phải đủ thứ chuyện. Vì cái thân này, ta phải phải phải xoay xở, phải phải loạn động, phải tính toán, đủ thứ chuyện, chỉ vì có cái thân này.

[36:03]Cho nên ngày xưa mà Lão Tử có nói câu á: "Ngô hữu hà hoạn, vị ngô hữu thân. Nhược ngô vô thân, ngô vô hà hoạn." Là nói: Ta có bao nhiêu cái khổ, cái hoạn, chỉ bởi vì ta có cái thân này. Nếu ta không có cái thân này, ta chẳng có gì phải lo buồn nữa. Nên là xác định cái thân là gốc của mọi cái đau khổ, mọi cái loạn động. Nên trong cái phép quán đạo Phật đầu tiên nhắm nơi cái thân mà chặt trước. Chặt đây không phải là lấy dao mà mình bằm ra từng miếng, mà nhìn thấy, suy nghĩ rằng, tác ý rằng thân này là vô thường. Bản chất cái thân này là vô thường, không phải là ta. Ta muốn nó đừng bệnh, nó cứ bệnh.

[36:48]Ta muốn nó đừng già, nó cứ già. Ta muốn tóc ta đừng bạc thì nó kêu ta đi nhuộm thôi, không còn cách nào khác, ví dụ vậy. Vì vậy, cái ta không làm chủ được thân và thân tự nó đi theo một tiến trình, cứ là sinh, già, bệnh rồi chết. Chết chưa hết chuyện, sau cái chết nó còn nhiều chuyện nữa, phải xử lý cái xác đó nữa. Và xử lý cái xác nó theo một cách gì đó để cuối cùng nó không còn tồn tại: hoặc chôn rồi nó cũng mục, hoặc thiêu nó cũng mục, hoặc quăng ngoài rừng, thú ăn rồi nó cũng tan vỡ. Và Phật yêu cầu ta quán, quán tới giây phút đó luôn. Quán cho tới xương thành bột tan vào đất đi luôn. Ta phải thấy cái thân mình nó tới tận cùng như

[37:32]vậy, thì mọi cái chấp về thân nó tan vỡ, thì ta không phải tự tử, ta vẫn phải sống, nhưng mà sống với cái không còn chấp thân nữa, mà lúc đó ta quay lại sử dụng cái thân này cho hợp lý, chứ không còn phải gì? Phụng sự cái thân này nữa, đó là hai cái khác nhau. Trước đây, ta phụng sự cái thân này nên tâm ta loạn động. Bây giờ, ta biết thân này là vô thường nên ta chỉ sống và dùng cái thân này để làm lợi ích cho chúng sinh, dùng cái thân này để tu tập, dùng cái thân này để ngồi thiền, để lạy Phật. Và thân này trở thành công cụ, ngày nào nó tan thì thôi, còn ngày nào còn có thân thì ta không khờ dại làm nô lệ cho

[38:27]thân nữa, mà là làm chủ cái thân, dùng nó làm điều công đức.

[38:36]Tuy nhiên, cái việc mà quán thân này vô thường, cứ ngồi thiền như vậy ta ngồi lặng lẽ và ta cứ suy nghĩ, cứ tác ý: thân này sinh ra rồi bệnh, rồi già, rồi bệnh rồi chết, cứ tác ý một chút vậy là ngay lúc đó tự nhiên tâm ta có tỉnh giác, có thanh tịnh. Đây là một phép quán trong thiền rất là căn bản. Nói, hồi nãy vừa nói là ta động tâm vì ta nghĩ ngoài chuyện ngoài đời, thì bây giờ nói rằng chỉ cần thấy cái thân này vô thường mà cũng được thanh tịnh, tỉnh giác, hai cái này có ngược nhau không? Không. Nếu ta có nghe bài giảng Chánh tinh tấn ở phần trước, trong cái phép chỉ, trong cái phép kỹ thuật ta có nói

[39:25]cái điều thế này và nó liên quan tới phép quán này: Vọng tưởng của ta nó chạy đi đâu? Chạy ra khỏi thân. Phải không à? Nó nghĩ tùm lum là nó chạy khỏi thân. Và trong cái phép chỉ, nó có cái phép để làm gì? An trú toàn thân, kéo vọng tưởng lại. Nó suy nghĩ về Hà Nội, về Sài Gòn, về đâu á, ta ngồi ta không, ta đang ngồi đây an trú toàn thân kéo nó lại thì nó cũng thanh tịnh. Thì lúc mà ta đang an trú nơi cái thân này tức là ta cũng đang kéo vọng tưởng mà nó chạy rong ruổi bên ngoài về lại một chỗ, cũng làm cho tâm mình sao? Hết vọng tưởng. Đó là kỹ thuật. Và cái kỹ thuật đó cũng liên quan tới phép quán.

[40:09]Khi ta đang an trú nơi thân này, ta thấy thân này là vô thường, ta bứng luôn cái chấp thân luôn, cái ham thân với vì thân. Nên cái quán thân nó được cả hai: một là chính là đang an trú toàn thân của phép chỉ, và hai là nó phá luôn những cái chấp thân thẳm sâu trong tâm lý của mình. Nên khi ta quán thân vô thường, ta đang thực hiện vừa chỉ vừa quán. Điều này rất khôn ngoan. Đó là lý do mà Phật dạy cái quán thân vô thường rất là kỹ. Đó, khi mà phép chỉ thì chỉ gom lại toàn thân là vọng tưởng đã không chạy rồi, thì bây giờ đang an trú toàn thân thấy luôn thân này là là vô thường, bứng luôn tới cái gốc của tâm lý luôn.

[40:56]An trú toàn thân là kỹ thuật, là phép chỉ. À nhưng còn nguyên nhân tâm lý thì thấy thân này vô thường chính là bứng luôn cái chấp từ trong tâm lý luôn. Nên cái tu thiền mà quán thân vô thường, cứ ngồi đó mà quán thân vô thường rất là căn bản, rất là hay. Nên nhiều người quán thân vô thường mà đắc được định, có người đắc được đạo luôn là vậy. Ừ. Và cái mà Rồi còn một cái này nữa, quán thân vô thường, quán đời tạm bợ, nguy hiểm, cái nữa là quán thân bất tịnh.

[41:35]Thân này là bất tịnh. Thân này là bệnh tật, ổ bệnh tật. Điều này không ai chối được hết.

[41:46]Mình nhìn nhau là nhìn cái mặt thôi. Còn cái gì nó không phải cái mặt thì mình lấy quần áo mình che. Và mình lựa quần áo rất là hàng hiệu, à, để mình che đậy cái không phải cái mặt. Mà thật sự nơi cái mặt cũng không phải là sạch. Đây là điều ta phải nhìn nhận như vậy. Cái mặt của ta coi đẹp vậy chứ cũng không phải sạch, huống hồ những cái không phải mặt thì càng không sạch nhiều hơn nữa. Và con người rất là khôn ngoan, lấy quần áo, y phục che lại vì con người thông minh. Còn những con thú nó rất là thật thà, thẳng thắn, nó có cái gì nó bày ra hết cái đó, ta nhìn con thú ta rất là chán vì nó không biết mặc quần áo.

[42:32]Còn con người ta thông minh, ta che những cái bất tịnh lại, nhưng sự thật thân này là bất tịnh. Và thân này là một gì? Ổ bệnh tật. Từ từ rồi nó sẽ bệnh cho coi, nha. Cứ là cứ nhơn nhơn tự đắc đi. Bắt đầu bữa nay nó nhức đầu, mai nó cảm mạo, mốt bây giờ nó nổi khối u, rồi nó viêm, nó sưng, nó trặc chân, gãy tay, ôi chu cha, nghĩa là cái y văn và y học chất hết cái tủ sách này qua tới tủ sách kia mà không hết về cái bệnh lý của con người trong của nhân loại này mà. Có những cái bệnh mà khi vô khám bác sĩ ngồi ngơ ngơ cả đời ổng học thiếu điều học tới tiến sĩ rồi mà không biết cái bệnh này là cái bệnh gì kỳ quá.

[43:14]Đó, có những cái trường hợp đến như vậy. Nên thân người là một ổ bệnh tật và bất tịnh. Nhưng ta suy ngẫm thì ta thấy, nhưng tuy nhiên là cái mà thấy thân này là bất tịnh và ổ bệnh tật coi vậy chứ nó đòi hỏi cái sức định một chút. Những người nào tu thiền mà có định thì tự nhiên thấy thân vô thường không cần phải cãi, thấy rất là rõ. Thấy điều đó tự nhiên trong cuộc sống này. Và nhìn thấy mọi người thương lắm, coi vậy chứ ai cũng là một cái gánh nặng, gánh nặng bởi cái thân vô thường, thân bất tịnh và cái thân bệnh tật này, nhìn điều đó rất là rõ.

[43:58]Ai

[44:05]Khi ta quán cái thân này là là bất tịnh á thì đó là ở cấp cao chứ ban đầu ta quán là quán thân vô thường thôi, sinh già bệnh chết, tan vỡ vậy thôi. Nhưng mà khi có định rồi thì trong đời sống hằng ngày ta nhìn ta thấy thân này là là bất tịnh, thấy rõ lắm. Và lúc đó vậy trên đời này ta thương nhau là thương cái gì?

[44:31]Ta thương nhau là thương cái gì?

[44:36]Thường ta thương nhau là vì nhan sắc, đúng không ạ? Hầu hết là như vậy. Vì cái duyên ngày xưa và cái nhan sắc ngày nay. À. Nếu mà có cái duyên đời xưa thì ta không cần lý do lắm vì cái duyên nợ ngày xưa thúc đẩy người ta thương nhau một cách tự nhiên để bây giờ phải trả nợ gì đó. Rồi nếu mà cái duyên ngày xưa không nhiều thì nó cần cái nhan sắc của đời nay, tức là duyên ngày xưa ít nhưng mà bây giờ đẹp quá, cầm lòng không được, phải thương nhau. Nhưng mà khi mà ta nhìn theo con mắt của đạo lý, ta mới thấy thực sự cái thân này là vô thường, là bất tịnh, là ổ bệnh tật. Và khi mà chấp nhận thương nhau,

[45:18]nhớ một điều nha, nhớ thề non hẹn biển gì cũng biết nhưng mà làm ơn có trách nhiệm với cái thân sẽ già, sẽ bệnh, sẽ chết này. Tới chừng đó đừng có than nha. Nấu cơm bưng cháo đừng có than nha, tại ngày xưa thề yêu mà, thề thương mà. Thương gì đó, thương đời đời kiếp kiếp mà. Hết kiếp này tới kiếp sau còn hẹn kiếp sau nữa mà, phải không? Thì nhớ nếu đã hẹn thương nhau thì làm ơn chấp nhận cái thân bệnh tật vô thường này. Còn không thì thôi. Còn nhưng mà nói cái điều này để ta hiểu thế này: trong cái thiền định á, ta thấy cái thân này là bất tịnh nhưng không có nghĩa là ta ruồng bỏ hay xa lánh mà lại vô trách nhiệm.

[46:05]Thấy cái thân này bất tịnh, bệnh tật để hiểu mình sẵn sàng cái tinh thần trách nhiệm sống giữa cuộc đời này mà lo cho nhau nhưng mà không đắm luyến gì cái thế gian này. Ví dụ một người chồng biết đạo tu tập nhìn vợ mình thì hồi trước là nhìn gọi là dáng em yêu kiều, tóc em sương khói đấy. Sao ta, gì nữa quên rồi. Hồi xưa đọc. Ở đây hồi xưa ai viết thơ tình cà? Giờ nhắc coi, sư phụ không rành lắm. Đại khái vậy đó, mây gì đó. Dáng em yêu kiều, tóc em như gì đó mây,

[46:44]ừ mây gì đó thôi. Tóc mây. Nhưng mà bây giờ biết đạo rồi, bắt đầu nhìn em thấy khác à. Bắt đầu em đang già, em đang bệnh, bụng em bắt đầu bự, tóc em bắt đầu bạc, da bắt đầu nám, hà, thì thấy điều đó để gì? Để cái yêu ngày trước mà ta lầm là bởi vì em đẹp thì bây giờ phải hiểu đó là cái trách nhiệm trong đạo đức, lo cho nhau, cùng nhau tu tập chứ không phải ruồng bỏ. Biết một cách tỉnh táo nhưng không chấp nữa. Và nó là kết quả của thiền định khi tâm thanh tịnh rồi, nhìn điều đó rất rõ và cũng thấy cái trách nhiệm của tất cả chúng ta với nhau mà không cần đợi vợ với chồng nữa. Ở đây thầy mới nói là ngay cả bạn đạo với nhau cũng phải hiểu điều này.

[47:36]Ta nhìn nhau, ta hiểu là con người kia sẽ già, sẽ bệnh, sẽ cô độc, sẽ khổ sở và chúng ta phải xin nguyện là có trách nhiệm để mà lo cho nhau trong đạo tràng như vậy. Ai có cái vấn đề gì ta giúp nhau hết, lo cho nhau hết vì ai cũng sẽ bị như vậy. Ta cũng như vậy và bạn ta cũng vậy, huynh đệ ta cũng vậy. Chứ còn cái thân này là nó như vậy, là ổ bệnh tật, là bất tịnh, là vô thường. Mà khi ngồi thiền ta quán cái điều đó thì tâm ta tỉnh giác và thanh tịnh. Tâm tỉnh giác và thanh tịnh là cái gì lát nữa nói. Giờ cái này

[48:20]Ngoài cái vọng tưởng của ta đó, ta còn có một cái motivation nữa, hay là một cái nền ở dưới của vọng tưởng, tức là những cái động cơ để ta suy nghĩ, chính là cái tình cảm. Vì ta thương nên ta động tâm suy nghĩ, vì ta ghét nên ta động tâm suy nghĩ, vì ta vui nên ta động tâm suy nghĩ, vì ta buồn nên ta động tâm suy nghĩ. Cho nên cái tình cảm và cái cảm xúc á, thương, ghét, buồn, vui, những cái ngầm ở phía sau chính là động lực để làm cho tâm ta loạn động. À, và bây giờ ta phải quán tới cái đó luôn. Khi ta ngồi thiền ta quán thân này vô thường, là thấy mình bắt đầu có cảm giác tỉnh giác thanh tịnh.

[49:07]Ta quán chiếu cuộc đời này là vô thường, là tạm bợ, là hư ảo, ta bắt đầu có tỉnh giác thanh tịnh. Ta thấy thân này là bất tịnh, là bệnh tật, mình có tỉnh giác thanh tịnh. Thì cái tỉnh giác thanh tịnh này ta thấy chưa tới cái gốc, cái động lực của cái động loạn chính là buồn, là vui, là thương, là ghét. Thì bây giờ bắt đầu quán tới cái đó, quán những cảm giác buồn, cái vui, cái thoải mái, cái dễ chịu, cái khó chịu này chỉ là gì? Là những ràng buộc, nặng nề, đau khổ, không có thật. Ta nói ví dụ, bây giờ cái trời nóng ta bước ra ngoài nóng, ta xuất hiện cái cảm giác gì? Khó chịu. Ta bước vào phòng có máy điều hòa mát rượi ta có cảm giác gì? Dễ chịu.

[49:55]Đó, cái cảm giác khó chịu và dễ chịu đó nó chi phối cuộc đời ta, nó dẫn dắt cuộc đời ta. Ta gặp cái điều ta thích ta bám theo, ta gặp phải một cái điều gì ta chán ta tìm cách tránh né. Nó ập tới thì ta trốn đi, còn ta lao đầu vào cái điều ta thích. Thì cái mà ta lao đầu vào cái điều ta thích và tìm cách tránh né cái điều ta ghét, cái thích cái ghét đó, hôm nay ta nhìn nó, thấy nó rõ ràng, nó chỉ là những gì? Ràng buộc. Nên vừa mới thấy dễ chịu là ta biết ngay một cảm giác vừa xuất hiện, đây là một sự ràng buộc. Một cái khó chịu vừa xuất hiện, ta thấy ngay đây làm cái gì? Một cảm giác là một ràng buộc.

[50:44]Tinh ý thấy tới như vậy. Tới chỗ này là bắt đầu sao? Bắt đầu khó, bắt đầu phải thông minh rồi. Nên chỉ những người thông minh mới có thể tu thiền được là vì vậy. Người phải thông minh lắm mới tu thiền được, còn người không phải thông minh rất khó tu thiền. Hôm trước cái bài chỉ thầy có nói điều này phải không ạ? Những người thông minh mới tu thiền, còn những người thông minh còn những người không thông minh không tu thiền nổi. Vậy cái việc tu thiền nó tinh tế quá. Giống như có một lần vậy, Đức Phật vào rừng Đức Phật an cư ba tháng thì có con khỉ chúa, con voi chúa đến hầu Phật, nó cũng rất thông minh á.

[51:23]Sau đó thì ngài A Nan và các vị đến rừng đón Đức Phật về về lại ở lại với chúng chứ không để Đức Phật ở trong rừng nữa, thì lúc đó con khỉ chúa với con voi chúa nó tiễn Đức Phật ra tới bìa rừng, ý nó muốn đi theo Đức Phật về tới tịnh xá luôn. Đức Phật quay lại Đức Phật mới nói: "Con, kiếp này các con không thể tu thiền, các con không thể nhập thiền định được. Thôi hãy quay trở lại vào rừng." Nó khóc vô cùng, rồi Đức Phật cùng với tăng chúng đi quay về lại tịnh xá. Còn hai con khỉ chúa, voi chúa đó vô rừng nó nhịn ăn nó chết luôn, để hy vọng nó tái sinh lại để được làm người. Và bởi vì cái bộ não con người mới đủ sức hiểu

[52:04]những cái điều về chỉ, về quán như thế này. Còn con khỉ dù lúc đó nó linh mẫn, nó biết Đức Phật là bậc vô cùng đáng kính. Đức Phật vô trong rừng ở, nó biết đây là một bậc vô cùng đáng kính, nó không hiểu là gì rõ ràng, nhưng mà ngày ngày nó hái hoa hái quả nó cúng dường Đức Phật. Thông minh đến mức độ đó vậy, vậy mà cái bộ não cấu tạo bộ não nó không đủ tinh tế, không đủ thông minh để có thể hiểu chỉ và quán để nhập vào thiền định. Nên khi tiễn tới bờ bìa rừng, Đức Phật nói bằng ngôn ngữ thật sự ta không hiểu, nhưng Đức Phật đã dùng một ngôn ngữ thần thông gì của ngài á, nói vào tâm của nó để nó hiểu:

[52:45]"Kiếp này mang thân súc sinh các con không thể nhập thiền định được. Các con không thể theo ta về tịnh xá để tu hành, hãy quay lại rừng." Rồi Đức Phật đi, hai con quay lại nó nhịn ăn tự tử nó chết luôn. Nó cũng cũng vĩ đại đó chứ không phải là vừa đâu. Nhưng mà cái cấu tạo bộ não nó như vậy, cấu tạo bộ não như vậy. Nên hôm nay vậy thầy đang nói tới cái chỗ mà ta vừa xuất hiện một cái cảm giác dễ chịu, ta thấy liền đây là một gì? Một sự ràng buộc. Ta vừa xuất hiện một cái khó chịu, ta hiểu liền đây là một sự ràng buộc. Và thấy thấy rõ như vậy để ta không bị cái gì? Không bị nó dẫn đi, không bị nó dẫn đi, không bị nó dẫn vào phải làm

[53:29]cái này, phải tìm cái kia, phải trốn cái nọ, không loạn động nữa. Chỉ bởi vì cái cái cảm giác này, cảm xúc này, cảm tình này. Tới cái mức độ này nó vô hình, nó không phải là một tư tưởng có ngôn ngữ nó nó hiện ra trong đầu ta nữa. Cái vọng tưởng á nó có ngôn ngữ, có hình ảnh, có âm thanh, ta thấy nó được. Còn cái cảm giác mà dễ chịu, khó chịu, vui, buồn, nó vô hình. Và nó vô hình nhưng nó dẫn cuộc đời ta đi, nó đẩy ta vào luân hồi sinh tử. Thì ở cái mức độ này chỉ những người thông minh mới nhạy bén mới nhìn ra được.

[54:13]Đến nỗi mà ông Xuân Diệu còn phải than mà: "Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn." Đó, ổng cũng không biết luôn. Biết buồn mà không biết tại sao luôn. Buồn mà không có lý do là trầm cảm. Có nhớ bài thơ đó không ạ? "Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn." Không ai nhớ thơ ông Xuân Diệu hả ta? Trời ơi. "Hôm nay trời nhẹ lên cao. Trời nhẹ lên cao."

[54:46]Ủa, Thanh Hà có vẻ nhớ nè. "Tôi buồn, ôi hay, chẳng hiểu vì sao, chẳng hiểu vì sao tôi buồn." Đó, tới cái cảm giác là bắt đầu thử thách trí tuệ của ta

[55:06]rồi đó, coi ta có nhìn ra kịp cái cảm giác nó đang điều khiển ta hay không. Nên ví dụ như có một nhạc sĩ nói: "Phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng. Lòng đang giá băng bỗng ngập tràn muôn tia nắng." Có biết bài đó không kìa?

[55:26]"Phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng. Lòng đang giá băng bỗng ngập tràn muôn tia nắng." Cái ủa tinh tú quay cuồng là cái gì á? Là cái gì? Cảm cảm xúc. Và đó đó là cái dẫn mình đi vào luân hồi sinh tử, cảm xúc á. Phút đầu gặp em, em hiền lành coi tự nhiên tinh tú quay cuồng, là tai biến á, cảm xúc á. Tai biến á, à.

[56:03]Nhưng mà cái ông này ổng còn thấy, ông này ổng còn thấy, có những người không thấy. Có người thấy ờ có người không thấy và nên ở đây vậy thiền tức là nhìn thấy được những cái cảm xúc đó mà biết nó là gì? Là gánh nặng, là ràng buộc và buông bỏ, tỉnh táo mà buông bỏ. Tới mức độ này là hay. Ví dụ như khi ta ngồi thiền vậy, ngồi một lát chân sao? Nó đau. Mà nó đau rồi thì gì? Cái gì xuất hiện? Cảm giác khó chịu. Cái cảm giác khó chịu đó càng lúc càng càng nhiều. Mà lúc khó chịu như vậy có được quyền giận không? Giận ai? Mình ngồi chứ có ai làm cho mình, tự mình ngồi mà. Không biết giận ai, nên đau mà không được khó chịu.

[56:52]Đây lại cái chỗ này đây. Thực sự á khi mà ta đau chân mà ta khó chịu, ta mệt liền và muốn xả thiền. Còn những người mà họ ngồi lâu á, tâm họ yên á, họ vượt qua được cái cảm xúc á, chân đau mà không khó chịu, họ ngồi tiếp. Cái đau nó không đánh vào tâm, nó không gây ra một sự khó chịu. Cái trong cái thiền nó có cái đó, và trong cuộc sống này cũng vậy. Trong cuộc sống vậy, ví dụ như

[57:21]như buổi sáng vậy mình chải tóc, mình thoa má thoa má phấn má hồng, mặc đồ đẹp đi ra ngoài. Vừa ra ngoài tự nhiên có một thằng nào nó nhìn mình: "Trời cái bà sao bà xấu đau xấu quắc xấu đớn vậy nè trời ơi." Thì mình nghe xúc phạm vô cùng phải không ạ? Nghe tổn thương vô cùng. Hồi nãy rõ ràng mình nhìn trong gương mình thấy mình sao? Rất là ok, mà tại sao thằng này ra bước ra đường mới buổi sáng sớm bước ra nó nhìn mặt mình nó nói mình là xấu quắc liền. Nghe rất là tổn thương, đúng không ạ? Cái tổn thương đó là gì? Cảm xúc. Còn nếu ta có thiền định, ta có thiền định, nó chê ta: "Trời cái bà xấu quắc." Mình cười cười,

[58:03]cảm ơn, không bị cảm xúc chi phối, cảm xúc không khởi lên. Tức là cái sức định đã có rồi, không bị cảm xúc đó khởi. Dù phía bên ngoài cuộc đời có những cái không có những có bên ngoài cuộc đời là những điều trái ý nghịch lòng, nhưng không làm ta xuất hiện cảm xúc và ta chịu đựng được với cái cuộc đời này. Nên có những người vậy, khi bị cuộc đời tấn công quá, cảm xúc khó chịu nhiều quá chịu không nổi, họ tự tử chết. Vì cái đau khổ cuộc đời nó quá sức chịu đựng. Nhưng mà khi người ta có thiền định thì những cái đánh phá cuộc đời tấn công vào, nó không có cảm giác tổn thương. Nó không có cảm giác đó.

[58:45]Và người ta chịu đựng được để đi tiếp trên cuộc đời này bình thường vậy, để thực hiện những điều cao cả mà mình mơ ước, không bị cảm giác tổn thương, cái khác như vậy. Nên thiền định chính là điều đó, ta thấy được cảm xúc từ ban đầu và cái sức định của mình đủ không cho cảm xúc khởi lên. Sau này ta sẽ nói tiếp về phần này. Cảm xúc nó là cái ta còn thấy được. Nghĩa là người thông minh còn thấy mình có bị cảm xúc vui buồn khởi lên để mà biết mà vượt qua. Bắt đầu bây giờ ta tới một cái còn không thấy luôn, đó là bản ngã vô hình, à bản ngã vô hình. Bản ngã này là hang ổ của luân hồi sinh tử. Cái chấp ngã thấy mình có một cái ta, mình có thấy không?

[59:37]Không. Thế là mình thấy có cái tôi sơ sơ vậy thôi, chứ không có cái gì là tôi thật. Như có một vị một ông Bà La Môn đến hỏi Đức Phật vậy, hỏi Đức Phật về cái nói, "Sa môn Gotama nói là là là không có cái tôi, tôi thấy nó vô lý." Đức Phật mới nói, "Vậy ông nói cái gì là cái tôi? Nói cho ta nghe." Bắt đầu ổng ngớ ngớ liền, ổng nói cái thân à. Vậy cái thân ổng kêu nó, "Đừng bệnh." Nó có nghe lời không? Nó vẫn bệnh. Rồi cái suy nghĩ ông kêu nó dừng, nó có dừng không? Nó không dừng. Những cái gì ông nghĩ là của ông, ông không hề sai bảo nó được. Thì làm gì có cái ta? Trong một bài lý luận ngắn ngắn trong đoạn kinh á điều đó nói cái ông kia ổng phải

[1:00:23]phải đuối lý và chấp nhận lời Đức Phật nói là đúng, không có gì là cái ta. Nhưng mà ta bị một cái chấp ngã vô hình thấy giống như mình có cái ta. Thấy giống như mình có cái ta và cái ta vô hình, cái ta chấp ngã đó làm cho ta rất là khổ sở, luôn luôn thúc đẩy ta, dẫn ta vào luân hồi. Hồi nãy ta nói cái vui, cái buồn đẩy ta vào luân hồi sinh tử mà ta còn thấy. Còn bây giờ cái chấp ngã là cái ta không thấy. Nhưng nó đang từng giờ, từng phút, từng giây đẩy ta vào luân hồi sinh tử. Đây là cái ta không thấy. Nhưng vì ta tin Đức Phật, ta tin vào lời dạy của Đức Phật, giữa cái không có một cái lõi cây, nhưng tự ta chấp có một cái lõi,

[1:01:11]có một cái bản ngã và cái bản ngã, cái chấp ngã đó đẩy ta vào luân hồi sinh tử. Bây giờ tới cái phép quán mà quán, bản ngã này là hang ổ của luân hồi. Tới cái phép quán này thì ta không còn thấy nữa. Đây là chỉ bằng cái lòng tin kính Đức Phật mà ta quán, chứ chính ta không thấy cái bản ngã nó ra sao nữa. Thấy cái thân? Không, cái thân này ta không phải ta. Tư tưởng không phải ta, cảm xúc không phải ta, ta nhận ra hết rồi. Nhưng còn một cái chấp ngã vô hình, ta không thấy nhưng ta tin ta có, ta đang kẹt với nó, vì Phật đã dạy như vậy và ta phải quán nó, quán cái bản ngã này, cái chấp ngã này là đầu mối của luân hồi sinh tử.

[1:01:57]Thì tới mức độ này phải là người rất thông minh và rất tôn kính Đức Phật ta mới nhận ra được điều này. Còn không là ta không quán được tới cái chỗ này. Còn không, ta không quán được tới cái chấp ngã, ta chỉ quán tới cảm xúc là giỏi lắm rồi. Nhưng mà chỉ những người rất có trí tuệ và rất tôn kính Đức Phật thì mới tin rằng chúng ta đang có một cái chấp ngã tiềm ẩn, cái chấp ngã vô hình và cái chấp ngã đó đẩy ta vào luân hồi sinh tử. Nên tới cái phép quán này là đã rất là cao, rất là sâu. Còn cái sâu hơn nữa là cái vô minh. Vô minh là gì? Chỉ người nào chứng A La Hán mới biết. Không ai biết hết. Chưa chứng đạo, chưa chứng tới tột cùng A La Hán, không ai biết vô minh là gì.

[1:02:47]Nhưng ta có vô minh không? Có, ta đang có vô minh, ta đang bị vô minh. Và chỉ vì ta tin vào Đức Phật, ta tin vào Đức Phật là chúng sinh bị vô minh đẩy vào luân hồi sinh tử, nên ta mới quán là biết rằng ta có vô minh là đầu mối tạo ra chấp ngã, khổ đau, phiền muộn, đủ thứ hết. Vô minh mặc dù không biết vô minh là gì, mà vẫn quán mình, nhắc mình đang bị vô minh. Thì đây là người rất có trí tuệ và rất tôn kính Đức Phật mới quán được tới cái chỗ này. Chứ còn không là ta không quán được tới cái chỗ này. Nên cái phép quán mà quán mình vô minh, quán mình đang bị vô minh, là phép quán rất cao trong các phép quán của thiền định.

[1:03:31]Chỉ những người ở mức tầm rất cao mới quán được cái này, còn không, nói, "Tôi có thấy nó đâu đâu mà tôi quán." Chỉ những người rất tôn kính Đức Phật, rất có trí tuệ mới thường nhắc mình là là vô minh. Một phép quán nữa là quán tội lỗi. Tất cả chúng ta vậy, ai cũng bị tội lỗi từ vô lượng kiếp. Từ cái tội lỗi vô lượng kiếp đó mà ta đang có mặt ở đây, ta tái sinh ở đây, với nhiều thứ phiền não, trở ngại, rắc rối, đủ thứ trên cuộc đời. Nó tích lũy không biết bao nhiêu là kiếp những cái sai lầm. Cái sai lầm nó do vô minh chấp ngã mà ra. Nhưng mà khi nó tạo thành tác động tới chúng sinh thì biến thành tội lỗi.

[1:04:13]Ví dụ ta sân, thì cái đó là gì? Là vô minh, chấp ngã. Nhưng ta đánh người ta một cái thì thành tội. Nên vô minh tạo thành loạn động rồi thành tội lỗi. Hễ mà có tác động tới chúng sinh thì thành tội, chưa tác động chúng sinh thì ta gọi là vô minh chấp ngã. Thì quán quán cho tới cái chỗ tội lỗi này. Thì ta, nghĩa là đỉnh cao của phép quán là thường nhớ mình vô minh tội lỗi. Còn nếu mà phụ thêm: vô minh, chấp ngã, tội loạn động, tội lỗi. Đó nhưng mà nếu gọn lại nói hai cái thôi là vô minh tội lỗi thôi, là đỉnh cao của phép quán. Còn cái căn bản của phép quán là quán vô thường. Nhớ vậy, đỉnh cao là vô minh tội lỗi,

[1:04:57]mà thường nhắc mình vô minh tội lỗi, nó là chìa khóa, là một lá bùa dẫn ta đi qua rất nhiều cái chướng ngại trên đường tu tập. Thường nhắc mình như vậy, tại vì sao vậy? Vì sau này khi ta tu tập có kết quả, bắt đầu tâm vào định được, ta sẽ tự khởi lên cái kiêu mạn, tự khen mình. Nhưng mà nhờ cái phép quán vô minh tội lỗi, ta kềm lại, kềm lại, không cho mình kiêu mạn là nhờ cái biết rằng dù có được kết quả gì, nhưng thẳm sâu, hai cái này vẫn còn là vô minh tội lỗi. Nên giữ chắc hai cái này thì ta sẽ đi mãi, không sợ bị bị lui. Tại sao đạo Phật ta suy tàn? Tại sao người chứng thiền định không còn nữa?

[1:05:46]Chỉ bởi vì nhiều thiền sư khi có kết quả rồi, quên mất cái phép quán vô minh tội lỗi và không dạy lại đệ tử mình vô minh tội lỗi. Nên sau này con đường thiền dừng lại vì bị tổn phước, vì bị kiêu mạn khởi lên mà không có cái gì để chặn lại. Rồi đạo Phật tiêu luôn, suy tàn luôn, người chứng thiền không còn nữa. Nếu từ đây về sau, ta dựng lại cái phép quán này, tu tới đâu thì tới, được kết quả gì thì kết, nhưng luôn luôn nhớ mình là vô minh tội lỗi thì con đường còn đi tới được. Đạo Phật sẽ hưng thịnh trở lại. Đạo Phật sẽ hưng thịnh trở lại. Mà nghe bài giảng ngủ thì cứ ngủ, mắt lơ mơ lên mây hết trơn rồi, trời ơi.

[1:06:38]Thấy thương gì đâu á trời. Không biết có hiểu sư phụ nói gì không đó, thấy mắt đâu nhìn lên trời mơ mơ trên đó.

[1:06:50]Rồi ngoài những cái phép quán đó, nói lại, một là gì? Đếm lại coi. Quán thân vô thường. Hai là gì? Quán cuộc đời, thế giới này là tạm bợ, nguy hiểm. Quán thân này là bất tịnh. Quán cảm giác này là ràng buộc. Quán bản ngã là hang ổ của luân hồi. Quán vô minh, quán tội lỗi. Bảy phép quán. Nhớ là bảy phép quán của thiền ta liệt kê ra đó. Thì tùy nghi ta mà áp dụng khi mình tới giai đoạn nào. Như những cái phép chỉ cũng vậy, từ cái biết toàn thân, biết dưới bụng, biết dưới kanda, biết hơi thở mà không điều khiển, biết hơi thở chậm, ít, êm. Những cái đó vậy, là những cái mà thầy đã liệt kê ra hết. Liệt kê ra các phép chỉ, đã liệt kê ra các phép quán,

[1:07:34]ta khéo léo sử dụng một cách linh hoạt cho riêng mình, không có công thức. Hôm qua về hôm ở Viên Quang có người hỏi về cái nào trước, cái nào sau. Nói, "Không." Giống như sư phụ đã dọn cái mâm cơm có đủ các món, ăn món nào đó thì ăn, nhưng cuối cùng ăn cho hết, đừng bỏ mứa. Còn món ăn món nào trước kệ mình, không có thắc mắc. Mà đừng bắt sư phụ nói, "Giờ con gắp món rau muống được không? Hay con gắp đậu hũ nha?" Nói, "Làm gì đó làm, nhưng mà ăn cho hết thôi. Như ăn hết rồi là xong, chứ đừng nói món nào trước món nào sau." Bao nhiêu phép chỉ thầy đã nói ra, bao nhiêu phép quán thầy đã nói ra thì ta tinh

[1:08:13]tế, thông minh, sàng qua sàng lại, khéo léo mà mà dùng cho phù hợp với cơ địa của mình, với căn cơ của mình, với tâm lý của mình. Vậy thôi. Tức mình dùng phép này thấy được rồi bắt đầu động, nhảy qua phép kia. Thấy yên yên được một thời gian động lại nhảy qua phép nọ, đi cho hết. Nói, "Dạ con đã tu đủ hết phép chỉ, phép quán của thầy rồi. Bây giờ con lại mà vẫn chưa đắc đạo." "Làm ơn chờ. Như vậy là còn thiếu phước." Thì đủ hết rồi là được rồi. Đủ hết rồi thì dừng lại ở ba điều. Cuối cùng là dừng lại ở ba điều. Ba điều gì? Ngồi thiền an trú ở kanda, chậm, ít, êm hơi thở vào ra, rồi quán mình vô minh tội lỗi, ba chân kiềng đưa ta đi xa.

[1:09:04]Nhớ cái đó. Ta đi qua đi lại quán rất là nhiều thứ, tập cho biết hết. Có những cái phép tập mà cả mấy năm mới xong. Ví dụ như hôm trước sư phụ hỏi là cái phép chỉ biết hơi thở mà không điều khiển tu bao lâu? Nói, "Dạ con tu cái đó ba năm." Biết hơi thở mà không điều khiển thôi là đã ba năm. Thì bao nhiêu phép chỉ, bao nhiêu phép quán đó, tùy mình, mỗi người mình sử dụng, cho tới khi mà tất cả thuần thục, thấy rất là yên. Yên rồi mà không thấy chứng cao siêu hơn thì có người nói, "Dạ con đã thực hiện đủ hết rồi, tâm con yên rồi, mà con không thể tiến xa hơn nữa, không thể chứng được cái gì cao hơn nữa."

[1:09:43]Thì nhớ cái bài hát nói với nhau, "Không ước mơ Niết Bàn, không chấp nhận trôi lăn." Đó là bí quyết á. "Không ước mơ Niết Bàn", đừng mong cầu cái gì cao siêu. "Nhưng không chấp nhận trôi lăn", nghĩa là hiểu cái trạng thái mình đang được vẫn là gì? Vẫn là còn rất là bé, vẫn còn vô minh, vẫn còn tội lỗi. Nhưng mà để cầu cái cao siêu hơn, không cầu, nhưng mà chấp nhận cái hiện tại, không chấp nhận. Cái trạng thái đó rất là khó chịu và rất là trí tuệ. Chỉ những người trí tuệ mới biết là cái gì? Không ước mơ Niết Bàn, không chấp nhận trôi lăn. Không cầu mong cái gì cao siêu hơn, nhưng không chấp nhận trạng thái của hiện tại.

[1:10:26]Cái chỗ này cực kỳ thông minh mới làm được, chứ không phải dễ nha.

[1:10:36]Có những điều ta nói thêm thế này. Sống giữa cuộc đời này, ta có duyên nợ với rất nhiều người. Những đời xưa ta ân nghĩa với nhau nên bây giờ gặp lại, thương, yêu, giận, hờn, ghét, bỏ, úi đủ thứ chuyện trên đời.

[1:10:54]Và ta hiểu một điều, cái tình của trần gian

[1:10:59]nó thực sự là duyên, là nợ và mong manh, và mong manh.

[1:11:07]Như vì có một cặp vợ chồng của Phật tử vậy, bỗng nhiên cái bà mẹ vợ mới nằm mơ thấy có những ông già rất là đẹp người tới nói, cái thằng con rể nó trả nợ xong rồi, nó thương vợ nó lắm á, nhưng mà nợ đã trả xong bây giờ nó phải về.

[1:11:29]Thì tới chừng bà bà bà mẹ vợ tỉnh dậy kể lại thì ông con rể bắt đầu phát bệnh. Phát bệnh đi khám ra là ung thư phổi giai đoạn cuối.

[1:11:43]Nó rất thương vợ nó, nhưng nó hết nợ rồi, nó phải đi. Ta thấy rõ ràng cái thương yêu thực sự là là nợ, là duyên với nhau. Nên khi ta thương một người, ta mắc nợ người đó.

[1:11:58]Hết nợ thì sao? Hết thương. Cuộc đời nó như vậy, nó bạc bẽo như vậy. Hứa cho đã đi, hết nợ rồi là

[1:12:08]thôi. Nuốt lời hứa liền. Thì cái mà bạc bẽo, mong manh nhất là lời hứa về tình thương yêu. Thực sự là như vậy. Và ta hiểu điều đó nên ta bình thản và sau này ta không thương yêu nhau vì nhan sắc, ta không thương yêu nhau vì duyên nợ, ta chỉ thương nhau vì đạo đức mà thôi. Vì Phật dạy ta phải thương yêu nên ta phải thương yêu. Ta thương cha, thương mẹ mình vì đó là đạo lý; ta thương anh chị em mình vì đó là đạo lý; ta thương vợ, thương chồng, thương con mình vì đó là đạo lý; ta thương huynh đệ mình vì đó là đạo lý; chứ không cần tới cái cái cái nguồn lợi hay cái duyên, cái nợ quá khứ không cần.

[1:12:51]Dù không duyên với mình cũng vẫn thương yêu. Cái cái chỗ này là một cái khéo nè, để cho cuộc sống của ta không bị loạn động, không bị nặng vì tình hay lụy vì tình. Ta biết rõ cái tình thương yêu chỉ là duyên nợ nên ta không bị lụy vì tình, nhưng ta chấp nhận tiếp tục thương yêu vì vì đạo lý, chứ không phải là ruồng bỏ sự thương yêu. Vì ta bỏ hết sự thương yêu, ta đi ngược lại cái đạo lý từ bi Phật dạy liền. Tâm ta hư vô, mà tâm ta hư vô thì sẽ xuất hiện cái hội chứng gì? Cô đơn. Đó, giỏi, ông này nhớ bài đó, cái bài ở ở ở Viên Quang đó ha. Không có yêu thương rồi là mầm mống của cô đơn xuất hiện liền.

[1:13:33]Không tôn trọng là cô đơn xuất hiện, không có tinh thần trách nhiệm là cô đơn xuất hiện liền. Nên ba cái điều để ta ngăn chặn cái hội chứng cô đơn cho xã hội này là:

[1:13:47]yêu thương, tôn trọng, tinh thần trách nhiệm, phụng sự đó. Ba điều đó làm cho thế giới này không bị cô đơn nữa. Thì chúng ta cũng vậy, khi ta tu mà ta có chánh kiến á, khi mà quán tới cái tình, ta phải hiểu tới chỗ này để ta không gieo cái cô đơn vào trong cuộc đời. Vì có nhiều người bị cái tà kiến ở chỗ này. Bị cái tà kiến là tâm thanh tịnh là không cần phải thương ai nữa. Chính đầu tiên những ông thầy đó cô đơn trước. Ở lủi thủi một mình, chùa một mình một người, không có đệ tử, không tới lui không ai hết. Vì ổng hiểu nhầm chỗ này, đây là một tà kiến. Tức là nói tình là duyên nợ, là mong manh, là tạm bợ, là khổ đau nên không thương ai hết.

[1:14:35]Rồi đúng vào cái hội chứng cô đơn liền, gieo cái nhân cô đơn cho mình và cho cuộc đời. Nên cái chỗ quán tình này phải rất là cẩn thận. Kẻo ta ngồi thiền đi tìm tâm thanh tịnh nên ta quán thân vô thường, thế giới này mong manh, khổ đau, tạm bợ, nguy hiểm vân vân. Quán chấp ngã, quán vô minh, quán tội lỗi, quán hết. Quán tới cái tình cảm thì phải nhìn cho ra, chỗ này sai một chút là đi đứt luôn cả đạo Phật luôn, đạo Phật suy yếu liền, vì chùa có một mình một thầy, không ai thương ai, không ai tương trợ ai đạo Phật làm sao phát triển được. Nên phải yêu thương nhưng ta không phải yêu thương của duyên, của nợ, của cái ham muốn,

[1:15:14]của bản năng, mà ta yêu thương vì đạo đạo đức, vì đạo lý. Ở chỗ này phải rất là tế nhị nha. Không được.

[1:15:26]Rồi khi ta thực hành cũng vậy, thầy nói hết các phép chỉ, các phép quán, có người thực hành sơ cái nhập định liền. Có người thực hành phép quán sơ cái nhập định liền, có người thực hành phép chỉ sơ cái nhập định liền. Thầy yêu cầu thực hành đủ hết chỉ và quán giùm. Dù hôm nay mới nhiếp vào hơi thở, mới quán hơi thở một cái là tâm yên liền cái thôi đứng đó luôn, là sai. Làm ơn hơi thở chậm, êm, an trú kan-dha, quán thân vô thường, quán thế giới huyễn, đầy đủ hết các phép chỉ, các phép quán để chi vậy? Để sau này mà dạy người khác. Còn mình lấy cái kinh nghiệm đơn giản của mình, sơ sài của mình mình dạy lại đạo Phật lại hư trở lại

[1:16:08]một lần nữa, đạo Phật suy tàn trở lại một lần nữa. Ta nhớ điều này: Đạo Phật sở dĩ suy tàn bởi vì nhiều bậc đạo sư dạy sơ sài. Không nói dạy sai, nhưng dạy sơ sài. Nhưng tại sao mà đạo sư mà dạy sơ sài? Chỉ bởi vì ổng tu sơ sài ổng chứng mất tiêu. Công đức ổng lớn quá, ổng tu sơ sơ cái ổng chứng và ổng đem cái tu sơ sài này ổng dạy, chết chúng sinh hết, tiêu diệt đạo Phật hết. Nên ở đây thời đại này ta phải hiểu cho ra cái chỗ đó. Nên dù ta tu sơ sài mà có kết quả, đừng lấy cái sơ sài đó làm kinh nghiệm mà đi dạy. Yêu cầu thực hành hết lại các phép chỉ cho đầy đủ, hết các phép quán cho đầy đủ.

[1:16:50]Sau này dạy ai cũng phải dạy cho hết các phép chỉ, hết các phép quán. Để mà Phật pháp không bị gì? Không bị suy tàn. Và đây là điều ông thầy phải truyền lại cho đệ tử mình, nói: "Con chứng được chỗ này, thầy biết rồi đó, nhưng sau này con phải dạy cho đệ tử đúng các phép chỉ, phép quán. Và con phải dặn đệ tử con phải dạy cho người sau đủ hết các phép chỉ, đủ hết các phép quán, không ai được xót một cái nào."

[1:17:19]Bây giờ ta phân tích lại một số điều một chút xíu. Khi ta ngồi thiền ta bị vọng tưởng, nghĩa là gì?

[1:17:30]Nghĩa là cái chú ý của ta đi vào nội dung của vọng tưởng. Ta nghĩ về cái nhà cái ta chú ý về cái nhà, ta nghĩ là chiếc xe ta nghĩ về chiếc xe, ta nghĩ về cái cuộc trò chuyện hay về một người bạn, ta đi luôn vào nội dung chiều sâu của vọng tưởng thì gọi là ta bị vọng tưởng, hay gọi là bị cuốn theo vọng tưởng, bị rúc vào trong vọng tưởng. Còn khi nào thì ta không bị? Nghĩa là ta biết có vọng tưởng nhưng ta không chú ý sâu vào nội dung của vọng tưởng. Nè, chỗ này tinh tế lắm á, để ý lần nữa. Hiểu hết phải không? Nghe nói thì dễ hiểu, nhưng cũng nhắc lại. Khi vọng tưởng khởi lên, vì vọng tưởng nó là những ý niệm mà,

[1:18:13]của cuộc đời mà, nó nhiều thứ, mà ta chú ý sâu vào trong cái nội dung của nó tức là ta bị lạc trôi vào trong vọng tưởng, đi theo vọng tưởng, và mất định. Coi như cái cái khoảnh khắc đó ta bị hư về thiền. Còn khi vọng tưởng khởi lên mà ta biết có vọng tưởng, nhưng ta không đi vào nội dung thì gọi là ta không bị cuốn theo vọng tưởng, gọi là ta có chút tỉnh giác. Dễ hiểu không? Dễ phải không? Làm được không?

[1:18:50]Thì thực hành các phép chỉ, phép quán sẽ giúp cho ta không bị trôi sâu vào cái nội dung của vọng tưởng. Khi ta thực hành các phép chỉ, các phép quán thì vọng tưởng vẫn khởi chứ phải không khởi, nhưng ta không đi theo vào cái nội dung nữa mà ta biết có vọng tưởng thôi, chứ ta không trôi theo nội dung, không đi sâu vào nội dung. Đó cái lợi ích của phép chỉ, phép quán là vậy. Chứ các phép chỉ, phép quán cũng chưa chắc là làm cho ta nhập định được đâu. Vì vọng tưởng không dừng lại đâu, chưa phải, vì nó còn lệ thuộc vào yếu tố quan trọng nữa là phước. Có phước rồi vọng tưởng nó mới dừng. Ta thực hành chỉ, quán đủ hết rồi, vọng tưởng không chắc dừng nếu chưa đủ phước.

[1:19:28]Cái đó mới quan trọng, như vậy. Ừ. Nên chính vì vậy ta nói là khi ta biết có vọng tưởng vừa khởi hay vọng tưởng đang khởi, nhưng ta không chú ý vào nội dung của vọng tưởng mà ta chỉ chú ý vào cái gì? Cái phép chỉ hay phép quán của mình đang tu thôi, thì ta không bị trôi luôn vào vào nội dung. Đó là cái bí quyết của thiền là như vậy đó, cái chỗ đó cái khúc mắc đó. Rồi còn cái điều này nữa: Các hành giả mà tu thiền á, đều ai cũng có cái trải nghiệm kinh nghiệm như thế này: Khi vọng tưởng khởi lên, mình biết vọng tưởng khởi lên, cái vọng tưởng nó tan. Đúng không ạ? Mình thấy có vọng tưởng khởi lên, mình biết có vọng tưởng khởi lên là nó tan.

[1:20:12]Còn mình không biết á, nên mình trôi luôn vào nội dung của nó là đi theo nó dẫn mình đi tới đâu ạ? Đi luôn tới sao Hỏa ạ. Nhưng mà nó khởi lên, cái mình biết mình có vọng tưởng, đang có vọng tưởng, mình không trôi theo nội dung thì nó tắt, tâm mình yên lại. Đúng không ạ? Trời ơi không ai trả lời hết trơn vậy trời. Tu tới đâu rồi?

[1:20:38]Và chính cái chỗ này lại là một chỗ nguy hiểm

[1:20:43]là vọng tưởng khởi lên ta biết cái nó tan và ta xác lập đó thành một pháp môn. Nói ngồi thiền sao? "Dạ, tôi ngồi tôi canh hễ vọng tưởng lên tôi thấy nó cái nó tan." Nguy hiểm vô cùng, vì sao? Vì mình đang để tâm trên đầu, mình đang chú ý trên đầu để canh vọng tưởng, mà chú ý lên đầu ta mất cái gốc. Mà ta nhớ gì? Gốc của vọng tưởng là ở dưới bụng chứ không phải trên đầu. Nên ta chú ý trên đầu ta đang chạy theo cái ngọn, ta bơm thêm cái năng lượng cho cái đầu và vọng tưởng nó không hết và đầu từ từ hư. Nên những người tu thiền mà cứ để tâm trên đầu, hoặc để chóp mũi, hoặc để trên đầu để gì đó, hoặc canh vọng tưởng trên đầu, đến một độ tuổi nào đó

[1:21:30]cái não không chịu nổi nữa bắt đầu phát sinh bệnh về não. Bắt phát sinh những cái loại bệnh về não: đột quỵ, tai biến, hay là gì gì đó, rất là nhiều thứ bệnh về não vì cứ để tâm trên đầu. Mà cái để tâm trên đầu chỉ bởi vì lý do thấy vọng tưởng cái nó tan, thích quá, cứ ngồi đó mà canh trên đầu, cứ đứng ở trên đầu mà canh coi có vọng tưởng để thấy nó vì thấy nó thì nó tan, và tưởng đó là một pháp môn, chết luôn. Nên chỗ này ta phải cẩn thận. Khi ta ngồi thiền vọng tưởng khởi lên ta thấy nó cái nó tan, làm ơn để dưới bụng trở lại nha, đừng đuổi theo nó, đừng canh nó, để xuống dưới bụng, giữ đúng các phép chỉ, các phép quán.

[1:22:11]Tu cho đúng phép chỉ và quán thì nó vẫn khởi lên, mình vẫn thấy mà không canh nó rồi sau này tự nó dừng. Nhớ như vậy, đừng canh vọng tưởng để thấy vọng tưởng nha, đừng nhắc tới nó. Đừng nhắc tới nó. Nó là điều không được chạm tới. Vọng tưởng là cái gì không được chạm tới. Chạm tới là nó tày huầy ra đủ thứ chuyện phiền toái về sau. Cứ lo cái chỉ cái quán của mình mà thôi, nhớ như vậy. Rồi nói ừm khi có vọng tưởng thì con biết có vọng tưởng, còn khi không có vọng tưởng thì con biết con không có vọng tưởng, đúng không? Sai.

[1:22:56]Khi có vọng tưởng thì mình biết là mình đang loạn động, đang có vọng tưởng, nhưng khi không có vọng tưởng thì biết mình không có vọng tưởng, nói sai. Cái câu đáp án là thế này: Khi có vọng tưởng thì ta biết mình có vọng tưởng, khi không có vọng tưởng thì ta biết mình sắp có vọng tưởng. Đó là đáp án đó.

[1:23:23]Đáp án nói nói sắp có vọng tưởng tức là tương lai mà Phật dạy là an trú trong hiện tại. I am sorry, hiện tại là cái gì không có thật.

[1:23:36]Quá khứ là chuyện đã qua, tương lai là chuyện chưa tới, hiện tại là không hề có. Mình vừa mở miệng nói cái hiện tại đang trôi qua phải không? Time is moving by. Thời gian cứ đi trôi qua trôi qua làm gì có hiện tại. Cho nên vì ta không tiếc nuối quá khứ, ta không tìm cầu tương lai, ta giả định gọi đó là hiện tại, chứ hiện tại không hề có thật. Cho nên nói, "Bây giờ con chỉ an trú trong hiện tại, tâm con không vọng tưởng thì con biết rằng con không vọng tưởng." Vọng tưởng làm gì có, nên cái mà đang không có vọng tưởng của hiện tại, hiện tại không có, phải biết rằng tương lai nó tới bây giờ, nó trôi tới bây giờ vọng tưởng khởi lên bây giờ á.

[1:24:19]Cho nên cái khôn nhất là gì? Tâm vọng tưởng biết có vọng tưởng, tâm không vọng tưởng biết sắp có vọng tưởng. Đó là người khôn nhất, chắc chắn nhất, nó là vậy đó. Rồi bây giờ nói:

[1:24:35]"Con đã vượt qua được trạng cảnh giới đó rồi, con ngồi thiền con đạt được cái yên rất là lâu và rất là sâu." Nói là nếu mà nói sắp có vọng tưởng con cũng không sắp có vọng tưởng luôn, vì ngồi cả thời không vọng tưởng. Thì biết cái gì? Hồi nãy thầy nói là không có vọng tưởng thì biết mình sắp có vọng tưởng mà con không hề sắp có vọng tưởng, cả thời ngồi thiền con rất là yên thì biết cái gì?

[1:25:03]Biết cái gì? Biết mình vẫn còn vô minh, tội lỗi. Đó cái câu bùa đó đem ra xài liền, câu thần chú đó đem ra xài liền, nha. Tại vì mình thấy là con không có vọng tưởng xin thưa ý niệm kiêu mạn bí mật nó đang xuất hiện. Cái ý niệm kiêu mạn bí mật nó không khởi thành một vọng tưởng để ta thấy, chứ nếu khởi lên mình thấy thì mình đã đã lo rồi nhưng hoàn toàn nó không khởi. Cái ý niệm kiêu mạn này không hề khởi lên nhưng nó đang khởi mà nhất là những người tu thiền đạt được định, người vào được định rồi tự khởi lên cái kiêu mạn mà kiêu mạn nó rất vô hình. Nên mình không thấy nó, nhưng phải dùng một câu thần chú để diệt trừ nó,

[1:25:50]ngay lúc mà tâm mình thực sự thanh tịnh không còn gì hết, vẫn phải khởi lên cái tác ý là mình vẫn còn vô minh, tội lỗi, nhắc câu đó cho kỹ. Mà thực sự đó, lúc đó mới là lúc chiến đấu đó. Ai mà được định rồi sẽ thấy cái chỗ này mới là chỗ chiến đấu khốc liệt. Thấy giống như rất bình yên nhưng hoàn toàn mình đã bị cái kiêu mạn xâm chiếm hết toàn bộ. Nếu không quyết liệt ứng dụng câu thần chú, thẳm sâu mình vẫn còn là vô minh, tội lỗi, chỗ đó mà không khởi được là cái kiêu mạn nó xâm chiếm hết cả tâm hồn mình. Chỗ này rất là nguy hiểm. Hôm nay sư phụ nhắc tới nhắc lui điểm này rất là kỹ. Ai tu mà vào được định rồi thấy mình chả còn không còn gì để

[1:26:33]tác ý, không còn gì để hành trì, tất cả đều thanh tịnh. Thấy không? Cái kiêu mạn nó đang trùm con hết á. Nó còn chưa hết, nó còn cái nữa, thụ động nữa. Tức là khi mà ta vào định, ta sẽ bị hai cái, một là thụ động, hai là kiêu mạn. Thụ động là gì? Không muốn làm gì nữa. Mà cứ ca ngợi cái không làm gì mới là cao siêu. Chết cái đạo Phật luôn là bây. Rồi xúm nhau không làm gì hết, rồi đệ tử Phật không ai có phước hết vì không chịu làm gì cả, đạo Phật suy tàn luôn. Vì cái tà kiến của người vào định, người vào định có hai cái tà kiến khởi lên, một là thụ động không muốn làm gì, hai là kiêu mạn thấy mình ngon rồi.

[1:27:16]Nên là ta phải luôn luôn vậy, vào đầu ngồi thiền phải tác ý tâm từ bi yêu thương chúng sinh, mà nhờ tác ý yêu thương chúng sinh ta có động lực để mà gì? Hành động, hoạt động làm việc, cống hiến, phụng sự. Và thứ hai, lúc nào cũng thấy mình còn vô minh, tội lỗi để chiến đấu với cái kiêu mạn nó đang khởi lên phủ trùm hết tâm hồn mình mà mình không hề hay biết. Cái chỗ này rất là khó, nhớ như vậy.

[1:27:46]Khi mà ta nhớ nhắc lại về khi ta tu thuần thục hết rồi tất cả phép chỉ, phép quán tâm rất là yên rồi thì giữ ba cái lặng lẽ mà đi mãi. Một là ngồi thiền an trú ở Khang Đa, chậm, ít, êm, hơi thở vào ra. Và quán mình vô minh, tội lỗi, đó ba chân kiềng đưa ta đi xa. Là khi tâm đã ổn định hết mọi thứ, thuần thục hết rồi, giữ ba cái đó để đi mãi, mà đi đâu? Nói đi chứ đâu có đi đâu đâu, giữ ba cái đó để chờ đợi cái ngày mình đủ duyên phước và chứng đạo, cái chứng đạo bất ngờ nó tới mình không có nói trước được. Như vậy, nhưng giữ ba cái đó cho kỹ. Thực hiện rất nhiều phép chỉ, nhiều phép quán, cuối cùng giữ lại ba cái đó.

[1:28:41]Khi ta nói ta tu thiền tức là ta tu chánh tinh tấn, vậy tà tinh tấn là cái gì? Tà tinh tấn nghĩa là tu thiền sai phương pháp. Tu thiền sai phương pháp thì càng tu càng bệnh, càng tu càng loạn, nó sai như vậy. Sai là cái gì? Đây ta liệt kê ra những cái sai để biết mà mình tránh và có thể sửa được cho người khác. Một là: Chú ý trên đầu, tại vì gốc vọng tưởng nằm dưới bụng á chứ không phải nằm trên đầu, phải để ý. Thứ hai là gì? Cố ý diệt trừ vọng tưởng. Vọng tưởng tưởng không khờ dại diệt trừ, diệt trừ vọng tưởng não sẽ hư. Nhớ trong cái bài kệ ấn tâm ta có câu đó. Nên cái sai thứ hai: Cứ chăm chăm tìm cách diệt trừ vọng tưởng, hư bộ não liền.

[1:29:30]Cái thứ ba là gì? Tự cho mình có sẵn một cái tâm cao siêu. Trong khi cái mình có sẵn ở trong tâm là cái gì? Chỉ là vô minh, tội lỗi thôi. Nhưng mình tự gán cho mình có một cái gì cao siêu ở trong tâm, đó là cái sai thứ ba. Cái thứ tư là gì? Cái sai thứ tư là gì? Là không đạt được cái hơi thở chậm, ít, êm mà hơi thở mạnh, cố ý thở mạnh và cứ tưởng rằng ráng thở mạnh thì tâm được nhiếp, nhưng sai. Hơi thở mạnh làm tâm bị động, bị căng thẳng. Cái thứ năm là gì? Không thực hành đầy đủ chỉ và quán đó, không thực hành, đó những cái sai đó.

[1:30:16]Nãy nãy giờ ta nói mấy thời qua ta nói về chỉ, về quán là ta nói cách ngồi kiết già. Đang khi ngồi kiết già thì dụng công như thế, còn khi không ngồi kiết già thì dụng công làm sao?

[1:30:31]Khi ngồi kiết già ta dụng công theo các phép chỉ và quán đó thì tâm ta có yên á thì cái yên đó nó đi vào trong đời sống lúc ta không ngồi kiết già. Khi ta không ngồi kiết già thì cái kết quả lúc ta ngồi kiết già nó sẽ hiện ra một cái là thế này: Ta an trú nơi chính mình. An trú nơi chính mình và kiểm soát được vọng tưởng. Nhớ vậy. Nó hiện ra trong đời sống ta là tự ta an trú nơi chính mình và kiểm soát được vọng tưởng. An trú nơi chính mình, mà chính mình là cái gì?

[1:31:10]Lúc này Tứ niệm xứ hiện ra. Ta nhớ lại cái bài Tứ niệm xứ mà cái loạt bài mà Sư phụ đã giảng á, Tứ niệm xứ nó hiện ra. Cái mức độ thứ nhất, cái chính mình thứ nhất là cái gì? Thân. À. Cho nên ở cái người mà tu thiền mà bắt đầu được kết quả đó, tâm yên ở trong lúc ngồi thiền tâm yên á, thì khi trong đời sống ta an trú nơi chính mình, tự nhiên ta cứ biết rõ toàn thân mình rất là rõ và kiểm soát được vọng tưởng. Đi tới đi lui vậy, cái biết nó an trú nơi thân mình, lúc nào cái tâm nó cũng dính nơi cái thân, nơi an trú nơi thân và ta đạt được cái mức độ thứ nhất của Tứ niệm xứ là quán thân trên, trên thân.

[1:31:50]Thân như thế nào thì biết thân như thế đó và kiểm soát được vọng tưởng, mộng tưởng không khởi tầm bậy nữa. Nên buông tay, quơ chân, nói chuyện với người này nói người kia, sự thật mình vẫn đang biết nơi nơi thân của mình. Và thường thường cũng tác ý thân này là vô thường. Vậy nên kiểm soát nơi thân, đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai, nếu mà lúc ta ngồi thiền định đã sâu hơn nữa thì trong đời sống hằng ngày ta cũng an trú nơi chính mình, nhưng cái chính mình đó không phải là cái thân nữa mà chỉ là một cảm giác vô hình về mình mà thôi, một cảm giác vô hình về chính mình mà thôi. Là lúc đó cái sức định ta nó sâu rồi,

[1:32:31]ta đi tới đi lui vậy, ta không thấy cái thân nữa mà thực sự thấy nơi mình là một cái cảm giác vô hình nơi chính mình. Và dĩ nhiên không có vọng tưởng nó lấn vào được. Tại cho nên mức độ nó sâu rồi, và chỗ này trong Tứ niệm xứ ta gọi là gì? Quán thọ trên thọ. Lúc này chính mình chỉ còn là một cảm giác, thọ tức là cảm giác, một cảm giác vô hình mà thôi. Nên lúc này ta kiểm soát sâu hơn cái vọng tưởng, không phải là vọng tưởng nữa, mà những cái vui buồn, những cái dễ chịu khó chịu bị ta kiểm soát hết, không có khởi tầm bậy nữa. Không phải là người ta nói mình xúc phạm mình bị tổn thương, không có tổn thương, người ta khen mình cái mình mừng vui, không có nữa, hết rồi.

[1:33:07]Tại vì cái sức kiểm soát ở giai đoạn này là quán thọ trên thọ, thấy chính mình chỉ là một cảm giác vô hình mà cũng kiểm soát luôn tất cả những cảm giác, cảm xúc của buồn, vui, giận, ghét này kia nọ, kiểm soát luôn. Đó là cái thứ hai. Và cái thứ ba, nếu trong cái lúc ngồi thiền mà định ta rất sâu thì trong đời sống hằng ngày ta cũng an trú chính mình, nhưng chính mình đó là một cái biết thẳm sâu vô hình, nó là cái biết. Cái biết nó không phải là cái thân nữa, không phải là một cảm giác về mình vô hình nữa, mà là một cái biết, cái biết mầu nhiệm và cũng rất là, là sâu thẳm. Cái biết mầu nhiệm và rất là sâu thẳm.

[1:33:48]Cái chỗ này mấy cái thiền sư mà cứ đánh cứ hét là cái chỗ này đó, ta muốn chỉ cho đệ tử cái chỗ này. Đó. Cứ hỏi thế nào là: "Ý tổ sư từ Ấn Độ sang?" ổng lấy cây ổng đập cho một cái bốp, là ổng muốn mọi người hiểu ra cái chỗ cái biết sâu thẳm này, nhưng mà thật ra nếu không có sức định thì không biết. Cứ thấy đau là giận ông thầy thôi, không biết.

[1:34:11]Rồi trong Tứ niệm xứ còn có cái phép, đó là quán tâm trên tâm ha. Nếu mà thấy mình, cái chính mình chỉ là một cái biết sâu thẳm là ta đang ở mức độ thứ ba của Tứ niệm xứ là quán tâm trên tâm. Thế còn cái quán pháp trên pháp? Là người này đã chứng A-la-hán rồi. Lúc đó chính mình không còn là mình nữa, mà mình đã là gì? Là chân lý của vũ trụ. Pháp tức là chân lý của vũ trụ. Đi, đứng, nằm, ngồi không còn là mình nữa, không có cái chính mình nữa, mà mọi thứ đều chỉ là đạo lý mà thôi. Chỉ vì đạo lý mà sống với chúng sinh mà thôi, không còn gì là chính mình, không còn gì là cho mình nữa, không có gì là vì mình nữa.

[1:34:54]Tất cả là đạo lý, tất cả là từ bi, trí tuệ, là yêu thương, là vị tha, là đại bi. Là mức độ mà quán pháp trên pháp là như vậy nha.

[1:35:11]Bây giờ ta chưa đạt tới mức độ sâu, ừm, thì ta nhớ mấy điều lại, mấy điều lại thế này: dù tu cho tới cảnh giới nào, vẫn nhớ mình là vô minh tội lỗi. Nhớ cái câu thần chú để đi mãi. Khi ta ngồi thiền có kết quả thì lúc nào cũng bị xuất hiện cái tâm lý gì? Tự khen. Nhớ tránh cái tự khen, vì đó là kiêu mạn, nhớ. Rồi khi ta ngồi thiền có kết quả, cái định nó khóa ta trong cái thụ động, không muốn làm gì, nhớ dùng tâm từ bi để thoát ra, nghĩ tới vận mệnh của Phật pháp mà thoát ra, mà phụng sự, mà, mà cống hiến. Và dù ta chưa đạt được cái quán pháp trên pháp, ta chưa đạt được vô ngã hoàn toàn, ta chưa thể sống tất cả bằng

[1:36:03]đạo lý hoàn toàn, nhưng nhớ tập cái sống tử tế từng li từng tí. Nhớ như vậy. Bất cứ một điều gì dù nhỏ nhặt: cái cành cây, ngọn cỏ, các chiếc lá, cánh hoa, em bé, cụ già, tất cả những điều gì chung quanh mình mà mình quán thấy được biết được, đều phải nằm trong cái tình yêu thương của mình cả. Đó gọi là mình sống tử tế từng li từng, từng tí. Đáng lẽ tới câu này là mình kết thúc, nhưng bởi vì cái thời đại mới này ta thêm một câu thòng: rất tử tế, nhưng cảnh giác đừng bị lợi dụng lừa đảo trực tuyến.

[1:36:47]Ai nói ngon nói ngọt cẩn thận nha, vì lúc này nó lừa đảo nhiều quá. Thì hôm nay vậy, chúng ta, hừm,

[1:36:57]có duyên về với đất trời của Linh Quang, bên dòng sông Như Nguyệt nha, một lịch sử hào hùng của dân tộc. À, ta gặp nhau trời rất là oi bức, nhưng ông trời thương ta cho một trận mưa mưa rào, dịu mát để ta nói với nhau về chánh tinh tấn là phương pháp đi vào thiền để làm chi? Để chuyển hết tất cả cái phước của ta từ trước đáng lẽ là phước nhân thiên, nhưng bây giờ phải chuyển thành phước vô lậu, đi vào cái thiền định vô ngã để giải thoát. Và cái công trình đó là một công trình vất vả, khó khăn. Ta phải chuẩn bị tinh thần, chuẩn bị cái con người thép để đi vào thiền định. Mà vào thiền định là với chỉ và, và quán.

[1:37:45]Trong chỉ và quán, trong khi chỉ và quán dù chưa có kết quả nhiều, nhưng tâm đã chập chờn được yên, nhớ như vậy. Và khi chập chờn được yên trong cái chánh tinh tấn, đừng nghĩ mình chứng cao siêu, vì cũng chỉ đang ở chánh tinh tấn mà thôi. Dù ngồi thiền được yên, đừng nghĩ nó là cao siêu, vẫn đang còn là chánh tinh tấn, vì lúc tu chánh tinh tấn ta đã chập chờn chập chờn có kết quả. Có những lúc ta tâm ta yên, cũng thanh thản, dễ chịu đủ thứ rồi. Lần sau ta sẽ nói về chánh niệm. Chánh niệm là bắt đầu có kết quả về thiền. Chỗ này mới khó nè. Vì chánh niệm là bắt đầu có kết quả về thiền, mà kết quả về thiền là điều mà ngôn ngữ không nói được, không diễn tả được.

[1:38:30]Ngôn ngữ không diễn tả được mà vẫn phải ráng diễn tả, thì kết quả là tất cả mọi người nghe đều ngủ đông. Ngủ ba tháng luôn mới dậy, không phải một đêm. Rồi.

[1:38:46]Không không biết không biết kỳ tới làm sao. Chính Sư phụ cũng đang hồi hộp nè, không biết bữa giảng tới chánh niệm chuyện gì xảy ra nữa. Tới chừng mà giảng xong, khi nhìn xuống chỉ còn một người thức thôi. Rồi mới xuống bắt tay cảm ơn: "À! Thật ra là bạn mới là người hiểu thầy, phải không? Bao nhiêu người người ta ngủ hết tới bây giờ vẫn chưa dậy, chỉ có một mình bạn là hiểu được thầy". Cái người đó nói: "Dạ, con phải ráng thức để đợi thầy giảng xong con tắt máy, tắt điện, đóng cửa". Thì đó, có một người thức thôi, còn bao nhiêu ngủ sạch, nếu mà nói về thiền định. Thôi Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nha. Hồi hướng đi con.

[1:39:22]Nguyện pháp giới chúng sanh cùng

[1:39:38]tinh tấn tu hành, thoát chấp ngã vô minh, đồng viên thành Phật đạo.