[0:50]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni.
[0:59]Kính thưa các cấp chính quyền địa phương. Kính thưa quý Phật tử. Thật là một cái niềm hạnh phúc lớn lao khi chúng ta được ngồi đây, được về đây dự cái lễ hội Quán Thế Âm Bồ Tát của Ngũ Hành Sơn non nước này, đó là một cái hạnh phúc rất là lớn. Mà còn hạnh phúc nữa là những ai được là người dân, con dân của Đà Nẵng này. Vì sao vậy? Vì Đà Nẵng có những điều đặc biệt lạ lùng.
[1:40]Đây là một thành phố có một cái vị trí địa lý thuận lợi để có thể phát triển kinh tế, công nghiệp, du lịch gì đó là vân vân. Ở đây, đặc biệt nữa là có những người lãnh đạo, thành phố Đà Nẵng này có những người lãnh đạo rất là mẫu mực, biết lo cho dân, cho nước, mà cái tên tiêu biểu nhất
[2:08]là ai? Là ông Nguyễn Bá Thanh, là cái tên mà cả nước Việt Nam này khi nghe đến ai cũng phải cúi đầu ngưỡng mộ, thì đó là con người của Đà Nẵng.
[2:21]Rồi Đà Nẵng này có một cái đặc biệt nữa, lại là một thành phố của tâm linh, lạ như vậy. Đây là điều mà hiếm ở đâu có được. Ta thấy cái lễ hội Quan Thế Âm Ngũ Hành Sơn này hằng năm trở thành lễ hội của quốc gia.
[2:42]Ta thấy cái ngôi chùa Linh Ứng Bãi Bụt trở thành một thắng cảnh như là của thế giới. Ta thấy thắng cảnh chùa ở trên Bà Nà và các chùa ở Đà Nẵng đều nhanh chóng được phục hồi, xây dựng. Cái điều đặc biệt nữa là, sở dĩ mà có được những điều đó thì chính cái người lãnh đạo của thành phố đã hết sức là quan tâm đến vấn đề tâm linh. Hôm nay, nhân cái dịp mà Đà Nẵng ta cũng đón cái tượng Phật ngọc của Phật hoàng Trần Nhân Tông, trùng dịp với lễ hội Quán Thế Âm này, nhắc chúng ta một điều thế này: Vào ngày xưa á, sở dĩ mà cha ông ta lập nên một chiến công vĩ đại, đánh thắng quân Nguyên ba lần khi mà quân Nguyên Mông giẫm cái vó ngựa của mình lên
[3:39]gần như trên toàn thế giới, một đất nước Trung Hoa hùng mạnh như vậy mà vó ngựa Mông Cổ giẫm nát lên, nhưng mà khi sang Việt Nam bị đánh bại ba lần vì đâu? Thì có người ta nói là Trần Hưng Đạo, có người thì ta nói là do triều đình, do nhiều yếu tố vân vân, nhưng mà không ai ngờ được một điều: sự thật là bắt đầu từ cái lòng kính yêu Phật của những vị vua nhà Trần. Khi mà Trần Thủ Độ bằng cái thủ đoạn của mình cướp mất ngôi vua của nhà Lý, thì ngay lập tức gây nên một sự bất mãn ngầm trong toàn dân. Đó là quy luật vì lòng dân vẫn còn yêu kính cái triều đình nhà Lý. Nhưng khi mà cái ngai vàng giao cho Trần Cảnh - Trần Thái Tông,
[4:37]ông trốn lên chùa ông tu, ông không thèm nhận ngôi vua. Ông khước từ ngôi vua để lên núi tu tập. Thì cái điều đó, cái tiếng lành nó vang ra, toàn dân hiểu một điều: ta có một vị vua không tham ngai vàng, ta có một vị vua mà trọn lòng hướng về với Phật pháp. Thế là từ cái thái độ bất mãn cái nhà Trần cướp ngôi nhà Lý, bỗng nhiên họ trở thành yêu quý nhà Trần như là nhà Lý. Chính vì cái tình yêu triều đình nhà Trần đó mà ta đủ sức mạnh để đánh tan quân Nguyên ba lần. Nên ta thấy ở đây cái yếu tố tâm linh cực kỳ quan trọng. Thì nơi Đà Nẵng ta, ta cũng được những nhà lãnh đạo của thành phố Đà Nẵng rất quan tâm đến vấn đề tâm linh.
[5:30]Mà phải chăng vì có cái sự quan tâm đúng mức với tâm linh mà thành phố Đà Nẵng từng ngày, từng ngày bước lên,
[5:41]thành phố giàu đẹp từng ngày? Khi chúng tôi về đây thăm Đà Nẵng lần trước, đi qua nhiều thành phố đều đẹp cả chứ không phải không, nhưng đến Đà Nẵng thì cái niềm xúc động tột cùng mới viết thành bài nhạc, cái bài mà Non Nước Mênh Mông hồi nãy mà có Phật tử trình bày đó. Trong đó chúng tôi có nói một điều gần như tiên tri. Lúc đó là ông Nguyễn Bá Thanh chưa ra ngoài Trung ương, chúng tôi nói: "Tình người Đà Nẵng mến yêu non sông, Nam - Bắc - Trung một nhà." Tức là người Đà Nẵng đứng ngay ở chính giữa, đứng ngay chính giữa đất nước, mà theo Hòa thượng Huệ Hương của chùa Quán Thế Âm đây nói rằng nếu ta đo từ cái đỉnh núi Lũng Cú, từ cái địa đầu Lũng Cú miền
[6:28]Bắc cho đến cái mũi Cà Mau thì cái Ngũ Hành Sơn này nằm đúng ngay chính giữa. Một điều rất lạ lùng chưa? Người Đà Nẵng gánh cái đất nước này. Cho nên nói là: "Người Đà Nẵng mến yêu non sông, Nam - Bắc - Trung một nhà." Đó là bài nhạc mà chúng tôi cảm xúc như vậy. Hôm nay, chúng tôi về đây để dự cái lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn, mà không ngờ là cái ngày hôm nay cũng là ngày, một ngày vui của thành phố khi mà ta vừa khánh thành cái gì? Cái Cầu Rồng, ha, con rồng rất đẹp. Ai nói gì nói, chúng tôi đi ngang nhìn thấy con rồng rất đẹp. Rồi cái tuyến cáp treo thứ tư lên Bà Nà, và cũng là ngày kỷ niệm 38 năm giải phóng Đà Nẵng, cũng là ngày lễ hội Quán Thế Âm.
[7:22]Như vậy, bỗng nhiên ngày hôm nay việc đời, việc đạo gặp nhau ở một thời điểm rất là linh thiêng, rất là ấm áp. Nên hãy tự hào, hãy vui vì ta có mặt trong cái lễ hội Quán Thế Âm này! Hãy tự hào, hãy vui vì ta là con dân của Đà Nẵng! Đó là lời mà chúc mừng của chúng tôi đến với tất cả quý vị ở đây, nha.
[7:53]Hôm nay, với lễ hội để cúng dường lên Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng tôi xin được trao đổi một bài pháp thoại với đề tài là Sự linh ứng của Bồ Tát Quán Thế Âm.
[8:10]Thưa chư tôn túc, kính thưa quý Phật tử! Những ai mà đã từng theo Phật, nhất là đạo Phật Bắc tông Đại thừa, thì trong lòng đều có niềm kính ngưỡng với Bồ Tát Quán Thế Âm, đều đã nghe bố mình, mẹ mình dạy rằng: "Khi con gặp nguy hiểm, nạn tai, hãy niệm: Nam Mô Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát, hay là Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, hay là cứ là hay là Nam Mô Quan Âm Bồ Tát, vân vân, thì con sẽ được Ngài cứu độ mà tai qua nạn khỏi." Cái lời dặn dò ở trong gia đình truyền đời như vậy cứ nó đi vào máu, vào thịt ta một cách tự nhiên. Khi lớn... người nào mà hơi rời xa đạo Phật thì sẽ thoáng một chút nghi
[9:05]ngờ, còn người nào mà cứ thuần thành theo Phật thì xem cái sự cứu độ của Bồ Tát Quan Âm là một điều hết sức tự nhiên. Nhưng tin hay không tin thì rất nhiều người trong chúng ta đã từng có kinh nghiệm về sự linh ứng của Bồ Tát. Có những người cầu nguyện những điều nho nhỏ và cũng gặp được linh ứng, có những người trong cái nạn tai cực lớn rồi cũng được linh ứng. Chúng tôi cũng tiếp xúc được với rất nhiều người và đều nghe kể những chuyện nhỏ, chuyện lớn về cái sự cứu độ của Bồ Tát đối với với họ. Cho nên dù nói gì thì nói, cái sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm là một điều không thể chối bỏ. Tức cười nhưng có một cái anh nó vậy:
[9:59]khi ngày xưa ảnh còn ở trong bộ đội, nhưng mà ảnh cũng tin Bồ Tát Quan Âm. Trong một trận đánh bị vây không còn đường thoát, lúc còn chiến tranh, anh niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm. Anh mới kể là tự nhiên giữa cái chiến trường tiếng đạn bay xì xèo như vậy, bỗng nhiên một đứa bé xuất hiện... Kêu ổng đi và ổng cứ đi theo, thoát khỏi vòng vây lúc nào không biết, khỏi ra khỏi trận chiến luôn. Đó, rồi sau đó ổng cứ một lòng tin Bồ Tát. Đến nỗi ổng đi vào chùa ổng công quả, ổng xuống cái hồ nước ở Đại Tòng Lâm, ổng xuống hồ nước ổng phụ với quý thầy dọn cái hồ cho đẹp, cái ổng rớt mất cái hộp quẹt. Hồi xưa cái hộp quẹt ga nó quý lắm,
[10:46]bây giờ mình hộp quẹt ga mình ra ngoài mình mua đầy. Hồi đó mà ai có được cái hộp quẹt ga nhỏ nhỏ như vậy là coi như là đem khoe được cả làng. Ổng xuống ổng mò dọn công quả sao rớt mất hộp quẹt ga dưới dưới hồ, và ổng cứ thấy ổng mặt ngơ ngơ ngơ ngơ, cái ổng mò xuống ổng lặn ổng lấy lên được. Ổng nói: "Con nhờ niệm Bồ Tát, con lặn xuống con con lấy lên liền." Tức là đối với ổng bây giờ, chuyện nhỏ chuyện lớn gì ổng cũng niệm Bồ Tát Quan Âm. Và ổng thấy rất là linh, đó là chuyện lớn độ, chuyện nhỏ độ. Rất nhiều người trên cuộc đời này khi gặp những điều nguy cấp, niệm Bồ Tát Quan Âm đều thành tựu.
[11:21]Ngay cả như chúng tôi vậy, chúng tôi đi tu là cũng được Bồ Tát Quan Âm dẫn dắt. Nhớ lại một lần trong đời mình, cái đứng trước tượng Bồ Tát khấn là xin Bồ Tát gia hộ cho con đủ duyên xuất gia. Vừa nói dứt lời hai giọt nước rớt xuống đầu liền. Mà lúc đó trời thì trời trong, không mưa, không sương, không gió, rớt xuống đầu, đúng 2 tháng sau đi vào chùa liền. Mà đêm trước đi vào chùa, thấy một bà già bay trên trời cao xuống nắm tay kéo lên cái bục của người xuất gia, nói: "Cậu ăn chay rồi cậu lên đây đứng." Thế là qua ngày hôm sau dứt bỏ hết tất cả đi vào chùa và đi tu tới giờ này luôn. Nên thấy trong cuộc đời mình là được lúc nào được Bồ Tát Quan Âm soi sáng.
[12:04]Rồi sau này cũng vậy, như ta tụng trong kinh Phổ Môn có cái đoạn cái người mà rớt xuống nước mà niệm Quan Âm thì không chìm. Cái câu này không ai dám tin rồi nha, không ai dám tin. Nói rớt xuống nước phải chìm mà chết chứ làm sao mà niệm? Ờ nên mà cái trong kinh nói chắc nịch, nói xác quyết. Nên đôi khi ta hồ nghi, không biết cái này có mê tín hay có quảng cáo hay không. Nhưng mà chúng tôi từng gặp một người Phật tử như vậy. Bả bị lừa đi vượt biên. Ra tới giữa biển, cái tay lừa đảo đó đập đầu từng người quăng xuống biển chết hết. Chồng bả, con bả bị đập đầu quăng xuống biển, riêng bả vậy, đập đầu thả xuống biển bả niệm Quan Âm và bả không chìm.
[12:49]Từ ngoài biển khơi rất xa, một cái con nước rất lạ đẩy bả trôi luôn suốt vào bờ luôn và không chìm. Thì bả được cứu, sau đó bả mới tố công an. Thế là công an mới đi truy bắt cái kẻ lừa đảo đó. Cái vụ án kéo dài rất là lâu và đem ra xử hết sức là nghiêm khắc. Sau này bà có viết lại nguyên cái cuốn truyện, bà đã mất rồi, giờ thì bà già bà đã mất. Nhưng mà cái câu chuyện bà kể rồi bà lên bà gặp chúng tôi trực tiếp, bà kể lại từng chi tiết. Mà điều rất là lạ thế này: Niệm Quan Âm, rớt xuống giữa biển không chìm, một con nước đưa bà từ ngoài biển khơi đi vào trong lòng sông rồi được vớt lên luôn. Qua cái đó rồi ta mới thấy một điều
[13:32]là cái sự linh ứng của Bồ Tát Quan Âm là không thể nghĩ bàn. Và những ai đã từng theo Phật pháp đều có cái cảm nhận về sự linh ứng này. Tuy nhiên, ta sẽ đặt lại vấn đề, nói rằng theo đạo Phật là phải tin luật nhân quả. Là cái sự đau khổ hay hạnh phúc của chúng ta đều là do nhân quả chi phối. Nếu đời trước trong quá khứ ta đã gieo những nhân lành thì đời này ta được hạnh phúc, không do cầu nguyện mà được. Nếu trong quá khứ ta đã làm những điều ác độc thì bây giờ ta phải lãnh quả báo khổ đau, cũng không cầu nguyện mà có thể hết được khổ đau. Và nếu như vậy thì cái luật nhân quả với cái niềm tin về sự linh ứng
[14:24]của Bồ Tát Quan Âm giống như ngược nhau, giống như ngược nhau. Cho nên, nhiều người đã phân vân trước những điều như thế này. Nhưng mà sự thật, chân lý là chân lý, luật nhân quả là cái chân lý công bằng của vũ trụ và không thể nói khác được, không thể sai. Gieo nhân nào gặt quả đó là điều không thể sai. Và chúng ta phải vững niềm tin với nhân quả để có thể tu tập mà tăng tiến được. Chúng ta không thể mà ỷ lại cầu xin để có thể tìm thấy được hạnh phúc. Chúng ta phải dốc lòng tu tập, phải gieo những cái nhân lành, phải thương người, phải giúp đời rồi quả báo mới đến với ta được vô số điều hạnh phúc.
[15:16]Đó là điều tất yếu và chắc chắn. Vậy cái sự linh ứng của Bồ Tát Quan Âm là gì? Nhưng ở đây, ta cần hiểu rõ điều này một chút, là sự linh ứng của Bồ Tát Quan Âm không hề sai với luật nhân quả. Vì sao vậy? Vì luật nhân quả không hề cứng ngắc. Luật nhân quả rất là linh động, uyển chuyển. Ví dụ thế này, ví dụ như có một ông bố, ông có năm người con. Rồi ông cũng là một người chịu khó làm ăn, có được cái tài sản. À ông bí mật, ông giữ cái tài sản đó để đợi rằng con ông lớn lên, ông sẽ chia cho từng người và mỗi người một phần như thế này, à ví dụ một người ông để dành 10, 20 cây vàng, 20 lạng vàng, năm người là 100 lạng vàng mà
[16:09]ông ki cóp chắt chiu từ bao nhiêu năm, ông giấu im đó 20. Thì cái người con trai lớn lớn lên nhưng mà ông nghĩ rằng khi mà ông chia phải kêu hết một lần, chia đều ra. Nhưng mà lần này người con trai lớn lớn trước. Lớn trước thì à cái nói với ông thế này, nói: "Ba ơi, bây giờ là con đi học, bây giờ ra trường, cần có cái vốn làm ăn." Thì cái ổng mới hỏi là: "Con cần bao nhiêu?" Nói: "Dạ, con cần bây giờ góp vốn với bạn bè để mở một cái công ty chút, con cần năm lạng vàng." Thì ông mới ngồi ông nghĩ trong đầu ông là cái phần của cái người con này là 20 lạng mà nó xin năm lạng thì được không? Được không ạ?
[16:53]Được chứ có gì đâu. Nhưng mà thay vì là ông đợi đến một thời điểm, ông gọi hết năm người con ra, ông chia đều. Nhưng bây giờ ông linh động, nói: "Thôi, cũng là phần của nó." Thế ông lấy ông cho trước năm lạng. Thì luật nhân quả là như vậy. Là như vậy, không có cứng ngắc. Mỗi người chúng ta trong nhiều đời, chúng ta có duyên với Phật pháp, chúng ta đã tu hành, chúng ta từng lễ kính Phật, từng cúng chùa, từng bố thí, từng giúp người, phước còn nằm đó. Trong chúng ta ai cũng đều có như vậy chứ không phải là không đâu. Nhá, có bây giờ cái quả nó chưa tới lúc nó trổ ra thôi. Nhưng mà mỗi người trong chúng ta,
[17:34]cái phước quá khứ coi vậy chứ còn nằm tiềm tàng tiềm tàng để đó chưa hết đâu. Ví dụ bây giờ mình thấy mình nghèo khổ quá, có thể là ta trả một cái nghiệp nào đó, chớ cái phước của ta trong quá khứ chắc chắn nó còn nằm đâu đó. Vì sao mà gọi là chắc chắn? Vì người nào mà biết đến đây, đi chùa, biết về đây dự cái lễ hội Quan Âm thì chắc chắn trong kiếp quá khứ cũng phải có làm phước, đúng không ạ? Có nhớ không? Quên rồi. Thế nên nói hôm nay ta ngồi đây trong cái cung lễ hội này của Thượng tọa trụ trì chùa chùa Quan Âm, cái cung lễ hội này cái công trình thật là vĩ đại chưa từng có trong Phật giáo rồi nha.
[18:20]Mà thầy trụ trì xây từng bước từng bước mà ai góp vô đây một bao xi măng, một viên gạch, một cái giọt mồ hôi đều trở thành cái phước, sau này mình đều có nhà cửa đàng hoàng, tươm tất. Đó, còn người nào mà cúng nguyên cây cột đó thì kiếp sau làm đại gia nhà đất, ha. Còn người nào mà cúng miếng xi măng, miếng gạch sau này đều có nhà êm cửa ấm là ai cũng có phước ngầm ngầm. Thì cũng vậy, luật nhân quả là vậy, linh động, do đó trong cuộc đời của chúng ta không phải lúc nào mọi việc cũng đều suôn sẻ, có những lúc bất trắc, có những lúc bất trắc mà cái phước của ta thì chưa đến nên ta làm sao? Ta? Bí quá ta làm sao? Ta?
[19:06]Ta cầu nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát. Và Ngài ra tay cứu độ ta liền. Ngài ra tay cứu độ vì Ngài biết một điều. Biết một điều sao? Cái người này là người biết đạo, cái người mà đang cầu khẩn này là người tin đạo, cái người này là người biết tin nhân quả, nghiệp báo. Cho nên, cứ cứu. Nếu đang thiếu phước thì cho mắc nợ. Và cái người này chắc chắn sau này sẽ làm những việc phước mà bù lại. Cái nhân quả linh động như vậy, giống như là ta nghèo, ta đến cái người nhà giàu cho ta mượn tiền, mai mốt ta trả lại. Đó là sự công bằng. Thì Bồ Tát cứu giúp ta là Ngài cho ta mượn cái phước để ta qua cơn ách nạn, sau đó ta sẽ làm phước mà bù lại.
[19:55]Cho nên, có những người làm phước là quả báo lành nó tới liền, thấy liền. Có những người làm phước mà quả báo lành hổng tới, vì sao vậy? Vì trước đây hay cầu Bồ Tát Quan Âm quá, đụng chuyện gì cũng cầu và được Ngài ban cho những điều phước lành thì coi như mắc nợ. Bây giờ có đi cúng chùa thì phước đã bù lại nha, có đi phóng sanh, có đi đắp đường thì không có gì xảy ra hết, không quả báo lành nào xảy ra hết, vì sao? Vì trước đây mình đã cầu Ngài quá nhiều. Ví dụ nói: "Thưa thầy, con cũng phóng sanh dữ lắm mà sao không thấy may mắn?" Thì chúng tôi mới hỏi: "Vậy trước đây có lần nào bệnh nặng không?" Nói:
[20:38]"Dạ, có một lần con bệnh muốn thập tử nhất sanh." "Lúc đó có cầu nguyện Bồ Tát không?" Nói: "Dạ có, con nhờ cầu nguyện Ngài cho nên con qua được cái cơn bệnh thập tử nhất sanh." Nói: "Thì đúng rồi, Ngài cứu mình trước, bây giờ mình có phóng sanh là bù lại cái phước lúc đó chứ đừng có đòi, đừng đòi quả báo." Nên đây là luật nhân quả, do đó cái việc mà cầu Bồ Tát được linh ứng hoàn toàn phù hợp với luật nhân quả, nghiệp báo. Nên vì vậy, Phật tử của chúng ta bất đắc dĩ thì mới mới cầu,
[21:15]Lòng kính tin với Bồ Tát là vô biên, không bao giờ cạn, nhưng mà sự cầu nguyện thì bất đắc dĩ mới cầu. Mà còn cái gì thì thường xuyên thì phải tu tập, phải làm? Đó là phước nha. Những việc phước lành thì thường xuyên phải gây tạo, công đức thường xuyên phải bồi bồi đắp, nhưng mà cầu xin Bồ Tát thì ít ít thôi, lâu lâu thôi, khi nào bí quá thì cầu. Nhưng mà nhớ một điều là Ngài chỉ ban cho những điều trong Chánh pháp, chứ Ngài không có ban cho những điều trong trong vô minh, trong tà pháp. Cũng như có một cái cô gái nó vậy, cô yêu một anh chàng, cô yêu một anh chàng đó, rồi anh chàng đó anh lặng lẽ anh đi tu.
[22:06]Cô này thì cổ cũng là gia đình Phật tử, cổ thường à cầu nguyện Bồ Tát và cổ có một điều tự hào, cổ xin cái gì Bồ Tát cũng cho cái đó, là muốn cái gì xin đều được như ý. Và cô thấy như vậy cái cổ mới ngày đêm cổ cầu Bồ Tát là xin cho cái người mà con yêu đó quay về với con, quay về với con. Và cổ cầu xin cái điều đó trong 20 năm, 20 năm. Kết quả sao ạ? Kết quả làm sao? Ai biết? Kết quả là cái người kia càng lúc càng tu tinh tấn.
[22:52]Vì Bồ Tát không bao giờ mà thỏa mãn cái điều cầu nguyện sai như vậy. Người ta đi xuất gia là việc cao quý trên đời thì không bao giờ mà có chuyện có người vì cái tình yêu nhỏ hẹp mà xin Bồ Tát kéo người kia để quay về với mình được, không bao giờ có chuyện đó. Cho nên cái cô gái đó mới than, gặp với quý thầy mới than: "Trong đời con, con cầu nguyện Bồ Tát Quan Âm bất cứ chuyện gì cũng thành, chỉ có một điều con cầu người yêu con, cái người con yêu quay lại với con mà không bao giờ được." Nói: "Vậy cái người đó đi đâu?" Nói: "Người đó đi tu." Nói: "Thôi đúng rồi, làm sao mà được. Nó càng cầu thì ông kia ổng càng tu tốt, ông kia ổng càng tu tinh tấn" vậy đó.
[23:33]Bồ Tát Quan Thế Âm á có một cái hạnh nguyện nổi tiếng là thường thường á ta cứ nhớ là Bồ Tát là ta cầu gì được nấy. Nhưng mà trong tất cả những lời cầu xin của Bồ Tát, cái này quan trọng nhất là vô úy thí, tức là Ngài ban cho điều không sợ hãi. Đó là danh từ ngày xưa. Bây danh từ bây giờ ta phải hiểu thế này: Đó là Bồ Tát Quan Âm chuyên có cái hạnh nguyện cứu người trong cơn nguy cấp, trong lúc người ta sợ hãi tột độ, trong lúc cái nạn tai đến trước mắt mà thấy không còn con đường nào thoát nữa mà niệm danh hiệu Bồ Tát, thoát liền. Đó là cái đặc biệt của Ngài. Thì ở đây ta nghe thì ta cứ nghĩ rằng là:
[24:17]"Thì Bồ Tát nào cũng vậy, các vị A La Hán, các vị thần, thánh thì đều khả năng như vậy." Nó không đơn giản đâu, không đơn giản đâu. Không phải ai cũng có đủ cái hạnh nguyện mà cứu người trong cơn nguy cấp. Tại vì sao vậy? Vì thường khi mà ta bị đối diện với cái nạn tai, tai nạn hiểm nghèo là đó là định nghiệp. Đó là định nghiệp, thường là như vậy. Ví dụ ví dụ như bây giờ là ta ở trong cái ngôi nhà bị lửa cháy, cháy phừng hết quanh thì như vậy thường cái định nghiệp đó là ta phải chết cháy. Lúc đó ta niệm Quan Âm một cái bỗng nhiên nó một mé lửa tắt, ta có một con đường chạy thoát ra. Đó là cái lực, thần lực của Bồ Tát Quan Âm làm tắt lửa để ta thoát đi.
[25:04]Mà tại sao là trong cơn nguy cấp thường là định nghiệp mới đưa ta vào cái chỗ đó, mà nhớ định nghiệp là không thoát được. Nhớ Phật có ba điều không làm được nha: Thứ nhất là gì? Số lượng chúng sinh trong vũ trụ, Phật không biết hết nổi, tổng quát, từ con trùng, con ốc, con kiến, con đồ là đầy hết vũ trụ này, Phật không đếm hết nổi, cái thứ nhất, một cái không thể. Cái thứ hai là người không có duyên với Phật, Phật cũng không độ được luôn. Nhiều khi cái người đó có duyên với La Hầu La để La Hầu La độ, nhiều khi người đó có duyên với Mục Kiền Liên để Mục Kiền Liên độ, nhưng người nào có duyên với Phật, Phật mới đến trực tiếp để độ,
[25:53]nên chúng sinh không có duyên, Phật cũng không độ được, đó là cái bất năng thứ hai. Và cái bất năng thứ ba của Phật là thế này: Định nghiệp chúng sinh, Phật không thể cứu. Tức là tới định nghiệp rồi, người đó phải trả. Ta trong quá khứ ta đã làm nhiều cái nghiệp mà có những nghiệp mà nó nặng để gọi là định nghiệp thì đời này làm gì làm cũng phải trả, cũng phải trả không trốn được. Giống như cái dòng họ Thích Ca mà tới lúc bị vua Lưu Ly diệt là phải chịu diệt, chứ Phật không cứu được. Nhưng mà ở đây, với cái nguyện mà vô úy thí của Bồ Tát Quan Âm là chúng sinh bị đối diện với định nghiệp trong cơn nguy cấp, vậy mà Ngài vẫn cứu được.
[26:43]Đây là điều hết sức lạ lùng, một điều phi thường chứ không phải đơn giản. Thậm chí ví dụ đi máy bay mà nghe tin máy bay trục trặc, niệm Quan Âm, máy bay đáp xuống an toàn. Có một lần vậy, chúng tôi gặp một cái sư cô à sư cô mới kể chuyện lại rằng là sư cô với một người huynh đệ đi trên chuyến máy bay từ Huế à từ Huế đi vào vào Sài Gòn, vừa cất cánh lên một cái cái bắt đầu cô thấy máy bay rầm rần, lắc lắc liền. Cổ nhìn ra cái cánh máy bay, thấy bốc khói. Cổ lật đật cổ niệm Bồ Tát Quan Âm. Máy bay đảo vòng, đảo vòng lại rồi đáp xuống trở lại phi trường. Nhưng phi công họ không thông báo cho hành khách vì sợ hành khách hoảng loạn.
[27:29]Khi mà máy bay đáp xuống, đi xuống hết máy bay rồi, cô mới gặp cái người phi công cô hỏi chuyện thật sự là cái gì. Người phi công mới nói rằng là: "Cánh máy bay này bị hư,
[27:42]lửa cháy mà không hiểu tại sao không bốc cháy và đáp xuống an toàn. Chớ theo như kinh nghiệm của ông biết là với cái tai nạn như vậy, máy bay phải rớt mà ổng không hiểu chuyện gì tại sao nó không cháy, an toàn đáp xuống." Cái chuyện này là trước giải phóng, trước giải phóng. Nên là cô rất tin Bồ Tát Quan Âm. Mà ta thấy, trước định nghiệp, cô niệm một cái cứu được cả cái đoàn tàu đoàn người trong cái chiếc máy bay đó luôn. Nên sức mạnh, cái uy lực của Bồ Tát Quan Âm lớn đến như vậy. Nên cái việc mà vô úy thí cứu người trong cơn nguy cấp có nghĩa là cứu người trước định nghiệp là một điều cực kỳ phi thường,
[28:23]là một thần lực vĩ đại, vô lượng, vô biên chứ không phải là chuyện thường thường. Ta nói ví dụ thế này, ví dụ thế này: Có một người chạy vào nhà ta nói: "Bác ơi bác ơi, con đói quá, bác cho con con ít tiền con mua đồ con ăn." Thì ta nhìn thấy người đó xanh xao gầy guộc ta tin phải không? Ta nói tha lấy: "À thôi bác cho con 100.000đ, con ra con ăn cho đỡ đói." Dễ làm không? Dễ làm không? Dễ vô cùng. Móc cái tiền ra mình cho, giúp người ta cơn đói. Hoặc có người hoặc có người đến than, nói: "Bây giờ đóng tiền học cho đứa con mà bây giờ chồng em lãnh lương chưa kịp, chị cho em mượn ít tiền đóng tiền học cho thằng con rồi ba bữa
[29:09]sau chồng em lãnh lương em trả lại." Mình cho mượn không? Dễ không? Dễ vô cùng, phải không? Giúp nhau trong những điều như vậy dễ vô cùng. Hoặc là có người cái người nông dân nay cất cái nhà, chạy qua mấy nhà hàng xóm, nói: "Mai tôi dựng nhà, cần nhiều cái công để dựng những cái cột nặng thì mai anh qua phụ tôi, cho cháu qua phụ tôi." Mình qua giúp được không? Giúp được dễ dàng. Nhưng nhưng ví dụ một cái người mà chạy trên cái cầu, tông vào cái thành cầu rơi xuống sông, lúc đó mình giúp được không? Mình có thấy giúp được không? Không giúp được, định nghiệp rồi. Tới cái mức độ nguy cấp đó là định nghiệp rồi,
[29:53]ta đành đưa mắt nhìn, không thể làm gì khác hơn được. Hoặc bây giờ ta đi một đoạn đường ta gặp thấy người quen nó bị bao vây bởi năm, sáu tên cướp cầm dao, cầm rựa, lúc đó mình kêu công an cũng không kịp mà mình có đủ sức chạy lại can không? Cũng không đủ sức chạy lại can. Cho nên ta thấy trong cơn nguy cấp, khi đối diện với định nghiệp ta không xử lý nổi, không giúp nhau được. Không giúp nhau được. Cho nên ta biết rằng cái hạnh nguyện của Bồ Tát Quan Thế Âm mà vô úy thí cứu người trong cơn nguy cấp có nghĩa là cứu người khi đối diện với định nghiệp là một điều hết sức phi thường, không phải đơn giản chút nào đâu.
[30:34]Đó, nhưng mà để có thể mà đạt được đến cái thần lực như vậy thì Bồ Tát Quan Âm là ai?
[30:45]Bồ Tát Quan Âm là ai mà có thể có thần lực phi thường như vậy, cứu người trong cơn nguy cấp, cứu người trong cái đối diện với định nghiệp? Bồ Tát Quan Âm là ai? Nhớ nha, Bồ Tát Quan Âm là nhân vật không có thật trong lịch sử.
[31:05]Ngài không hề sinh ra giữa địa cầu này. Ngài chưa hề sinh ra làm thân người trên trái đất này, chưa bao giờ. Ngài chỉ xuất hiện trong kinh điển Đại Thừa, kinh điển Nguyên Thủy cũng không có luôn. Chính vì vậy, những nhà sư trong những hệ phái của Nguyên Thủy Phật giáo, họ không tin Bồ Tát Quan Âm. Nếu quý Phật tử đi gặp các nhà sư Nam Tông Nguyên Thủy mà nếu nói về Bồ Tát Quan Âm, các vị đó cười nhạt, có vẻ không tin thì quý Phật tử đừng ngạc nhiên. Đừng ngạc nhiên, bởi vì họ không tin, vì trong kinh điển Nguyên Thủy không hề nói tới Bồ Tát Quan Thế Âm. Ta đừng ngạc nhiên điều đó. Nhưng Ngài ở đâu xuất hiện trong kinh Đại Thừa mà sự linh ứng là phi thường như vậy?
[32:01]Nên ở đây ta có ba cái nguồn gốc về Bồ Tát Quan Âm. Cái nguồn gốc thứ nhất là Ngài xuất hiện trong các kinh điển Đại Thừa rất sớm, sau Phật khoảng 500 năm là có những bản kinh nói về Bồ Tát Quan Âm, mà có hai bản kinh nổi tiếng, một là kinh Pháp Hoa, nguyên cái phẩm Phổ Môn để nói về hạnh nguyện Bồ Tát Quan Âm không mà thôi, và ta thường trì tụng và rất linh ứng. Cái bản kinh thứ hai là kinh Lăng Nghiêm, nói về cái phương pháp tu thiền của Bồ Tát Quan Âm đưa đến đắc quả là Nhĩ Căn Viên Thông. Hai bộ kinh đó nói về Bồ Tát Quan Âm rất rõ, rất nhiều, gây cái tín ngưỡng. Còn bàng bạc trong nhiều kinh Đại Thừa khác cũng
[32:50]nói đến Bồ Tát Quan Âm, nhưng mà không rõ bằng. Đó là cái nguồn gốc trong kinh Đại Thừa. Còn cái nguồn gốc nữa, đây là nguồn gốc mà chúng riêng chúng tôi cảm nhận, riêng chúng tôi cảm nhận, chúng tôi nói điều này có lẽ nhiều người cũng không tin. Kính thưa chư tôn đức, kính thưa quý Phật tử, thời gian này thì chúng tôi đang viết à cái bộ truyện tranh nói về cuộc đời của Đức Phật, có cái tựa là Đỉnh Núi Tuyết. Chúng tôi viết kịch bản, rồi đưa cho người họa sĩ họ vẽ, rồi đưa cho các đệ tử mình sắp xếp tranh, à sắp xếp lời, dịch tiếng Anh, vân vân, mọi thứ như vậy. Nhưng khi viết cái truyện tranh đó
[33:38]thì có những lúc bí, những lúc bế tắc vì cái sử liệu để lại ít quá. Sử liệu về cuộc đời Đức Phật để lại ít và gián đoạn. Ta không thể xâu chuỗi thành một cái chuỗi liên tục, liên tục từ nhỏ cho đến lớn đi qua các giai đoạn được, có nhiều khúc bị ngắt ngang không biết như thế nào. Những lúc đó là chúng tôi thật sự ngồi cầm viết hoặc là ngồi gõ trên vi tính mà không biết viết tiếp như thế nào. Bỗng nhiên, trong những lúc bế tắc đó, bỗng nhiên nhận được một cái thần lực từ trên cõi cao đưa xuống tâm mình, đưa xuống cái thông tin cho biết về cuộc đời của Đức Phật. Nhiều cái chi tiết mới chưa từng có trong lịch sử,
[34:25]chúng tôi vui mừng, xúc động và viết tiếp. Trên cái truyện mà Đỉnh Núi Tuyết viết về cái chuyện cuộc đời Đức Phật á, có nhiều điều chưa từng có ở những cái sách sử liệu trước đó. Mà khi viết cái bộ này á, chúng tôi mới hết sức mà tôn kính một nhân vật mà thường hay bị quên lãng, đó là Da Du Đà La. Da Du Đà La với danh nghĩa là vợ của Thái tử, phải không ạ? Sau này thì xuất gia theo Phật, là một Tỳ-kheo-ni, chứng A-la-hán, hết. Chuyện ghi như vậy, xong hết. Nhưng mà khi chúng tôi nhận được cái thông tin từ ở trên cõi trời xuống, từ trên cõi thánh xuống, mới phát hiện ra một điều: Da Du Đà La không phải là con người đơn giản như vậy.
[35:18]Mà Da Du Đà La là một người dõi theo bước chân của Thái tử khi Thái tử đi xuất gia, dõi theo, bảo vệ và nuôi nấng Thái tử cho tới khi Ngài đắc đạo thành Phật. Và sau này, khi mà Ngài bắt đầu mở mang Tăng đoàn giáo hóa thì Da Du Đà La là một người luôn luôn điều động lực lượng bí mật để hỗ trợ và phát triển. Và ngay nơi cái cái vườn gọi là vườn Kỳ Viên á, trong sử ghi là ông Cấp Cô Độc mua lại của Thái tử Kỳ Đà để cúng cho Phật, thực sự không phải như vậy. Thực sự tất cả những điều đó đều là sự sắp xếp của Da Du Đà La cả. Cho nên khi gặp quý thầy, chúng tôi mới nói câu này: Bây giờ tôi hỏi quý thầy cái vườn Kỳ Viên là
[36:07]mua lại của Thái tử Kỳ Đà, phải không ạ? Các thầy nói: Đúng, tên là Jeta, Jetavana là Kỳ Viên, cái vườn của Thái tử Kỳ Đà. Mà Thái tử là con của vua, vua gì? Vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc là một Phật tử thuần thành của Đức Phật, một đệ tử cư sĩ thuần thành của Đức Phật, mà con trưởng của vua Ba Tư Nặc là Thái tử Kỳ Đà vĩnh viễn không bao giờ được nghe nhắc tới trong kinh điển nữa. Chỉ xuất hiện một lần lúc ổng bán khu vườn và cho tới mãi mãi về sau không còn nghe ai nhắc tới. Tôi hỏi: Đố quý thầy tại sao? Tại vì sao? Tại vì ổng bị ép bán khu vườn đó, bởi cái sự sắp xếp của Da Du Đà La. Khi viết chuyện đó, chúng tôi càng cảm xúc,
[36:54]tôn kính bà tột cùng, và trong lòng chúng tôi, bà chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Công đức của bà là phi thường đối với cuộc đời giáo hóa của Đức Phật. Từ lúc mà Đức Phật đi xuất gia, tới khi Đức Phật thành đạo, tới khi mà mở mang Tăng đoàn giáo hóa, đằng sau lưng đều có cái sự
[37:21]trợ sức bí mật của bà, một người phụ nữ phi thường, vĩ đại. Khi viết kịch bản lúc đó chúng tôi thật sự mới thấy à nào giờ mình cứ tưởng Bồ Tát Quan Thế Âm là ai, thật sự chính là bà Da Du Đà La này đây, chính là cái con người phi thường này đây. Một bậc A-la-hán phi thường mà đủ sức để can thiệp vào mọi điều, tạo nên một cuộc đời hoằng hóa vĩ đại của Đức Phật, không phải đơn giản đâu. Điều này không có sử liệu nào nói, mà khi chúng tôi viết mới nhận được, mới hiểu điều đó. Cho nên đối với chúng tôi thì Bồ Tát Quán Thế Âm ngoài cái nguồn gốc trong kinh điển Đại Thừa, còn có một nguồn gốc nữa từ Nguyên Thủy, đó chính là nữ A-la-hán Da Du Đà La.
[38:15]Tuy nhiên, với tinh thần của Phật thừa, với tinh thần của Đại thừa Bồ Tát thì một vị Bồ Tát không còn là chính mình nữa. Không có một vị Bồ Tát nào là chính mình nữa, mà Bồ Tát là ai? Bồ Tát là là tất cả. Bồ Tát là tất cả chúng sinh, Bồ Tát là tất cả chư Phật. Nên Bồ Tát không còn có chấp danh là Bồ Tát, Bồ Tát không còn là chính mình nữa. Cho nên khi ta niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì ta đừng nghĩ rằng ta niệm một cá nhân, một cá nhân của một vị thánh nào, không phải, mà ta vừa động đến mười phương chư Phật. Ta hãy hiểu thế này, đây là cái hiểu Bồ Tát bằng trí tuệ, nhớ như vậy. Có khi ta hiểu Bồ Tát Quan Thế Âm bằng cảm tính hay cảm tình,
[39:19]như chúng tôi hiểu Bồ Tát Quan Thế Âm chính là bà Da Du Đà La thì chúng tôi cũng vừa hiểu bằng cái cảm tính, bằng cái cảm tình, chưa thấu được cái ý tột cùng của Quan Âm Bồ Tát. Hoặc có những người thờ Bồ Tát Quan Âm ở tại nhà, đi đâu cái lại chắp tay nói: Thưa Mẹ, con đi đi mua hàng; trong lát đi về nói: Thưa Mẹ, con mới đi làm về; tức là xem Bồ Tát như là một người mẹ trong nhà mình, thì hiểu về Bồ Tát như vậy cũng là hiểu bằng cái gì? Hiểu bằng cảm tình, hiểu bằng cảm tính, không phải hiểu bằng trí tuệ. Chúng tôi cũng bị hiểu bằng cảm tính, cảm tình khi mà thấy cái hạnh vĩ đại của bà Da Du Đà La.
[40:05]Có nhiều người thì không cảm tính như vậy mà xem bà như người mẹ, mẹ của riêng mình, cũng là cảm tính, cảm tình. Ở đây chúng ta cần hiểu Bồ Tát Quan Âm bằng trí tuệ. Mỗi một khi ta quỳ xuống lạy Ngài là ta động đến mười phương chư Phật. Hay nghĩa là sao? Xin thưa, Bồ Tát Quan Thế Âm không phải chỉ là Bồ Tát Quan Thế Âm, mà Bồ Tát Quan Thế Âm chính là cái từ bi diệu dụng của mười phương chư Phật. Ta nhớ như vậy. Chớ không phải chỉ là một con người, một cá nhân, một vị thánh riêng lẻ, mà Bồ Tát Quan Âm chính là diệu dụng từ bi của mười phương chư Phật. Cũng giống như khi ta lạy Bồ Tát Văn Thù thì ta đừng nghĩ rằng ta lạy riêng một mình
[40:57]Bồ Tát Văn Thù, mà phải hiểu là ta lạy ai? Ta lạy cái trí tuệ diệu dụng của của mười phương chư Phật, hãy nhớ như vậy nha. Do đó, đây là cái hiểu bằng trí tuệ, mà hiểu như vậy ta mới gieo được cái nhân đắc đạo trong lòng mình. Còn nếu ta hiểu Bồ Tát bằng cái cảm tính hay cảm tình thì ta có duyên với Phật đó nhưng ta rất khó chứng được đạo quả. Vì ta hiểu nhầm, ta hiểu nhỏ, nên ta không đủ phước để chứng được đạo quả. Còn nếu ta hiểu Bồ Tát bằng trí tuệ là ta niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát là ta đụng đến cái diệu dụng từ bi của mười phương chư Phật. Và chính vì đây là diệu dụng từ bi của mười phương chư Phật,
[41:53]cho nên tai nạn của ta, cái định nghiệp của ta đáng lẽ phải trả mà ta được cứu qua liền một cách phi thường, mầu nhiệm vì đây là gì? Đây là diệu dụng từ bi của mười phương chư Phật, nhớ như vậy ha. Nên ở đây
[42:16]Tất cả các tôn giáo trên thế giới đều thích phép lạ, đạo nào cũng thích có cái gì phép lạ để trưng bày. À và ta tôn trọng cả. Hoặc là có những cái tôn giáo nào đều nói những điều mầu nhiệm gì thôi ta tôn trọng. Vì sao vậy? Vì bản chất của tôn giáo là thích đi tìm cái phép lạ. Và chính ta cũng vậy. Trong đạo Phật, phép lạ là vô biên. Phải không? Sự mầu nhiệm là không thể kể hết được. Vì sao vậy? Vì một vị mà chứng A-la-hán là có sáu phép thần thông, có thể bay lên trời cao, tuột xuống đất sâu, một thân hóa thành ngàn thân, vân vân, vô lượng. Nên phép lạ trong đạo Phật là không thể tính kể. Nhưng cái người mà không hiểu, không có trí tuệ
[43:17]mà yêu thích quyền năng phép lạ lại rất dễ rơi vào mê tín. Và đã rơi vào mê tín rồi, rất dễ bị lừa gạt. Do đó, các vị tông sư đều dặn dò ta rằng khi ta đến với Phật pháp tu hành, bỏ qua phép lạ, đừng quan tâm đến những điều kỳ bí lạ lùng. Vì nếu quan tâm đến những điều đó, ta rất dễ rơi vào mê tín. Cho nên một mặt trong lòng ta khát khao cái thần thông, cái sự mầu nhiệm, nhưng một mặt thầy ta dặn dò ta, răn nhắc ta đừng quan tâm tới những điều mầu nhiệm vì sẽ rơi vào mê tín. Nên do đó, sự linh ứng của Bồ Tát Quán Âm là một phép lạ chứ không phải là chỉ đi trên con đường luân hồi vô tận này trong cô độc,
[44:15]trong khổ đau, vì ta biết ta luôn luôn có ánh sáng từ bi của Ngài che chở. Tuy nhiên, theo luật nhân quả, cái gì cũng phải có cái giá phải trả xứng đáng. Để chúng ta xứng đáng được với lòng thương yêu của Bồ Tát thì ta phải làm sao? Ta phải làm sao? Ta lạy Ngài, phải không? Ta cầu xin Ngài, ta niệm danh hiệu Ngài hằng ngày, đúng không ạ? Phải không?
[44:57]Bằng cái lòng từ bi, Ngài chở che ta, Ngài an ủi ta, nhưng mà điều Ngài mong mỏi ta là gì? Là tu hành, diệt trừ lầm lỗi, si mê, tham lam, thù hận, đó mới là cái điều mà Ngài mong mỏi nơi ta. Đó là điều mà mười phương chư Phật mong mỏi nơi ta. Và ai có thể đi trên con đường tu tập đó là những đứa con cưng của mười phương Phật, đó là con cưng của Bồ Tát Quán Âm. Và những người như vậy, cầu nguyện điều gì linh ứng điều đó.
[45:38]Người nào thầy nhắc lại, đi trên con đường tu tập để diệt trừ bản ngã, diệt trừ ích kỷ, tham sân, người đó là con cưng của Bồ Tát Quán Âm. Và người đó cầu gì được nấy. Còn người nào mà không biết tu hành mà đợi khi có việc cần thì cầu xin thì cầu xin được năm lần tối đa. Tới lần thứ sáu không linh ứng nữa. Tới lần thứ sáu là một sự quở trách. Ví dụ như có người lo làm ăn, làm ăn tới chiều lại rồi mà bán hàng còn ế, cái lật đật đứng ra thắp nhang giữa trời: Nam Mô Quán Âm Bồ Tát, Nam Mô Quán Âm Bồ Tát, Nam Mô Quán Âm Bồ Tát, giúp giùm con bán cho hết hàng, chứ hôm nay ế về chồng con đánh con. Vừa quay qua quay lại có người tới mua sạch hết hàng liền, nói:
[46:32]Bồ Tát linh quá. Đâu tuần sau cái tới chiều rồi hàng còn nhiều quá, lật đật cầm nhang: Bồ Tát Quán Âm, Bồ Tát Quán Âm, Bồ Tát Quán Âm. Thì được năm lần. Năm lần, tới lần thứ sáu cũng ra thắp nhang: Nam Mô Bồ Tát Quán Âm, vẫn không bán được hàng. Thì như vậy có phải là Bồ Tát Quán Âm hết thương mình không? Phải không? Phải là Bồ Tát Quán Âm hết linh không? Không. Tới lần thứ sáu Ngài không cho bán hết hàng, Ngài để cho nguyên hàng cho về ông chồng đánh cho một trận. Mà có phải ông chồng đánh không? Ai đánh? Lúc đó là Bồ Tát đánh, mượn tay ông chồng đánh. Mọi lần thấy ổng la ổng cũng thô lỗ, nhưng mà lần này ổng nói một câu rất là kỳ lạ.
[47:21]Ổng nói câu này: Ổng nói: Bà làm cái gì mà bán tới giờ này mới về? Nói: Tại bán không hết hàng nên phải ráng ở lại lâu. Nói: Tới bữa nay là tôi nghe nói chùa ở bên sám hối mà sao bà không về sớm để mà đi chùa? Bà này bả ngỡ ngàng nhìn ông chồng lạ lùng, nói: Ủa, nay ông chồng la gì kỳ vậy? Nào giờ ổng chỉ nhắc tới rượu mà sao bữa nay ổng nhắc tới chùa? Thì như vậy là ai nhắc? Bồ Tát Quán Âm nhắc. Tức là bà cứ vay mà không chịu trả. Lẽ ra những lần trước bà cầu nguyện linh, bà phải vô chùa bà sám hối, phải tu tập nha, phải làm phước giúp người. Hễ có Bồ Tát Quán Âm rồi không thèm làm gì nữa, cứ nghĩ cứ bán ế là cầu nguyện Bồ Tát,
[48:07]được năm lần, lần thứ sáu không được, đó là lời quở trách. Và lần thứ sáu này bỗng nhiên bà tỉnh ra, bà hiểu rằng là là bà chịu ơn Bồ Tát cứu độ những chuyện lặt vặt trong đời sống nhưng bà đã không tu tập, nên bà biết từ đây thế là bà ráng đi chùa sám hối, rồi ai cần gì bà giúp được bà ráng bà giúp. Bỗng nhiên sau đó bà cầu nguyện Bồ Tát linh ứng trở lại liền, nhớ như vậy. Cho nên là khi ta hiểu cái sự mầu nhiệm của Bồ Tát, cái phép lạ của Bồ Tát, xin thưa nó bắt đầu bằng cái sự tu tập của chính chúng ta, chứ chúng ta không được ỷ lại mà cứ cầu xin mãi thì không còn linh ứng nữa, nhớ như vậy nha. Như vậy.
[48:52]Và thêm một điều thế này:
[48:56]Khi nào mà tâm ta giống tâm của Bồ Tát thì sao? Thì ta cầu nguyện điều gì, sự linh ứng đến lúc đó. Thế nào là tâm ta giống tâm Bồ Tát? Thế nào?
[49:17]Khi nào trong cuộc đời này, ta có cái tâm hào hiệp, dám cứu giúp người lúc người ta nguy nan thì đó chính là tâm ta giống với tâm Bồ Tát.
[49:33]Ông bà mình nói câu rằng: Dẫu xây chín đợt phù đồ, chẳng bằng làm phúc cứu cho một người. Đó, nói là xây chín cái cảnh chùa không có bằng thấy người ta trong cơn nguy cấp mà ta cứu giúp, là ông các vị tôn túc hòa thượng ngày xưa dặn dò ta như vậy. Mà cái người mà thấy người khác trong cơn nguy nan mà cứu giúp, người đó tâm người đó giống với tâm Bồ Tát. Tâm người đó giống tâm Bồ Tát, mà người đó tâm mà giống tâm thì ta là gì của Bồ Tát? Ta là con cưng của Bồ Tát. Mà đã là con cưng thì xin gì thì được nấy. Đúng không ạ? Nói như vậy. Chứ còn thế nào là con ghẻ của Bồ Tát? Con ghẻ của Bồ Tát là cứ đi lạy Bồ Tát xin đủ thứ,
[50:26]nhưng mà khi người khác trong cuộc đời này cần mình giúp thì mình lại sao? Mình quay lưng. Thì người đó cũng là con, mà là con ghẻ.
[50:36]Thì ở đây ta là con cưng hay con ghẻ? Nói thiệt lòng coi, ở đây ta là con cưng hay con ghẻ? Xét lại đời mình coi.
[50:47]Sao thầy nghi ghẻ hơi bự nhiều à ta? Sao thầy nghi ghẻ hơi có bộ hơi bị nhiều đó nha. Tức là xin rất nhiều mà cho không bao nhiêu. Ai nhờ tới mình, thấy người ta đi tới gần mình, mình dòm cái mặt bí xị, biết người này tới mượn tiền cái lật đật đóng cửa lại, nói: "Mẹ đi vắng à con", chạy tuốt lên lầu nằm luôn trển. Thấy mặt người ta bí xị, còn cái người mà có tâm của Bồ Tát thấy mặt người ta bí xị là chạy ra hỏi liền: "Hôm nay chị có chuyện gì phải không ạ? Có chuyện gì?" Mấy nhớ. Cho nên ở đây là ta sống với tâm giống như tâm Bồ Tát, ta gọi là tâm hào hiệp. Ta không đủ thần lực để cứu độ chúng sinh như Bồ Tát,
[51:30]ta không đủ đến cái mức độ gọi là vô úy thí là giúp người được trong cơn nguy nan, ta không đủ sức. Nhưng ta phải được một phần, đó là cái tâm hào hiệp, sẵn sàng giúp người trong cơn nguy cấp. Mà giúp người trong cơn nguy cấp thì các chư vị tôn túc đã nói rằng chẳng bằng làm phúc cứu cho một người là như vậy, phước lớn lắm, lúc đó mới là mới là khó giúp. Và đây mới là phép lạ. Ta mãi đi tìm những phép lạ ở trên trời cao, ở trong hang sâu, trong cái miếu lạ, đâu biết rằng phép lạ có từng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Phép lạ là gì? Phép lạ là khi ai xin thì ta cho, ai cần thì ta giúp. Đó là phép lạ.
[52:28]Chớ ta đừng nghĩ phép lạ là cái gì đứng úm ba la úm ba la cái nó hiện ra, không phải. Không phải là cái niệm chú mà nó hiện ra, mà chính là lòng ta đang lặng yên thế này bỗng khởi lên được tâm yêu thương với con người. Trong cuộc sống đang bình yên thế này bỗng ta lấy ra được một cái phần tài sản của mình để giúp đời, để cứu người. Đó là phép lạ. Phép lạ là gì? Là cái điều tưởng như không mà bỗng biến thành có. Đó là phép lạ. Phép lạ là cái gì? Là cái gì tưởng là có mà bỗng biến thành không. Là gì? Là có người nào đó ghét ta, nói xấu ta thì cái điều thường tình là ta phải làm sao? Ta phải ghét lại phải không ạ? Mắng lại, nói xấu lại. Nhưng phép lạ là gì?
[53:22]Điều tưởng là có biến thành không. Ta không ghét lại, ta không nói nặng, ta không nói xấu lại, coi như không. Đó chính là phép lạ. Đó là phép lạ của cuộc sống này. Chớ ta đừng mải cứ đi tìm cái phép lạ trên trời cao, trong núi sâu mà phép lạ là khi tâm ta làm một điều, làm được một điều mà tưởng chừng như không làm được. Là ta nhẫn nhục được cái điều oan trái, ta tha thứ được một điều xúc phạm, ta giúp đỡ được người trong cơn nguy khốn. Đó chính là gì? Chính là phép lạ. Nhớ như vậy nhé. Mà chính cái phép lạ bình thường trong cuộc sống đó, sau này sẽ biến thành những cái phép lạ phi thường, phi thường. Là sao?
[54:13]Ta tích lũy nhiều cái phép lạ nho nhỏ, nho nhỏ trong cuộc sống sau này trở thành một cái phép lạ phi thường. Phép lạ phi thường là sao? Phép lạ phi thường là sao? Ví dụ như người thân mình bệnh thập tử nhất sinh, thấy cái chết trước mắt rồi mà lúc đó mình thắp nhang cầu Bồ Tát nói: "Con không nỡ nhìn bố con, mẹ con qua đời vào lúc này. Chưa phải lúc. Vì có thể còn sống được. Xin Bồ Tát hãy thương con mà cứu giúp cho con gặp được thầy được thuốc cứu bố mẹ con." Thì bỗng nhiên, bỗng nhiên không bao lâu có người tới mách nước, chỉ được cái phương thuốc liền. Ba mẹ ta thoát qua cơn bệnh lạ lùng, tưởng như là đã bó tay thì cái phép lạ đó
[55:10]nó bắt nguồn từ những phép lạ mà ta đã ban ra trong cuộc sống này. Tức là với người cần ta giúp, ta đã ân cần giúp đỡ. Đối với người cần ta yêu thương, ta đã yêu thương hết mực. Đối với những người mà chống cái ta, ta đã tha thứ, đã nhẫn nhục. Ta đã làm nhiều cái phép lạ rồi. Ta đã là một Quan Âm nho nhỏ rồi thì đến khi có cần thì ta gặp được phép mầu của Bồ Tát Quan Âm phi thường kỳ lạ sẽ xuất hiện đến với cuộc đời ta. Cho nên nhớ như vậy. Để có thể chứng kiến được cái phép lạ phi thường của Bồ Tát Quan Âm, ta phải làm nên những phép lạ trong cuộc sống bình thường của mình hằng ngày. Làm được không ạ?
[56:03]Làm được không? Nhẫn nhục được không? Khi người ta nói xấu mình, mình bình an được không? Sao tôi nghi quá à? Thấy không? Lòng phải bình lặng coi như không có gì nha. Rồi khi thấy người ta mưu hại, biết rõ không ghét, không thù, đó là phép lạ và phải làm cho được những phép lạ như thế này trong cuộc sống của mình. Rồi có những lúc ví dụ như ta chỉ còn có đủ tiền để mua một cái bánh mì ăn buổi sáng nay rồi đi làm. Vừa mua được bánh mì bước ra, gặp một người mà mình nhìn cái gương mặt xanh xao, ốm o, mình biết người này ba ngày không có ăn. Ta dám đưa luôn ổ bánh mì, mình chấp nhận nhịn một buổi sáng. Vì sao?
[56:52]Vì biết người này nhịn mấy ngày rồi. Mình nhịn buổi sáng không chết, nhưng người này nhịn mấy ngày, không có ổ bánh mì này sợ lát họ té giữa đường. Và ta không giúp được nhiều nhưng ít nhất ta giúp được ổ bánh mì này, đó chính là gì? Là phép lạ, là phép lạ. Và như vậy, tất cả chúng ta, tất cả những người đệ tử Phật chúng ta hãy cùng nhau mà làm nên những phép lạ cho cuộc sống này, cho cuộc đời này thêm tươi đẹp, được không ạ? Được không ạ? Ráng lên nha, cố gắng lên. Phép lạ là từ đó mà ra đó, không phải lạ đâu. Và Bồ Tát Quan Âm có một cái hạnh
[57:33]ta gọi là lắng nghe được cái nỗi khổ của cuộc đời để cứu độ. Cái câu nói rằng lắng nghe được nỗi khổ của cuộc đời để cứu độ, sự thật đó là Ngài dạy cho chúng ta, Ngài dạy cho chúng ta. Tức là ta sống trên đời này phải có trái tim và đôi tai lắng nghe được cái nỗi khổ của cuộc đời. Đừng sống thờ ơ, đừng sống hời hợt, đừng sống mà chỉ biết có một mình mình. Nhớ như vậy. Chung quanh ta còn nhiều điều chưa vui, chung quanh ta còn những người bất hạnh và chúng ta phải thấy được những điều đó, phải thấy được nỗi bất hạnh, sự khốn khó của những mảng cuộc đời chung quanh mình. Xa quá thì thôi ta đành chịu, ta không biết.
[58:31]Nhưng mà những người gần gũi bên cạnh ta, ta phải thấy, phải nghe, phải hiểu. Đừng bỏ qua, đừng thờ ơ, phải sống với cái trái tim của Bồ Tát dạy ta. Phải sống với trái tim đó, lắng nghe được nỗi khổ của chúng sinh chung quanh mình. Nhớ như vậy. Và nếu ai có thể lắng nghe được nỗi khổ chúng sinh chung quanh mình, đó là người không còn ích kỷ nữa. Người đó đã biết sống vị tha nên mới có được cái trái tim yêu thương để để lắng nghe. Còn cái người không có trái tim yêu thương, người ích kỷ, đôi tai bị điếc, mắt bị mù. Mắt mở ra đó, tiếng nhạc xập xình thì nghe được, ha, nhà lầu xe hơi thấy hết, nhưng mà nỗi khổ người khác
[59:23]không thấy, sự than van của người khác không nghe. Cho nên tuy có mắt, có tai nhưng như mù, như điếc. Và ở đây Bồ Tát dạy ta mở trái tim mình ra để cho tai mình tinh tường, mắt mình sáng rỡ mà thấy được, mà nghe được cái sự bất hạnh, cái sự đau khổ của mọi người chung quanh mình. Phải sống như vậy. Nói: "Dạ, con nào giờ con chung quanh con thấy ai cũng sướng không có thấy ai khổ hết." Nếu ai nói câu đó, người đó mắt hãy còn mù, tai hãy còn điếc. Vì sự thật trên đời này không có ai mà không khổ. Ta không thấy ai khổ vì trái tim ta chưa mở ra thôi. Nói vậy: "Thưa thầy, thầy dạy con cách mở được trái tim."
[1:00:16]Đây cái phương pháp để mở trái tim đây là ta hãy sao? Hãy thiền định như Bồ Tát đã dạy trong kinh Lăng Nghiêm. Để có thể nghe được cái tiếng của vạn loài thì trước hết ta phải lắng nghe nơi chính mình trước. Trước hết ta hãy ngồi kiết già, bất động như là như Phật nha, ngồi và lắng nghe nơi chính mình trước. Trước hết ta nghe cái gì? Nghe cơ thể của mình trước, lắng nghe toàn thân, buông lỏng toàn thân, mềm mại, bất động toàn thân, lắng nghe toàn thân và thấy được cái thân của mình là vô thường, đang biến dịch, đang đi lần đến sự hoại diệt. Và sau khi chết rồi thì cái thân sao? Mục rã ra mất luôn, xương cũng thành bụi bay luôn.
[1:01:16]Đó là ta nghe cái thân của mình trước. Nghe cái thân và khi nghe được như vậy bắt đầu ta nghe được hơi thở, ta cảm nhận được hơi thở vào, hơi thở ra. Đó, đó chính là phương pháp thiền định, ha. Để có thể nghe được tiếng của vạn loài, trước hết ta phải nghe nơi chính mình, nghe bằng cách là thiền định, ngồi kiết già, bất động, lắng nghe toàn thân mình, lắng nghe cái sự vô thường đang cuốn trôi cái thân này đi, và lắng nghe hơi thở, thấy rõ hơi thở vào, hơi thở ra, đó là thiền định của của Quan Âm. Mà người nào tinh tấn tu tập thiền định được như vậy, nhập từng bước định, chứng từng cái đạo quả,
[1:02:08]sau này đi vào dòng Thánh cũng trở thành một vị A-la-hán, một vị Bồ Tát nương vào thần lực của Bồ Tát Quan Âm mà có thể cứu độ chúng sinh như vậy. Cho nên trong cái lễ hội Quan Âm mà vui vẻ thế này, xôn xao thế này, sự thật thì ngoài những lúc ta cầu nguyện, lễ bái, tụng kinh, văn nghệ, thuyết pháp, cuối cùng ta nên chấm dứt bằng cái gì? Bằng thiền định. Tất cả hội chúng trong ngoài đều bắt chân ngồi thiền hết để ta học theo cái hạnh Quan Âm thiền định, lắng nghe nơi chính mình mà sau này mới có thể lắng nghe được vạn hữu chúng sinh. Nhớ như vậy nha. Có lẽ là ta chưa kịp thiết kế cái chương trình này,
[1:02:58]nhưng mà nếu một cái lễ hội mà chấm dứt được bằng cái thời thiền định thì đó là một lễ hội Quan Âm tuyệt vời và có thể làm mẫu mực cho cả thế giới về đây họ dự lễ. Họ sẽ thấy một buổi lễ cực kỳ vi diệu, ngoài những nghi thức có tính cách tôn giáo rồi, cuối cùng chấm dứt bằng thời thiền định của mấy chục ngàn con người, từ trong ra tới ngoài ngồi im phăng phắc hết, như vậy là hay nhất. Thì nhân nhân cái buổi lễ hội này, tất cả chúng ta có mặt ở đây, ta dâng hết lòng thành kính của mình, dâng hết sự tôn kính của lòng mình lên cho Bồ Tát Quán Thế Âm, tức là dâng lên cho mười phương chư Phật nha. Và trong giây phút mà ta tôn kính tuyệt đối tha thiết lên
[1:03:48]Bồ Tát Quan Âm, lên mười phương chư Phật, ta cũng chợt khởi một lòng yêu thương với toàn thể thế giới này. Và xin nguyện trên chư Phật, trên chư Bồ Tát gia hộ cho thế giới này sao? Được, được hòa bình, chúng sinh được an lạc. Người người sống với nhau bằng trái tim yêu thương, tử tế. Tất cả mọi người đều nắm tay nhau bước đi trên con đường giác ngộ giải thoát. Đó là cái tâm nguyện quý giá nhất mà ta dâng lên trong cái lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn này. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.