Transcript: Cố Chấp 2

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:25:53

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Cái mục đích cuộc đời mình vào những giới hạn chung quanh mình. Ví dụ như mình đi tìm cái mục đích của cuộc đời cho tôi, gia đình tôi, bản thân tôi, làng xóm tôi, tôn giáo tôi, quốc gia tôi, vân vân. Đó là những cái giới hạn xoay quanh cái chấp ngã của mình. Và đây là một cái cố chấp nữa. Xuất phát từ đâu mà chúng ta có cái giới hạn trong cái mục tiêu cuộc đời mình? Xuất phát từ đâu? Điều dễ thấy là từ cái cái chấp ta, phải không? Mà nói cái chấp ngã thì nó mênh mông quá, mình nói là cái ích kỷ. Do cái ích kỷ này mà chúng ta nhìn vấn đề xoay quanh cái bản thân mình thôi, không có vượt xa hơn được, không có chan hòa, không bình đẳng mọi nơi được.

[1:04]Như chúng ta nói hôm trước á, cái ích kỷ nó đưa đến một cái tâm lý gì kế theo? Ai còn nhớ?

[1:13]Cái kiêu mạn á thì nó sẽ đưa tới cái ô nhiễm, còn cái ích kỷ nó sẽ đưa tới cái gì?

[1:23]Quên hết rồi à? Ai nhớ?

[1:32]Sư Đạo có nhớ không?

[1:38]Ừ, Sư Trung. Cái ích kỷ đưa tới cái gì? Đưa tới tâm lý gì? Quên. Ích kỷ không đưa tới tâm lý quên, mà nó đưa tới cái tâm lý là ác độc, nhớ điều đó. Kiêu mạn nó sẽ đưa tới cái ô nhiễm, còn cái ích kỷ nó đưa tới ác độc. Cái ác độc thì nó có nhiều mức độ. Ở mức độ nặng á thì người ta giết hại nhau, còn ở mức độ mà thấp á thì người ta chỉ trích, soi bói, hạ nhục nhau. Đó là những cái mức độ đều là ác độc. Ở trong cuộc sống vậy, mà chúng ta thấy ví dụ như mình có một cái lời nói nào mà làm nhục, làm mất danh dự người khác thì mình biết đó là một hành vi gọi là ác độc.

[2:32]Còn ở những cái người mà họ không có đạo đức á thì cái ác độc nó đưa tới khủng khiếp lắm, tiêu diệt nhau dữ dội, có khi hại nhau chết dở sống dở. Như có một lần có những cái tên cướp vì gây gổ, dẫn một anh thanh niên đè ra cắt hết nhượng tay nhượng chân không cho chết rồi bỏ đi. Anh chàng kia tàn phế suốt đời luôn. Đó là những cái ác độc ghê gớm của con người. Tất cả đều do ích kỷ á. Chúng ta thấy cái thế giới này máu và nước mắt đã đổ ra quá nhiều bởi cái cái ích kỷ, cái ác độc của con người. Chiến tranh giữa các chủng tộc đánh nhau khắp trên thế giới, chiến tranh giữa các tôn giáo, giữa các quốc gia,

[3:16]giữa các giai cấp làm cho máu và nước mắt đã đổ quá nhiều vì họ giới hạn cái mục tiêu cuộc đời họ quanh cái tôi của họ. Ở cái điểm này chúng ta thấy giữa cái đêm đen thế gian á, nó sáng lên một cái ánh đuốc của đạo Phật bởi cái thông điệp máu và nước mắt. Ai còn nhớ cái thông điệp máu và nước mắt của Đức Phật không? Cái thông điệp gì mà nó liên quan tới máu và nước mắt?

[3:50]Cô Trí nhớ không à? Quên. Liên Niệm à? Có nhớ không? Chưa học tới đó hả? Xích lên chút, Liên Nhân? Quên luôn. Xích lên chút nữa, Liên Bình? Liên Nghĩa à? Sư Tạo? Sư Minh Trung?

[4:21]Cái thông điệp này rất là hay. Giữa cái thế giới mà tàn phá nhau, tiêu diệt nhau vì cái lòng ích kỷ thì Đức Phật nói lên một câu nói giá trị muôn đời mà không một tôn giáo nào xưa nay nói được hết: "Không có giai cấp trong máu cùng đỏ, không có giai cấp khi mà nước mắt cùng cùng mặn." Đó, cái thông điệp của Đức Phật á. Máu và nước mắt đó. Sắp sửa nói tới đó.

[4:52]Nghĩa là nói lên nước mắt á là nói rằng cái nỗi khổ của con người, cái bản chất của nỗi khổ ở đâu cũng giống nhau thôi. Cũng là sinh, lão, bệnh, tử, cũng là cầu bất đắc, oán tắng hội, vân vân. Đó là những cái nỗi khổ mà bản chất nó là chung, là con người dù ở thành phần nào cũng phải chịu đựng. Mà nói là máu cùng đỏ nghĩa là gì? Là sự sống con người giống nhau. Nên có mặt ở trên cuộc đời này, con người ta có hai cái điều giống nhau là cái sự sống giống nhau và nỗi đau khổ giống nhau, thì không nên phân biệt giai cấp, quốc gia, chủng tộc, tôn giáo để mà lấy cớ đó mà đối xử ác độc với nhau. Nên cái thông điệp đó thật là muôn đời đó.

[5:36]Nên chúng ta vậy, trước cái thế giới mà càng lúc càng bị phân hóa bởi cái màu sắc chủng tộc, tôn giáo, quốc gia thì chúng ta có cái kim chỉ nam của Đức Phật để mình sống, sống một cách an vui và hòa thuận, chan hòa với tất cả mọi người. Thì nói là chúng ta không có chấp vào những cái gì chung quanh mình, ví dụ tôi không chấp quốc gia tôi, làng mạc tôi, tôn giáo tôi, nhưng mà mình có làm giùm quốc gia khác, tôn giáo khác được không? Ví dụ nói thôi tôi là không có chấp đạo Phật hay Thiên Chúa, nhưng mình đâu có bước vào nhà thờ giảng đạo trong trỏng được, phải không? Hoặc nói tôi không có chấp Việt Nam hay Mỹ,

[6:14]nhưng mình đâu có qua Mỹ mà mình làm cái gì bên đó được, hay mình đâu có qua bên Nga hay qua Ấn Độ, Trung Quốc mình làm gì được. Thì như vậy, cái ý nghĩa đó với cái việc làm nó có mâu thuẫn nhau không?

[6:29]Ví dụ như mình nói trên tinh thần chan hòa, bình đẳng của đạo Phật là mình không phân biệt tôn giáo, quốc gia, chủng tộc. Tất cả chúng sinh đều chung nhau nỗi khổ, chung nhau sự sống nên đáng được thương yêu bình đẳng. Nhưng mà thực tế cuộc sống của mình, mình đâu có làm gì được cho một chủng tộc nào khác, tôn giáo khác, quốc gia khác. Mình vẫn chỉ làm lẩn quẩn nơi cái của mình. Thì như vậy, giữa cái việc làm của mình và cái tinh thần không có cái chấp ràng buộc của đạo Phật nó có mâu thuẫn với nhau

[7:02]không? Có không?

[7:08]Mình giải quyết cái mâu thuẫn đó làm sao? Thấy như là mâu thuẫn á.

[7:14]Thì chỗ này cái đạo Phật mình xử lý làm sao?

[7:22]Cái cô chi kia ngồi bàn chót còn đang chống tay suy nghĩ nữa, con ngồi đầu bàn luôn á.

[7:29]Nhìn xích vô cô trong tí nữa đi.

[7:35]Giờ mình làm sao theo tinh thần đạo Phật nè. Và cuộc sống thực tế là như vậy thì mình xử lý làm sao?

[7:45]Vị xích vô cô trong nữa?

[7:51]Một là không biết, hai là thấy ngồi đạo cao quá hả? Thấy còn mấy sư dưới kia, sư đó, nhìn thấy đẹp trai mà chống tay lên cằm á.

[8:02]Cho ý kiến đi.

[8:06]Cái này bây giờ giữa cái thế gian này, cái thực tế cuộc sống mình là mình vẫn phải sống, làm việc, phụng sự cho những cái gì chung quanh mình, như bản thân mình, gia đình mình, ngôi chùa của mình, cái đạo của mình, đất nước của mình, vân vân. Trong khi tinh thần của đạo Phật thì đòi hỏi cái gì nó không phải của mình. Thì cái mâu thuẫn này mình giải quyết làm sao? Huệ Trí hả? Có mấy sư vắng hả? Huệ Thiền, Huệ Hiền gì đó. Mô Phật bạch thầy, theo tinh thần của đạo Phật thì không có cái gì làm sở hữu riêng của mình á, thì vấn đề này chúng ta phải giải quyết

[8:54]là chúng ta làm không tính toán. Nghĩa là tới đâu nó tới, hư ráng chịu ha? Thôi cám ơn sư. Thôi Sư Hải trả lời giùm luôn đi cho nó lẹ.

[9:10]Mô Phật, cái vấn đề này thì nó cũng hơi khó. Thầy có nghĩ dù chúng ta có xử lý cách nào đi chăng nữa đó, mà ngay chính bản thân chúng ta chưa vượt qua được cái lằn ranh phân biệt giữa cái tôi ở trong tâm á, thì cái xử lý đó nó cũng không đi đến kết quả thật như cái sự thật được. Tại vì lúc nào cái tôi nó còn đây á thì chúng ta có làm điều đó chỉ coi là cái hình thức bao che, mặc dù chúng ta có lý luận thế này thế nọ nữa. Và trước hết là phải vượt qua cái tôi trước cái đã. Hiện nay thì cũng có những cái tinh thần như hòa đồng tôn giáo này nọ, không có phân chia giữa các tôn giáo này và các tôn giáo nọ,

[9:53]nhưng thực tế lúc nào chúng ta cũng có cái tôi là ngăn che. Dạ trước hết là phải vượt qua cái này cái đã. hiểu biết đó, rồi mới nói đi vào cái cái xử lý thế nào. Nếu có biện pháp xử lý mà cái tôi vẫn còn thì xử lý cũng nằm trong cái vòng hạn cuộc của của cái tôi, của ý thức thôi. Còn về xử lý thế nào á thì con chưa đạt tới cái chỗ đó, thành ra không có thể nói xa hơn được. Dạ rồi, cảm ơn sư. Quý sư nhớ cái điều này, sau này khi quý sư làm giảng sư,

[10:26]mà điều này là ai cũng phải ráng mà làm à, bổn phận, sau này quý sư làm giảng sư thì mình phải có một cái trí tuệ trong đạo Phật gọi là thời trí. Quý sư nhớ hai chữ thời trí. Thời trí nghĩa là cái này nè: Khi người ta hỏi mình một câu bất chợt về bất cứ vấn đề nào mà mình không hề chuẩn bị trước, nhưng mà người ta vừa dứt lời là trong trí mình đã có câu trả lời trọn vẹn, rất sâu sắc. Cái đó gọi là thời trí, nó nhanh hơn điện nữa, mà người tu phải đạt cho được cái đó. Thì sau này mới bước ra làm giảng sư thì không ai, không sợ nữa. Mình đi đâu dạt cùng trời cuối đất, gặp bất cứ người nào trên cuộc đời

[11:05]này họ hỏi bất cứ câu hỏi nào, ngay đó trả lời liền, rất là sâu sắc. Thì bây giờ mình nói cái câu này: Trong cái thực tế cuộc sống á, thì chúng ta đều làm những công việc xoay quanh cái ta của mình. Như ví dụ mình nói cái chùa mình đây, sáng nay mình cầm cái cuốc đi cuốc cỏ thì không thể nào mình vác đi qua bên chùa Minh Đức mình cuốc mướn được hết, thì phải đất mình mình làm thôi phải không? Đó là một thực tế. Rồi mình sống trong đất nước này, mình có đóng thuế thì cũng đóng thuế đất nước này, chứ không có chạy qua đóng thuế Campuchia được. Đó là một thực tế. Tuy nhiên, khác nhau giữa người thường và cái

[11:41]người có tinh thần đạo Phật là ở chỗ này: Cái người thường á, họ theo cái môi trường họ sống, họ làm, rồi họ bám vào cái đó luôn, dính luôn vào cái tôi đó luôn, là ngôi nhà tôi, gia đình tôi, làng xóm tôi, quê hương tôi, tôn giáo tôi luôn. Họ làm cho cái gì thì tâm họ dính vào đó. Còn người của đạo Phật thì làm mà tâm không dính thôi, vẫn tâm nguyện, đây là tôi dùng cái chữ tâm nguyện, tức là không đòi hỏi mình phải chứng đạo vượt khỏi cái ta, nơi nãy sư Hải có nói điều đó cũng là điều hợp lý đó. Tức là sư Hải nhận rằng mình chưa thật sự vượt qua, thì điều này mình không đòi hỏi phải vượt qua,

[12:20]tại vì chỉ có những bậc A-la-hán mới thật sự vượt qua. Nhưng ở đây là mình học theo tinh thần của đạo Phật, của những vị A-la-hán, là bằng cái tâm nguyện thôi. Mình mong như vậy, mình tâm nguyện như vậy, là dù mình làm việc trong chùa mình, nhưng mà mình vẫn không nghĩ, không hạn cuộc cái tâm mình ở đây, mà mình sống trong đất nước này mà lòng vẫn thương yêu cả thế giới này. Đó là cái tinh thần của một người theo đạo Phật, nó khác với cái người thường thường hay cố chấp. Đây là chỗ mà chúng ta thực tập để vượt qua cái cố chấp dần dần. Đây là bước thứ nhất, một cách thứ nhất. Nghĩa là bên ngoài thì không có gì mà mình thấy khác lạ,

[13:00]vẫn làm việc, làm tròn bổn phận đối với cái môi trường chung quanh mình như là bám theo cái tôi mình vậy, nhưng tận trong thâm tâm mình, mình vẫn hằng tâm nguyện là chan hòa cùng tất cả, chứ không hạn cuộc nơi cái gì xung quanh mình, nơi môi trường mà nó ràng buộc mình. Đây là cái điều tâm nguyện, chứ chưa phải là mình chứng được, nên cái ưu tư của sư Hải là đúng, mà ở đây mình chỉ cần tâm nguyện thôi, là cái bước thứ nhất. Cái thứ hai, trong nhân quả, tuy bổn phận mình phải phụng sự những gì chung quanh mình, nhưng nếu có việc gì lợi mình mà hại nơi người khác thì mình mình sao? Không làm. Đó. Tại vì lòng mình mà thương yêu tất cả mà, nhìn thấy tất cả.

[13:47]Hễ làm cho mình theo bổn phận của mình không hại ai thì mình làm, nhưng hễ việc mình làm mà có hại người khác, không làm. Ví dụ như trên núi chúng ta có cái nguồn nước, à thì cái nguồn nước đi ngang qua chùa mình, chùa mình có ưu thế, thì theo bổn phận của chùa mình thì mình vẫn phải dẫn nước đó về cho chùa mình. Phải, đó là chuyện bình thường. Nhưng mình dẫn đến mức mà nó cạn luôn cái dòng nước qua bên chùa người khác thì mình không làm nữa. Tại vì sao? Lòng mình vẫn thương yêu những chùa khác, mình xài đủ dùng và nhường cái phần nước cho chùa khác nữa. Đó, tinh thần đạo Phật là vậy. Cho nên sống thương yêu chan hòa, làm tròn bổn phận

[14:28]mà tâm không hạn cuộc quanh cái môi trường của mình, mà việc làm của mình lỡ nếu nó có phương hại cho nơi khác thì mình dừng lại liền. Đó là cái thứ hai. Cái thứ ba nữa là mình biết công nhận những cái hay của các nơi khác, thí dụ tông giáo khác, quốc gia khác, gia đình khác, tông phái khác, cái chùa khác. Nghĩa là cái ưu điểm người khác mình biết nhìn nhận, biết công nhận, đó là cái khách quan á. Chứ còn thường á, chúng ta bị cái thành kiến, bị cái chấp ngã, ích kỷ nó chi phối, nên mình chỉ cố gắng là cho rằng mình hay và cố gắng cho rằng nơi khác là dở, cho nên bị cái thành kiến của cái chấp ngã nó lừa, nên mình cứ thích hơn thua nhau.

[15:14]Còn ở đây đúng tinh thần đạo Phật, mình vượt qua những cái hạn cuộc đó thì mình tập cái nhìn khách quan, nhìn đúng sự thật. Hôm trước chúng ta nói với nhau đó, cái con đường của đạo Phật là con đường biết đúng sự thật, sự thật như thế nào biết nó đúng như vậy. Cho nên ở một cái chùa khác hay một tông phái khác mà có điểm nào hay thì mình luôn luôn công nhận. Như bản thân của tôi vậy, tôi xuất thân từ Bắc Tông thì mỗi tông phái, tông nào cũng có cái tự hào của mình hết. Như Bắc Tông thì tự hào mình là Đại thừa Phật giáo, bên Bắc Tông thì chê Nam Tông là Tiểu thừa, nhưng bên Nam Tông thì cho rằng mình là chánh chơn truyền

[15:53]của đạo Phật, còn bên Bắc Tông á lấy toàn những kinh điển Đại thừa là không phải Phật thuyết, hì. Rồi bên Khất Sĩ cũng vậy, bên Khất Sĩ cũng có cái điểm tự hào là dung hợp được Nam Bắc Tông và giữ được cái giới hạnh đồ rất kỹ lưỡng, mỗi bên đều có cái tự hào của mình hết. Hồi xưa có một lần tôi đọc một cuốn sử về Phật giáo thì cái vị đó, cái vị tác giả đó, khi viết sử á mới công kích phái Khất Sĩ, à mà công kích cả tôn sư nữa, vị mà đã lập nên phái Khất Sĩ, cho rằng vị ấy như thế này thế kia là không hay đồ. Tôi đọc xong rồi tôi rất là ngại. Tôi đọc xong tôi nói cái vị nào viết cái cuốn này ra tiêu, cái quả báo chết!

[16:35]Tại vì sao? Tại vì cái đức độ của tôn sư mà mở được cả một hệ phái, không ai phủ nhận được hết. Người nào mà đã từng sống chung với bậc tôn sư mà tôi được nghe kể lại thì phải nói là một mực kính trọng. Không nói gì cái tâm linh bên trong, chỉ nói là cái dung nghi, cái giới hạnh là mình không bắt chước nổi. Và tôi nói rằng cái người mà công kích như vậy quả báo tránh không được đâu, tôi cũng rất là buồn. Thiệt, sau này tôi biết cái vị mà viết cuốn đó thê thảm luôn. Nó nhiều cái bê bối ghê gớm, bị quả báo nó tới mà. Thấy chưa? Cho nên á tôi thấy một điều hay nhất là cứ cái hay bên nào mình cố tìm cái

[17:20]hay để học hỏi và bỏ qua một bên cái dở, đừng để tâm tới chứ đừng... Vì mình để tâm tới cái dở người khác mình dễ phát sinh sự kiêu mạn, còn mình để tâm vào cái hay người khác á mình sẽ phát sinh sự khiêm hạ, tại mình biết tôn trọng người khác mà. Cho nên á đối với tôi vậy đó, những hình ảnh của các vị sư Khất Sĩ hay là Nam Tông với mặc cái màu áo của Phật đều làm cho tôi hết sức là kính trọng. Ừm.

[17:49]Rồi ngay cả các tôn giáo khác cũng vậy. Như sự thật á, trên thế giới thì có ba tôn giáo lớn là: Thiên Chúa giáo, Hồi giáo với Phật giáo. Ở cái vùng của mình á thì mình ít có đối diện với Hồi giáo, nhưng ở Trung Đông kéo dài từ Trung Đông qua Cận Đông lên tới Âu châu thì sự xung đột giữa Hồi giáo với Thiên Chúa giáo nó gay gắt. Còn bên phía Á Đông mình á, cái sự xung đột nặng ở cái Thiên Chúa giáo với Phật giáo. Dĩ nhiên mà nếu moi móc ra đó, mình đứng trên cái quan điểm đạo Phật mình nè, mình nhìn bên Thiên Chúa mình thấy cũng đủ thứ sơ hở hết, đủ thứ sơ hở, mà mình không cần phải nói ra. Có nhiều, rất nhiều cuốn sách

[18:30]chuyên phân tích những cái sơ hở của đạo Thiên Chúa dữ lắm. Những điều đó mình biết thì biết nhưng không cần phải nói rộng rãi. Nhưng nếu cần phải nói, mình chỉ nên nói những điểm hay của người ta thôi. Cho nên ví dụ tôi nói câu chuyện như thế này, không biết tôi đã kể cho quý sư nghe chưa, kể nhiều quá, nhiều khi kể lặp lại. Như hồi lần đó thì Do Thái là bị La Mã đô hộ, thì những người Do Thái họ vẫn mơ ước có một lãnh tụ nổi lên, giúp họ lật đổ cái ách đô hộ của La Mã và xây dựng Do Thái thành một nước thiên đường theo như là Kinh Cựu Ước của tiên tri ông Môi-se nói. Thì lúc ấy Chúa Giê-su nổi bật vượt lên trên,

[19:12]Ngài đi giảng đạo khắp nơi, người ta theo rần rần rần rần, thì nhiều người cho rằng Ngài sẽ là một cái người mà lãnh đạo dân tộc Do Thái để chống lại La Mã như vậy. Thì có một hôm có một người mới đến nói với Chúa Giê-su thế này, nói: "Thưa Ngài, những điều mà Ngài nói rất là hay, mà Ngài thường hay nói rằng Nước Trời rất gần, Nước Trời rất gần, là chừng nào mới xảy ra?" Nghĩa là, ý ổng nói là chừng nào là Chúa Giê-su mà lãnh đạo kháng chiến đó, mà lật đổ lại chừng, chừng nào mới xảy ra cái Nước Trời mà Ngài cho là rất gần đó. Chúa Giê-su mới trả lời rằng: "Ta nói Nước Trời rất gần, nghĩa là không ở bên đây,

[19:53]không ở bên kia, mà ngay trong chính ngươi." Cái câu đó bây giờ mình công kích nổi không? Câu đó quá hay phải không? Rất gần với đạo Phật. Đó! Đó là một trong những cái tiêu biểu thôi, chứ còn nhiều cái hay của Chúa Giêsu nữa mà khi mình biết rồi mình mới cảm thấy mình thương yêu, mình quý trọng những tôn giáo bạn được. Rồi vân vân, nó có những cái đó mà cái người mình là đệ tử Đức Phật, mình học cái tinh thần phá chấp của Đức Phật mà biết công nhận sự thật là trước hết mình thấy được cái hay của người khác, mình biết công nhận. Và do đó, cái lòng thương yêu của mình nó càng mở rộng hơn, không bị hạn cuộc.

[20:34]Còn mình cứ công kích kiểu dở người ta, tự nhiên cái trái tim thương yêu mình nó tắt lịm, nó khô héo từ từ và tự mình nó giết chết mình. Cái điều nữa là khi cần, có duyên thì ở đâu mình cũng phụng sự được hết. Ví dụ như là mình cái duyên không có thì mình ở đây phụng sự quanh cái môi trường của mình, nhưng mà khi có duyên thì bất cứ nơi nào cũng là chúng sinh để mình phụng sự. Trong đạo Phật mình có những cái tấm gương như vậy. Ví dụ như là Tổ Bồ Đề Đạt Ma phải không? Ngài là người Ấn Độ, nhưng mà ngài biết ngài có duyên với Trung Hoa là ngài vượt biển đi sang Trung Hoa mà giảng đạo. Đó cũng là cái tinh thần mà phá chấp của đạo Phật.

[21:19]Như bác sĩ Albert Schweitzer của Đức, tức là ổng sang Phi châu ổng ở với những người cùi, ổng mở những bệnh viện để chữa bệnh cho những người Châu Phi nghèo khổ, là kém cỏi, kém học vấn, vân vân. Đó. Cái phần thứ năm của cái cố chấp là bênh vực ý kiến mình một cách bướng bỉnh. Ở đây có ai bướng không? Tư tưởng và cái chấp ngã là một. Cái tư tưởng của mình cũng như cái chấp ngã của mình á, nó gắn theo nhau dữ lắm. Những cái ý mà mình nghĩ ra đó, nó làm cho mình rất thú và làm cho mình thích bảo vệ. Nó là sản phẩm của bản ngã mà bản ngã nó sâu kín lắm. Cho nên thường là hầu hết chúng ta đều bênh vực những cái suy nghĩ của mình.

[22:09]Khi mình phát minh ra điều gì, mình nghĩ ra được điều gì thì mình thường hay bảo vệ nó tới cùng. Đó là cái khuynh hướng chung chung thông thường. Mà chúng ta thấy đó, khi mà mình do cái thành kiến chấp ngã theo cái tình cảm đó mà mình bênh vực cái ý nghĩ của mình á thì mình khó có những cái suy nghĩ đúng, khó có những cái suy nghĩ đúng. Phải không? Mình nghĩ ra gì mình cho đúng liền mà mình không xét lại. Đây cũng là một trong những cái cố chấp nè. Về cái đó đó, chúng ta thấy trong cuộc sống của mình nó dễ hiện những cái điều đó ra. Ví dụ như là ngày hôm nay, mình đưa ra ý kiến là giờ phải sửa cái sân này lại.

[22:58]Cái người huynh đệ mình ổng không chịu, ổng đòi là sửa cái nhà cái sàn nước đằng sau. Thì ổng cũng ý kiến, mình cũng ý kiến. Ý kiến nào cũng cần hết trơn á. Sửa cái sân cũng cần mà sửa sàn nước cũng cần. Mình thì cứ bênh vực bảo vệ là phải sửa cái sân, ổng là quyết tâm bảo vệ sửa cái cái sàn. Mà đem ra xử thì cái nào cũng cần hết trơn á. Giờ ai đúng? Hổng ai đúng hết, tại vì bênh... bênh vực ý kiến mình nên trật lất à. Mà chúng ta thấy đó, nếu mà mình lúc đó mình thoát ra khỏi ý tưởng của mình á, mình vẫn thấy à thôi kệ, cứ đi sửa sàn nước giùm ổng cũng được rồi từ từ sửa sân, việc nào cũng rồi phải cần.

[23:36]Nhưng mà vì cái thành kiến chấp ngã, vì cái tình cảm, vì cái tự ái, mình không muốn thua ai, mình cứ khăng khăng là đòi phải sửa sang cái sân lại. Cái điều đó dễ xảy ra. Quý sư có gặp chưa? Trong đời sống có thấy trường hợp đó xảy ra chưa? Có chứ? Tưởng chưa có thì quý sư đây là siêu đẳng hết rồi đó. Và đó là cái trên việc làm, còn trong tư tưởng triết học nữa. Ví dụ như là chúng ta chấp nhận cái tông phái này thì mình đứng trên quan điểm của tông phái này mình phê phán các tông phái khác liền. Ví dụ như là mình đứng trên quan điểm của Thiền tông Trung Hoa thì từ đó mình nhìn các tông phái khác mình

[24:18]mình đều thấy những cái sai của nó dựa vào cái quan điểm của mình đứng. Hoặc là một người đứng trên Tịnh độ tông thì thấy ai mà rưới cuối mà ngồi thiền mà hổng vãng sinh Tịnh độ, không cầu vãng sinh Tịnh độ là người này khờ. Đó, vân vân. Đó, mình cứ đứng trên quan điểm của mình để mình phê phán người khác. Thì ở cái chỗ này, mình làm sao mình vượt qua được? Làm sao biết ai là đúng? Không có bao giờ có cái đúng thật sự khi mà mình còn cái thành kiến của cá nhân đó là vẫn do chấp ngã mà bênh vực cái tư tưởng của mình. Và đây là cái chỗ khó vượt qua nhất, rất khó vượt qua. Cái hay là đạo Phật của chúng ta cho chúng ta cái khái

[25:01]niệm, cái gợi ý này để chúng ta vượt qua điều này. Chớ nếu không có điều này thì chúng ta cũng tầm thường như vô số người trên thế giới này là cứ mãi bênh vực ý kiến của mình đó, mà ai cự lại mình thì mình cự lại, mà nếu mà mình có cái thế lực thì mình sẽ buộc người ta phải nghe lời mình. Cái hay của đạo Phật là bắt mình phải nhìn lại, không được bênh vực cái ý kiến của mình một cách bướng bỉnh, không được chấp ngã, không được thành kiến như vậy. Ở đây, chúng ta biết đạo Phật á thì mỗi khi chúng ta nghĩ ra một điều gì, phát minh ra được cái điều gì trong việc tu hành, chứ còn trong việc làm thì nó dễ vượt qua rồi.

[25:44]Mình chỉ cần cái người có hạnh tùy thuận, nhẫn nhục là vượt qua liền, mình nhường nhịn huynh đệ được liền. Nhưng cái khó là trong cái tư tưởng tu hành, đường lối tu hành, mỗi khi mà mình nghĩ ra được điều gì thì xin nhớ, hãy nhớ tới lời Đức Phật dạy, cũng giống như mình nhớ bài học hôm nay vậy, là mình xét đi xét lại. Mình đặt vấn đề là mình là một người ngoài mình đánh giá lại chính cái điều mình vừa suy nghĩ ra xem nó còn sai ở chỗ nào. Đó, mình tập như vậy thì dần dần cái ngã chấp mình sẽ bớt, mình nhìn vấn đề sáng suốt hơn, sâu sắc hơn. Khi mình xét tới xét lui cái mình thấy ba bốn điểm hở xảy ra. Đó.

[26:25]Người mà như vậy đó, tự phê phán, tự tìm được cái điểm dở của mình, đây là con người khách quan, từ từ thoát khỏi thành kiến cá nhân. Và người đó sau này mà đứng lên giảng thì khó ai bắt bẻ được, tại vì họ phê bình họ tan nát hết trơn rồi. Chính họ đã tìm cái sai họ rồi thì sau này khó có người nào tìm được cái sai họ nữa. Đây là cái tinh thần học đạo, mình thoát ra khỏi tư tưởng của mình. Cái tinh thần học đạo là ở chỗ đó. Ở đây, để thoát được cái chấp ngã mà bênh vực ý kiến của mình á thì mình làm hai điều: Một á là mình tập xem xét lại cái suy nghĩ của mình mà không tự thị. Không tự thị là không tự cho mình đúng đó.

[27:12]Cái chữ tự thị là đúng, tự thị nghĩa là tự cho mình đúng. Tập xem xét lại cái suy nghĩ của mình mà không tự thị. Cái thứ hai là mình xem xét ý kiến của người khác mà không kỳ thị. Không phải thấy vì người khác không phải giống mình là mình cứ vơ, cứ so, cứ tìm cách cho người ta sai. Không kỳ thị cho nên cố tìm cái đúng của người khác, còn bên mình mình cố tìm cái sai của mình. Mình nghĩ ra đó thì luôn luôn là mình dễ thấy rằng mình đúng rồi, bây giờ mình cố gắng thêm một bước nữa là cố gắng tìm cái sai của mình. Còn khi mình nghe người khác phát biểu á, mình rất dễ tìm cái sai của người khác, thì bây giờ mình cố gắng thêm một bước nữa là

[27:55]cố gắng tìm cái đúng của người khác mà không kỳ thị. Đó là cái phương pháp để mình vượt qua được cái chấp ngã về cái tư tưởng.

[28:07]Bây giờ chúng ta học qua phần thứ sáu. Tôi nói tóm tắt thôi, tại vì còn nhiều vấn đề quá. Nhưng thứ sáu tôi cũng không có giảng được lâu cho nên cứ tóm tắt được một số ý quan trọng. Đi qua phần thứ sáu là không cảm nhận được cái tuyệt đối, cái cố chấp thứ sáu á. Là sao? Nghĩa là chúng ta đang sống trong cuộc đời này với những cái mắt thấy tai nghe, những cái chúng ta biết rõ,

[28:36]chúng ta xúc chạm được, cảm nhận được một cách cụ thể và chúng ta cho đó là tất cả, cho đó là tất cả. Chỉ những cái gì mà mình biết á thì mình cho nó là hiện hữu. Thì đây cũng là một cái cố chấp nè. Ví dụ như từ ngày xưa vậy, tổ tiên chúng ta thì thấy mặt trời, mặt trăng, muôn sao quay quanh trái đất liền kết luận là trái đất là trung tâm, còn mọi cái khác quay quanh. Nhưng mà những nhà khoa học họ bằng trí tuệ họ lật ngược lại là mặt trời đứng yên mà trái đất lại quay quanh mặt trời, vân vân. Đó. Chúng ta thấy nhiều khi cái sự thật nó không phải là cái mà mắt thấy tai nghe, mà cái phải đạt đến bằng trí tuệ.

[29:26]Cái trí tuệ của khoa học á là dựa trên lý luận, có một bước thứ nhất suy luận ra cái bước thứ hai, từ cái thứ nhất, thứ hai suy luận qua bước thứ ba, thứ tư. Đó là họ có căn cứ, cũng là một cái trí tuệ. Mà còn có một loại trí tuệ khác nữa là trí tuệ của trực quan, là không có cơ sở, không có dữ liệu để mình suy luận mà vẫn biết được vấn đề. Đây là cái trí tuệ trực quan của đạo học, của tâm linh, nên chúng ta phân biệt hai loại trí tuệ. Cái trí tuệ của lý luận logic là con đường của khoa học, Cũng nhờ đó đó mà khoa học đã biết được nhiều điều mà tai mắt không cảm nhận được, mà biết bằng suy luận, tai mắt không cảm nhận được.

[30:13]Và cái biết thứ hai là cái biết trực quan của tâm linh đó, của đạo học là không đủ cơ sở dữ liệu mà vẫn đạt được, biết tới, ha. Đây là hai cái loại trí tuệ. Và dựa vào hai cái loại trí tuệ này, loài người chúng ta đã bớt chấp vào cái thế giới cụ thể của quanh mình mà biết được nhiều hơn nữa. Như các nhà khoa học khám phá ra được cả bầu trời vũ trụ, khám phá thế giới của vi khuẩn, rồi những bí ẩn của dòng điện, sự hiện hữu của plasma, vân vân, đó. Cái đó là của lý luận khoa học. Và những nhà đạo học thì khám phá ra những gì? Khám phá ra những cái cõi giới siêu hình mà mắt thường mình không thấy được,

[31:01]hoặc là như Đức Phật, các vị A-la-hán, cái chỗ chứng của các ngài, các ngài mới cảm nhận được cái bản thể tuyệt đối cuối cùng, cái chỗ bản thể của vạn hữu, chỗ chung đồng của vũ trụ. Thì cái chỗ này lý luận không tới được mà tâm linh thâm thấp cũng không tới được, phải tới chỗ tận cùng của con đường đạo mới đạt được cái biết này, ha. Vì vậy, ở đây là trong cái tinh thần phá chấp thì chúng ta đừng hạn cuộc mình, đừng chấp vào những cái mà chỉ mắt thấy tai nghe, ha, phải vượt lên trên nữa. Thì vượt lên trên cái gì? Thì có hai điều để chúng ta biết thêm trên tinh thần của đạo học, chứ còn của khoa học thì mình kiếm sách mình đọc.

[31:49]Đây mình nói trên tinh thần của đạo học: thứ nhất là thế giới vô hình, thứ hai là bản thể tuyệt đối.

[31:58]Thật ra đó, cái sự sống trong vũ trụ này thì nó che giấu cả cái mảng lớn nằm trong thế giới vô hình này, còn cái hiện ở bên thế giới hữu hình này chỉ là một phần nhỏ thôi, giống như phần nổi của một cái tảng băng thôi. Như một cái tảng băng mà trôi trên biển vậy, nó nổi lên một cái khối băng, nhưng sự thật cái phần chìm ở dưới nó rất là nhiều. Thì cuộc sống, sự sống trên vũ trụ này cũng vậy, chúng sinh trong vũ trụ này cũng vậy. Cái các loài mà hiện diện trong cái thế giới hữu hình này đó, nó chỉ là một phần nhỏ, chứ còn cái chúng sinh, cái sự sống mà tồn tại nằm giấu trong thế giới vô hình mới là phần lớn, mới là phần lớn.

[32:38]Ở đây có ai sợ ma không?

[32:42]Nếu sợ ma vô ích, bởi vì sự thật là thế giới vô hình nhiều hơn mình, nhiều hơn mình. Chỉ có cái điều là chúng sinh trong thế giới vô hình họ có nhiều loại, ừ có loại họ chấp mình chơi, có loại họ không chấp, có loại chả đụng gì nhau hết, vậy đó. Bây giờ mình điểm điểm qua sơ sơ về vài loại trong thế giới vô hình một chút cho vui thôi. Có điều là ai sợ ma thì có quyền bít tai lại khỏi nghe, tối ngủ không được.

[33:11]Như trong kinh Phật thì chúng ta biết là chúng sinh có sáu đường phải không? Ngoài cõi người mình ra, cõi súc sinh ra là thế giới hữu hình, còn lại là: địa ngục, ngạ quỷ, rồi các cõi trời, A-tu-la gì vân vân, cõi thần. A-tu-la là các vị thần linh đó. Các vị đó thì không có cái tâm tu hành giải thoát, nhưng mà do có phước lớn, tâm thì phàm phu nhưng phước thì lớn cho nên làm thần, thần A-tu-la. Nên những đền, những miếu này kia nọ mà thờ là thường lại là thần đó, dân gian gọi là A-tu-la. Còn các Chư Thiên là những người có tu hành, hầu hết là có biết Phật pháp, có biết Phật pháp, tin nhân quả luân hồi, là người biết thiện và rèn luyện tâm hồn, tâm hạnh rất là tốt.

[33:56]Cho nên Chư Thiên rất là vĩ đại. Nhưng mà đừng có coi thường Chư Thiên. Nhiều khi mình nói: "À, tôi là Tỳ-kheo xuất gia theo Phật, rồi Chư Thiên là chúng sinh, mình thầy của trời người." Chết liền nha. Con khởi tâm niệm nó đọa chết luôn á. Cái đức hạnh mình không bằng mấy vị đó đâu. Có những vị đời sống của họ cao thượng ghê lắm, rồi họ chết họ sinh lên cõi trời là những vị đó đó. Trong cuộc sống này mà chúng ta có gặp những vị đó thì chúng ta sẽ biết họ chết họ lên cõi trời. Giống như có cái bà đó, bà là vợ của cái ông Bác vật như là Nguyễn Hảo Ca, tôi nhớ mang máng lâu quá rồi. Bà bà tốt kỳ lạ, tâm hồn hoa mỹ.

[34:36]Từng chút từng chút chỉ sống vì người khác thôi. Như một chuyện nhỏ thôi, tôi nói một chuyện rất nhỏ: bà đi trên Sài Gòn có mấy đứa mà nó bán trái cây đó, mồi đó, kêu bả mua, bả không mua, bả đi cái chỗ khác bả mua một miếng ni lông bả lại bả cho nó, bả nói: "Con đậy lên, người ta thấy sạch người ta mới dám mua, chứ con để vậy con bán hoài không mua đâu." Mới đầu nó toan chửi bả, nhưng một hồi thấy có lý, cái thành ra nó đậy lại. Nhưng bả mua cho nó ít cái làm quà. Lần sau bả đi đâu nó kêu bằng: "Bà ngoại, bà ngoại" không. Nó: "Nhờ bà cho miếng đó mà bắt đầu con bán được hơn lúc trước." Đó việc nhỏ.

[35:13]Có lần bả dắt mấy đứa con bả về quê. Bả thì giàu sang vì phước nhiều đời mà. Thì mấy đứa con bả thì mặc đồ rất là đẹp. Nhỏ nhỏ thôi. Cứ mấy đứa làng quê mà thấy đồ đẹp quá, trên xe hơi bước xuống cái lại nắm áo rờ rờ, bắt cởi ra cho liền. Và mấy đứa con bả cũng được dạy như vậy. Cái cuối cùng là chạy trốn vô nhà bà ngoại mà quấn cái khăn chạy tuốt vô trong buồng luôn. "Bà ngoại gì vậy, gì vậy?" Cứ nói: "Thì vô trỏng mới kiếm cái đồ cũ còn để lại nhà quê đó cho con cái mặc, chứ còn mà thấy thích là cởi ra cho liền." Còn lúc bả còn trẻ chưa có lấy chồng á, nhà thì giàu ghê gớm. Bả cứ sai người làm hễ mà bữa đó trong nhà ăn

[35:54]20 lít gạo thì bả kêu nấu cho bả 40 lít. Thì người làm bả dặn: "Không được nói má bả vì má bả khó." Nấu xong bả sai người khác bưng đi phát cho những người hàng xóm nghèo bả biết. Đó là cả cuộc sống từ nhỏ lớn chỉ sống vì người khác thôi. Tới già, tới bây giờ không biết giờ bả chết chưa, chứ lúc mà tôi gặp bả lần cuối thì bả cũng bảy mấy rồi, mà vui vẻ lắm, tánh bả vui vẻ lắm. Như có cái hai vợ chồng ở dưới Long An về, như con cái bước ra khỏi nhà đó là phải dặn con phải lấy theo mớ tiền bỏ túi liền, đi gặp những người nghèo khổ phải cho. Dạy con cái như vậy. Nghĩa là thương người rồi mà phải dạy tình thương cho con cái nữa.

[36:35]Rồi có khi là sai con đi đòi nợ, nhưng mà dặn con cái cách nói chuyện làm sao cho người ta đừng buồn. Trong trường hợp người ta không trả nổi thì phải làm sao xử lý, rồi bắt lặp lại đứng nói chuyện làm cho ổng coi rồi mới cho đi đòi nợ. Tức là không xúc phạm tới người khác. Đến mùa an cư, thời gian hồi xưa cách đây chừng 5, 60 năm thì Phật pháp mình chưa có phát triển mạnh nên chưa có đông, nhưng mà tới mùa an cư thì cái nhà thì lớn bả mời Chư Tăng về đó an cư tại gia đình luôn, cúng dường Chư Tăng đầy đủ suốt ba tháng an cư, rồi giải hạ rồi Chư Tăng mới đi về chùa mình lại, mời các Hòa thượng ở lại.

[37:13]Cái chết của bà nó như thế này, không biết tôi có kể chưa, tôi nhớ mang máng. Thì cái người con gái đó đi dạy học, đêm đó ngồi soạn bài thì bà bắt đầu nhuốm bệnh nằm trong giường. Thì cái người con gái mới kêu đứa cháu ra ngoài nằm để cho bà ngoại nằm nghỉ. Cái đang ngồi soạn bài tự nhiên nhìn thấy trong phòng mẹ mình sáng rực lên và có hình Phật Bà hiện ra. Cổ ngơ ngác, cổ cứ dụi mắt, dụi mắt nhìn. Cái lát từ từ ánh sáng tắt dần, tắt dần, tắt dần, tắt dần rồi mất. Cái cổ soạn bài khuya cổ mệt, cổ mới vào xem mẹ cổ thì vào mới hay là bà đã đi. Đi nhẹ nhàng vào khoảng cái lúc mà thấy hình Phật Bà hiện ra.

[37:54]Là người người ta sống cả cuộc đời thánh thiện thì cái chết người ta an nhàn mà chắc chắn họ về cõi trời. Nên chúng ta thấy mình là người xuất gia, coi chừng cái tâm hạnh mình chưa bằng mấy người đó. Nhiều khi trong huynh đệ mình đối xử với nhau vẫn chưa thương yêu, chưa nhã nhặn, chưa tôn trọng, mà những người đó họ giữ cái tâm hạnh họ với tất cả mọi người một cách cẩn thận như vậy. Cho nên mình đừng có nghĩ Chư Thiên là thua mình, mình nghĩ mình Tỳ-kheo xuất gia, coi chừng mình thua người ta xa lắc à. Bây

[38:23]giờ mình nói tổng quát lại một cái chúng sinh bình thường thôi. Ví dụ như khi một người bình thường họ mất thì lúc đó họ có một cuộc sống tâm linh, có cái đời sống tâm linh ở trong cái thế giới siêu hình. Nhưng mà cái người này có nhiều loại lắm. Cái người đó nếu mà trong đời sống hiện tại họ là một người sống thụ động, yếu ớt thì cái đời sống tâm linh của họ mình gọi là cái thần thức á, cũng là một loại thần thức yếu đuối, không tác động được tới ai hết. Họ ở bên cạnh mình mà mình không biết gì hết và họ không làm gì được mình, họ vất va vất vơ vậy thôi. Và thường hay đói kém nên mình hay gọi là ngạ quỷ đó.

[39:02]Mình dùng chữ ngạ quỷ thì hơi nặng, mà mình hay gọi là cô hồn thì hơi đúng và có vẻ hơi coi thường. Chứ mình gọi những thần thức lang thang, lạc lõng, bơ vơ thôi. Vì trong đời sống họ không tạo phước, họ sống yếu đuối, thì cái tinh thần yếu đuối thì khi mà chết, họ cũng là một cái thần thức yếu đuối không tác động được tới ai. Gặp mình thấy ngồi mình nhìn mình đó mà không nói được, mình chẳng biết họ, họ cũng không có tiếp xúc được với mình, tuy họ biết mình. Đó. Còn cái loại chúng sinh ví dụ người mà trong cái cuộc sống là một người có tinh thần mạnh mẽ, hay làm phước, hay là tinh thần họ mạnh mẽ,

[39:39]quyết tâm làm cái gì đó thì khi họ chết đó, cái thần thức của họ là thần thức rất mạnh. Cái thần thức có mạng của họ đôi khi họ tiếp xúc với mình, đôi khi họ tác động được với mình và mình hay gọi là là gì? Ma. [cười] Ví dụ mình nói cái người sao chết oan mà hay làm ma là vì Tại vì lúc đó cái tinh thần họ khởi lên rất mạnh. Trong cái lúc mà họ bị giết hại thế này thế kia đó. Hoặc là cái người mà họ sống, họ có tinh thần mạnh mẽ, xốc vác, thì khi họ chết cái thần thức của họ mạnh, họ tiếp xúc, họ tác động với mình được. Họ tác động mình như thế nào? Có hai cái tác động: tác động trong tư tưởng và tác động nơi cái vật chất này.

[40:24]Tác động trong tư tưởng như là họ làm cho mình khởi những cái suy nghĩ mà mình cứ tưởng cái suy nghĩ này là của mình. Tôi chưa nói tới nhập đồng nha, nhập đồng nó còn nặng hơn nữa. Ở đây là tôi chỉ nói tác động tư tưởng thôi. Nghĩa là đôi khi mình quyết định làm cái gì đó nó không phải là do ý mình mà sự thật là do tác động của người vô hình mà mình không biết. Cái tác động của người vô hình á, để tôi kể một vài cái tiêu biểu rồi mình sẽ cảm nhận được. Tôi nói ví dụ như là cái cửa hàng nào họ bán hàng, nhưng mà họ hay cúng cô hồn, họ mê tín mà họ hay cúng cô hồn, họ cầu xin buôn may bán đắt, nghĩa là mục đích của họ cũng chẳng có gì cao thượng.

[41:06]Nhưng mà cũng cũng làm cho cô hồn cảm động. Những cái cô hồn mà họ họ đói đó, họ nhờ cúng họ ăn nên họ biết ơn, họ đền ơn. Họ đền ơn bằng cách gì? Họ xúi những người khác vào mua hàng. Đây là điều có thật. Cửa hàng đó cứ bán đắt mà không biết tại sao. Sự thật là là những cái vong hồn họ tác động vào tư tưởng của người đi, không muốn mua, đi ngang đó tự nhiên dừng xe lại, bước vào, hãy mua vài món rồi ra. Đắt rất đắt, mà nhất là mấy người Tàu họ cứ cúng hoài mà họ bán đắt hoài không biết tại sao, mà đó là điều có thật. Cho nên cái giúp người chết là có phước, có phước hiện tiền liền à, nhưng mà giúp người sống á thì có phước lâu dài về sau.

[41:43]Nó là như vậy.

[41:47]Như có có cái câu chuyện hai vợ chồng hạnh phúc vậy, bỗng nhiên dọn về cái nhà mới rồi cái ông chồng cứ nửa đêm cứ đòi giết vợ. Mà ổng không phải là người điên, rất bình tĩnh. Làm bà vợ sợ quá chừng. Thì nguyên nhân á là cái gì? Cũng là cái loại đó đó, những cái vong hồn mà họ cô độc, họ ác độc nữa, họ không có đạo đức, thì không có đạo đức nên họ chưa siêu được, họ cứ lẩn qua lẩn quẩn và thích phá quấy người khác. Và họ tác động vào tư tưởng để cho những người thân trong nhà gây gổ với nhau. Nên nhiều khi trong gia đình có những cuộc gây gổ vô lý á, đừng có nghĩ là tại người sống nha, coi chừng tại người chết.

[42:31]Có một nhà văn họ viết cái cuốn, một đạo diễn Steven Spielberg cũng dựng thành một phim là bộ phim "Mãi Mãi", trong đó ổng kể lại cái câu chuyện là những người ở trong đội cứu hỏa bằng máy bay đó, khi cháy rừng nha. Những khu rừng bị cháy họ sẽ bay lên họ thả cái thuốc tắt lửa xuống. Hễ mà ở đâu báo động rừng cháy là ở đây họ cất cánh họ bay lên tới đó họ thả thuốc hóa học xuống. Thì có anh phi công ảnh giỏi, ảnh giỏi lắm. Rồi một lần đó cái ảnh cùng với bạn đi chữa tắt cháy, cái người bạn phi xuống sà thấp quá để rải thuốc á cho nó đúng mục tiêu á, cái bị bén lửa từ ngọn cây bén lên tới cánh máy bay.

[43:10]Cái là ảnh phải cứu cái anh bạn bằng cách là ảnh bay lên ảnh thả thuốc lên cánh máy bay của anh đó. Nhưng mà rồi ảnh vừa thả xong thì ảnh lại bị bén cái lửa của cái cánh người bạn lên trên máy bay mình. Tắt được cái máy bay của bạn nhưng mà máy bay mình thì bị bị bén lửa và không ai cứu được. Người ta hết thuốc hết rồi. Mà máy bay ảnh cháy tuốt lên trời luôn, chết. Lúc đó ảnh mới sống cái cuộc sống vô hình, cuộc sống của một người vô hình. Và bây giờ ảnh trở về thăm lại những người thân, người yêu xưa, không tiếp xúc được với ai hết, nói không ai nghe hết, nhưng tác động trong tư tưởng được. Và xúi người đó một cách âm thầm để người đó làm thế này làm thế kia được.

[43:46]Rồi có cái người cũng lên máy bay đi chữa cháy rừng, thì người này mới về không kinh nghiệm, thì ảnh mới leo ra đằng sau ảnh ngồi, ảnh chỉ anh kia cách lái. Anh kia cứ tưởng là những ý nghĩ của mình nên điều khiển máy bay lên xuống thế nào để thoát hiểm và chữa hiệu quả, nhưng mà không ngờ chính ảnh là người tác động trong tư tưởng để cho anh kia chữa được cái đám cháy. Đó là những cái cuộc nghiên cứu tâm linh của bên Âu châu đó, bên Tây phương họ nghiên cứu những vấn đề đó rồi họ cụ thể hóa bằng những câu chuyện bằng cuốn phim như vậy. Rồi cái loại nữa mà nó hiện thành hình luôn là cái loại này bắt đầu cái

[44:18]tâm lực nó mạnh rồi, là không phải tác động mình bằng cái cái ý nghĩ tư tưởng của mình mà họ hiện thành hình và họ động vào vật chất được. Chứ thường là cái thế giới tâm linh họ không tác động vào vật chất này được. Nhưng mà khi tâm lực họ quá mạnh, họ tác động vào vật chất được, ví dụ họ xô ngã cái ly, họ đóng cửa cái rầm. Ban đêm mình nằm ngủ vậy cái họ lục nồi lục niêu, quăng rớt rổ, cộc cộc cộc cộc. Xuống mở cửa, mở đèn không thấy ai hết, cái đi ngủ lại nữa. Ở đây có ai bị chưa?

[44:55]Nhiều khi mèo nó lục nữa.

[45:00]Đó là những cái trường hợp những cái chúng sinh trong thế giới vô hình, nhưng mà khi mình càng đi xa đi xa nữa lên những cái cõi cao cõi cao thì mình mới thấy cái thế giới này nó tạm bợ. À, hồi trước tôi có kể cho quý sư nghe cái chuyện mà 60 người công quả trong chùa bị chết chưa ha? Câu chuyện trong "Thiền Sư Trung Hoa" 3 của Hòa Thượng Thanh Từ dịch á, tôi đọc lâu quá rồi tôi quên tên chính xác. Một thiền sư, tôi không biết nhớ ngài Mật Ấn hay phải tên ngài không. Ngài mới về cái chùa ngài trụ trì thì ngài mới dọn một cái cốc, một cái am chứ, đó là một cái đền, một cái miếu nằm trong khu vực của chùa.

[45:43]Ngài mới dọn để làm cái phương trượng cho ngài ở. Thì ngài dọn dẹp bàn thờ, lư nhang đồ gì ra ngoài hết, ngài mới để cái phản vô trong đó ngài ngủ. Tối ngài ngủ, nửa đêm giật mình thức dậy thấy nguyên một con mãng xà, thứ rắn mà bằng cả ôm nằm kế bên ngài. Ngài mới lấy tay ngài xua nó qua một bên, ngài nằm ngủ tiếp. Gặp mình thì mình sao? Nhảy một cái, nhảy lên tới nóc nhà.

[46:08]Phải nói cái sức tự tại của thiền sư vĩ đại thiệt, đáng nể thiệt. Rồi ngài ngủ tới sáng. Qua đêm thứ hai ngài nằm ngủ thì ngài mới thấy là thì ra cái đền đó là đền thờ vua Tề Tuyên Vương thì phải, hình như tôi nhớ cái tên họ Tề. Thì thấy ông vua Tề mới đến nói thế này: "Đây là chỗ ở của tôi từ lâu, nhưng mà thầy đã đến ở nên tôi phải đi." Tại vì đức của ông thiền sư lớn hơn. Ổng chỉ làm thần thôi, còn người ông thiền sư là bậc thánh rồi, cho nên ổng phải ổng phải nhường, thua. Ổng nói: "Vì thầy tới ở nên tôi phải đi, nhưng tôi chỉ xin thầy cho tôi theo 60 tráng đinh để hầu tôi." Tại vì ổng còn còn nhiều phước,

[46:47]nghĩa là hồi sống làm vua ha, phước cũng dữ dội, mà chết cũng làm thần mà phải được nhiều người hầu, phải có người hầu. Trong giấc mơ ngài Mật Ấn ngài hứa khả, ngài chấp nhận. Mà tráng đinh trong chùa tức là những người làm công quả đó, người làm công quả không có xuất gia. Qua ngày hôm sau, trong vòng một hai ngày, tự nhiên phát lên một cơn dịch bệnh chết sạch 60 người trong chùa luôn. Tức là ổng kéo ổng bắt đi hết á. Mà do ngài đồng ý rồi, trong giấc mơ ngài đồng ý, ổng bắt đi luôn. Ở đây còn ai tráng đinh không? May quá, xong, xuất gia thọ giới hết rồi. Mà đây chúng ta đọc câu chuyện đó đó thì chúng ta thấy một cái điều gì?

[47:26]Nhiều khi chúng ta kinh hoàng, tại sao mà giết một lúc 60 người, ác quá phải không? Nhưng mà ác không? Chúng ta nói ác là bởi vì chúng ta thấy cái thế giới này nó quá quý đi. Thế giới hữu hình nó quá quý đi, mà mình thấy đoạt mạng sống một người là quá ác độc. Nhưng những người mà họ sống trong thế giới siêu hình á thì họ thấy thế giới hữu hình của mình nó nó nặng nề, ràng buộc, không tự tại, mà cái thế giới vô hình của họ mới tự tại, nó nhẹ nhàng. Cho nên đưa 60 người đó từ thế giới hữu hình sang thế giới vô hình, họ nghĩ như làm phước vậy đó. Sống vậy nó khỏe, muốn bay đâu bay, tư tưởng người khác mình đọc được hết.

[48:05]Những người trong thế giới vô hình á, họ biết được tư tưởng mình. Cho nên mình đừng có tưởng mình ở đây mình làm gì, mình nghĩ gì không ai biết nha. Cho nên tại sao mà quỷ thần họ ủng hộ người tu hay không là lý do đó đó, họ biết cái tâm mình. Mình nghĩ gì, mình làm gì họ biết hết, mặc dù không ai biết hết, mình lén núp đâu trong góc mình làm bậy bên trong, nhưng mà quỷ thần họ biết hết. Và cái tác động của thế giới vô hình vào thế giới hữu hình này nó nhiều lắm, chứ không có ít đâu. Nhiều khi chúng ta cố tìm một lời giải thích khoa học cho mọi hiện tượng của trời đất, của con người, của xã hội, chúng ta cố tìm một lời giải thích

[48:44]khoa học, nhưng kỳ thực nó chỉ là gượng gạo thôi, chứ sự thật cái tác động của thế giới vô hình nó vào thế giới mình là nhiều hơn. Nhưng chỉ có một điều chỉ có một điều mà họ nể mình là cái đạo đức thôi. Hễ người tu mà giữ được tâm mình cho vững thì "đức trọng quỷ thần kinh". Chúng ta nghe câu đó rồi phải không? Chỉ có vậy đó thôi. Nghĩa là mình có một chỗ để mình an trú, mình sống tự tại được với con người hữu hình cũng như với con người vô hình là cái đạo đức, mình giữ kỹ cái đạo đức thì đức trọng quỷ thần kinh. Cái điều thứ hai mà chúng ta phải cảm nhận được là bản thể tuyệt đối. Cái thế giới hữu hình chúng ta là tương đối rồi,

[49:30]mà cái thế giới vô hình nó cũng tương đối nốt luôn. Nên cái bản thể Niết bàn tuyệt đối mà Đức Phật chứng được và dạy chúng ta con đường để đi tới, đó mới thật sự là cái tuyệt đối, là chỗ mà người đệ tử Phật phải hướng về. Đây là chỗ tột cùng của sự an nghỉ, của trí tuệ, của từ bi, của đạo đức. Nếu một người không có chí hướng lớn, không cảm nhận nổi cái đó, thì thôi tài người đó. Họ nói tôi sống vậy được rồi. Ngày hai bữa, ba bữa ăn gì, có ăn có mặc thì thôi không mơ ước gì, không phấn đấu gì thì những người đó mình đành chịu. Còn người mà đã từng học Phật pháp, biết rằng cái sự lăn trôi trong luân hồi nó khủng khiếp lắm.

[50:18]Ngày nay mình thân người, qua kiếp sau không biết còn được thân người hay là phải ra ngoài đồng kéo cày? Hay là phải vô trong cái lò mổ người ta nuôi ta mổ thịt? Không biết được kiếp sau mình là gì mà lăn trôi hết kiếp này tới kiếp kia. Kiếp này làm được ít phước thì kiếp sau hưởng, kiếp sau hưởng hết thì kiếp tới nữa lại đọa. Cứ trôi lăn mệt mỏi. Nếu cảm nhận được điều đó thì mình mới thấy rằng đúng, phải có một chỗ an nghỉ cuối cùng để dừng cái luân hồi này lại. Và chúng ta thấy cái đạo đức mà còn hạn chế làm cho mình trôi lăn thì mình phải có một cái cái tận cùng của cái đạo đức để làm cho mình dừng lại cái trôi lăn đó.

[51:02]Nhưng những cái điều mà chúng ta hiểu biết trên cuộc đời này là hạn chế thì chúng ta phải có một cái tâm nguyện đạt được cái hiểu biết trọn vẹn, tuyệt đối. Đó. Nếu mà người nào có những cái suy nghĩ như vậy và khát khao đi tìm tới tận cùng của tuyệt đối thì người đó đúng là cần phải đi theo con đường của Đức Phật, con đường mà giúp chúng ta đạt được cái bản thể Niết Bàn tuyệt đối này. Còn mọi cái thế gian coi vậy chứ chỉ là tương đối à. Để trình bày cái thế gian này là tương đối thì trong đạo Phật có nguyên một hệ thống kinh Bát Nhã. Kinh Bát Nhã là phân tích cho chúng ta thấy cái thế gian này là tạm bợ, là tương đối, là hư ảo để chúng ta đừng bám víu.

[51:48]Mà nhờ không bám víu nên chúng ta thoát khỏi nó, vượt khỏi cái chấp nó và dần dần mình đi hướng về được cái tuyệt đối. Đó là cái tính chất, cái tinh thần của kinh Bát Nhã đó. Ở đây thì mình không có thời giờ để phân tích Bát Nhã. Nhưng mà cái giáo lý Bát Nhã là có tính cách trợ duyên để chúng ta không chấp vào những cái thế giới tương đối này mà có thể hướng về được cái tuyệt đối. Về cái Bát Nhã thì chúng ta nói phớt qua vài ý. Chứ nói cặn kẽ thì cũng mất thì giờ lắm. Hình như là sư Nhã dạy Bát Nhã phải không? Thì như vậy là quý sư, quý cô đây là cũng có hiểu qua lý Bát Nhã rồi. Nên ở đây tôi chỉ điểm sơ thôi.

[52:33]Thì thường lý Bát Nhã chúng ta nêu qua vài điểm. Thứ nhất là lý vô thường, vô thường cũng nằm trong hệ Bát Nhã, nghĩa là xem mọi việc, mọi vật trên đời này đều thay đổi, do đó chúng ta không bám víu vào nó, cái thứ nhất. Cái thứ hai là cái duyên hợp. Phải không? Bất cứ cái gì cũng do nhân duyên mà tạo thành chứ không tự nó có. Do đó nó không có tuyệt đối. Do hợp thì có lúc nó phải tan. Cho nên từ cái nhà thì có lúc không là cái nhà. Gắn lại thành nhà, không gắn nữa thành từng cái vật liệu rời rạc. Đó là cái lý thứ hai là duyên hợp. Và do cái lý vô thường và lý duyên hợp thì chúng ta có cái lý thứ ba là không có tự ngã.

[53:20]Không có tự ngã nghĩa là mỗi sự vật nó không có cái bản chất chính của nó. Không hề có cái bản chất chính. Như mình nói tôi là tôi, tìm cái tôi không ra. Chẻ toang nát con người này không có cái tôi. Đó. Phân tích hết toàn bộ tâm lý thì không có một cái tâm lý làm chủ tể duy nhất. Cũng như là một cái cái máy à tìm một cái gốc của cái máy không có mà đều do nhiều cái hợp thành. Đó. Từ cái vô thường, cái duyên hợp mà mình có cái lý không có tự thể, không có tự ngã. Nói phớt thôi, chứ phân tích vô thường với cái nọ thì nó sâu sắc ghê gớm lắm. Yếu tố thời gian là gì, yếu tố không gian là gì thì rất là sâu, nhưng hôm nay mình không có nói.

[54:03]Thì à mỗi đêm chúng ta tụng bài kinh Bát Nhã có nghe cái câu là: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Ừ, sắc là tượng trưng cho cái gì nó có, hiện hữu phải không? Không là rỗng, thì tượng trưng cho cái gì nó không hiện hữu. Nó tượng trưng thôi, chứ đúng nghĩa nó là chỗ khác. Đúng nghĩa sắc là cái cái hình thức và không là cái gì nó rỗng, không có nội dung. Nhưng mà đi sâu hơn á thì cái sắc nó đại diện cho những cái gì hiện hữu, có. Và không đại diện cho cái gì vô. Hữu và vô luôn, sắc không này đại diện cho hữu và vô luôn á. Thì sắc tức là không, không tức là sắc hay là có tức là không, không tức là có.

[54:50]Tận cùng của tinh thần Bát Nhã nêu luôn câu đó. Tại sao không tức là có, có tức là không?

[55:00]Xin đạo. Mô Phật, bạch Thầy! Theo con hiểu thì có tức là không là bởi vì do duyên nó hợp lại thành thì nó có. Nhưng mà khi duyên nó hết thì gọi là không. Cảm ơn sư. Ai bổ sung không? Huệ Huệ Thiện đi. Mô Phật, kính bạch Thầy. Thì con nghĩ như thế này. Có tức là không, thí dụ như thấy một cành hoa thì mình thấy nó có trước mắt, nhưng nó chỉ hiện hữu trong vài ngày thôi rồi nó sẽ héo đi. Mình vứt vào đống rác chẳng hạn, rồi mình lấy rác đó mình bón cho cây hồng thì nó ra cành hoa khác. Cho nên sắc tức thị không, không tức thị sắc là vậy. Mô Phật. Trả lời theo lý vô thường. Có ai bổ sung nữa không?

[56:03]Có ai giơ tay nói thêm không?

[56:09]Sư Huynh.

[56:14]Mô Phật, bạch Thầy. Trong kinh Bát Nhã có dạy rằng là: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Theo con nghĩ là cái bản chất của sắc nó từ nơi cái năng lượng của cái không đó mà thường ta không thể thấy được. Ừ. Cho nên bản chất nó rất là thâm sâu. Nhưng mà nó là cái thể của cái sắc, có nghĩa là từ cái sắc đó mà nơi cái không đó mà hiển hiện. Và cũng chính nơi cái sắc đó mà trở về cái không. Từ đó là nó nó nương vào nhau mà nó sanh sanh hóa hóa. Cho nên là nếu mà nói về nhân từ á, sắc không là như vậy. Chứ thực sự ra thì hai cái này nó cũng nương sanh nương nương với nhau mà nó sanh. Mô Phật, con hiểu chút đỉnh như vậy thôi.

[57:06]Tôi phải tu 10 năm nữa tôi mới hiểu câu này. Người phụ Liên Ký đi.

[57:19]Nam Mô A Di Đà Phật.

[57:28]Theo con nghĩ cái theo ý của con thì lý Bát Nhã có nghĩa là cái gì nó hữu hình thì nó hữu hoại. Tại vì cái mình có cái tâm mình chấp thấy, chấp có, chấp không. Do đó biến thành ra sắc cũng cũng có rồi không, mình thấy không thì nó hết, còn mình thấy có thì nó có. Còn nhưng mà cái gì cái gì ở trên đời này mà hễ hữu hình thì hữu hoại thôi, không có cái gì thật hết. A Di Đà Phật. Dạ, cảm ơn cô. Giờ cô Trí đi. Mô Phật, bạch Thầy. Con a con a hiểu theo cái ý của chú Huệ Thiện là vô thường đó Thầy.

[58:11]Thôi, cô cô Hòa đi.

[58:17]Liên Hòa. Hòa. Mô Phật, bạch Thầy. Như con hiểu thì sắc tức thị không, không tức thị sắc đó thì cũng như mình không có chấp cái thân này là chắc thật của mình. Nếu như mình chấp chắc thật á thì một ngày nào đó nó hoại đi rồi mình sẽ đau khổ. Thì mình không chấp á thì tự nhiên nó có, còn mình chấp á thì tự nhiên chết thật không đó Thầy. Hay. À cái cô gì mà ngồi bàn thứ hai từ dưới đếm lên đầu bàn á? Tên gì? Liên Hoa. Liên Hoa. Mô Phật, bạch Thầy. Theo con hiểu thì "sắc tức thị không, không tức thị sắc" có nghĩa là có nghĩa là không, mà không nghĩa là có. Rất là hay. Thôi, sư Khải đi. Câu trả lời đó hay đó.

[59:30]Mô Phật. Mô Phật. À theo con hiểu á thì nếu mà cắt nghĩa cái lý sắc không á theo cái lý nhân duyên vô thường như một số vị vừa đề cập á thì chính trong kinh Lăng Nghiêm Đức Phật cũng phủ nhận luôn cả cái vấn đề nhân duyên nữa. Thì cái lý sắc không của Bát Nhã thì nó nó có cái tầm tầm vóc là nó nó siêu vượt lên tất cả những cái ý tưởng mà chúng ta có cái gì đó để bám vào. Có thí dụ như bây giờ một cái vị diễn viên mà họ đóng một cái vai trò ông vua. Thì cái vai vua đó thì thấy hiện hữu đó nhưng mà thực tế nó bản chất nó như có mà như không có. Thành ra đây là cái lý sắc không, hiện hữu mà đồng như đồng với không hiện hữu.

[1:00:18]Phủ nhận cái lý Bát Nhã, phủ nhận cái cái sự khả hữu của tất cả các pháp, thành ra nó siêu vượt lên cả nói đó là duyên hợp hay không duyên hợp. Còn như nói không tức thị sắc đó là nói về cái cái lý tuyệt đối của tất cả các pháp đó thì làm nền tảng cho tất cả. Nó không thể dùng một cái ý tưởng nào để chúng ta mà diễn đạt nó được. Nhưng mà cái đó nó không có nghĩa là nó không trơ, nó nó không có gì hết, mà nó là cái thể, nó là cái một cái gì tuyệt đối của cho tất cả. Mô, cái này siêu quá.

[1:00:57]Thôi bây giờ, mấy sư, quý sư, quý cô đều cũng đã có học qua Bát Nhã nên mỗi người đều cũng có một cái cái chỗ y cứ nào đó. Để mình mình nhìn cuộc đời này nó là là tạm bợ, là tương đối, là duyên hợp thì mỗi người cũng đều có một cái chỗ để dựa vào thì đó cũng là cái tốt. Nhưng mà hôm nay thì tôi giải thích thêm một chút. Quý sư, quý cô học qua kinh Tứ Thập Nhị Chương chưa? Học chưa? Có học rồi. Là có một lần Đức Phật nói là: "Ta xem cái hồ lớn Ấn Độ là ao A Nậu phải không? Cái hồ lớn Ấn Độ giống như là một giọt nước trên bàn chân ta. Và ta xem cái tấm áo lụa là sang trọng cũng đồng như là cái mảnh vải rách tả tơi."

[1:02:01]Tại sao Đức Phật nói như vậy? "Ta xem cái hồ lớn như vậy cũng bằng như một giọt nước. Ta xem những lụa là, gấm vóc sang trọng cũng giống như là chiếc áo rách tả tơi." Do đâu Đức Phật nói điều đó?

[1:02:17]Sư Hai.

[1:02:20]Mô Phật, vì Đức Phật thấy rằng các pháp ở cái bản chất nó vốn bình đẳng. Vâng sư. Ở đây tôi nói thêm nữa nè. Sự thật đó, quý sư, quý cô bình tâm ngồi lại nhìn lại nha, lắng tâm lại, mình đặt mình vào tâm trạng Đức Phật để mình thấy được, hiểu chỗ Đức Phật thốt lên câu này: "Ta xem một cái hồ lớn như một giọt nước" bởi vì tâm Ngài sao?

[1:02:49]Tâm Ngài không còn phân biệt, phải không? Chớ mình nói ra bên ngoài thì các pháp bình đẳng, nhưng mà để thấy được cái đó là do cái tâm bất động, không phân biệt, tâm trong an định sâu xa nên nhìn các pháp bình đẳng. Đây là do cái tâm bất động, tâm cực kỳ thanh tịnh. Quý sư, quý cô đồng ý không? Cho nên Ngài không lý luận, không có lý luận như chúng ta là tại cái này cũng vô thường, cái kia cũng vô thường nên hai cái bằng nhau. Không phải tại cái ao lớn vô thường, ao nhỏ vô thường, ao lớn duyên hợp, ao nhỏ duyên hợp nên hai cái bằng nhau, Ngài không có lý luận dài dòng. Trong Ngài đó, trong cái sự thanh tịnh tuyệt đối đó Ngài thấy các pháp bình đẳng.

[1:03:32]Không phân biệt nữa, không phân biệt hơn thua, hơn kém nữa. Nên nhìn cái người giàu cực kỳ, nhìn người nghèo cực kỳ, lòng Ngài không có cái động tâm vì người giàu hay người nghèo. Cho nên Ngài thấy như nhau. Cho nên ở đây nơi cái chỗ này Ngài không có đi ra ngoài lý luận nhiều mà đứng trên từ cái thanh tịnh của nội tâm thốt lên một cái câu đó thôi. Đó, nên người đứng trên tâm của mỗi người, còn chúng ta đó, từ cái câu thốt lên của Đức Phật á bắt đầu chúng ta phân tích. Phân tích các pháp có nghĩa là chúng ta chạy ra bên ngoài. Và cái hệ thống Bát Nhã ở chỗ này chúng ta phải khéo. Đây là tôi bổ sung thêm thôi.

[1:04:08]Thường á cái người học Bát Nhã đó, đa số chúng ta bắt đầu bằng cái phân tích cái sự vật, sự việc bên ngoài. Nhưng mà cái cốt lõi của Bát Nhã lại là cái tâm ở bên trong. Khi tâm mình thanh tịnh rồi thì không cần lý luận nhiều, tự nhiên mình cảm thấy không dính vào sự vật, sự việc bên ngoài. Ví dụ như mình thật ra cũng chả thèm để ý cái nhà này nó thường hay nó vô thường, cũng chả để ý nữa, hay là người ta cho mình chiếc xe chả để ý nó thường, vô thường, hợp hay duyên hợp. Nhưng mà ví dụ nó có mất đi hỏi mình có buồn không, nói: "Ôi! Vô thường mà." Do tâm thanh tịnh tự nhiên thốt lên một câu tự tại thôi.

[1:04:43]Cho nên cái câu nói đó là giống như nó biểu hiện của trí tuệ nhưng sự thật nó xuất phát từ cái tâm tự tại. Chứ trước đó mình cũng chả thèm quán nó thường hay vô thường nữa, nhưng mà tâm bất động rồi. Bất động cho nên có mất mát hay là có ra gì cái tự nhiên mình thốt: "Ôi! Duyên hợp mà. Hợp thì ở, tan thì đi." Cái câu tự tại là do tâm mình thanh tịnh mới nói, chứ trước kia mình không chuẩn bị. Nhưng mà cái người mình học đạo, trên lý Bát Nhã thì mình hay lý luận bên cái sự việc, sự vật mà mình không đứng trên tâm. Còn Đức Phật, Ngài đứng trên tâm Ngài nói: "Mà ta xem cái ao đó với cái giọt nước bằng nhau" mà Ngài không lý luận.

[1:05:18]Do tâm cực kỳ thanh tịnh nên các pháp không còn bị phân biệt nữa. Hồi nãy là chúng ta nói cái lớn, cái nhỏ phải không? Là cái ao lớn với cái ao nhỏ nó giống như bằng nhau bởi vì tâm Ngài bất động. Bây giờ chúng ta tiếp tục phân tích cực kỳ hơn, khác biệt hẳn luôn á, có và không. Hồi nãy đó, cái lớn và nhỏ, dù là nhỏ nhưng vẫn còn hiện hữu, phải không? Cũng là cái có. Nhưng mà cái này có lớn và cái này có nhỏ. Nhưng bây giờ Bát Nhã thì tiến lên một mức nữa là cái có và cái hoàn toàn không có gì hết. Thì ở đây cũng là đứng trên cái tâm. Cái tâm đến chỗ cực kỳ thanh tịnh thì có và không có bằng nhau.

[1:06:00]Chỗ này quý sư, quý cô cảm nhận được không? Được không? Có lý luận nữa không? Có cần phải lý luận không? Lý luận càng xa. Nghe câu này xong, nghe nói sắc tức thị không, không tức thị sắc thì mình chỉ lo xem lại tâm mình nó còn động hay xao động thôi. Tại vì bất động á thì tự nhiên nghe sắc tức là không, không lý luận gì nữa hết. Các pháp bình đẳng, cái có và cái không có giống như nhau. Hễ có 100 ngàn và cái không có một đồng nào bằng nhau, do tâm thanh tịnh. Cái yếu quyết của cái câu sắc tức thị không, không tức thị sắc nó vượt ngoài lý luận mà chỉ do cái tâm bất động mà thốt lên được lời đó.

[1:06:39]Và cái người nào tâm cũng giống như vậy thì ngay đó cảm nhận được, tương ứng được, cũng cười với nhau, không cần lý luận nữa. Đó, cho nên tuy Bát Nhã nó có hai, ba mức độ. Mức độ mình mới học thì mình cũng lý luận bên ngoài sự vật, sự việc cho vui, nhưng đi tận cùng của nó, nhìn được sự vật, sự việc như vậy là do tâm. Ráng tu nhiếp tâm thanh tịnh để chúng ta có cái nhìn như vậy, nó bình an như vậy, không có lý luận, bình an.

[1:07:06]Thì chúng ta đã học qua tổng quát sáu cái yếu tố mà gọi là cố chấp. Thì chúng ta thấy rằng mỗi cái yếu tố đó mà muốn vượt qua được nó đều đòi hỏi cái gì? Đòi hỏi cái gì? Hôm trước ta nói rồi. Muốn đừng bị chấp thì chúng ta phải có cái gì? Trí, trí tuệ, phải không? Đều phải có trí tuệ. Bây giờ chúng ta không cần phải lặp lại. Ví dụ như nói rằng lệ thuộc vào lệ lối cũ thì bây giờ chúng ta cũng phải có trí tuệ để biết đúng sai, hoặc là chúng ta đừng bận tâm trắc móc những sai sót lặt vặt của người chung quanh thì chúng ta phải biết cái trí tuệ đó, cái lỗi của họ nó có phải là dấu hiệu của một sai

[1:07:49]lầm nghiêm trọng hay chỉ là chỉ là chuyện lặt vặt, phải biết. Hoặc là cái chấp chỉ nhìn thiện ác ở một khía cạnh nhỏ thì chúng ta cũng phải có trí tuệ để chúng ta biết cái thiện đó, cái ác đó ở trong mức độ này và mức độ khác nó lại khác nhau như thế nào, phải không? Đó, nên mọi cái đều cần trí tuệ. Phá được chấp là phải có trí tuệ. Mà trong đó Bát Nhã cũng là một một yếu tố thôi. Chứ còn còn nhiều yếu tố khác. Hôm nay còn ít thời gian, còn 15 phút, chúng ta có thể học qua bài Chỉ Trích đi. Mình học nhanh thôi.

[1:08:30]Chỉ trích nha, định nghĩa thế này: là nói lỗi người khác cho nhiều người biết và nói trong tâm trạng hằn học, oán ghét, thiếu tình thương. Đó là cái định nghĩa về chỉ trích, mình quy ước với nhau nó như vậy, chứ còn ai muốn định nghĩa khác thì cũng có thể được, nhưng bây giờ mình cứ tạm quy ước với nhau như vậy. Là chỉ trích là như vậy, là mình nói lỗi người khác một cách rộng rãi cho nhiều người biết và mình nói trong cái tâm trạng hằn học, oán ghét là thiếu tình thương. Đó. Đây ai là là chuyên gia? Hả? Trong lớp mình ai là chuyên gia chỉ trích? Có không? Giơ tay lên.

[1:09:14]Còn khác với cái chỉ lỗi góp ý là mình nói riêng với người có lỗi, mình nghĩ họ có lỗi, chứ chưa chắc họ có nha, nhưng mình cứ cho là họ có lỗi đi, và mình nói riêng với họ và nói trong cái tâm trạng thương yêu, mong cho người đó hết lỗi. Đó là cái mà chỉ lỗi đó, nó khác với chỉ trích. Khác là có tình thương hay không có tình thương và nói bừa bãi hay nói một cách kín đáo. Ở đây thì chúng ta thường hay chỉ lỗi hay chỉ trích, mỗi người mình xét lại bản thân mình xem?

[1:09:49]Nào cũng có hết.

[1:09:53]Về cái hệ quả của cái chỉ trích nè: Một á là làm cho huynh đệ mình bị mất danh dự, phải không? mình nói xấu người ta, mà mình nói lỗi người ta mà. Thứ hai đó, là làm cho sự chia rẽ xuất hiện. Ví dụ như là từ nào giờ thấy ai cũng thương sư sư Phương hết. Ừ. Cái cái tôi thấy tôi tức, cái tôi nói xấu ổng. Tôi nói xấu sư Phương cái, cái cô Tý, cái cổ hết ưa. Cái cô Tý, cổ cũng nhìn cái sư Phương cổ cũng né luôn. Đó bắt đầu là sự chia rẽ đó. Nhiều khi người ta nghe lời mình, người ta đem lòng ác cảm với người kia. Đó là làm cho sự chia rẽ xuất hiện. Cái hệ quả thứ hai là làm cho sự chia rẽ. Mà sự chia rẽ trong đạo Phật nó mang cái tội gọi là tội gì?

[1:10:43]Phá hòa hợp chúng, phải không? Tội này ngũ nghịch, mới thê thảm lắm. Đúng cái lời nói chỉ trích sơ sơ, nhưng mà gài một lát thành ra tội ngũ nghịch đó, đọa địa ngục vô gián á, đâu có dễ chịu đâu. Cái thứ ba đó, là làm cho người cư sĩ mất tín tâm với tu sĩ, phải không? Làm cho người ngoài tôn giáo có dịp để công kích đạo Phật. Mà đây là cái tệ của mấy chùa mình, cứ toàn là gặp Phật tử rồi cái nói chuyện xấu mấy ông thầy, mấy cô khác làm cho người cư sĩ họ mất tín tâm với đạo mình. Đây là điều rất là sai lầm. Và cái thứ tư là, từ cái sự mất tín tâm đó, người cư sĩ không còn cái sức mạnh tinh tấn nữa.

[1:11:24]Á, con người ta sống nhờ niềm tin nhiều lắm, nhất là niềm tin vào sự cao cả của tâm linh á. Ví dụ người ta tin rằng à trên cuộc đời này có nhiều người tu hành tốt cái thì họ ráng tu. Còn nói: "Ủa, người tu ít quá, thấy tu tu chứ không ai được cái gì, ai cũng xấu xấu", cái họ không tin, họ không tinh tấn nữa. Như có một ông thầy đó ổng kể chuyện, ổng nói hồi mới tu tinh tấn ghê gớm lắm, ngồi thiền đồ đau chân cỡ nào chịu cũng được. Qua hai năm rồi tự nhiên sao nghe đủ thứ chuyện chùa hết, cái lúc ngồi thiền hết nổi rồi, đau chân chút xả liền, ngồi không được nữa. Mất cái sức mạnh tinh tấn á là do biết chuyện

[1:11:58]xấu người khác nhiều quá rồi mất tín tâm. Cho nên chúng ta thấy một cái lời chỉ trích nó giống như là nói cho đã miệng mình vô thưởng vô phạt, mà kỳ thực là cái tai hại phía sau nó nhiều ghê gớm lắm. Mà như vậy cái quả báo mình nó là sao? Nó cũng phải phải tương xứng, tương xứng với điều đó. Vì những cái quả báo nè: mất phước, mất uy đức, không còn ở địa vị tôn quý nữa, người xuất gia có thể bị hoàn tục. Cho nên cái người xuất gia nào mà cứ mở miệng ra chê điều này chê điều kia là có ngày đó nha, có ngày hoàn tục đó, nên mình cẩn thận cái miệng mình.

[1:12:39]Cái thứ hai là khi mình chỉ trích người ta nhiều á, tự nhiên tư cách của mình trở nên kém cỏi, không còn có cái vẻ đàng hoàng uy nghi nữa. Nhiều khi mình hay đùa giỡn bậy bạ mà nói những câu tầm thường, mà trước kia mình không có. Nhưng khi mình mất cái phước rồi, tư cách mình tự nhiên nó bị giảm, bắt đầu mình nói tầm bậy tầm bạ. Cái tư cách mình nó kém rồi, chưa tới mức làm bậy đâu, lát bắt đầu từ từ làm bậy nữa. Hễ mình chỉ trích người ta rồi tới phiên mình. Cái thứ ba là trình độ tâm linh bị lui sụt. Thí dụ mình đạt được những cái thiền nào đó, nó khá. Nhưng mà mình chỉ trích người khác quá rồi cái mức độ thiền của

[1:13:17]mình nó giảm lụt nghề từ từ lại, có khi giảm nặng luôn. Đó. Bây giờ chúng ta chữa trị nè. Bây giờ trước hết á là chúng ta tìm cái nguyên nhân mà cái mối chỉ trích này từ đâu. Khi mình tính nói xấu người đó, chỉ trích người đó. Bây giờ mình giật mình mình nhìn lại, mình xem cái tâm mình cái nguyên nhân nó nó ở đâu? Đây là những cái nguyên nhân gợi ý nè, có ai tìm ra được nhiều cái thì mình kể ra nghe cho vui, còn đây là tôi gợi ý những cái: là chúng ta có cái thói quen nói xấu người vắng mặt, hổng ghét gì hết cũng nói đại, nói xấu cho vui. Nghĩa là có tật ngồi lê đôi mách, tìm mấy chuyện giật gân của người này

[1:13:56]người kia để làm quà trò chuyện cho vui, để người khác chú ý mình. Chứ còn kể chuyện bình thường không ai để ý mình hết. Mình phải kể chuyện mà ông nọ leo non kia, bà kia chui dưới đất vậy đó, thì người ta nghe người ta mới vui vui cái tai người ta để ý dòm mình. Đó là cái người mắc tật lê đôi mách mà thích, thành thói quen nói xấu người khác. Thói quen này nguy hiểm á. Ở đây có ai bị không? Nhất là mấy cô đó, có bị không? Chắc biết rồi. Cái thứ hai nè, nguyên nhân thứ hai nè, là nguyên nhân này bắt đầu nó trầm trọng nè, muốn người khác xấu để còn lại mình có vẻ tốt.

[1:14:33]Là có cái ảo tưởng kỳ lạ lắm, hễ người khác xấu là mình giống như mình còn lại một người tốt vậy, mình đứng hạng nhất. Giống như là đi thi vậy á, không ai thi hết mình thi chắc chắn mình đứng hạng nhất rồi đó. Cuộc đời này ai cũng dở hết, rồi tự nhiên không nói tới mình là mình cũng là người tốt mà. Nên thích nói xấu người khác là một trong những nguyên nhân mà nó âm thầm lắm, nguyên nhân này nó bí mật bên trong á. Mình phải để ý thật kỹ mình mới thấy á, chứ không để ý không thấy nguyên nhân này. Nên mình thích nói xấu người này là xấu người kia, không nói gì tới mình hết là tự nhiên mình tốt.

[1:15:05]Cái này nó cũng giống như cái nguyên nhân thứ ba là mình muốn nâng mình lên bằng cách hạ người khác xuống. Nguyên nhân thứ ba cũng là vậy, thay vì mình nâng mình lên, mình hạ người khác xuống. Nguyên nhân thứ tư là lòng đố kỵ. Mình bực tức khi thấy người khác thành công tiến bộ, nên mình tìm cách chỉ trích để hạ bớt cái sự thành công của người khác. Cái đố kỵ. Cái đố kỵ này lại phát xuất từ cái ích kỷ, mà như chúng ta nói, ích kỷ là mầm mống của sự ác độc. Cho nên khi chúng ta ích kỷ, khi chúng ta đố kỵ thì chúng ta dễ công kích, hạ nhục người khác, làm cho họ giảm bớt cái uy tín đi.

[1:15:49]Và bây giờ, cái phương pháp. Thứ nhất, chúng ta sám hối trước Phật, sám hối phát nguyện trước Phật về những cái lỗi mà mình đã có, quỳ trước Phật rằng: "Nguyện, là con nguyện sám hối những cái lỗi mà hay nói xấu mọi người, nói xấu chúng sinh", đó. "Xin cho con được sáng suốt, từ đây thương yêu và không có nói bậy nói bạ." Sau đó thì trong đời sống mình thực tập, tập cái thói quen ngược lại là kể điều tốt của người khác. Nghĩa là khi mình nhìn ai, biết chuyện gì của ai là cố gắng mình tìm hiểu cái điều tốt của họ. Và khi có gì cần phải kể thì đem cái điều tốt của người này ra người kia mà kể, đừng có kể điều xấu nữa.

[1:16:32]Tập lại, được không? Mấy cô nè, được không?

[1:16:38]Mấy sư thì thật ra cũng có bị mà ít hơn. Người nam thì ít bị mấy cái đó, người nam mà bị thì bị nặng hơn. Người nam mà bị thì bị vấn đề nghiêm trọng, dữ dội, trên vấn đề hệ tư tưởng á, đem tư tưởng này công kích tư tưởng kia. Ví dụ người nam thì làm chuyện lớn, đọa là đọa chết luôn. Còn người nữ thì nói xấu lặt vặt, nói xấu hoài. Bây giờ mình vậy đó, vừa học qua bài Cố chấp, thì cũng đọc qua một chút cái bài Chỉ trích luôn. Lần tới thì mình còn học một lần nữa rồi mình nghỉ Tết ha, học một lần nữa rồi nghỉ Tết. Qua Tết thì tôi còn dạy nữa hay không thì chưa có tính chắc được, vì tôi còn một số việc. Còn khoảng năm phút phải không?

[1:17:16]Có ai hỏi gì không? Mô Phật. Con xin Thầy có một câu hỏi. Bạch Thầy, trong kinh nói rằng Đức Phật á thường nói rằng trên cái lý vô thường á, tất cả các pháp vô thường tùy theo duyên sanh và tùy theo duyên diệt, tất cả pháp hữu vi đều như thế hết. Nhưng tại sao trong kinh Pháp Hoa thì lại có câu rằng: "Các pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ"? Thì như vậy, nếu thế gian mà tướng thường trụ thì nó ngược lại mâu thuẫn với cái lời Phật nói? Một đằng vị Phật một đằng là lại nói các pháp vô thường, một đằng nói rằng thế gian pháp thường trụ như vậy có vẻ mâu thuẫn quá. Thầy giải thích. Cái chỗ này nữa, cái ắt yếu của câu đó nằm ở chỗ chữ tâm nữa một lần nữa.

[1:18:02]Mà để hiểu câu này đó, để hiểu cái câu đó trong kinh Pháp Hoa đó thì chúng ta nên hiểu cái câu này của ngài Tăng Triệu, của ngài Tăng Triệu. Thật ra lâu quá rồi tôi không nhớ hết cái đoạn bốn cái câu kệ của ngài Tăng Triệu, mà tôi chỉ nói coi cái câu nào tôi nhớ nè. Ngài ngài Tăng Triệu ngài nói câu này nè, là: "Bụi trần lăng xăng mà chẳng động, nước sông chảy gấp mà chẳng trôi, à

[1:18:30]hình như là: "Trăng qua bầu trời mà chẳng đi". Có bốn câu lận mà sao tôi nhớ có ba cái, lâu quá rồi, mười mấy năm rồi. Bụi trần lăng xăng mà lại không động, nước sông chảy gấp mà lại không có trôi, trăng qua bầu trời mà không có đi... À, "Gió bão... mà chẳng..." Động, người ta bảo chẳng động, chẳng gì đó, đại khái vậy đó. Thì cái câu đó hồi xưa tôi cũng điên đầu điên óc với câu đó. Tại sao ngài khẳng định nó lăng xăng mà ngài lại kết luận nó không động? Thì tôi nói cũng vậy, cái chữ tâm này đây, ắt yếu là chỗ này. Đây là cái tâm trạng của cái người ở trong định, cái tâm trạng người trong định mà mình dùng lý luận không nói được.

[1:19:12]Ví dụ khi mà mình nhiếp tâm trong định, tâm mình thật sự bất động rồi, khi mình nhìn cái này nó lay động nè, phất phơ phất phơ. Lúc đó mình thấy khác với cái nhìn trước kia. Khi mình tâm còn động á thì thấy nó động là động. Nhưng mà khi tâm mình bất động rồi đó, thấy nó động mà dường như nó không động. Cái "dường như nó không động" này không giải thích được. Không giải thích được, cứ nói ra thôi mà không giải thích, ai bắt giải thích: thua. Thì thôi ráng tu tới đó rồi sẽ thấy như vậy. Nên đây nó là một cái cái vũ trụ quan mới của một người ở trong định, trong cái bất động, không giải thích được cho người khác nghe.

[1:19:47]Đó là cái trạng thái của một người ở trong cái định không lay động nữa. Giờ tôi nói ví dụ nhỏ thôi, mình sẽ cảm nhận được. Như hồi xưa khi tâm mình còn lăng xăng á, cái mình nghe bên hàng xóm gây lộn... Bữa nay mình sao? Bực. Phải không? Ổng chửi bả, bả chửi ổng rồi cái la làng, lát nghe chén bay dĩa bay. Bên đây họ chửi tiếng đây mình bực cái, chửi bực. Nhưng mà tới khi mà tâm mình nhiếp được rồi, bên kia rầm rầm, y đùng y đùng, đây: "Ủa, hổng có gì động hả?". Đúng không? Quý sư có không? Thì đó. Hổng có thiếu đâu. Nhưng mà trước mình rất khó chịu, nay mình hổng khó chịu, thì đó là đã có tiến bộ chút rồi.

[1:20:25]Thì ai hỏi mình á, cái người mà họ còn động, họ nói: "Trời, sao nó bực mình, khó chịu quá", thì mình nói: "Thôi kệ nó, coi như không đi". Nhưng sao coi như không được, phải không? Cái chữ "coi như không" cũng chỉ có người đạt được cái tâm định mới nói được câu đó. Chứ còn cái người mà chưa đạt định á, bắt coi không được, cái nước tôi qua tôi đốt cái nhà đó mới mới hết, chứ còn cái người mình tâm vào định rồi thì thôi coi như không, nói nhẹ nhàng. Sự thật là do tâm định. Cũng là cái tâm này thôi. Nên cái nhìn trên thế giới này tại sao đạo Phật mình hay nhìn ngược đời là do từ cái định mà nhìn, nên xuất hiện một cái vũ

[1:20:55]trụ quan mới, một cái nhân sinh quan mới là cái chỗ đó đó. Cho nên các hả, gọi là thị pháp trụ pháp vị đó, thế gian tướng thường trụ. Trong khi người ta nói tất cả pháp vô thường, bên kia nói ngược lại, không sai. Bởi vì ngài nói các pháp thay đổi để dạy cho cái người phàm phu cố chấp. Cố chấp quá đi, nói cái gì cũng thay đổi hết trơn để họ đừng chấp. Nhưng mà để cảm thông với những người đã được vào định, đắc đạo với nhau thì nói các pháp bất động. Thì người kia nghe gật đầu liền, khỏi cần giải thích. Tại ở trong cái tâm này họ thấy như vậy, cảm nhận được điều đó. Mô Phật.

[1:21:35]Ai định hỏi câu nữa hả? Mô Phật, bạch thầy. Tất cả các vị A-la-hán thì như ngài Mục Kiền Liên á thì vấn đề làm chủ tâm thì các ngài đã tự tại rồi. Nghĩa là các ngài muốn dùng thần thông, các ngài nhiếp tâm vô định tức thì để có thể làm tất cả các chuyện phi thường. Nhưng tại sao mà khi nghiệp lực khởi lên á thì thần thông đó liền biến mất? Như vậy sự tự tại làm chủ tâm đó so với nghiệp lực đó không có được tự tại thì phải giải thích thế nào cho trường hợp ngài Mục Kiền Liên bị ngoại đạo đả thương đến chết? Mô Phật. Đây là cái hay của đạo Phật. Đây là cái chỗ hay của đạo Phật. Là ở các tôn giáo khác á, họ đi tìm một cái quyền năng

[1:22:18]hoặc là họ nương nhờ cái quyền năng của Thượng đế để giải quyết sự việc, nên nhiều khi cuộc sống họ không có đạo đức. Miễn họ nịnh được cái ông thần của họ, ông thần họ che chở họ là họ hòa hết, giống như họ hối lộ, nịnh thần, có phe cánh vậy. Nhưng trong đạo Phật thì tất cả đều thua cái nghiệp, nhân quả. Cái này nó tuyệt đối hơn mọi cái khác. Cái nghiệp nó tuyệt đối, bởi vì cái nghiệp nó từ trong bản thể tuyệt đối lưu xuất. Phải là người đắc đạo mà tới tận cùng của bản thể đó mới thấy được cái nhân quả trong này ra. Cho nên ngài thiền sư Tổ Giác Hoa Nghiêm á, ngài có nói câu này nè: "Ra rừng như cũ vào bồng hao," Bồng hao là gai là cỏ đó.

[1:22:56]Ra khỏi rừng nè, nhưng mà sự thật như cũ lại chui vào cỏ lại. "Lưới trời lồng lộng thoát được nào? Ai tin nghiệp duyên không thể trốn, Trở về chẳng sợ lời nói cao." Cái câu đó nghĩa là nói là mình đã thoát khỏi sinh tử luân hồi, kỳ thực là vẫn không có thoát ngoài nhân quả đâu. Ra rừng cứ như cũ vào bồng hao. Lưới trời lồng lộng trốn được nào? Ai tin nghiệp duyên không thể trốn, người nào mà tin sâu cái nhân quả này, nhưng mà ngài nói chữ "tin" thật ra là ngài khiêm tốn thôi, tức là ngộ đến chỗ tột cùng mà thấy được đường đi của nghiệp thì người đó trở về chẳng sợ lời nói cao, nghĩa là cho ai hỏi đáp cỡ nào cũng đáp lại tự tại hết.

[1:23:35]Cho dùng thiền ngữ bí hiểm cỡ nào, người đó trả lời được hết. Vì cái sức ngộ của họ thấy được tới cái nghiệp là đã tột rồi. Chứ còn ngộ chừng chừng thấy không tới cái nghiệp này. Đó, cho nên cái nghiệp nó tuyệt đối. Và như vậy, khi một vị A-la-hán là các ngài thấy được cái duyên của mình, cái nghiệp của mình. Các ngài thấy cái nghiệp cái duyên của mình, với lại cái thấy cái trí tuệ đó các ngài biết cái nghiệp nó cao hơn. Các ngài không cưỡng lại. Mà đây nó có chỗ thế này nè: không trốn nợ mà tự ý chọn lúc trả nợ, đây là cái hay của người đắc đạo. Không có trốn đâu. Hễ mà quyết định vào Niết-bàn rồi là phải trả lần cuối cho xong rồi.

[1:24:16]Gom về hết bao nhiêu nợ trả một lần cuối, kể cả Đức Phật. Nhân quả là tuyệt đối. Cho nên ngài Mục Kiền Liên ngài có trí tuệ và ngài chọn lúc ngài trả nghiệp tới lúc nào đó. Cho nên trong kinh thường á thì chúng ta nói là tới lúc đó thần thông ngài biến mất, ngài không sử dụng được để chống cự lại. Không phải là ngài chống cự đâu, không phải là ngài biến mất đâu. Ngài bình thản chấp nhận thôi. Cho nên đây là chỗ ghi sai của người sau không hiểu được, ghi lại lầm, mới nói: "Trời ơi, tới thần thông thua nghiệp", không phải đâu. Ngài tự tại song song với nghiệp, tại vì thần thông của ngài cũng từ bản thể lưu xuất mà, nên nó bằng nghiệp.

[1:24:51]Và ngài tự tại trong lúc trả nghiệp. Ngài sử dụng ngài cản lại là không làm gì được á. Khi mà ngài chưa muốn trả nghiệp, ngài còn cái nguyện chưa muốn trả là ngài dùng thần lực là đừng có ai đụng tới, nhưng mà ngài nghĩ tới lúc nó thích hợp rồi. Giống như là thiền sư Nham Đầu Toàn Hoát, nghĩa là ổng cái chỗ ngộ rất cao, ổng ngộ cao hơn ngài Đức Sơn - thầy của ổng nữa. Sau này khi ổng mở đạo tràng, về sau thì ổng làm biếng giảng, tại thấy căn cơ thấp quá, ai hỏi ổng chỉ hừ một tiếng à. Rồi cái có người hỏi sao mà thầy ít nói quá, ổng mới nói: "Sau này khi ta chết ta sẽ rống một tiếng". Thì lần đó khi mà giặc kéo tới á, cái trách ổng không có gì dâng cúng á,

[1:25:29]lấy giáo đâm ổng một cái, ổng rống lên một tiếng, cái tiếng rống vang xa mười dặm. Thì lúc đó ổng tự tại hay không tự tại? Quá tự tại mới dùng thần lực mà rống tiếng rống vang xa mười dặm. Cái thần thông rất mạnh, thần lực đâu có đơn giản. Nội công đó là có thể đánh chưởng được phải không? Đâu có thua. Nhưng mà ngài ngồi bất động trả nghiệp, biết cái nhân nằm đó rồi, thấy được cái nhân quả đời trước rồi, đời này trả cái cho xong cho rồi.