Transcript: Ý Nghĩa Xuất Gia

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 49:04

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[1:30]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay nhân cái ngày khánh thành này, Thượng tọa Thích Gia Quang có bảo thầy nói sơ về ý nghĩa mà Đức Phật xuất gia, nên thôi tiện như vậy thầy cũng trao đổi về ý nghĩa đó một chút. Vì ai cũng biết rằng là ngày mùng 8 tháng 2 này là cái ngày kỷ niệm Đức Phật xuất gia. Nhưng mà thật sự là Đức Phật xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 hay là 7 tháng 2 hay đã lọt qua 9 tháng 2 thì không chính xác lắm, bởi vì việc Đức Phật xuất gia là trốn đi trong đêm, mà ta không biết là đã đúng giữa 0 giờ hay trước 0 giờ hay sau 0 giờ của ngày nào. Thì cứ nhớ mang máng là ngày mùng 8 tháng 2.

[2:10]Thôi ta chọn ngày đó ngày mùng 8 tháng 2, ngày mà ánh trăng chênh chếch ở trên cái bầu trời khuya của Ấn Độ. Và ngày mùng 8 tháng 2 đêm Ấn Độ đó thì ta nghĩ chắc cũng lạnh như miền Bắc ta như thế này. Nó cũng vậy, cũng giống cái thời tiết như vậy. Thì trong đêm thì thái tử đã đến lúc mà không thể trì hoãn được nữa, ngài đã quyết định ra đi trong đêm khi mà nghe tin rằng vợ mình vừa hạ sinh được người con. Thì trong đêm đó ngài bước vào phòng, đứng nhìn vợ của mình nằm ngủ, ngủ say, bé hài nhi nằm bên cạnh và ngài cũng không nhìn rõ mặt rồi lặng lẽ bước đi ra. Bước đi ra thì ngài mới đến cái chỗ cái người giữ ngựa Sa Nặc.

[2:57]Cái chữ Sa Nặc, cái tiếng Ấn Độ cũng đọc là Sa Nặc, Sa Nặc. Rồi người Tàu phiên âm qua rồi chuyển qua Việt Nam ta cũng đọc là chữ Sa Nặc. Mới lay cái người giữ ngựa lại, nói: "Ngươi hãy đưa ta đi." Thì cái người này mới ngạc nhiên, mới dụi mắt dậy nói: "Ủa, trời tối nhân gian mờ mịt quá, giờ này thái tử định đi đâu?" Ngài nói: "Chính vì trời tối nên ta phải đi để tìm ra ánh nhiệm mầu." Cái bài thơ của ông Võ Đình Cường viết lại, cô đọng lại cái lời đối đáp rất đặc biệt lúc đó. Thì người Sa Nặc cứ vâng lời thái tử thôi, mới đóng ngựa lại đưa đi. Lúc đó cổng thành được gọi là đóng và nói rằng chư thiên

[3:37]ở trên trời đã dùng thần lực mình để mở cổng thành ra, chứ nếu mà gọi lính canh thì nó động hết cả thành liền. Giờ này thái tử đi đâu? Nhưng mà chư thiên đã dùng thần lực và cánh cửa, cổng thành tự động mở ra và hai thầy trò, chủ và tớ, băng băng cưỡi trên cùng một con ngựa vượt đi. Thì theo sử kể vậy, đến cái sông Anoma lựa cái khúc khúc sông cạn, thái tử cũng rất là rành cái địa lý ở đấy, cho nên lựa khúc sông cạn là cưỡi ngựa băng qua khỏi con sông đó luôn. Băng qua con sông rồi cái đến một cái chỗ yên yên tĩnh, thái tử mới dừng lại, mới tự lấy dao cắt cái búi tóc của mình. Mà cái tóc của cái giai cấp Sát-đế-lợi ngày xưa họ búi đẹp lắm.

[4:21]Người Ấn Độ ngày xưa đó, họ phân biệt cái mái tóc để biết người đó thuộc giai cấp nào. Là nếu mà giai cấp Bà-la-môn á thì họ búi từng lọn, từng lọn vì tóc người Ấn Độ nhiều lắm chứ không như người Việt Nam mình. Cái gien của họ nữa nên tóc họ đổ ra một đống vậy đó. Thì cái người Bà-la-môn là giới tư tế đó, họ sẽ cuốn từng lọn, từng lọn, cái lọn bên phải đắp qua bên trái, bên trái đắp lại phía sau, phía sau đắp lại phía trước bồng lên, tức là rất là kiểu cọ. Và cái model mà đắp tóc của họ là tới ngày hôm nay là thất truyền nên mấy cái tiệm làm tóc bây giờ là không bắt chước được, không biết nữa.

[4:52]Nay thầy nhìn xuống đây chứ thấy chưa thấy ai mà có kiểu tóc của Bà-la-môn hết trơn. Uốn ngoăn ngoăn ngoăn chơi vui thôi chứ còn họ hay lắm, quắt qua quắt lại. Và giới Sát-đế-lợi cũng vậy, giới Sát-đế-lợi là uốn cong qua cong lại rồi tôn lên bới một cục trên này thế nào nó rất là đẹp. Rồi cái giới thương nhân họ sẽ bới như thế nào, còn cái giới mà Chiên-đà-la đó, tức là giới mà giai cấp mà cùng đinh á thì dường như không bới, chỉ thả tóc và cắt ngang cắt ngang cắt ngang và nhìn tóc lòa xòa lòa xòa xuống là biết cái người này thuộc giai cấp cùng đinh. Còn đặc biệt có một giai cấp mà cạo trọc lóc hết thì không giai cấp nữa.

[5:23]Thì lúc đó là thái tử mới sợ là nếu mình giữ cái mái tóc này mà mình tiếp tục mình đi tu thì người ta nhận ra, người ta nhận ra đây là một cái người quyền quý. Mà tại sao mà đi đâu đi lang thang đi tu thế này? Nên ngài tự lấy tay cắt bỏ mái tóc, đưa lại cho cái Sa Nặc và cởi hết quần áo ra, lấy quần áo mà ngài đã chuẩn bị sẵn đắp lên, rồi kêu nói: "Thôi, em hãy mang về kinh thành và nói rằng ta đã đi xuất gia, đừng đi tìm và nói vua cha đừng buồn nữa." Thì Sa Nặc khóc, khóc dữ lắm, nhưng mà rồi sau đó trời vẫn chưa sáng, đêm thấy còn mờ mịt, ánh trăng thì chênh chếch bị khuất bởi những cái tàn

[6:01]lá cây và thái tử quay lưng, không bao giờ nhìn lại một lần nữa, đi luôn, đi vào trong rừng luôn. Sa Nặc đứng đó khóc, cứ khóc, ôm cái mái cầm mái tóc và cầm vàng bạc lụa là cái áo của thái tử đứng khóc, khóc ròng cho đến khi mà thái tử đi khuất, không thể chờ đợi được nữa mà trong rừng vắng ở một mình thì cũng sợ. Thế là cứ gói đồ hết lên con ngựa rồi đi phi ngựa về. Hôm sau thì kinh thành đều biết cả là thái tử đã đi tu. Bây giờ không biết đi đâu tìm, thì lúc đó là vua cha Tịnh Phạn rất là buồn, rất là buồn. Vì trước đó là vua cha đã tìm cách cản trở không cho thái tử đi tu. Từ nhỏ là thái tử đã biểu lộ một cái thông tuệ khác thường.

[6:43]Từ khi sinh ra đến khi lớn lên, cái con người mà học một biết một trăm. Câu nói này không hề là cường điệu. Ta thường thường ta nói trong nhân gian nói rằng cái người giỏi là người học một biết mười á, thì ta cũng chỉ nghe vậy thôi chứ ta không hiểu học một biết mười là cái gì. Nhưng mà thái tử ta là học một biết một trăm. Học một biết một trăm là sao? Thì nói ví dụ thế này thôi, thời ấu thơ đó thì thay vì là phải gửi thái tử về cái một cái ngôi trường để dạy cái hàng lãnh đạo ở Ấn Độ là trường ở Benares. Ở Benares có một cái trường chuyên dạy những người lãnh đạo, các vương tôn công tử đều kéo về đó học.

[7:15]Nhưng mà vua cha Tịnh Phạn thương quá, không cho đi học, mà mời các giáo sư giỏi về kinh thành Ca Tỳ La Vệ để dạy. Thì mấy ông giáo sư cũng là hàng lỗi lạc hết, dạy từng môn từng môn để cho cái người này sau này lãnh đạo quốc gia mà. Dạy về cái môn kinh tế, thì ngày xưa kinh tế đơn giản là chỉ có nông nghiệp với trao đổi mua bán và một ít cái công nghệ như dệt vải, làm gỗ rồi vậy thôi chứ không nhiều như bây giờ. Thì khi nói về là: "Quốc gia mà muốn cường thịnh thì phải sản xuất được nhiều lúa, trồng được nhiều cây." Đó là cái căn bản. Hồi xưa thì như nghĩ như vậy, bây giờ thì ta phải mở thêm dịch vụ, xây cất rồi đủ thứ hết, phải công nghiệp,

[7:50]hiện đại, vi tính, chứ hồi xưa là chỉ là cây lúa thôi. Ai mà nhiều lúa là người đó giàu. Nên là mấy cái ông thầy dạy rằng là một đất nước muốn giàu phải có lúa, có lúa rồi mới nuôi quân mà giữ nước, có lúa rồi đó người ta mới rảnh rỗi mà người ta cất nhà, có lúa rồi nó ăn rồi nó rảnh rồi nó mới dệt vải, có lúa rồi người ta rảnh rỗi rồi đó quan mới có lúa ăn rồi mới trị dân, tất cả đều có lúa cái đã. Nên vì vậy làm cái người cai trị dân giỏi là người phải biết khai khẩn đất hoang, dạy dân trồng lúa, phân bố lúa, thu hoạch lúa như thế nào. Tức là ổng ngồi ổng nói một hơi thì đến khi mà hỏi lại thái

[8:24]tử thì thái tử nói cái nói về vấn đề trồng lúa, tích trữ lương thực, phân bố cái đất đai cho hợp lý làm sao để người ta trồng mà đừng có lỗ, làm sao người ta trồng để lãi, làm sao cái người chủ đất rồi cái người tá điền đó phải cái quyền lợi được hợp lý, và cái bảo quản lương thực lâu dài thì phải như thế nào, trong trường hợp nào thì lúa phải tung ra xài nhiều, trong trường hợp nào phải tích trữ. Tức là lúc còn rất bé, mới mười mấy tuổi mà thái tử chưa phải là người trực tiếp trồng lúa, mà khi nghe ông thầy nói một thì nói lại cho ông thầy nghe một trăm lần về vấn đề trồng lúa. Ông thầy ổng ngạc nhiên, ổng cứ ngồi nghe mà ổng ngỡ ngàng,

[8:59]ổng không phải không còn nghĩ là mình là ông thầy dạy cái chú bé này nữa, mà như chú bé này là thầy dạy lại mình. Cứ vậy, ổng ngỡ ngàng, nói: "Giờ dạy gì nữa giờ?" Nói kinh tế, bắt đầu cái đặt qua vấn đề khác, vấn đề nói bây giờ là giao thương giữa các nước. Ví dụ như đất nước Thích Ca của ta bây giờ sau khi có hàng hóa phải trao đổi qua với các nước ở phương tây, các nước ở phương nam, các nước ở phương đông, còn phương bắc thì bắt đầu nó đụng tới dãy Hy Mã Lạp Sơn này chỉ là những bộ tộc. Thì phải trao đổi mà trên đường đi phải vượt qua sông qua thác, qua vận chuyển hàng đi bằng như thế nào.

[9:29]Thì cái thái tử Si-đát-ta chỉ ngồi trầm lặng, suy nghĩ một chút xíu, bắt đầu nói lại cho ông thầy nghe cái việc giao thương phải đi thế nào, phương tiện phải lưu thông làm sao, ngăn chặn trộm cướp như thế nào, chính sách toàn quốc gia phải như thế nào để bảo vệ được cái nền mậu dịch của mình. Ông thầy ổng cứ ngạc nhiên, ổng nói: "Ủa, chú này là thầy mình chứ không phải mình là thầy chú này." Qua mấy buổi rồi mới vào nói gặp vua Tịnh Phạn, nói: "Thưa, tâu Đại vương..." "Cái Thái tử là thầy của tôi, chứ tôi không phải là thầy Thái tử." Nói nói nói: "Sao? Ngài nói thế nào?" Nói: "Dạ, tôi nói được tôi có thể nói được một một

[10:01]ý thì Thái tử nói cho tôi nghe lại 100 ý. Và tôi nghĩ rằng nếu thật sự mà tôi còn trẻ để có thể học, tôi sẽ về đây tôi học với Thái tử." Vua sẽ ngạc vua vừa ngạc nhiên mà vừa vui mừng vì thấy cái trí tuệ của con mình khủng khiếp quá. Nào giờ cái nước Thích Ca của vua Tịnh Phạn là một nước nhỏ, phải lệ thuộc cái nước phía Tây là nước Kosala. Nên vua Tịnh Phạn có ấp ủ cái ý tưởng là sau này con mình lớn lên, thành một vị đại vương đầy uy quyền, đánh Đông dẹp Bắc, tạo thành một cái vương quốc, một cái đế quốc bá chủ rộng lớn mênh mông ra, để thỏa với cái cái cái ước mơ của ngài. Vì lúc đó cái dòng họ Thích Ca là dòng họ da trắng, còn người Ấn Độ là da đen.

[10:37]Nên dòng họ Thích Ca lúc nào cũng coi mình là cao quý và xem các nước khác là tầm thường. Nhưng mà nói người ta tầm thường, da người ta đen nhưng người ta mạnh hơn mình, người ta giàu hơn mình, lính người ta đông hơn mình, đánh không nổi. Và mình cứ phải lệ thuộc. Lệ thuộc mà lòng rất ấm ức. Ấm ức vì sao? Vì cái da mình trắng mà tại sao mình lại phải là lệ thuộc một quốc gia của người da đen? Cứ cứ cứ phân biệt như vậy hoài, lòng cứ ấm ức ấm ức. Và khi sinh ra một đứa con mà trí tuệ vượt bực, nhan sắc thì đẹp ngời, còn tướng đi oai phong, đạo đức hoàn hảo thì phải nói là trên đời có một không hai, vua Tịnh Phạn rất là hy vọng.

[11:12]Nên khi thấy con mình càng lúc càng biểu lộ những cái tư tưởng siêu phàm, xem trần gian này là hữu hạn, đi tìm cái gì tuyệt đối cao siêu hơn thì vua Tịnh Phạn rất là lo lắng. Cứ sợ giỏi quá, giỏi quá đi tu mất. Nên cứ tìm cách cứ cản hoài cản hoài. Rồi mới 16 tuổi đã cưới vợ cho luôn. Cưới vợ cho mà Thái tử đâu thèm có con, thuyết phục vợ mình sống thanh tịnh với mình luôn, đâu thèm có con. Nhưng mãi đến khi mà mà cứ xin vua cha đi tu, cái vua cha mới nói: "Thôi, chừng nào con đẻ được đứa con đi." Thì lúc đó Thái tử mới quyết định đẻ một đứa con để lại. Vợ vừa đẻ con là đêm đó bỏ đi liền. Không xin nữa, lần này không xin,

[11:49]đã giữ lời hứa rồi là không xin nữa, nên đêm đó đi. Thì câu chuyện đi, sau khi mà Thái tử đi mới băng băng riết băng riết về phía Nam, bởi vì nghe tin đồn rằng ở cái thành Vương Xá của cái nước Magadha á, ở đó có nhiều vị đạo sư lỗi lạc, nên Thái tử muốn tìm về đó để học thử. Mà đoạn đường đi từ Ca Tỳ La Vệ về tới Vương Xá ôi xa lắm, mà ngài đi trong đêm trong hôm thì không sợ. Nhưng mà ngài có cái phước rất là đặc biệt, có cái phước đặc biệt là thân của ngài luôn luôn tỏa ra ánh sáng. Hễ trong đêm tối ngài đứng đâu thì cả một vùng chung quanh nó sáng lên, nên không cần phải bây giờ như mình là phải cầm cái đèn pin,

[12:24]còn Đức Phật đặc biệt là nơi thân cứ tỏa ra ánh sáng. Và hễ đứng trong đêm như vậy thì muỗi không cắn. À mình mà ở trong rừng một bữa là nó cắn sưng người hết liền. Nhưng Đức Phật có cái lạ, có cái quý tướng đặc biệt là là muỗi không cắn. Cho nên mình mà ngồi mà muỗi còn cắn là biết mình chưa phải Phật nha, đừng ai nói mình là Phật nha. Đức Phật phải có một quý tướng đặc biệt là ruồi không bu, muỗi không cắn. Nha, nhớ như vậy. Một trong những quý tướng của Đức Phật là vậy, lúc nào ánh sáng cũng tỏa ra. Trong đêm là ánh sáng cứ tỏa ra dịu dàng dịu dàng một tầm như vậy. Nên ngài cứ đi trong đêm mà không sợ.

[12:55]Hễ là cọp beo thấy ngài thì cúi đầu là im lặng núp trong lùm chứ không dám ra giỡn mặt. Cái uy của một cái con người mà nhiều đời là tu hành đắc đạo, nó tạo thành cái uy lực lạ lùng như vậy. Và ngài cứ đi, cứ đi khất thực, ôm cái bình bát đi xin ăn từ nhà này sang nhà kia, đi dần về phía Nam. Sau này cái bắt đầu cái tin nó đồn ra. Tin đồn ra là những cái người mà quan lính đồ của vua Tịnh Phạn mới đều báo về triều đình là thấy có một người giống như Thái tử, một người sa môn, tóc thì cắt rồi, cạo rồi, nhưng mà cao khoảng hai thước, cao khoảng hai thước, đường bệ, đẹp đẽ, uy đức rạng ngời, mà ôm bình bát đi khất thực.

[13:35]Hễ thấy cái giờ ăn đi khất thực chút sau đấy biến mất đi đâu không thấy, rồi đến hôm khác thì lại xuất hiện ở một cái vùng xa hơn về phía Nam, rồi xin được rồi là biến mất khỏi cái dân làng, cứ đi dần phía Nam. Thì sau đó vua Tịnh Phạn mới hỏi trong triều đình, nói: "Bây giờ Thái tử đã đi xuất gia và ta phải giữ lời hứa là có đứa con rồi nên ta không có bắt lại nữa. Nhưng bây giờ, những ai trong triều đình này vì ta, vì Thái tử phải đi tu theo Thái tử, để vừa tu theo mà vừa bảo vệ, vừa làm thị giả vừa hầu ngài. Chứ ta không đành lòng để Thái tử một thân một mình mà đi phiêu linh lãng tử nơi này nơi kia như vậy, ai phải đi theo hầu đi tu theo?"

[14:13]Thì chọn mãi như vậy đó, thì suốt cả năm sau mới có được năm người đi tu theo, mà ta gọi là năm anh em Kiều Trần Như đó. Là cái ông Kiều Trần Như là ông lớn tuổi nhất, lớn hơn Đức Phật khoảng mười mười 18 tuổi, ổng lớn hơn. Rồi còn lại là những người từ từ trong cái hoàng tộc, hoàng cung và những giai cấp Bà La Môn, sau đó họ đều làm cái lễ từ giã hoàng cung và đi đuổi theo đi tìm Thái tử. Ta mới nghe cái câu chuyện có năm anh em Kiều Trần Như mà tu theo tu theo Thái tử. Thật ra đó, thì lúc mà năm 12 tuổi là Thái tử đã nhập được định, nhập được Sơ thiền lần đầu rồi, nên ngài cũng thanh tịnh. Khi ngài đến cái thành Vương Xá thì cái kinh đô nó lớn

[14:51]lắm, lớn hơn là cái thành Ca Tỳ La Vệ của ngài nhiều. Nè đến đó ngài cũng đi khất thực thì cả cái kinh thành họ xôn xao lên hết trơn. Xôn xao hơn nữa là có một vị sa môn như là thiên thần vừa xuất hiện ở trong kinh thành hay đi khất thực. Ừ rồi sau khi khất thực xong là đi tạt ra ngoại ô của thành phố để ở trong cái ngọn đồi nào đó. Mỗi lần mà ngài xuất hiện đâu mà để đi khất thực thì dân làng cứ kéo ùn ùn đi theo để xem mặt, tại ngài đẹp quá. Lúc đó là vua Bình Sa Vương á, Bimbisara á, mới cũng nghe báo cáo như vậy, cái mới cho thái tử đi theo điều tra, rồi sau đó đích thân vua mới tìm đến hỏi đạo.

[15:27]Thì biết rằng vị này chưa phải là đắc đạo, chưa phải là thánh vì vì nói là cái ngài này đang còn đi tu. Nhưng mà hỏi về mọi chuyện trên đời, hỏi tới đâu là cái vị sa môn này đối đáp trôi chảy và sâu sắc. Ông vua ổng nể quá, ổng nói thế này: "Thôi bây giờ ngài đừng đi tu nữa. Ngài hãy cùng tôi trị vì cái vương quốc Magadha này", tại lúc đó vương quốc Magadha lớn lắm, "tôi sẽ chia phân nửa ngai vàng cho ngài, ngài cùng trị vì. Tại vì tôi nghĩ là một con người mà đạo đức và trí tuệ như ngài mà làm vua thì dân sẽ được nhờ." Lúc đó là Sa môn Gotama mới nói thế này: "Này, thưa đại vương! Tôi đi tìm một cái gì đó nó còn cao cả hơn cả vương quyền.

[16:07]Một cái điều mà dù có một vị vua tài giỏi, đạo đức đến đâu cũng không đem lại được cho chúng sinh. Dù vua có tài giỏi, có đạo đức, có thể đem cho chúng sinh sự no ấm, sự bình yên, nhưng vẫn không bằng cái đạo lý mầu nhiệm, cao xa có thể cứu thoát chúng sinh khỏi đau khổ, trầm luân được. Cho nên, cảm ơn cái tấm lòng của đại vương, nhưng tôi vẫn phải đi tìm cái đạo mầu vi diệu để mà cứu độ chúng sinh. Vì cái điều này nó cao hơn mọi cái quyền quý hoặc mọi hạnh phúc của thế gian." Nói rồi xong mới nói: "Thôi thế này, tôi không có chia đôi cái quốc gia, cái vương quyền của tôi nữa, và tôi nhường hết cả cái vương quốc này cho ngài.

[16:46]Ngài hãy làm vua để cho dân chúng nhờ." Thấy vua Bình Sa Vương rất là hay ha, cũng hiếm có một ông vua mà sẵn sàng nhường ngôi như vậy. Thì Thái tử lặp lại một lần nữa là: "Tôi không cần vương quyền, tôi đi cần cái đạo mầu và chính cái đạo vi diệu này mới cứu vớt chúng sinh khỏi trầm luân. Chứ còn cái hạnh phúc của thế gian đều là tạm bợ. Vì ông vua nào giỏi cách mấy rồi 80 tuổi cũng chết, ổng chết rồi, ông vua sau lên liệu có còn đi tiếp con đường đó hay không? Hay bắt đầu là ích kỷ, lo toan, thủ đoạn rồi người dân lại trở lại đau khổ. Đời là vô thường, chỉ khi nào mà có được cái đạo mầu mà người ta

[17:21]tu tập được rồi người ta mới hạnh phúc mãi, mới bình an mãi. Nên đại vương hãy để cho tôi làm một người sa môn đi tầm cầu đạo lý." Cái vua Bình Sa Vương nghe nói như vậy thì cũng cảm động quá, mới nói: "Thôi thế này, thôi thì tôi cũng không còn ép ngài được nữa. Nhưng chỉ xin ngài ban cho tôi một cái ân huệ, nếu sau này khi mà ngài đắc đạo, xin ngài hãy về hóa độ cho tôi trước." Là xin vậy, thì ngài Sa môn Gotama hứa: "Hơ được, tôi sẽ hứa với ngài là khi nào mà tôi tìm được đạo mầu, tôi giác ngộ được, tôi sẽ về thăm ngài." Và thế là vua Bình Sa Vương trở về cung điện và Sa môn Gotama lại tiếp tục đi tìm đi tìm đạo.

[18:07]Đầu tiên là ngài tìm được vị thầy là Āḷāra Kālāma. Đến học thì ông thầy này có được cái định rất là sâu mà Sa môn Gotama vô học vài bữa nhập được cái định của ông thầy liền. Nói ra trình cho ông thầy nghe, ông thầy nghe mới nói rằng: "Ồ! Cái định này ta phải tu không biết bao nhiêu kiếp, mà trong kiếp này ta phải tu hai ba mươi năm. Vậy mà ngài mới vừa đến đây vài hôm, khi nghe tôi diễn tả, ngài đã chứng được cái định này. Hãy ở lại đây với tôi và cùng tôi giáo hóa đồ chúng mấy ngàn người này." Thì Sa môn Gotama lúc đó mới hỏi là: "Thưa ngài, cái định của ngài là còn bản ngã hay không còn bản ngã?

[18:50]Vì nếu mà còn bản ngã thì chưa giải thoát." "Mà nếu không còn bản ngã thì ai biết mình tu chứng?" Ngài hỏi một cái câu mà chỉ có vị Phật mới hiểu nổi. Cái thì ông Alara Kalama không trả lời nổi, lúng túng lúng túng nói: "Ngài hỏi câu này tôi không biết, tôi không biết." Thế là Sa-môn Gotama từ giã ra đi. Nghe bên kia có ông Uddaka Ramaputta mà ta hay gọi là Uất Đầu Lam Phất á, cái ngài lại đến. Thì ông này ổng lại diễn tả một cảnh giới định cao hơn nữa là phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thì trong vài hôm Sa-môn Gotama chứng vào cái định đó liền. Trình lại, ông kia nghe ông kia ngạc nhiên liền. Ông nói:

[19:30]"Cái định mà tôi nói cho ngài nghe đó là cái định của thầy tôi chứng được chứ tôi chưa chứng được. Vậy mà tôi chỉ diễn tả lại cái lời của thầy tôi mà ngài nghe ngài trong vài ngày ngài chứng được liền. Ngài quá siêu. Ngài hãy ở lại đây, tôi nhường cái vị trí đạo sư của tôi lại để thầy giáo ngài giáo hóa." Hồi hôm trước á, ông Alara thì kêu là cùng với ông để mà giáo hóa đồ chúng, nhưng mà ông ông Ramaputta này thì không, nhường hẳn cho ngài làm đạo sư luôn. Nhưng mà ngài cũng hỏi lại: "Thế thầy của ngài có nói câu này là trong cái định này bản ngã còn hay là không còn? Vì nếu mà bản ngã còn thì chưa thể giải thoát,

[20:08]mà nếu bản ngã không còn, ai biết mình tu chứng?" Hỏi câu này ông Ramaputta không trả lời được. Thế là ngài nghĩ rằng trên đời này cũng không còn bậc đạo sư nào nữa, thế là ngài mới đi vào một khu rừng khổ hạnh. Lúc đó là năm anh em Kiều Trần Như cũng vừa tìm tới. Thế là sáu người đi vào một cái khu rừng gần cái thành Gaya để mà tu khổ hạnh. Ta nghe cái chữ khổ hạnh, ta tưởng là đày đọa cơ thể, không phải. Cho đến giờ này nè vẫn còn nhiều người hiểu lầm cái chữ khổ hạnh của Phật. Cứ tưởng là khổ hạnh là đày đọa cơ thể, không phải. Khổ hạnh có nghĩa là dùng cái sức định của mình để mà thử thách cơ thể của mình.

[20:50]Nó giống như một dạng thần thông. Ví dụ như là chống hai tay xuống đất, dựng chân lên trời như kiểu trồng cây chuối, đứng qua mấy ngày, bảy ngày luôn, không nhúc nhích. Đó là đày cái thân, nói là đày cái thân chứ người không có sức định không làm được. Hoặc là nắm một tay đeo cành cây bất động, rút chân lên, lơ lửng như vậy suốt bảy ngày, thử coi thân thể này nó đi về đâu, nó chịu nổi tới cùng cực của nó rồi thì có giải thoát được hay không? Hoặc là đứng ở giữa trời sương gió, đứng một chân, dang hai tay ra, nhắm mắt nhập định bất động và đứng một chân suốt bảy ngày, thử thách cái mức giới hạn cùng cực cái sự chịu đựng của thân như thế nào.

[21:27]Nhưng những cái đó mình làm nổi không? Không phải thuộc về ý chí hay khổ hạnh, ý chí hay là là đày đọa mà nó thuộc về thần thông của cái sức định. Nên bây giờ ta cứ hiểu lầm, ta cứ tưởng khổ hạnh là là là đày đọa cơ thể, không phải, vậy. Thì ngài cứ tập hết cái thế này tới cái thế kia, rồi thậm chí là nhịn đói, nhịn ăn, nhịn thở đủ thứ hết trơn để đày đọa xem coi tới tới cùng cực của cái sức định và cái sự sự kh- làm chủ cái thân như vậy cuối cùng cái sự giải thoát có bùng vỡ ra hay không? Nhưng mà suốt 6 năm, tới khi ngài sức tàn lực kiệt, ngài cũng không tìm thấy sự giác ngộ bùng vỡ ra. Cái ngài mới nói thế này:

[22:07]"Từ ngàn xưa cho đến ngày hôm nay chưa từng có một Sa-môn nào có thể thực hành được những khổ hạnh như ta đã làm, và cũng khó có từ đây về sau mà ai có thể thực hành được những khổ hạnh như ta đã làm. Mà ta không tìm được sự giải thoát, như vậy khổ hạnh không đưa đến giải thoát." Ngài kết luận, phải thay đổi. Lúc ngài quyết định phải ăn uống lại, đi con đường khác. Có cái điều rất là vi diệu, khi ngài vừa khởi niệm ngài muốn ăn uống lại thì lập tức ở trong làng đó gần đó có một bà gia chủ tên là Sujata, bà bị day dứt là phải cúng dường những cái vị Sa-môn đang tu ở trong rừng. Thì bà nấu sữa, nấu đồ thức rất là ngon, rất là quý, bà đi vào dâng cúng.

[22:49]Mang một bát sữa rất là quý đến thì Sa-môn Gotama nhận lấy bát sữa và húp từng miếng từng miếng hết. Thì lúc đó là năm anh em Kiều Trần Như tu với ngài, trong lòng cực kỳ thán phục cái thái tử. Nói là những cái điều mà thái tử làm gọi là khổ hạnh á, gọi là yoga đó, đứng một tay chống chân lên mà đứng bảy ngày, đứng một chân dang tay giữa trời sương gió bảy ngày, đeo một cành cây bảy ngày, làm những cái động tác uốn cong người bảy ngày, nói là trên đời chưa từng ai làm được. Cứ nghĩ rằng cái người này sẽ làm thánh, sẽ đắc đạo, nhưng mà hôm nay thấy người này từ bỏ, ôm nguyên bát sữa ăn ngon lành.

[23:28]Bắt đầu năm người xì sầm xì sầm với nhau, nhưng mà Sa-môn Gotama không để ý, không quan tâm. Qua bữa sau, cái bà Sujata mang đến nữa, ngài tiếp tục ăn nữa. Năm người kia bắt đầu rất là khó chịu, nói rằng: "Sa-môn Gotama, con người mà ta tràn đầy hy vọng, tin tưởng, con người mà ta đặt hết niềm kính trọng ngày hôm nay chấp nhận cái cuộc sống hưởng thụ trở lại, không còn đi theo con đường khổ hạnh nữa, không còn đi hướng về cái thánh đạo giải thoát cao quý nữa, mà muốn trở lại cuộc sống tầm thường của thế gian." Chúng ta thấy người đệ tử dễ hiểu lầm thầy mình. Trí tuệ không bằng thầy mà dễ phê bình thầy

[24:03]mình tầm bậy tầm bạ, ráng mang tội chết. Nghĩa là khi mà thái tử ăn được đến ngày thứ năm thì năm anh em bỏ ngài đi mất tiêu luôn. Bỏ, bỏ ngài đi ở một mình. "Thôi, không thể đi theo cái con người mà đang càng ngày càng hồng hào mập mạp lên được. Tu cái gì mà bây giờ bắt đầu hồng hào lên, mập từ từ từ từ từ ra thế này, thôi đi." Thế năm anh em trong một buổi sáng không một lời từ giã, quay lưng đi mất tiêu luôn. Đó, lúc đó thái tử cũng khỏe mạnh, mới xuống cái dòng sông Ni-liên-thiền tắm và lên ngồi nhập định suốt 49 ngày. Ta nghe kể câu chuyện rồi phải không? Trong cái 49 ngày nhập định đó, lúc mà ngài nhập đến tam thiền

[24:40]thì có một hiện tượng là Ma vương hiện ra quấy phá. Ta có nghe chưa ạ? Ta cũng nghe rồi. Ma vương hiện ra quấy phá bằng hai cách, một cách đó là hiện ra hình dáng gớm ghiếc, cầm nhiều vũ khí vào đâm vào ngài, bắn tên vào ngài, đốt lửa chung quanh ngài, la hét, chửi mắng. Rồi sau khi mà không được bắt đầu mới tới những cái hiện hình vợ của ngài là Yasodhara. Bắt đầu ngài đang ngồi thiền như vậy, thấy Yasodhara đằng xa đi tới, khóc lóc đi tới. Khóc. Quỳ xuống: "Em thương nhớ ngài, em thương nhớ chàng. Suốt 6 năm qua không có lúc nào mà trên đôi mắt em thiếu dòng nước mắt. Nghe tin ngài sống như thế nào, em sống như thế đó.

[25:24]Ngài mặc manh áo tả tơi, em cũng mặc manh áo tả tơi. Ngài nhịn ăn, em cũng nhịn ăn. Thế là trong trái tim này không bao giờ vắng hình bóng chàng. Cuộc đời em là của chàng, hãy về với em." Nghe như vậy cảm động không? Mấy ông bây giờ lớn tuổi mà còn nghe nếu mấy bà nói vậy chịu nổi không? Chịu không nổi. Còn mấy người trẻ trẻ là ngay lập tức quay phắt liền: "Rồi, thôi thôi thôi, về cùng nhau nàng ơi há, sống đi suốt cuộc đời."

[25:56]Thì nhưng mà thái tử vẫn ngồi lặng bất động thì nghĩa là Yasodhara ngồi khóc khóc thảm thiết, nói những lời mà không có một nhà thơ nào có thể nói hay hơn được. Cái người Hà Nội ta là nói hay cũng không thể nói hay bằng cái cái cô gái Yasodhara trong đêm đó. Cô khóc rồi cô bỏ đi, rồi từ đâu kéo đến nhiều cái nàng vũ nữ múa hát, nhạc trời vang lên sập sình rồi cô múa những điệu khỏa thân, vân vân. Rồi phải có người đến nói chuyện, có người ngồi đến á nói là: "Ta là bá chủ của cả quả đất này. Nếu mà ngài đồng ý theo ta, ta giao cho ngài làm bá chủ cả cái cõi Diêm-phù-đề này chứ không phải là chỉ là một cái nước Kosala, chỉ là một nước Magadha.

[26:40]Mấy cái nước đó là bèo. Còn cái vương quốc của ta là cả cái đại địa này, không có ranh giới, biển cả, núi cao, đồng bằng khắp nơi. Tất cả làng mạc, tất cả kinh đô nằm trong vòng trị vì của bàn tay ta. Hãy theo ta, ta sẽ giao cho ngài cái vương quyền này." Thái tử vẫn ngồi yên bất động. Nghĩa là sau nhiều cái sự dọa dẫm, nhiều cái sự đe dọa, nhiều cái mời gọi, nhiều quyến rũ mà không lay động được, thế là Ma vương buồn rầu bỏ đi. Thì qua đêm đó rồi là ngài nhập Tứ thiền, chứng Tam minh và thành một vị Phật vĩ đại luôn, vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của loài người. Ở đây ta nghe cái đoạn này chút xíu là vì sao

[27:21]khi một vị Phật sắp đắc đạo phải có Ma vương hiện ra? Mà đây là nguyên tắc á, đây là nguyên tắc bất dịch bất di muôn đời. Bất cứ vị Phật nào sắp đắc đạo đều phải có Ma vương hiện ra. Đó là quy luật. Tại sao như vậy? Đây trong tiếng Anh gọi là confirmation, tức là sự xác định lần cuối. Hay là muốn bảo đảm rằng cái tâm người đó có tốt chưa, ta cần có một cái ngoại cảnh để thử thách, thử thách. Ví dụ như bây giờ cái người đó mới nói thế này, tôi nói thật với chị chứ tôi không ham vàng bạc, vật chất gì của thế gian. Câu nói đó được rồi, chấp nhận. Dạ. Nhưng mà để xác nhận rằng, để confirm rằng cái người này

[28:04]là không tham hay không, thì phải có một lúc cho người đó ở trong cái phòng vắng một mình, không có ai. Để trước mặt người đó một đống kim cương, vàng bạc, đô la, đống đầy hết. Đừng có ai hết, không có ai kiểm soát hết. Thì người đó mới nhìn quanh, mở cửa nhìn coi ai thấy không, có từ từ rón rén đếm đếm đếm rồi móc cái nào bỏ túi hay không. Thì lúc đó một mình với vật chất, với tiền bạc á, mới thử thách lòng mình thực sự không tham hay không. Tức là ta cần một ngoại cảnh mới thử thách được nội tâm. Nếu không có ngoại cảnh thì ta không xác nhận được cái nội tâm này là trong sạch. Khi nào mà một đống vàng bạc, đống tiền đó,

[28:40]không ai kiểm soát, mà người ta sẵn sàng cho, mà mình nhìn nó là không màng tới, thì mới xác định rằng ở trong tâm người này đã hoàn toàn không có lòng tham. Thì cũng vậy, một đức Phật mà để gọi là thành Phật, thì phải bảo đảm một điều là không còn sợ điều gì và không còn muốn điều gì. Đó là bản lĩnh của một đức Phật. Một người gọi là đạo đức hoàn hảo phải có hai điều: không còn sợ bất cứ điều gì và không còn mong muốn bất cứ điều gì. Cho nên đầu tiên là phải hiện ra những con người chửi mắng để coi còn phẫn nộ hay không. Nghe chửi nói: "Ngươi tu là ngươi giả dối, ngươi bỏ vợ bỏ con, bỏ trách nhiệm đối với gia đình mà ngồi đây mà tu cái gì?

[29:19]Đồ giả dối, đồ đạo đức giả." Chửi tan nát hết. Để coi còn phẫn nộ, còn mở miệng cãi không. Đó. Sau đó bắt đầu kéo binh tướng tới, đâm giáo vào, bắn tên vào người, xem thấy mũi tên bay vào người mình mình có nhích qua một bên hay không? Như mình là mình thấy ai mà cầm gươm đâm tới cái mình: "Ơ ơ ơ ơ." Lại không được. Còn đây không có ơ ớ, ngồi yên, có chết thì ngồi đây mà chết. Nếu ta chưa đắc đạo, nếu ta chưa thành đạo, thì dù thịt nát xương tan, ta không rời khỏi cái tòa này. Đức Phật đã thề một lời như vậy khi ngài ngồi dưới cội cây bồ đề. Cho nên lúc đó giáo đâm tới, gươm đâm tới, ngài ngồi bất động, chết thì chết, không nhúc nhích khỏi chỗ này.

[29:56]Thì lạ thay, cái mũi tên vừa bay tới thân ngài là biến thành cái hoa rớt xuống cúng dường ngài liền. Hơn cái cái đặc biệt như vậy, nên ngài vượt qua cái sợ, bắt đầu tới cái cái cái muốn. Đem tình cảm, mà cái tình cảm sâu nặng nhất là tình cảm vợ chồng, phải không? Nên hiện ra hình Da-du-đà-la tới, tỉ tê, năn nỉ, khóc lóc, nói những lời đường mật. Mà nếu mà thật sự như ta là một người mà không có không có bản lĩnh, nghe cái lời vợ mình than không ai cầm lòng nổi. Không có trái tim nào mà sắt đá đến cái độ mà dửng dưng được trước cái lời than thở của người vợ hiền chung thủy và đẹp đẽ như vậy. Vậy mà ngài dửng dưng vì cái cái ý chí đi tầm đạo cho

[30:37]chúng sinh vượt qua khỏi cái tình cảm thường tình. Rồi đến lúc mà những cái ma nữ hiện ra những cô gái đẹp, múa hát để xem coi còn cái động lên ham muốn tình dục hay không? Ngài bình thản nên tất cả mọi rồi đem cái quyền quý ra, quyền lực ra, dụ dỗ cũng không động tâm, tức là những cái điều mà chúng sinh phải muốn á. Thì cuối cùng là không làm gì, ngài không còn sợ điều gì, không còn muốn điều gì nữa thì Ma vương phải bước đi, phải bỏ đi, và ngài nhập vào định luôn, bắt đầu chứng Tam minh để thành đạo. Đó, thì chúng ta cũng vậy, chúng ta chưa thể là đắc đạo như Phật được, nhưng mà hãy nhớ tập.

[31:13]Ta là đệ tử Phật, đi theo ngài, chúng ta lần lần vượt qua hết những cái sợ và vượt hết những cái muốn. Coi trong tâm mình còn sợ điều gì, phải diệt trừ. Trong tâm mình còn muốn điều gì, phải diệt trừ. Thì ta mới lần lần đi theo con đường giải thoát của Phật được. Bây giờ thì trong tâm ai cũng còn rất nhiều điều phải sợ, trong tâm ai cũng còn rất nhiều điều phải muốn, và chính đó là cái gánh nặng trói buộc ta, làm cho ta cứ trôi lăn trong trầm luân sinh tử mãi. Như bây giờ ngồi đây ta sợ cái gì? Sợ mưa, phải không? Trời rét, sợ cái xe ngoài kia để ai lấy mất, sợ lát nữa không biết chùa có đủ cơm cho mình ăn không, đông quá.

[31:52]Ta sợ nhiều cái lặt vặt lắm. Rồi mình đi nghe pháp vậy người yêu mình có bỏ mình không, sợ đủ thứ chuyện hết trơn. Nên là là không sợ và không muốn điều gì. Đó là bản lĩnh để sống và để tu, bản lĩnh để sống và để tu. Sau sáu năm khổ hạnh, sau bao nhiêu thử thách, cuối cùng ngài đã đắc đạo thành Phật. Một vị Phật siêu phàm có cái từ bi, trí tuệ, thần lực vô hạn và mở ra một tôn giáo cho loài người, đem lại cái niềm an ủi, đem lại chân lý, đem lại ánh sáng, đem lại đường đi, đem lại cái chỗ nương tựa cho biết bao nhiêu chúng sinh từ ngày xưa cho đến ngày ngày nay. Và mãi mãi sau này, ánh sáng của Phật pháp sẽ tiếp tục soi rọi trong tâm hồn của

[32:37]bao nhiêu con người, để giúp cho con người tìm được một cuộc sống chân chính và có thể vươn lên trở thành những vị thánh siêu phàm giữa thế gian này. Nên cái ân nghĩa của Phật là vô hạn mà ta không biết sao có thể trình bày được hết. Bây giờ ta nói về cái ý nghĩa về xuất gia của Phật mà ta phải phải suy ngẫm. Cái việc mà Đức Phật từ cái thân phận của một thái tử đầy hứa hẹn mà dám từ bỏ cả kinh thành để đi tu là cho ta một bài học đầu tiên. Bài học gì? Bài học thứ nhất là bài học gì? Mỗi khi ta nghe đến câu chuyện này, ta rút ra được một bài học. Bài học là: mọi cái vinh quang của thế gian không thể nào so sánh được với cái điều mầu nhiệm của đạo lý.

[33:37]Bài học thứ nhất là như vậy. Tức là dù ta có giàu vô cùng, ta có quyền uy vô cùng, nhưng những cái điều đó không thể so sánh được một cái đạo lý của cái đạo đức, của cái nhân quả, của sự khát khao đi tìm cái vô ngã của cái tâm linh thiền định. Dù bên kia là một đống, bên đây chỉ một chút, nhưng một chút này vẫn hơn một đống kia. Một chút đạo lý nó vẫn hơn cả một cái cái đống quyền uy, vinh quang, tiền bạc, danh vọng. Chính vì vậy mà thái tử đã từ bỏ cái của thế gian để đi tìm cái đạo mầu. Hôm nay ta phải nhớ cái điều này. Và nghĩ thế này, một giờ một phút ta ngồi được ở trong chùa, cái công đức này, cái giá trị này vẫn vượt hơn gấp bao nhiêu

[34:28]lần những giờ phút mà ta chạy đôn chạy đáo ở ngoài thế gian, nơi công sở mà chạy tìm vàng bạc, công danh, danh vọng. Một giờ ngồi đây vẫn quý hơn rất nhiều của 100 giờ chạy tầm tã xuôi ngược đi tìm danh vọng ở bên ngoài đời.

[34:49]Cái người mà chưa hiểu đạo thì nghe câu này sẽ hơi ngờ ngợ, tại vì mình vẫn thấy cuộc sống mình cần danh vọng tiền bạc quá. Đến chùa một tiếng hai tiếng thì cũng chút thôi, ờ thôi đi lễ chùa vậy là cũng vui, cho có phúc chút xíu vậy thôi, chứ làm sao mà một giờ ở chùa có thể đánh đổi được 100 giờ đi làm ăn được. Nhưng mà ta phải lật ngược cái suy nghĩ đó lại: một giờ ở chùa hơn 100 giờ đi làm ăn ở bên ngoài đời. Vì sao? Vì ta hãy nhớ đến cái đêm mà Đức Phật đã từ bỏ cái cung điện, kinh thành của mình để đi tìm đạo lý. Và ngài đã để lại cái đạo lý vô cùng vi diệu cho cho chúng sinh. Thì nhớ đó là bài học thứ nhất.

[35:28]Cho nên bây giờ dù ta còn cái bổn phận với cuộc đời, ta vẫn phải làm ăn, vẫn phải tìm tiền bạc để nuôi gia đình. Đôi khi ta là một cán bộ thì ta còn trách nhiệm đối với nhân dân, đối với nhà nước. Ừ thì ta vẫn phải chu toàn, vẫn phải tận tụy để làm tròn cái trách nhiệm của mình. Nhưng thẳm sâu trong tâm hồn, ta phải nhớ một điều, tất cả những điều này coi vậy chỉ là phù du, tạm bợ. Cái giá trị đích thực nằm ở đâu đó, trong một cái ngôi chùa, cái ngôi chùa nào đó ở nơi thành phố, ở ngoại ô hay trên non cao hay trên núi thẳm. Ở nơi đó sẽ có những người chân tu đắc đạo nào đó đang giữ gìn cái giềng

[36:10]mối của đạo pháp mà ta phải hướng về, phải nương tựa, phải tu tập. Cuộc đời ta sẽ là nơi đó, trái tim ta sẽ là nơi đó, lý tưởng ta sẽ là nơi đó. Còn những bổn phận mà ta phải gánh vác hiện nay, ta cũng sẽ làm cho chu toàn, nhưng chỉ là phù du, là tạm bợ mà thôi.

[36:34]Tuy nhiên, không phải là ai cũng đủ nhân duyên để bỏ hết mà đi xuất gia như là Đức Phật đã làm. Không phải ai cũng vậy, giống như bây giờ, bây giờ ví dụ như bây giờ thầy hỏi quý Phật tử: và ai ở đây muốn xuất gia giơ tay lên cho thầy coi?

[36:57]Có một số người giơ tay, trong đó thầy rất tán thán là những người tuổi còn trẻ mà giơ tay. Có một vài cụ gần chết rồi cũng giơ tay.

[37:09]Hầu hết mọi người không dám giơ tay. Hầu hết mọi người không dám giơ tay, nhưng mà thầy nói thế này: ví dụ khi Phật tử giơ tay lên vậy thầy có bắt vô rồi cạo đầu liền không? Không. Thầy không có bắt vô cạo đầu, tại vì nhân duyên chưa tới. Nhưng mà cái lòng mong muốn xuất gia phải có từ bây giờ. Vì ta không thể nào ở mãi với thế gian, bị ràng buộc mãi với thế gian được. Một ngày nào đó, không kiếp này thì cũng phải kiếp sau, ta cũng phải trở thành một người xuất gia, dồn hết cuộc đời của mình để tu hành mà đạt được sự giác ngộ. Ngày nào đó ta phải làm điều đó thôi. Không ngày này thì phải ngày sau, không năm này năm sau,

[37:46]không kiếp này thì phải kiếp khác, nhưng mà cái chí nguyện xuất gia từ bây giờ phải có trong tâm mình, chứ ta không thể trôi lăn trong cái cuộc sống luân hồi này mãi được. Cho nên thầy hỏi ai có muốn xuất gia hay không là thầy hỏi mình đã có cái tâm đó trong lòng chưa, đã gieo cái ý nguyện đó nằm trong tim mình chưa, vì có cái nhân rồi nó mới có cái quả. Có cái ý nguyện đó rồi thì có một kiếp nào đó ta sẽ xuất gia, còn nếu mà bây giờ mà hỏi tới không dám giơ tay, tức là không không, thì vĩnh viễn ta trầm luân trong sinh tử luân hồi. Cứ tiếp tục ở lại với cái thế gian, khi thì đau khổ, khi thì sung sướng,

[38:19]khi thì được, khi thì mất, khi thì hợp, khi thì tan, và cứ trầm luân mãi. Nhưng nếu một khi mà trong tâm ta đã có ý nguyện xuất gia nằm trong đó rồi, không biết bao giờ mới được xuất gia, nhưng cái nhân đã nằm đó, một ngày nào đó ta cũng sẽ từ bỏ tất cả để sống một đời cái người tu sĩ đạo hạnh cao siêu, vừa là đi tìm đạo lý cho chính mình mà vừa có thể làm chỗ nương tựa cho bao nhiêu chúng sinh khác. Bây giờ hỏi lại một lần nữa: Ai có ý nguyện xuất gia giơ tay lên thầy coi? Xin vỗ tay tán thán. Nghe thầy nói không bắt vô cạo đầu liền mừng quá giơ tay liền. Còn mà nghe thầy bắt vô cạo đầu cái: từ từ, từ từ con còn vợ đẹp,

[39:01]con xinh, nhà cao, cửa rộng chưa bán được, ruộng chưa bán, chưa chia gia tài, thôi từ từ, từ từ. Phải nhớ từ cái bài học của Phật là mọi cái gì của thế gian này coi vậy, coi có hay gì hay, nhiều gì nhiều, quý gì quý, vẫn không thể bằng một chút đạo mầu mà ta tìm được nơi Đức Phật. Cho nên vậy, phải so hiểu như vậy. Và đời sống xuất gia nó rất là khác biệt với đời sống của thế tục, mà người xuất gia sẽ rất là đáng kính nếu đó là một người xuất gia tu hành chân chính. Chúng ta sống ở đời ta mệt mỏi đủ thứ chuyện phải không? Cái người kia ganh, người nọ ghét, ta hơi thành công chút xíu là có người xỉa xói, còn ta hơi thất bại một chút thì có người khinh bỉ.

[39:44]Sống trên đời mệt vô cùng. Đi tìm một cái tình thương yêu chân thật với nhau rất là khó. Ví dụ khi ta thành công thì có người sẽ vui mừng cho ta, khi ta thất bại có người đến đỡ đần, an ủi ta, thì cuộc sống như vậy mới là hạnh phúc, mới là thiên đường, nhưng thế gian không tìm ra. Cứ đấu đá hơn thua, tranh giành với nhau, ta mệt mỏi. Ta đi tìm nơi nào có cái tổ ấm thật sự, có cái lòng thương yêu thật sự, ở nơi đó là nơi một cái ngôi chùa mà có những người tu hành chân chính mới có được. Cho nên ta cần có những người xuất gia tu hành chân chính để ta nương tựa tinh thần cho mình. Vì những lúc ta ở ngoài đời mệt mỏi vì con người, ta có thể ghé vào chùa thăm thầy.

[40:25]Nhiều khi gặp thầy, thầy bận quá thầy chẳng tiếp mình được, mình chỉ ngồi lặng lẽ trên ghế đá, vào lễ Phật, ngồi dưới bóng cây, nhưng chỉ thầy đi qua đi lại thầy nhìn, thầy cười cười, thầy khoát tay thầy chào chào thôi, mình đã thấy ấm lòng vì mình biết cái con người cái đầu trọc lóc đó thương mình thật. Cái con người đó khi mình thành công mình nói cái người đó sẽ sẽ chung vui với mình, khi mình buồn bã cái người cái đầu trọc trọc đó sẽ an ủi mình, không hề có cái khinh bỉ mình. Những lúc mình đau khổ nhất người đó sẽ chia sẻ, những lúc mình thành công nhất người đó sẽ hoan hô, cái con người đó.

[40:58]Cho nên mình đến chùa mình tìm được cái tình thương yêu thật sự, cái tổ ấm thật sự. Thế gian luôn luôn cần những người xuất gia tu hành chân chính để làm cái chỗ tựa. Và khi ta tin được vào cái tình thương, cái đạo đức của người xuất gia rồi ta mới đến học đạo lý, phải không? Nói: thưa thầy, bây giờ con phải tu như thế nào? Thầy sẽ dạy: à, trước hết con phải lễ kính Phật cho đàng hoàng. Con phải hiểu Phật, con phải tôn kính Phật, sau đó con phải trải lòng thương yêu chúng sinh. Vì... vì con đã biết rằng trên đời này con đau khổ vì con không được thương yêu, khi con thành công người ta ganh tỵ, khi con thất bại người ta vui mừng,

[41:36]người ta khinh bỉ, thì con phải hiểu rằng trên đời này rất cần sự thương yêu, mà con muốn trên đời có nhiều cái thương yêu, chính con phải thương yêu người ta trước. Mà muốn thương yêu được mọi người, con phải quỳ trước Phật, con kính Phật trước, con phát nguyện: lạy Phật, từ đây con không sống cho con nữa, xin Phật gia hộ cho con, con chỉ sống để mà thương yêu, đem lại lợi ích cho mọi người. Phải phát nguyện như vậy, rồi từng ngày từng ngày cái... cái lòng từ bi nó mới lớn lên, mới lan tỏa ra khắp nơi. Và con thương rồi, tới người khác mới bắt chước con, mới bắt chước con. Cứ như vậy cái thế gian dần dần mới có thể thương nhau được,

[42:10]chứ con đòi hỏi cái tình thương yêu mà chính con chưa thương ai trước hết thì làm sao mà có tình thương. Biết cuộc đời thiếu vắng tình thương mình phải thương trước, mà muốn thương trước vào chùa học hỏi, tu tập, lễ Phật trước như vậy. Thì nhờ có ngôi chùa, có những người xuất gia tu hành chân chính nói lên những giáo pháp vi diệu, gần gũi, thiết thực mà sâu xa, ta được nương tựa, ta được học hỏi và ta được cải hóa tâm hồn của mình. Cho nên bóng chùa luôn luôn là che chở hồn dân tộc là vậy. Nên những người xuất gia tu hành chân chính luôn luôn là cái tấm gương đáng kính, là ánh mặt trời để cho ta đi theo,

[42:45]là bóng trăng soi ta trong đêm trường quạnh quẽ.

[42:53]Có một người đệ tử thầy khi đi xuất gia rồi mới hỏi: thưa thầy, con đi xuất gia thì cái công việc mà con đang gánh vác với gia đình, với công ty của con thì ừm... phải bỏ dở dang, thì nhiều người sẽ phải mất việc làm, gia đình con con cũng không lo toan được nữa, thì như vậy con có tội hay không? Thầy trả lời: có tội. Tại vì mình đi xuất gia mà bao nhiêu người phải bị lở dở cái cuộc sống của họ thì mình có tội sao không có tội. Nhưng thường là ta phải khéo sắp xếp một chút để cho người kia gia đình mình hoặc là cái cơ quan mình đừng có hụt hẫng. Và cái quan trọng là cái này, quan trọng là sau này khi mình

[43:40]đi tu, mình đạt được cái công đức, mình đem lại cái lợi ích cho cuộc đời nó phải gấp một trăm lần cái lợi ích mà trước khi đi tu mình đã làm được cho gia đình và cho bao nhiêu người nhân viên của mình, thì cái cuộc đời tu hành của mình là không bị lỗ, có lãi, sáng giá, xứng đáng và được công đức. Còn nếu ta đi tu, bao nhiêu người vì ta mà phải lở dở cái cuộc đời của họ, mà khi ta đi tu ta cũng không có thành tựu được điều gì đặc biệt, ta cũng không thể tu một cách chân chính, ta cũng không thể đem lại lợi ích cho bao nhiêu người, ta cũng không thể làm chỗ nương tựa cho người khác, thì cái cuộc đời tu hành đó là lỗ, là thiệt, và ta chết ta bị đọa liền.

[44:25]Cho nên trước khi đi tu hãy cân nhắc điểm này. Hồi nãy thầy hỏi là ai muốn xuất gia thì giơ tay nhiều lắm nha. Bây giờ thầy nói thêm điều này nữa, trước khi mà thật sự xuất gia hãy cân nhắc điều này: khi ta đi tu là rõ ràng có những người liên quan đến ta sẽ bị lở dở, sẽ bị tổn thất, thì ta phải bù lại cái sự tổn thất đó gấp trăm gấp ngàn lần bằng cuộc đời tu hành chân chính của mình. Mình đem lại hạnh phúc, đem lại lợi ích, đem lại đạo lý cho gấp vạn lần nhiều người nữa hơn là cái số người mà đã bị mình làm cho tổn thất thì hãy đi xuất gia. Cho nên đòi hỏi khi xuất gia ta phải có quyết tâm rất là...

[45:00]rất là cao, rất là lớn để bảo đảm rằng cuộc đời tu hành của ta là có lãi, có lãi. Cái lợi ta đem đến cho cuộc đời nó nhiều hơn cái tổn thất mà ta đã bỏ lại sau lưng khi ta bước vào chùa. Phải bảo đảm như vậy thì hãy đến chùa Linh Thông này mà xin Thượng tọa Thích Gia Quang mà xuất gia đầu Phật. Nhớ như thế nha.

[45:27]Có ai ghét người đi tu không ạ? Hầu hết ta không ghét người đi tu vì ta nghĩ rằng cái người đi tu là người không có cái gì để sống cho mình nữa. Và cái người đi tu á, tự mình mặc cái chiếc áo này tức là tuyên bố với cuộc đời rằng tôi là người đạo đức. Đúng không ạ? Không nói thành lời, chỉ mặc cái áo này thôi là đã tuyên bố với mọi người tôi là người sống đạo đức, tôi đi trên con đường đạo đức. Và khi mình đã tuyên bố như vậy, dù không thành lời thì mình phải làm sao? Phải làm cho cho được điều đó. Còn nếu không làm được điều đó thì quả báo sẽ rất là nặng nề. Vì khi mình mặc cái áo này như là một lời hứa với

[46:14]Phật và là một lời hứa với tất cả chúng sinh. Cho nên cái người xuất gia mặc cái áo này mà sống một đời đạo hạnh chân chính thì phải nói là viên ngọc quý giữa đời, người đó nói được và làm được. Thì chỉ vì có những con người sống đạo đức như vậy mà biết bao nhiêu con người khác họ sẽ bắt chước, tin tưởng để mà sống đạo đức giống như vậy. Như quý Phật tử, mỗi khi mà mình thấy, mình biết có một thầy, một cô nào mà có đạo hạnh lòng mình vui mừng không? Rất là vui mừng. Mà không phải mình vui mừng đâu, chư thiên cũng vui mừng. Trên trời quỷ thần cũng đều vui mừng. Cho nên một cái người mà chân tu, cái lợi ích mà nó tỏa ra tràn ngập trong cuộc

[46:58]sống và cả trong những cái thế giới của quỷ thần và cả trên chư thiên luôn. Cho nên là hôm nay ta tưởng nhớ tới cái ngày Đức Phật xuất gia, từ bỏ cả cái vương quyền, sự giàu sang, danh vọng, vất vả bao nhiêu ngày tháng, cuối cùng tìm được cái đạo mầu. Tưởng niệm cái ngày linh thiêng đó, ta ngồi đây dưới mái chùa Linh Thông trong cái lễ khánh thành này, ta cũng nguyện lòng thế này: Điều thứ nhất là ta hứa với Phật ta sẽ rất là kính trọng những bậc xuất gia tu hành chân chính như là Đức Phật.

[47:36]Ta hứa với Phật điều thứ hai là ngoài những bổn phận đối với cuộc đời, đối với gia đình, đối với thế gian thì ta cũng sẽ dồn rất nhiều sức của mình để ủng hộ những vị xuất gia tu hành chân chính như thế làm được những việc Phật giáo hóa được chúng sinh. Dạ đúng rồi. Đó là lời hứa thứ hai. Và lời hứa thứ ba là ta cũng hứa với Phật là mình cũng mang trong tim mình cái chí nguyện sẽ trở thành một người xuất gia chân chính vào một lúc nào đó, lúc nào đó, ta hứa với Phật. Đó là hôm nay, nhân cái ngày lễ khánh thành chùa Linh Thông, cũng nhân cái ngày mà tưởng niệm Đức Phật xuất gia, ta long trọng hứa với Phật ba điều và mãi mãi khắc ghi ba điều này.

[48:22]Cầu mong cho tất cả chúng sinh trong pháp giới này đều có thể xuất gia, tu hành, đắc đạo để được an vui, giải thoát, giác ngộ như là chư Phật đã làm được. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.