[0:09]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô
[0:22]Bổn Sư Thích Ca Mâu
[0:29]Ni Phật. Nam mô
[0:36]Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:55]Giờ chúng ta nghe tiếp kinh Kim Cang.
[1:00]Mọi người cố gắng có cái bản dịch nha, để học đối chiếu.
[1:11]Hôm trước là nghe đến cái đoạn mà lúc đó ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật là:
[1:22]"Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?" Tức là bạch Thế Tôn, cái người thiện nam tử, người thiện nữ nhân mà phát tâm cầu giác ngộ tối thượng, A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, tức là đi tìm cầu có cái lý tưởng phát tâm hướng về cái quả vị là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác á thì có hai vấn đề là một là vân hà ưng trụ, tức là nên dựa vào cái quan điểm giáo lý nào để tu hành. Và thứ hai là làm sao để hàng phục nổi tâm. Đây là hai cái vấn đề lớn. Cái câu hỏi này nó có ba cái vấn đề. Trong câu hỏi này có ba vấn đề: Thứ nhất là cái lý tưởng tu hành,
[2:09]thứ hai là cái quan điểm giáo lý nào để chúng ta dựa vào đó mà tu, và cái thứ ba là cái thực hành cụ thể làm sao để nhiếp được tâm. Đây là ba vấn đề chính mà kinh Kim Cang nêu ra. Ba vấn đề chính trong kinh Kim Cang nêu ra này thì chúng ta thấy rất là logic, rất là chặt chẽ. Tức là chúng ta phải có một cái lý tưởng tu hành trong đạo Phật là nhắm đến cái mục tiêu rõ rệt là sự giác ngộ, sự giải thoát. Mà để nhắm đến mục tiêu đó chúng ta phải có cái hệ thống giáo lý để chúng ta nương theo tu tập. Và đồng thời là có cái phương pháp nhiếp tâm cụ thể để cho tâm được vào trong định, chớ không phải là nói,
[2:50]nói mây, nói gió rồi mà tâm không có nhiếp trong thiền định được thì vẫn chỉ là cái lý thuyết suông. Nên ở đây ba vấn đề mà ngài Tu-bồ-đề đặt ra để hỏi Phật thật là logic, thật là chặt chẽ. Thì chúng ta cũng phân tích ba vấn đề này một chút xíu vậy. Là đầu tiên gọi là lý tưởng tìm cầu giác ngộ tối thượng. Thì chúng ta đến với đạo Phật á thì chúng ta tin Phật, tin Pháp, tin chư Tăng. Chúng ta tin rằng cái cuộc đời này có những lẽ phải, có những cái đạo lý vi diệu, sâu xa có thể làm chuyển hóa được cái đau khổ của chúng ta, làm cho cuộc đời chúng ta thăng hoa tốt đẹp hơn. Chúng ta có cái tin gì đó chúng ta mới đến với đạo Phật.
[3:35]Nhưng tuy nhiên là khi đến với đạo Phật như vậy, mỗi người vẫn có một cái mục tiêu khang khác nhau chứ không có giống nhau hoàn toàn lắm. Thì có những người chỉ đến đơn giản là cầu nguyện thôi, tức là cầu nguyện làm sao cho gia đình mình an ổn. Rồi có người đến với đạo Phật thì thích tìm hiểu những giáo lý lạ. Có những người đến với đạo Phật là muốn tìm một cái sự thư giãn. Có người đến với đạo Phật là muốn tìm một cái con đường sống để có cuộc sống thánh thiện, được đời này đời sau an vui. Hoặc là có người là muốn tu để đắc được cái kết quả thiền định, có thần thông. Còn cái lý tưởng mà ngài Tu-bồ-đề đặt ra
[4:15]trong cái bài kinh này thì là cái lý tưởng lớn nhất, vĩ đại nhất là làm sao đạt được cái giác ngộ tối thượng như là Đức Phật. Thì ở đây là phải là người có cái tâm hồn như thế nào, hiểu đạo như thế nào mới có thể có cái lý tưởng lớn lao như vậy. Chứ còn bình thường chúng ta không ai đủ sức có cái lý tưởng như vậy hết. Chúng ta hãy kiểm lại chính bản thân mình sẽ thấy. Ví dụ như đến với đạo Phật, nói: "À, nay tu ráng thành Phật nha." Mình nghe mình thấy xa lạ, mơ hồ, rồi nghĩ chuyện nó xa xôi. "Thôi bây giờ thôi đi xuất gia làm một thầy tu." Thì cái người mà có căn tu thôi cũng chấp nhận được, chứ nội cái nói là:
[4:53]"Thôi đi cạo đầu đi tu nha!" là nhiều người giãy nảy lên sợ liền à, chứ đừng có nói tới chuyện tu làm Phật. Nên vì vậy, cái vấn đề mà đặt trong kinh Kim Cang sở dĩ mà gọi là lớn là bởi vì cái mục tiêu tới tột đỉnh của cái điều mà người tu phải nhắm tới. Mà cũng chính vì đó mà kinh Kim Cang được gọi là cái nền tảng của kinh điển Đại thừa. Nền tảng của kinh điển Đại thừa bởi vì đã đặt cái mục tiêu tột cùng cho cái người tu hành là phải nhắm tới cái quả vị thành Phật. Do đó, chúng ta sẽ thấy là toàn bộ những giáo lý sắp tới mà chúng ta cứ học dần trong kinh Kim Cang á là nói những điều rất là xa xôi,
[5:33]rất là sâu sắc, rất là triệt để mà nhiều khi mình mình nghe mình kinh sợ. Nhen, với một người mà có tâm hồn nhỏ bé, nghe những giáo lý của kinh Kim Cang mà hiểu cho thấu đáo, mình kinh sợ luôn, bởi vì nó khủng khiếp, nó thấu triệt, nó tận cùng chứ nó không chấp nhận cái gì nửa chừng. Và ngay từ ban đầu mà lúc mà đặt cái vấn đề tu hành là phải đặt tới cái mục tiêu cuối cùng là phải thành Phật. Nên chúng ta chuẩn bị cái tinh thần là để hiểu được kinh Kim Cang này đó, chúng ta cũng phải có một cái tâm hồn chúng ta tương ứng như vậy, là chúng ta cũng phải có cái ước mơ rất là cao xa là phải thành Phật.
[6:13]Người nào mà có cái ước mơ một ngày nào đó mình phải thành Phật, tức là đạt được sự giác ngộ tối thượng, thì nghe kinh Kim Cang này mới thấy sướng trong bụng. Còn nếu mà mình không có cái lý tưởng là phải thành Phật, phải chứng đạo thì nghe kinh Kim Cang mình sẽ thấy nó xa lạ. Thấy xa lạ rồi nghe chán nữa, bởi vì nhiều vấn đề nói khủng khiếp quá, nói tới nơi tới chốn, nói những cái mình không nghĩ ra nổi. Ở đây chúng tôi nói trước để quý Phật tử, mọi người nghe mà chuẩn bị cái tinh thần của mình. Nếu trong những ngày tháng tới chúng ta nghe vào kinh dần dần mà mình cảm thấy mình mình ngại ngùng,
[6:55]mình lo sợ, mình xa lạ, thì chỉ bởi vì cái phát tâm ban đầu của mình chưa có tương ưng với kinh Kim Cang này, là chưa có đủ cái ước mơ để thành Phật, cầu được cái sự giác ngộ tối thượng tận cùng, tới cái giải thoát rốt ráo chứ không có giữa đường. Nên chúng tôi nhắc đi nhắc lại cái này để quý Phật tử chuẩn bị tâm hồn. Vì chúng ta không thể nghe kinh Kim Cang mà với một cái ước mơ tầm thường, nhỏ bé được, phải ước mơ đến tận cùng của đỉnh cao giác ngộ. Như vậy, ai là người sẵn sàng cho cái ước mơ này, cho cái lý tưởng này thì hãy tiếp tục ngồi nghe. Còn nếu không thì nghe một lát dội nha. Nghe dần dần đi vào kinh dội đó,
[7:37]thầy nói thật á, nghe nhiều điều xa quá chịu không nổi. Nghe kinh Kim Cang á, nếu mà
[7:47]chúng ta có cái lý tưởng lớn á thì mình thích, còn không á mình sẽ ráng học hết bài kinh này rồi mình hiểu trên cái lý thuyết suông suông chơi vui rồi để nói chuyện mình kêu là nói dóc á. Gọi là nổ á hay gọi là khoe, chứ không ứng dụng được. Còn chỉ có người nào có lý tưởng lớn á thì nghe mới thấm từng chữ, từng câu để ứng dụng vào trong cuộc đời tu hành của mình. Và khi ứng dụng vào trong cuộc đời tu hành của mình rồi mình mới giật mình là từ nào giờ mình tu cạn cợt, sơ sài quá, tu chưa có chiều sâu. Đây là vấn đề chúng ta phải chuẩn bị. Nãy giờ nghe thì hù rung chưa? Ai rung thì có thể cứ ngồi phía sau đó từ từ mình tuột
[8:29]tuột tuột tuột ra đi về, không ai thấy hết trơn. Cho nên nghe kinh Kim Cang đừng bao giờ ngồi hàng đầu. Ngồi hàng đầu tuột trốn không được, người ta thấy, ngồi tuốt đằng sau mình cúi cúi đầu xuống không ai thấy cái bò bò đi mất. Đó là cái mánh mà nghe kinh. Còn người nào mà dám ngồi ở hàng đầu thì phải phải dám ước mơ thành Phật một ngày nào đó không biết, không biết, vậy đó. Rồi bây giờ ở đây ai dám ước mơ thành Phật? Ngồi lại. Không ai bỏ đi hết, tức là nhiêu đây là ước mơ thành Phật hết trơn rồi hả? Chà, sau này Phật mà chật trái đất này nữa nha. Nhưng mà dựa vào điều gì mà chúng ta có cái ước mơ thành Phật?
[9:11]Dựa vào điều gì? Tại sao có người dám ước mơ thành Phật trong khi có những người không dám? Ví dụ bây giờ hỏi: "Sống ở đời, nửa lớn con làm cái gì con?" Đứa bé nó ngồi suy nghĩ nó thấy ba nó làm thợ máy nó nói: "Dạ, con nửa lớn làm thợ máy." Thấy ba nó lái xe: "Dạ, nửa lớn con lái xe." Thấy ba nó bác sĩ nó: "Nửa lớn làm bác sĩ." Thì cứ theo cái hoàn cảnh, cái mà mình thương mến, mình quý hóa rồi mình sẽ hướng tâm về đó. Nhưng mà tại sao lại có người dám ước mơ cầu cái A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cầu cái Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Tại sao có người phát tâm? Cái nguyên nhân nào làm xuất hiện cái lý tưởng
[9:50]giác ngộ tối thượng trong lòng chúng ta? Nguyên nhân nào?
[9:57]Không phải dễ, không phải dễ. Chúng ta hãy ngồi nghiền ngẫm chút xíu chúng ta sẽ thấy. Bây giờ nói chuyện nho nhỏ thôi. Giờ rất nhiều Phật tử đi chùa, rồi bây giờ thí dụ trong ba trăm Phật tử đi chùa hỏi người nào có ý định xuất gia? Mình tìm ra thì được mấy người, đoán đi, đoán chừng trong ba trăm người thì được mấy người có ý định xuất gia?
[10:21]Ba người. Được không? Chắc cũng được. Đó kìa, đó được người đó, được người, có vợ rồi mà tính giơ tay là chết à.
[10:33]Thấy có người, ba trăm người thấy có người giơ tay. Giờ mình sẽ hỏi người khác là tại sao không nghĩ tới chuyện xuất gia, ha? Tại vì họ sẽ suy nghĩ là họ thấy đời sống xuất gia xa lạ, họ không thể bỏ được cái gia đình cũ, vào tự nhiên cạo đầu, ăn chay, tụng kinh, mặc đồ cà sa vàng đi ra mắc cỡ à, không thích không thích thích hợp. Nhưng mà có cái người á, khi hỏi tại sao xuất gia, thích xuất gia là vì thấy đời sống xuất gia thích hợp và cảm thấy mình có khả năng làm làm một người tu tốt, có thể sau này hướng dẫn chúng sinh, mà cảm thấy những cái cái giới điều khắt khe mình giữ được, có những cái tự nhiên có cảm thấy trước, phải không?
[11:09]Có cái cảm nhận trước gì đó rồi mới dám nghĩ đến mình sẽ làm chuyện đó, đúng không? Nhưng mà bây giờ hỏi đứa bé, nếu lớn lên con thích làm gì? Đứa nói: "Con đi làm công an săn bắt cướp, SBC". Rồi hỏi: "Còn con đứa làm gì?". Nó ngồi nó nói: "Thôi con đi làm thầy thuốc", tức là nó chọn cái nghề hiền lành và nó cảm thấy trong tâm nó cảm thấy cái nghề nhẹ nhàng nó thích hợp với nó. Còn đứa kia thì nó cảm thấy nó dám đương đầu được với những băng cướp dữ tợn, nó chiến đấu được, nó cảm thấy mơ hồ nó có trong tâm nó có điều đó. Thì cũng vậy, cái người mà dám nghĩ tới chuyện xuất gia là vì cảm thấy trong tâm mình mình sống một đời sống thánh
[11:46]thiện được, thanh tịnh được, giữ được giới điều, có thể hiểu sâu được giáo lý, nên dám nghĩ đến. Hoặc là bây giờ nói có người nào mà dám ước mơ thành Phật không? Là vì sao? Là vì sao? Bởi vì cái trong tâm họ tiềm tàng có cái trí tuệ gì đó, nó gần đâu hướng về đó, gần gần tới cái đó. Nên chúng ta thấy cái lý tưởng mà có được đòi hỏi có cái trí tuệ. Cái trí tuệ lớn chừng nào thì lý tưởng mới lớn chừng nấy. Một cái trí tuệ nhỏ không bao giờ làm xuất hiện một cái lý tưởng lớn. Nên người ta nói là trí lớn thì cái chí mới lớn. Nên cái người mà họ dám ước mơ lớn, chúng ta đừng coi thường, họ có cái trí tuệ đó.
[12:31]Trừ những người tham vọng. Những người tham vọng thì cái trí thì nhỏ mà cái ham muốn thì lớn thì đó là sai. Còn bình thường thì hầu hết là chúng ta dám ước mơ điều gì bởi vì cái trí mình đứng xa chứ nhìn đã thấu thấu tới đó. Nên cái việc mà dám ước mơ một ngày nào đó để thành Phật thì người này có cái trí gì đó ngầm ngầm điều đó rồi chứ không phải là không đâu. Còn đa phần nghe nói tới chuyện: "Tu thành Phật nha", mình nghe mình sợ, không dám. Mà tại sao chúng ta có cái trí đó, có cái ước mơ đó? Bởi vì trong một kiếp nào đó chúng ta đã từng cung kính Đức Phật tha thiết, không biết kiếp nào. Có thể mấy triệu năm trước, có lần nào đó chúng ta đã gặp một vị Thánh
[13:10]hoặc là đã có lần dự vào một cái pháp hội của Đức Phật, chúng ta đã đảnh lễ Ngài, chúng ta đã quỳ xuống cúng dường Ngài tha thiết. Cái nhân đó nó rớt vào trong tâm mình nó nằm ở đó luôn. Rồi có thể những kiếp sau mình cũng quậy đồ dữ lắm lung tung, nhưng mà cái nhân mà đã từng kính Phật cúng Phật nằm mất nằm chặt trong đó không gỡ ra nổi. Dù mình có quậy tưng bừng hàng xóm trơn đi, rồi một ngày nào đó rồi cũng gặp tượng Phật, gặp chùa, gặp giáo lý rúng động toàn thân, thậm chí quay đường về, không thể sống một đời sống xấu xa tầm thường được nữa. Nên cái nhân mà một lúc nào đó chúng ta đã từng thiết tha
[13:47]cung kính Đức Phật hay cung kính một bậc Thánh nó thành cái nhân rất mạnh, chìm sâu, cấy cấy chặt chẽ trong trái tim của mình không gỡ ra được. Nếu một kiếp nào đó chúng ta đã có may mắn được như vậy thì thật là một đại diễm phúc. Không phải chúng ta ngồi đây đều được điều đó đâu, kể cả quý thầy. Nhiều khi quý thầy có duyên xuất gia á, nhưng mà nếu mà nhìn ngược ngược lại trong vô lượng kiếp quá khứ, có khi quý thầy cũng chưa chắc là đã từng có những lúc mà cung kính cúng dường một bậc Thánh nào thiết tha nhiều. Rồi cái duyên xuất gia chỉ là duyên mà cúng dường, cung kính vị tôn túc gần gần đây thôi.
[14:22]Còn cái người nào mà trong kiếp xưa xưa đó mà từng cung kính cúng dường một bậc Thánh á thì họ có cái nhân của sự giác ngộ, giải thoát nó chìm trong tâm họ, gỡ ra không được. Bây giờ có đánh chết, là có đày đọa rồi cái ước mơ giải thoát nó vẫn trỗi lên, nó vẫn sống dậy và nó tìm đường để đi tới. Dù có bị người đó có lỡ chìm vào một đoạn đời nào đó trong cám dỗ, trong hư hỏng, một ngày nào đó cái nhân của sự giải thoát nó cũng trỗi dậy, nó tìm đường để đi ra, chứ không có chìm luôn. Nên thật là một đại diễm phúc nếu kiếp nào đó chúng ta đã từng cung kính thiết tha một bậc Thánh. Nhưng mà nếu chưa có thì làm sao để chúng ta bù đắp điều đó?
[15:03]Mình không nhớ được là kiếp nào đó mình đã cung kính bậc Thánh chưa, mình không nhớ mà cứ coi như không đi ha. Tại vì chưa biết thì coi như không. Thì làm sao chúng ta lấp lại cái chỗ đó? Bổ sung điều đó? Bằng cách là, bằng cách là lễ kính Phật. Chúng ta hãy xem cái thánh tượng này như là Đức Phật tại tiền. Mỗi ngày chúng ta lễ bái Người với trọn cái tấm lòng thiết tha tôn kính. Thì như vậy trong vòng ba bốn năm, năm năm, mười năm thì cũng bằng một cái công đức ở một kiếp nào đó mà chúng ta gặp một Đức Phật hiện tiền mà chúng ta cung kính cúng dường đảnh lễ, bằng. Thiệt, đảnh lễ tượng á, mười năm á, thiết tha hết lòng mới bằng một
[15:48]lần, một lần gặp Đức Phật thật sự để mà cung kính cúng dường. Tại sao vậy? Tại vì khi mình gặp Đức Phật thật sự á cái sự cung kính rất là thực, chuyển hết toàn bộ nội tâm và cuộc đời của mình luôn. Còn đối với tượng thì mình cung kính gì cung kính chứ nó vẫn vẫn không bằng, cho nên phải tích lũy mười năm mới bằng. Mà người nào mà có cái quá trình kính Phật mười năm như vậy thì cũng gọi là có cái nhân giác ngộ rất là cao. Và hôm nay cái phần mà nói về phát a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm là có lý tưởng giác ngộ thì trước hết chúng ta phải ráng cung kính Đức Phật. Cái bài kinh Kim Cang này không nói cho những người mới tu,
[16:29]chúng ta nhớ điều đó, bài này không nói cho người mới tu. Là người trước đó đã có quá trình dụng công rất nhiều, đã có tu tập, có cung kính Phật, lễ bái Phật rồi. Nên vấn đề này được đặt ra một cách nhẹ nhàng, nhưng mà với chúng ta ngày hôm nay, cách Phật mấy ngàn năm thì đây lại là vấn đề rất là lớn, rất là khó. Vì vậy mà chúng tôi không lướt qua đi nhanh là vậy đó. Là vì hồi xưa vấn đề này nêu ra một cách nhẹ nhàng lắm, ai có cầu giác ngộ tối thượng thì hầu hết trong pháp hội mấy ngàn người đó phát tâm gần hết. Nhưng mà ngày hôm nay trong cái pháp hội chúng ta, hỏi ai phát tâm cầu thành Phật?
[17:02]Nghe mình khựng khựng liền, Phật xa quá không dám. Rất là khác nhau, nên chính vì vậy mà chúng tôi nhấn mạnh cái căn bản này trước. Từ cái khởi điểm căn bản này mà nếu mình chưa đánh thông qua được thì sau này mình đi vào kinh rất là vất vả. Có những điều mà mình nghe nói mình không chịu nổi. Khi thì thấy như là vấn đề, nhìn vấn đề như là có thật, khi thì Phật nói vấn đề đó là không. Mình sẽ ngạc nhiên: "Ủa sao khi thì nói không, khi nói có?". Nó rất là phức tạp, nhưng mà nếu ngay từ buổi đầu mình có cái lý tưởng giác ngộ tột cao rồi thì mình tự nhiên có cái trí tuệ ngầm ngầm để mình lách đi qua những
[17:37]vấn đề của giáo lý, đi sâu vào những vấn đề hết sức là tế nhị, uyên áo. Mình lại tìm được cái chân lý mơ hồ như một sợi tơ mà giữa khu rừng già vậy. Giữa khu rừng già lý luận, giữa khu rừng già của cuộc sống phức tạp, giữa khu rừng già của đau khổ và cám dỗ, trong đó có sợi tơ chân lý mong manh mà chúng ta phải có trí tuệ và lý tưởng chúng ta mới tìm thấy được, chứ còn không chúng ta sẽ để vuột qua mất. Chúng ta chỉ chụp lấy những cái sợi dây leo to lớn, rõ, dễ thấy nhưng chỉ là những sợi dây leo rồi tàn úa, chứ không phải những sợi tơ chân lý mà đưa chúng ta vượt lên trên bầu trời cao giác ngộ được.
[18:20]Rồi một cái điều nữa làm cho chúng ta có lý tưởng nữa là lòng thương yêu chúng sinh. Cái người mà có lòng thương yêu chúng sinh lớn chừng nào thì cũng sẽ có lý tưởng lớn chừng nấy, nhớ như vậy. Cái người mà lòng thương người ít quá thì không có phát tâm lớn được. Bây giờ cũng nói một người mà ít thương ai, sống ích kỷ, nói: "Thôi ráng đi tu nha", cái mình thấy ngờ ngờ á. Chứ đừng nói tới chuyện mà tu chứng đạo. Còn cái người mà mình có lòng thương lớn, tự nhiên trong tâm có cái đức, nói: "Bây giờ đi tu nha", nghe họ cảm thấy chấp nhận được. Hoặc là một người đã tu thuần thành mà tâm từ bi lớn,
[18:56]thương yêu tất cả chúng sinh, tự nhiên nói: "Một ngày nào đó phải thành Phật mà cứu đời nha", nghe họ chịu liền, họ chấp nhận. Nên chính cái lòng từ bi lớn cũng đưa đến một lý tưởng lớn. Hồi nãy chúng ta nói á một trí tuệ lớn mới làm xuất hiện một lý tưởng lớn, chúng ta bổ sung thêm là một trái tim lớn cũng làm xuất hiện một lý tưởng lớn. Và như vậy để có thể phát được a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, chúng ta phải trước đó trải tấm lòng thương yêu đến chúng sinh vô tận. Đây là những điều chuẩn bị của kinh Kim Cang. Hôm trước chúng ta giới thiệu kinh rất là dông dài, đủ điều hết. Ngày hôm nay chúng ta bắt đầu đi vào kinh,
[19:39]nhưng mà đụng ngay cái bước đầu tiên là phát tâm cầu thành Phật, chúng ta cảm thấy phải vượt qua được cái bước đầu tiên này. Mà để thành tựu được cái bước đầu tiên này chúng ta mới cảm thấy là vấn đề không nhỏ, vấn đề nó rất là lớn mà phải vượt cho qua, nắm cho kỹ, hiểu cho thấu, rồi sau này đi vào kinh mới có thể dễ được. Chứ ngay cái chỗ này mà không vượt qua được, chúng ta sẽ gặp trục trặc. Nãy giờ gần nửa tiếng mà mới nói có chưa hết cái câu của ngài Tu-bồ-đề. Rồi điều nữa là chúng ta hiểu giáo lý sâu thì chúng ta mới có thể phát tâm lớn, ha. Cái điều này bình thường, ngại đào sâu quá thấy chán.
[20:20]Cái phần thứ hai là là: "Vân hà ưng trụ?" là nên dựa vào điều gì? Nên dựa vào điều gì? Ở đây chúng ta phải hiểu là dựa vào cái quan điểm giáo lý nào để tu hành?
[20:37]Thật ra đó, cái người mà phát tâm cầu thành Phật thì người đó trước đó đã hiểu đạo chưa? Hiểu chưa? Hiểu rồi, thấy không? Hiểu rồi mới phát tâm cầu thành Phật chứ không biết ông Phật là ai đâu mà cầu thành Phật, phải không? Như vậy trước đó phải hiểu đức Phật là gì, giáo pháp là gì, mình học được rất nhiều rồi thì mình mới dám có cái ước mơ một ngày nào đó mình sẽ thành Phật. Thầy đã nói điều này là tất cả quý Phật tử phải phát tâm đó nha, muốn nghe kinh Kim Cang thì trong tâm phải ước mơ thành Phật nha, bởi vì nói những vấn đề sắp tới là như vậy hết. Mình không bao giờ được có cái ước mơ nhỏ khi mà học kinh Kim Cang này.
[21:14]Giờ nói tiếp, khi mà chúng ta có lý tưởng rồi, tức là mình đã có hiểu giáo lý rồi, tức là hầu như mình có quan điểm giáo lý để dựa rồi, chứ không cần phải mà phải hỏi, nhưng mà ngài Tu Bồ Đề lại hỏi lại một lần nữa là dựa vào quan điểm giáo lý nào để có thể tu hành được? Thì vào ngày xưa đó, vấn đề đơn giản hơn, bởi vì giáo lý đức Phật dạy chỉ một mình đức Phật nói, nên chúng ta cứ dựa hết vào lời dạy đức Phật và nhờ đức Phật tóm lại một câu trong bài kinh này là nói cho gọn lại, dựa vào quan điểm nào cho thật gọn để con nắm đó con đi tu luôn. Nhưng mà ngày hôm nay chúng ta trở nên phức tạp vì đạo Phật chia ra rất nhiều nhánh.
[21:57]Chúng ta có hai hệ tư tưởng chính trong đạo Phật là một hệ của Nam tông nguyên thủy và một hệ của Bắc tông đại thừa. Hai cái hệ đó có nhiều quan điểm khác nhau. Thì hôm nay chúng ta không đào sâu, nhưng cái ước mơ của chúng ta là một ngày nào đó hai cái hệ thống tư tưởng lớn này tìm được tiếng nói chung để cho đạo Phật hòa hợp, đoàn kết lại. Rồi ngay trong cái hệ thống Nam tông nguyên thủy thì cái sự tu hành cũng phân nhánh ra nhiều nữa. Ở những cái thiền viện mở ở bên Tích Lan, ở Miến Điện thì họ mỗi người lại nắm một cái góc giáo lý để họ dựng một cái cái trung tâm thiền để dạy người ta tu, chứ không phải là mỗi một trung tâm thiền là
[22:35]dạy cái đường lối tu toàn bộ là giáo lý nguyên thủy. Cho nên là cũng phân nhánh rồi. Bên Đại thừa cũng vậy, bên Bắc tông đại thừa nói là Bắc tông đại thừa đó là chia ra không biết mấy chục cái quan điểm, cái hệ thống tu hành. Nào người thì thích Mật tông, người thích Tịnh độ, người thích Thiền, người người thích Thiên Thai, giáo quán, người thích tụng Pháp Hoa, người thích là Trung Luận, vân vân, nghĩa là rất nhiều rất nhiều. Vì vậy đạo Phật cứ bị phân nhánh đi hoài, cứ càng lúc càng sai cái gốc. Cái thiện chí của chúng ta ngày hôm nay là đã tới lúc là đưa tất cả trở về lại cái nguồn. Là người đệ tử Phật chúng ta ngày hôm nay,
[23:13]tăng ni hay Phật tử, chúng ta không khuyến khích cho cái sự phân nhánh nữa. Nếu người nào mà dựng nên một cái giáo pháp mà đưa ra một cái nhánh mới, chúng ta nên tìm cách hạn chế lại. Chúng ta nên khuyến khích trở về cái nguồn cội ban đầu để cho đạo Phật có một tiếng nói chung. Đó là cái quan điểm mà chúng ta phải dựa vào trước, là một cái quan điểm dựa vào gốc là chính, không có chấp nhận sự phân nhánh nhiều nữa.
[23:44]Khi mà chúng ta có cái hiểu giáo lý thì chúng ta có quan điểm giáo lý để dựa rồi chứ không phải là không. Nhưng mà ngài Tu Bồ Đề lại hỏi là đặt lại vấn đề là dựa vào quan điểm nào là để làm chi vậy? Là để gợi ý cho Phật mở ra một chỗ dựa mới. Chỗ dựa mới trong kinh Kim Cang là là chỗ dựa nào? Là là Dựa vào đâu? Dựa vào: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", không dựa vào đâu cả. Dựa vào một chỗ không dựa vào đâu cả. Đây là một cái quan điểm mới. Là trước đây khi chúng ta tu hành chúng ta có cái giáo lý rõ ràng để chúng ta nương tựa tu, nhưng mà đến chỗ kinh Kim Cang này thì chúng ta có một chỗ dựa mới là không dựa vào đâu cả.
[24:36]Nghe rất là lạ tai. Vậy là nghĩa là làm sao? Không dựa vào đâu cả nghĩa là sao? Chỗ này cẩn thận, chỗ này cẩn thận. Bởi vì chỗ không dựa vào đâu cả nếu chúng ta hiểu không kỹ, chúng ta lại là một cái người phá hoại toàn bộ đạo Phật. Hễ là ai nói cái gì mình cũng bác là không hết thì chính là mình là người cầm cây búa tày xồi mà đập tan đạo Phật. Nên cái việc mà bác tất cả là không lại là một tà kiến nguy hiểm, một tà kiến nguy hiểm. Nên hết sức cẩn thận cái chỗ mà không dựa vào đâu này. Cái chỗ mà cẩn thận mà không dựa vào đâu đó thì ngài Lục Tổ Huệ Năng đã cảnh giác đệ tử của mình. Thì lúc đó có một người đệ tử hỏi ngài Lục Tổ Huệ Năng thế
[25:22]này, là nói thiền là "bất lập văn tự", theo như cái câu tuyên ngôn về thiền mà ngài Bồ Đề Đạt Ma đã nói là: "Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật", đó là cái câu đầu tiên là "bất lập văn tự" là không lập văn tự, thì mới đến để hạch vấn Lục Tổ Huệ Năng, thì nói rằng tổ xưa đã nói là bất lập văn tự, nhưng mà ngày hôm nay sao thầy nói nhiều quá? Thầy nói nhiều quá. Ổng nghĩa là ổng nào đó không biết, cũng dữ gần bằng những Phật tử từ Tân Bình ở đây chứ không ít.
[26:04]Tổ không lập văn tự mà nay thầy nói nhiều quá, thì Lục Tổ trả lời thế này: là ngay cái bốn chữ "bất lập văn tự" cũng chính là văn tự rồi, đúng không? Ngay cái bất lập văn tự, bốn cái chữ đó cũng là văn tự rồi. Nên bây giờ ví dụ mình gặp người nào mình nói "đừng nói", thì thật ra hai cái chữ "đừng nói" đó đã là nói mất tiêu rồi. Thì cũng vậy. Thì trong cái chỗ mà nói là không dựa vào đâu cả, thật ra đã là dựa rồi, dựa vào cái chỗ không dựa. Nên đây là chỗ chúng ta cẩn thận, đừng nghe nói là không trụ vào đâu cả, Ưng vô sở trụ, rồi bất cứ ai nói điều gì mình cũng bác hết, thì mình lại rơi vào cái lỗi là chấp Không, mà như là Lục Tổ đã đã cảnh cáo:
[26:55]ngay cái chữ "bất lập văn tự" đã là văn tự rồi. Cho nên, văn tự thật sự không có lỗi, mà chỉ có cái lỗi là nếu mình dùng văn tự đó mình diễn tả một đạo lý sai thì làm cho tâm hồn người nghe càng lúc càng càng si mê, càng vô minh. Còn nếu cũng cái văn tự đó mà mình diễn tả một đạo lý chân chính, chính xác thì làm cho người nghe càng lúc càng càng sáng suốt, càng giải thoát giác ngộ, nó như vậy. Cũng vậy, cũng nói rằng là Ưng vô sở trụ, không dựa vào đâu cả, nhưng mà nếu chúng ta có một cái chỗ dựa đúng đắn thì cuộc đời mình càng lúc càng an ổn, còn nếu mình dựa vào một chỗ sai lầm thì cuộc đời càng lúc càng bế tắc, là như vậy.
[27:41]Cuối cùng, cái ý cuối cùng trong câu hỏi đó là "Vân hà hàng phục kỳ tâm?", là làm thế nào để nhiếp được tâm này? Bởi vì tâm con người ta rất là rất là loạn động. Cái người tu trong đạo Phật phải thành tựu cho được cái thiền định nhiếp tâm, vì nếu mà tâm không định được thì quả thánh không chứng được. Đó là cái căn bản. Những tôn giáo khác thì cái yêu cầu về việc nhiếp tâm trong định không đòi hỏi. Những tôn giáo khác họ chỉ đòi hỏi cái cầu nguyện thôi. Thế thì người nào tin nhiều, cầu nguyện nhiều, thì được ơn trên soi đường dẫn lối nhiều. Lâu lâu thỉnh thoảng họ cũng có những giờ phút tĩnh tâm, tĩnh tâm cũng để cầu nguyện.
[28:26]Nhưng mà riêng trong đạo Phật thì cái định phải đòi hỏi thành tựu rất là sâu, không còn ý niệm thô cho đến tế, chấm dứt luôn cả bản ngã, chấm dứt luôn cả vô minh để giác ngộ. Cho nên cái yêu cầu việc thành tựu được cái sức định trong tâm là nhiếp phục được tất cả các vọng tưởng là một cái yêu cầu bức thiết trong đạo Phật. Chúng ta tu theo Phật pháp mà nếu chúng ta chưa có những giây phút hoặc là chưa có cái chìa khóa để nhiếp được tâm mình thì đối với đạo Phật chúng ta vẫn là người đứng ngoài hàng rào, đứng ngoài cửa, dù có thể chúng ta hiểu muôn kinh ngàn quyển. Nên cái vấn đề này là vấn đề cốt tủy, sống chết, then thang.
[29:11]Ví dụ có lý tưởng rồi, có cái giáo lý để dựa rồi, nhưng mà trong cái thực hành phải nhiếp tâm cho bằng được, đây là một yêu cầu bức xúc. Và cái chỗ này là chỗ mà tất cả chúng ta phải xem lại mình. Đến với đạo Phật không có tu chơi chơi được nữa. Có nhiều người đến với đạo Phật cũng có thiện chí, đi hết chùa này tới chùa kia để tham học, học hết vị này tới vị kia, làm hết công đức này tới công đức kia. Những điều đó không sai, nhưng mà nếu không quyết tâm để nhiếp tâm vào trong thiền định được thì người này vẫn mãi mãi là một người khách trong đạo Phật. Bởi vì đứng ngoài cửa, đứng ngoài cửa là khách,
[29:48]chừng nào bước vô nhà mới là không định nói chủ, người trong nhà, ha bằng chủ nữa, ha bằng chủ.
[30:00]Bước vào nhà mới là người trong nhà, tức là bà con anh em ruột thịt gì với ông chủ nhà. Mà ông chủ nhà là ai? Là Phật. Thôi bây giờ mình bước vô Thiền Tôn thì chủ nhà là ai? Thầy trụ trì. Còn mà nếu mình không có nhiếp tâm được thì mãi mãi đứng bên ngoài. Đây là cũng cái cảnh giác chúng ta. Khi học kinh Kim Cang này cảnh giác chúng ta lại, nào giờ chúng ta có thiết tha với cái sự nghiệp nhiếp tâm trong thiền định hay chưa, hay chỉ là một người tu chơi chơi cầu phước, học hỏi, qua ngày đoạn tháng thôi. Ai là người thiết tha với sự nghiệp nhiếp tâm? Nhìn lại trong mình coi. Đây là một điều mà nhiều khi chúng tôi nghĩ, chúng tôi buồn.
[30:45]Buồn ở chỗ thế này, Đức Phật á là ngồi thiền đắc đạo. Chúng ta thờ Ngài đó, thờ Ngài ngồi thiền. Nhưng mà đệ tử Phật thì không chịu dành thời gian ngồi thiền. Rất nhiều chùa đã đi xa với cái gốc là không sắp xếp thời gian để mà ngồi thiền tinh tấn. Đây là điều cũng rất đáng buồn. Ngày hôm nay chúng ta học kinh Kim Cang thì cái câu đầu tiên mà ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật thì đặt ngay vấn đề nhiếp tâm thiền định: Làm sao để hàng phục được cái tâm này? Đây là vấn đề lớn. Cái mà ngài hỏi cũng là cái khắc khoải đại diện cho bao nhiêu người khác. Mà tại sao ngài nêu vấn đề đó ra? Cái câu đó ngài dư sức trả lời không? Dư sức trả lời không? Dư.
[31:34]Ngài đắc đạo rồi, ngài là một vị A-la-hán rồi, những điều đó ngài đã đi qua hết. Nhưng mà tại sao ngày hôm đó ngài hỏi Đức Phật? Đố anh chị, tại sao? Duyên cớ?
[31:50]Duyên cớ là vì thế này, là vì ngài sống rất là từ bi. Ở trong đại chúng, là một vị thánh nhưng ngài sống rất là bình dân. Ngài xuất thân là công tử quyền quý, giới nhà giàu rất là nể ngài. Cũng là thầy tu với nhau hết á chứ, nhưng mà cái ông thầy tu mà xuất thân từ cái giai cấp nghèo khổ đó, mấy ông nhà giàu không để ý, giai cấp quyền quý không để ý, nhưng mà đối với ngài Tu-bồ-đề là một công tử con quan đại thần, cho nên người nhà giàu họ nể phục. Cũng là Tỳ-kheo và cũng là thánh tăng, nhưng mà có cái lý lịch rất là lớn, cho nên người ta vẫn nể. Cuộc đời nó vậy, đời nó vậy. Nhưng mà đặc biệt là ngài Tu-bồ-đề là không vì điều
[32:28]đó mà ngài sống một đời xa lạ với huynh đệ. Ngài sống rất là hòa ái, khiêm cung. Vì vậy, có nhiều Tỳ-kheo trẻ khi mà xuất gia sống trong tăng đoàn, được quý thầy lớn dìu dắt, thì có nhiều vị Tỳ-kheo trẻ đã thương quý ngài Tu-bồ-đề, đã gần gũi học hỏi và đã hỏi ngài Tu-bồ-đề nhiều đạo lý quan trọng. Và trong những cái đạo lý quan trọng đó thì có một cái câu mà ngài cứ phải trả lời hoài là, "Con tu thiền mấy bữa nay sao vọng tưởng không có nhiếp được?" Những người mới tu á, đối phó với vọng tưởng rất vất vả, vọng tưởng không nhiếp được. "Là xin tôn giả dạy con cái cách nhiếp tâm cho hiệu quả." Đúng không?
[33:15]Mình bây giờ sao có phải vậy không? Mình bây giờ cũng y chang vậy. Ngồi thiền ba bữa cứ lại than, "Sao nhiếp tâm chưa được?" Thì ngày xưa ngài Tu-bồ-đề cũng khổ sở vì vấn đề này với các Tỳ-kheo trẻ. Khi xuất gia vào, ngồi thiền cũng tinh tấn nhưng mà cứ tư tưởng nó cứ lộn xộn cào lên, rồi cứ đến than với các vị trưởng giả lớn. Mà trong đó ngài Tu-bồ-đề là người từ ái, dễ gần nên cứ tới than hoài. Than hoài cho nên ngài cũng trả lời, ngài cũng dạy. Nhưng mà rồi ngài mới phát hiện đây là vấn đề lớn. Vấn đề lớn quá, nhiều người phải phải đối diện quá. Nên một hôm đẹp trời, một hôm đẹp trời là khi Đức Phật mở cái pháp hội cho
[33:53]thăm vấn thì ngài đã mạnh dạn đứng lên thưa Đức Phật lại vấn đề này. Trong một câu hỏi đặt ra ba vấn đề: lý tưởng giác ngộ, quan điểm giáo lý để dựa và cách nhiếp tâm, hàng phục nhiếp tâm. Bởi vì ngài thấy ngài hỏi câu này là hỏi có phải hỏi cho ngài không? Không, ngài nhiếp xong mất tiêu rồi, ngài chứng đạo mất. Ngài hỏi giùm cho vô số những người tu, mà trước hết là những huynh đệ của ngài trong tịnh xá Kỳ Viên, những người huynh đệ của ngài tu sau ngài đồng thời Đức Phật và đại diện hỏi giùm cho vô số chúng sinh về sau này, phải không? Vô số chúng sinh. Chúng ta cũng rất vất vả về vấn đề nhiếp tâm.
[34:33]Ở đây có ai nhiếp tâm dễ không? Ai nhiếp tâm dễ thì khỏi nghe kinh này. Còn ai nhiếp tâm cảm thấy khó, không biết thế nào hàng phục kỳ tâm thì thôi chịu khó nghe ha. Nghe bài kinh này để xem ngài Tu-bồ-đề hỏi như vậy và Đức Phật trả lời ra làm sao. Chúng ta khi chúng ta nghe bài kinh này thì chúng ta cũng song song nghe bài giảng về Tứ Thánh Đế phải không? Về Bát Chánh Đạo. Trong Bát Chánh Đạo thì cái phần nhiếp tâm là nằm ở phần nào? Chánh Niệm và Chánh Định cuối cùng. Là muốn có Chánh Niệm, Chánh Định cuối cùng thì Đức Phật dạy chúng ta phải chuẩn bị cả một đời sống thánh thiện trước đó từ Chánh
[35:11]Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng. Là vừa rồi học Chánh Mạng rồi phải không? Tức là học cách làm ăn. Chánh Nghiệp là làm phước, Chánh Mạng là làm làm ăn, Chánh Tinh Tấn sắp tới là là là đừng có làm biếng, đừng làm biếng. Sắp tới mùng một chúng ta học về Chánh Tinh Tấn. Nghĩa là phải có cả một đời sống thánh thiện trước khi chúng ta đi vào Chánh Niệm, Chánh Định. Thì đối chiếu với cái đó qua kinh Kim Cang thì lại có ba vấn đề. À chúng ta so sánh nha, trong Bát Chánh Đạo là từ Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, hai cái sau là Chánh Niệm, Chánh Định là thiền định, nhiếp tâm;
[35:51]còn bên kinh Kim Cang thì nêu thành ba vấn đề: thứ nhất là lý tưởng giác ngộ, thứ hai là quan điểm giáo lý và thứ ba là nhiếp tâm luôn. Cho nên so sánh giữa ba điều mà ngài Tu-bồ-đề đặt ra với Bát Chánh Đạo thì rõ ràng là kinh Kim Cang khái quát ít hơn bên Bát Chánh Đạo, phải không? Ít hơn. Bát Chánh Đạo kỹ hơn. Tại Bát Chánh Đạo cái Chánh Kiến đã là lý tưởng rồi, cái Chánh Kiến đã là cái hệ thống giáo lý rồi, vậy mà còn phải tu Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn đủ hết rồi mới nói tới vấn đề nhiếp tâm. Còn trong kinh Kim Cang thì cái ý tưởng giác ngộ với cái giáo lý để dựa gom hai cái đó lại chỉ bằng cái
[36:34]Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo, rồi sau đi thẳng luôn vào vấn đề nhiếp tâm. Như vậy bỏ qua một loạt những vấn đề cần thiết là Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn. Như vậy so sánh giữa ba vấn đề kinh Kim Cang với Bát Chánh Đạo thì Bát Chánh Đạo vẫn kỹ lưỡng hơn, chính xác hơn. Như vậy.
[36:57]Nói tới vấn đề nhiếp tâm á thì chúng ta thấy là cần phải chuẩn bị rất nhiều điều trước khi chúng ta nhiếp được tâm trong thiền định. Chúng ta phải chuẩn bị về đạo đức nè, chúng ta phải chuẩn bị về công đức, chúng ta phải có một thân thể khỏe mạnh qua cái khí công, chúng ta phải có một cái phương pháp đúng, chúng ta phải có sự chuyên cần và chúng ta phải có một bậc thầy hướng dẫn tốt. Là để tu tập thiền định chúng ta đòi hỏi rất nhiều điều kiện như vậy. Chúng tôi nhắc lại: thứ nhất là phải có đạo đức, thứ hai là phải có công đức, tức là làm được nhiều việc phước giúp người; thứ ba là phải có một cơ thể khỏe mạnh,
[37:38]chứ mà gầy nhom, ốm yếu như chúng tôi vậy là thua; thứ tư là một phương pháp dụng công đúng, rồi sự sự chuyên cần, tinh tấn, và quan trọng là có một vị thầy hướng dẫn mình. Là chúng ta phải có nhiều điều kiện để có thể nhiếp tâm trong thiền định chứ không phải đơn giản. Và ngay từ xưa Đức Phật cũng đưa ra rất nhiều cái cách để dụng công vào trong thời nguyên thủy. Và cũng trong cái thời đó các vị chứng đạo cũng đóng góp nhiều phương pháp nhiếp tâm, rồi sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn cho đến ngày hôm nay, nhiều vị thánh tăng, nhiều vị thiền sư, nhiều vị tổ sư, nhiều vị đại sư cũng sản sinh ra nhiều phương pháp nhiếp tâm khác nữa.
[38:23]Là như vậy chúng ta thấy nói về phương pháp nhiếp tâm thì thật là nhiều, thật là đầy những phương pháp nhiếp tâm. Và bây giờ chúng ta không biết là phải phải tu theo phương pháp nào. Đây là cái điều hên xui, may rủi thôi. Là nếu mà chúng ta may mắn, chúng ta may mắn chúng ta gặp được một cái pháp môn thích hợp là chúng ta sớm nhiếp được tâm, còn nếu không may mắn thì chúng ta tu vòng vòng hoài, cái tâm nó cứ loạn hoài, không tới đâu hết. Đó, nói về phương pháp thì vậy. Nhưng mà riêng kinh Kim Cang á thì chúng ta tìm mỏi mắt không thấy một phương pháp cụ thể nha, không thấy một phương pháp cụ thể làm
[39:03]sao nhiếp tâm, mà Đức Phật đưa ra một phương pháp cực kỳ trừu tượng, nghe xong mình không hiểu gì hết, không biết làm sao tu.
[39:13]Có một đoạn sau này Đức Phật sẽ dạy là phải làm cho tâm thanh tịnh, đừng có đi tìm cái tâm thanh tịnh, đừng có làm cho tâm thanh tịnh bằng cách dựa vào một cái đối tượng bên ngoài, dựa vào sắc, đừng làm cho tâm thanh tịnh bằng cách dựa vào thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chỉ nên làm cho tâm thanh tịnh bằng cách không dựa vào đâu cả. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Cái câu đó nghe tu được không? Phải làm cho tâm thanh tịnh bằng cách không dựa vào đâu cả. Vậy mình tu làm sao? Cái người nào nghe câu đó xong mà nắm được cách tu liền thì người đó bằng Lục Tổ. Hồi xưa Lục Tổ nghe câu đó xong ngộ đạo, nhiếp tâm luôn.
[39:54]Vậy ai giơ tay lên? Lên trên này, ngồi chỗ này. Nhưng mà không dễ thấy không? Cho nên rõ ràng là trong cái thời nguyên thủy, cũng như cái nhiều vị thánh tăng, nhiều vị thiền sư có những phương pháp nhiếp tâm. Những phương pháp nhiếp tâm đó rất là cụ thể. Mà riêng trong kinh Kim Cang thì phương pháp nhiếp tâm mà như không có phương pháp nào cả, không có gì rõ ràng. Cho nên cho dù chúng ta thiện chí tu hành cách mấy mà nghe cái câu là ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, nghĩa là làm cho tâm thanh tịnh bằng cách không dựa vào đâu cả, mình nghe chới với liền. Chứ nếu mình không có trí tuệ, mình không có một bề dày dụng
[40:35]công, mình đã không có một cái sức định sơ sơ nào trước đó, nghe câu này không hiểu, không biết đường để đi vào. Nên vì vậy, kinh Kim Cang rất là khó cho những người sơ cơ. Vậy mà chúng ta hôm nay, chúng ta đã can đảm hay liều mạng dám học bài kinh Kim Cang này. Là có thể nhiều khi chúng tôi triển khai không hết, quý Phật tử hiểu không nổi. Hoặc là có khi chúng tôi triển khai được, mà quý Phật tử nghe cũng không hiểu nữa. Bởi vì kinh này nó khó như vậy đó. Nên vì vậy, đòi hỏi chúng ta có thiện chí, trước hết là chúng ta phải có ước mơ lớn, cho nên chịu khó ngồi nghe. Nghe qua những đoạn không hiểu mà vẫn không, không ngủ. Nhớ như vậy.
[41:17]Tại vì nguyên tắc nghe giảng pháp á, chỗ nào mà không hiểu là sẽ ngủ. Đúng không? Mình đi nghe ông giảng sư ông giảng, ổng nói cái gì mà không hiểu, cái từ từ mình nhìn trời hiu quạnh rồi cái thả hồn theo mây gió luôn, mất tiêu. Cho nên ở đây, cái đầu tiên mà ngài Tu-bồ-đề gài chúng ta, ngài gài chúng ta, người gài là phải ước mơ thành Phật. Cho nên vì vậy, mà nghe tới cái đoạn mà không hiểu, đành phải ráng mà, mà thức chứ không được ngủ nữa. Tại vì mình lỡ mình mơ thành Phật rồi, có Phật nào mà ngồi mà ngủ gà ngủ gật mà nghe pháp mà thấy không? Do đó, thôi đành phải đau khổ mà ráng mở con mắt mà nghe tiếp.
[41:52]Không biết nói cái gì đây. Nhưng nghe cái câu: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", nghe câu đó là dễ ngủ vô cùng, ngủ liền. Bây giờ chúng ta nghe Phật trả lời. Chà chúng ta nghe Phật trả lời mà nghe xong rồi mình cũng không biết gì cả luôn. Nghĩa là kinh Kim Cang có cái hay vậy đó, càng nghe càng không biết gì hết. Hay. Đặc biệt của kinh Kim Cang.
[42:15]Nghe hỏi là chới với rồi, mà nghe trả lời càng càng ngày càng không biết. Cho nên chúng ta ráng nha, đừng ngủ nghe, để nghe Phật trả lời. Nè, Phật nói này những thiện nam tử, thiện nữ nhân nào phát tâm cầu giác ngộ tối thượng, hãy dựa vào những điều ta sắp nói, hãy hàng phục nội tâm theo cách mà ta sắp dạy như thế này. Đừng, cách như thế nào? Chúng ta nghe xong mình cũng chới với luôn. Phật cáo Tu-bồ-đề: Chư Bồ Tát Ma Ha Tát ưng như thị hàng phục kỳ tâm. Là chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục nội tâm như thế này, là nên nghĩ rằng: Đối với tất cả chúng sinh như loài sinh bằng trứng, loài sinh bằng thai, loài sinh dưới nước, loài sinh về cõi trời, loài có hình hài,
[42:53]loài không có hình hài, loài có tưởng, loài không có tưởng, hoặc loài vừa có tưởng mà nhưng không phải có tưởng, là phi hữu tưởng, là phi vô tưởng. Cái này nghe bắt đầu là mờ mờ rồi đó nha, cũng dễ ngủ. Ta đều khiến cho tất cả chúng sinh đó nhập vào vô dư Niết bàn để diệt độ giải thoát. Như thế, nghĩa là ta sẽ diệt độ cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sinh, mà thật ra vẫn không thấy có chúng sinh nào được ta diệt độ cả. Đó là cái cách để nhiếp tâm, hàng phục kỳ tâm. Tu được chưa? Tu được chưa? Hiểu gì không? Hả, hiểu gì hết? Nghĩa là mình đã không biết rồi mình hỏi Phật, Phật trả lời xong mình càng không biết thêm nữa.
[43:33]Đó là cái kinh điển Đại thừa đó, kinh Kim Cang đó. Nghĩa là khi mình mình đã mờ mịt mình không hiểu, mà trả lời mình làm thêm hai ba cái không hiểu nữa, chỉ có nước điên luôn, à không điên thì ngủ. Nên cái người mà có phước là về ngủ, mà người vô phước là điên luôn nghe câu trả lời này. Rồi như vậy hiểu làm sao? Không hiểu gì hết.
[43:57]Có ai hiểu không? Ai hiểu không? Quý Phật tử có bản dịch dưới đó không? Có không? Nhớ ráng cầm bản dịch nha, cầm để cho thấy mình giống như giỏi lắm vậy đó, thật sự không hiểu gì hết trơn á.
[44:14]Ý thế này, là đây là rất lạ, đây là điểm đặc biệt của kinh Kim Cang nè, là khi mà hỏi cách để mà nhiếp tâm, thì thay vì là giống như là truyền thống trước giờ Đức Phật nói: "À, vậy các ngươi phải ngồi kiết già, thẳng lưng, an trú chánh niệm trước mặt, theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra ha. Thấy thân này vô thường, thấy tâm này vô ngã". Nói trong đó mình biết là có phương pháp. Đang nói chuyện nội tâm, hỏi cách nhiếp tâm, Đức Phật lại nói chuyện độ sinh, là phải độ cho tất cả các loài chúng sinh được nhập vô dư Niết bàn. Dù chúng sinh đó là loài sinh bằng trứng, loài sinh bằng thai, trứng như con gà phải độ luôn
[44:53]đó, loài sinh bằng thai, loài sinh dưới nước, loài sinh hóa sinh là sinh cõi trời, loài có hình hài, loài không hình hài, loài có tưởng, loài không tưởng, tức là Phật nêu ra những cái chúng sinh mà mình không hình dung nổi luôn. Ví dụ nói chúng sinh sinh bằng trứng mình hình dung được không? Được, mình thấy chim, thấy thằn lằn, thấy gà, hiểu rồi. Loài sinh dưới nước thì như cá. Hoặc là loài sinh bằng thai như là con người hoặc là con bò, ví dụ không? Loài hóa sinh thì mình hiểu là thôi về sinh về cõi trời ha, hoặc sinh về thế giới siêu hình. Loài có hình hài thì giống như mình đi. Loài không hình hài là vô sắc.
[45:27]Loài có tưởng thì là mình giống như mình. Loài không tưởng, rồi loài chẳng phải có tưởng là phi hữu tưởng, mà chẳng phải không tưởng, phi vô tưởng, những chúng sinh mà mình không hề hình dung nổi luôn. Tức là Phật nêu một loạt các chúng sinh ra và Phật yêu cầu mình phải độ hết những chúng sinh đó phải đắc đạo thì mình sẽ nhiếp tâm được. Câu này nghe mâu thuẫn không? Rất mâu thuẫn, bởi vì sao? Bởi vì nguyên tắc là mình phải nhiếp tâm được trước phải không? Mình phải đắc đạo rồi mình mới độ được chúng sinh đắc đạo. Trong khi cái câu trả lời Đức Phật lật ngược vấn đề lại, là trong khi mình đang đi tìm cách nhiếp tâm không ra
[46:04]mà Đức Phật buộc mình phải độ tất cả chúng sinh đắc đạo để mà nhiếp được tâm mình. Câu trả lời rất là ngược, rất là phi lý, không hợp lý, rất là lạ tai, nghe chới với không hiểu. Mà chúng ta phải thấy cái lạ của kinh Kim Cang như vậy. Nhưng mà đây cũng là điều vĩ đại của kinh Kim Cang, cũng là một con đường mở ra Phật giáo Đại thừa, mà sẽ làm cho đạo Phật sống dậy từ cái câu trả lời mà kỳ cục, kỳ khôi, kỳ dị, kỳ lạ này.
[46:35]Nghĩa là sao?
[46:40]Nghĩa là nghĩa là chúng ta muốn đắc đạo, chúng ta muốn dựa vào quan điểm tu hành, chúng ta muốn hàng phục được nội tâm thì chúng ta phải bắt đầu bằng cái lý tưởng độ sinh, chứ không phải là bắt đầu bằng cái việc mà đóng cửa vào một chỗ nào đó yên tu. Đây là quan điểm kinh Kim Cang. Nghĩa là Đại thừa, cái giáo lý Đại thừa có cái công thức thế này. Dĩ nhiên công thức thì nhiều lắm, nhưng mà chúng ta tạm nói cho dễ hiểu. Chúng ta viết lên bảng: Đại thừa bằng
[47:13]giáo lý Không cộng với lý tưởng độ sinh. Nhớ không kìa? Bây giờ ai hỏi mình Phật giáo Đại thừa là gì, thì mình trả lời: "Đại thừa bằng giáo lý Không cộng với lý tưởng độ sinh". Câu đó không sợ trật. Tức là thấy cái tất cả là không, nhưng mà trong tâm thiết tha giáo hóa tất cả chúng sinh đều được giác ngộ. Hai cái đó thiếu một bên là trật. Nếu mà một người lúc nào cũng thiết tha độ chúng sinh, nhưng mà không thấy tất cả là không, thì không phải Đại thừa. Người đó tâm cũng tốt đó, nhưng mà làm đâu chấp đó, làm đâu dính đó, cũng không phải Đại thừa. Hoặc là một người nói thấy tất cả là không, mà không hề có cái lý tưởng, có cái ước mơ thiết tha để
[47:56]giáo hóa chúng sinh, thì người đó cũng không phải Đại thừa. Tại vì người đó sẽ trở thành Tiểu thừa luôn, thấy gì cũng không, rồi sẽ không làm gì hết. Người đó cũng trở thành Tiểu thừa luôn. Nên vì vậy, chúng ta định nghĩa thế này: Hỏi "Đại thừa Phật giáo là gì? Giáo lý Đại thừa của Bồ Tát là gì?", chúng ta nói: "Đại thừa bằng lý tưởng độ sanh cộng với thấy tất cả là không". Đó. Đồng ý chưa? Nha. Và như vậy, cái câu trả lời đầu tiên của Phật nó nằm luôn hết cả hai luôn. Một câu một. Thứ nhất là lý tưởng độ sinh, phải không? Cái câu cuối cùng là: "Vẫn không thấy có một chúng sinh nào được ta độ", tức là thấy tất cả là không.
[48:41]Như vậy trong cái câu trả lời đầu tiên, Đức Phật lại gom hết giáo lý Đại thừa vô trăng trỏng. Rồi vậy rồi đó, tu được rồi đó, dạy xong. Được chưa? Rồi nhớ ha, rồi thôi nghỉ ha.
[48:58]Đến vấn đề như thế nhưng mà cái câu trả lời đầu á rất là dài. Đức Phật nêu ra quá chừng loại chúng sinh, ha, loài sinh bằng trứng, loài sinh bằng thai, sinh dưới nước, đủ thứ hết trơn là để làm chi vậy? Là đặt vấn đề thế này, để giải quyết được cái vấn đề nội tâm của mình, lại phải có một cái ý thức lớn lao về việc cứu độ chúng sinh. Nhớ như vậy, chúng tôi lặp lại, để giải quyết cái việc của nội tâm thì chúng ta phải có một cái ý thức lớn lao về việc cứu độ chúng sinh. Nên không thể tách rời cái việc mà giải quyết cái nội tâm của mình với vấn đề độ chúng sinh bên ngoài. Hai vấn đề đó không được quyền tách rời.
[49:38]Không được quyền tách rời. Và kinh Kim Cang là một bài kinh mà siết hai vấn đề đó lại thành duy nhất. Đây là điều chúng ta phải tỉnh táo để nhìn cho ra. Nên có những người để đi tìm một nội tâm thanh tịnh bằng cách tách rời cái việc độ sinh ra, xem cái việc độ sinh là cái gì bận tâm, không có muốn dính líu vào, thì người này đã hiểu sai kinh Kim Cang cũng như là hiểu sai giáo nghĩa Đại thừa. Trong cái giáo nghĩa của Kim Cang Đại thừa thì việc mà giải quyết vấn đề nội tâm với vấn đề độ chúng sinh bên ngoài phải được xem là một, là duy nhất. Nếu trong tâm mình còn thấy hai vấn đề đó tách rời thì mình chưa
[50:19]hiểu được giáo nghĩa Đại thừa, nhất là của kinh Kim Cang này. Mà đây là điều dễ hiểu không? Không, phải không? Nào giờ là chúng ta hay hiểu lầm là chúng ta nói cái việc mà độ sinh bên ngoài là một việc bên ngoài, còn việc mà nhiếp nội tâm bên trong là việc bên trong. Nên có những người mà thấy làm việc lo việc Phật sự quá, xong rồi nói, "Thôi anh lo tu đi anh ơi, đi đâu mà cứ lo lung tung hoài." Thì người đó không hiểu Đại thừa. Mà cái người mà cứ đi làm bên ngoài hoài mà không chịu ngay trong đó để tu nhiếp tâm mình thì người đó cũng không hiểu Đại thừa. Nên giáo lý Đại thừa là cái chỗ mà việc nhiếp tâm và việc giáo hóa
[50:57]chúng sinh phải luôn gắn kết thành duy nhất, không tách rời được. Và để mà có một lý tưởng độ sinh đúng nghĩa, chính đáng, sâu sắc thì Đức Phật buộc chúng ta phải lường trước cái sự khác biệt của các loài chúng sinh. Đức Phật buộc chúng ta phải lường trước cái sự khác biệt của các loài chúng sinh. Và đây là điều quan trọng. Có nhiều người trong chúng ta hiểu cái chữ chúng sinh rất là tổng quát. Hỏi, "Chúng sinh là cái gì?" Nói, "Dạ là tất cả chúng sinh, người, vật, rồi đủ thứ, chúng sinh trong ba cõi sáu đường." Nói sơ sơ vậy thôi. Và mỗi ngày chúng ta đều quỳ trước Phật, đều cho nguyện cho tất cả chúng sinh đều thành thành Phật.
[51:44]Mà chúng sinh là ai thì nói, "Ờ thì ai cũng chúng sinh." Nói chung chung. Nhưng mà riêng trong kinh Kim Cang, Đức Phật không cho phép chúng ta hiểu cái nghĩa chúng sinh theo cách đó nữa. Đức Phật buộc chúng ta phải hiểu chữ chúng sinh một cách kỹ lưỡng, sâu sắc, thực tế và đầy đủ. Vì khi mà chúng ta có cái lý tưởng giáo hóa chúng sinh thì phải hiểu chúng sinh là gì. Và hiểu một cách sâu sắc, toàn diện, kỹ lưỡng chứ không được quyền hiểu chung chung như từ trước đến giờ chúng ta vẫn hiểu nữa. Là có khi chúng ta quỳ trước bàn Phật chúng ta rải tâm từ bi thương yêu tất cả chúng sinh, cái chúng sinh đó là chúng sinh bị chê trong kinh Kim Cang đó.
[52:24]Chúng sinh mà chung chung đó là chúng sinh bị chê đó. Nào là vì làm sao cái cho cái chúng sinh đều được giác ngộ giải thoát, sao cho chúng sinh biết thương yêu nhau, là sao cho chúng sinh đều được quy đồng trong Phật pháp. Cái chữ chúng sinh đó là bị chê trong kinh Kim Cang này. Đối với kinh Kim Cang này, chữ chúng sinh không được quyền hiểu một cách khái quát, đơn giản, sơ sài. Phải hiểu nghĩa chúng sinh một cách thật là kỹ lưỡng, sâu sắc. Tại sao phải hiểu như vậy? Chúng ta phải hiểu như vậy thì cái lý tưởng của chúng ta nó mới nó triệt để được. Còn mà mình hiểu sơ sơ tức là cái người đó không có cái lý tưởng độ sinh thật sự.
[53:05]Chúng ta phải nhớ một điều thế này: cái người kỹ là người thông minh và là người đó thực tế mới làm được việc. Còn người hời hợt là người không thông minh, không thực tế, không làm được việc.
[53:21]Ví dụ bây giờ mình nói chuyện đơn giản là chuyện quét nhà là làm sao? Nói, "Dạ cầm cây chổi quét quét." Biết ngay người đó không thông minh, không kỹ lưỡng, dường như chưa quét nhà nữa. Đúng không? Bây giờ mình hỏi một người mà có từng cầm chổi quét nhà thì hỏi bây giờ quét nhà là sao thì họ nói sao? Nói, "Trước hết lựa cái chổi tốt, phải không? Vô cái nhà chỗ nào mà bị che thì giở lên hết, cầm mấy cái ghế chất lên bàn hết để cho nó trống ở dưới. Quét trong ngóc quét ra, quét từ trong ra ngoài gom lại. Nếu ai mê tín dị đoan thì quét vô trong bếp hốt trỏng, ai không mê tín thì quét ra cửa hốt luôn ngoài đó."
[53:56]Có ai mà quét rác ra ngoài vì sợ tiền đi ra có không? Ở đây có không ta? Có. Tưởng giờ cũng còn. Hồi nhỏ chúng tôi bị cái đó rồi tưởng giờ hết rồi chứ. Hồi nhỏ hồi nhỏ quét nhà cái mẹ mới dặn, "Con đừng có quét đi ra, quét ra tiền ra hết, quét vô rồi hốt." Giờ cũng còn. Đó, thì tức là khi mà mình hỏi quét nhà như thế nào thì người mà có quét thì họ sẽ diễn tả rất kỹ lưỡng. Người đó có kinh nghiệm, thực tế, có làm và có thông minh. Còn cái người mà cứ nói chơi: "Ờ thì cứ cầm chổi quét quét." Biết người đó hình như chưa quét, ẩu, lười và hổng thông minh. Chúng ta nhớ một điều, người càng thông minh chừng
[54:34]nào, người đó càng kỹ lưỡng chừng nấy. Người sống trên đời mà hời hợt, không kỹ lưỡng là người không thông minh. Đó là một câu chúng ta có quyền khẳng định. Người sống mà lơi phơi như trên mây là người không thông minh. Mà chúng ta nhớ đi vào trong lĩnh vực toán học cũng vậy. Đi vào trong lĩnh vực toán học, một dấu phẩy nhỏ không được trật, không được trật. Một cái gạch xéo, gạch ngang không được quyền trật, vì trật cái là tiêu hết toàn bộ kết quả. Thế nên mà người thông minh mới làm toán được. Và trong cuộc sống cũng vậy. Nên do đó, khi Đức Phật nói về khái niệm chúng sinh để mà chúng ta phát tâm
[55:08]chúng ta độ, Đức Phật không cho phép chúng ta hiểu chúng sinh khơi khơi. Mà phải hiểu một cách cặn kẽ chúng sinh là những loài nào, chặt chẽ thế nào, để chúng ta hiểu mỗi loài khó độ thế nào, loài đó dễ độ như thế nào. Mà có những loài mà cao hơn mình thì như thế nào, những loài chúng sinh thấp hơn mình thì như thế nào. Phải hiểu cho hết chứ không được hiểu chúng sinh khơi khơi, sơ sài. Nên ngày hôm nay chúng ta học kinh Kim Cang chúng ta mới giật mình nhìn lại là nào giờ mình sao? Mình hời hợt phải không? Hiểu đạo không tới, hiểu sơ sơ hả? Vậy mà tưởng mình ngon. Đi đâu cũng nói là, "Tôi tu chùa Từ Tân nhiều năm rồi nghe.
[55:43]Mấy người đừng đụng tới tôi à, chết à, mang nghiệp." Không ngờ là ngày hôm nay học kinh Kim Cang mới biết trước giờ chưa có gì hết.
[55:55]Khi mà biết như vậy đó, biết mỗi loài như vậy đó, thì chúng ta tự nhiên hình dung ra cái cách mà để tiếp cận với loài đó, để gieo duyên với loài đó và để giáo hóa với loài đó, phải không? Ví dụ như mình phân biệt cái chúng sinh giàu, nghèo, sang, hèn thì mình biết à đối với người giàu mình phải tiếp cận như thế này, đối với người nghèo mình sẽ tiếp cận như thế này. Và khi tiếp cận như vậy mình sẽ gieo duyên lành với họ như thế này, gieo duyên lành chứ không đem gieo duyên dữ nha, duyên lành. Rồi sau đó từ từ đưa Phật pháp đến cho họ như thế này. Nên có nhiều người mới than, nói, "Sao lại có nhiều người sao khó đưa
[56:28]băng họ nghe quá, họ không chịu nghe?" Bởi vì mình mình chưa tiếp cận tốt, chưa gieo duyên lành tốt thì khoan đưa tới giáo lý. Cho nên ở đây việc Phật buộc chúng ta phải hiểu nhiều loài chúng sinh để mình hình dung hết những cái phức tạp, cái khó khăn trong việc độ chúng sinh. Mà khi nào trong đầu chúng ta hình dung ra việc độ chúng sinh, chúng ta đã thực hiện được việc độ chúng sinh và chúng ta sẽ thấy ngay đó cái việc nhiếp tâm của mình cũng đang bắt đầu thành tựu từ từ luôn. Đó, đây là một cái điều rất là mầu nhiệm, vi diệu, như một phép lạ, như một phép lạ. Là chúng ta cứ tưởng là mình bận tâm lo bên ngoài
[57:03]thì mình bỏ trống cái nội tâm của mình, nhưng không ngờ ngay khi mình vất vả mà tiếp cận, gieo duyên, giáo hóa chúng sinh theo từng loài một cách có hiệu quả là từng người, từng người bắt đầu họ được an lạc trong giáo pháp, bỗng nhiên mình sẽ thấy cái nội tâm mình từ từ đang chuyển biến dần, chuyển biến dần. Vâng, tới giờ ngồi thiền nhiếp tâm an ổn từ từ. Đây là một phép lạ mà Đức Phật nêu cái vấn đề này ra ngay bước đầu làm cho mình chới với, làm cho mình ngạc nhiên nhưng mà không, rất là sắc bén, rất là hợp lý. Tuy nhiên có những loài rất là phi thực tế như loài sinh bằng trứng, loài sinh dưới nước, nghĩa là những cái súc
[57:45]sinh vô trí, căn cơ thấp, thì tiếp cận cách nào? Độ cách nào? Ví dụ bây giờ mình đi hỏi một người bình thường là đối với chúng sinh, đối với loài mà sinh bằng trứng hoặc là sinh dưới nước thì phải xử lý làm sao? Thì họ sẽ trả lời sao? Họ sẽ trả lời một cách đơn giản nhất là đem rô ti. Nhưng mà ở đây Đức Phật buộc chúng ta đối với những loài chúng sinh vô trí đó, thấp kém như vậy, dường như chỉ để cho các loài khác ăn thịt, vậy mà trong đầu mình vẫn phải nghĩ tới việc độ chúng sinh đó. Dù không độ được, nói cũng không nghe, thấy mình đâm đầu chạy mất, mà người khác thấy là muốn nhậu. Vậy mà buộc một người đệ tử Phật phát tâm tu tập theo Đại thừa,
[58:32]có lý tưởng giác ngộ thành Phật thì nhìn một chúng sinh đó vẫn phải nghĩ cái cách để độ, đem giáo pháp đến cho loài đó. Thì chúng ta thấy khó không? Khó không? Đó, sự tu hành là như vậy, khó như vậy, triệt để như vậy đó, đó mới là giáo lý của Đại thừa đó. Triệt để như vậy, khó khăn như vậy, vất vả như vậy và đó là Phật pháp. Nên chúng ta hiểu được những cái điều này trong Phật pháp, chúng ta mới thấy Phật pháp cao siêu, vĩ đại và thiêng liêng. Chúng ta mới thấy chúng ta may mắn có cái duyên lành gì nhiều đời để ngày hôm nay mình được làm một người đệ tử Phật quỳ dưới chân Phật mà đảnh lễ Phật, muôn đời không bao giờ mà đền ơn được
[59:12]hết Phật vì những cái giáo lý vĩ đại như thế này. Với những chúng sinh mà người ta coi thường, người ta chỉ nghĩ tới cách ăn thịt và mình vẫn phải từ bi thương yêu mà nghĩ trong đầu mình cái cách tiếp cận để giáo hóa, gieo duyên, bây giờ chưa giáo hóa được thì vẫn gieo duyên, tiếp cận gieo duyên. Đó, phải triệt để như vậy. Mà triệt để như vậy, nhìn một loài chúng sinh tầm thường như vậy mà vẫn nghĩ đến chuyện độ sinh, giáo hóa, tiếp cận gieo duyên. Ví dụ nhìn con chim bay lóc phóc từ cành cây này qua cành cây kia, Phật không cho phép mình nhìn một con chim đó với tâm vô tư, thờ ơ, lạnh nhạt, hờ hững, Phật không cho phép nha.
[59:54]Nghĩa là kinh Kim Cang này không cho phép chúng ta nhìn bất cứ một chúng sinh nào với một cái tâm hờ hững, vô tư, thờ ơ, lạnh lùng, nhạt nhòa, hờ hững nha, không được, xa cách là không được, mà phải nhìn bằng cách nào? Phải nhìn với cái tâm làm sao? Vẫn mơ ước cho con chim đó ngày nào đó thành người đắc đạo. Phải có cái ước mơ đó, nghĩa là cái ước mơ đó sẵn ở trong tâm mình, nhìn thấy muôn loài đều gợi cái ước mơ mình vào chúng sinh đó hết. Dù có khi thấy con giun bò dưới đất, thấy con chim trên cành cây, thấy con cá lội dưới sông, vẫn phải khởi một cái ước mơ trong tâm mình cho muôn loài ngày nào đó đều đạt được giác ngộ, giải thoát. Phải như vậy.
[1:00:41]Khó không? Quá khó. Nghĩa là so với vô số các tôn giáo khác trên thế giới này thì cái giáo lý này quá cao siêu, dường như không còn thực tế nữa. Nhưng mà cái chỗ không thực tế này là cái chỗ triệt để của Phật giáo, của Phật giáo Đại thừa, mà chúng ta phải phải biết, phải tu tập, phải thực hành cho bằng được, không được hờ hững. Mà muốn như vậy thì đòi hỏi cái người này phải có cái tâm từ bi lớn và có trí tuệ lớn. Tâm từ bi lớn thì dễ hiểu, nghĩa là khi thấy con chim, mình có cái lòng thương yêu chúng sinh nên mình mới có cái cái ước mơ con chim đó cũng được biết Phật pháp, thành người và được đắc đạo là do tâm từ bi.
[1:01:22]Nhưng còn trí tuệ là sao? Là chúng ta có trí tuệ lớn chúng ta mới dám ước mơ điều đó. Dám ước mơ đó là con chim đó trong cái nhân quả như vậy, nhưng mà nếu được có duyên lành, được cái sự chú nguyện của mình, một ngày nào đó con chim đó cũng thành cũng thành người, con chim nó thành người. Và cũng hy vọng là nó có duyên với mình hay với Phật pháp khắp nơi, một ngày nào đó nó được nó được được được giải thoát. Nên phải có cái trí tuệ nhìn thấy nhân quả nhiều kiếp.
[1:01:58]Đó là nói đến những chúng sinh mà ở căn cơ thấp là dường như mình không còn cách nào để độ, vậy mà buộc vẫn phải có cái suy nghĩ. Bây giờ lại có những chúng sinh mà Phật đặt ra tột cao, như là những vị thánh mà ở những cái cõi trời vô tưởng, vô sắc. Là những vị thánh đó đối với mình sao? Mình không đáng là cái móng chân của những vị đó nữa. Ví dụ như một vị chứng A Na Hàm thì sinh được cõi trời là Sắc Cứu Kính là cao nhất của cái cõi Sắc. Mà có những vị chứng đạo cao hơn, nhập vào tầng định cao hơn, các ngài ở cõi đó không còn hình hài nữa, chỉ còn cái tâm thôi, không có hình hài. Mà những vị đó so với mình sao?
[1:02:38]Mình hạt bụi không đáng nữa. Tức là những người mà ở cõi vô tưởng, vô sắc họ đã được cái định rất là sâu, họ an trú trong cái cõi trời không có hình hài, chỉ có tâm thức vô tướng. Vậy mà Phật buộc mình cũng phải hướng tâm đến những cái vị thánh cao hơn mình đó và vẫn ước mơ là những vị đó cũng đạt được giác ngộ rốt ráo luôn chứ không đứng yên ở cõi trời đó. Nên mình thấy cái suy nghĩ của cái bài kinh này như thế nào? Cái tư duy, cái tư tưởng bài kinh này như thế nào? Quá sức phải không? Quá sức tưởng tượng của con người mình. Nên hôm nào giờ đó, bao nhiêu năm qua chúng ta học những giáo lý nó bình thường
[1:03:14]và thực tế mà khi đụng vào kinh Kim Cang chỉ mới có câu trả lời đầu tiên của Đức Phật là mình té ngửa liền, đụng như đụng vào bức tường đá liền. Vì những cái suy nghĩ, những cái tư duy, những tư tưởng nó quá sức tưởng tượng là đối với cái loài dường như không biết gì mà vẫn phải nghĩ cách để tiếp cận gieo duyên và đối với những bậc thánh vượt hơn mình trùng trùng trùng, lòng mình vẫn phải có cái hướng tâm đến chứ không được bỏ qua. Đừng có nghĩ rằng: "Ồ, mấy vị đó siêu hơn tôi nhiều, không cần quan tâm." Phật không cho phép điều đó. Phật không cho phép mình hờ hững với một con chim nhảy trên cành cây, cũng không cho phép mình hờ hững với những vị thánh
[1:03:49]mà cái mức độ chứng ngộ đã cao hơn mình rất nhiều. Phật không cho phép mình hờ hững. Tức là tâm mình vẫn phải phủ trùm. Đối với con chim nhảy lóc chóc qua những cành cây, mình vẫn phải có cái ước mơ cho cái loài chúng sinh đó đắc đạo. Đối với những vị thánh đã cao hơn mình tột cùng, mình vẫn phải có cái ước mơ là những vị đó cũng sẽ vượt khỏi cảnh giới đó để đạt được cái sự chứng ngộ hoàn toàn viên mãn như Phật. Cái ước mơ vĩ đại, toàn triệt, thấu đáo, cùng khắp như vậy. Và điều đó Phật buộc mình, đó là những khái niệm ban đầu của kinh Kim Cang mà những điều này phải thấm thấu, phải đi xuyên qua rồi sau này lần lần
[1:04:27]từng bước chúng ta mới đi vào trong kinh Kim Cang, những cái nghĩa lý không phức tạp mình mới bắt đầu dễ hiểu được, mới dễ chịu được. Còn những khái niệm ban đầu này mà chưa đánh thấu qua được, hiểu một cách sơ sài, cạn cợt thì sau này mình sẽ hiểu những cái nghĩa không hiểu lầm thành tà kiến liền. Đây là những bước đầu căn bản, không nói gì không hết, mà toàn nói chuyện có mà phức tạp vô cùng.
[1:04:53]Nãy giờ mình nói chuyện những chúng sinh thấp, chúng sinh cao, bây giờ nói chuyện chúng sinh ở cõi người là nơi chúng ta cư trú, là nơi mà chúng ta thực hiện cái lý tưởng độ sinh, ha, nơi mà chúng ta dễ dàng tiếp cận giáo hóa là những con người, phải không? Giờ trở lại những con người. Nãy mình nói là loài chim, thai sinh, thấp sinh, loài hóa sinh, vô tưởng, vô sắc, bây giờ mình nói lại những con người là những cái chúng sinh mà được gọi là hiện thực, thực tế, có thể tiếp cận giáo hóa dễ. Đây là chỗ mà chúng ta phải dốc sức ra lòng để mà làm cho được, chứ không nói chuyện trên lý thuyết nữa. Ví dụ đối với loài chim mình gửi vào đó một cái ước mơ,
[1:05:35]đối với các loài thánh mình gửi lên đó một cái ước mơ, nhưng mà đối với loài người thì không phải là chỉ ước mơ, mà phải phải thực hiện bằng hành động cụ thể. Và chúng ta cũng phải lường trước được là cũng là nói là con người đó, nhưng mà sao? Cực kỳ muôn trùng sai biệt, chứ không phải nói là người tức là giống nhau hết, không có đâu. Phải không? Người vẫn sai biệt nhau muôn trùng, phức tạp vô cùng về cái tâm lý, về giới tính, về chủng tộc, về ranh giới, về tín ngưỡng, về thành phần, về văn hóa, đủ thứ mặt hết trơn. Và theo tinh thần kinh Kim Cang, chúng ta buộc cũng phải hiểu hết từng thành phần như vậy và có cái hướng cụ thể để giáo hóa,
[1:06:22]chứ không có hiểu loài người là hiểu chung chung được nữa. Chúng ta học tinh thần kinh Kim Cang là phải thấu đáo, phải kỹ lưỡng, không bao giờ được hiểu một vấn đề gì sơ sài, thoáng qua, khái quát. Hiểu vấn đề gì phải hiểu cho tới nơi. Như nãy chúng ta nói các loài chúng sinh, bây giờ nói loài người thì cũng không được nói cái loài người chung chung nữa. Phải phân biệt ra nhiều, cái người có đeo mắt kiếng khác mà người không đeo mắt kiếng cũng khác nhau. Khi mà hiểu như vậy thì chúng ta mới có cái cách để mà làm cho cặn kẽ và phải có cái kế hoạch, có cái nghiên cứu, có cộng tác với nhau, có phân loại, có cái phương pháp để tiếp cận.
[1:07:02]Nên trong cái việc mà giáo hóa loài người để cho loài người biết Phật pháp, thì chúng ta phải có cái này, phải có kế hoạch, chứ không có làm đại. Chúng ta phải có nghiên cứu là đối với đối tượng đó, loại giáo lý nào thích hợp, gặp lúc nào thích hợp, đưa họ đến lúc nào thích hợp. À, ví dụ có những người đó không bao giờ nói đạo nghe, nhưng mà canh cái lúc nào đó họ đau khổ họ khóc, cái tới đó nói đạo họ nghe, ví dụ vậy. Có những người bình thường nói không nghe, mà lúc nào họ vui vẻ họ cười thì đến nói đạo họ nghe. Cho nên phải biết có nghiên cứu, có cộng tác, tức là đừng bao giờ nghĩ cái việc giáo hóa chúng sinh là việc của một mình mình,
[1:07:40]không bao giờ, và phải luôn luôn nghĩ đến cộng tác cùng nhiều người bắt tay lại để làm việc với nhau. Phải biết phân loại, mỗi loại chúng sinh dòng nghiệp khác nhau, rồi có cái phương pháp tiếp cận khác nhau. Bây giờ chúng ta nói nha, chúng ta phân loại cái chúng sinh ở loài người, nghe xây xẩm luôn. Nghĩa là ngày xưa kinh gợi ý cho chúng ta kỹ một, ngày hôm nay chúng ta phải kỹ 10. Bây giờ chúng ta phân biệt. Bây giờ chúng sinh khác nhau về quốc gia. Phải không? Nói là loài người chứ sự thật là trên thế giới này có nhiều quốc gia khác nhau lắm: người Anh, người Mỹ, người Tàu, người Pháp, người Đức, người Việt, đủ thứ hết.
[1:08:22]Và mỗi quốc gia khác nhau như vậy thì cái biên giới khác nhau và cơ cấu chính trị luật pháp mỗi quốc gia nó khác nhau. Mà khi hiểu như vậy thì chúng ta phải có cái suy nghĩ là chúng ta vẫn phải tìm cách để đem cái Phật pháp vượt qua các biên giới, hòa vào các đất nước, tuân thủ theo luật pháp của họ để mà truyền bá. Phải không? Suy nghĩ như vậy. Được chưa? Mình vẫn phải nghĩ trong đầu mình, nghĩa là khi có dịp, mình làm được thì làm liền. Nhưng mình phải hiểu là mỗi đất nước cái con người khác nhau, cơ cấu chính trị luật pháp khác. Nhưng mình không có sợ, luôn luôn phải nghĩ tới, hễ có dịp là đưa giáo pháp vào, vượt qua các biên giới. Đó.
[1:09:06]Và hòa theo luật pháp của nước đó, sống tùy thuận với cái nền chính trị đó để mà đem gieo rắc cái giáo pháp tại đó không có sợ, đó. Rồi bây giờ, con người khác nhau về ngôn ngữ. Con người khác nhau về ngôn ngữ thì chúng ta phải tìm cách chuyển dịch cái giáo lý vào mọi ngôn ngữ. Ví dụ mình hiểu đạo rồi thì đừng có nghĩ là giáo lý chỉ nằm ở cái tiếng Việt Nam. Mình nếu mình có cơ hội thì mình nên đem cái giáo lý đó chuyển sang ngôn ngữ khác. Ngôn ngữ đó làm sao? Thì thường á là phải là những người giỏi thì mới làm việc này được, phải không, mới có thể dịch cái giáo lý này ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức được.
[1:09:48]Mà nếu mình không giỏi thì mình làm sao? Mình không thể tự mình dịch được thì mình làm sao? Thì mình xúi, trời ơi dễ ừm, xúi.
[1:10:02]Thì mình xúi người ta dịch, mình giúp người ta dịch, mình hỗ trợ người ta dịch. Nên phải có cái suy nghĩ chứ không được để yên là con người trên thế giới nhiều ngôn ngữ khác nhau, mình sẽ có cái lý tưởng là đem cái giáo lý chuyển ra hết mọi ngôn ngữ. À cứ từ từ mà làm, không kiếp này kiếp kia, hễ rủ người này được rủ người khác. Gần là những cái ngôn ngữ trong cái sắc tộc chung đất nước với mình, ví dụ như tiếng Khmer, tiếng Chơ Ro, tiếng Rađê, tiếng Mường, tiếng Mán, tiếng Thái, tiếng Tày, tiếng Nùng. Rồi còn xa hơn là những ngoại ngữ nước ngoài. Hễ có điều kiện, có cơ hội mình đều khuyến khích những
[1:10:39]người đã biết cái ngôn ngữ đó để họ chuyển dịch ra. Ví dụ bây giờ mình biết cái người đó họ biết cái tiếng người Ê Đê, cái đầu mình đem giáo lý cho cái người đó họ nghe trước. Họ nghe lần lần họ trở thành một Phật tử thuần thành rồi, thì mình mới khuyến khích họ là bây giờ thôi anh chuyển những cái giáo lý này sang tiếng Ê Đê đi, để cho cái người Ê Đê có dịp mà tiếp cận với Phật pháp, thì người ta sẽ làm, phải không? Đó, như vậy là chúng ta có cái hướng. Hễ thấy ai biết được cái ngôn ngữ nào là mình tới mình dụ người ta tu trước. Đó, ví dụ thấy người biết tiếng Quan Thoại cái mình đưa băng người ta nghe.
[1:11:11]Người ta nghe mà nó thấm quá, người ta thương Phật quá rồi cái mình nói thôi vậy thôi anh chuyển này qua tiếng Quan Thoại đi, phải không? Rồi tháng tôi cho anh 2.000 ví dụ. Rồi bây giờ con người khác nhau về văn hóa. Các nền văn hóa khác nhau thì cái cách tiếp cận phải khác nhau. Ví dụ cái người Á Đông chúng ta thì lễ nghĩa, sống biết kiềm chế nè, sống kín đáo, sống chung thủy, nhân hậu, ổn định. Thì cái cách mình đến với những người như thế với Phật pháp rất là dễ, tại Phật pháp cũng nhiều cái yếu tố như vậy. Nhưng bây giờ nếu mình gặp cái người Tây phương thì họ năng nổ, thực tế, bộc lộ, giàu có và không ổn định, dễ xáo trộn.
[1:11:55]Họ sống không có cái như là giao tiếp buông tuồng, vân vân. Thì đối với những đối tượng như vậy, mình sẽ tiếp cận như thế nào, giáo hóa như thế nào, vân vân. Nên mỗi cái vùng văn hóa có cách nói chuyện, tiếp xúc khác nhau.
[1:12:12]Thì tùy theo cái mà mình có duyên với những vùng văn hóa nào, mình sẽ đem giáo pháp đến với người ta thích hợp như vậy. Ừ. Rồi con người khác nhau về căn cơ. Là có người đã tu nhiều đời, có người thì ít tu chưa biết gì. Thì mình tiếp cận mình giáo hóa làm sao? Chúng sinh thì rất là nhiều, mà có cái người đã có nhiều đời tu hành rồi, mà có những người thì ít tu, thậm chí có người chưa biết gì về đạo. Thì bây giờ mình phải tiếp cận giáo hóa làm sao?
[1:12:47]Thì trước hết á là mình phải tranh thủ những người mà có thiện căn trước, những người đã có tu những đời trước, phải không? Mình cung cấp thêm giáo lý cho người đó để họ tiến bộ hơn, rồi sau đó những người đó sẽ đem giáo lý đến cho những người ít căn cơ hơn, căn cơ kém hơn, chứ làm sao một mình bao quát được hết, phải không? Tức là mình gặp cái người mà có duyên lành với đạo mình tiếp cận trước, mình cung cấp giáo lý trước, giúp người ta tu trước, rồi chính những người đó sẽ tiếp tục đem giáo lý đến cho những người thấp kém hơn, đại khái như vậy. Có lần Phật trả lời cái điều này cũng hay lắm. Nói là có người hỏi Đức Phật, nói Phật nói là thương yêu chúng
[1:13:27]sinh bình đẳng mà sao thấy đâu phải là Phật giáo hóa cùng lúc mọi người đâu, mà thấy Phật cũng có những người giáo hóa Phật giáo hóa trước, người Phật giáo hóa sau. Đức Phật mới trả lời giống như ông vậy, ở trong nhà khi ông dạy những người học trò phải không, thì những cái mà cái kỹ thuật khó thì ông dạy cho ai trước? Nói dạ phải dạy cho người học trò giỏi trước. Rồi sau đó mới nhờ người học trò giỏi dạy cho người học trò dở. Đó thì Như Lai cũng vậy. Khi mở đạo thì Như Lai cũng phải lựa những người đệ tử xuất sắc Như Lai dạy trước, rồi sau đó những người đó mới đi dạy cho những người tiếp. Đó thực tế là vậy đó.
[1:14:00]Đó là trong cái thực tế như vậy nó mới hiệu quả, chứ không phải nói là vì lý thuyết là mình thương yêu tất cả chúng sinh rồi cùng lúc ai mình cũng độ hết thì không hiệu quả, phải không? Đó vậy đó. Rồi con người khác nhau về trình độ. Ví dụ có người học vấn lên tới thạc sĩ, tiến sĩ, tốt nghiệp đại học, hay là tốt nghiệp phổ thông trung học, nhưng mà có người đến với đạo thì lúc đó họ mới học xong lớp 3, lớp 4, lớp 5. Thì trong mỗi người như vậy mình phải có cách tiếp cận khác nhau, phải không? Với cái người mà họ quen lý luận, họ giỏi rồi thì mình có thể cung cấp cho họ những lý luận rất là sắc bén, để sau đó họ hiểu đạo Phật sâu luôn.
[1:14:40]Nhưng có những người mà do cái trước đây cái việc học cái duyên mà học ít quá, thì mình sẽ cung cấp những cái giáo lý đơn giản để cho họ vẫn có thể hiểu được đạo. Đó là cái cách tiếp cận khác nhau về những con người khác nhau. Rồi con người khác nhau về về tầng lớp. Là có người giàu, có người nghèo, người sang, người hèn, người có chức làm chủ, người làm nhân viên, vân vân. Và như vậy chúng ta mỗi người phải có cách tiếp cận khác nhau. Ví dụ cái người mà ở tầng lớp thấp á thường cái ngã của họ cũng nhẹ, cái người đó vậy chứ mà dễ đến với đạo, mình đến nói chuyện họ dễ mến. Nhưng cái người ở tầng lớp cao họ giàu sang
[1:15:17]thì họ thường dễ là người kiêu mạn, nên khó, khó tiếp cận. Mình đến mình đưa cái đạo lý họ nhìn mình còn nghèo hơn họ, nói: "Tu gì nghèo hơn tui tu chi?", có nhiều người nói vậy. Có không? Có, có nhiều lắm. Có nhiều người ông chủ lớn họ không không thèm màng tới đạo pháp. Tại họ nhìn những cái người mà có tín ngưỡng, những người mộ đạo, họ nói: "Mộ đạo gì còn nghèo hơn tui nữa. Tui không mộ đạo như vậy giỏi sống trên đời mà thành công được là do cái đầu", họ nghĩ như vậy. Tức là họ do tui giỏi giắn, tui phấn đấu, tui tiết kiệm này kia nay tui giàu, còn mấy cái người mộ đạo nghèo hơn tui nói gì.
[1:15:51]Họ sẽ có kiêu mạn như vậy. Nên vì vậy là mỗi thành phần đó chúng ta có cách tiếp cận khác, để làm sao mà đem đạo đến cho họ thì đó tùy duyên thôi, chứ ngay đây mình không có đưa ra cái phương pháp cụ thể. Hôm nay là chúng ta chỉ giới thiệu từng thành phần để mỗi người chúng ta hình dung chúng sinh là phức tạp như vậy, chứ đừng có hiểu chúng sinh chung chung. Nhiều khi mình nói là lý tưởng độ sinh, độ chúng sinh thì đừng hiểu chúng sinh chung chung mà phải hiểu là chúng sinh muôn trùng phức tạp sai biệt. Rồi con người khác nhau về tín ngưỡng. Là có những người đã là đạo Phật và có những người thuộc tôn giáo
[1:16:28]khác, thì chúng ta vẫn phải có cách tiếp cận khác, phải không? Ví dụ là người đạo Phật rồi thì mình rất là dễ, mình cứ bổ sung thêm những giáo lý mà họ đã học. Trước đây họ đã học giáo lý vị này vị kia, nay mình thấy có giáo lý nào hay thì mình gửi đến để bổ sung thêm, chuyện đơn giản. Nhưng mà gặp có những cái người đã có một tín ngưỡng khác thì mình phải có bổn phận cũng giới thiệu đạo Phật đến với họ, nhưng mà đừng đụng chạm đến những cái tín ngưỡng sẵn có của họ để không gây mích lòng. Như vậy. Tại vì sao? Bởi vì xưa giờ trên thế giới này, cái xung đột về tín ngưỡng rất là gay gắt. Vì vậy, khi một người mà có cái nhiệm vụ,
[1:17:10]có cái phát tâm mà đem cái đạo Phật giới thiệu đến mọi người thì phải khéo léo, tránh cái đụng chạm về tín ngưỡng đối với những cái tín ngưỡng đã có sẵn trong gia đình họ, ở trong lòng họ. Như vậy chúng ta mong một sự bổ sung thôi, chứ đừng có tranh giành hay là xung đột. Đó như vậy. Rồi trường hợp có những người mà họ tu học cao hơn mình, có những người mà họ tu học cao hơn mình thì sao? Thì mình mình phải quý trọng, mình trợ duyên ủng hộ để cho họ được tu thêm, để cho họ được giáo hóa. Rồi họ tu hơn mình, họ giỏi hơn mình thì họ có thể giáo hóa nhiều hơn thì mình ủng hộ, mình quý trọng. Đúng không? Đúng ha.
[1:17:57]Rồi có những người mà tu kém hơn mình thì mình sao? Thì mình thương yêu, mình dìu dắt, mình tạo cơ hội để cho họ được làm phước, để cho họ được tu hành, phải không? Đó. Rồi đối với những vong linh mà vất vưởng không đầu thai được nằm trong cõi siêu hình thì mình phải làm sao? Phải nghĩ tới nha, không được bỏ. Phải làm sao? Thì phải thường là mình cúng thí cho họ ăn, tại vì họ thường hay bị đói, tụng kinh cho họ nghe, khuyến khích cho họ tu, để trong cõi đó họ vẫn được qua cái duyên của mình vẫn tiếp cận được với Phật pháp. Rồi bây giờ có những người mà họ thánh thiện, họ sống một đời sống cực kỳ tốt đẹp, an lành, cao cả thì mình phải sao?
[1:18:45]Tức là người đó họ hơn mình đó, mình phải làm sao? Mình phải ca ngợi để làm gương cho những người khác. Tức là bản thân mình chưa có cái tấm gương đặc biệt nhưng mà mình chộp được ai mà có cái tấm gương tốt thì mình phải ca ngợi nhân ra cho mọi người biết liền, để cho mọi người có những tấm gương tốt. Chúng ta nhớ điều này, con người ta sống trên đời rất cần những tấm gương tốt để noi theo. Ví dụ bây giờ có một người ngồi trên bục giảng là khuyên là là quý Phật tử đừng có nổi nóng nha, sống với nhau nhớ hiền lành, đừng nổi nóng. Thì mình nghe thì nghe cũng cũng hay nhưng mà chưa được thuyết phục.
[1:19:23]Nhưng mà nếu hôm nào mình gặp một người mà họ gặp chuyện trái ý nghịch lòng, họ điềm đạm, hiền lành, tha thứ, nó còn hơn 1 triệu bài thuyết pháp. Nhưng chúng ta nhớ trên đời này, những cái tấm gương là rất quan trọng. Vì vậy mà khi chúng ta bắt gặp được một tấm gương của bất cứ ai ở trên đời, mình phải nhanh chóng truyền rao cho mọi người nghe để cho mọi người được khuyến khích mà thực hành theo như vậy. Cái tấm gương rất là quan trọng, chúng ta biết ơn tấm gương lắm. Có một lần chúng tôi nghe kể chuyện là có một vị đó chết. Vì cái đêm mà chờ để đi chôn đó, đêm trước chờ để đi chôn thì những người trong nhà mới ngồi kể chuyện về cái cuộc đời của vị đó.
[1:20:11]Thì những người ngồi nghe ngồi họ ngáp lên ngáp xuống ngủ mất tiêu hết trơn. Vì sao vậy? Là vì để tưởng niệm cái người đó, kể chuyện về cuộc đời của vị đó mà vị đó không có gì đặc biệt hết trơn. Cho nên nghe một lát cái buồn ngủ. Nghe câu đó rồi chúng ta mới hiểu là để có những câu chuyện huyền thoại về những bậc thánh, những bậc minh triết, những vĩ nhân trên cuộc đời này là họ phải cố gắng cả một đời để cho mình có câu chuyện kể trong 5 phút. Mình kể một câu chuyện hay trong 5 phút về cuộc đời của một người nào đó thì người đó đã vất vả, phấn đấu cả một đời của họ để cho mình có một câu chuyện 5 phút.
[1:20:45]Nhưng mà câu chuyện 5 phút đó mình biết ơn biết chừng nào ha, mình quý biết chừng nào và có thể khuyến khích làm gương cho những người khác đến chừng nào. Chúng ta biết ơn những tấm gương, những cuộc đời của những bậc vĩ nhân là như vậy. Cho mình kể 5 phút chứ họ cực khổ cả một đời.
[1:21:06]Bây giờ gặp những người xấu ác thì sao? Những người xấu ác thì mình phải thương xót, chờ cơ hội để giáo hóa và tìm cách ngăn chặn cái việc làm xấu của họ. Giống như mà nhà nước vậy, mở ra những cái trường cai nghiện để tập trung hết những người nghiện, cũng là một cái biện pháp mà ngăn chặn việc làm xấu của họ. Phải không? Chứ nếu mà nói thương họ thôi cứ để họ sống với gia đình, họ tiếp tục họ làm những điều xấu, cho nên nhà nước mạnh tay mở các trại, trường cai gom họ về hết thì đó là đúng và ngăn chặn việc làm xấu. Bây giờ gặp những người mà quá nghèo khổ thì sao? Thì mình vừa giúp đỡ mà vừa vừa hướng dẫn cho họ tu,
[1:21:52]hướng dẫn họ làm phước, vì họ tự họ làm phước thì sau này họ mới hết nghèo. Chứ còn mình giúp hoài họ cứ nghèo hoài. Hãy nhớ điều đó, cho nên khi một người làm việc từ thiện đừng có nghĩ là chỉ dừng lại ở cái mức độ là đem đồ ăn cho người ta mà phải biết hướng dẫn cái người nghèo đó cùng làm những việc phước thì sau này họ mới thoát được cái nghèo của họ, như vậy. Bây giờ gặp những người mà cán bộ viên chức nhà nước thì sao? Thì mình khuyến khích họ tin nhân quả, khuyến khích họ tu tập từ bi để họ thương dân, thương nước thì như vậy họ sẽ làm lợi cho cuộc đời rất là rất là nhiều. Đó, vì những người viên chức là những người có quyền.
[1:22:35]Rồi gặp những người dân thì làm sao? Thì mình khuyến khích họ là tuân thủ luật pháp, sống đời sống tốt đẹp để cùng xây dựng đất nước quê hương rồi tu tập, như vậy. Bây giờ gặp những người mà lớn tuổi hơn mình thì làm sao? Mình sao? Làm sao dụ họ tu? Ví dụ mình đem đạo pháp đến mình nói họ cái nói: "Mày đẻ sau tao bày đặt dạy đời tao hả?" Thì phải làm sao mà hướng dẫn người đó đi chùa biết Phật pháp? Có ai có kinh nghiệm không? Chúng tôi không có kinh nghiệm. Tại vì sao vậy? Bởi vì chúng tôi đi tu á nên có khi gặp người dù lớn tuổi hơn mình nhưng mà cái người tu vẫn như đứng cái vai vế trên nên không bị khó khăn.
[1:23:15]Còn người cư sĩ á, mình sống ngoài đời giống như mọi người mà gặp cái người lớn tuổi hơn mình cái mình khó nói người ta lắm. Bữa nào lại: "Bác bác, đi chùa với con nha!", nói: "Mày bày đặt dạy đời tao hả? Ví dụ, khổ lắm phải không? Nên phải có cách thì ai có cách nào thì thì nói cho mọi người nghe. Gặp người nhỏ tuổi hơn mình thì sao? Dễ phải không? Đó, có tuổi lớn hơn chút, mình cho hai ba cái kẹo rồi bắt đầu dắt đi chùa được. Rồi bây giờ gặp người bà con ruột thịt mình thì mình làm sao tiếp cận, giáo hóa? Gặp người hàng xóm nè, rồi gặp những người đồng nghiệp với mình, rồi gặp những người đồng quan điểm với mình,
[1:23:50]thương mình, rồi gặp những người mà hay chống đối mình thì mình phải làm sao tiếp cận, giáo hóa? Chúng ta thấy nãy giờ kể ra là mình thấy ớn chưa? Đó, thế là Phật nói là: "Thai sanh, thấp sanh, hóa sanh" gì đó là Phật muốn cho chúng ta có cái ý niệm là phức tạp về sự sai biệt của chúng sinh. Thì chúng ta phải hiểu chúng sinh là phức tạp như vậy, mình phải phát tâm hết và đối với chúng sinh gần gũi với mình là loài người, chúng ta cũng phải phân ra rất nhiều loại để mình có cái phát tâm trong đầu mình. Chứ không được nói à nói chúng sinh bao la quá, thôi độ loài người. Nói chữ "loài người" sơ sài cũng bị Phật rầy, Phật không cho phép.
[1:24:26]Tức là chúng ta hiểu về loài người, phải hiểu về loài người rất nhiều thành phần để trong đầu mình chuẩn bị một sự phát tâm. Và đầu kinh Kim Cang này dạy chúng ta là phải phát tâm độ sinh trước trước khi muốn nói gì nói, trước khi muốn tu gì tu. Rồi cái câu nói thế này, là độ cho tất cả chúng sinh đó vào được Vô Dư Niết Bàn nhưng mà thật ra vẫn không thấy có chúng sinh nào được ta diệt độ cả.
[1:24:55]"Ngã giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi diệt độ chi", đó cái câu như vậy. Thì cái câu này đó là chúng ta thấy thế này: Trong thực tế thì cái người chưa đắc đạo thì không thể độ chúng sinh, ngay cả Phật cũng không cứu được hết chúng sinh, đúng phải không? Phật nhập Niết Bàn rồi, chúng sinh đắc đạo hết chưa? Chưa. Cho nên cái câu này không phải thực tế. Đoạn này có hai ý. Đoạn này có hai ý: Ý thứ nhất là thế này, là về cái ước mơ đó, lý tưởng độ sinh đó là phải triệt để, phải toàn diện, phải tuyệt đối. Nói về độ chúng sinh là vậy. Còn cái ý thứ hai là về vấn đề là trong việc thực hiện độ sinh đó thì phải sâu
[1:25:33]sắc, phải kỹ lưỡng, siêng năng, phải phủ trùm, phải thực tế và có hiệu quả. Là đối với những chúng sinh mà chúng ta độ được như là loài người á thì mình phải sao? Phải siêng năng, phải thực tế, phải kỹ lưỡng và có hiệu quả để độ cho chúng sinh loài người. Còn đối với tất cả vô số chúng sinh trong các cõi thì cái ước mơ của chúng ta phải triệt để, phải toàn diện, phải tuyệt đối. Cho nên trong cái câu đầu tiên này đã cho chúng ta một cái gánh nặng rất là lớn về lý tưởng độ sinh mà nếu cái người mà không đi qua được cái này đó là không thể nào nhiếp tâm được. Không bao giờ Đức Phật chấp nhận một cái việc một người tu thiền
[1:26:08]nhiếp tâm vào định mà tiềm tàng trong đó còn sự ích kỷ. Vì sao như vậy? Vì nếu một người tâm nhiếp vào định được mà vẫn còn ích kỷ, chưa có cái lý tưởng độ sinh lớn thì sau này người này sẽ lạc vào ngoại đạo, đứng một chỗ không đắc đạo tuyệt đối được và có thể rơi vào đường tà nguy hiểm do có cái định rồi, có thần thông rất dễ đưa vào đường tà. Vì vậy là Đức Phật buộc làm tiền đề cho cái việc mà nhiếp tâm trong thiền định là cái lý tưởng độ sinh phải toàn diện, phải triệt để, phải tuyệt đối trước. Ngay câu đầu tiên là mình chới với là bởi vì ý tưởng nó lớn quá chứ không phải là khó, không phải là sai,
[1:26:48]không phải là không hợp lý, mà chính vì ý tưởng nó lớn quá làm mình chới với ngay cái câu mà Phật trả lời đầu tiên. Nhưng mà chúng ta đâu ngờ rằng chính cái câu mà lớn lao như thế này mới là một cái nền tảng vững chắc để cho chúng ta đi sâu vào trong thiền định mà không sợ sai lầm. Mọi người đồng ý không? Đồng ý ha. Tuy khó đó nhưng là con đường duy nhất để chúng ta mới vươn cao, bay xa được. Chứ còn nếu chúng ta không đi xuyên qua được điều này thì chúng ta không có vươn cao, bay xa được. Hả? Dạ. Thôi thì có ai hỏi gì không? Có ai hỏi thì đưa câu hỏi lên nha. Ừ, chúng mình nghe mấy câu hỏi nè:
[1:27:37]Thưa thầy, từ bi chỉ dạy phương pháp thế nào để tu tại gia được tốt? Con mới biết Phật pháp chút đỉnh nên không biết định cho mình cách tu thế nào tại gia cho đúng, vì gì cũng làm, pháp môn nào cũng tham gia, như chùa nào con cũng đi: cúng dường, công quả, lễ Phật, cứu trợ, thọ bát quan trai, khóa tu Phật thất. Về tụng kinh thì có ni sư bảo con tụng Pháp Hoa, sau có nhiều thầy dạy con nên tụng Kinh Dược Sư, Kinh Tam Bảo, người tụng Kinh Nhật Tụng, người bảo sám hối sáu căn, người bảo lễ Phật rồi thiền, người bảo vãng sanh niệm Phật, người bảo tụng Kinh Bát Nhã, người bảo tụng Chú Đại Bi. Đi quan trai, còn việc tu bát quan trai, có chùa thọ giới xong cho niệm Phật,
[1:28:07]kinh hành, có chùa tụng Kinh Pháp Hoa rồi thiền, có chùa sám hối sáu căn rồi ngồi thiền. Con thấy pháp nào thấy cũng hay, rồi cũng gần điên rồi. Nhưng sao con thấy bị động quá? Cho nên cái thôi con tự đề ra một pháp tu là chia ra, cứ mỗi ai dạy mình gì đó mình cũng chia ra, một tuần làm cái này, ngày làm cái kia vậy á. Bây giờ cũng hết biết luôn cái gì. Thì sau khi hỏi này xong thì thầy nghe thầy cũng choáng váng không biết trả lời từ đâu luôn. Thật ra đạo Phật mình có cái vậy đó, là đang đi về rẽ nhánh á. Cho nên cái mỗi nơi đều thấy cái nhánh mình là hay. Và chúng tôi đều khuyến khích là mọi người nên đi về cái gốc
[1:28:43]trước, có cái gốc rồi mình muốn chọn nhánh nào cũng tốt. Cái nhánh nào cũng ra trái xoài, miễn đúng là cái gốc xoài. Còn nếu mà không phải gốc xoài thì coi chừng ra trái khác. Nên vì vậy, mình tu theo Phật pháp mình nắm cái gốc Phật pháp trước. Cái gốc Phật pháp trước, cái gốc có ba điều: Thứ nhất là lễ kính Phật, thì lễ kính Phật là mới không mới mới không bị lạc ra ngoại đạo. Thứ hai là tâm từ bi thương yêu chúng sinh. Thứ ba là tâm khiêm hạ, rồi biết làm phước, vân vân. Bắt đầu mới vào thiền. Thì cách để nhiếp tâm thì cách nào cũng tốt. Nhưng mà trở lại cái gốc giùm là lễ kính Phật, từ bi, khiêm hạ, làm phước cái đã.
[1:29:19]Nha, rồi cái gốc, rồi sau đó mọi chuyện sẽ tự nhiên sáng tỏ.
[1:29:26]Con biết có một người, chị này rất chịu khó đi chùa, tụng kinh, niệm Phật. Nhưng có một lần con thấy chị ấy mua cá lóc còn sống, chị ấy lẩm nhẩm đọc kinh trong khi người bán cá đang đập đầu cá, mổ bụng, đánh vảy. Con thắc mắc hỏi: "Sao chị mua cá sống vậy?", chị ấy nói chị đã đọc kinh vãng sanh rồi, cho nên không sao. Này hấp dẫn nè.
[1:29:46]Rồi hỏi vậy là có phạm tội sát sinh hay không? Thì không biết sao, thì mình chỉ nói thế này, thì sau này chị này sẽ có cái phước là lúc mà người ta giết chị đó, người ta cũng đọc kinh vãng sanh cho chị. Xin thầy cho xuất bản tập nhạc Đạo kèm theo băng nhạc để chúng con có thể tập hát với gia đình. Cái câu này rất là hay. Chúng tôi và thầy trụ trì đây vậy, gặp nhạc sĩ Bảo Phúc rất là mừng. Chúng tôi muốn phát triển âm nhạc Phật giáo. Nên sau này khi mà chùa Từ Tân cất xong á, chúng ta sẽ mời nhạc sĩ Bảo Phúc để mà giúp đỡ vấn đề mà phát triển âm nhạc Phật giáo như thế này. Chúng ta sẽ cho ra những bản nhạc, tập nhạc,
[1:30:20]băng nhạc rồi đến đây học nhạc để cho các chùa, các Phật tử đều biết nhạc.
[1:30:28]Người cái người thân mà lúc sống ít làm phước, khi mà chết thì mình làm phước hồi hướng được không? Rất là được, không sao. Có người mất mà mắt không nhắm, miệng không ngậm có phải là chết oan hay là bị nặng nghiệp? À cái tư thế mà lúc chết nó cũng báo một cái tâm tư hoặc là cái nghiệp, cho nên câu hỏi này cũng tinh tế nha. Nên có người chết mà nhiều khi bị hộc máu ra á, chết cả ngày rồi có người khác bước vô cái hộc máu ra liền. Nên đừng có tưởng chết là hết, chết thì vẫn còn. Nên cái người chết mà mắt không nhắm, miệng không ngậm là còn vấn đề chưa ổn, chưa giải quyết, chưa nói được. Ví dụ như ổng giấu 10 cái cây vàng mà ổng chết đột ngột,
[1:31:03]bây giờ không biết làm sao mà nói, chết không nhắm mắt. Vậy, cho nên quý Phật tử mình lỡ có 10 cây vàng mà giấu, thôi đừng giấu nữa đem ở đây đi nha.
[1:31:16]Nếu ta làm phước giúp đỡ hết mọi người thì có nhiều khi chúng ta sẽ giúp lầm người ác nhiều hơn người thiện, phải không? Vì đời này vì cái người ác nhiều hơn người thiện, nên ai mình cũng giúp thì thế nào mình cũng giúp điều ác nhiều hơn điều thiện? Thì câu hỏi này rất là tinh tế. Do đó, khi chúng ta giúp đỡ chúng ta phải giúp một cách nào để bảo đảm điều thiện được phát triển mạnh hơn điều ác. Ừ phải khéo léo, phải khôn ngoan, chứ không phải là nghĩ một cách sơ sài là làm phước rồi đụng đâu cũng giúp. Nên chúng ta học Kinh Kim Cang là nhớ: không được làm cái gì sơ sài, làm gì phải rất kỹ lưỡng, phải biết cho hết.
[1:31:50]Trong các thức, thức nào lý tưởng nhất của đạo Phật? Phật giáo người nói: Như Lai tàng thức, người nói: Mạt-na thức, A-lại-da thức, vậy thức nào? Cái vấn đề này nó phức tạp nằm trong Duy thức á, câu nói này... Cái là một việc dịp nào khác mình nói chuyện hay hơn. Tại nó hơi chuyên môn về Duy thức á, nó nói về cái cấu tạo tâm thức. Có người viết thư rất là dài, có tên, pháp danh, năm đã học hành và thấy cuộc đời quá đau khổ cho nên muốn xuất gia.
[1:32:20]Nhưng hai vai con thì bé, trí tuệ con thì thấp hèn, phước đức lại ít nên con muốn xuất gia rất khó. Chớ ở đời cuộc đời đầy u trược này thì làm sao con không tạo ra tội lỗi, mà mạng người thì khó được, giáo pháp khó gặp. Kiếp sau không có cơ hội tiến hóa được. Và có bài thơ: Nhìn mọi người chạy trong nhà lửa, vui vẻ cười tươi tiếng nói cười, nào tiền bạc, nào danh lợi, nào... đừng nói sơi, đừng chạm, có thầy nữa. Có biết chăng đó là giả tạm? Nhìn mọi người chìm đắm trong khổ hoạn, nước mắt rơi không nói được lời, ước chi con có đức tài trọn vẹn, độ người thoát khỏi ách trần mê. Cảnh nào đẹp bằng cảnh ngự quê ta, pháp nào vui bằng giáo pháp Phật đà,
[1:32:57]giúp người chìm đắm trong biển khổ, vào nơi đất Phật được an vui. Tốt thôi. Không vỗ tay hoan hô hết? Cái tâm nguyện tốt mà. Đây không phải là một câu hỏi mà chỉ nói lên cái tâm nguyện. Thôi thì chúc quý Phật tử nha được trí tuệ như Kim Cang ha, lý tưởng như Kim Cang, lòng từ bi như Kim Cang để mà học Kinh Kim Cang cho nó dễ hiểu, đừng ngủ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Lần nữa cảm ơn nhạc sĩ Bảo Phúc nha. Thôi mình hồi hướng: Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sinh...