Transcript: Pháp Môn Tu Hành Mật Tông

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:24:51

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:16]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:24]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:37]Nam Mô

[0:41]Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:51]Mời quý Phật tử ngồi xuống.

[1:05]Hôm nay chúng ta nghe cái bài cuối trong cái loạt bài là các pháp môn tu hành trong đạo Phật. Bài này chúng ta nói về Mật Tông.

[1:22]Ở đây chắc quý Phật tử cũng có từng nghe qua cái tiếng Mật Tông phải không, nhiều người cũng biết ha, cũng biết về Mật Tông. Thì chúng ta biết Mật Tông đa số là biết rằng Mật Tông là một tông phái chuyên trì tụng thần chú để đạt được nhiều cái thần thông linh ứng, mà có khi thấy giống như là họ trừ tà, chữa bệnh, yếm ma, vân vân, những cái gì mà thuộc loại hơi hơi hơi thần thoại đó, phi thường mà những cái phương pháp khác không làm được.

[2:00]Mà đây cũng là một sắc thái rất là lạ của đạo Phật, chứ từ ban đầu thì trong đạo Phật không có Mật Tông. Khoảng cả ngàn năm sau, Mật Tông mới bắt đầu xuất hiện, chứ trước kia thì đạo Phật không có Mật Tông. Ở bên ngoài dân gian có nhiều cái đạo, mình hay kêu là đạo phù thủy, họ có

[2:26]thần chú, có chữ bùa, có những phương pháp tu luyện để mà đạt được sự linh ứng, chứ trong đạo Phật không có. Đạo Phật chỉ có triết lý, đạo đức, tu tập thiền định cho đến khi cái vị đó đắc được thần thông, thì mới dùng cái thần thông mà sử dụng ứng cơ làm gì đó thì làm. Nhưng mà đến khi mà Mật Tông xuất hiện thì chúng ta mới thấy từ những vị mà chưa hẳn là đã đắc đạo, mà họ có thể nhờ cái năng lực của câu thần chú mà đạt được cái mục đích của mình.

[3:09]Đến khoảng một ngàn năm sau Phật mới có những cái bài kinh về Mật Tông xuất hiện đầu tiên là đưa ra vào những câu thần chú. Mà đến khoảng thế kỷ thứ thứ bảy

[3:22]sau Công nguyên thì Mật Tông mới bắt đầu đến Trung Quốc do những ngài như ngài Thiện Vô Úy, ngài Kim Cương Trí, ngài Bất Không Kim Cương. Còn cái tên mà Chân Ngôn Tông là cái tên tại Nhật đặt ra. Còn ở bên Tây Tạng, trước khi đạo Phật đến thì tại Tây Tạng đã có cái đạo kêu là đạo mình đọc theo tiếng Pháp là Bôn hoặc là Bon cái gì đó mà khi phiên âm qua chữ Nho qua mình kêu đạo Bổng, thì họ chuyên là trì thần chú, tức là một hình thức giống như Mật Tông. Cho đến khi mà đạo Phật vào thì du nhập, đồng hóa cái đạo đó luôn.

[4:05]Còn cái tên như là Kim Cương Thừa là cái tên tại Ấn Độ, Tây Tạng, nghĩa là họ thường thì đạo Phật mình có nói rằng có Tiểu Thừa, Đại Thừa, rồi có khi chúng ta dùng chữ Vô Thượng Tối Thượng Thừa, cứ ai cũng cho mình cái tông mình là cứ cao hơn, cao hơn cái tông khác, thì ở bên Mật Tông họ đặt cái tông họ là Kim Cương Thừa, tức là cái cái thừa mà quý nhất, bất hoại nhất, ai mà tên Kim Cương cũng là vậy đó.

[4:35]Còn bên Tây Tạng thì có thêm cái tên nữa là Đại Thủ Ấn, nghĩa là từ cái vi diệu gì của họ đó rồi họ đặt ra nhiều lắm, nhưng mà càng về sau thì nó rất là lạ. Sau này khi mà sang Trung Hoa rồi, thì nhiều vị đại sư họ tu tập đều có cái sự pha trộn lẫn lộn qua lại giữa cái Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Mật Tông. Lúc đó các tông phái họ không có giữ cái bản sắc mạnh mẽ riêng của mình, mà thấy cái gì hay đều tin là lời Phật dạy, và cái gì lời Phật dạy thì cứ làm theo. Cho nên một vị mà tu theo Tịnh Độ Tông thì cũng cũng có khi trì chú lai lai với Mật Tông, rồi ngay cả có những vị tu Thiền Tông mà cũng trì

[5:17]chú theo Mật Tông, nên đều lai qua lai lại hết. Như những vị mà mà thiền sư của mình ngày xưa cũng vậy, nói là Thiền Tông của Việt Nam chứ mình đọc kỹ lại các sử của các vị thì thấy vị nào cũng lai lai tu Mật Tông ở trỏng. Còn chúng ta ngày nay cũng vậy, mình thấy các chùa gọi là tu Tịnh Độ Tông, cái tông chỉ của Tịnh Độ là niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh. Chúng ta phân biệt chút nha, niệm Phật khác và Tịnh Độ Tông khác. Hôm trước chúng ta nói ở đây là nói pháp môn niệm Phật chứ không có nói pháp môn Tịnh Độ nha. Pháp môn niệm Phật là mình nhiếp tâm bằng một câu niệm Phật, trong đó dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào,

[6:02]lòng mình cũng khởi tâm tôn kính Phật, hướng về Phật, hướng về cái ý niệm Phật trong đi, đứng, nằm, ngồi, thì đó là pháp môn niệm Phật. Còn mà pháp môn Tịnh Độ là niệm danh hiệu Phật A Di Đà để mong sau này chết sinh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà, khác nhau nha. Hôm trước chúng ta nói pháp môn niệm Phật chứ không phải pháp môn Tịnh Độ. Thì mình bây giờ mình tu là tu Tịnh Độ, cũng tụng kinh, niệm Phật nhưng mà cũng thường trì chú. Nên các chùa khi mà vào cái thời tụng kinh đều có bài Chú Đại Bi, rồi cuối cùng Chú Vãng Sanh, rồi các chùa khuya dậy tụng nguyên năm đệ Lăng Nghiêm luôn và thập chú khác, nhiều cái chú lắm.

[6:43]Cho nên không hiểu là cái chủ trương của mình ra làm sao, không biết là mình chủ trương thế nào, nên chỉ lai lai hễ thấy cái gì linh đều là tu, tu rồi mình không hiểu đường đi đâu nữa. Ngay cả như Lăng Nghiêm, Lăng Nghiêm cái bài kinh là nói về tâm, phân tích tâm để cho mình tu thiền, nói về cả cái ngũ ấm ma là những cái trạng thái mà người tu thiền có thể bị để tránh, thì cái bài kinh nó tương đối là khá logic, khá logic, mà cũng lọt vô năm đệ Lăng Nghiêm ở trỏng, phải tụng chú không. Thì nhiều học giả sau này họ cũng nghi ngờ là đến khi mà Mật Tông thịnh hành, họ đã đưa năm đệ thần chú vào trong bài kinh Lăng Nghiêm, bài kinh mà được nhiều người ca ngợi.

[7:29]Vừa rồi tôi có gặp một vị thầy học bên Ấn Độ về, ổng đang học để chuẩn bị lấy cái bằng tiến sĩ, ổng cũng nổi tiếng, ổng giỏi lắm. Thì cái việc mà đạo Phật mình kinh mà gọi là kinh ngụy tạo nhiều lắm. Kinh ngụy tạo, những bài kinh không phải của Phật thuyết nhưng mà người ta cứ giả bộ nói là Phật thuyết. Thì thường là nguyên cái hệ Đại thừa đó, các nhà học giả khi nghiên cứu đều cho là không phải Phật thuyết, sau này đưa vào. Nhưng ông thầy này ổng nói là cả Nam Tông cũng bị, cả kinh Nikaya cũng bị ngụy tạo đưa lọt vào chứ không phải là thuần là lời là đúng cái lời Phật dạy không. Thì thì ổng đang làm cái công việc là ổng san định,

[8:16]nghiên cứu lại, tại vì là nghiên cứu để lấy luận án tiến sĩ nên họ nghiên cứu dữ lắm. Ổng nói tôi mới hỏi là: "Thầy căn cứ vào những điểm nào mà nói là Nikaya cũng có bị ngụy tạo?". Ổng nói: "Ví dụ rằng có một lần Đức Phật đi trên đường, lúc Ngài cũng vừa mới đắc đạo, Ngài còn trẻ, gặp một vị Bà-la-môn già, lớn tuổi khoảng 80, gặp Phật cái ổng mới mắng Phật, ổng nói: "Sa-môn Cồ Đàm trẻ tuổi mà hỗn, thấy người Bà-la-môn trưởng thượng, già cả mà không biết chào". Đức Phật mới trả lời: "Theo truyền thống ba đời của của các Đấng Như Lai thì chỉ có các vị nào có trí tuệ mới đáng được đảnh lễ, còn người già mà không có trí tuệ chỉ là người già đầu bạc"".

[9:06]Kể cái cũng như vậy cái nguyên tắc mà Đức Phật trả lời cho ông là người có trí tuệ là người người đáng kính phải không? Rồi đến khi mà Đức bà Kiều Đàm Di Mẫu xin xuất gia thì Đức Phật không cho. Lại nói rằng người nữ khó tu, rồi cũng giống như là nếu mà sau này cho tu á thì người nữ 100 tuổi hạ vẫn phải đảnh lễ một vị tỳ kheo một tuổi hạ. Cho nên cái điểm này cái ông thầy ổng ổng ổng nghi nghi, ổng nghi nghi vì theo tiêu chuẩn của Phật là vị nào có trí tuệ thì là đáng được cung kính, nhưng mà tại sao ở đây Phật lại căn cứ theo tuổi tác, hai cái này coi vẻ không nhất quán, cho nên ổng ổng ổng hồ nghi, ổng hồ nghi cái bát kỉnh pháp này.

[9:51]Ổng nói thì mình thấy cũng có lý, nói chung là cũng vừa, hoặc là khi nói rằng người nữ á là vẫn có người tốt, người xấu, mà người nữ tu hành đúng vẫn có thể chứng A-la-hán, nhưng một đoạn trong cái kinh tập của Nikaya thì nói rằng, "Ta không thấy ai xấu xa như phụ nữ, ta không thấy ai ác tâm như phụ nữ." Ổng nói cái này không thể nào là Phật nói được hết trơn, quá vô lý đi, nó vậy, cho nên nhiều khi người ta đã thêm những ý kiến mình vào trong những bài kinh Phật, cho nên việc ngày nay mà chúng ta học cái nào đúng lời Phật dạy khó lắm, nên cẩn thận lắm chứ không phải dễ. Kinh Phật thì tràn lan đó, nhưng không phải cái gì Phật là Phật đó,

[10:28]coi Phật thuyết đó, mà nhiều khi ai đưa vào mấy ngàn năm nay mà nhiều người rất là gan dạ cứ nói ừ là Phật đưa vào tuốt luốt hết. Mật tông cũng là như vậy, một là một trạng thái được đưa vào sau này, nhưng mà chư Phật có cái từ bi, ngài tùy thuận theo tâm tình của chúng sinh để mà hóa độ, nên khi mà người ta đã đặt niềm tin quá, Phật cũng ứng thân mà mà gia hộ. Nói ví dụ như bên đạo Thiên Chúa vậy, nếu mà theo đúng lịch sử á thì mẹ của Chúa Giêsu là Đức bà Maria là một người rất bình thường mà Tin Lành họ nói đúng á. Tại vì ngoài việc mà sinh Chúa Giêsu ra, bà còn sinh tiếp thêm bốn người con nữa, rất là bình thường, trong Phúc Âm ghi điều đó rõ.

[11:13]Nhưng mà nói khi mà Chúa đang giảng như vậy thì có người mới nói, "Thưa ngài, có mẹ ngài và các em ngài", bốn người em ngài kể tên ra luôn, "đến thăm ngài", thì Chúa Giêsu mới nói rằng, "Ai là mẹ ta? Ai là em ta? Chỉ có người nào làm theo lời dạy của cha ta thì mới là mẹ ta, mới là em ta." Thì bài kinh ghi rõ ràng như vậy chứng tỏ rằng Chúa Giêsu còn bốn người em và Đức bà Maria là một người là phụ nữ rất là bình thường. Mặc dù bà có cái duyên phước gì đó đã hoài thai sinh ra được một vị thánh, nhưng mà bản thân bà thì bình thường, nhưng người bên Thiên Chúa thì họ thần thánh hóa Đức bà Maria, đưa bà lên một vị thánh

[11:56]và với cái sự linh ứng màu nhiệm, rồi cái lần lần phát sinh ra nhiều cái Đức bà, giống như Đức bà Maria ví dụ như là mẹ Madona. Madona là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, vì bên Thiên Chúa người ta thấy rõ ràng là khi người ta cầu nguyện Đức bà người ta được linh. Đó là những điều mà người ta cầu nguyện có đáp ứng, nên người ta tin cái sự hiện diện của một Đức bà như vậy, là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Madona. Đức mẹ hay bồng đứa con nhỏ nhỏ đó khi người ta hay thờ đó, nên sau này ca sĩ mà quậy nhất là Madona lấy tên nguyên bưng nguyên cái tên đó đặt tên hiệu cho mình luôn. Chữ Madona là tên của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp,

[12:36]thì tại sao có hiện tượng là từ một người phụ nữ rất bình thường, không có gì tu hành đúng nghĩa, mà bây giờ tự trở nên linh ứng, ai cầu nguyện, ai quỳ dưới chân Đức Mẹ cầu nguyện được linh hết là tại vì sao? Nghĩa là chư Phật á, chư Phật trong Niết bàn đều ứng với tâm chúng sinh để gia hộ cho người có tâm và có phước, nên mình thấy tại sao các tôn giáo vẫn tồn tại là vậy á. Những người đó họ làm điều tốt, họ có tu tập, thì họ tin vào cái vị thần của tôn giáo họ đều được chư Phật ứng để giúp đỡ hết. Cái cảm ứng của chư Phật không có biên giới, cái tâm thương yêu của chư Phật không có cái phân biệt tôn giáo, không cần phải kêu đúng tên.

[13:13]Ngay cả như mình vái tên thần tài, ông thổ địa chứ nhiều khi cũng linh luôn nữa, nếu mình có biết tu tập, có sửa tâm sửa tánh thì đều được chư Phật thương yêu và gia hộ giúp đỡ hết. Nó vì chính vì chư Phật từ bi và rộng rãi á nên nhiều vị thần cứ tiếp tục tồn tại, mặc dù những vị thần thật sự nếu tra cứu trong lịch sử không có thật, chỉ là một sự tưởng tượng thôi. Vì lý do đó mà những người mà theo duy vật không tin tín ngưỡng á họ mới công kích. Họ nói rõ ràng những vị này không có thật, nhưng mà người ta đã mê muội, người ta đã mê tín mà tin theo, nhưng mà những người mình tin theo khi mình hỏi

[13:50]người ta thì người ta nói là cảm nhận kinh nghiệm người ta, người ta có thật, có sự linh ứng, cầu có có ứng đàng hoàng người ta mới tin, chứ không phải tin không. Ở đây là cái chỗ mà cứ hai bên cứ công kích qua lại đó, bên mê bên mà duy vật á thì căn cứ vào lịch sử để công kích, còn cái bên mà họ tin á thì họ kinh nghiệm nơi bản thân họ có thật. Ở đây chỉ có cái nhìn của đạo Phật mình mới hiểu được vấn đề, chính trong Niết bàn chư Phật đã ứng lên tất cả để mà gia hộ hết. Ngài không phân biệt vị thần nào hết, miễn cái người đó có lòng thành, à có tạo thiện thì ngài đều giúp đỡ. Là vì vậy nên Mật tông xuất hiện cũng nằm trong cái quan điểm này.

[14:33]Khi mà chúng sinh thật lòng tin tưởng và có làm việc thiện, thì cầu nguyện bằng một lời cầu nguyện gì đó, kể cả dùng câu thần chú thì đều được chư Phật gia hộ phò trì hết. Đó là cái lý do mà Mật tông đã xuất hiện và tồn tại.

[14:54]Về tính cách của Mật tông thì chúng ta sẽ thấy nó có vài điểm thế này: Mật tông có cái giáo lý về Phật tánh,

[15:04]vì những cái bài kinh như là Niết Bàn, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Ấn Độ có thì bên cái tạng của Tây Tạng cũng có hết. Mà cái tạng của Tây Tạng á, Tibet đó, nhiều hơn cái tạng của của Ấn Độ nữa, nhiều hơn cái tạng kinh của Trung Hoa nữa. Nên mình phải hiểu hiểu là họ tạo ra nhiều kinh hơn và những cái tư tưởng về Phật tánh của Ấn Độ, của Trung Hoa thì bên Tây Tạng cũng đều có đầy đủ hết và có nhiều hơn nữa. Chỉ có cái điều là họ họ lý tưởng hóa cái Phật tánh đến cái độ nó trở thành vô lý và đoạn kiến.

[15:45]Đến cái độ nó thành vô lý và đoạn kiến, một lát nữa mình sẽ trở lại cái này, là tại sao họ lý tưởng hóa Phật tánh mà đến nỗi thành vô lý và đoạn kiến. Họ có giáo lý về tánh Không Bát Nhã, cũng nói về cái lý Không, nói về cái lý Không giống như là các kinh điển Đại thừa, thì cũng giống như vậy, nhưng mà cái lý Không của họ dễ sợ lắm à, cái Không của họ mà nói một lát là bay tiêu nhân quả hết, không còn gì nữa hết, nên rất là nguy hiểm. Cái đặc biệt của họ là các thần chú, ấn quyết, Mandala. Thần chú thì là những cái câu nói nó có nghĩa chứ không phải là vô nghĩa, nhưng mà người ta không dám dịch.

[16:27]Khi chuyển văn từ Ấn Độ sang Trung Hoa người ta để nguyên cái âm của nó. Rồi mình cứ theo cái âm đó mình lại để nguyên từ Trung Hoa mình âm sang Việt Nam một lần nữa, cho nên nó rất là xa lạ. Mình đọc cái câu thần chú bằng tiếng Việt Nam so với câu tiếng Ấn Độ nó khác nhau nhiều lắm. Có vài câu thì mình nghe cái âm điệu còn giống giống, ví dụ như chữ câu mà: "Án ma ni bát di hồng" thì từ cái tiếng Ấn Độ là "Om Mani Padme Hum" thì còn hơi nghe na ná, còn nhiều cái khác ví dụ như câu mà "Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha", cái chữ "tát bà ha" thì tiếng Độ chỉ là "svaha",

[17:06]là "Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā", nhưng mình âm qua Trung Hoa rồi qua lại Việt Nam cái nó khác đi. Tự đọc nghe cũng giống mấy ông thầy phù thủy ha? Giống.

[17:20]Cái nguyên tắc của thần chú là có thể dịch ra được hết, những câu nghĩa có thể dịch ra hết, ừ nhưng mà người ta vì tôn trọng cái sự linh thiêng từ nguyên tác của nó, từ nguyên bản nên không ai dám dịch, rồi cứ tụng. Thần chú là tụng với niềm tin, tụng với niềm tin, tin rằng nó linh như vậy. Và rõ ràng đó chỉ là cái ý niệm với niềm tin thôi, câu thần chú chỉ còn là ý niệm với niềm tin thôi, chứ còn cái câu của nó nó không giống với cái nguyên bản nữa. Nhưng mà các giáo phái khác có thần chú cũng có thần chú, và những thần chú của họ đều có thể dịch được và cũng linh như vậy. Như bên bùa bùa của Miên vậy,

[17:59]họ có cái loại bùa là khi mà tụng cái bùa đó đến lúc nào đó người ta đánh mình không đau, dao chém không đứt nữa. Quý phật tử có nghe cái chuyện đó không? Bên bùa Miên đó người ta đánh không đau mà dao chém không đứt có không? Có nghe không? Thì họ có những cái loại thuốc họ uống, rồi họ vẽ bùa họ thờ, rồi họ tụng cái câu chú. Tụng câu chú mà sau đó mình mới tò mò nhờ cái người biết tiếng Miên dịch lại cái câu như vậy thì cái tiếng Miên dịch lại là gì? Thì cái người Miên họ nói cái câu này có nghĩa là "đánh không đau, đánh không đau". Nếu dịch ra được thì nó là cái nghĩa như vậy đó, nhưng mà tụng riết tại sao người ta đánh mình không đau luôn á.

[18:35]Với cái niềm tin của tâm, với cái sự nhiếp tâm và chuyên chú một câu thần chú như vậy, thì người ta đánh mình không đau luôn á. Cũng linh như vậy chứ không phải không. Thì chúng ta hiểu cái câu thần chú nó là cái niềm tin và ý niệm, và mình tụng tùy theo cái niềm tin mình là cái gì thì nó sẽ biến thành cái đó. Giống như hồi xưa lúc tôi còn cư sĩ này, tôi cũng tin thần chú lắm. Tu thiền chứ mà cũng tin lắm tại cứ nghĩ gì cũng Phật thuyết. Cho nên a em tôi bị bệnh không không lo lấy thuốc uống đâu, lật đật cứ xách cái cái cái ly nước lên bàn thờ Phật cái tôi tụng chú, tụng đã đời đưa cho nó yến uống, không biết nó hết không biết.

[19:12]Thấy sau nó thấy cũng bớt bớt. Rồi có khi nó nhức đầu quá, đi học nhức đầu quá nó nằm đó cái lại tôi cứ ngồi đầu giường mà tụng chú cho nó, cũng hy vọng nó nó nó hết. Chắc cũng nhờ rờ rờ cái đầu nó mà nó hết sao không biết nữa. Còn ấn quyết này, thì bên họ tin rằng là người tu theo Mật tông phải đạt được tam mật, nghĩa là thân, khẩu, ý. Thân, khẩu, ý tương ưng.

[19:38]Tức là miệng tụng thần chú, à là cái ý thì nhiếp tâm thanh tịnh,

[19:47]Mà tay đó, thân đó thì phải ngồi đúng thế rồi bắt cái ấn quyết. Họ có nhiều cái loại ấn quyết lắm. Ở đây quý Phật tử từng xem các vị hòa thượng ngồi chẩn tế chưa? Có thấy chưa? Ngồi chẩn tế đó, các vị ngồi bắt hết ấn này sang ấn kia thì mỗi ấn có một cái ý nghĩa của nó. Ví dụ như có cái ấn thì là để để cúng thức ăn, có cái ấn là để hàng ma, làm cho nó phải quy phục, rồi có cái ấn là để truyền giới, rồi có cái ấn là để bảo vệ cái nội tràng, vân vân. Nghĩa là mỗi cái ấn vị có cái niềm tin là như vậy, mà ở đây nó đều giống nhau ở chỗ là cái niềm tin. Hễ mà có cái niềm tin hướng về cái gì thì điều đó xuất hiện.

[20:30]Như cái câu chuyện mà quý Phật tử chắc cũng có nghe, câu chuyện thâu chìa khóa nơi cái vị hòa thượng mà mà làm ngồi đàn chẩn tế không, có nghe chưa? Có chưa? Thôi để kể lại chắc cũng có người nghe. Nghĩa là bữa đó hòa thượng ổng cúng chẩn tế, cái ổng ổng quên là cái chìa khóa ổng không có đem theo ổng cất, ừ mình để nó để hớ hênh bên ngoài đó thì người nào ăn trộm vô nó có thể lấy cái chìa khóa nó mở cái tủ tiền, tủ tiền của Tam Bảo nên ổng lo. Tại ổng giữ tiền chùa mà để như vậy rồi sợ tăng chúng cũng đói. Ổng ngồi ổng bắt ấn bắt quyết nhưng mà đầu ổng cứ nhớ cái cái chìa khóa. Thì đêm đó thì cái mấy cô hồn mới về,

[21:10]kéo về lũ loa lũ lượt đông lắm, tại ổng khi mà người ta cúng chẩn tế là kêu gọi cô hồn cả một vùng rất là lớn tập trung về để mà ăn mà. Thì đêm đó nằm mơ thấy nó kéo về đông chùa, nói, "Cúng mà ăn không được, tại toàn bằng chìa khóa không, thức ăn là toàn chìa khóa không." Chúng ta thấy đó trong cái thế giới tâm linh á, họ sống bằng cái tưởng, sống bằng cái tưởng. Thì mình cúng thức ăn cũng vậy, mình cúng thức ăn mà mình tưởng là cái gì thì người trong cõi âm họ sẽ được cái đó. Cho nên mình không cần phải cúng ê hề, mình cúng ít thôi nhưng mà tâm mình mình nguyện nhờ cái thần lực của Phật mà cái thức ăn này nó thật

[21:44]là ngon, mà thật là nhiều, vô số để cho mọi cô hồn quanh đây ăn được no đủ hết thì nó sẽ biến thành cái đó. Tại vì cái cúng với người âm là nó do tâm tưởng mình mà thành, do tâm tưởng mình mà thành. Như hồi nhỏ tôi nhớ câu chuyện lúc đó là sau giải phóng, sau giải phóng thì gia đình tôi về làm rẫy ở cái vùng kinh tế mới. Thì thời đó thì việc cúng kiếng cũng ta cũng thờ ơ lắm, tại lúc đó là cách mạng tới rồi cái cái niềm tin về tôn giáo nó cũng bớt. Ừ có cái ông đó ổng chắc cũng còn giữ truyền thống gia đình, bữa nọ ổng mới cúng. Ổng mới cúng cô hồn, ổng cúng rồi ổng buột miệng ổng nói câu này,

[22:24]ổng nói là à cúng này chớ lúc đó ông này chắc cũng chưa có giác ngộ cách mạng lắm, nên kể câu chuyện này lại thì quý Phật tử thông cảm cho ổng, tại tôi cũng chả biết ổng là ai, cũng nghe kể lại thì tôi đoán là ông này chắc cũng chưa có trình độ giác ngộ cách mạng cao, nên sống nghĩa là còn bị ảnh hưởng của cái chế độ trước nên ổng vái câu kiểu này. Ổng nói, "Cúng cô hồn nhưng mà lính," thì cái ở đó vùng đó vùng chiến tranh đó, "lính quốc gia ăn chớ lính Việt cộng không ăn à." Ổng nói đùa thôi. Cái đêm đó tự nhiên ổng ổng thối, ổng kể lại là ổng nằm mơ ổng thấy những người du kích đó đội nón tai bèo rồi về đây gõ cửa

[23:01]xin nói là nói là, "Ông cúng bên kia ăn mà chúng tôi ăn không được." Than, cái sáng dậy ổng sợ quá, ổng lật đật bấm cúng mâm lại nói, "Cái này hai bên ăn hết, hai bên ăn hết." Chuyện thì cái câu chuyện tôi nghe từ nhỏ thì tôi cũng hơi ngạc nhiên chứ không để ý lắm, nhưng đến sau này khi biết đạo dần dần nhiều rồi tôi mới hiểu đúng như vậy đó. Cái tâm của người sống nó ảnh hưởng tới người chết và họ nghĩ thế nào thì thế giới của người âm họ bị ảnh hưởng theo như vậy. Đó là lý do mà chúng ta có các cái lễ cầu siêu là như vậy đó. Nghĩa là khi mà chúng ta cầu siêu cho người mất á thì đòi hỏi cái người người chú tâm chú nguyện á phải

[23:40]là người có đức độ một chút rồi mới hướng đến cái người mất và tác ý cho họ quy y, họ nghe pháp, họ tu tập. Ví dụ như thế này, mình tác ý cho cái người âm họ khởi được cái tâm từ bi. Đó, ví dụ mình nguyện là nguyện cái tên tuổi như vậy, mình tác ý là nguyện cho cái người này quy y theo Phật, Pháp, Tăng, nguyện cho người này khởi lòng từ bi thương yêu tất cả chúng sinh thì ngay lúc đó đó, cái người âm đúng cái người đó họ bị cái tâm của mình thuyết phục. Họ nương theo cái tâm của mình, theo cái lời nguyện của mình mà họ phát được cái tâm như vậy. Thì họ quy y Phật, họ phát tâm từ bi được cái lần lần ở trong

[24:18]cái thế giới âm họ cứ tu như vậy, cứ tu như vậy, cái họ tăng được công đức và họ có thể là siêu thoát được. Đó, nghĩa là người chết sống nhờ cái tâm tưởng của người sống. Đó, cái ý niệm nó là như vậy đó. Thì các cái thần chú và các cái ấn quyết của Mật tông á, nó cũng chỉ dựa vào cái tâm của mình, nhưng mà vì bên Mật tông họ có đặt ra các câu thần chú và các ấn quyết để nó tăng thêm, củng cố cái niềm tin làm cho cái cái cái tâm mình nó mạnh lên. Ví dụ mình nói là tôi nguyện cho cái vong linh đó quy y Phật, mình nói vậy cái mình hồ nghi, mình nói không biết nguyện có không, nhưng có ông thầy ổng nói, "Anh nói anh phải bắt ấn

[24:55]vậy nè, anh phải ấn lúc mà anh nói câu đó anh bắt ấn như vậy là bảo đảm ông kia theo Phật liền vì cái này là ấn của mười phương ba đời chư Phật truyền lại." Mạnh niềm tin lên, mình quả quyết, "Ờ, chắc rồi đó." Mình nói câu này cái thiệt, do niềm tin mình mạnh cái ông kia ổng bị thuyết phục liền, thấy không? Nó vậy đó. Giống như mình vô cái chỗ mà nói nhà có ma, sợ. Mình vô cái mình cũng mình cũng run, mình nói ừ cầu Phật gia hộ cho đừng có ma nhát để ừ vô tôi ngủ cho nó yên đêm nay, chứ không có chỗ nào ngủ hết, nằm cái giường nghe nói là ma nó hay xô, sợ sợ. Nhưng mà nếu có người nào đó, "Trước khi mày ngủ anh phải bắt ấn Kim Cương

[25:30]Quyền là bắt ấn Tý nè, bắt rồi nắm lại, đó, đọc câu chú này thì mười phương nghĩa là ba đời chư Phật có thần Kim Cang Mật Tích đồ lại giữ anh ngay đứng ngay đó đó, không có con ma nào mà dám lại hết." Thế là mình có cái niềm tin, mình niềm tin là chư thần đang đứng quanh đây mình này. Chính cái niềm tin mình mạnh thì đúng là cũng được cái sự gia hộ của chư Phật và ma nó cũng sợ luôn đó. Do cái mình mạnh niềm tin quá cái là ma nó thấy mình vững cái niềm tin đó, tâm mình nó mạnh lên liền, nó dạt ra liền. Còn sự thật là chỉ cần mình có phước thôi, nó vẫn có thể được. Như tôi có biết cái cô Phật tử như vậy, thì cô là người tu tập từ nhỏ,

[26:10]cô thường hay niệm Bồ Tát Quan Âm mà niệm rất là linh, và cô luôn luôn biết trước những chuyện xảy tới bằng một cái giấc mơ hay cái gì đó. Cô này cũng có cái duyên lành trong Phật pháp lạ lắm. Một lần đó, do cái cái thời mà còn vượt biên không biết, cô bị ai tố vu gì đó cái bị bắt, bắt vào tù. Bắt vào tù thì hôm đó không biết sao họ lại giam cô trong cái cái phòng biệt giam. Mà phòng biệt giam thì có nổi tiếng hai cái là ma và muỗi. Muỗi không có mùng gì hết, muỗi dày đặc mà ma ma khủng khiếp lắm. Nghĩa là ai không ai mà vô trong cái phòng biệt giam mà ngủ được hết, vì nằm trên giường là nó xách quăng xuống đất liền.

[26:45]Mà các cán bộ canh trại giam cũng vậy, đi qua cái khu biệt giam sợ lắm. Ban ngày ban đêm mà bước qua là nó thò tay nắm áo kéo lại, quay lại thì không thấy ai hết, mà chạy đi thì nắm áo giựt lui lại. Nghĩa là sợ như vậy đó, ma ma dữ dội vậy chứ không phải thường. Thì cô này cổ mới vô đó thì cổ cũng nghe là phòng biệt giam ma khủng khiếp lắm, nhưng mà cổ do cái công đức niệm Quan Âm từ nhỏ, ăn chay, niệm Phật, tu tập, làm phước từ nhỏ, cổ chỉ nói câu này, cổ nói là, "Tôi tôi với các vị không có thù oán, tôi thì sợ ma lắm nên các vị đừng có phá để tôi ngủ." Cái tui tui tui thế là cả đêm không bị.

[27:20]Nhưng mà muỗi, muỗi nó nó nó tấn công dữ dội lắm thì cổ nói là, "Thôi thôi cầu thêm chư Phật, chư thiên cho muỗi đừng có cắn để ngủ." Thì nó không cắn nữa mà nó kêu o o, cổ nói thôi, "Kêu hoài ngủ không được." Cái thôi nín luôn, không kêu nữa, im luôn vậy đó. Thế là cổ ở đó rất là yên lành, không ma không muỗi gì hết cho tới khi mà ra khỏi trại biệt giam mà vào trong cái cái phòng tập thể đó. Thì cô này rất là lạ, thì chúng ta thấy đó, nhiều khi không cần chú chiếc gì hết nhưng mà mình có cái tâm thành, có công đức tu hành cũng cảm ứng đến cả cả thế giới của quỷ thần chứ không phải là là không. Không biết quý Phật tử có không,

[27:54]chứ bản thân tôi nhiều khi cũng gặp những việc như vậy, việc tương tự. Rồi những cái Mạn-đà-la, những Mạn-đà-la là thường là những bức tranh, bức tranh mà người Tây Tạng, Mật tông họ tin là thiêng liêng. Ví dụ ở đây miệng miễn cái hình mình vẽ như vậy đó mà nếu mình gán cho đó là một cái Mạn-đà-la thì nó trở thành linh thiêng liền. Còn mình chỉ nghĩ nó là bức tranh trang trí thì nó chỉ là bức tranh trang trí. Nhưng mà cái Mạn-đà-la của người của người Tây Tạng á thì họ họ giải thích từng chi tiết á, họ gán cho nó nhiều ý nghĩa thiêng liêng lắm, mà có thể là ban đầu nó không có, ví dụ như cái cái hình đó, cái hình hoa sen mà có cái bánh xe luân bánh xe pháp luân như vậy.

[28:36]Thì giải thích lát là cũng ra, nghĩa là vô số cái giáo pháp nằm trong đó đó, thấy không? Mình không thích giải thôi chứ giải một lát là hoa sen là tượng trưng gì? Thì cho Phật pháp, cho sự tinh khiết, vô nhiễm không? Cái sóng đó là tượng trưng cho biển khổ rập rờn ở trên là đó, giải thích một lát là cái hình đó trở thành một bài pháp nghĩa là nói mấy tiếng đồng hồ không hết. Thì bên Tây Tạng là vậy đó, cái hình mà to rồi hình đàn ông, đàn bà, súc vật rồi chư thiên gì tùm lum trong đó, mỗi cái hình họ đều gán cho một cái giáo pháp, một cái ý nghĩa và cho là linh thiêng để thờ, để tu tập. Nên cái phòng thờ của họ, cái phòng mà tu tập của họ

[29:09]là nó nhiều cái hình lắm, tùy theo mỗi phái, tùy theo mỗi ông thầy nữa. Cái hội họa của Tây Tạng phát triển được á, tồn tại phát triển được là nhờ do vẽ mấy cái Mạn-đà-la đó, vẽ riết rồi cái thành một cái cái cái cái, một lát nghe kể và nghe nhiều cái hình rùng rợn nữa, chưa hết, lát mình biết.

[29:30]Rồi bên Tây Tạng thì họ có nhiều cái tông. Hiện nay thì tồn tại bốn cái tông chính, cái Mật tông đó. Nhưng mà khi Tây Tạng khi Mật tông nó truyền qua mỗi nước thì nó thành lập một cái tông riêng hết chứ không còn giống với cái tông gốc. Ăn thua nơi, tùy thuộc nơi cái vị tổ khai sáng. Cái vị đó mà đức độ, đi chân chính thế nào thì cái tông đó nó sẽ chân chính như vậy. Còn cái vị đầu tiên mà tà tà thế nào thì về sau các đệ tử tà tà như vậy. Bên Tây Tạng nó tà dữ lắm. Lát chúng ta nghe từng chi tiết chúng ta sẽ thấy hết hồn luôn. Mà khi Mật tông qua bên Nhật, qua bên Trung Hoa, Việt Nam thì tương đối khá chân chính vì ảnh hưởng cái giới luật của bên này.

[30:09]Bên Trung Hoa cái giới luật đàng hoàng nên các vị đó ăn chay, rồi ảnh hưởng Thiền tông, ảnh hưởng Tịnh độ, ảnh hưởng Luật tông, nên những vị gọi là tu Mật tông của Trung Hoa trớ đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Ở Việt Nam cũng vậy. Bên Nhật cũng vậy. Những vị tu Mật tông thì đàng hoàng. Chứ còn những vị mà xuất thân đi đúng từ bên Tây Tạng đi qua thì rất là bê bối. Bê bối thì lát chúng ta sẽ nói để thấy tại sao như vậy. Rồi ngoài các mật chú, ấn quyết, Mandala này kia nọ, họ còn có các phương pháp luyện công giống như yoga đó, giống như khí công của Thiếu Lâm Tự đó. Đó là họ cũng ngồi, họ luyện mở các huyệt đạo mà họ gọi là các luân xa

[30:53]đó, để cho người phát triển thành những cái năng lực phi thường. Chúng ta đọc trong cái cuốn mà Đường Mây Qua Xứ Tuyết vân vân đó ha, hoặc là Tây Tạng Huyền Bí, chúng ta thấy ở những cái đỉnh núi tuyết có những vị mà luyện công như mình như đồng da sắt vậy, chịu được những cái nhiệt độ lạnh buốt, nghĩa là dưới 0 độ bao nhiêu độ, họ chỉ mặc một cái áo vải sơ sài mà ngồi thiền chịu lạnh. Mà nổi tiếng nhất là cái vị nào? Milarepa phải không? Để lại cái cuốn sách đó, Milarepa con người siêu việt á. Và sau này nhiều vị cũng được như vậy á, nhiều vị cũng được như vậy. Ở Việt Nam mình cũng có một cái tông

[31:27]của từ Tây Tạng truyền sang là ở cái chùa chùa Tây Tạng ở Bình Dương á. Chùa Tây Tạng ở Bình Dương thì cái vị này Hòa thượng Minh Tịnh này xuất thân là đệ tử của Hòa thượng Tuệ Đăng mở cái tông Thiên Thai ở ở ngoài Long Đất, Long Điền á, cái tông Thiên Thai đó. Thì cái vị này tu ở đây cũng luyện nội công, luyện đồ cũng được một số thần thông. Sau đó mới đi thuyền sang Ấn Độ. Ở Ấn Độ học tiếng Tây Tạng rồi từ Ấn Độ cái vượt biên giới đi vào Tây Tạng. Và khi học ở Tây Tạng một thời gian cũng coi như là được là đắc pháp của Tây Tạng á, rồi mới trở về Việt Nam mở cái chùa Tây Tạng ở Bình Dương. Thì cũng dạy đạo một thời gian ở đó, người ta cũng quy ngưỡng dữ lắm,

[32:08]bởi vì cũng có thần thông nhiều, Hòa thượng đó có thần thông nhiều. Bây giờ còn ông thầy ở còn một thầy Tịch Chiếu mà đang trụ trì chùa đó đó, mà sau cái vụ mà sư cô Như Thủy á, chúng ta nghe tùm lum hết trơn mấy chuyện đó là cái chùa đó đó. Đủ thứ chuyện. Thì cái tông đó lấy hết từ bên Tây Tạng qua đó. Cũng giống như các vị Lạt-ma trong cái triều đại nhà Thanh, nhà Nguyên. Khi mà nhà Nguyên họ chiếm được Trung Hoa, gọi là Mông Cổ đó, thì cũng có những vị Lạt-ma Lạt-ma của Mông Cổ cũng ảnh hưởng của Mật tông Tây Tạng, nhưng mà nó không mạnh bằng nhà Thanh. Khi mà nhà Thanh lên chiếm Trung Hoa thì những vị Mật tông rất

[32:47]là có ưu thế mà Quốc sư Ngọc Lâm cũng là tu theo Mật tông. Quốc sư Ngọc Lâm, ai có đọc cuốn Thoát Vòng Tục Lụy thì biết phải không? Nhưng mà cái thực sự con người thật của Quốc sư Ngọc Lâm nó khác với con người trong cái Thoát Vòng Tục Lụy. Trong Thoát Vòng Tục Lụy vì là tiểu thuyết hóa cho nên chúng ta thấy đó là một nhà sư tuyệt vời, một người đàn ông lý tưởng, không có không biết là không thể nào mà vậy, đó là nỗi ước mơ của không biết bao nhiêu người. Con người mà cái đó là thiệt đó nằm trong trái tim không biết bao nhiêu người. Nhưng mà sự thật bên ngoài thì không phải như vậy, ngài khá độc tài.

[33:24]Khi ngài được làm quốc sư, ngài mới soạn ra cái hai thời khóa tụng, là bắt buộc phải tụng cái Lăng Nghiêm vào buổi khuya. Nên thời đó nhiều chùa chống đối lắm, ở Trung Hoa khi mà đưa cái thời khóa đó ra nhiều chùa họ chống đối vì họ đang tu thiền. Khuya dậy là cái chùa đó gõ bảng niệm Phật và ngồi thiền. Nhưng mà ngài Ngọc Lâm ra lệnh là bắt là giờ đó phải tụng kinh. Nhiều chùa cự nự, ngài mới ra một cái sắc dụ ngài giải thích. Giải thích áp đặt và ngài bắt buộc phải làm. Nhưng mà vì đó là lệnh của triều đình, à ngài là quốc sư mà, nên chùa không dám cãi. Từ đó mỗi chùa là phải tụng kinh, mất cái truyền thống thiền đi.

[33:59]Nên về sau này hiếm có người đắc đạo là vậy đó. Hễ người ở chùa khó đắc đạo lắm vì cái giờ đó là giờ ngồi thiền tốt nhất thì lại đi tụng kinh cái mệt rồi hết ngồi thiền được. Chỉ có những cái vị nào mà họ tu ở am ở cốc một mình, nằm ngoài sự kiểm soát của triều đình á, họ mới ngồi thiền nhiều thì có những vị đắc đạo. Ví dụ như Hòa thượng Quảng Khâm, Hòa thượng Hư Vân này, Lai Quả đồ. Nhiều nhiều vị ở bên Trung Hoa đắc đạo được là vậy, vì trốn cái thời mà Lăng Nghiêm buổi khuya đó mà tu tập. Tôi hồi vào chùa cũng vậy. Tôi lúc vào chùa cái lúc đó là vì giấy tờ chưa có ổn nên phải ở một cái chùa Tịnh độ.

[34:36]Ở đó thì khuya thì quý thầy dậy tụng Lăng Nghiêm, còn tôi thì ngồi thiền. Biết tôi thích ngồi thiền nên mấy thầy cũng không bắt vì lúc đó không còn Quốc sư Ngọc Lâm và cũng không còn triều đình nữa nên tôi được tự do. Thì quý thầy nói: "Thôi làm gì làm, ngồi thiền thì ngồi nhưng mà phải dậy nấu cơm buổi sáng". À thế là tôi canh tôi dậy thiệt sớm tôi ngồi thiền xong rồi cái đúng lúc dậy nấu cơm. Cho đến một hôm cái một ông thầy trụ trì cấp lớn hơn ông mới đến chùa ông ở. Thì ông mới phát hiện ra là không có buổi khuya nào mà tôi tụng kinh hết. Ổng mới bắt là phải học Lăng Nghiêm cho bằng được. Lúc đó làm điệu mà, phải phải buộc lòng à

[35:10]ổng bắt mấy thầy là phải kiểm tra tôi phải phải học Lăng Nghiêm. Mà tôi thì tôi không ưa lắm. Nhưng mà vì ở chùa phải nghe lời. Rồi tôi học năm buổi chiều thuộc hết năm đệ à. Nhưng mà đúng là cái duyên nha, vừa xong thì lúc đó tới cái duyên của tôi bỏ chùa tôi ra tôi cất cốc luôn. Cất cốc ở tu một mình trên cánh đồng vắng là thôi. Nên rồi cũng quên mất, học thuộc xong rồi quên luôn. Vì các Lạt-ma mà thời nhà Thanh ảnh hưởng đến triều đình và ảnh hưởng vào Phật giáo rất là mạnh. Cho nên từ cái đời đó trở đi thì Mật tông ảnh hưởng mạnh ở Trung Quốc rồi cũng lan sang Việt Nam. Việt Nam mình có cái dở là là Trung Hoa làm sao bắt chước y vậy.

[35:45]Cái thời nhà Nguyễn của mình á, ngay cái bộ luật Gia Long á là bắt chước cái bộ luật của Càng Long. Rồi cái hai thời khóa tụng của Trung Hoa cái mình cũng ôm nguyên qua đây mình áp dụng luôn, không có cái cải cách, không có cái vận dụng. Mình đâu có bị áp lực triều đình của nhà Thanh, mà mình cũng làm y như họ luôn nên càng về sau này cái việc mà tụng kinh nó phát triển, rồi cái việc mà tu tập mất dần, mất dần. Có lần đó tôi mới phân tích với ông thầy Nhật Từ, thì ông thầy Nhật Từ ổng ổng nói điều đó hay và ổng nói ổng cố gắng sau này để ổng nói lên cái điều đó. Nghĩa là buổi khuya ở chùa nên để ngồi thiền.

[36:18]Dậy mình gõ chuông, niệm Phật xong là ngồi thiền phăng phắc hết. Chứ ngồi thiền này không có nghĩa là phải tu theo Thiền tông, mà có thể ngồi đó niệm Phật cũng được, miễn làm sao là mình nhiếp tâm thôi. Một phương pháp là nhiếp tâm, vì giờ đó là giờ nhiếp tâm rất tốt. Mà mình lại hao khí lực đi tụng mà tin là nó linh. Nó vì tụng Lăng Nghiêm là nói theo kinh Lăng Nghiêm là là là là cho mình chống được cái ái dục. Như ngài A-nan mà nhờ Phật nói là phóng cái thần chú Lăng Nghiêm mà cứu khỏi cái nạn Ma Đăng Già. Thì nói mấy thầy mình hoàn tục có ông nào mà không thuộc Lăng Nghiêm đâu? Ông nào vào chùa thuộc vanh vanh vách mà tới chừng

[36:50]hoàn tục thì cũng hoàn tục tuốt lốt hết á. Nó đâu phải là thuộc Lăng Nghiêm là chống nổi ái dục nên điều đó nó không hợp lý, mà mình cứ tin như vậy, cứ tin như vậy. Khổ! Cái quan trọng là cái phước của mình, cái lòng thành của mình, cũng chỉ là niềm tin thôi. Còn các vị Lạt-ma thời đó các ngài luyện võ công, luyện khí lực, luyện yoga nên có những công phu rất đặc biệt, rất đặc biệt. Công phu đó giống như là những nhà sư Thiếu Lâm Tự. Mình thấy như các nhà sư Thiếu Lâm Tự mà có thể có thuật khinh thân như mình tương truyền là Tổ Đạt Ma đi được trên mặt nước phải không? Hoặc là những cái vị mà họ nhảy lên rất cao hoặc họ đánh chưởng vân vân.

[37:28]Bây giờ vẫn còn tồn tại đó, nhiều vị vẫn còn đạt được cái công phu đó thì các vị Lạt-ma Tây Tạng cũng được như vậy đó, nhiều vị tu cũng được. Rồi khi mà Trung Quốc họ chiếm Tây Tạng thì những rất nhiều các vị Lạt-ma mới coi như đi lưu vong, sống lưu vong, họ mới tràn lan trên khắp thế giới để họ truyền đạo. Họ ảnh hưởng rất là mạnh. Bên châu Âu bây giờ theo Mật tông rất là mạnh. Họ theo Mật tông vì lý do gì? Vì cái cái thần bí của nó, vì những cái hiệu quả phi thường như những hiện tượng tái sinh. Họ đến họ nghiên cứu là đứa bé mới sinh ra nhớ được những chi tiết của tiền kiếp mình, kể lại rất là ăn khớp nên những người châu Âu họ tò mò, thích cái đó.

[38:08]Rồi những cái thần thông, những cái vị nào vị kia nghe kể có thần thông nên họ hâm mộ. Rồi có nhiều cái nhiều cái nữa mà nó liên quan tới chính trị quá nên mình không tiện nói, chứ các vị Lạt-ma tu tập có những cái công phu cũng đặc biệt.

[38:28]Mật tông vì chú trọng nhiều về sự linh ứng, nó khác với các tông phái khác. Ví dụ như Thiền tông á thì mình chú trọng làm sao mình được cái giải thoát, nghĩa là tâm mình được thanh tịnh, được giác ngộ, có đạo đức, có giải thoát. Còn Mật tông mà kết quả của họ là linh ứng. Hễ là người tu mà có nhiều cái cái kết quả linh ứng, thần bí thì cho là thành công. Đó, cái cái khác nhau vậy. Mà những cái giai thoại về sự linh ứng của thần chú được truyền tụng dữ lắm. Ở đây có ai tụng chú mà có kết quả chưa? Sư trụ trì, bảo đảm có, mê thần chú lắm.

[39:07]Như hầu hết các vị các chùa mình thích trì chú vào trong nước lạnh cho uống á. Ở đây có gặp cái đó chưa? Có rồi phải không? Nó cũng linh lắm. Ăn thua cái niềm tin của mình đó. Tôi hồi xưa tôi cũng làm nó hoài, hồi còn ở cư sĩ vậy. Ừ. Rồi có những người trì chú được vào định phát thần thông biết quá khứ vị lai. Tôi có gặp mấy người như vậy, họ lại là cư sĩ thôi, nhưng mà thời gian họ đến chùa họ trì chú một thời gian họ nhập vào định luôn. Nhập vào định rồi cái họ bắt đầu có thần thông mà biết quá khứ vị lai này kia nọ, linh dữ lắm. Rồi có người xuất gia, có người cũng không xuất gia. Tôi biết có cái ông đó vậy, ổng về

[39:48]ổng về vùng Thất Sơn ổng ngồi ổng trì chú, chú Chuẩn Đề. Thời gian vào định cái bắt đầu ổng mở thần nhãn, ổng tác ý nhìn về gia đình ổng cái ổng thấy vợ con ổng làm gì, đi ra đi vô lăng xăng ổng thấy hết. Rồi thần thông mạnh lắm, thần thông của ổng đó khá được. Nhưng cái tốt là về sau ổng lại xuất gia. Ổng xuất gia ổng lên Đà Lạt ổng ở, rồi cũng có nhiều người đến tới lui học hỏi với ổng. Nhưng có cái là sự thật thì nó cũng không bền lắm, nó cũng không có ảnh hưởng mạnh, không ảnh hưởng mạnh. Có thần thông nhưng ảnh hưởng không mạnh, đó là cái duyên phước của họ. Rồi có những người tiếp xúc với cõi vô hình

[40:24]do họ có cái thần thông, họ thấy được cái người trong cõi âm, họ giao tiếp, họ nói năng, họ khuyên lơn gì đó, làm thành những thầy phù thủy. Những cái thầy pháp là vậy đó, những thầy pháp họ có thể sai âm binh làm chuyện này chuyện kia. Cái chuyện mà sai âm binh nó nhiều lắm. Như ví dụ như cái nhà đó vậy, một cái nhà đó họ muốn họ muốn giữ, họ muốn giữ của họ, cái họ mới đến nhờ một ông thầy pháp, ổng viết cho cái lá bùa, nó dán vào một cái căn phòng nào đó thì căn phòng đó không ai đụng tới được vì âm binh nó đến nó trấn giữ. Nghĩa là ai mà lại gần đó mà đi qua thì thôi, chứ lại mà loay hoay đụng tới cái cửa đó là bỗng nhiên xây

[41:08]xẩm mặt mày té liền, vì âm binh nó nó nó vật, đại loại vậy á. Thì những người thầy pháp đó đó họ có những cái câu chú và họ phải nuôi nguyên cái lực lượng âm binh đó. Cái âm binh đó là gì? Cái âm binh đó nó không phải là chỉ là những cái con người chết và vào trong cõi âm như mình, vì những người mà mình chết mình ở trong cái thế giới vô hình lạc lõng gọi là cô hồn ấy, cái phước nó vẫn còn nhiều. Còn cái âm binh là những cái loại cái vong linh của nhiều con vật, của những cái con vật chứ nó không hẳn là người. Nhiều khi có những con vật nó chỉ nhỏ nhỏ bằng cái ca, nó lăn lăn long lóc lốc lốc nó đi,

[41:44]hoặc có cả như những con chó, hoặc như những con chim, những con rắn. Khi mà nó chết đâu phải là nó có chỗ đầu thai liền. Nó tồn tại trong thế giới siêu hình đó và nó cũng vất va vất vưởng đói khổ. Có những cái vong linh của những con sâu bọ chỉ còn những chút xíu lấp la lấp lánh, bay vơ va vơ vẩn trong cái hư không này. Thì những cái ông thầy pháp đó ổng mới có cái cách để ổng đem cho tụi nó ăn, ổng có cái này ổng kia ổng cúng, kêu gọi lại cho tụi nó ăn. Ăn rồi cái ổng mới đọc những câu chú để mà khuất phục buộc tụi nó đi vào hàng ngũ nằm trong cái sự sai khiến của ổng. Mỗi ngày ổng đều cúng cái gì cho nó ăn và sai nó làm những cái việc gì theo ý ổng.

[42:24]Thì khi nếu mà ông thầy là ổng là người tốt á thì ổng chỉ sai làm những cái việc gì nó nó tốt thì ổng có phước và những cái âm binh nó có phước, từ từ nó thoát. Nhưng mà gặp những ông thầy bùa mà ổng hơi ác cái ổng sai âm binh làm những chuyện chuyện ác độc, tầm bậy tầm bạ. Ví dụ như thư yếm, trù người ta. Cái người ta đang khỏe mạnh do mình lấy tiền của người này cái ổng sai âm binh đến hại người kia, giết người kia, làm cho người kia bệnh lăn lóc vậy đó thì âm binh nó làm liền vì nó ăn của ai nó làm theo cái đó chứ đâu biết phải trái gì. Nó tới cái nó làm cho những người kia bệnh hoạn, khổ sở.

[42:59]Thì cái người thầy pháp như vậy đến cuối đời sao? Quả báo thê thảm. Lúc đó chính cái âm binh mà mình nuôi á vì tinh thần mình yếu rồi mình không có không có khắc phục nó nổi nữa. Thì nó mình quên cúng cho nó ăn không có đúng giờ đúng giấc, tinh thần mình yếu rồi nó đâu có sợ nữa, nó quay lại nó vật mình là những người đó về sau thôi đáng sợ lắm, bệnh mê man không biết gì, nhiều khi là tiêu tiểu tại chỗ rồi bốc mà ăn luôn, cái không ra cái gì hết.

[43:31]Rồi có những trường hợp mà người ta nghĩ rằng cái trì chú nó thay đổi được nghiệp của người khác. Thí dụ như người đó nghèo cái đến ông thầy ổng trì chú là để cho người đó làm ăn được dễ dàng hơn, buôn may bán đắt hơn. Cái điều này có không? Đôi khi nó cũng có, đôi khi nó cũng có nhưng mà nó có là sao? Nghĩa là giống như ăn lúa non á.

[44:01]Mình trồng lúa thì đúng 6 tháng, nói lúa mà lúa lúa mùa đi, đúng 6 tháng thì lúa mới chín tốt, có chất lượng thì nó vừa mới trổ thôi cái mình lật đật mình đem bán cho người ta. Bán cái làm bán người ta thế thế này nè, nghĩa là sau này đến cái mùa gặt nó chín rồi mình gặt mình tới giao cho người ta, bây giờ mình lấy người ta lấy trước của người ta giá trị là 5 giạ thì nữa gặt phải trả cho người ta 7 giạ, 8 giạ. Quý Phật tử biết cái vụ đó không? Cái vụ bán lúa non ở miền miền quê không? Biết chứ hả? Đó, thì cũng vậy đó. Đáng lẽ là tới 5 năm nữa cái quả của mình cái phước của mình từ kiếp xưa đó nó mới hưởng nhưng mà mình sốt ruột á mình nói làm ăn sao nó không giàu.

[44:47]Đến nhờ ông thầy ổng mới ổng mới trì chú, ổng dán bùa, ổng làm cúng tùm lum hết trơn để cho nó đến sớm thì đúng nó tới thiệt. Nhưng mà 5 năm nữa thì đáng lẽ là mình phải xây 5 cái nhà lầu, mình giàu thì bây giờ mình chỉ ít hơn, nó đến sớm rồi ít hơn, không nhiều rồi mất luôn, mất cái quả đó luôn, nó không đúng thời đúng tiết, không đúng duyên. Nó là như vậy đó. Cho nên nó có chứ không phải không, nhưng mà rồi nhiều người không biết thấy như vậy rồi cái cái tin vào thần chú quá quên mất nhân quả luôn, không còn giữ vững được cái niềm tin nhân quả nữa. Thấy ông thầy đó sao ổng trì chú mà mình làm ăn được

[45:23]cái không còn tin, vững tin nơi nhân quả như lúc trước nữa, nghĩ rằng thần chú nó siêu hơn nhân quả, chứ đâu biết rằng tất cả cũng chỉ là do nhân quả mà chi phối.

[45:40]Quý Phật tử có nghe cái băng Pháp Hoa mà tôi giảng về cái phẩm Đà-la-ni chưa? Nghe chưa? Phẩm đó nói làm sao? Nghe nói làm sao? Trì chú nghĩa là gì? Nghĩa là mượn cái công phu của Phật. Nhưng mà mượn thì phải phải trả. Trả bằng cách gì? Không làm phước mà niệm Bồ Tát Quan Âm á. Niệm Bồ Tát Quan Âm là mượn phước á. Ví dụ như mình gặp cảnh hoạn nạn mình niệm Bồ Tát cứu giúp mình nghĩa là mình mượn phước rồi sau này mình phải làm phước rất nhiều để trả lại cho qua cái tai nạn đó. Còn trì chú mà mình được thần thông mà, trì chú được thần thông mà mà thần thông đó không phải là do cái công phu tu tập thật sự của mình

[46:21]mà do cái sự vay mượn của của các của chư Phật, mình cũng phải trả, trả lại bằng cái gì? Trả lại bằng cái sự tu hành của mình. Tu hành đó là tu gì? Đạo đức nè, thiền định nè. Đó, là phải nghiêm trì giới luật, phải tu dưỡng đạo đức rồi phải tu tập thiền định thì mới trả lại được cái mà mình đã vay. Nhưng mà nhiều người không biết cái nguyên lý này, nhiều người tu tập Mật tông không biết nguyên lý này. Khi họ trì chú đến cái mức độ có thần thông họ cho rằng mình đã đắc rồi, cho rằng mình đã đắc rồi và họ nghĩ con đường họ đi đã đúng rồi vì có kết quả rồi. Nhưng mà rồi sao? Không trả thì chuyện gì xảy ra?

[47:05]Khi mà mình mượn tiền ngân hàng mà không trả thì chuyện gì xảy ra? Phải lấy nhà mình phải không? Cái nhà mình thế chấp là phải lấy mà phát mãi thì coi như cái gì, cái phước, mọi cái phước mà mình đang hưởng á mất hết. Cho nên cái ông thầy Mật tông nghĩa là giai đoạn đầu mà đang còn thịnh á có thần thông làm chuyện này chuyện kia đó mà không biết tu tập, ỷ vào cái thần thông của mình mà buông lung làm nhiều chuyện bậy bạ thì sau này nó tan vỡ sự nghiệp, uy tín, danh dự rồi mất tan hết, nghèo khổ, uy đức rồi mất hết luôn. Đó là cái mà mà không hiểu được cái nguyên lý vay mượn này. Cái việc mà niệm Phật thoát khổ với cái trì chú cho có

[47:46]thần lực đều là sự vay mượn, mà vay mượn thì phải trả mà trả rất là nghiêm túc không phải đơn giản đâu. Bây giờ chúng ta so sánh giữa cái niệm Phật với trì chú.

[48:03]Niệm Phật với trì chú khác nhau chỗ nào?

[48:09]Khác cái chỗ niệm Phật là niệm Phật, còn trì chú là trì chú, phải không? Cái chữ Nam Mô đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là tôn kính, tôn thờ, chứ không phải là quay về nương tựa đâu. Cứ quay về nương tựa là cái nghĩa mà mình dịch theo từng chữ, chứ còn dịch đúng cái nghĩa sâu sắc của nó là là tôn thờ, tôn kính đó. Ví dụ như mình niệm là Nam Mô A Di Đà Phật, có nghĩa là con tôn thờ, con tôn kính Đức Phật A Di Đà. Ví dụ mình niệm là Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát có nghĩa là con tôn kính Bồ Tát Quán Thế Âm. Mình phải thêm chữ con nha, nó mới đúng có chủ từ đàng hoàng. Thì cái việc mà mình nói lên cái lòng tôn kính với Đức

[48:53]Phật, với Bồ Tát thì phước có phước có phước không? Rất là có phước, phải không? Rất là có phước, và làm cho mình trở nên khiêm tốn. Khi mình biết tôn kính được người khác là lòng mình khiêm hạ xuống liền. Cho nên cái người mà niệm Phật á, bảo đảm lắm, không có sợ trật. Tức là tu cao, tu thấp gì mà niệm Phật không có sợ sai. Không sợ sai ở chỗ là trước hết mình khiêm hạ nè, rồi mình tôn kính Phật thì lần lần những cái tính chất, những đức tính của Phật hiện diện trong tâm mình. Nên một cái bà già nhà quê không biết gì hết mà cứ niệm Phật riết, nhưng mà cái tư cách rất tốt. Còn cái người gọi là trí thức,

[49:28]hiểu biết nhiều mà không niệm Phật, kiêu mạn, chỉ thích tu thiền, thích lý Không Bát Nhã, quên nhân quả, không tu dưỡng đạo đức, về cho một thời gian họ tu rồi trật, tu riết trật, nhìn vô mình thấy họ không có tư cách. Cho nên đừng có khinh thường mấy người niệm Phật. Mấy người niệm Phật chứ đi vậy chắc ăn lắm, coi vậy chứ mà chắc ăn. Cái người mà niệm Phật riết như vậy đó, thì từ từ những cái tâm hạnh tốt lành xuất hiện hết. Nhưng mà tại sao mấy bà Phật tử mà đi các chùa Tịnh độ thì càng đi càng hư? Vô chùa giành giật nhau tùm lum, ở trỏng chửi mắng um sùm, rồi giành giật thầy con, thầy con, thầy thương người này không

[50:05]thương người kia rồi cãi tùm lum nhau hết là tại sao? Nếu nói là Tịnh độ niệm Phật riết hay thì tại sao có tình trạng đó? Phải không? Quý Phật tử có thấy tình trạng đó chưa? Các bà Phật tử đi chùa cãi lộn ì xèo trong đó hết, giành thầy không à. Giành thầy, giành việc làm công chuyện, giành làm lớn ở trong chùa đủ thứ hết. Mà tại sao? Nếu mà nói là tu niệm Phật là vững, đạo đức từ từ xuất hiện thì tại sao có hiện tượng kỳ vậy ta? Ai biết? Mình xét cho kỹ gặp mấy cụ đó, mấy bà cụ mình xét cho kỹ thấy không có niệm Phật, không có tinh chuyên. Quý Phật tử thử tìm hiểu đi, thấy mấy bà Phật tử đi chùa

[50:45]mà hay cãi lộn á, tìm hiểu cho kỹ là niệm Phật không có tinh chuyên, không có thiết tha, chỉ tụng kinh thôi. Đến chùa mà ngày tới cái thời tụng kinh thì lên tụng kinh thì siêng lắm. Nhưng mà khi tụng kinh á, mình dòm cái tâm mình thấy cái gì ở trỏng? Nghĩ chuyện tùm lum à, không có nhiếp trong câu kinh. Ngồi tụng là ráng cho hay, tác ý làm sao tụng cho hay, cho lớn người ta nghe mình thích, cái tác ý tầm bậy. Nó quan trọng là cái tác ý lúc tụng kinh. Lúc tụng kinh mình tác ý theo lời Pháp để mình sửa mình, hướng về sự tôn kính Phật nó đúng. Còn ngồi tụng kinh cứ nghĩ là cái canh cái bà kia tụng dở,

[51:19]ông thầy nọ tụng hay, mình tụng lớn rồi cái nhớ chuyện chùa, chuyện đồ, nên là lúc tụng kinh cái tác ý đi đâu á, không có tu. Rồi một lát bắt đầu cầu nguyện à. Cầu nguyện sao? Cầu nguyện cho con giàu, làm ăn nên, làm ăn phát đạt, toàn là những chuyện ích kỷ, phát triển cái sự ích kỷ của mình. Thay vì mình cầu nguyện cho bá gia bá tánh thì cái vị tha mình nó càng lúc càng lớn, còn cứ cầu nguyện cho mình thì cái vị kỷ nó càng lúc nó càng tăng. Cho nên đi chùa càng 10 năm thì không còn ai chịu nổi cái người đó nữa, không chịu hết nổi, hàng xóm chịu hết nổi rồi. Hồi mới đi chùa người ta còn nói chuyện,

[51:52]đi chùa 10 năm rồi hàng xóm né hết luôn, không dám tới. Là vì cứ nuôi dưỡng cái tâm vị kỷ, mà cái vị kỷ nó phát triển thì những cái tham, sân, hung dữ rồi nó nổi theo hết. Nó vậy đó. Một cái tâm bất thiện, một tâm phiền não có mặt thì lần lần nó kéo theo những cái tâm, những cái phe của nó đi theo hết. Nó là vậy. Còn nếu cái bà nào đi chùa đó mà mình thấy niệm Phật tinh chuyên, tác ý đúng, thì dù là một người không có tri thức, không học hành nhiều, lần lần họ rất tốt. Lần lần mà mình thấy họ có tâm hạnh đàng hoàng như vậy đó. Ở đây có ai đi chùa cãi lộn không?

[52:33]Thì mình biết á, như hồi nãy chúng ta nói, cái niệm Phật mà cầu qua tai nạn là cái vay phước, phải không? Rồi mình phải trả, phải trả cho nhiều, thì dễ hiểu. Còn trì chú là vay mượn cái công đức tu hành thì mình cũng phải phải tu tập mà trả lại. Còn những người mà trì chú mà không có căn bản về cái công đức tu tập như là tu dưỡng đạo đức, thiền định thì hổng chân, sẽ gãy, sẽ sập đổ đó. Nên mình gặp mấy người mà thích Mật tông mình phải giải thích cho họ điều này. Mình học cái loạt bài này nó có lợi thế này: là mình biết hết các pháp môn, cái ưu cái khuyết của nó hết. Khi mình gặp, bản thân mình tu một cách tự tại,

[53:12]mình tu pháp môn nào cũng được hết trơn tại vì mình biết cái gốc của nó rồi. Mà mình gặp bạn bè huynh đệ mình tu pháp môn nào mình cũng có thể giải thích giùm cho họ khi họ hiểu sai. Như thấy người đó ham trì chú, mình biết cái nguyên lý mình nói cho họ nghe và buộc họ, khuyên họ phải bổ sung những cái căn bản gì, chứ đừng có lơ bơ mà cứ tin vào câu thần chú không là chết. Như bên người Tây Tạng họ mê tín câu thần chú kỳ lạ lắm. Như cái ông thầy ổng kể chuyện bên những người mà Tây Tạng lưu vong sang Ấn Độ sống á, nghĩa là họ mê cái câu mà Om Mani Padme Hum, họ mê mê không thể tưởng được. Mà cái đó là một cái dân tộc mà từ bé tới lớn ai cũng tu nha, không đợi thầy tu.

[53:47]Cái người dân bình thường của người Tây Tạng họ tu hơn ông thầy tu ở Việt Nam mình. Sáng sớm, khuya, chiều là thấy họ đi kinh hành, họ trì chú vang trời hết trơn á. Cả cái làng của họ từ bé tới lớn vậy đó, là họ tu hết, làm ăn không cần nhiều, cứ tu thôi. Mà họ họ tu vậy thấy họ thấy chậm, cứ mỗi lần mình đọc mình tụng một câu Om Mani Padme Hum nó ít quá, họ mới xây một cái tháp, bên trong đó họ viết những cái tờ giấy vậy nè, viết mỗi người viết rất nhiều, không biết bao nhiêu vạn cái chữ Om Mani Padme Hum họ mới xoắn lại, kết lại như một cái cục pháo đại bự sự vậy đó, thì trong đó trong đó toàn là

[54:20]Om Mani Padme Hum không, họ mới để trong cái tháp họ thờ. Rồi họ xây kín lại, họ đi vòng quanh họ niệm, thì họ tin rằng họ niệm một câu như vậy á thì nó được nhân lên bao nhiêu lần so với cái chữ họ đã viết ở trong đó, như vậy nó sẽ mau thành Phật hơn, nó mau đắc đạo hơn. Mình nghe thấy buồn cười không? Nói như vậy họ tính như vậy còn dở á, họ tính như vậy còn dở. Nếu mà họ biết toán đó, họ sẽ viết cái câu là Om Mani Padme Hum phải không, đóng ngoặc lại, họ cho một cái chữ số mũ á, cái lũy thừa vô cực, thì tụng một cái một đắc đạo liền.

[54:52]Họ họ mê tín cái đó kỳ lạ lắm, nên riết rồi quên nhân quả à. Đó là cái chủ quan, đó là người tu Mật tông không có căn bản á, không có căn bản. Vì cái căn bản vẫn là cái gì? Như chúng ta nói cái cây Phật giáo mà mình hay nuôi chuộng là gì? Quên rồi? Lý tưởng giải thoát, lòng tôn kính Phật đó. Cái bộ rễ là gì? Còn một hai người nói được, nhớ được. Trời ơi! Bộ rễ là đạo đức, cái thân là gì? Giỏi. Rồi các cành nhánh? Là các pháp môn, phải không? Mình hiểu được như vậy đó, thì tu gì tu cũng phải giữ cái đạo đức, giữ cái lý tưởng giải thoát, lòng tôn kính Phật, tạo phước. Còn họ quên hết thì họ chỉ có câu thần chú thôi.

[55:34]Khi mà họ nói chỉ có câu thần chú, mình thấy giống như là họ chuyên chú, nhiếp tâm lắm, nhưng đó là mất căn bản đó. Cũng giống như y hệt như mấy người tu thoại đầu vậy đó. Mấy người mà tu thoại đầu bên Thiền tông á, cứ một cái câu hỏi niệm Phật là ai? Niệm Phật là ai? Trước khi cha mẹ sinh ra ta là ai? Ta là ai? Họ nói không cần biết cái gì hết, chỉ cần biết cái câu đó thôi. Mình mới nghe qua thì thấy giống như là họ họ chuyên chú, phải không? Quên hết mọi chuyện, chỉ một câu thoại đầu, nhưng mà sự thật đó là mất căn bản á, không có căn bản, không gốc không ngọn á. Hồi mà có một thời gian có một vị thầy thầy người Trung Hoa đó,

[56:09]ổng dạy cái pháp môn thoại đầu ở cái khu vực Sài Gòn rồi các tỉnh á, trời biết bao nhiêu người hăm hở tu theo tại nó mạnh quá đi. Mà tôi tôi thấy không có căn bản là tôi biết rồi, tôi nói thôi kệ cho tu một thời gian là biết à. Thiệt đúng vậy, 5 10 năm trôi qua rồi thì những người tu theo đó gãy rớt hết, mà nhiều người còn bị những cái hậu quả không lường được nữa. Là vì lúc mà họ cực đoan cái pháp môn họ quá, họ chống các pháp môn khác hết, thì đúng là chống Phật pháp. Nên về sau những cái người mà ăn to nói lớn á, cái ỷ cái pháp môn thoại đầu rồi chống đối tùm lum, họ bị quả báo dữ dội lắm, quả báo thê thảm.

[56:41]Còn những người lúc đó mà gọi là tinh chuyên á, tinh tấn rồi đả thiền thất đồ này nọ bây giờ bỏ sạch, không dụng công gì được nữa hết. Hễ mà người nào tốt thì thôi bắt đầu đi học các trường cơ bản, làm học các khóa giảng sư rồi để kiếm việc làm, để có làm được cái gì tương đối có lợi. Còn không bình thường thì thôi bỏ hết luôn, vì làm riết thấy cũng nhức đầu mà không có được cái gì hết. Tu không có căn bản nó vậy đó. Việc tu hành chứ phải có căn bản dữ lắm.

[57:09]Khi mà Mật tông á mà đúng á là những người tu họ có căn bản về đạo đức thì rất là tốt. Nhân đây có cái câu chuyện à

[57:21]có một anh cư sĩ ảnh đến học đạo với một vị hòa thượng á tu theo Mật tông. Thì tu một thời gian thì ảnh được cái năng lực, cái năng lực chữa bệnh. Một lần đó có một cái cái người bệnh đến nói chuyện với ảnh, cũng nói về cái nhân điện mà hiện nay mà chữa nhân điện ở trên thế giới đó, truyền qua mình nói nhớ không, có nghe không? Chắc đây cũng nghe hết gì, cái ông Lương Minh Đáng ở bên Mỹ á. Thì về cũng nói chuyện với anh cư sĩ này. Anh cư sĩ này nói: Anh chữa làm sao? À, tôi mở luân xa, để tay vào đỉnh đầu này nọ đó. Ảnh nói: Để đụng tay còn dở, để ngồi đó đi tôi truyền qua. Ngồi cách xa như vậy là ông kia nghe cái huyệt đạo mình nó

[57:58]xoáy xoáy xoáy trong đó, nó cách cách từ xa nó phóng qua được liền, khỏi cần đụng tay đụng chân gì tới hết trơn. Thì anh này mới về mới mới trình bày lại với hòa thượng đó. Hòa thượng, hòa thượng Thạch Trí ở chùa Pháp Vân á. Ở đó có một Bồ Tát trỏng á, vô trỏng mà lễ ổng đi. Thì hòa thượng mới nói: Chữa mà còn để cho người ta biết mình chữa là chưa có hay. Tự người ta biết, người ta mang ơn mình, người ta kính trọng mình, thì như vậy cái chưa phải Phật pháp. Mình thấy cái đó cái kín đáo hay chưa? Cái người tu Mật tông đúng vậy đó, họ chín chắn như vậy đó. Cái người tu Mật tông mà đúng á, cái lý của họ nó nó vững vàng như vậy.

[58:37]Rồi cái thời gian sau thì ảnh cũng chữa không cho người ta biết, nghĩa là thấy ai bệnh ảnh đến gần là ảnh tác ý chữa, êm ru không ai hay hết. Ảnh về mới trình lại ông thầy. Ông thầy nói: Nhưng mà anh còn thấy anh chữa là cũng chưa được. Chúng ta thấy rất đúng lý Bát Nhã phải không? Làm không chấp công, quên việc làm của mình, nghĩa là mình tác ý mình chữa bệnh cho người đó nhưng mà không bao giờ chấp cái công đó, quên luôn thì mới được ông thầy chấp nhận. Chữa mà để người ta biết là ổng chê rè rồi, mà chữa mà người ta không biết ổng cũng chê vì chính mình còn thấy mình chữa. Thì cái Mật tông mà đến cái độ đó là người đi có căn bản,

[59:13]có đạo đức, có tư tưởng lý Không Bát Nhã trong đó vững vàng. Cho nên Mật tông mà đi một chiều là trật à, phải có những cái giáo lý chung quanh bảo vệ, bao phủ nó vững vàng như vậy. Nên Mật tông mà đúng á, cái tư cách, cái phong cách rất giống với Thiền là vậy đó. Họ làm được nhiều việc nhưng mà như hư như không, không có chấp công chấp việc, tâm họ tự tại. Còn cái Mật tông mà nó sai á thì họ làm được là khoe, khoe chịu không nổi vậy đó. Chữa bệnh cho ai được là la rần lên. Những ông thầy đó đến mình thấy nghe họ xưng trên mây xanh không à, họ khoe họ kể chuyện này chuyện kia họ làm trên mây xanh thì mình biết là không có căn bản.

[59:52]Người như vậy không có bền. Mình cứ nhìn cái đạo đức mình thấy. Thật ra cái người Việt Nam mình mà biết đến Tây Tạng nhờ cái cuốn gì? Cuốn Milarepa đó, ông Đỗ Đình Đồng dịch từ trước giải phóng phải không? Thì đọc cái đó rồi ai cũng thích Mật tông. Trong cuốn sách đó thì không có nói hết, trong cuốn sách đó giấu nhiều điểm lắm. Ví dụ như là những cái câu thần chú mà ông thầy ổng dạy lại cho Milarepa. Rồi lúc mà luyện ở trên núi tuyết á là ổng đã vận công kiểu yoga đó, khai mở những huyệt đạo nào thì trong đó giấu hết không có nói. Nhưng mà Milarepa đã đắc đạo được, đắc đạo rất cao siêu mà ổng đắc đạo khá chuẩn.

[1:00:32]Cho nên khi ổng đắc đạo rồi, những bài kệ và những cái pháp thoại ổng nói nó rất là đạo đức và nó đúng lý Không. Đó, cái Mật tông đúng là như vậy đó. Chứ còn mà những vị Mật tông mà cứ ca ngợi cái linh ứng thì mình biết ông này không có căn bản. Còn cái người Mật tông đúng họ ca ngợi đạo đức, ca ngợi cái cái tâm giải thoát, cái lòng từ bi thì là rất là đúng. Nên quý Phật tử có thể là xem lại cái câu chuyện của Milarepa vì trong đó những tư tưởng, những bài pháp khá hay trong đó. Bây giờ chúng ta so sánh Mật tông với Thiền.

[1:01:09]Mật tông cũng nói đến Phật tánh, Thiền cũng nói tới Phật tánh. Nhưng mà cái lý thuyết về Phật tánh của Mật tông á có nhiều khi nó đi quá trớn, nó có thể trở thành đoạn kiến. Như một lần tôi gặp cái cái ông thầy đó, ổng ổng xuất thân từ Mật tông thì tôi thì tôi nói chuyện gì cũng nhân quả hết đó. Tất cả mọi điều phải dựa trên căn bản nhân quả. Ông này ổng nghe ổng bực, ổng mới nói: Có nhân quả nhưng cũng có cái phi nhân phi quả. Nghĩa là ổng cho rằng cái Phật tánh là cái nó vượt ngoài nhân quả. Nhưng mà lúc ổng là ông thầy lớn rồi, ông thầy ổng lúc ổng lớn tôi chỉ là điệu thôi nên không có cãi.

[1:01:50]Nhưng tôi biết là cái kiến giải đó là kiến giải nguy hiểm, có thể đọa vào làm súc sinh đó. Vì sao? Vì cái Phật tánh tuyệt đối thật sự là nơi xuất phát ra nhân quả. Người càng giác ngộ chừng nào càng hiểu nhân quả sâu chừng nấy, chứ không có cái gì mà tách khỏi nhân quả hết. Ngay cả cái việc mà chúng ta nhiếp tâm được vào trong hư vô cũng là phước đức, là nhân quả. Nhưng mà tại sao người ta dễ có hiểu lầm là không nhân quả? Vì do cái sức định không sâu.

[1:02:22]Điều này mình nói sơ sơ qua chỗ ngoại đạo một chút.

[1:02:27]Đến cái lý mà cao siêu tột cùng chỉ có Phật thôi. Trước Phật cũng có nhiều vị tu thiền, được định nhưng do không bằng Phật nên xuất hiện những tà kiến ngoại đạo. Mà trong lịch sử Đức Phật chúng ta thấy ngài cũng học với những vị thầy trước đó phải không? Đạt rồi ngài không chấp nhận, ngài bỏ đi. Ngài thấy nó không cứu kính nhưng những vị đó thấy đó là cứu kính rồi và ngang đó xác lập cái lý thuyết chỗ đó nên rơi thành ngoại đạo tà kiến hết. Đó là chuyện trước Phật. Và sau Phật cũng giống như vậy, ngay trong đạo Phật. Sau khi Phật nhập Niết bàn, các vị A-la-hán vắng bóng, nhiều vị ở trong đạo Phật, tu sĩ của đạo Phật,

[1:03:12]tu tập không đến được trình độ bằng như Phật, dừng ngang mức độ nào đó cho đó là tuyệt đối, cho đó là viên mãn và lập nên những lý thuyết rất giống với ngoại đạo trước Phật, rất giống y chang cái ngoại đạo Ấn giáo trước Phật, y hệt vậy á. Nên có một thời gian vậy tôi cũng tu tập theo những cái pháp môn đó, ngày xưa tôi cũng tu theo những cái tông đó mà bây giờ mình cho là những tông cao siêu, Đại thừa, tối thượng thừa. Đến khi tôi nghiên cứu qua bên Ấn giáo tôi ngạc nhiên là lý thuyết giống hệt nhau. Tại sao các cái ngoại đạo Ấn giáo giống hệt như bên trong đạo Phật Đại thừa sau này? Tôi ngạc nhiên liền.

[1:03:48]Tôi mơ hồ, tôi không hiểu được. Mới đầu tôi nghĩ là như vậy bên đó cũng có Bồ Tát nói cũng đúng đạo Phật. Cho đến một hôm tôi mới đọc cái đoạn kinh Nikaya trong A-hàm, trong A-hàm Nikaya thì mới thấy điều này tôi mới vỡ lẽ ra là người ta lầm hết, chỉ có Phật mới đúng thôi. Thì Phật nói về nhiều cái loại ngã chấp. Cái ngã chấp sơ đẳng nhất gọi là thô phù ngã chấp là chấp thân này là ta. Cái chấp cao hơn là cái chấp tư tưởng này là ta. Rồi cái chấp cao hơn nữa đó là những người được cái định vô sắc, trong cái tâm mình không hình không tướng và chấp cái tâm không tướng đó là ta. Thì cái này nó giống ai?

[1:04:32]Giống ai?

[1:04:36]Chính cái vô sắc ngã chấp này nè mà ngoại đạo Ấn Độ bị hết. Họ cho rằng có một cái thần ngã nơi chính mình, mình tu tập để được cái tâm vi diệu đó là cái đó là cái ta cuối cùng, cái ta tuyệt đối. Và bây giờ bên đạo Phật cũng rất giống như vậy, y như vậy luôn. Chỉ có Phật vượt đến, cái định của ngài vượt tới tận cùng của cái vô ngã rồi ngài mới mới nói tới vô ngã thôi. Chỉ Đức Phật, các vị A-la-hán mới nói được cái vô ngã thôi. Còn mà chưa đạt được tới trình độ đó đều dừng ngang cái tâm của mình, ca ngợi cái tâm của mình là là vi diệu, là mầu nhiệm, là tuyệt đối, là viên mãn hết. Nên khi mà nghiên cứu cả Đại thừa,

[1:05:15]cả ngoại đạo Ấn Độ và Nguyên thủy rồi mình mới thấy chỉ có Đức Phật thôi. Nhưng mà nguy hiểm là chỗ nào? Cái sai bắt đầu từ đâu? Từ cái là mình chưa viên mãn mà tưởng mình viên mãn, thành tà kiến liền. Chỉ cần điều này thôi. Chúng ta tu dở biết mình còn dở là người đó còn chánh kiến, còn tu tiếp được. Còn mình tu chưa được gì mà cho mình hay thì bắt đầu là tà kiến sẽ phát sinh nhiều lý thuyết bậy bạ làm tai hại cho những người họ tin mình, họ học theo mình. Cho nên làm gì làm vẫn phải hướng về cái đích vô ngã. Khi chúng ta tu tập đạt được cái định, như hôm trước như tôi nói một phương á. Trong cái định này đó mà nếu mình an cái tâm mình rất là rỗng rang,

[1:06:00]rất là tỉnh sáng, nó là lặng lẽ bất động mà nếu mình an trụ nơi nó mình giữ gìn nó, tôi gọi là si định, cái định si mê. Mặc dầu tâm nó rất rỗng rang, rất tỉnh sáng, tôi vẫn gọi là si định. Còn nếu cái người nào cũng được cái định giống như vậy nhưng mà vẫn ngầm có cái tác ý hướng về vô ngã thì người này là chánh định. Tức là họ đi cho tới cái chỗ tan vỡ cái ngã chấp của mình luôn, không còn thấy cái gì nơi mình nữa. Cái định đó nó biến thành toàn thể vũ trụ luôn, không còn nơi mình nữa. Cái gì nơi mình là luôn luôn bản ngã còn tồn tại. Nhưng mà chúng ta nào giờ chúng ta nghe ca ngợi một cái gì nơi mình,

[1:06:40]Phật tánh nơi mình, chân tâm nơi mình, đều bị bản ngã lừa gạt hết. Đó là kiến giải của ngoại đạo Ấn Độ giống hệt như vậy. Nên Đức Phật không hề nói những cái nơi mình, ngài chỉ nói cái vô ngã thôi. Nên ngày hôm nay vậy, chúng ta mà muốn đi trở lại, chúng ta muốn dựng lại Phật pháp á, chúng ta phải lấy đúng cái tinh thần vô ngã của Phật. Nghĩa là dù có nhiếp tâm vào được định không bao giờ được cho cái tâm thanh tịnh đó là Phật tánh, chân tâm nơi mình vi diệu, không có. Phải tác ý ngấm ngầm hướng về cái vô ngã. Như hôm chiều hôm qua vậy, tôi gặp cái ông người Mỹ, ông này ổng theo đạo Tin Lành...

[1:07:17]Tôi tôi học tiếng Anh nên gặp những người nước ngoài thì thích bắt chuyện để mình rèn luyện kỹ năng đàm thoại. Ổng thì mỗi năm sang Việt Nam chơi, ổng đến chơi mấy đứa em tôi, thì gặp tôi ổng có lên chùa một lần. Năm nay ổng trở lại, ổng gặp. Lâu quá không gặp ổng nói chuyện nên cũng vụng về. Thì ổng ổng năn nỉ tôi là ổng lên núi để học võ. Thì tôi mới hỏi những người bên lực lượng an ninh thì họ nói người nước ngoài không được ở đêm lại chùa, chỉ được ở khách sạn, nên ổng không có lên được. Thì hôm qua khi tôi về Sài Gòn, ổng mới đến nhà em tôi chơi thì lên trên cái sân thượng á thì mới chỉ ổng, chỉ ổng mấy cái thế gạt đỡ căn bản thôi,

[1:07:53]chứ ổng ổng ủi cái tôi cũng văng té chết nữa, bự mập nữa. Thì lúc mà nghỉ mệt ổng ngồi mới hỏi về đạo Phật. Ổng mới hỏi: "Đức Phật có phải là God không? Là Thượng đế hay không?" Tôi mới nói: "Không". Nói tôi nói tôi mới giải thích thế này: Tôi nói trước hết (at first) Đức Phật là một người bình thường (a normal person), một người bình thường, nhưng life after life, hết đời này sang đời khác, Ngài đã làm rất nhiều điều tốt cho chúng sinh bằng lòng thương yêu của Ngài, bằng lòng thương yêu Ngài đối với họ, và Ngài luôn luôn là nhiếp tâm trong thiền định (concentrate his mind in the Zen)." Hỏi ổng hiểu.

[1:08:32]"Và cứ tiếp tục vô lượng kiếp như vậy cho đến kiếp cuối cùng (the last life), Ngài trở thành Ngài became a Buddha, trở thành một Đấng Giác Ngộ. Nơi sự giác ngộ này, nơi cái enlightenment này, cái self, cái ego của Ngài disappear, nó biến mất, cái ta nó biến mất. Khi cái ta nó biến mất thì Ngài trở thành everything of the universe, thành mọi điều trong vũ trụ, trở thành mọi cái trong vũ trụ. Ngài là con kiến, Ngài là áng mây, Ngài là những ngôi sao, Ngài là tất cả. Ngài trở thành absolute, Ngài trở thành tuyệt đối." Rồi vì ổng Tin Lành mà, cái mới nói là: "Và khi tôi đọc Gospel, tức tôi đọc Phúc Âm á của Thiên Chúa,

[1:09:15]tôi đọc những lời dạy của Chúa, của Jesus là Giê-su đó, tôi thấy những lời dạy của Ngài và tôi rất kính trọng, vì tôi tin rằng Ngài cũng đã đạt đến tuyệt đối như vậy. Cho nên với tôi thì Sakyamuni và Jesus là giống nhau (is the same one)." Ổng nghe thì ổng hài lòng vì mình cũng khen Chúa của ổng, nhưng mà cách đó là cách gián tiếp để cho ổng hiểu về đạo Phật, về sự giác ngộ là gì: là người tu mà phải tan biến cái bản ngã này thì mới trở thành toàn thể vũ trụ được. Hiểu không? Không biết ổng có có thích không không biết. Mà bên Mật Tông á họ hiểu về Phật tánh á, họ hiểu theo kiểu đoạn kiến, không nhân không quả.

[1:09:58]Cho nên cái người bên tu Mật Tông không giữ giới luật. Người Mật Tông Tây Tạng không giữ giới luật nha. Đó là lý do tại sao mà những cái Lạt Ma bên nhà Thanh á, các vua triều đình của nhà Thanh mà tôn thờ những cái vị Lạt Ma thì cũng bậy bạ y như bên Tây Tạng luôn, y như vậy, y như bây giờ, cái tình trạng hiện nay. Đó là điều rất là đau buồn.

[1:10:22]Thiền Tông á thì đi dần đến cái sự đơn giản, nghĩa là đi lần lần đến nó làm... Tức là đến gì? Chỉ giữ trên đầu một chữ "Như". Nhớ không? Kinh điển mà lưu truyền tám vạn tư đó: "Học hành không thiếu cũng không dư, đến nay ngẫm lại chừng quên hết, còn nhớ trên đầu một chữ Như". Tức là càng ngày thì càng đơn giản đơn giản, nó chữ "Như" chứ sự thật là nó cũng mất luôn rồi. "Như" tức là không có gì hết. Còn Mật Tông thì càng tu chừng nào bắt đầu nó càng nhiều càng nhiều ra. Nội cái Mandala là quá chừng hình ảnh trong đó để ngồi đó mà phải giải thích. Tức là hình này tượng trưng cho cái gì, hình kia tượng trưng cho cái gì, mà đến độ mà

[1:10:58]mà tôn thờ cái cái xác thịt luôn thì nó nó quá đáng, nó đi ngược lại hẳn đạo Phật. Cho nên ở cái điểm này càng đi xa, vì Thiền Tông vậy chớ càng lúc càng đến đúng với đạo Phật, mà Mật Tông càng lúc càng đi sai. Mà Thiền Tông á đi càng lúc thì tâm mình càng hết vọng tưởng. Các thiền sư vậy hễ mà còn chút tâm định rồi, mà vẫn còn một chút tự hào thì ngài đập cho tan luôn, gọi là sở đắc á, mấy thiền sư. Còn bên Mật Tông á càng tu thì càng phải tưởng tượng. Càng tưởng tượng mà họ cho tưởng tượng vậy là đúng đường. Như có một lần tôi gặp một vị thầy đó ổng tu Mật Tông, bảo ổng là dòng truyền thừa đúng bên Tây Tạng qua.

[1:11:33]Cũng mỗi tối ngồi thiền. Hỏi thầy dụng công sao? Nói thầy ngồi thiền là thầy tưởng tượng thầy đi mười phương thế giới lễ bái mười phương chư Phật. Cái chuyện đó có không? Làm sao mà có được! Ngồi tưởng tượng, ổng làm gì có thấy Phật thiệt mà lễ bái. Ổng tưởng tượng à qua cõi A Súc ở phương Đông lễ Phật Bất Động, qua cõi Đông Phương lễ Phật Dược Sư Lưu Ly Quang, qua cõi Tây Phương lễ Phật A Di Đà. Ngồi một chỗ ổng tưởng mà cho mình đã lễ rồi. Thì có cái niềm tin vậy thì cũng tốt. Hễ có tâm tôn kính Phật thì nó cũng thành cái phước. Nhưng mà cho như vậy là đi đến giải thoát là sai. Tại vì đi đến giải thoát thực sự nó phải đi tâm phải thanh

[1:12:08]tịnh, không còn vọng tưởng, không còn tưởng tượng. Còn ở đây họ cứ tưởng tượng tưởng tượng mà càng tưởng tượng nhiều càng hay. Nên các Mandala của họ vậy, họ vẽ tùm lum ở trỏng. Một cái Mandala mà họ giảng cho mình nghe hai ba tháng chưa hết vậy đó. Tức là càng lúc càng phức tạp. Còn Thiền Tông thì sao? Đưa lên một ngón tay thôi là đã hiểu đạo rồi phải không? Không nói nhiều, hét một tiếng thôi là ngộ hay không ngộ liền. Cho nên giữa cái hai cái Mật Tông và Thiền Tông thì mình vẫn thấy Thiền Tông thực sự nó chân chính siêu thoát, phải không? Thiền Tông xuất hiện sau này thôi, chứ không phải là thời Phật,

[1:12:41]nhưng mà rõ ràng ấy tạo nên được cái giá trị cho đạo Phật sau này. Sau cái thời mà không có Phật, thì Thiền Tông cũng đã đem lại những vị giác ngộ chân chính, mặc dù có thể là chưa viên mãn như Phật, như các vị A-la-hán, một phần nào thôi, nhưng cũng đã nói lên được cái chân chính của đạo Phật, cái gì nó nó đơn giản, nó thanh thoát, hư vô như vậy. Còn Mật Tông chú trọng cái linh ứng thần thông, mà càng đi càng đi càng riết rồi đi đâu luôn.

[1:13:09]Chúng ta qua cái tình trạng Mật Tông này đó, chúng ta phân biệt chính tà một chút. Mình bây giờ á, Phật tử mình hiện nay hay có cái tật nghe ông thầy nào tu mà có gì có thần thông chút, thế là mình tin ổng này tu tốt. Có không? Nói ông thầy đó ổng biết quá khứ vị lai nữa, ổng nhìn người biết hết nữa, là tin ông này đi đúng là đắc đạo đạo Phật rồi đó. Đó là hiểu sai, hoàn toàn sai. Hoặc là nói chứ

[1:13:42]em bệnh lại nhờ thầy chú nguyện cho cái em hết bệnh, vậy ông thầy đó tu đúng đạo Phật. Hoàn toàn sai. Chính cái đó đó mà làm cho Thanh Hải Vô Thượng Sư xuất hiện, tồn tại được người ta theo là vì nó đó. Như tôi có lần tôi kể câu chuyện, đã lâu không biết quý Phật tử đây chắc chưa nghe. Có cái người đó họ buôn bán ở chợ đó, họ buôn đá mà đá thô để làm đá quý á. Họ mua cái lô đá đó về thì sau khi mua xong thì cái người ta tới người ta mới phát hiện, người ta nói đá xấu. Thì họ thấy là cầm chắc lỗ là mấy cây vàng liền. Cái họ ngồi họ sợ quá họ mới vái tên tôi, cầu tức là thầy Chân Quang gia hộ làm sao không biết.

[1:14:26]Cái cũng cái ông mà chê nãy quay trở lại khen đá tốt, rồi mua lên cao hẳn lên, họ lời luôn mấy cây. Thì họ lên núi họ kể tôi nghe. Tôi nói lúc á xin lỗi thầy vô tội, thầy không biết gì chuyện đó, thầy không có dính líu gì chuyện đó hết. Phải như vậy mới được. Còn lúc đó mà lúc đó mà tôi mà ngồi quạt nghinh nghinh á: "Đó nhờ thầy đó, thấy không? Linh không?" Thì chắc là người ta cũng theo mình dữ lắm, người ta sẽ đồn rần rần người ta theo mình. Nhưng mà lúc đó mình chuẩn bị xuống địa ngục luôn. Đó là lừa bịp. Rồi cũng có chuyện tương tự như vậy. Có Phật tử ở nhà Bà Rịa, tối thì bắt đầu mới bày dọn

[1:15:00]ra chỗ mà bán ăn, bán nước, họ để bán nước thôi. Nhưng mà cứ chiều sẩm tối xuống thì bày ra. Bán sao bữa ế quá, cái nói: "Vái thầy ơi thầy", thì kêu tên tôi đó, "thầy gia hộ cho con bán đắt chút". Thì tự nhiên khách qua rần rần rần rần, dọn không kịp rồi hết hàng luôn. Một lần thì cũng chưa tin, rồi năm ba lần cứ giống như vậy, hễ ế mà vái tên tôi cái là bán đắt lên. Bắt đầu mới lên núi nói. Nói: "Không không, thầy xin lỗi, thầy không biết, giờ đó thầy ngủ rồi". Tới tối thầy chui vô mùng thầy ngủ mất không biết chuyện đó, xin lỗi. Gạt ra liền. Nó hay có những cái chuyện như vậy nó xuất hiện, mà cái điều đó những ông thầy đó ổng khai thác thêm

[1:15:36]để làm sao cho Phật tử tin mình và theo mình rần rần như vậy, cho nó là hay. Nhưng đó là là phá đạo. Nghĩa là Vô Thượng Sư Thanh Hải cũng cái kiểu đó đó. Ban đầu bả tu Mật Tông, bả trì chú theo cái đạo Sikh, rồi sau đó bả quy y bên đạo Phật, bả lai tùm lum thứ đạo như vậy. Rồi do cái thời gian ban đầu bả chuyên chú, nên có những cái hên rồi cũng có phước đời trước, thì cũng có xuất hiện vài trường hợp giống như trường hợp của tôi hồi nãy. Tức là cứ một đồn mười, mười đồn trăm thì bả không đáng hay thì bả nếu mà bả chân chính bả gạt ra, không cho người ta tin vào những điều đó, để cho người ta chỉ tin vào phước người ta thôi, thì bả lại chấp nhận bả tô vẽ thêm.

[1:16:14]Tô vẽ thêm. Rồi làm thành một cái phong trào Vô Thượng Sư Thanh Hải quá chừng rần rần rần rần, thì cuối cùng sao? Nghĩa là ai nói mình ở trên cao chừng nào, thì đến lúc nào đó họ sẽ thể hiện họ ở dưới thấp chừng nấy. Thì nên thời gian sau này báo phanh phui ra tùm lum những việc bậy bạ là như vậy đó. Nên với việc tu hành như vậy, chúng ta cẩn thận đừng có tin vào những cái gọi là là là là thần bí, thần thoại, linh ứng. Phải giữ vững cái niềm tin trên cái nhân quả và trên cái đạo đức mà thôi. Chứ trước thời Phật hoặc đồng thời với Phật, rất nhiều người không theo đạo Phật, họ cũng nhập được định, cũng đắc được thần thông, rất nhiều.

[1:16:52]Mà Phật cũng chê là ngoại đạo, không thể giải thoát được. Thì bây giờ cũng vậy. Mặc dầu là cũng quy y Phật, tu cũng đắc định, cũng có thần thông, nhưng mà cái hiểu của họ về đạo y như ngoại đạo vậy đó, y hệt ngoại đạo. Mình là người Phật tử thì chỗ cái học cái tu mình không nhiều, nghe nói cái là mình lật đật mình đi theo tưởng ông đó à ổng là đệ tử Phật xuất gia trong chùa, chắc là đúng đạo Phật. Thấy ổng có thần thông, thấy ổng nhập được định, thì tin rằng ổng là người đắc đạo đúng đạo Phật gì nữa, phải không? Nhưng mà vẫn có thể sai như thường, vẫn sai như thường. Cho nên chúng ta phải dè dặt. Cái thời nay thì chánh tà nó lẫn lộn,

[1:17:31]rồi ở trong chùa chứ nhiều khi làm việc ngoài chùa cũng có nữa. Nên không bao giờ được tin, không bao giờ thấy ờ cái nhãn hiệu đó là đạo Phật thì mình tin chắc đó là đạo Phật. Không có tin như vậy nữa. Từ nay, cái thế kỷ này không tin như vậy nữa. Chúng ta chỉ tin cái gì?

[1:17:48]Dựa trên, thứ nhất là xem ông thầy đó ổng hiểu nhân quả đến mức độ nào, cái mức tin sâu đến cỡ nào. Vì đến lúc nào đó mà ổng bác bỏ nhân quả là ông này chưa có chánh kiến. Tin nhân quả mà tin sơ sơ, hiểu không sâu, có nhiều chuyện lý giải không dựa vào nhân quả, thì biết ông thầy này hiểu đạo chưa tới. Thứ hai nữa, nhìn trên cái đạo đức. Nhìn trên cái đạo đức của ổng, coi ổng có thật sự là vị tha, từ ái, khiêm tốn, nhẫn nhục, vân vân, những cái căn bản đạo đức đó phải có. Chứ không thể nói trên mây xanh rồi đụng đâu nổi sân đó, vân vân, những cái điều đó không được, hoặc là tham lam, chứa bóp, những điều đó đạo đức không chấp nhận là thấy sai liền.

[1:18:28]Đạo đức mà mà sai là không thể chấp nhận được. Đó là cái thứ hai. Cái thứ ba nữa đó là xem ổng hiểu về giáo lý vô ngã tới đâu. Vì cái vô ngã là cái giáo lý mà chỉ cái đạo Phật mới nói được, những đạo khác nói không tới. Cái ngoại đạo họ tu được thiền định, đắc định, đắc được thần thông vẫn không đạt được vô ngã, chỉ có Phật và A-la-hán mới được cái đó thôi. Cho nên vô ngã là cái căn bản để mình xem họ hiểu hiểu vô ngã tới cỡ nào. Họ không nói được cái vô ngã mà họ chỉ nói về chân tâm, Phật tánh, coi chừng là vẫn lẫn lộn với ngoại đạo. Ca ngợi cái nơi mình là cái tâm nó là vi diệu thì coi chừng bản ngã nó dính trong đó luôn rồi đó.

[1:19:06]Rất là nguy hiểm. Đó là cái thứ ba mình căn cứ vào điều đó để đánh giá ổng là ngoại đạo hay đúng là đạo Phật. Chứ đừng có thấy mà hễ mà nói là người của đạo Phật, rồi có định, có thần thông mà tin liền là sai, coi chừng chết luôn. Nhất là mấy ông Mật tông á, phải cẩn thận ghê lắm. Chứ Mật tông rất dễ rơi vào đường tà. Còn những vị Mật tông chân chính mà tin sâu nhân quả nè, đạt được lý Bát-nhã như Hòa thượng Thạch Trí thì rất là hiếm, mà đó mới thật sự là Mật tông đúng đạo Phật á. Chứ còn lại rất là dễ rơi vào đường tà lắm. Ngay cả những người mà mình thấy thuyết pháp thao thao chưa chắc là đạo Phật.

[1:19:43]Họ lanh miệng, họ nói nhiều, mình thì quần chúng, mình đâu có ngồi đó mà phân tích được từng câu đúng hay sai. Nghe ổng nói lưu loát quá, nghe cũng xuôi tai quá, cứ tưởng ổng nói đúng đạo Phật, chứ nhiều cái trật lất à, nhiều cái trật lất à. Nhiều người giảng thao thao lưu loát, viết sách này, viết sách kia vậy chớ vẫn sai với đạo Phật, không có đúng. Nên quý Phật tử phải cẩn thận ghê lắm. Thuyết pháp hay chưa chắc là đạo Phật. Được định chưa chắc là đúng đạo Phật. Có thần thông chưa chắc là đạo Phật. Cho nên tôi ngồi đây nói tầm bậy tầm bạ, coi chừng không biết phải đạo Phật không nữa nha, cẩn thận đó.

[1:20:22]Tín đồ theo đông chưa chắc là chánh đạo. Đúng không? Mà chúng ta thấy: "Trời, cái ông đó chắc là đạo cao đức trọng, thấy người ta theo quá chừng." Như bên Nhật cái đạo Om á, Aum Shinrikyo á, thì ổng mới là những người trí thức cũng theo rần rần rần rần, không ngờ là một cái đạo giết người, thả hơi độc người ta chết quá chừng luôn rồi. Rồi cái giáo... cũng mạo danh là đạo Phật chân lý tối thượng, mà lợi dụng lúc đạo Phật bên Nhật đã tiêu tan rồi, đạo Phật bên Nhật tiêu tan rồi, thì mới những cái đạo mà nó lai lai tầm bậy nó xuất hiện. Trên thế giới cũng vậy, có nhiều đạo hiện nay cũng rất đông tín đồ, hoàn toàn là tà đạo.

[1:20:58]Họ cũng lấy được một chút về từ bi, bác ái của đạo Thiên Chúa với đạo Phật, họ trộn trộn vô, rồi nói thêm này thêm kia rồi lợi dụng tín đồ, mà nhiều người cũng theo rất là đông. Cho nên chúng ta thấy tín đồ đông chưa chắc là là chánh đạo. Tín đồ đông nè chưa chắc nè, thuyết pháp thao thao chưa chắc nè, có thần thông chưa chắc nè, nhập được định cũng chưa chắc nè, chưa chắc là chánh đạo. Vì những điều đó ngoại đạo làm được hết, làm được hết. Nên cái ranh giới thật sự giữa đạo Phật và ngoại đạo không có, chúng ta rất khó phân biệt. Nên nhiều Phật tử lên, tôi khuyên là phải tìm một vị thầy để mà tu hành, rồi nói:

[1:21:35]"Con không biết tìm ai." Nói: "Hãy cầu nguyện Phật." Mình không thể biết vị thầy nào tốt hay xấu, đúng hay sai, nhưng mà mình cứ cầu nguyện Phật gia hộ, thì Phật sẽ đưa mình tới gặp được vị thầy tốt. Chứ chính mình không biết mà nghe lời giới thiệu coi chừng tầm bậy nữa. Nghe đồn đồn ông thầy đó hay lắm, thấy nghe đồn Thầy Chân Quang hay lắm, coi chừng. Coi chừng, không chắc là đúng đâu. Nên mình cứ cầu nguyện Phật, Phật đưa mình đến ai thì hy vọng là là vị đó tốt á. Chứ đừng đừng tin vào ý mình, cũng đừng tin ông thầy đó nói hay, cũng đừng tin ai rủ rê hết trơn á. Giờ biết chỉ còn cái còn lại là mình cúi đầu

[1:22:11]trước Phật cầu nguyện thôi, nếu mình muốn. Chứ chính mình không thể phán đoán được ai sai, ai đúng. Vì nếu mình nghe ông thầy đó giảng mà mình đánh giá ổng sai đúng được thì mình giảng pháp được rồi. Không, mình leo lên ngồi giảng được rồi. Không nghe nổi, quý Phật tử không thể nào biết được đúng sai của một ông thầy giảng đâu. Không thể nào. Ngay cả người xuất gia không đủ trình độ để phân biệt được cái sai, cái đúng trong đường tơ kẽ tóc nữa. Nhiều khi cái đó nó sai, nó truyền qua bao nhiêu thế kỷ nha, đến bây giờ vẫn còn tin, vẫn còn tin đó là chánh đạo, mà thật sự nó sai, sai tuốt luốt luôn.

[1:22:42]Tứ thiền và tứ quả khác nhau.

[1:22:47]Tức là cái người ngoại đạo họ tu tập vẫn có thể đạt được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Chỉ trong đạo Phật mới đạt được từ sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả. Vì sao? Vì người được cái quả Thánh rồi đó là người đi đúng con đường Phật pháp và đến một lúc nào đó chắc chắn họ được giải thoát. Còn cái người ngoại đạo họ đắc được thiền định sâu thì họ có thể hưởng cái phước thiền đó vài triệu năm, rồi vẫn phải đọa lui trở lại. Họ an trụ trong cái cõi trời của họ vài triệu năm rồi vẫn lui lại, dù họ đắc được cái thiền rất sâu. Còn cái người đắc được cái quả Thánh, nhiều khi họ chưa đắc được định nha,

[1:23:27]có khi cái người đó đắc được sơ quả Tu-đà-hoàn mà chưa hề được vào định, nhưng người đó vĩnh viễn không đọa ác đạo nữa và chắc chắn có ngày được giải thoát. Cái này thì hôm nào quý Phật tử lấy cái băng Sơ quả Tu-đà-hoàn mà nghe, đó, thì tôi có giảng cái băng về Sơ quả Tu-đà-hoàn, tôi nói về điều này. Nên có những người vào trong sơ quả rồi mà chưa được định, nhưng mà người đó Phật đã xem họ là sơ quả rồi. Người đó chắc chắn giải thoát, dù chưa được định. Còn có người được định rất sâu rồi mà không phải đạo Phật, họ chết họ bỏ thân này, họ lên trên cõi trời của họ sống vài triệu năm ở trên rồi rớt xuống trở lại liền.

[1:24:02]Rớt lại coi chừng đọa luôn vào súc sinh nữa, không biết chừng. Đây là cái điểm khác nhau giữa cái người đi đúng đạo Phật và người không đi đúng. Nên dựa vào mức độ thiền cũng không đánh giá chắc ăn được là cái người đó phải đúng với Phật pháp hay không, rất là khó. Cái thời đại cách Phật mấy ngàn năm, ai cũng nói mình là đạo Phật, nhiều kinh điển nguỵ tạo rớt vào trong đạo Phật, rồi người Phật tử của mình sau này cứ hễ thấy cái gì nói là Phật nói thì mình tin, nhưng đâu biết rằng cái bài kinh đó là kinh nguỵ tạo. Mình tin theo thì rõ ràng mình mang theo cái tà kiến. Đó là lý do mà tại sao tôi luôn luôn kêu gọi cái lòng tôn kính Phật là vậy đó.

[1:24:41]Giữa cái thời đại mà sự thật không còn biết đâu là chánh, đâu là tà nữa, thì mình phải giữ cái lòng tôn kính Phật cho kỹ, giữ cho nó chắc ăn.