Transcript: Thiên Nga Bay Cao - Pháp Cú 33

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:28:46

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô

[0:27]Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:38]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:50]Mời đại chúng ngồi xuống. Hôm nay ta nghe tiếp bài Pháp Cú có tựa đề là Thiên Nga Bay Cao. Cái bài kệ như thế này: Tự sách tấn chánh niệm, chẳng màng nhà cửa nào, như thiên nga bay cao, bỏ bờ ao nhỏ bé. Bài kệ này Đức Phật nói ra trong cái sự tình như thế này. Năm đó thì Đức Phật nhập hạ tại Vương Xá của nước Magadha, Ma-kiệt-đà. Đến khi mãn hạ thì Đức Phật mới báo là Ngài sẽ rời cái tịnh xá để đi, đi du hành. Đức Phật như vậy, quanh năm suốt tháng là Ngài phải đi từ nơi này qua nơi kia để giáo hóa, rất là vất vả. Thì khi mà nghe tin Đức Phật thông báo là phải đi du hành như vậy, thì các Tỳ kheo mới chuẩn bị sửa soạn những vật dụng để du hành,

[1:48]như là rửa bát, giặt y, thêm số vật dụng để du hành để mà chuẩn bị đi theo Phật. Trong khi mọi người đang lăng xăng, lao xao để lo chuẩn bị đồ đạc thế này thế kia hết vậy, thì chỉ có một mình Tôn giả Đại Ca Diếp thì Ngài vẫn tỉnh, tỉnh bơ, không làm gì hết. Vẫn thanh thản không làm gì hết. Giống như là không có chuẩn bị gì và cũng chẳng phải đi theo Phật. Lúc đó có một vài Tỳ kheo mới nghĩ xấu Tôn giả. Họ nói rằng là: "Nhìn cái thái độ Tôn giả là chắc là Tôn giả không có chịu đi theo Phật. Có lẽ là Tôn giả quyến luyến cái thành Vương Xá này, vì nơi đây là Tôn giả có rất nhiều người thân thuộc,

[2:27]vì gia đình của Tôn giả vốn là một gia đình cực kỳ giàu có. Cho nên chắc là muốn ở lại thành Vương Xá để gần bà con thân thuộc và được hưởng sự cúng dường." Họ nghĩ như vậy. Thì tiếng đó nó lan lan lan lan ra. Cái Phật biết được thì Phật sợ các Tỳ kheo kia nói bậy mang tội, nên Phật mới gọi các Tỳ kheo kia lại, nói cho biết rằng Ngài Đại Ca Diếp là một con người siêu phàm, không bao giờ màng đến bất cứ điều gì tầm thường của thế gian. Và sẵn đó Ngài mới nói bài kệ để khen cái hạnh của Ngài Tôn giả là như vậy, là: "Tự sách tấn chánh niệm, chẳng màng nhà cửa nào, như thiên nga bay cao, bỏ bờ ao nhỏ bé."

[3:09]Cái bài kệ là trong cái trường hợp như vậy. Tức là vì để bênh vực một người đệ tử của mình trước những cái dư luận không đúng, không hay, mà Phật phải đích thân đính chính, biện hộ và xác nhận bằng một bài kệ dễ thương như vậy. Ta phân tích một chút xíu. Chúng ta biết trong thời của Đức Phật rất nhiều các đệ tử A La Hán là những bậc siêu phàm đắc đạo mà chính Đức Phật đã công nhận. Ví dụ như Ngài Kiều Trần Như, Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên rồi Ngài Đại Ca Diếp là xuất sắc. Những vị đại đệ tử như vậy ai cũng biết đó là những bậc A La Hán siêu phàm. Nhưng không hiểu tại sao nhiều khi vẫn bị người ta nghĩ xấu.

[3:59]Và đọc một loạt những chuyện sử thế này trong cái lịch sử giáo hóa của Đức Phật và những chuyện nho nhỏ thế này ta mới phát hiện ra một điều là cái tâm lý của con người thời xưa và tâm lý con người thời nay cũng không khác nhau bao nhiêu. Bản chất con người từ trước đến giờ thì vẫn như vậy, nghĩa là vẫn thích nói xấu người khác, vẫn thích nghĩ xấu người khác. Là một tâm lý rất là thường tình mà rất là phàm phu.

[4:30]Đây là một cái tâm lý rất là lạ, vì không hiểu tại sao mà ví dụ nói 100 người thì hết 90 người thích nghĩ xấu người khác. Còn chừng 10 người biết tu tập vững vàng mới không bị nghĩ xấu thì không nghĩ gì. Chỉ còn lại chừng một, hai phần trăm người thích nghĩ tốt về người khác thôi. Thì cái người mà thích nghĩ tốt về người khác á, ta sẽ nhìn vào giống như người dễ tin, cả tin. Nhưng mà họ có cái lập trường, có cái đạo đức của họ. Họ nói là họ thích nghĩ tốt về con người. Có thể là bị con người phản bội, hay là cái nghĩ tốt của họ nó không đúng lắm, nhưng mà thà họ nghĩ tốt và lòng họ thấy yêu thương con người, tôn trọng con người và họ an vui hơn.

[5:14]An vui hơn là cứ mãi lo nghĩ xấu con người để rồi tâm mình cứ bất an, mà mình khi cứ nghĩ xấu con người mình khó thương ai được lắm. Đó là cái bước đầu của mới tu á, chứ còn bậc Thánh vượt lên cao rồi thì biết rõ sự tốt xấu, không còn bị thành kiến, ảo tưởng hay quan niệm gì nữa hết. Nhưng mà ở buổi ban đầu á là thường là cái người mà khi tu đến một mức độ tốt rồi thì lại thích nghĩ tốt về người khác. Còn bình thường khi ta chưa biết tu, 90% con người là thích nghĩ xấu cho người khác. Đây là cái bệnh rất thường tình. Và chính vì 90% con người thích nghĩ xấu cho người khác, cho nên chúng sanh hay kết duyên không lành với nhau.

[5:57]Trong đời cứ gặp nhau nhưng mà thường là không có kết được cái thiện duyên. Đời xưa mình đã từng nghĩ xấu về người đó và người đó cũng nghĩ xấu người khác, cứ nghĩ qua nghĩ lại, cho nên cái thế gian này không phải là một cái cõi an vui mà chỉ bắt đầu từ cái ý nghĩ không hay về nhau mà tạo thành cái ác duyên với nhau. Trong nhiều kiếp gặp lại ta không gắn bó, không nâng đỡ, không dìu dắt, không chở che, không bảo bọc với nhau, không thương yêu nhau được. Và cứ cái thế giới này nó cứ như vậy. Nó cứ là một nơi mà thử thách cái đạo đức của con người một cách khốc liệt, và thường cái kết quả sau cái cuộc thử thách đó là con người thất bại, gọi là thi rớt.

[6:37]Thi tú tài còn đậu được hơn 50%, còn cái cuộc thi về đạo đức, cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác trên thế gian này thì đa phần con người đã bị rớt. Rồi có khi phải trở lại làm một người vất vả hơn, có khi đọa vào những loài khác, thậm chí có người xuống thẳng luôn địa ngục, vậy. Nên tâm lý thường tình đầu tiên con người ta thích nghĩ xấu người khác là một cái bản chất gì đó, cái bản năng gì đó rất là lạ. Từ ngàn xưa vậy tới bây giờ vẫn chưa thay đổi lắm. Việc mà tu là để thay đổi điều này trước. Tuy nói Phật pháp mênh mông, ví dụ ta nói lòng từ bi vô hạn thương yêu chúng sinh thì ai cũng đã nghe,

[7:18]ai cũng đã từng nói, mà ai cũng đã từng tụng những bài kinh như thế. Nhưng mà nói thương yêu chúng sinh là gì? Sự thật là chưa cần phải làm điều gì lớn lao lắm, mà chỉ bắt đầu bằng cái việc bớt nghĩ xấu về nhau thôi, là ta đã bắt đầu thể hiện được cái tâm từ bi. Nhưng mà nhiều khi cái bài học đầu tiên về lòng từ bi này ta vẫn chưa thực hiện được. Ta phải xét lại mình rất là nhiều. Việc để vượt qua cái tâm lý nghĩ xấu người khác á, nếu mình đang quyết tu cũng phải 5 năm mới hết. Còn không quyết tu 50 năm cái bệnh nó vẫn còn, vẫn thích nghĩ xấu người khác. Cái người mà có phẩm chất Thánh á thì thích nghĩ tốt về người khác.

[8:00]Chúng ta phân biệt giữa cái người Thánh và người phàm, người tốt và người xấu. Cái người có phẩm chất Thánh thì thích nghĩ tốt về người khác. Chính vì nghĩ tốt về người khác nên họ xuất hiện được cái tâm là thông cảm, che chở, bênh vực mà ta gọi là độ lượng của một con người, bao dung được, thương yêu con người, che chở, bênh vực. Cộng cái là thông cảm, bênh vực, che chở là bằng độ lượng. Nên để gọi được một người là có cái tâm độ lượng thì ta phải hiểu rằng người đó có cái tâm thích nghĩ tốt người khác hay thông cảm cho người khác, nên che chở, bênh vực được cho người khác ta gọi là tâm độ lượng.

[8:40]Cái chữ thông cảm á rất là độc chiêu. Ví dụ như ta thấy một người khổ, ta thương xót. Thì cái thương xót mà thấy: "Tội nghiệp quá ha", một câu nói đơn giản nó chưa đủ để thể hiện sự thông cảm. Chừng nào mà ta cảm nhận được cái nỗi khổ người khác như là mình đau khổ thì bắt đầu gọi là sự thông cảm. Lúc đó ta mới có tìm cách giúp nhiệt tình được. Có khi không giúp được, nhưng mà lòng ta day dứt vì cái nỗi khổ của người khác cũng gọi là sự thông cảm, đó là thông cảm cái đau khổ. Còn thông cảm cho cái lầm lỗi người khác nữa. Ví dụ như thấy người đó có cái phạm lỗi nhưng mà vì ta không ghét Nên ta luôn luôn tự lý luận

[9:24]là tại sao người đó phải đi đến cái mức độ phạm tội như thế. Mình phân tích điều này, phân tích điều kia, để cuối cùng mình gạt bớt cái trách nhiệm của người đó ra. Tuy phạm cái lỗi đó, nhưng mà cái lỗi thật sự của họ còn chừng ba, bốn phần. Nói câu này nghĩa là sao? Nghĩa là thế này, nếu ta dự một phiên tòa ta cũng sẽ thấy cái trường hợp tương tự như vậy. Ví dụ như trong phiên tòa, cái ông công tố viên ổng đứng lên ổng buộc tội, ổng nói rằng: "Cái người này đã cầm dao mà đâm chết cái người bạn kia. Con người này mất hết nhân tính, cần phải loại ra khỏi đời sống xã hội", tức là tử hình luôn á.

[10:04]Ổng công tố viên thì ổng quất một câu là không còn gì. Bắt đầu luật sư ổng đứng lên ổng hỏi tiếp: "Những nhân chứng, cái người mà bị đâm á đã nói câu gì?" Cái người nhân chứng nói: "Dạ, tôi nghe trước khi cái người bị đâm á, ổng chửi ông kia là đồ chó." Tức là ông luật sư ổng tìm cách ổng gỡ lần, gỡ lần ra, ổng hạn chế bớt cái trách nhiệm lại. Để cuối cùng để cho ông quan tòa đó, ổng nghe hai bên hết, ổng mới quyết định thế này: "À, như vậy cái người này đâm cái người kia là không phải là khi không vì một cái lòng tham hay lòng ác, mà do bị bức xúc mà chính cái người nạn nhân lại là người gây nên cái điều đó, gây nên cái chết của mình,

[10:38]chứ không phải là cái người này tự nhiên mà đâm." Tức là làm cho quan tòa hiểu được một điều là cái người này thật sự cái ác của họ không phải nhiều như là ổng công tố viên nói, nó bị kích động hay bị tình huống thế này thế kia, vân vân. Đó là cái vai trò của luật sư. Thì trong lòng của một người tốt cũng vậy, ta có công tố viên, ta cũng có luật sư trong lòng mình. Tức là khi thấy một người lầm lỗi, thì ta nhìn vô ta đánh giá cái lỗi người đó, nhưng sau đó trong lòng ta cũng có một luật sư, ta cố gắng biện minh giùm người đó bao nhiêu phần, để cuối cùng ta gạt bớt cái ác, cái sai của người đó ra, chỉ còn một phần ít thôi.

[11:12]Thì đó gọi là sự thông cảm. Nhưng cái quan trọng trong lòng ta á là ông công tố viên ổng mạnh hay là ổng luật sư ổng mạnh? Nếu trong lòng ta, trong cái phiên tòa của cái trái tim ta nó chỉ có ông công tố viên mà không có ông luật sư thì ta là ác quỷ à. Gặp ai mình cũng kết tội, không binh ai được. Còn nếu thẳm sâu trong lòng mình có một luật sư ổng ngự trị ở trong trỏng á thì mình nói đi, mình nói lại. Ví dụ thấy thằng nhỏ nó ăn cắp, nó đi vô nhà người ta nó ăn trộm bị người ta chộp được người ta đánh, cái mình lại mình cản. Lúc đó mình mới tìm hiểu để mình biết tại sao thằng bé này phải ăn trộm?

[11:50]Là vì nó ăn trộm quen tay, vì nó ác độc, vì nó đua đòi, hay là vì nó nghèo quá? Hay là trước đây là mỗi lần nó ăn cắp món đồ ba mẹ nó khen á: "Thằng này bộ khôn"? Tức là đi tìm nguyên nhân dần dần, dần dần để để chia bớt cái tội của nó, để mà còn có một cơ hội nào đó để có thể bênh vực được nó, thương yêu được nó. Thì cái đó ta gọi là sự thông cảm của một bậc thánh đối với lầm lỗi của chúng sinh. Mà để có thể có một luật sư ở trong lòng mình như vậy thì ta phải tu 5 năm, 10 năm. Giống như có một người để tốt nghiệp luật sư mà đi đứng trước tòa cãi, ta mất 4 năm đại học và mấy năm phải thực tập nữa

[12:29]thì mới được phép làm luật sư, không phải dễ. Thì cũng chừng ấy thời gian, ta phải quyết liệt tu tập cái tâm từ bi thương yêu, độ lượng để ta mới có được cái ông luật sư thánh thiện ở trong lòng mình. Khi mình nhìn mọi người, mình không có ghét. Mà thấy người ta lầm lỗi, lúc nào trong đầu mình cũng biện minh một cách nào đó để chống chế, rồi sau đó tìm cách giáo hóa người ta. Còn đa phần ta dễ bị chê bai con người. Mới để so sánh một người phàm, người thánh á, ta thấy có những sự tình lạ lắm. Ví dụ cùng nhìn thấy một cảnh, một thái độ giống nhau, nhưng mà bậc thánh nghĩ khác, người phàm nghĩ khác.

[13:07]Ví dụ thế này, ví dụ như là

[13:11]có một người hay mỉm cười, ta nhìn cái người mà hay mỉm cười đó, ta nghĩ gì? Cái người mà xấu á sẽ nói thế này: "Hừ, coi chừng cái thằng này nó man man, lúc nào miệng cũng cười cười vô duyên quá à, không có gì cũng cười." Ta chê một câu. Còn mà cái người mà mình lòng mình độ lượng á, cái mình nói: "Người này tâm bộ hoan hỉ ha, lúc nào có vẻ cũng an vui." Nó cũng cái cười mỉm mỉm vậy đó, mà người thương kẻ ghét. Bởi vậy Thầy đâu dám cười, khùng sao cười. Nói Thầy man man mệt lắm, thôi, cứ chằm dằm vậy bộ khỏe. Hoặc là người có cái nhìn chăm chăm, mỗi khi nhìn cái gì cũng chăm chăm, chăm chú. Thì ví dụ mình nhìn người đó mình nghĩ gì? Nói:

[13:56]"Này có con mắt ăn trộm, dòm chăm chăm biết nó rình rập cái gì đây." Đó thấy nghĩ xấu. Còn cái một cái người mà ta nghĩ tốt, ta nghĩ sao? Ta nghĩ: "Người này có cái tinh thần tập trung cao độ, đó là mỗi khi nhìn vấn đề gì cũng tập trung rất là cao nên có đôi mắt như thế." Ví dụ bây giờ mình thấy người đi nhanh, mình nghĩ làm sao?

[14:20]"Đi như ăn cướp." Nhưng mà nếu mình tốt mình nghĩ: "Này người mau mắn, phải không? Người nhanh nhẹn, mau mắn." Nó cũng hành động giống nhau mà ta có thể khen, ta có thể chê. Giờ thấy người đi chậm nghĩ làm sao? "Đồ lười biếng ha, nhàn nhã quá ha, không có chuyện gì làm ha, thất nghiệp nữa nè, biết bữa nào móc túi tui nữa nè." Đó, thấy người ta đi chậm vậy mà có thể mình suy luận một lát là tới kết luận người ta bắt đầu vô tù ở được luôn á. Nhưng mà ví dụ mình người tốt mình nhìn người đó mình nói làm sao? Nói: "Người này thong dong, ha, sống của bộ thanh thản, tâm người này chắc là an." Cũng chuyện đó thôi.

[14:57]Ví dụ mình thấy người mặc áo đẹp, mình nói làm sao? "Điệu hạnh, xảnh xẹ gì đó," đại khái vậy. Nhưng mà nếu mình có ý tốt mình nghĩ làm sao? Mình nghĩ: "Có thể người này cũng tôn trọng mọi người, không muốn xuất hiện với một cái bề ngoài nó nó nó nó quá tệ," vậy. Mình thấy một người mặc áo xấu mình nghĩ làm sao? "Dân cù bơ cù bất đâu lẩn lẩn vô đây tính móc túi á." Nhưng mà nếu mình khen thì mình vẫn có tìm cách để khen được, nói: "Người này có vẻ sống đơn giản." Đó, nên ta thấy cũng một sự tình như vậy, muốn nghĩ xấu thành xấu, muốn nghĩ tốt thành tốt. Nên vì vậy, ta coi lại cái tâm mình. Từ đây về sau, mỗi khi ta nghĩ xấu về người khác,

[15:43]ta phải hết sức cẩn thận, là bởi vì nhiều khi cái đó nó không phải là một cái nhìn khách quan, đúng đắn đâu, mà nó là một loại bệnh, một thành kiến của chúng sinh phàm phu mà ta mắc phải. Và điều đó làm cho tâm ta nó thấp hàng xuống, cái nghiệp của ta nó tích lũy lên dần dần, con đường tu tập của ta lần lần nó đóng lại, vì ta thiếu từ bi. Nên có thể là cái người mà họ nhìn chăm chăm á, có khi họ xấu thiệt chứ không phải không, có khi đang rình rình cái gì ăn cắp thiệt chứ không phải không. Nhưng mà, kệ nó, thà là ta nghĩ sai nhưng mà nghĩ tốt vẫn hơn là ta vội vã kết luận theo chiều hướng xấu mà

[16:22]chưa đủ chứng cứ, làm cái tâm mình nặng nề. Ta chấp nhận là ta có thể ta bị dễ tin, đôi khi ta có thể bị người hơi lừa một chút, nhưng mà thôi thà là ta nghĩ tốt khi chưa biết gì được rõ ràng, cứ nghĩ tốt mà tâm ta sẽ an vui hơn, đạo đức ta tăng trưởng hơn, cái lòng từ bi của ta rộng mở hơn.

[16:45]Chứ còn cái người mà khôn quá á, họ tự nhận họ nói họ khôn á, họ nhìn đâu họ cũng thủ thế, nhìn đâu họ cũng nghĩ xấu trước cho chắc ăn. Thì có thể cái người mà hay nghĩ xấu người khác như vậy, họ được cái chắc ăn là họ ít bị người khác lừa, nhưng mà chính họ đã lừa họ. Có thể họ không bị người khác lừa, tại đụng ai họ cũng nghĩ xấu trước nên họ đã thủ thế rồi, đề phòng rồi, thì họ không bị người khác lừa, nhưng họ đang lừa họ từng giờ, từng phút. Tâm hồn họ bị hẹp hòi lại từ từ, con đường tu hành nó đóng lại. Nên ta vẫn nhớ cái câu chuyện rất là thương tâm là Tào Tháo á, mà nổi tiếng với câu chuyện mà giết tới người ân nhân của mình á.

[17:25]Có lần đó ổng ổng ghé cái nhà đó, thì người này trước kia có chịu ơn của ổng, nên thấy ân nhân đến, mừng quá, tiếp đãi ân cần, khuya dậy cái giết con heo để đãi ổng. Ổng đang nằm ngủ ổng nghe tiếng mài dao, mà ổng là nổi tiếng đa nghi, mà ổng là rất là giỏi võ, Tào Tháo rất giỏi võ, nghe tiếng mài dao cái ổng cầm gươm đi xuống. Đầu tiên ổng nghĩ là mài dao giết ổng thôi. Xuống giết sạch. Tới chừng giết xong ổng mới thấy là con heo nó cột đó để chờ giết, ổng mới hiểu ra một điều. Lúc đó là thay vì nếu mà như mình á là mình sẽ đau khổ tột cùng, ổng không thèm đau khổ, áy náy, sám hối, ăn năn, day dứt gì hết, ổng phát ra một câu để ổng tự biện hộ cho cái hành động

[18:05]của ổng và để lại cái phương châm đó muôn đời cho người ta lây bao nhiêu cái xấu. Ổng nói một câu thế này: "Thà ta phụ người, không để người phụ ta." Câu cực kỳ ác độc và để lại cái tới muôn đời sau, bao nhiêu người bắt chước cái câu đó mà họ sống tệ với nhau. Thà ta phụ người, ta lừa người trước, ta xách tiền ta chạy trốn trước, hơn để người nghĩa là giựt hụi ta chạy trước ta, ta giựt hụi ta trốn trước hơn là để người giựt hụi ta.

[18:32]Cho nên ngày hôm nay vậy, sửa câu đó lại giùm cho Tào Tháo, để cầu siêu cho Tào Tháo. Ta nói là nếu có ai thắp nhang mà ai thương Tào Tháo á, mình thắp nhang mình nói câu này: "Xin cầu nguyện cho ông Tào Tháo hãy nghĩ lại giùm thế này: Thà người phụ ta chứ ta không phụ người." Và nhờ cái câu này sẽ ổng được siêu sinh về cõi Phật. Mà đây có thể là cái phương châm ta sống ở trong đời của mình. Ta hay nghĩ tốt về người, có thể ta mắc cái bệnh cả tin một chút. Nhưng mà thôi kệ, có thể là ta phải trả giá cho cái việc cả tin của mình bằng một một số trường hợp ta bị lừa đảo. Nhưng mà ta biết Phật sẽ thương yêu ta,

[19:18]chư thiên, chư thánh sẽ thương yêu, sẽ bảo bọc ta. Nếu ta có bị lừa, đó là nghiệp quá khứ ta chấp nhận trả, nhưng mà chư thiên, chư thánh từ đây về sau sẽ bảo vệ ta để ta không bị lừa nữa, miễn là thà như vậy để lòng ta được yêu thương con người. Như vậy.

[19:42]Thì ở đây, nghĩa là khi mà thấy những Tỳ-kheo còn phàm phu không hiểu được cái tâm hạnh của ngài Đại Ca Diếp, cho nên đã buông cái lời nói ra nói vào không hay như vậy, thì Đức Phật vội vàng phải đính chính, phải bênh vực cho đệ tử của mình. Và cái việc mà một bậc thầy phải bênh vực đệ tử của mình thấy thì nhỏ, nhưng cái ý nghĩa rất là lớn. Đức Phật suốt đời quý vị, giáo hóa của ngài có nhiều lần ngài phải bênh vực cho những người tốt khi người đó bị hiểu lầm. Thì nó có hai cái ý nghĩa trong việc này. Ý nghĩa thứ nhất là ngài ngăn cái ý, cái tư tưởng xấu của người kia. Vì nếu mà không ngăn lại, người ta cứ tiếp tục nghĩ xấu người ta sẽ mang tội.

[20:28]Đó là cái ý nghĩa nhân quả thứ nhất. Cái thứ hai nữa là cái trách nhiệm của một bậc thầy phải để cho cái sự công bằng nó được tồn tại là người tốt phải được kính trọng. Đó là sự công bằng. Vì nếu ngài để yên, không nói gì thì cái sự công bằng không tồn tại. Mà ngài biết mà ngài không nói thì thành cái nghiệp liền. Đừng tưởng Phật ngoài nhân quả nha. Ai có cái ý nghĩ rằng tu một cái pháp môn nào cao siêu rồi thoát ngoài nhân quả là người đó sẽ đọa súc sinh liền. Cho nên Phật cẩn thận từng hành vi của ngài, bởi vì ngài biết nhân quả rất là kỹ. Nên có một vài cái người có tà kiến, khi mà khoe khoang nói về một cái pháp môn nào cao siêu,

[21:16]nói rằng người tu pháp môn này được phước vô lượng, đó là một câu nói sai nhân quả. Vì cái phước nó ăn thua theo cái nhân mình gieo. Tu gì tu, cái nhân ít không bao giờ đạt được cái phước vô lượng. Nói chứ anh tụng một câu chú này là anh bằng nghĩa là giáo hóa cho 5.000 người đắc đạo, nói đó là nói dốc. Giáo hóa 5.000 người đắc đạo là công đức vô lượng, làm sao tụng một câu thần chú mà bằng được? Cái nhân quả không công bằng! Nhưng mà những người mà đem cái nhân quả không công bằng đó ra cứ tuyên dương, cứ truyền bá, người đó đọa chết luôn. Nên ta thấy có những người mà tại sao cũng đi giáo hóa

[22:01]Phật pháp, đôi khi cũng làm được nhiều việc kỳ lạ, đặc thù, nhưng tới chừng khi chết, chết thê thảm luôn. Là bởi vì đã thường truyền bá một cái lối, một cái ý nghĩ, một quan điểm, một tư tưởng không công bằng so với nhân quả. Nên cuối đời trả quả báo, và chết rồi đọa ở đâu đó, mình không biết được. Cho nên nhân quả là công bằng. Mà bậc Thánh là phải thấy cái sự công bằng của nhân quả rõ rệt, nên luôn các ngài ứng xử, ngài xử lý công việc đều cho chuẩn xác. Chính các ngài là thể hiện của sự công bằng trong nhân quả. Có một lần thầy giảng cái bài "Triết lý lưỡi gươm" thì phải, thầy có nói là ví dụ trước cái lỗi lầm của một người khác thì ta phải

[22:49]phạt, vì ví dụ ta là người ở trên ta có trách nhiệm ta phải phạt. Nhưng mà nếu ta phạt không tới, không hết cái tội người đó thì cái phần dư ra đó ta lãnh nghiệp. Còn nếu ta phạt quá cái tội của người đó, nghĩa là tội người đó năm mà ta phạt tới bảy, tám thì cái phần dư mà hai, ba đó trở về cho ta bị chịu tội. Cũng vậy, ví dụ cái người làm điều tốt thì ta là người trên ta phải thưởng. Nhưng mà họ làm phước 10 ta thưởng 7, thì còn cái ba đó là ta mắc nợ, cái nợ ta sẽ phải trả. Hoặc họ làm phước 10 mà ta thưởng tới 13, phần dư ba đó ta phải gánh cái nợ đó. Sống trên đời dễ không? Không dễ. Làm sao ta biết họ là tội mức nào, công mức nào để ta thưởng phạt cho chuẩn xác?

[23:41]Cái đó thuộc về một loại trí tuệ siêu phàm. Chứ còn ta theo cảm tính nên ta thưởng ta phạt không chuẩn xác, chính vì vậy mà ta cứ phải đầu thai lên xuống hoài để trả những cái dư nghiệp mà ta đã đối xử trong cuộc đời này. Chỉ đến khi nào ta tu hành cho đến mức độ ta có cái trí vô sư vi diệu, sâu sắc, ta nhìn ở đâu ra vấn đề tới đó, nhìn tới mức độ nào là chuẩn xác mức độ đó, nói tới câu nào là vừa đúng câu đó, thưởng mức nào là đúng mức đó thì ta mới không bị luân hồi này ràng buộc, ta mới thênh thang trong tam giới được. Chứ còn không cứ phải lộn tới lộn lui, đầu thai tới đầu thai lui để trả những

[24:23]cái dư cái thiếu mà mình đã cư xử với con người trong bao nhiêu kiếp. Nó không có dễ. Nên vì vậy, Đức Phật là một bậc siêu phàm, cho nên ngài biết được cái sự công bằng nó chuẩn xác tới mức độ nào, nên ngài làm việc gì hay không làm việc gì cũng bằng cái trí tuệ siêu phàm đó. Nên việc mà một bậc thầy phải đứng ra bảo vệ cho cái người đệ tử của mình để giữ cái sự công bằng lại, cái đó là cái trí tuệ của một bậc thánh siêu phàm, chứ không phải đây là tình cảm riêng tư của thầy trò. Ta phải hiểu như vậy. Nên cái việc mà Đức Phật đứng ra bênh đệ tử, trong đó tới mấy cái ý nghĩa lớn lao như vậy. Chứ còn ta thường thường ta nghe người này nói xấu người kia, ta tỉnh queo. Ta nói:

[25:11]"Không phải việc của mình." Xin thưa, nó qua tai ta rồi thành nghiệp của mình rồi. Ta thấy cái người A nói xấu người B mà ta biết lời nói xấu đó không đúng, nhưng ta không đủ can đảm để nói một lời bênh vực giùm cho cái người B thì xin thưa nghiệp đó rớt vào ta rồi, vào cuộc đời ta rồi. Nếu họ không nói qua tai ta, ta không mang tội. Nhưng mà đã nói lọt vào tai ta rồi mà ta biết điều đó là oan mà ta không làm một điều gì, không nói một điều gì để bảo vệ cho người B thì nghiệp đó đã rớt vào cuộc đời ta và có lúc ta phải trả. Đó là sự công bằng. Còn chuyện về Tôn giả Đại Ca Diếp, Mahākassapa, là một thiên trường ca bất tuyệt.

[25:56]Cuộc đời của ngài đẹp hơn mọi bài thơ, hơn mọi bài ca trên đời này. Vào thời Đức Phật còn tại thế thì cái quyền mà lãnh đạo Tăng chúng á, Đức Phật giao cho hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Bởi vì hai vị này á vừa là đắc đạo cao siêu, vừa có trí tuệ lãnh đạo, có cái uy lãnh đạo, có tâm từ thu phục được mọi người. Nên khi xử lý giải quyết công việc là răm rắp đâu ra đó từ trước từ sau, nên Phật giao cho lãnh đạo liền. Ngay từ bước đầu vào thôi, vừa gặp Phật Đức Phật khen liền, nói: "Đây là một đôi bạn phước duyên hoàn hảo." Tu một tuần sau đắc đạo rồi là đưa ngay lập tức đưa lên lãnh đạo Tăng chúng, mặc dù hai ngài là người đến sau,

[26:41]tu sau nhiều người, nhưng mà Phật đưa lên lãnh đạo liền. Và khi đưa lên lãnh đạo rồi thì ngài Xá Lợi Phất là đã bộc lộ ngay lập tức khả năng lãnh đạo siêu phàm của mình. Bất cứ chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện xa, chuyện gần gì là xử lý răm rắp hết, thay cho Phật hết, gánh vác thay cho Phật được mọi điều nhỏ to, làm cho Phật rất là khỏe để Phật mà lo giáo hóa là chính. Nên cái công lao của ngài Xá Lợi Phất là cực kỳ vĩ đại. Mà ngày nay do kinh điển ghi lại ít quá ta không hiểu hết, chỉ biết khen ngợi ngài là đệ nhất về trí tuệ, chỉ biết ngài là người lãnh đạo Tăng đoàn, chứ không biết rằng trong suốt mấy mươi năm theo Phật,

[27:22]phụ với Phật lãnh đạo Tăng đoàn, ngài đã xử lý những công việc tuyệt vời đến mức độ nào, từ việc nhỏ tới việc lớn. Người nào nên cho xuất gia, người nào không cho xuất gia, người nào an cư ở đâu, không an cư ở đâu, có những bất bình gì, cư sĩ mách chuyện này, cư sĩ cúng chuyện kia ngài phải xử lý hết tất cả mọi việc một cách cực kỳ tinh vi, tế nhị, mà ngày nay kinh điển ghi lại không đủ. Cho nên cái công lao trời bể của ngài Xá Lợi Phất dường như là ít ai cảm nhận nổi. Mà thời đó thì ngài Đại Ca Diếp là một biểu tượng của giới hạnh, sự sống khổ hạnh, đơn giản. Cho nên Tăng chúng rất là kính nể.

[27:57]Nhưng mà ngài khổ hạnh quá, không ai dám tới gần. Tới gần mà ngài cứ bắt chước theo ngài mà ăn đồ ăn mà ngón tay người cùi rớt vô mà cũng lượm bỏ qua một bên rồi ăn tiếp nữa, không ai làm theo nổi. Ở rừng, ở núi, mặc rách rưới không hề sợ. Nên mặc dù rất là kính ngài, nhưng không ai dám đến gần ngài. Tuy nhiên, về những phương diện khác ngài là tuyệt vời. Đầu tiên ta biết cái câu chuyện nổi tiếng là ngài sinh trong gia đình cực kỳ giàu có. Rồi đến tuổi lớn cha mẹ bắt phải phải lập gia đình thì ngài hoàn toàn không muốn lập gia đình, bởi vì phẩm chất trong lòng ngài là một người một vị Thánh, nên ngài ra điều kiện Nếu mà cha mẹ tìm được một cô gái hoàn hảo

[28:41]như thế này, như một bức tượng vàng, pho tượng vàng thế này thì con mới chịu cưới. Ngài mới cho người tạc bức tượng bằng vàng một người nữ nhân rất là đẹp mà ngài nghĩ rằng trên đời không bao giờ có người đẹp như vậy. Thì mấy người gia nhân mới bưng cái bức tượng đó đi hết đầu đường cuối phố, hết qua tỉnh này tỉnh kia. Không ngờ đến lúc gặp cô Bhaddā có khuôn mặt đẹp vậy, đúng là cái nghiệp ha. Chứ là một một cái bức tượng tạc ngẫu nhiên theo ý ngài thì làm sao lại vô tình trùng với gương mặt của một người con gái nào đó được, mà lại vậy mà trùng, vậy mà trùng cái nghiệp rất là lạ. Thì cái người gia nhân mới báo về xin hỏi cưới và nói ngài

[29:17]là cha mẹ đã tìm ra đúng như vậy, ngài cũng ngạc nhiên. Ngài nói là ngài tính chơi khăm thôi, ngài tạc một bức tượng một cô gái mà với những vẻ đẹp hoàn hảo, nghĩ rằng trên đời không ai có được. Thôi cái đành phải làm đám cưới. Nhưng mà không ngờ là cái cô Bhaddā này cũng là một người có căn tu siêu phàm từ kiếp nào, hai người đã hẹn ước nhau là cùng tu. Nên bây giờ là thôi thành vợ chồng, nhưng họ giữ cái hạnh trong sạch nên họ không có con. Hai cha mẹ nói, "Ủa, sao mấy đứa cưới nhau hoài mà nó không có con?" Đâu biết rằng khi mà vào phòng là hai người ngồi tu không à, cứ nói chuyện đạo và tu như là bạn bè thôi, rất là trong sạch.

[29:50]Đến khi mà ba mẹ mất rồi, thế là ngài và vợ ngài chia hết gia tài rồi đi tu, lúc đó là chưa gặp Phật. Hai người đi tu cũng làm Sa-môn đi khất thực, tại vì thời đó hễ mà đi tu làm Sa-môn là phải đi khất thực xin ăn rồi tu gì đó là tu. Thì ngài với vợ ngài hai người cứ lẽo đẽo đi khất thực với nhau vui lắm. Nghĩa là ông đi trước bà đi sau ôm bình bát đi xin ăn rồi đi tìm pháp tu, cũng tự tự mình tu rồi tự dò hỏi pháp này pháp kia, chuyện rất là lạ. Cho đến khi gặp Phật, vừa thấy Phật cái là ngài quỳ xuống lạy, ngài nói, "Đây là Thầy của ta." Bởi vì ngài có cái chất Thánh trong người rồi, trực giác ngài rất là mạnh, vừa nhìn thấy Phật nói,

[30:30]"Đây là Thầy của ta." Quỳ xuống lạy liền xin, tuần sau đắc A-la-hán liền. Rồi vợ ngài cũng đắc A-la-hán, nhưng mà vợ ngài đắc sau. Sau khi đắc A-la-hán rồi, ngài mới sực nhớ lại, "Ủa, nào giờ đi khất thực đi chung lẽo đẽo vậy, trật lất hết trơn." Cái ngài mới nói, "Thôi, từ nay ta với nàng phải sống riêng, nó mới hợp với cái hạnh của một Tỳ-kheo chân chính trong giáo pháp của Thế Tôn." Thì sau khi nói và vợ ngài cũng chấp nhận thì đất rúng động. Trong truyện kể lại là mặt đất rung rinh vì cái cảm động, cái sự trong trong sáng và hy sinh tình cảm thế này. Hai người đã từng là vợ chồng nhiều kiếp,

[31:05]nhưng mà vì cùng tu, cùng phát nguyện, cho nên đến ngày nay khi mà cái lời nguyện nó đến mức độ viên mãn, cùng cực, cùng đắc đạo rồi, phải tách cái duyên ra với nhau, không còn theo nhau trên cuộc đời này nữa. Cái giây phút mà chia tay nhau đó không biết đời nào gặp lại. Cái vô lượng kiếp luân hồi ngày xưa đó bị đánh vỡ, rạn vỡ luôn. Bao nhiêu kiếp làm vợ làm chồng, bao nhiêu kiếp cùng tu, cùng ước nguyện, cùng làm bao nhiêu điều tốt lành, bao nhiêu kiếp theo nhau, bên nhau, đến giờ phút này khi mà đạo quả nó chín muồi thì tất cả những lời hẹn, lời thề ngày xưa vỡ hết, tan hết, tách ra luôn, chia nhau.

[31:41]Và giây phút đó đất rung động lên như một cơn động đất nhẹ, cơn địa chấn nhẹ vì cảm động. Rồi, thôi hết. Từ đó duyên không còn với nhau nữa luôn. Bao nhiêu nghìn kiếp bên nhau thương yêu, hạnh phúc, giờ đã chấm dứt luôn. Thì cái chuyện về ngài đẹp như vậy, đẹp hơn nhiều nhiều bài thơ, nhiều bài ca. Sau khi mà Đức Phật nhập Niết-bàn thì ngài Xá-lợi-phất, ngài Mục-kiền-liên cũng đã tịch trước đó ba tháng, chỉ còn lại cái người mà lỗi lạc nhất là ngài Đại Ca-diếp. Cho nên Tăng chúng tôn ngài lên làm người lãnh đạo. Còn một số vị khác đã đi đi mãi đi mất, đi rất là xa. Thì câu chuyện là như vậy. Bây giờ ta nghe qua cái bài kệ khác:

[32:25]"Không chất chứa tài sản, dùng thực phẩm khôn ngoan, sống thong dong tự tại như chim giữa từng không." Đây là cái phẩm hay nói về cái vụ ăn uống hay cái nọ vậy, cho nên ta sẽ nghe nó giống giống giống nhau. Nhưng mà cái chuyện tích thì nó khác. Vào thời Đức Phật, có một tôn giả tên là Belaṭṭhasīsa. Ngài là người tu cũng đắc một đạo quả nào đó, nên cái mức thiền định rất là sâu và ngài rất là tinh tấn tu hành. Ngài đến với Đức Phật cũng rất là sớm. Ngài do ngài tinh tấn tu nên ngài không muốn mất nhiều cái thời gian trong cái việc ăn uống và đi khất thực. Chính vì vậy, một lần mà ngài đi khất thực ngài mang theo hai bình bát.

[33:07]Thay vì người ta mang một bình bát, xin bát này đầy rồi cái ổng cất cái ổng lấy bát kia ổng bưng đi nữa. Mà lần thứ hai thì ổng chỉ xin cơm thôi, ai bỏ đồ ăn vô ổng không cho, ổng không chịu, nói chỉ xin cơm thôi. Rồi khi về tịnh xá thì ổng ăn hết một bát thứ nhất, có thức ăn. Còn cái bát thứ hai mà chỉ còn cơm không á, ổng mới giấu ổng cất lại, bắt đầu ổng đi ổng ngồi thiền. Ổng nhập định tới mấy ngày ổng mới xuất định ra. Xuất định ra rồi cái ổng mới lấy cái bát cơm không, nó ít bị thiu, ổng ăn. Nhưng mà sự thật nó thiu chưa? Cũng thiu rồi chứ làm sao, nhưng mà nó đỡ hơn là có thức ăn ở trong.

[33:39]Nếu mà có thức ăn ở trong thì nó cực kỳ mau thiu mà nó thành vữa, thành thối, người ta sẽ không dùng được. Thì cái chuyện mà chơi ăn gian mà đi khất thực hai bình bát á mới tới tai Phật. Phật mới thấy việc đó nó không hay. Phật mới ra cái lệnh cấm, "Từ đây cấm các Tỳ-kheo tích trữ thức ăn. Là xin bữa nào ăn bữa đó." Và ngài mới xác định cái điều cấm của mình bằng một bài kệ nhẹ nhàng. Chứ lại không có phải ra cái gì nghe nó gay gắt, lạ vậy, là, "Không chất chứa tài sản, dùng thực phẩm khôn ngoan, sống thong dong tự tại như chim giữa từng không." Cái điều mà ngài cấm ngăn á thì nó như là một cái gì rất khắt khe,

[34:18]nhưng mà ngài lại dùng một bài kệ để làm cho dịu bớt cái sự khắt khe đó lại. Tại vì ngoài cái ngài Belaṭṭhasīsa này, cũng có một số người cũng trước đây cũng đã hay tích lũy, nhưng mà từ khi mà đưa ra cái lệnh này thì không được tích lũy nữa, nhiều người bị hoang mang và cảm thấy như bị mất mát, bị thiệt thòi. Nên Đức Phật đã dùng cái bài kệ này như là một bài thơ thi vị cho mọi người thấy dịu bớt, chứ không thấy đó là một cái gì nó quá gay gắt, căng thẳng. Nên từ đây ta cũng bắt chước Phật cái điều này. Ví dụ, ta la con la cái xong, ta đứng ta ngâm thơ cho nó nghe một bài, hay hát cho nó nghe một bài, chứ đừng có làm tới luôn, đừng làm mặt ngầu nha.

[34:54]Thầy cũng phải bắt chước cái này mới được, mỗi khi mà la đệ tử xong chắc phải đứng ngâm bài thơ. Để ta phân tích cái chuyện này một chút. Nếu mà nói về đạo đức thì Tôn giả Belaṭṭhasīsa không vi phạm. Tại vì ngài đâu phải là người tham lam đâu, ngài cũng chứng một quả vị nào đó rồi. Thay vì mà ngài không nhập định thì mỗi ngày ngài phải đi ăn một bình bát, nhưng mà ở đây ổng ba ngày ổng ăn hay là bốn ngày ổng mới ăn một bình hai bình bát thì tính ra vẫn lỗ chứ đâu có lời. Nên nói về đạo đức thì không vi phạm. Tuy nhiên, ta sẽ để ý điều này: trong cái bài kệ Đức Phật có cái câu này, "Dùng thực phẩm khôn ngoan," chứ không phải là Phật nói là đừng có tham ăn.

[35:43]Đức Phật không hề nói là không được tham ăn, mà Đức Phật lại nói là, "Dùng thực phẩm khôn ngoan." Như vậy Phật có có trách ngài Belaṭṭhasīsa không? Không, không trách. Tuy nhiên, ngài chỉ quở, nói là dùng thực phẩm không khôn ngoan. Là sao? Bát cơm để mấy ngày không hề có cái thức ăn bổ dưỡng, mà lại để ủ mất mấy ngày, chắc chắn là nó đã vữa một phần nào rồi, rồi ráng mà ăn cho hết vì sợ tội, thì thực phẩm nó có khôn không? Hổng khôn. Sẽ sinh bệnh lâu dài. Nên Đức Phật khi mà cấm tích trữ thức ăn vì lúc đó là chưa có cái Frigidaire, chưa có cái freezer, chưa có điện, mà đem thức ăn để ba bốn ngày thì bảo đảm là từ từ các đệ tử ngài sẽ bệnh hết.

[36:28]Mà nghe thì giống như khắt khe, nhưng mà sự thật khi Đức Phật ra cái lệnh là cấm tích trữ thức ăn là một mũi tên bắn hai con chim, tức là một việc mà có hai mục đích, hai cái lợi ích. Cái lợi ích thứ nhất là về phương diện sức khỏe là đừng ăn thức ăn cũ vì để như vậy vi khuẩn nó đã đang sinh sôi nảy nở rồi, ăn vô nếu mà người yếu yếu bệnh chết liền. Đó là cái lợi ích về sức khỏe. Còn cái thứ hai mà không cho tích trữ thức ăn á thì để diệt cái lòng tham. Đó là về phương diện đạo đức. Thì đây là một cái sự thử thách rất là lớn. Nếu nói về phương diện sức khỏe ta dễ chấp nhận, à Đức Phật không cho ăn thức ăn thiu,

[37:08]cũ mà không có món ăn, không có cái thực phẩm phía trên á, nó thiếu dinh dưỡng, thì thôi đây là vì lòng từ bi thì thôi mình vâng lời. Nhưng mà cái mục tiêu thứ hai là cấm tích trữ đồ đạc, tiền bạc, thực phẩm này nọ vì để diệt lòng tham, cái này nó đánh đụng vào bản năng con người liền. Ta sẽ thấy hoang mang, khó chịu liền. Bây giờ ta thử, ta gạo trong nhà ta đem cho hết, tiền trong nhà đem cho hết, sống bữa nào đi làm bữa nào có bữa nào sống bữa đó thôi, dám sống không? Không ai dám hết. Đụng tới liền, ta đụng tới cái bản năng sự sống liền, không ai dám. Trừ mấy người dân tộc trên miền cao, họ sống rất giống các vị Tỳ-kheo,

[37:45]có tiền đem uống rượu cho hết, hết rồi mới đi xin làm thuê tiếp. Cái ý nghĩa thứ nhất mà Phật vì lý do bảo vệ sức khỏe của đệ tử mà không cho ăn thức ăn thừa, nhưng mà Phật lại làm ra vẻ như là cứng rắn, ra lệnh cấm, là tại sao vậy? Thương đệ tử, sợ đệ tử bệnh mà lại làm mặt ngầu ra lệnh cấm, tại sao vậy? Tâm lý gì kỳ vậy? Đây là điểm mà ta phải học Đức Phật. Thương đệ tử mà lại làm ra vẻ như là quở trách, không làm ra vẻ nuông chiều. Nếu mà ví dụ thấy đệ tử mình sợ đệ tử mình bệnh cái lại nói, "Thôi con ơi, đừng ăn vậy bệnh chết à nghe con." Nói vậy cái người đệ tử thì sao? Ỷ lại liền. Thầy nói tình thương là thuốc độc, rất là lạ.

[38:36]Trong khi nào giờ ta nghe nói rằng con người ta sống cần tình thương yêu ha, ta phải thương nhau ta mới sống được, bao nhiêu đạo lý trên đời này đều nói câu đó, hôm nay ta sẽ nghe một điều rất là ngược đời: tình thương yêu cũng chính là thuốc độc. Rất là lạ. Muốn biết tại sao tình thương yêu là thuốc độc, xin mời hẹn lên Vu Lan ở trên núi. Vì không muốn tỏ vẻ thương đệ tử cho nên Đức Phật có vẻ làm mặt ngầu, mà sẵn đó ngài dạy về một cái đạo hạnh là không tích lũy tài sản. Bây giờ ta hỏi thế này: nếu bây giờ có tủ lạnh chứa được đồ ăn, Phật có cho để dành thức ăn không? Trả lời giùm thầy. Chắc không?

[39:23]Đây là cái điều nè, rất là lạ. Đức Phật sinh vào cái đời chưa có kỹ thuật, con người ta sống rất gần với thiên nhiên và Đức Phật sẵn cái đời sống gần thiên nhiên đó, Đức Phật ép đệ tử mình sống hòa hợp hoàn toàn với thiên nhiên luôn. Nhưng bây giờ ở một cái khung cảnh mà khoa học kỹ thuật rất là cao, cái đời sống thiên nhiên nó rời xa khỏi tầm tay con người. Như bây giờ mình ở phố thị, đường mình đặt chân trên đường nhựa, cái sân thì là lát xi măng che hết, cỏ không mọc được, lâu lâu mới lơ thơ có vài cành cây xuống, lâu lâu một vài con chim lạc loài bay qua mái nhà kêu chim chíp buổi sáng là biến mất luôn, không thấy lại.

[40:01]Ta không nghe được tiếng suối reo, tiếng chim hót, tiếng khỉ hú, vân vân. Đời sống thiên nhiên rời khỏi con người và ta sống lệ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật máy móc. Thuyết pháp là phải có micro, có ampli, có loa, ngồi nghe pháp phải có quạt máy, vân vân, ta lệ thuộc rất nhiều. Rồi bây giờ liệu ta tưởng tượng nếu mà một Đức Phật xuất hiện vào thời đại này, Ngài sẽ sống như thế nào, Ngài sẽ dạy đệ tử sống như thế nào? Đây là một cái câu hỏi hóc búa cho các bậc đạo sư thời nay. Ví dụ một bậc đạo sư thời nay dạy đệ tử tu, lúc nào trong đầu cũng bị câu hỏi đó lẩn vẩn lẩn vẩn. Cái đời sống khoa học kỹ thuật nó khác rất xa

[40:45]với cái đời sống thiên nhiên thời Đức Phật. Mà mình học thì học theo cái đời sống thiên nhiên từ thời Đức Phật, mà bây giờ khung cảnh thiên nhiên đó không còn nhiều, ta lệ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật, bây giờ ta phải sống như thế nào, ta phải dạy đệ tử như thế nào? Bất cứ ông thầy nào cũng bị câu hỏi đó ở trong đầu hết. Phải sống như thế nào? Mà sao đừng sai với Đức Phật mà cũng không thể mà khác với thời đại được. Thì hôm nay thầy có trả lời câu đó được không? Thầy cũng không trả lời luôn. Bởi vì đó cũng chính là câu hỏi mà thầy cũng phải dò dẫm, lách qua lách lại để xử lý trong cuộc sống này.

[41:18]Tránh không, bây giờ cũng vậy, thầy cũng vậy. Nên thầy không bao giờ dám vội kết luận một chiều. Bây giờ thầy tuyên bố nói: Không, phải sống với thiên nhiên, thầy sống được không? Không thực tế, không thể đi bộ từ ngoài núi về tới đây để giảng một bài pháp được, đi mấy ngày mới về tới. Và cũng không thể đứng đây gào la lên cho người ta nghe mà không cần micro được, cũng không thể được. Cho nên thầy không dám nói là từ bỏ khoa học kỹ thuật để sống hoàn toàn phù hợp với thiên nhiên. Nhưng mà thầy cũng không thể nói rằng ta phải luôn luôn sử dụng khoa học kỹ thuật. Thì như vậy ta bỏ cái thiên nhiên ta cũng chết liền,

[41:51]bỏ thiên nhiên đời sống ta, tâm hồn ta khô cằn liền và ta cũng sẽ mất cái đời sống tâm linh, đạo hạnh của mình liền. Cho nên khi mà ta đố kỵ với cái thành công, danh tiếng của người khác thì không bao giờ ta thành công gì được hết. Cái người nào mà có trí tuệ, có đạo đức, khi thấy người khác thành công ta hoan hỷ, vui mừng, tán thán, ta sẽ có sự thành công. Đây nó có một cái sự tình rất là lạ là người vợ trên cõi trời không theo chồng mình để sinh xuống cõi người để xuất gia nhưng mà lại dùng thần lực để hỗ trợ. Thì tại sao như vậy? Thì chuyện này dĩ nhiên là ta không biết được vì ta có đâu có gặp bà để mà ta hỏi.

[42:33]Mà thường là như thế này, thường là nếu mà hai người vừa có cái thiện căn tu hành mà lại có cái duyên vợ chồng mà thương yêu nhau thật sự, họ hay có cái lời thề là khi sau này hễ khi gặp Phật pháp sẽ cùng gặp, khi tu sẽ cùng tu, khi đắc đạo sẽ cùng đắc đạo. Lúc mà thương nhau hay phát lời thề, có ai thề vậy không báo thầy biết coi? Có nhiều người hay thề vậy đó. Nhưng mà khi mà mình tu rồi mình mới nhớ lời thề mình tức cười, là cái lời thề đó nó phát sinh ra từ cái lòng ái luyến rất là mạnh nên mình phát ra lời thề như vậy. Nhưng mà hễ phát rồi thì nó thành cái nhân quả, cứ xà nẹo xà nẹo theo nhau từ trên trời xuống biển,

[43:12]lên xuống, lộn qua lộn lại, cứ xà nẹo theo nhau hoài là do cái lời thề. Mặc dù khi mình đắc đạo rồi, mình nhớ lại lời thề, mình nói sao nó hổng giống ai, tu rồi ai chơi thề kỳ cục vậy. Như ngài Ca Diếp vậy đó, tới lúc mà đắc đạo rồi lời thề mới bị phá vỡ rồi mới chia tay nhau luôn, từ đó không bao giờ gặp lại. Chứ còn mà trước đó rồi là sinh đầu này, sinh kiếp kia là lúc nào cũng gặp lại, lúc nào cũng gặp lại, do cái lời thề quá sâu đậm. Thì ở đây, không biết là giữa ngài Anuruddha với cô thiên nữ Jinny này thề thế nào mà nó bị trật khớp, cho nên ông thì sinh xuống theo Phật, còn bà cứ ở trên trời tàn tàn.

[43:49]Nhưng mà cái tình thương không hết nên cứ bí mật đi theo để mà phù hộ cho ngài trong cái bước đường tu tập và trong đời sống. Thì đó là một chuyện nhỏ, mà chuyện lớn là cái này: Tất cả chúng ta ngồi đây

[44:04]thường ta hay có một cái thân quyến nào đó ở trong cái cõi kia. Tùy cái nhân mình đã gieo thì cái người ở bên cõi kia là một người ở mức độ lớn hay nhỏ. Ví dụ nói có người coi bói, coi cái: Nè, cô có cái bà cô nào theo cô độ cô. Cái người đó nói: À, trước đây có một bà cô chết trẻ đó, chắc bả theo độ, bả hợp sao không biết, hợp mạng bả theo bả độ hoài, lâu lâu có chuyện này bả báo chuyện kia. Có không? Có nhiều coi bói cũng có đó chứ không phải không đâu. Thì do cái duyên mình nó nhỏ nhỏ nên có cái bà cô trẻ trẻ mà chết trẻ rồi bả theo bả độ, thôi giờ ráng cúng cho bả ăn, đại khái vậy. Nhưng mà nếu cái duyên của mình lớn, như cái hàng mà họ làm tới lãnh tụ,

[44:45]làm tướng, làm quan, làm thần, làm làm vua vậy đó vân vân thì cái người độ của họ là những người những vị thần minh ở trên cao rất là lớn, uy quyền rất là lớn mới theo độ mấy cái người làm chuyện lớn được. Thì tùy, nghĩa là ta thấy cái phước mình cỡ nào là biết cái người bên kia theo mình cũng ở cái cấp đó. Thường là ta có cái duyên như vậy, có những người họ không theo ta xuống đây. Ví dụ bây giờ như nói như thầy đi, giờ thầy thầy đi tu rồi thấy thầy đi giảng rồi cũng lanh lanh rồi lanh chanh rồi cũng giảng rồi với người ta thì tưởng là: Ồ, ông thầy ổng giỏi quá ha? Có giỏi không?

[45:23]Nãy thầy mới thấy ai lắc đầu á, thầy tính khen cái người lắc đầu, người lắc đầu mới đúng, sự thật thầy không có giỏi. Có những người nào đó, có những bậc thầy nào đó của thầy mà họ không sinh xuống đây nữa, họ đứng ở trên cao, họ vẫn theo dõi. Họ nói: Để coi cái thằng này nó làm sao. Khi chứ thầy đi giảng chỗ này, khi làm Phật sự kia thì luôn luôn có cái sự theo dõi của các vị bí mật điều chỉnh, hướng dẫn giùm thầy. Ví dụ khi thầy ngồi đặt bút thầy soạn bài cũng vậy, đừng có nghĩ là bằng cái trí tuệ của thầy mà thầy viết ra bài giảng, không có đâu, đã có một sự gia hộ thầm thầm ở trong. Chứ nếu mà không có cái sự gia hộ đó, không có ba đầu sáu tay nào mà soạn biết

[46:01]bao nhiêu bài giảng, mỗi bài mỗi khác, mỗi bài mỗi khác, không dễ đâu. Nên không phải là cái đầu của một con người mà đây có sự gia hộ. Mà tại sao thầy lại được gia hộ? Nói: Sao gia hộ thầy, không gia hộ tui? Chỉ có một lý do đơn giản thôi, bởi vì thầy biết kính trọng thầy mình thôi. Ví dụ khi mình có một vị thầy, mình hết lòng kính trọng và mình biết mình chỉ là một hạt bụi dưới chân của ngài. Nhờ thầy nghĩ thầy là hạt bụi dưới chân của ngài cái ngài cưng, ngài độ, vậy thôi chứ không gì. Còn ai mà đòi ngang hàng với thầy thì ông thầy nói: Mày ngang cho mày ngang, làm gì đó thì làm. Chỉ được cái khiêm tốn thôi, vậy mà ta đón nhận được

[46:38]bao nhiêu là sự thương yêu của thần thánh. Còn ai ngang một cái rồi là rồi, là thần thánh cho mày làm gì đó làm, có sức cứ làm. Cho nên vì vậy, ta đi vào con đường đạo đừng bao giờ nghĩ mình hay, nghĩ mình giỏi. Có thể ta có một vị nào đó gia hộ, có thể ta chưa có, nhưng mà chỉ với lòng khiêm tốn thôi, ta tôn kính Phật, ta tôn kính chư Thánh, ta tôn trọng mọi người trong cuộc sống này thì bỗng nhiên ta giống như là mặt đất bị sụp xuống sâu, nước sẽ đổ về. Nghe bài Đất chưa ạ? Đất mà nổi lên cao thì nước đổ đi hết, nhưng mà đất sụp xuống một cái thì nước đổ về đó liền, cũng vậy, ta sụp tâm mình xuống thì bao

[47:19]nhiêu ân huệ của thiêng liêng, của thần thánh đổ về cho ta. Và từ đó, ta có thể soạn bài, ta có thể thuyết pháp, ta có thể làm Phật sự thành công mặc dù mặt ta rất xấu, người ta rất ốm, không sao hết.

[47:42]Cho nên, khi mà hiểu cái điều này á thì không ai dám tự cao. Hôm trước có một lần thầy mới nói với đệ tử của thầy, thầy nói câu này: Cái người tự cao là người không hiểu ra vấn đề, chứ hiểu ra vấn đề không ai dám tự cao. Thầy nói ví dụ như chuyện nhỏ như thế này: Có một người gọi điện thoại tới thầy nói: Thưa thầy, bữa hôm con đem thằng con con tới cho thầy vỗ đầu nó một cái, bữa sau cái nó được đậu đi nước ngoài, người ta cấp visa. Thầy cũng không nhớ thầy gõ đầu nó lúc nào nữa, không nhớ mà thầy nhớ thầy gõ đầu cái thầy sợ sợ nó về nhức đầu cái người ta mắng vốn mình chết, mà không biết sao hên cái nó lại đậu ai duyệt đi.

[48:19]Rồi có đứa nói: Thưa thầy, thầy gõ đầu nó cái kỳ này nó thi đậu đại học. Có đứa nói: Thưa thầy, rờ đầu nó về cái nó hết khóc, nó khóc quá chừng. Nếu mà thầy không biết á, thầy sẽ tự cao, thầy sẽ nói thế nào? Nói bàn tay thầy bộ hay à ta ha? Ngó vậy chứ mà coi, coi xấu xấu vậy mà linh thiệt ta. Nếu mà thầy không biết á thầy sẽ nói kiểu đó, nhưng mà thầy biết thì sẽ không dám nói như vậy. Lỡ người ta kêu thầy rờ đầu mà thầy không rờ thì người ta nói sao: Sao thầy ác quá! Này nọ, buộc lòng thầy phải đưa tay rờ, mà rờ thì hồi hộp gần chết, không biết rờ rồi nhỏ về nó có sao không. Nhưng mà một vài người may mắn có kết quả gì đó họ cứ tưởng là

[48:52]thầy hay, chứ không phải, sự thật là ở trên chư Thiên độ. Chư Thiên thấy người đó có lòng thành với thầy, cho nên khi thầy rờ đầu rồi cái chư Thiên độ cho đứa bé đó được cái này, được cái kia chứ không phải thầy. Đó là những người thầy của thầy ở trên trời theo thầy phù hộ cho thầy và phù hộ luôn cho những người thương thầy, chứ không phải là khả năng của thầy. Biết điều đó rồi thầy không dám tự cao, không dám khoe. Thì tất cả mọi người cũng như vậy. Ví dụ như ta có được cái điều gì thành công, ta có một cái gì giỏi giắn, hãy suy nghĩ một vì lý do gì khác, đừng bao giờ suy nghĩ rằng tại vì ta hay,

[49:27]tại vì ta giỏi mà ta được điều đó, hãy nhớ điều đó giùm thầy. Biết rõ như vậy ta không dám tự cao và cứ sống hiền lành như đất như bụi trước mọi người như vậy mà mình thanh thản, an vui. Nhớ như vậy nha. Có những người họ không biết đạo. Ví dụ như họ là một cán bộ của nhà nước, nhiều khi họ là một công an đi bắt cướp, một nhà kinh doanh, một nhà giáo dục hoặc một tu sĩ hành đạo thì đã biết đạo rồi. Có những người không trong lĩnh vực tôn giáo, đừng tưởng rằng họ không trong lĩnh vực tôn giáo mà không có thần thánh phù hộ nha. Đều có thần thánh phù hộ hết, vì cái cõi này và những cõi kia đều liên quan với nhau hết.

[50:08]Ví dụ một người sinh xuống làm vua là bao nhiêu cái vị bàng hữu ở trên cõi kia họ phù hộ. Cho nên ta hay nói ngày xưa một người làm hoàng đế là có chân long thiên tử gì đó theo phù hộ cho một vị vua đó, chứ không phải khi không mà làm vua được, vì bao nhiêu người phù hộ. Thì cũng vậy, một ông quan tòa thôi, nhiều khi một ông sĩ quan đi đánh trận, một người công an đi bắt cướp, hoặc một nhà kinh doanh gì đó, một cái cơ quan, một nhà giáo dục gì đó cũng đều có những cái thần linh bí mật phù hộ mình, vì không ai sinh xuống đây mà cô đơn hết. Chỉ trừ trường hợp ta ít phước quá, ta gieo cái nhân lành ít quá,

[50:44]cái người mà ta biết ở cái cõi bên kia họ cũng ở cái cõi thấp quá, họ không có lực thì họ phù hộ ta không được nhiều thì một mình ta phải ráng mà bơi. Còn nếu ta đã từng sống một cuộc đời thanh bạch, cao cả, độ lượng, tốt đẹp thì ắt hẳn rằng ở cái cõi bên kia cái người mà biết ta, quen ta, thương ta cũng ở một vị trí rất là lớn. Họ có thể phù hộ ta để ta làm được nhiều việc lớn ở trong cuộc đời này. Nên cứ nhìn vào cái tâm ta mà ta sẽ biết cái người mà bí mật phù hộ ta là ai như vậy. Giờ ta nghe một bài kệ khác: "Ai nhiếp phục các căn, như đánh xe thuần thục, trừ kiêu mạn lậu hoặc, người ấy chư thiên yêu."

[51:30]Này về tôn giả Ca Chiên Diên, Kaccāyana. Ngài ở Avanti, cái vùng hơi xa Phật, nhưng mà hằng ngày hay về Trúc Lâm thăm Phật và nghe Phật thuyết pháp trong những dịp lễ hội. Là lúc đó là ở thành Vương Xá, vua Bình Sa Vương hay tổ chức những lễ hội theo cái truyền thống của dân dân tộc, mà mỗi khi đông người vậy thì lại mời Phật đến thuyết pháp. Và những lúc mà Đức Phật thuyết pháp ở những lễ hội như vậy thì tôn giả Ca Chiên Diên cũng hay về thăm Phật vì ngài thương Phật. Mặc dù là ngài đắc đạo ở xa, nhưng mà cứ lâu về thăm thầy mình, giáo hóa ở xa rồi về thăm thầy, và mỗi khi Phật thuyết pháp thì ngài cũng nghe.

[52:15]Mà không biết ngài có cái duyên gì với Trời Đế Thích á, Trời Đế Thích tức là ông vua ở cõi Trời á, mỗi khi ngài mà vào trong cái chúng hội như vậy là ổng hiện ra liền. Ổng hiện ra ổng thăm hỏi, đảnh lễ ngài rồi ổng biến mất. Cứ nhiều lần như vậy, không biết cái duyên gì cái phước của ngài rất là đặc biệt. Thì có nhiều cái vị tỳ kheo thắc mắc là: Ủa, tại sao mà ngài Ca Chiên Diên về tới Trúc Lâm lại thấy Trời Đế Thích ổng hiện ra hào quang sáng rực, có tùy tùng đầy hết, đến chào hỏi, thăm hỏi ngài, có khi đảnh lễ ngài rồi cùng với chư thiên biến mất, để lại cái mùi hương, cái tiếng nhạc, hoa rơi rắc rắc chút đỉnh rồi biến mất luôn?

[52:49]Cứ nhiều lần như vậy thì người ta cũng rất là kính nể ngài Ca Chiên Diên. Một người mà được vua Trời Đế Thích hiện ra để mà đảnh lễ, thăm hỏi như vậy thì người ta biết đó là một bậc uy đức rất là lớn. Nhưng mà họ thắc mắc là tại sao? Uy đức chỗ nào? Uy đức chỗ nào, công đức chỗ nào mà được Trời Đế Thích trọng vọng như vậy? Thì Đức Phật ngài không nói dài dòng, ngài chỉ trả lời bằng cái bài kệ bốn câu mà ta nghe rồi, là: "Ai nhiếp phục các căn, như đánh xe thuần thục, trừ kiêu mạn lậu hoặc, người ấy chư thiên yêu." Là Đức Phật trả lời rằng là chỉ bởi vì là ngài Ca Chiên Diên trừ hết cái kiêu mạn,

[53:30]lậu hoặc, nhiếp phục được các căn nên chư thiên yêu. Sự thật lý do nó sẽ nằm ở một chỗ khác nữa, nhưng mà Phật cứ nói một nguyên tắc tổng quát thôi, là khi tâm mình sáng, trong, không còn vô minh lậu hoặc thì luôn luôn thần thánh phải quý như vậy.

[53:49]Ngài Ca Chiên Diên là một trong mười đại đệ tử của Đức Phật. Ta nhớ ngài là được cái gì đệ nhất? Ai nhớ? Nghị luận đệ nhất, đúng như vậy. Còn ai là thuyết pháp đệ nhất? Phú Lâu Na. Nhiều người giỏi giáo lý ghê nha. Phú Lâu Na là thuyết pháp đệ nhất, ngài Ca Chiên Diên là nghị luận đệ nhất. Vậy giữa thuyết pháp và nghị luận khác nhau chỗ nào? Nghị luận là có hỏi có đáp, còn thuyết pháp là cứ một mình mà nói hoài.

[54:22]Mỗi người có một cái sở trường riêng. Thuyết pháp có cái khó riêng và nghị luận có cái khó riêng. Cái khó của thuyết pháp là thế này: tức là mình là người nói thì những điều mình mà sắp nói ra mọi người nghe họ không có chuẩn bị trước, họ chỉ thụ động mà nghe, thì phải nói làm sao cho hay. Những vấn đề rất lạ, rất mới, rất hấp dẫn, rất sâu sắc và dễ hiểu. Tại một mình mình trình bày nên đòi hỏi là mình phải đạt được những tiêu chuẩn đó. Mình phải chủ động chuẩn bị bài để mà nói một hơi, mọi người cứ thụ động lắng nghe, nếu mà người ta thích được thì tức là mình thành công. Còn nghị luận có cái khó là có hỏi có đáp thì người ta sẽ

[55:04]hỏi những điều bất ngờ mình không hề được chuẩn bị. Trong cái câu hỏi đáp bất ngờ đó mà mình vẫn giải đáp thông suốt, nhìn vấn đề thấu đáo, làm cho người ta thỏa mãn, thấu hiểu rõ ràng, tăng trưởng được đạo tâm, đạo lý trong lòng thì là mình thành công. Thì ngài Phú Lâu Na, ngài có cái đặc biệt là nói một mình, không cần biết dưới kia người ta đến đây với tâm trạng gì, cứ một mình ngài nói một hơi và người ta nghe người ta rất là thích. Còn ngài Ca Chiên Diên thì: "Sao, các vị có cần gì hỏi không?" Rồi thì người ta bắt đầu người ta hỏi. Tùy theo câu hỏi, mỗi người mỗi vẻ, mỗi góc, hỏi đủ thứ chuyện trên đời như vậy mà ngài tùy nghi cái cái căn

[55:43]tính đó ngài trả lời, và cũng đều làm cho người ta rất là hài lòng, thấu đáo. Nên hai vị đều có hai cái đặc điểm. Thực ra thì nhiều vị khác cũng đều có những tính chất đó, nhưng riêng ngài Phú Lâu Na quá xuất sắc, ngài thuyết một mình, nói một mình một buổi như vậy nói quá hay. Như ngài Ca Chiên Diên vậy, cứ cho hỏi đáp nhưng mà những câu hỏi đáp ngài quá khéo cho nên nổi bật vượt lên trên thành ra là đệ nhất. Chứ còn các vị A-la-hán khác thì ai cũng giỏi thuyết pháp, ai cũng giỏi nghị luận, nhưng mà vượt trội thì thì hai vị này. Cái gốc của ngài Ca Chiên Diên là thế này: là hồi xưa ở cái vùng Đông Nam của Ấn Độ

[56:21]có một cái vương quốc, một cái tiểu quốc nhỏ nhỏ nên có một ông vua. Cha ngài Ca Chiên Diên á là phụ trách về vấn đề nghi lễ, tế tự cho ông vua đó, thì sau khi ngài lớn lên, cha ngài mất thì ngài cũng kế thừa cái công việc làm về việc nghi lễ tế tự như một Bà-la-môn. Rồi sau đó cái tin đồn về Đức Phật là một vị đại A-la-hán, một bậc Thế Tôn, một vị chuyển pháp luân tuyệt vời lan đồn tới do những người thương buôn họ đi về cái vùng Ma Kiệt Đà, họ đi lên tới cái vùng Cô Sa La, họ mua hàng, họ trở về giao lưu thì họ mang theo cái tin đồn về Đức Phật. Mang về cái lần lần họ đồn, họ thưa tới tai vua.

[57:02]Cái ông vua Chanda Pajjota đó ổng mới cử bảy người, ở trong đó có ngài Ca Chiên Diên đi, tại vì ngài phụ trách về nghi lễ, tế tự nó liên quan tới tôn giáo, cho nên là vua cử ngài ngài đi để đến gặp Đức Phật xem như thế nào. Thì ngài cùng với bảy người đến gặp Phật, chỉ trong một lần gặp Phật thuyết pháp nghe ngài đắc quả luôn. Cái căn cơ ngài cũng rất là đặc biệt. Sau khi ngài đắc quả rồi, ngài muốn ở lại để tu nhưng Đức Phật bảo hãy quay về độ cho vua, nên ngài mới từ giã Đức Phật, ngài về thuyết pháp độ vua và làm cho vua và vương quốc đó cũng theo Phật pháp. Nên cái công đức của ngài cũng rất là lớn.

[57:41]Và vì vậy nên ngài không có ở gần Đức Phật, ngài cũng ở cái vùng xa xa. Nhưng mà ngài thương Phật nên cứ đi về thăm Phật hoài, cái tình thầy trò rất là đẹp. Thì ở đây thế này, mặc dù ngài là một người thông suốt giáo pháp, nghị luận giỏi giang, nhưng mà ngài vẫn khiêm tốn về ngồi nghe trong chúng hội, nghe Phật thuyết pháp như là mọi người. Mà cái nhân là dù mình đã giỏi mà ai thuyết pháp mình vẫn chịu ngồi lắng nghe thì được cái phước gì? Được cái nhân thế này: sau này khi mình nói, mọi người thích đến lắng nghe. Nên có những giảng sư giảng rất hay mà vào trong hội giảng không đông người. Nhiều khi thầy gặp trường hợp đó thầy cũng thắc mắc á, thầy nói:

[58:22]"Ủa, ông này ổng giảng hay ghê á, tại sao lại chúng hội không đông?" Sau này thầy mới tìm ra nguyên nhân là thầy biết rằng cái người này không có làm cái hạnh như ngài Ca Chiên Diên. Tức là thấy ai thuyết pháp cái nói: "Ôi, tôi cũng là giảng sư mà, nghe làm chi," rồi bỏ đi chỗ khác không nghe. Nên thầy nói trong một buổi giảng cái vai trò người nghe lớn lắm. Ví dụ bây giờ hỏi nha, là: "Sao hôm nay thầy giảng hay vậy?" Thầy sẽ trả lời: "Bởi vì người nghe quá tuyệt vời." Câu trả lời là như vậy đó.

[58:56]Thầy nói câu này có phải thầy nịnh không? Xin thưa hoàn toàn không phải nịnh mà đó là chính xác, đó là chân lý đó. Thầy nói nếu bây giờ thầy bước vào phòng giảng này chỉ có leo teo vài hàng ghế người ngồi, thầy bảo đảm bài đó thầy sẽ giảng cực kỳ dở liền. Chính vì có người nghe đông và chăm chú, buộc thầy phải ráng giảng và thầy có cái cái hứng thú để giảng. Cho nên một bài giảng hay rồi sau đó được lan truyền ra rất nhiều người thích thì ta cứ tưởng đó là công đức của thầy, đâu ai biết rằng đó là công đức của từng người đang ngồi nghe trong hội trường như thế này. Cho nên khi một bài giảng thành công, được phổ biến,

[59:34]nhiều khi được chép vào băng, vào đĩa rồi phổ biến, thì thầy cảm ơn ai biết không? Trước hết là thầy cảm ơn Phật đã gia hộ cho thầy, cảm ơn những chư thiên, chư thánh bí mật trên trời đã gia hộ cho thầy từ lúc thầy soạn bài cho tới lúc thầy đi giảng, tới lúc thầy ngồi trên bục giảng. Thầy cảm ơn những bậc thầy của thầy đã dạy thầy từng những buổi đầu khi thầy mới vào đạo. Thầy cảm ơn những huynh đệ của thầy đã nhắc một câu, góp một ý mà trong suốt cuộc đời tu hành thầy đã nhận cái câu, cái ý đó thành cái hành trang của riêng mình. Thầy cảm ơn sách vở của những vị tôn túc đã viết ra mà thầy đã có dịp đọc,

[1:00:09]tham khảo, nhờ những giáo lý đó mà cũng thành cái hành trang đạo lý của mình. Thầy cảm ơn biết bao nhiêu Phật tử đã cho thầy ăn từng miếng cơm, miếng nước mà bây giờ thầy mới ngồi đây, mặc dù ốm ốm, gầy gầy thiệt nhưng mà có sức để nói. Rồi thầy cảm ơn những đệ tử của thầy đã thâu băng, làm ra phim mà phổ biến ra cho mọi người nghe. Và lớn lao hơn, thầy cảm ơn bao nhiêu người đã chịu khó ngồi nghe thầy từng câu, từng chữ, mặc dù buồn ngủ chết mồ luôn cũng phải ráng ngồi nghe.

[1:00:43]Nếu không có những người Phật tử mà ngồi chăm chú lắng nghe đó, không bao giờ có những bài giảng tung ra được hết. Cho nên công đức này thầy hồi hướng hết từ trên xuống dưới như vậy. Đó là lý do tại sao mà thầy giảng hoài người ta nói thầy làm giảng sư phải có phước. Thật ra còn chút phước nào đâu mà hưởng. Tài xế thì lái xe thầy đi, đệ tử nấu cơm thầy ăn, Phật tử thì ngồi nghe thầy, cúng thầy. Bao nhiêu thầy tổ với ân nghĩa. Sau khi thầy giảng xong một bài bước xuống rồi, phước hết sạch không còn gì hết trơn. Mà đó là giảng hay nha, giảng dở là lỗ luôn, mắc nợ cực kỳ luôn.

[1:01:21]Cho nên quý Phật tử á, nhiều người nhiều khi tới cái ngày mà thầy giảng rồi cái chịu khó đi nghe, cứ tưởng là à mình đi nghe cho mình vui, đâu biết rằng đã góp cái công đức rất lớn cho cái bài giảng này, tạo sự thành công cho bài giảng này. Nhớ như vậy. Mà chẳng những là công đức đó là tạo thành cái bài giảng trong hiện tại, mà công đức đó cho những đời sau. Một ngày nào đó, khi mà quý Phật tử mà ta ngồi lên trên bục giảng làm giảng sư thì bỗng nhiên ta có sức chiêu cảm, nhiều người sẽ ưa thích ta, cùng lắng nghe. Cái phước đó rất là lớn chứ không có đơn giản. Cho nên vì vậy, lần sau đi nghe nữa nha!

[1:02:02]Ta thấy á, ví dụ như là khi mà mình có mặt như vậy á là mình hỗ trợ tinh thần cho người giảng là cái thứ nhất. Thứ hai là mình củng cố tinh thần cho những người khác, những người thính chúng khác. Mình ngồi đó mọi người khác thấy mình ngồi họ cũng yên tâm họ ngồi. Mình ngủ cái họ ngủ luôn à. Mình bước ra cái họ bước ra theo à. Cho nên mình ngồi mình giả bộ vỗ tay, giả bộ cười cái nọ là củng cố được tinh thần bao nhiêu người cùng vững tâm mà nghe, cái đó là cái phước thứ hai. Thứ ba là tự nhiên giúp bài giảng hấp dẫn hơn. Nhờ có nhiều người chăm chú lắng nghe, buộc ông giảng sư bỗng nhiên ổng giảng hay hơn.

[1:02:33]Thứ ba là cái phước làm bài giảng hay hơn. Vì vậy, bởi ba cái công đức này, khi một bài giảng hay là công đức của cả người nói, người nghe và vô số những người chung quanh mà hỗ trợ được như vậy chứ không phải là dễ. Biết được nhiều rồi có ai dám tự cao nữa không? Người tự cao là người không hiểu vấn đề thôi, chứ hiểu rõ vấn đề rồi, trên đời không ai dám tự cao, mà chỉ thấy mình mắc nợ mà thôi. Có những người hồi lúc mà mới đến gặp thầy thì nhớ cái người này khù khờ, nói một câu một chữ không ra. 10 năm sau cái thầy nghe nói là: "Trời, ông đó ổng nói pháp hay quá chừng, nói đâu người ta nghe, người ta tin tới đó." Thầy nói ủa sao kỳ vậy ta?

[1:03:10]Ủa hay thầy nhìn lộn? Cuối cùng chỉ vì có cái nhân thôi: là trong suốt 10 năm qua, cứ đem băng đĩa truyền bá cho người khác. Cái phước là nối cái người nói cho đến với những người nghe nơi này nơi kia, bỗng nhiên họ bật ra cái phước, trở thành một người ăn nói lưu loát, nghị luận vững vàng. Và đó là cái nhân để sau này trở thành pháp sư ở những đời sau rồi. Bây giờ có thể chưa kịp làm pháp sư, nhưng mà điều kiện đã hiện ra rồi. Có thể đời này hoặc đời sau khi xuất gia rồi là bảo đảm trở thành giảng sư luôn. Đó, chúng ta thấy có những cái nhân quả mà trong nghe, trong giảng như vậy. Thì ngược lại cũng vậy, người nào mà

[1:03:48]chống phá Phật pháp thì tự nhiên ngôn ngữ của mình từ từ mất dần mất dần, có khi câm luôn không nói được. Đấy, đó là nhân quả như vậy. Nay nhân cái chuyện mà nói về ngài Ca Chiên Diên, thì ta nói đến cái công đức của người nói pháp và người nghe pháp, trong đó quan trọng nhất cái người nghe pháp. Cho nên vì vậy, khi ta chưa thể là một người nói pháp tuyệt vời, ta hãy là một người nghe tuyệt vời. Thầy xin chúc cho tất cả đại chúng ha, được nhiều cái trí tuệ, đạo hạnh, công đức lành để sống và tu giữa cuộc đời này, đem cái niềm vui cho mọi người.

[1:04:55]Đời là giấc mơ,

[1:05:03]mọi chuyện thoáng qua.

[1:05:11]Lòng nào đắm mê,

[1:05:18]phiền muộn trói giăng.

[1:05:26]Tìm về chân lý,

[1:05:34]đạo mầu từ bi.

[1:05:47]Trăng soi bên hiên và vầng mây bay êm đềm, trong đêm mênh mông ngồi lặng yên theo hư không, dâng lên con tim niềm đậm sâu kính thương Người, lan xa bao la tình yêu thương khắp cho đời.

[1:06:27]Thế gian phố phường, vui ca phía bên đường.

[1:06:43]Lặng lẽ

[1:06:47]ra vô

[1:06:51]bao hơi

[1:06:54]thở ấm.

[1:06:58]Ngồi đó

[1:07:02]quên dần nghìn mối duyên trần,

[1:07:14]chỉ có

[1:07:18]nơi đây

[1:07:22]thân như

[1:07:25]bụi mờ.

[1:07:37]Con người ngồi thiền sẽ thương nhau,

[1:07:45]quên được hận thù, hết thương đau.

[1:07:53]Xin tìm về thiền như mái ấm,

[1:08:00]thanh bình cội nguồn cõi tâm linh,

[1:08:08]như là

[1:08:12]tia nắng đẹp

[1:08:16]soi vào

[1:08:19]đêm sẽ tan.

[1:09:30]Đời là giấc mơ,

[1:09:38]mọi chuyện thoáng qua.

[1:09:45]Lòng nào đắm mê,

[1:09:53]phiền muộn trói giăng.

[1:10:01]Tìm về chân lý,

[1:10:08]đạo mầu từ bi.

[1:10:22]Trăng soi bên hiên và vầng mây bay êm đềm, trong đêm mênh mông ngồi lặng yên theo hư không, dâng lên con tim niềm đậm...

[1:10:41]Gởi riêng thương người, tràn ra bao la, tình yêu thương khắp cho đời.

[1:10:54]Thể xác kia vô thường,

[1:11:10]bụi cát kia bên đường,

[1:11:18]lặng lẽ

[1:11:22]ra vào

[1:11:25]bao hơi thở.

[1:11:33]Ngồi đó

[1:11:37]quên dần nghìn mối duyên trần.

[1:11:49]Chỉ có

[1:11:53]nơi đây

[1:11:56]thân như

[1:12:00]bụi mờ.

[1:12:12]Con người ngồi thiền sẽ thương nhau,

[1:12:20]quên được hận thù, hết thương đau.

[1:12:27]Xin tìm về thiền như mái ấm,

[1:12:35]thanh bình cội nguồn cõi tâm linh, như là

[1:12:47]tia nắng đẹp soi vào đêm sẽ tan.

[1:13:41]Con hay thường xuyên nằm mơ thấy rắn, có lần rắn cắn vào tay con, rắn lớn nhỏ đủ loại, thậm chí đi trên đường con cũng hay thấy rắn. Hôm rồi còn có có con rắn độc vô nhà con, mỗi lần như vậy con rất sợ. Có phải nghiệp ái dục quá nặng không? Nếu đúng như vậy con phải làm thế nào? Thường nằm mơ thấy rắn là ta bị nghiệp ái dục rất là nặng. Cho nên phải sám hối dữ lắm. Phải chịu khó lạy Phật sám hối, phải tập Khí công Nguyên Pháp, phải tư duy về cái cái ái dục cho kỹ để mà vượt qua, nha. Vừa tập luyện, vừa lạy Phật, vừa tư duy cho kỹ. Chứ đây là cả một cái quá trình lớn á, vượt qua ái dục là cả một bài toán lớn.

[1:14:20]Mỗi buổi sáng con tụng kinh tại nhà, con tụng lớn không bị nhức đầu. Tại sao mỗi buổi chiều con vào chùa tụng kinh con tụng lớn bị nhức đầu? Con chỉ tụng thầm mà thôi. Nguyên nhân thế này: cái luật trong chùa là không được tụng lớn át tiếng chúng. Đó là cái luật của trong chùa, tại vì không xuất gia nên không biết. Chứ người xuất gia là được học cái luật đó hết. Nghĩa là tiếng của đại chúng cỡ bao nhiêu mình phải hòa theo thôi, còn mình lớn lên nó vượt trội lên là mang tội liền, bị cấm liền. Nên người này không biết phạm vào cái luật. Khi mình đi xuất gia mình biết nhiều cái luật hay lắm, cho nên ai muốn biết nhiều cái luật trong đạo hay thì cứ xuất gia đi, nha.

[1:15:02]Con có đặt cọc tiền đất bảy được 7 triệu đồng cách đây được 4 năm, mà con đòi lại, chủ đất không trả. Kiếp sau con nguyện về Tây phương Cực Lạc thì số tiền của con ra sao đây? Bó tay luôn! Về Tây phương trên đó vàng không hổng chịu, mà còn nhớ 7 triệu làm sao mà về được, khổ ghê á.

[1:15:27]Xin cho con hỏi thuyền Bát Nhã là gì? Tại sao thuyền Bát Nhã lại không có đáy? Ta nghe tới cái chữ thuyền là ta hình dung một cái phương tiện để đưa con người đi vượt sông, vượt biển. Và ta ví cuộc đời này như là biển khổ trầm luân, cho nên ta phải đi trên cái thuyền để mà đừng bị sóng gió vùi dập. Thì cái công năng của cái đạo lý Bát Nhã có công năng đưa ta vượt lên trên cái dòng sông sinh tử đó, cái bể khổ trầm luân đó để ta đến được bến bờ giác ngộ. Cho nên nó chỉ là một cái hình tượng cho ta dễ hình dung thôi, chứ Bát Nhã nó không phải là một cái thuyền, mà chỉ là một đạo lý thôi, chứ không phải là cái thuyền.

[1:16:06]Mà cái đạo lý của Bát Nhã thì cái bộ kinh Bát Nhã là bộ kinh dài nhất trong đạo Phật, lớn nhất trong đạo Phật. Bộ kinh đó mênh mông, đọc hoài không hết. Tuy nhiên, gút lại trong một cái này là một vị Bồ Tát hành Bát Nhã, nghĩa là một vị Bồ Tát làm vô số điều lợi ích cho chúng sinh mà không thấy mình có làm điều gì cả. Rút lại trong một câu đó thôi là ta hiểu hết Bát Nhã. Nhưng phải làm, không làm là sai Bát Nhã. Phải làm vô số điều lợi ích chúng sinh, mà quan trọng là không thấy mình làm điều gì cả. Rút lại nhiêu đó thôi là hiểu được Bát Nhã. Kiếp này con bị người ta nói xấu rất nhiều, con lại bị bệnh hôi miệng khiến mọi người khó chịu xa lánh.

[1:16:46]Xin thầy chỉ dạy cho con biết đó là quả báo nghiệp gì? Đúng á, đúng là đời xưa mình hay nói xấu. Cho nên bây giờ phải ráng vừa vừa chữa cái bệnh hôi miệng cho nó phù hợp, đồng thời là phải lễ Phật, nói những điều tốt đẹp thôi, nói những điều kinh điển. Nhất là mấy người mà chửi thề á, đời sau thế nào cũng bị hôi miệng và bị người ta ghét. Ở đây có ai chửi thề không? Đừng nha, chớ nha, phải trị dứt cái bệnh đó. Con có thằng con trai 24 tuổi, ngoan hiền, hiếu thảo, hiện là sinh viên du lịch. Thời gian sau này cháu thú nhận không thích con gái và nói không lấy vợ. Gia đình rất buồn vì không có con nối dõi.

[1:17:26]Thưa thầy, tại sao xã hội bây giờ giới trẻ bị nhiều quá? Làm sao chuyển nghiệp này? Có ba loại về giới tính các nhà khoa học nghiên cứu. Một loại là biệt giới tính á, tức là họ chỉ quan hệ được với người khác giới. Rồi một loại thứ hai là bắt đầu lại bệnh là người đồng giới tính, đồng giới tính, ta gọi là bê đê hay gay, les đó, là đồng giới tính. Và loại thứ ba là loại không có giới tính, tức là những người này họ vẫn khỏe mạnh bình thường, họ không bao giờ thích tới chuyện tình dục, họ giống như người tu á. Hỏi họ tại sao, họ nói tại họ thấy nó không thích, mặc dù cơ thể họ vẫn khỏe mạnh bình thường.

[1:18:04]Khoa học hiện nay mới khám phá thêm cái cái giới thứ ba này, tức là người không thích tình dục, mặc dù là họ rất bình thường. Thì họ chia làm ba như vậy. Thì ở đây á, cái giới thứ hai mà mà thích cái người đồng giới nó là một loại bệnh ở trong não, một loại bệnh trong não mà đang chưa có cách chữa trị hẳn. Đạo Phật ta thì biết nguyên nhân tại sao. Nguyên nhân tại sao thầy có giảng trong một bài Pháp Cú rồi, trong những bài đầu có giảng tại sao nên không lặp lại. Còn nếu mà rơi vào đúng trường hợp thứ ba là không thích tình dục thì đó là người lý tưởng để đi tu, nên khuyên con mình đi tu, không cần con nối dõi, nha.

[1:18:38]Biết đẻ ra đứa nào mà nối dõi. Ừ, đúng rồi. Cái này thầy đã nói rất nhiều lần. Người thân con mang bệnh ung thư đau nhức rồi qua đời, con nghĩ chết là hết đau đớn, nhưng con nằm mơ thấy người thân về nói là ở đấy cũng mang bệnh đau đớn, con phải làm sao? Cái này thầy đã nói rồi. Thầy nói rằng lúc chết bệnh gì, qua cõi chết tiếp tục mang bệnh đó không hết, vì nghiệp nó vẫn còn qua tới cõi chết. Ta đừng tưởng chết là hết nha. Như cái người mà đau khổ vì chuyện nợ nần, chuyện oan ức, chuyện tình cảm rồi tự tử chết, tưởng chết là hết, không, qua đó đau khổ tiếp tục và đau hơn. Cho nên cái chết không phải là hết, quan trọng là hết nghiệp mới hết khổ.

[1:19:21]Thì bây giờ nói cái người thân ta bị đau đớn ở bên luôn cõi bên kia thì ta phải làm sao? Thì ta phải phóng sinh rất nhiều để hồi hướng cho người đó. Hoặc là ta đắp một đoạn đường, ta hồi hướng là xin cái hồi hướng này cho cái người thân con tên đó họ đó hết đau đớn, hết bệnh trong cõi kia. Hoặc là mình phóng sinh bao nhiêu mấy trăm ký cá như vậy, hồi hướng cho người thân mình hết bệnh, hết đau. Hoặc là mình ấn tống bao nhiêu kinh, Pháp, băng, đĩa đó rồi hồi hướng cho người thân mình. Thì như vậy là là mới có thể hết được. Nếu còn nằm mơ thấy còn báo đau là phải làm nữa, chừng nào mà người đó hiện về báo là hết rồi thôi thì mới ngừng.

[1:19:57]"Có phải ăn chay giải được nghiệp không?" Cái câu này thầy nói thế này: hôm qua có người hỏi thầy là ăn chay cũng là lấy cái sự lấy cái mạng sống của của của sinh vật của của thực vật. Như vậy là ăn chay cũng sát sinh. Thầy nói: "Đúng. Khi ta sống trên đời này, để giữ gìn sự sống của ta ta đều vay mượn sự sống của loài nào khác. Có khi loài đó là rau cỏ là thực vật, có khi loài đó là động vật là gà, là vịt. Thì như vậy ta vay mượn của thực vật ta cũng mắc nợ mà nợ đó ít, còn ta vay mượn sinh mạng cái đời sống cuộc sống của động vật thì có nợ và nợ đó nhiều. Thì như vậy người ăn chay trên căn bản là nợ ít,

[1:20:37]cho nên ta chỉ cần làm phước sơ sơ thôi là ta vẫn dư phước để hưởng. Còn cái người ăn mặn cái nợ họ nhiều nên họ làm phước rất nhiều cũng chưa chắc đủ để trả lại, nên không biết có dư phước để hưởng hay không, vậy thôi, chứ không phải ăn chay giải nghiệp đâu." Nha. "Tại sao trong gia đình có người tin Phật có người không tin lại còn phỉ báng?" Thì cái này do nhân duyên đời xưa, làm sao thầy có thể trả lời được. Do nhân duyên đời xưa thế nào đó nha. Thôi mình cứ kiên nhẫn mình tu để độ cho người ta nha. "Con có một số tiền, con mang gửi ngân hàng. Đến tháng lấy lời, mang tiền đó đi làm phước. Như vậy con có tội gì không?" Không không có tội. Tại vì nó thế này nà:

[1:21:17]Trên nguyên tắc ví dụ như một cái người mà họ làm ăn, họ có đầu óc làm ăn, có tài làm ăn mà họ không có vốn thì có cái người góp vốn để cho họ làm ăn. Thì hai người đó đều được hưởng lời. Có người hưởng lời là do cái vốn mình đã góp vào, có người hưởng lời bởi vì công lao mình đã đóng vào. Cả hai đều được đều xứng đáng để được hưởng lời hết, không có lội tội gì hết. Nhưng cái tội là chỗ này nà, cái tội là chỗ này. Cái tội là ví dụ như cái tiền lời nó sinh ra, mà trong đó bên nào lấy nhiều quá cái phần của mình bắt đầu mang tội. Ví dụ như cái người họ kinh doanh họ làm rất cực, nhưng mình lấy cái lãi quá nhiều thì mình ác, tội là từ đó á.

[1:21:57]Còn nếu người ta làm mà mình lấy cái lãi mà người ta bên cái người kinh doanh họ vẫn thoải mái họ thấy: Lời vậy là vừa, họ cũng sống được, mình lấy phần lời mình cũng sống được, họ trong tâm họ thấy thoải mái là mình không có tội. Còn họ thấy là họ vất vả mà để mình hưởng lời, mình bắt đầu mang tội. Thì ngân hàng họ lấy cái phần lãi là vừa chừng nào đó, vừa chừng nào đó thì theo cái tỷ lệ chung của nhà nước thì không đến nỗi mang tội, không đến nỗi. Chỉ có những người mà cho vay nặng lãi bên ngoài đó thường là ác và mang tội, chết luôn á. "Cho con hỏi một kiếp có phải là một đời người không?" Ta hay lẫn

[1:22:28]chữ này, chứ trong kinh Phật một đời nó khác một kiếp khác. Một kiếp là một lần mà trái đất à bị tận thế là một kiếp. Còn một đời người là một lần ta sinh ra ta chết đi, mà sự thật là còn kéo thê dài thêm thời gian ta sống trong cái thế giới bên kia nữa.

[1:22:47]"Mỗi lúc con đến chùa con lễ Phật là bị ói và thở không được. Không biết là nhân gì?" Cái này là nhân đời xưa có một người thân nào của mình lúc đi chùa về mình đánh đập người ta. Mình bóp cổ người ta. Vào cái đời mình chưa biết đạo, đến khi mình biết đạo mình hối hận. Rồi đến đời này mình biết đạo mình phải trả cái nghiệp đó trong bao lâu đó, có thể là bao nhiêu năm rồi mới hết cái nghiệp đó nha. "Con đang tụng kinh ở nhà, có một người vào đập vào vai con, tự nhiên con không đọc được, cuối cùng con phải lấy xách ra đọc. Mỗi buổi sáng tụng kinh trong lòng con lại lo sợ người ta lại vào phá con." Cái người vào đập là người nào?

[1:23:30]Người sống hay người âm? Hỏi không rõ thầy không biết trả lời. Bữa giờ gặp lại thầy sau nha.

[1:23:40]"Nhà con rất nhiều muỗi, con thường hay vợt nó vì nó đốt con." Vậy con có mang tội không? Chùa thầy rất nhiều vợt muỗi. Để thầy bảo vệ đệ tử thầy. Thấy vợt muỗi, phải chấp nhận có là cái tội sát sinh. Nhưng mình bảo vệ được những người sống, trên đời này vậy đó, tội chỗ này phước chỗ kia thôi. Chứ mình muốn hoàn toàn không tội tức là mình à mình sẽ không tạo cái phước chỗ khác được, như vậy thôi. Cho nên trên chùa thầy là bảo đảm không ruồi không muỗi để cho đệ tử và Phật tử tới đây được sạch sẽ. Thành thử thầy phải gánh nghiệp, thầy phải chủ trương điều đó. Phải diệt ruồi diệt muỗi cho những người khác tu được bình an.

[1:24:15]Chứ ngồi thiền muỗi nó chích quá, ăn cơm mà ruồi nó bay tràn lan, ngồi thiền mà ruồi nó cứ bò bò ở mặt thì làm sao ngồi thiền? Cho nên Phải, nó vậy.

[1:24:30]"Mỗi ngày con lạy Phật, thay nước, tụng kinh và gõ ba tiếng chuông. Con không biết ba tiếng chuông là đúng hay sai?" Còn muốn sám hối. Có cái nghi thức này hỏi quý thầy, quý cô đi nha chứ thầy làm sao thầy nói dài dòng ở đây được. Còn tại sao mà mỗi lần mà mà mình thắp nhang Phật mình hay gõ ba tiếng chuông? Cái cái nguồn gốc xa xưa thế này: Nguồn gốc là trong một thời tụng kinh á có hai vị, một vị là giữ mõ, một vị giữ chuông. Cái người mà giữ mõ đó là là họ giữ nhịp để cho mọi người tụng cho đúng thôi, chứ cái mõ chỉ là giữ nhịp thôi. Còn người giữ chuông á là để báo hiệu sắp tới một cái đoạn

[1:25:03]kinh gì đó, sắp tới đoạn nghỉ hoặc đoạn chuyển bài vân vân, để báo hiệu thôi chứ không có gì hết trơn á. Nhưng mà sau này rồi cái tiếng chuông, tiếng mõ bỗng nhiên nó trở thành cái pháp khí thiêng liêng. Nghe tiếng chuông, tiếng mõ rồi bây giờ người ta cúng Phật người ta gõ ba tiếng giống như là bày tỏ lòng kính trọng với Phật. Thì nếu ta đã hiểu như vậy thì cứ làm như vậy, không sao hết. Là thay vì mình nói lời kính Phật, mình cũng gõ thêm ba tiếng là thay cho lời muốn nói. Nó vậy, không sao hết.

[1:25:36]"Con đã nhập môn đạo Cao Đài được 9 năm nay rồi. Gần đây con nghe xem đĩa thầy, rồi con muốn được quy y không? Vì con sợ khi nhập môn đạo Cao Đài con phải có một cái câu thề là nếu một dạ hai lòng sẽ bị thiên tru địa lục." Nhà thầy đạo Cao Đài. Ba thầy Cao Đài, mẹ thầy Cao Đài, đẻ ra thầy cũng Cao Đài, đạo hữu ngồi đây cũng Cao Đài.

[1:26:02]Sự thật á là hồi mới ban đầu khi thầy biết đạo Phật về thầy nói lại gia đình, ba mẹ thầy cũng sợ cái câu thề đó, nhưng mà thầy giải thích. Thầy nói rằng: "Các vị thần thánh lúc nào cũng mong cho đệ tử mình bước lên cao hơn, cao hơn." Ví dụ như người cha học lớp năm thì dạy con là làm toán, đánh vần, nhưng mà muốn cho con mình học hết trung học và học tới tiến sĩ luôn, hơn mình luôn. Thì cũng vậy, những vị thần thánh trong đạo Cao Đài cũng vậy, những vị tốt thì muốn cho đệ tử mình lên cao nữa, cao nữa và cao hơn mình càng tốt, chẳng sao hết nha, nên đừng sợ. Chỉ có cái mà thay vì mình đi học, mình cha học lớp năm dạy cho con

[1:26:35]nó không thèm học đi ra ngoài nó đi ăn cướp thì đúng là nó thiên tru địa lục thiệt, cái thằng đó phải trời tru đất diệt nó là đúng. Còn nó học lên tiến sĩ thì mừng quá chứ. "Ba con đã mất hơn 1 năm. Một hôm con nằm mộng thấy ba con, ba con bảo: Con làm cách nào để giúp ba, ba đang bị giam giữ. Khi tỉnh dậy con lo lắng quá, con không hiểu về việc ấy." Tức là trước đây cái cái vị này có tạo một cái nghiệp gì đó cho nên khi chết là bị phạt giam. Giam thì ta cứ gọi là địa ngục á, ngục là cái giam dưới. Mà địa ngục có nhiều tầng lớp, không phải là địa ngục nào xuống cũng bị cưa, bị đốt, bị bị chặt ra, không phải.

[1:27:14]Người nào ác lắm mới xuống bị cưa, bị chặt, bị đốt. Còn khi ta vi phạm một mức độ chừng mực nào đó thì bị giam thôi, giam giữ thôi chứ không bị đánh đập. Thì ở đây mình không biết là vị đó đã bị đúng cái nghiệp gì thì mới giải được, giải đúng nghiệp đó thì gỡ ra liền. Nhưng mà tuy nhiên ta không biết thì thôi ta cứ tụng chung chung. Tụng chung, thứ nhất là ta tụng cái bộ Lương Hoàng Sám để sám hối gì đó, hoặc là bài sám hối ngắn hơn là bài sám hối của chùa mình là bài tụng Cầu siêu cho chúng sinh dưới địa ngục, đây là bài ngắn hơn. Và đồng thời đó mình phải làm rất nhiều việc phước hồi hướng cho ba mình.

[1:27:47]Như vậy thì thì mình cứ làm mò mò như vậy, biết đâu đúng cái thì ông được được thả ra và được hưởng phước thêm nha. Chứ còn nếu mình biết chính xác á thì mình trúng huyệt một cái hết liền, hay làm đúng cái việc phước giải cái hết liền. Nhưng vì mình không biết cho nên mình phải cứ làm chung chung như vậy, tụng cái bài cầu nguyện chúng sinh dưới địa ngục và làm vô số việc lành như nãy thầy nói vậy ha. "Mỗi khi con chê người khác là con bị quả báo liền, mà người khác chê con cũng vậy mà họ lại không bị quả báo liền, tại sao kỳ khôi như vậy?" Thì có người nói tại sao có người hên, chê người ta không bị còn con chê con bị liền thì thầy xin báo tin mừng:

[1:28:25]Cái người nào mà làm tội mà bị quả báo liền, tức là người nghiệp rất nhẹ để cho cảnh báo cho mình biết đây là cái tội, nhờ vậy mình không làm nữa. Còn cái người làm tội mà không bị quả báo nên mình không biết, cứ bươn tới làm tới, đến khi mà trả, trả rất là thê thảm. Như vậy nha.