Transcript: Kinh Nikaya 26 - Kinh Tiểu Không

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:22:23

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Được nhiều vị mà theo Bắc tông Đại thừa đánh giá là đây là nền tảng để xuất hiện hệ thống tư tưởng Bát Nhã sau này.

[0:25]Nói theo sự thật lịch sử á thì chúng ta phải hiểu một điều thế này: là hồi Đức Phật còn tại thế, Ngài chỉ thuyết số kinh Nikaya này, toàn bộ số kinh là Trường Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng, Tăng chi, Tiểu bộ, chứ không có thuyết nữa. Tức là cũng nói đi nói lại một số vấn đề như vậy. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, lần lần khoảng qua khoảng 100 năm sau thì những điều người ta hiểu về những lời dạy của Phật bắt đầu có cái khác đi. Mỗi người hiểu theo một ý. Và lúc đó cái tư tưởng bị phân hóa, nên mới có cái kỳ kết tập lần thứ hai sau Phật 100 năm. Rồi sau Phật một 200 năm, đời vua A Dục thì kết tập một lần nữa.

[1:20]Nhưng từ đó trở đi bắt đầu tư tưởng phân hóa mạnh. Cũng cái lời dạy của Đức Phật như vậy, nhưng mỗi người hiểu mỗi cách, mới chia thành 20 bộ phái để giải thích lời dạy của Phật. Khi mà phân hóa như vậy thì chúng ta nhớ có chia ra làm hai bộ phái chính là gì? Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Rồi trong mỗi bộ như vậy là chia chín bộ, 11 bộ nữa thành tất cả là 20 bộ phái. Và 20 bộ phái này giải thích lời dạy của Phật theo ý của mình, theo ý của mình, khác nhau từ từ từ từ hết. Cho đến khi ngài những bậc luận sư về Đại thừa ra đời như ngài Mã Minh, ngài Long Thọ thì hoàn toàn giải thích lời dạy của Phật

[2:04]theo một cách độc đáo, đặc biệt, mới hẳn lên, làm cho đạo Phật phát triển vượt bậc. Mà tại sao phải có sự cần thiết như vậy? Bởi vì thế này: thời Đức Phật tại thế, do cái uy đức, cái trí tuệ vời vợi của Đức Phật, cho nên ngoại đạo bị lép vế. Những cái tư tưởng cũ của Ấn Độ giáo bị bị lép hết. Lúc ánh sáng của đạo Phật trùm chiếu trùm chiếu bởi sự thực tu thực chứng của các vị Tỳ kheo thời đó. Ở ngoại đạo á thì người ta có thể nói nhiều, có thể thực hành được một số nào đó, tuy nhiên mà để thành tựu viên mãn vượt bậc thì chỉ có Đức Phật và các vị Tỳ kheo, đệ tử Phật mới có thể thực hiện được. Cho nên trước cái giáo lý của Phật như vậy,

[2:51]sâu sắc như vậy, và trước cái thành tựu thực tế của Phật và chư đệ tử như vậy, cho nên đạo Phật dường như là chiếm lĩnh hết cái ảnh hưởng cái cái vùng mà Đông Bắc Ấn Độ thời đó. Từ cái vùng Nepal mà trở đi vào Trung Ấn Độ là đạo Phật chiếm lĩnh cái ảnh hưởng gần hết. Ngoại đạo một thời gian bị lép vế. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn được vài trăm năm thì ngoại đạo họ mới củng cố lý luận của họ lại. Lúc đó các vị tu chứng trong đạo Phật đã đã bớt dần bớt dần rồi. Cái số người mà tu chứng như thời Đức Phật đã yếu dần, bớt dần. Đạo Phật họ mới củng cố lý luận của họ lại để giành lại ảnh hưởng. Trong cái củng cố cái lý luận của họ

[3:36]thì họ có mượn của đạo Phật một số, chứ không phải không. Thì họ xuất phát từ kinh điển Vệ Đà, kinh Brahmana, kinh Áo Nghĩa Thư, sau đó họ mượn thêm một số tư tưởng đạo Phật để họ hoàn chỉnh lý luận của họ lại, cộng với họ thực hành cũng dữ dội lắm, chứ không phải không. Những lý thuyết về yoga sau này, họ mới chia ra làm sáu loại yoga, họ thực hành nghĩa là cũng khủng khiếp luôn, không phải dễ. Lúc đó cái kết quả của họ nó có thực, nó có thực, là những vị tu yoga của Ấn Độ giáo họ tu trong thâm sơn cùng cốc, rồi có những vị tu khổ hạnh, có những vị mà họ đứng trồng cây chuối bất động cả ngày, mình thấy nếu không có sức định không làm điều đó được.

[4:19]Họ có thể ngồi thiền ngoài nắng chang chang cả ngày, ai đi ngang ngó lại cũng thấy, rồi họ chứng tỏ. Thì mục đích của họ giải thoát hay không thì họ không người đời không đánh giá được, chỉ nhìn trên cái sức định của họ để mà họ thực hiện được những cái khổ hạnh đó, nó thu hút được quần chúng. Lúc đó ảnh hưởng của ngoại đạo nó lớn lên từ từ, lớn lên từ từ. Một số Bà La Môn ngày xưa họ quy y theo đạo Phật. Họ quy y theo đạo Phật nên họ rành họ rành tiếng Phạn, tiếng Sanskrit đó, đồng thời họ cũng rành những cái kinh điển của Bà La Môn như là Vệ Đà, Brahmana, Phạm thư, Áo Nghĩa Thư. Họ kết hợp với lý luận của đạo Phật,

[5:01]và những người này họ hiểu lời Phật dạy theo một cách khác. Từ đó xuất hiện lý luận của Đại thừa. Như hôm trước chúng ta đã nói với nhau, sư Huệ Quang đâu rồi? Kỳ trước không thâm nhập, kỳ này trốn mất rồi, là như thế này: ví dụ như là Phật dạy vô ngã, vô ngã, vậy thôi.

[5:27]Phật dạy vô ngã, thì cái người mà không có chứng ngộ đó, chỉ trên lý luận á, thì hiểu vô ngã là hết cái ngã, rồi thôi không có gì nữa. Đó là người không có chứng ngộ. Nhưng những người có chứng ngộ đó thì họ thấy rằng chính cái vô ngã đó là Phật tánh, là tâm đại bi trùm phủ. Từ đó họ mới giải thích về cái vô ngã mà Phật nói là nó không đơn giản như những người khác hiểu. Chính họ giải thích cái vĩ đại của cái vô ngã đó thành ra cái gì? Thành ra đại bi, thành ra trí tuệ. Thì lúc đó là lý luận của Đại thừa ra đời. Còn những người mà hiểu cái vô ngã tức là không còn gì nữa là hiểu theo Tiểu thừa.

[6:10]Cho nên lời dạy nguyên thủy của Phật là gốc, mà sau khi Phật nhập Niết bàn 200 năm thì phân thành hai lối hiểu: một lối hiểu của Đại thừa và một lối hiểu của Tiểu thừa. Thì đến ngày nay, theo như giáo sư Kimura Taiken, người Nhật á, ổng viết trong ba cuốn nè: Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, và Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, thì ổng kết luận rằng cái lối hiểu của Đại thừa thích hợp, đúng với lời dạy nguyên thủy của Đức Phật. Nên chúng ta cũng may mắn là chúng ta sinh trong đất nước có bối cảnh tư tưởng Đại thừa, nên mình hiểu sâu sắc lời của Phật dạy. Tuy nhiên nó có cái hại.

[6:54]Cái hại thế này: là chúng ta thấy những cái vị mà bên Theravada đó, họ trung thành với kinh điển nguyên thủy này, chúng ta kết luận họ là Tiểu thừa là sai. Kinh điển nguyên thủy không phải Tiểu thừa, chúng ta nhớ điều đó. Tiểu thừa là do cách hiểu thôi. Cho nên cũng một vị Theravada đó, cũng học cái kinh nguyên thủy này, nhưng nếu vị đó hiểu cạn thì mình gọi là vị đó là hiểu theo tư tưởng Tiểu thừa. Chứ đừng nói mấy sư Theravada là Tiểu thừa, nhớ như vậy. Mình gọi mấy sư nguyên thủy là đúng, nhưng mà ăn thua cái hiểu của họ. Ví dụ như Đại đức Narada đó, Đại đức mà viết những cuốn Đức Phật Và Phật Pháp á, thì Đại đức hiểu rất chính xác.

[7:37]Nên Đại đức Narada tuy là sống trong cái môi trường nguyên thủy, nhưng mà Đại đức ăn chay trường và có sức chứng ngộ rất cao, viết cuốn Đức Phật Và Phật Pháp rất uyên áo, nên người đó không phải là Tiểu thừa. Mặc dầu là tu theo kinh điển nguyên thủy, nhưng không phải Tiểu thừa. Nhưng mà mấy sư nguyên thủy thì ngược lại, ngược lại thì đánh giá rằng các nhà theo Bắc tông Đại thừa là ngoại đạo Bà La Môn. Tại sao vậy? Họ nói cũng có lý do, không phải là họ không có căn cứ đâu. Họ nói bởi vì cái kinh điển Đại thừa do các nhà Bà La Môn đi vào đạo Phật rồi mới trước tác ra. Tất cả những kinh như bộ Đại Bát Nhã nè,

[8:13]Pháp Hoa, Niết Bàn, Đại Niết Bàn, Viên Giác, Kim Cang, vân vân, đều là xuất hiện sau Phật 200 năm tới 600 năm trở đi. Còn những kinh điển Mật tông thì xuất hiện sau Phật tới 800 năm, 1.000 năm mới có, cho nên kinh điển Mật tông rất gần với ngoại đạo. Vịn vào lý do đó mà những nhà nguyên thủy á công kích thẳng tay Đại thừa là ngoại đạo, là Bà La Môn, là vì lẫn vào quá nhiều kinh Mật tông. Mà kinh Mật tông là lẫn cái lối bùa chú của Ấn Độ và Tây Tạng lọt vào trong đạo Phật. Cho nên tại sao cứ mỗi bài kinh chúng ta tụng cứ lẫn một số chú. Ngay cả kinh Lăng Nghiêm á là một bộ kinh thiên về lý luận,

[8:50]lý luận để chứng tỏ cái chân tâm như thế nào, rồi cũng lọt năm đệ Lăng Nghiêm ở trỏng, năm đệ chú ở trong. Ngay cả kinh Bát Nhã là cái tư tưởng tánh Không rồi cũng lọt mấy câu chú cuối cùng luôn. Cho nên bên nguyên thủy họ công kích thẳng tay Đại thừa là ngoại đạo. Ông sư nguyên thủy đến gặp người Phật tử, hỏi: "Mấy sư tu vậy còn mấy ông sư, ông thầy ở chùa là tu theo đạo gì?". Nói: "Mấy ông đó Bà La Môn", nói thẳng thẳng tay. Còn mình thì nói: "Ôi mấy ông sư đó Tiểu thừa", thành ra đạo Phật bị chia rẽ. Nên ngày hôm nay chúng ta học lại kinh nguyên thủy, chúng ta học với cái hiểu chính xác để không còn

[9:23]chia rẽ Phật giáo ra làm hai ba mối nữa. Chúng ta hiểu kinh điển nguyên thủy là gốc, mà lý luận của Đại thừa là sự phát triển. Do đó chúng ta nhìn mấy sư nguyên thủy với cặp mắt bao dung và mình hiểu được cái giới mức của mình để mình không đi quá xa. Có lợi. Hôm nay chúng ta học bài kinh Tiểu Không là nhiều vị Đại thừa nghiên cứu á cho rằng kinh Tiểu Không này là nền tảng của tư tưởng Bát Nhã sau này. Đó, là nền tảng của tư tưởng Bát Nhã. Bây giờ mình đọc:

[9:57]Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Đông Viên, lâu đài của Lộc Mẫu. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi chiều, từ Thiền Tịnh Độc Cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ, ngồi xuống một bên, Tôn giả bạch: Một thời, bạch Thế Tôn, Thế Tôn trú giữa các vị Thích Ca. Nagaraka là tên một thị trấn của các vị Thích Ca. Tại đấy, bạch Thế Tôn, con được nghe trước mặt Thế Tôn, con được ghi nhớ như sau: "Này Ananda, ta nhờ an trú Không, nên nay an trú rất nhiều". Phải chăng, bạch Thế Tôn, điều con đã nghe là nghe đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng? Phật mới bảo: Thật vậy, này Ananda, điều ngươi đã nghe là nghe

[10:40]đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng. Thuở xưa và nay, này Ananda, nhờ an trú Không, nên nay ta an trú rất nhiều.

[10:53]Ví như lâu đài Lộc Mẫu này không có voi, bò, ngựa cái, không có vàng và bạc, không có đàn bà, đàn ông tụ hội, và chỉ có một cái không phải không, một cái không phải không, tức là một cái có đó, tức là sự nhất trí, nhất trí này mình phải hiểu, đừng có hiểu như kiểu nhất trí bây giờ đồng ý nhất trí nha, nhất trí này là một điều trong tâm mình thôi, một điều mình thấy được trong tâm mình, một vấn đề mình phải thấy, biết, tác ý thôi, do duyên chúng Tỳ-kheo. Cũng vậy, này Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo không tác ý thôn tưởng, thôn tưởng, bản dịch của Hòa thượng hơi nặng nề mình phải giải thích lại một chút, vị Tỳ-kheo không tác ý về thôn tưởng,

[11:31]tức là những tư tưởng về xóm làng, không tác ý nhân tưởng, tức là những cái ý nghĩ về con người, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên lâm tưởng, tức là chỉ có thấy, có nghĩ về cái khu rừng chung quanh mình, trước mặt mình. Cái chữ "tưởng" trong bài này nó hơi rộng nghĩa. Chữ "tưởng" đây nó không phải là vọng tưởng, mà nó là tâm tưởng hay là tâm trí. Chữ "tưởng" đây nó hơi rộng nghĩa, chúng ta để ý ghi nha. Chữ "tưởng" trong đây nó không có nghĩa là vọng tưởng, mà có nghĩa là tâm tưởng hay là tâm trí.

[12:08]Nên vị ấy nghĩa là được thích thú, hân hoan, an trú, giải thoát trong lâm tưởng. Lạ ghê chưa! Giải thoát trong lâm tưởng là cái trước mắt mình đó, giải thoát trong cái trước mắt mình. Vị ấy biết như sau: Các ưu phiền do duyên thôn tưởng không có mặt ở đây, các ưu phiền do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây, và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng, là trong tâm trí chỉ có cái rừng trước mặt thôi. Vị ấy biết loại tâm trí này, tức là loại tưởng này, không có thôn tưởng, vị ấy biết loại tưởng này không có nhân tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên lâm tưởng.

[12:49]Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại ở đây, vị ấy biết: Cái kia có, cái này có. Như vậy, này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh Không tánh. Không tánh, Không tánh mà bây giờ mình hay gọi là tính Không đó, cái tính Không của vạn hữu, vạn pháp đó. Nên cái chữ chính xuất phát từ cái chữ Không tánh này, mà nó có cái chữ Không tánh trong lý luận Bát-nhã của Đại thừa, như trong Trung Quán Luận của ngài Long Thọ cũng vậy, từ cái chữ Không tánh này. Nhưng ở đây chúng ta thấy thế này, là

[13:31]cái giải thoát trong lâm tưởng nghĩa là vầy:

[13:38]Cái hiện hữu trong tâm mình đó là cái trước mắt mà thôi, chứ cái tư tưởng của mình, cái tâm mình không nghĩ xa hơn những cái gì mà không có đang hiện hữu. Ví dụ chúng ta ở đây cũng vậy, chúng ta ngồi trong hội chúng này là chỉ biết có hội chúng này, chứ không còn biết ra khỏi bức tường này, không còn ra biết ra khỏi cái cổng chùa này. Đó, đó gọi lại gọi là sự giải thoát trong cái lâm tưởng, tức là cái sự vật hiện hữu trước mắt. Chúng ta ghi lại cái tư tưởng của bài kinh này nha. Như vậy đây là sự tỉnh giác, sự ý thức trong cái sự vật hiện hữu trước mắt.

[14:18]Đó là cái đoạn thứ nhất có nghĩa như vậy. Sự ý thức, sự tỉnh giác, sự ý thức đối với những sự vật hiện hữu trước mắt. Tức là một cách, cũng là một cách để mà nhiếp phục vọng tưởng của mình đó. Với thêm nữa một cái chữ chúng ta nhớ là: Sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh Không tánh, đối với cái sự vật hiện hữu trước mắt đó thì nó là hoàn toàn thanh tịnh Không tánh.

[14:47]Đó, chữ Không tánh nghĩa là gì thì mình sẽ giải sau khi đọc hết bài kinh này. Đó đoạn thứ nhất. Bây giờ đoạn thứ hai: Đoạn thứ hai là cái lời văn nó giống như vậy, mình không có thì giờ đọc hết. Nghĩa là không tác ý lâm tưởng, mà chỉ duyên vào sự nhất trí do địa tưởng. Địa tưởng là đất, chỉ có ý thức cái về đất mà thôi.

[15:13]Mà không có tác ý đối với tất cả những sự vật trên cõi đất này, đất khô và vũng lầy, sông và vũng lầy không có, chỉ có đất trước mặt mình thôi. Như vậy, đây là tiến thêm một bước nữa. Tiến thêm một bước nữa nghĩa là đối với sự vật hiện hữu trước mắt đó, nhưng mà rút lại đơn giản, đơn giản với cái mình tiếp xúc ngay dưới chân mình. Cái mình chạm gần nhất là cái đất dưới chân mình, chứ không còn tác ý vào cái xa mà phải dùng tai, dùng mắt mới thấy. Ví dụ cả khu rừng này mình nhìn thấy bằng mắt, bằng tai nó xa, cái tâm mình nó cũng không có nhiếp được. Bây giờ chú tâm lại giữ lại nơi cái đất, nơi cái chân mà nó đang chạm, nơi mông mình đang ngồi.

[15:54]Đó là thu lần lần lần lần cái đối tượng trước mắt mình mà mình ý thức một cách gần gũi nhất, thực tế nhất để thu vọng tưởng lại.

[16:05]Vị ấy biết loại tưởng này không có thôn tưởng, không có nhân tưởng, không có lâm tưởng, chỉ có địa tưởng, hoàn toàn thanh tịnh Không tánh. Đó là cái thứ hai ha. Tới cái thứ ba, hôm nay giải bài kinh về Định. Lại nữa, này Ananda, vị Tỳ-kheo không tác ý lâm tưởng, không tác ý địa tưởng, tác ý sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, giải thoát trong Không vô biên xứ. Vị ấy biết như sau: Các ưu phiền do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây, địa tưởng không có mặt ở đây, chỉ có một ưu phiền này là sự nhất trí do duyên Hư không vô biên xứ tưởng.

[16:50]Như vậy cái thứ hai, cái thứ ba là sau khi thu cái tâm mình lại, cái tâm cái sự chú ý của tâm nó loại bỏ những cái xa, chỉ còn ý thức cái gần trước mắt, rồi bỏ luôn còn lại cái địa sát bên mình, cuối cùng bỏ luôn để an trú Hư không vô biên xứ định. Đây là mức định thứ nhất. Cái đoạn kế tiếp là: Vị Tỳ-kheo không tác ý địa tưởng, không tác ý Hư không vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ. Cái định thứ hai là Thức vô biên xứ.

[17:26]Cũng cái đoạn giống như vậy, cái đoạn định thứ ba là: Vị Tỳ-kheo không tác ý Không vô biên xứ, không tác ý Thức vô biên xứ, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ. Đây là định thứ ba.

[17:43]Những cái đoạn lặp lại thì giống nhau. Nhớ nha, khi mình học kinh sau khi mình giảng muốn làm bài mình phải đọc cái kinh văn lại nha, đọc nguyên văn lại. Vừa nghe băng giảng lại mà vừa đọc cái băng kinh lại cho kỹ, để mình đọc từng chữ kỹ hơn. Rồi cái định thứ tư nè: Lại nữa, này Ananda, vị Tỳ-kheo không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng.

[18:11]Để rời khỏi Phi phi tưởng coi cái gì đây. Lại nữa, này Ananda, vị Tỳ-kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tác ý sự nhất trí do duyên Vô tướng tâm định. Lạ ghê! Cái bài kinh này lại khác, những bài kinh khác mà cái định cao hơn Phi tưởng á là Diệt tận định, thì bài kinh này lại dùng chữ Vô tướng tâm định, có lẽ nó cũng tương đương. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, giải thoát trong Vô tướng tâm định, vị ấy biết như sau: Các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây, các ưu phiền do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ không có mặt ở đây, và chỉ có một ưu phiền này,

[18:52]tức là sáu nhập duyên mạng duyên với thân này, chỉ còn lại sáu lục nhập đó, làm thành cái mạng căn duyên với thân này. Vị ấy biết loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng duyên với thân này. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại ở đây, vị ấy biết cái kia có, cái này có. Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh Không tánh.

[19:31]Rồi thêm cái đoạn này nữa, cái đoạn sau: Vị ấy biết như sau: Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên, nó vẫn còn trong tâm chứ chưa thoát khỏi hết tâm. Phàm cái gì thuộc hữu vi do tâm tư tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt. Vị ấy biết như vậy, do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết rằng đã được giải thoát. Vị ấy biết sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lại trạng thái này nữa. Vị ấy biết các ưu phiền do duyên dục lậu không có mặt ở đây,

[20:12]các ưu phiền do duyên hữu lậu, vô minh lậu không có mặt ở đây, chỉ còn lại cái sáu nhập duyên mạng, tức là thân này. Vị ấy biết loại tưởng này không có dục lậu, không có hữu lậu, không có vô minh lậu, và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem là không có.

[20:30]Không điên đảo sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh không tánh. Này Ananda, phàm có những vị sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ sau khi chứng đạt đã an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh. Phật lập thêm một cái phạm trù cao hơn cái phạm trù không tánh ban đầu là cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh. Tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt đều chỉ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh này. Này Ananda, phàm có những vị sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sau khi chứng đạt sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh,

[21:08]đều an trú như vậy. Do vậy, này Ananda, sau khi chứng đạt ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh, các ngươi cần phải học tập. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Đó là cái nội dung bài kinh. Bây giờ chúng ta giải thích lại.

[21:34]Cái chú ý của bài kinh này, cái đại ý là an trú không. Nhưng trong cái không này thì Phật là nơi cái tâm không á, nhưng mà muốn cho tâm mình được không thì đi từ cái phức tạp lần lần trở về cái đơn giản. Thường thì tâm chúng ta duyên theo rất nhiều ngoại cảnh. Có cái đang hiện hữu trước mắt mình, ví dụ như là cái khu rừng, chùa của mình, hội chúng của mình, nhưng có cái không hiện hữu trước mắt, ví dụ như là những chuyện xa xôi, chuyện bà con, chuyện gia đình, chuyện làng xóm, hay là chuyện lịch sử, chuyện phim ảnh, chuyện đá banh, chuyện chính trị, chuyện kinh tế.

[22:19]Đó, đó là ví dụ như mình ngồi đây thì cái phức tạp nhất của mình là những cái mà không có mặt, không hiện hữu trước mắt á, những cái xa. Đó là cái phức tạp, nên Phật kêu mình bỏ hết những cái tư tưởng xa vời đó, phức tạp ngoài đó, chỉ còn an trú, tỉnh giác với những cái đang hiện hữu trước mắt mình. Thì vọng tưởng không có, chỉ an trú trước mắt, đó là cái thứ nhất để an trú không. Rồi đó đó là bỏ cái mà không hiện hữu để thức tỉnh với cái đang hiện hữu. Phương pháp thứ nhất của đoạn thứ nhất thứ hai, bỏ cái không hiện hữu để thức tỉnh với cái đang hiện hữu. Ý thứ nhất ta ghi vào cho kỹ. Bỏ cái không hiện hữu để thức tỉnh với cái đang hiện hữu.

[23:07]Đó là đoạn thứ nhất.

[23:16]Đoạn thứ hai là trong cái đang hiện hữu, bỏ cái rườm rà để còn lại cái đơn giản.

[23:25]Trong cái đang hiện hữu thì tâm mình bỏ cái rườm rà để còn lại cái đơn giản, mà như là chỉ còn cái chạm, người mình chạm đất biết đất thôi, chứ không còn duyên theo cái ngoại cảnh như là cái khu rừng hay là cái cái hội chúng nữa. Đó là cái tâm nhiếp lại, nhiếp lại hơn nữa. Thật ra cũng người phải có sức định mới là gom như vậy chứ không phải dễ.

[23:53]Bây giờ mình nói sơ về cái không tánh.

[23:58]Trước khi mà tôi giải thích, tôi muốn mọi người trình bày cái ý kiến về cái không tánh này trước.

[24:06]Không tánh là gì?

[24:10]Sư Minh Hiển. Sư Minh Hiển đâu rồi? Sư hiểu cái không tánh là sao?

[24:26]Hiểu không tánh là sao? Cô Liên Trí.

[24:39]Tâm không là gì? Không tánh.

[24:52]Sư Minh Hải đi, sư Minh Hải. Như vậy là cái không tánh sư giải thích là thuộc về tâm.

[25:13]Cái đó là tâm không á. Cái không tánh là nó nơi cái sự vật á. Ừ, cái bản chất của sự vật mình giải thích. Ai có ý kiến gì nữa không?

[25:24]Sư Minh Phương. Thôi tôi nói luôn ha. Chữ không tánh này từ xưa tới nay rất nhiều người giải thích. Chữ không á, chữ Nho đó, nó không phải là cái chữ không như mình.

[25:42]Ví dụ như chữ này là chữ vô nè, thì mình dịch ra nghĩa là không, nơi tiếng Việt Nam mình. Nhưng mà còn cái chữ không, chữ không mà nơi chữ Nho á, đọc âm Hán là chữ không, thì dịch qua Việt Nam mình là rỗng.

[26:00]Cái không tánh này là cái tánh rỗng, chứ không phải là cái tánh không. Mà người xưa gọi là cái tánh rỗng đó đó có nghĩa là gì? Thì rất là nhiều vị xưa nay đã bàn luận, chia chẻ cái chữ rỗng này. Nên mình hiểu chữ tánh không là tánh rỗng nha, đừng hiểu cái tánh không là không có ở trên. Tánh không là cái tánh rỗng của vạn pháp. Thì chữ không này đó cái nghĩa thứ nhất là người xưa giải thích là duyên hợp. Nhiều yếu tố hợp lại mà thành, cho nên sự vật nó không có cái tự thể của nó. Ví dụ như mình nói cái ly này, thì nó do duyên cát, nhiệt độ nấu, công thợ, một khoảng thời gian để gia công, một cái không gian mà nó chiếm lĩnh,

[26:44]nó nhiều yếu tố hợp lại như vậy nó thành một cái ly, cho nên cái ly tự thể nó nó không có một cái ly từ ban đầu mà do nhiều điều hợp thành. Rồi suy luận ra, mình nghĩ rằng cái căn nhà này cũng vậy, hay một đất nước, quốc gia, con người, cả cái tâm niệm khổ, vui trong lòng mình, cả cái sắc đẹp của con người, cả cái thân thể, cả cái khôn ngoan, cái ngu dốt, nó đều là rỗng, tức là do nhiều yếu tố hợp thành chứ không có cái tự thể ban đầu. Đó là người xưa đã giải thích như vậy.

[27:20]Mà người nay giải thích thì sao? Cho nên nhiều vị muốn dùng cái chữ không này, có vị dùng nó là không cố định. Không cố định. Thật ra chữ không cố định đó thì chữ đó là dùng chữ không nào? Là dùng chữ không ở trên á, là dùng chữ vô đó. Nè, chữ không cố định nó đồng nghĩa với chữ vô gì? Vô thường. Đúng rồi đó, cô Trí nói đúng đó. Như vậy là cái không cố định nó không có dịch được cái chữ chữ không này. Chữ không cố định nó chỉ là đồng nghĩa vô thường thôi, chứ không dịch được chữ không này, chữ không này nó siêu hơn. Chữ vô thường này là hay thay đổi, sự vật luôn luôn thay đổi, thì gọi là vô thường, cũng như là nói là không cố định, tức là hay thay đổi.

[28:04]Còn cái chữ không này đó, nó không đợi thời gian làm sự vật thay đổi mà cái ly này mới biến mất. Không phải vì phải đợi thời gian làm cho ly này thay đổi mà mình nói cái ly này là không, là vô thường, là không cố định, không phải. Cái chữ không phân tích ngay khi cái ly đang hiện hữu là mình thấy cái tánh không của nó. Ở đây bây giờ mình dùng chữ chính xác nhất là chữ tương đối. Tất cả sự vật đều tương đối.

[28:32]Cái chữ duyên hợp của người xưa là nó đồng nghĩa với chữ tương đối bây giờ đó. Cái chữ tương đối nghĩa là thế này, là mọi vật cái sự hiện hữu, tồn tại của nó cũng như cái giá trị của nó đều là do tương quan, do so sánh, do hợp lại mà thành. Ngay trong hiện tại mình đã phân tích được cái điều đó. Ví dụ như là

[29:03]ví dụ như là

[29:07]một cái ví dụ như à một cái nhà này mình gọi là lớn hay nhỏ? Như cái nhà này mình gọi là lớn hay nhỏ?

[29:21]Đó, đúng rồi, cái giá trị nó không cố định. Rồi cái đó là mình nói trên cái tính từ lớn nhỏ, nhưng mình nói trên cái bản chất nữa. Bản chất tương đối của nó là sự tồn tại của nó, hoặc là sự hiện hữu của nó đều do nhiều yếu tố hợp thành mà người xưa gọi là duyên hợp đó, cũng là gì? Cũng là tương đối mà có, có một cách tương đối thôi. Chứ nó không có gì tuyệt đối, cái giá trị sử dụng của nó cũng tương đối nữa, ví dụ thế này: Khi mà mình nói các vật đều... đều là rỗng thì sẽ có người cãi, những người mà họ không có dễ chấp nhận á, không có tin tôn giáo, họ nói mọi vật có cái giá trị của nó bởi vì nó có...

[30:04]có giá trị sử dụng, có thể giúp con người được cái việc gì đó. Ví dụ như là cơm, có dám nói... mấy sư có dám nói là nó nó vô thường, nó không cố định, nó hư dối không? Không có nó là đói đó. Mình trả lời làm sao? Như vậy là đừng có nói nó là không tánh hay tánh không, cơm là cần lắm á, ví dụ vậy. Bây giờ nói quần áo, hỏi: "Mấy sư có dám nói là nó hư rỗng không? Nó vô thường không? Không có nó là trần truồng lạnh lẽo, đừng có nói chuyện". Họ sẽ công kích mình lại như vậy, nhất là những người có tư tưởng mà duy vật á, thực dụng, họ không tin tôn giáo. Mình nói sự vật vô thường, không có đáng để mình bận tâm,

[30:42]để mình giữ tâm thanh tịnh thì để mình tu á, mình có cái lý tưởng của mình, nhưng mà người ngoài họ nghe như vậy, họ nói rằng mình tiêu cực, không thấy được cái giá trị ích lợi của mỗi sự vật. Ví dụ mình nói bây giờ mấy sư chê đó, sao mấy sư là sắm máy để nghe cassette, phải không, để nghe băng kinh? Đó, có lợi, có thể sử dụng được, sao mà nói nó là hư rỗng, là tương đối, là tạm bợ, là không cố định, là tánh không rỗng gì, không thực tế, lý luận mấy sư không thực tế. Thì mình trả lời làm sao? Sẽ có ngày chúng ta bị người bắt bẻ đó. Ví dụ sau này các sư lớn lên, đi làm giảng sư các nơi đó, buồn buồn có người họ hỏi vậy đó.

[31:21]Bây giờ mình lo trả lời trước đi.

[31:28]Trong những thế kỷ tới, những năm tháng sắp tới này, không nói thế kỷ tới nữa, chúng ta sẽ đối diện rất nhiều những người, lớp trẻ nổi lên họ học cái khoa học á, họ bớt niềm tin với tôn giáo, họ có những lý luận thực dụng, họ sẽ nhìn tôn giáo với cái nhìn không thiện cảm và không tôn trọng. Và nếu mình không đủ lý luận để giữ củng cố cái cái lý luận của giáo lý của mình thì họ đánh đổ mình dễ dàng. Hồi hôm qua, có cái cô người Singapore, cô lên trên núi tôi, cô nói tiếng Anh thôi. Cô mới nói: "Rất nhiều người nghĩ rằng những người đi vào chùa tu như vậy là bởi vì không thành công trong cuộc đời, có những cái thất bại và đôi khi đó là... thất tình".

[32:16]Thất tình. Lúc đó là tôi với cô đang ngồi nói chuyện với nhau về giáo lý đạo Phật, rồi cô hỏi lần lần về giáo lý đạo Phật thì tôi trả lời. Thì cô... lát cô đặt vấn đề đó, cái tôi lúc đó tôi mới phá cười lên. Tôi nói nghe cô nói cái chữ mà "love lost", tức là đánh mất tình yêu đó, tức là thất tình á, tôi phá cười lên, tôi nói: "Không phải, hồi xưa nhiều người yêu tôi lắm mà tôi từ chối hết để tôi đi tu". Lúc đó tôi mới giải thích thêm khác cho cô một câu nữa, nhưng mà đó là một cái tiêu biểu đó. Rồi đại khái bây giờ họ không tin tôn giáo vậy, họ không tin, họ nghĩ rằng họ không tìm đào sâu giáo

[32:57]lý của mình, nếu họ đào sâu họ sẽ bắt bẻ những kẽ hở, còn họ nhìn trên bề ngoài thì họ nghĩ như vậy, những người tu trốn đời nếu mình không có đủ lý luận. Bây giờ nếu gặp người họ nói rằng mình nói cái gì cũng không hết thì thôi mình đừng ăn cơm, đừng uống nước, đừng mặc đồ, đừng xài máy cassette. Mình trả lời sao đây?

[33:25]Thôi bây giờ câu này khá hấp dẫn mà khá khó, ha? Tôi không trả lời, để dành cho mấy sư thành một cái câu hỏi nha. Rồi để suy nghĩ cho tới 2 tuần sau. Viết đi, nếu gặp một người hỏi như vậy, bắt bẻ như vậy đó, mấy sư tự đặt câu hỏi rồi mình trả lời ra đi. Để dành cái phần thưởng cao quý đó cho mấy sư.

[33:52]Sư nói sao? Cứ viết đi, đó là những cái mình phải đối diện đó. Ừ. Vâng.

[34:10]Tới chừng đó rồi biết

[34:26]chừng nào mới tới? Thật ra đó, cái nền văn minh tương lai của nhân loại á nó phải đặt trên ba cái chân: thứ nhất là khoa học kỹ thuật, thứ hai là năng lực tâm linh, và thứ ba là đạo đức. Nó phải đủ ba cái chân này thì nền văn minh đó mới được gọi là hoàn thiện. Hiện nay khoa học người ta đang chú ý tới năng lực tâm linh. Năng lực tâm linh là gì? Là ví dụ bây giờ mình muốn tác động vào thế giới vật chất này thì mình phải làm sao? Mình trước hết mình có cái ý nghĩ ha, ví dụ như bây giờ tôi muốn cầm cái bình bông này lên thì trước hết tôi phải có ý nghĩ đó, rồi cái tín hiệu nó truyền vào các sợi dây thần kinh vào cái tay tôi mới cầm bình bông này lên được.

[35:09]Đó là muốn dùng tinh thần để tác động vào vật chất mình phải đi xuyên qua cái thân này, mình tác động vào vật chất. Còn năng lực tâm linh là thế này: không đụng tới cái bình bông, tôi chỉ nhìn nó mà tự nó cất lên. Đó là tâm lý có năng lực vật lý. Hiện nay trên thế giới rất nhiều người làm được điều này, nhất là những người tu khí công, tập khí công bên Trung Hoa đó, hoặc là những nhà ngoại cảm á, những nhà yoga, họ ngồi thiền lơ lửng giữa hư không. Báo chụp phim quay rõ ràng. Họ có thể liên lạc từ xa, gọi là thần giao cách cảm, họ chữa bệnh từ xa, vân vân. Hiện nay nó có một cái hiện tượng mà trên thế giới đang

[35:49]bàn tán xôn xao là nhà ảo thuật David Copperfield. Mấy sư có coi ảo thuật đó không? Mấy sư có coi chưa? Có hả? Không hả? Đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành á. Ổng bay giữa hư không á, bồng một người ổng bay lên luôn. Cho kiểm tra không có dây. Nghĩa là những cái ảo thuật của ổng không giải thích được. Trong chớp mắt ổng hiện trên thế này biến mất rồi hiện lên nơi kia trong tích tắc. Ổng cho cái cưa xẻ người đôi ổng ra trước mặt mọi người, tách ra, rồi từ từ ráp lại bình thường. Đó là đó là hiện tượng đang bàn tán xôn xao á. Hoặc là ổng làm biến mất cái tượng Nữ thần Tự do mà tồn tại bao nhiêu trăm năm ở bên Mỹ, rồi phục hồi lại.

[36:35]Nguyên một toa xe lửa ổng đưa cái tay là toa xe lửa từ từ cất lên như hư không rồi biến mất trên đó luôn. Chiếc máy bay Boeing ổng làm biến mất sạch sẽ luôn. Đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành. Cho nên hôm nay là khoa học họ đang đi về cái bước cái đó, họ đi tìm hiểu về cái đó, là cái khoa học chưa bước tới. Nếu khoa học tiến bộ mãi, họ sẽ thấy rằng cái năng lực tinh thần có một giá trị lớn chứ không phải là chỉ những cái kỹ thuật của vật lý, những cái nguyên lý của vật lý thôi, mà còn những nguyên lý của tâm linh nữa. Mà tôn giáo, nhất là Phật giáo, chú trọng cái con đường tâm linh này. Cho nên đây là một bước phát triển, bổ sung cho cái khoa học vật lý hiện nay.

[37:19]Đến một ngày nào đó mà khi cái khoa học vật lý này họ kết hợp được với cái khoa học tâm linh thì lúc đó cái nền văn minh của nhân loại được gọi là hoàn chỉnh. Lúc đó những cái giáo lý của đạo Phật, những cái khám phá, những phát hiện, những thành tựu về tâm linh của đạo Phật không còn của riêng đạo Phật nữa, mà sẽ trở thành của chung nhân loại. Thì lúc đó chúng ta không cần phải đi tu nữa. Tại vì sao? Tại vì lúc đó thiền định nè, luật nhân quả nè sẽ được đem dạy trong nhà trường. Ai cũng phải học. Lớn lên đi học là phải biết học nhân quả, biết học thiền định. Bởi vì sao? Bởi vì những cái giáo lý đó của các tôn giáo Đông phương

[38:01]đã được khoa học chứng minh được, chấp nhận và áp dụng. Cái ngày đó chắc còn xa, một vài thế kỷ nữa. Nhưng mà chúng ta sẽ thấy rằng việc chúng ta làm hôm nay không phải là một việc làm lạc hậu, mà chúng ta đang làm để thúc đẩy khoa học để đi cùng với chúng ta đến cái điểm chung của nền văn minh tương lai. Chúng ta bình tĩnh, không sợ hãi. Cho họ bay tới sao Hỏa, bay tới đâu đó, mình bình tĩnh đi con đường tâm linh để mình chờ khoa học kết hợp được với mình, để nó chung lại tạo thành một cái nền văn minh chung của cả nhân loại sau này. Khi mà khoa học vật lý cũng thấy được cái năng lực tâm linh,

[38:36]thấy được cái sự chi phối của luật nhân quả, như vậy thì sao? Con người sau này sẽ rất là đạo đức. Vô trường học là được học luật nhân quả liền, vô trường học là được học thiền định liền. Tại sao lúc đó người ta phải học thiền định? Bởi vì máy móc lúc đó sẽ điều khiển bằng ý nghĩ. Bây giờ mình muốn điều khiển cái máy mình phải gì? Phải nhấn nút, phải không? Hồi xưa là cầm cần gạt, bây giờ chỉ nhấn nút. Họ đang chế những cái máy mà chỉ nghe tiếng nói thôi, vừa ra lệnh cho chiếc máy "Đi tới!" là cái xe đi tới, "Lui lại!" là lui lại, họ nói. Sau này điều khiển bằng ý nghĩ. Như là những cái máy bay hoặc là những cái đĩa bay sau này mình chế được

[39:11]á, người phi công ngồi trên đó chỉ là bằng ý nghĩ mình điều khiển thôi. Muốn đi tới là nó đi tới, muốn đi lui là nó đi lui. Thì những người mà điều khiển cái cái cái những cái vật thể đó, những cái máy móc đó là người phải có tâm định hay là tâm loạn? Phải định, phải không? Chứ ví dụ ông đang nghĩ máy bay đi tới, máy bay đi tới cũng chực con gió xàng cái quay lộn ngược về nhà liền. Chuyện nó rắc rối xảy ra, cho nên là lúc đó đó là buộc lòng tâm người ta phải rất thanh tịnh. Mà thật ra cái thanh tịnh hiện nay đã được đề cao vì cái stress á, cái căng thẳng thần kinh nó đang đè... đè ngập, đe dọa cả cái thế giới này.

[39:51]Bây giờ bệnh thần kinh và sự căng thẳng tinh thần rất nhiều. Nhiều người Tây phương đang tìm tới với thiền. Thì tương lai cái thiền định rất là cần, là một cái một cái giá trị lớn để bổ sung cho cái văn minh hiện nay. Cho nên kệ họ nói đó, mình bình thản đi con đường của mình. Đây cái đây là cái giá trị mà mãi sau này khoa học mới bắt kịp, còn mình đã vọt nhảy mình đi tới trước. Bây giờ mình nói tới những cái lớp định như hôm trước có mấy sư hỏi về cái định đó, hôm nay chúng ta phân tích từng cái định. Một là Không vô biên xứ ha, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ, và Diệt tận định là năm cái định.

[40:31]Trong đây thì gọi là Vô tướng tâm định,

[40:37]Bây giờ chúng ta phân tích với cái so sánh với bốn mức Thiền và các mức Định.

[40:46]Sơ Thiền ha.

[40:50]Trong bài kinh này gọi là Vô Tướng Tâm Định, nhưng mà thôi mình dùng lại cái từ thường dùng ở những bài kinh khác là Diệt Tận Định đi. Nào giờ trước đây đó chúng ta đọc kinh mà mình không có nắm vững á, mình cứ tưởng là các lớp Định này cao hơn các lớp Thiền này. Phải không? Các sư có thấy như vậy không? Cứ nghe nói đó là tu Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, tu Không Vô Biên Xứ Định, Thức Vô Biên Xứ Định, Vô Sở Hữu Xứ Định. Mình nghe theo cái trình tự như vậy mình cứ tưởng là cái Định thì cao hơn cái Thiền, phải không? Mình cứ tưởng cái Định cao hơn cái Thiền. Nhưng trong bài kinh này mình thấy rõ

[41:25]là sau khi bỏ tâm, không cho duyên vào ngoại cảnh, tâm nhiếp vào Định được cái mức Định đầu tiên thì Phật nói liền là Không Vô Biên Xứ Định. Như vậy cái Không Vô Biên Xứ Định nó tương đương với Sơ Thiền. Nhưng mà cái khác nhau giữa Thiền và Định là cái gì? Khác nhau giữa Thiền và Định là thế nào? Mà tại sao phải chia làm hai? Phải không? Cũng hai cái đều là nhiếp tâm hết, nhưng tại sao lại chia thành Thiền mà tại sao lại gọi là Định? Để tôi giải thích luôn. Thiền là thế này mà Định là thế này. Thiền á là nói đến cái thanh tịnh nơi cái bản thân mình. Thiền, cái ý nghĩa của Thiền là nói đến sự thanh tịnh nơi bản thân mình.

[42:11]Ghi đi, cái ý này quan trọng lắm á. Thiền là nói đến sự thanh tịnh nơi bản thân mình.

[42:20]Còn Định á là nói đến sự phóng hướng tâm phủ trùm pháp giới.

[42:27]Phóng hướng tâm phủ trùm pháp giới là tính chất của Định.

[42:34]Định là phóng hướng tâm phủ trùm pháp giới.

[42:40]Rồi chúng ta phân tích lại nữa là ví dụ như là người mà áp dụng cái hơi thở đó thì họ cứ nắm lấy hơi thở thì họ không có phóng hướng tâm ra bên ngoài thì cái đó nếu họ được các lớp Định đó thì cái đó gọi là Thiền. Tại vì đó là sự thanh tịnh nơi bản thân mình, nơi nội tâm mình. Do mình nhiếp vào hơi thở, an trú trong hơi thở, cái tâm lúc đó nó không có lớn, nó rất là thanh tịnh nhưng nó nằm một chỗ trong hơi thở thôi, hơi thở nơi mũi thôi. Cái tâm mình nó không có bung ra, không có phủ trùm, cứ bám chặt hơi thở nơi mũi để mà cho tâm nó không còn vọng tưởng, nó đi sâu vào Định dần.

[43:20]Còn Thức Vô Biên Xứ Định á, lúc đó tâm thanh tịnh mà họ thấy tâm họ phủ trùm cả trời đất, thấy trùm lên tới mây xanh. Nên đa số nhiều người tu Thiền mà được ngộ đạo á, ngộ được cái Thức Vô Biên Xứ Định tưởng mình xong việc. Thấy nó quá vĩ đại, thấy cái tâm mình nó phủ trùm cả trời đất, quá vĩ đại tưởng mình đã ngộ hoàn toàn được Phật tánh viên mãn rồi. Đây là chỗ rất nhiều người bị lầm, rất nhiều người bị lầm ở chỗ cái Thức Vô Biên Xứ Định này. Nhiều người tu mà đạt được cái sức ngộ đó, cái định sức ngộ của Thức Vô Biên Xứ Định, thấy tâm mình nó thênh thang phủ trùm cả trời đất mà có trực giác nha.

[43:56]Ai ngồi trước mặt mình nghĩ gì mình biết liền. Hoặc là những việc từ xa, ai ở đâu xa mà mình hướng tâm về họ, mình biết họ đang nghĩ gì, đang làm gì nữa. Cái trực giác rất là mạnh. Nhiều người tới đó tưởng mình là ngộ được viên mãn cái chân tâm. Đây là cái chỗ dễ lầm lắm. Còn ba cái định này đều nằm trong vô thức hết, là đi vào vô thức. Nhưng mà ở cái mức độ Tam Thiền á thì chỉ có cái Tam Thiền này là ở trong vô thức, nhưng mà khi nhập qua Định thì Phật lại chia làm ba. Phật lại chia làm ba. Mà tại sao Phật lại chia làm ba, cũng là ở trong vô thức thôi mà lại chia làm ba thì có cái lý do của nó.

[44:33]Hôm trước Thiền thì mình giải thích rồi ha, bây giờ mình giải thích qua Định thôi. Là nơi cái Không Vô Biên Xứ Định á, cái người mà nhập được cái Định này đó thường thường họ rất là thụ động. Tâm họ rất là thụ động nên họ chỉ thích ngồi một chỗ hay nằm một chỗ thôi. Mà họ lơ mơ nếu mà họ sống cái cuộc đời bình thường á, họ hay quên cái này cái nọ. Họ làm đâu quên đó á. Ví dụ như là họ nhiều khi họ gặp người quen cái họ không chào. Tức là họ đang an trú trong cái Định của họ rất là thanh thản và nó cái bề ngoài rất là thụ động, ngơ ngơ ngác ngác nhưng bên trong họ rất sáng nha. Đừng tưởng là mình đừng có công kích họ là cây khô và khi bệnh, đừng có tưởng.

[45:14]Không, họ đúng đó. Họ đúng chứ không phải không. Nhưng mà bởi vì cái Không Vô Biên Xứ Định nó phải như vậy, nó đang ở trong giai đoạn đó. Nhiều người gọi là cái tử tâm của Thiền. Lúc đó mình không biết mình công kích họ là si định thế này thế kia, phải họ đang trong cái Không Vô Biên Xứ Định này. Ví dụ như là có khi mà họ uống nước rồi cái họ quên bỏ ly xuống. Có khi đưa cái muỗng cơm lên miệng quên mở miệng ra nhai. Cái người mà nhập Không Vô Biên Xứ Định họ lờ đờ lờ đờ, thích ngồi một chỗ nằm một chỗ. Có khi người nhà thấy sợ quá đem chở đi nhà thương không có bệnh gì hết. Thấy họ lờ đờ tưởng họ bệnh, không phải. Nhiều khi đi...

[45:49]thầy xin lỗi, tôi xin lỗi, nhiều khi đi vệ sinh quên lau quên chùi nữa. Đó là trường hợp của người này, họ thụ động kỳ lạ như vậy. Gặp người quen cái lờ lờ lờ mắt nhìn đi luôn á. À các sư có nhớ cái chuyện mà bà già đốt am? Câu chuyện bà già đốt am á, nghe chưa? Có mấy sư nghe, thôi để nói lại cho những người người chưa nghe thì nghe luôn. Là như thế này: Có một bà già nuôi một nhà sư tu thiền và cất cái am, mỗi ngày bà hộ thất. Thì được 3 năm như vậy, bà mới thử và sai người cháu gái đến đưa cơm cho ông, bất thần ôm ông. Hỏi: "Bây giờ nên làm gì?" Gặp mấy sư, mấy sư trả lời làm sao? Thì ông sư này ổng trả lời là:

[46:41]"Khô mộc ỷ hàn nham, Tam xuân vô noãn khí." "Khô mộc ỷ hàn nham, tam xuân vô noãn khí." Nghĩa là cái cây khô dựa vào cái núi lạnh, 3 năm nay không có chút hơi ấm. Thì mình thấy ổng tự tại không? Hay ha! Một con người mà gặp được một cô gái đẹp ôm vào lòng mà vẫn nói lòng mình nó như cái cây khô núi lạnh, không có chút hơi ấm, không động tâm gì hết. Cái cô gái buông ra quay về nói với bà già. Bà già nói: "Tu 3 năm mà chẳng nên sự tích gì hết." Thế là bả đốt am đuổi ổng đi. Đó! Đó là lúc đó là ông sư ổng đang ở trong cái Không Vô Biên Xứ Định này, nên bà già không chấp nhận. Thì câu chuyện kể tiếp á là ổng đi lang thang một thời

[47:23]gian cái ổng chợt nghĩ ổng còn cái gì chưa xong. Ổng nghĩ là tâm bất động như rồi nhưng mà dường như chưa phải. Ổng quay trở lại ổng xin bả nuôi một thời gian nữa. Bả nói: "Được." Bả cất cái am lên cho ổng tu một thời gian nữa. Cũng trải qua một thời gian mấy năm gì đó, bả lại sai đứa con gái, đứa cháu gái qua lại ôm ổng một lần nữa, hỏi: "Nên làm gì?" Ổng trả lời là: "Tôi biết, cô biết, trời biết, đất biết, đừng cho bà già đó biết." Lúc đó nghe làm sao? Khi cô gái trở về thuật lại, bà già hài lòng chấp nhận. Nghĩa là ông sư đã qua được cái Thức Vô Biên Xứ Định này. Cái sức ngộ của ổng qua được cái Thức Vô Biên Xứ Định thấy tâm mình phủ trùm ha.

[48:07]Mà cái biết nó sáng tỏ, nó không còn cái thụ động như lúc trước nữa. Lúc đó con người rất là lanh, rất là mắt sáng. Người lanh, hỏi đâu đáp đó, hỏi đâu đáp đó. Những cái thiền ngữ bí mật nói là biết liền, nói là biết liền. Ai hỏi là đáp, ai hỏi đáp như là đá nháng điện xẹt. Là cái Thức Vô Biên Xứ Định này. Mà tâm họ trùm phủ cả trời đất rất là thanh tịnh, rất là giải thoát. Đa số người tu thiền đến chỗ này đều tưởng mình xong việc. Đây là cái lầm lớn. Mai mốt mà sư mấy sư có đến chỗ này nhớ nha: Chưa xong! Chưa xong, chưa vào được vô thức. Chưa thấy được cái vô thức mình nó hoạt động như thế nào đâu.

[48:45]Vẫn còn tà kiến chưa hết. Tại vì tất cả những tà kiến của mình, những cái lầm chấp nó nằm trong vô thức hết. Chỉ có người vào được Tam Thiền hay là vào được ba cái Định này nè mới bắt đầu giải tỏa được tà kiến, mới lần lần giải tỏa được tà kiến. Giải tỏa lần lần chứ chưa hết hẳn nha. Chỉ có người đến Bản Thể đó mới thực sự hết tà kiến. Nhưng mà vào được vô thức là hoặc của Tam Thiền hoặc của ba cái Định này thì tà kiến bớt rất nhiều, bớt rất nhiều. Cho nên cái người mà được Thức Vô Biên Xứ Định này đó họ rất linh hoạt, tâm phủ trùm. Nhưng mà vẫn còn tà kiến ở chỗ này: họ tưởng mình đã bằng Phật, họ tưởng rằng như vậy là đã là Phật tánh viên mãn.

[49:28]Tại vì nói tâm như hư không trùm phủ cả trời đất chẳng sao, thanh tịnh không còn một vọng niệm nào dù đi đứng nằm ngồi không còn vọng niệm. Lúc ngủ cũng như lúc thức đều thấy tánh, đều tỉnh giác. Đây là điểm đặc biệt của cái người mà được Thức Vô Biên Xứ Định. Nên họ coi như đã xong việc, họ tuyên bố là họ đã kiến tánh thành Phật. Và như vậy thì cái gì sẽ xảy ra cho họ? Vị nào nhớ? Khi một người hiểu lầm, tưởng mình đã bằng Phật, mặc dầu mình chưa bằng Phật thì cái hậu quả gì sẽ xảy ra? Mời sư.

[50:08]Đổ vỡ hả? Có ai có gì nữa không? Nói coi. Có ai có ý kiến gì nữa không?

[50:20]Sư thầm gãi đầu.

[50:24]Để lặp lại, nhắc lại mấy sư hôm trước nói rồi. Là nếu người mà chưa được bất thối đó, chưa được cái vị bất thối đó mà tưởng mình đã bằng Phật á thì ngay kiếp này lui liền, đổ vỡ hết đúng như sư nói. Nhưng ở cái người mà được cái vị bất thối rồi, Thức Vô Biên Xứ là tương đối bất thối đó, thì kiếp sau sẽ thối. Bây giờ kiếp này họ không thối, nói trời nói đất gì đó không có lui. Họ tuyên bố họ bằng Phật, nhiều khi họ mắng Phật mạ Tổ nữa. Như kiểu của ngài Đức Sơn á. Ờ, như kiểu ngài Đức Sơn á. Nói ông già Ấn Độ rồi thế nọ, Tam Hiền, Tam Thánh, Thánh Hiền chỉ là cô gái bán thân rồi này kia nọ. Nói những lời nhục mạ Phật pháp rất là nặng để phá

[51:04]chấp người ta, tại ổng nghĩ ổng bằng Phật rồi. Nhưng mà cái đó là sao? Hậu quả là kiếp sau sẽ lui lại, không còn được Thức Vô Biên Xứ Định nữa mà nhiều khi động tâm, loạn tâm rất nhiều. Đây là chỗ hiểu lầm nên người tu mình á ráng để ý này: Mình chưa bằng Phật thì đừng có tưởng lầm. Mà tại sao mình biết mình chưa được bằng Phật? Ví dụ sau này quý sư quý cô mà đắc được một cái định một cái ngộ rất là sâu thì làm sao biết mình là chưa xong việc? Mình dựa vào đâu để biết mình chưa xong việc?

[51:44]Mình dựa vào chỗ này nè. Khi nào mình còn cảm thấy cái cảnh giới tâm mà mình đạt được nó vẫn còn là riêng của mình đó, thì biết rằng mình chưa ra khỏi tâm thức. Cái câu này quan trọng, nhớ nghe. Khi mà cái cảnh giới tâm mà mình đang an trụ đó, dù nó thù thắng cách nào cũng vậy, nhưng mình thấy nó vẫn còn là riêng của mình đó, thì biết rằng mình chưa ra khỏi tâm thức. Nghĩa là vẫn còn trong vô thức và ý thức, trong ý thức và trong vô thức. Vẫn còn đang trong cái cửa để đi vào Phật tánh thôi, chứ chưa phải là Phật tánh Niết Bàn trọn vẹn. Nhớ như vậy. Cho nên mà tại sao người xưa họ hay nói tức tâm tức Phật,

[52:25]là bởi vì họ lầm tưởng cái chỗ chứng này là Phật rồi. Nhưng mà sự thật mới là đang cái ở cái cửa, đang trên con đường đi vào Phật tánh thôi. Còn đến thực sự mà vượt qua hết được bao nhiêu lớp định này, để vào được cái bản thể tuyệt đối, lúc đó mình sẽ thấy cái cảnh giới mà mình đang an trụ không còn của riêng mình nữa. Mà lúc đó là tâm ta tâm Phật là một. Lúc đó là vô lượng chư Phật với tâm mình là một. Bởi vì cũng không có chữ tâm mình, mình dùng chữ tâm mình là sai đó. Lúc trong cái bản thể đó thì vô lượng Phật và mình là một. Mình thấy rất rõ không nghi ngờ nữa, lúc đó mới gọi là xong. Nhưng phải đi qua hết bao nhiêu cái định này.

[53:03]Còn như khi đạt được Thức Vô Biên Xứ Định, mà tưởng là Phật tánh, là mang tội nặng á. Tại vì dù nó siêu việt nó vẫn là của riêng mình, bởi vì tâm là riêng mà, nhưng Phật tánh Niết Bàn là chung. Con đường đi và là riêng, nhưng đến nơi là chung.

[53:24]Ở cái Thức Vô Biên Xứ Định này nó thêm một cái đặc biệt nữa là không còn dụng công nha. Ở Không Vô Biên Xứ Định đó, cái người mà an trú cái Không Vô Biên Xứ Định đó còn phải ráng giữ gìn, gọi là còn ráng dụng công, còn phải dụng công. Trong đó vẫn còn cái dụng công để giữ cái định mình lại. Chính vì cái còn dụng công một chút mà người đó có cái trạng thái thụ động, quên hết mọi cái chung quanh. Còn ở Thức Vô Biên Xứ Định này đó, người này không còn dụng công nữa nên họ bình thường, họ linh hoạt trở lại. Không cần giữ mà tâm vẫn thanh tịnh, cho nên họ bình thường, họ sáng và lẹ dữ lắm. Còn Không Vô Biên Xứ Định là phải kềm giữ một chút.

[54:02]Nó giống như là trong sơ thiền mà còn tầm còn tứ đó, thì cái Không Vô Biên Xứ Định cũng vậy, còn một chút dụng công, cho nên nó đè cái tâm, nó che tâm làm người đó lờ đờ lững đững, thụ động. Qua tới Thức Vô Biên Xứ Định thì nó giống như nhị thiền, không còn dụng công nữa, tự động tâm nó định. Cho nên mình không còn phải giữ tâm, chỉ còn tiếp duyên đối cảnh thôi, ai hỏi là đáp, ai hỏi là đáp. Bây giờ qua tới Vô Sở Hữu Xứ Định là bắt đầu vào được vô thức. Bắt đầu vào được vô thức, ba cái định này ở trong vô thức. Nhưng Vô Sở Hữu Xứ Định là

[54:37]thì tự nhiên nó trở lại cái trạng thái giống Không Vô Biên Xứ là cái người đó có khuynh hướng bất động, ngồi bất động. Khi họ nhập cái định Vô Sở Hữu Xứ này, tự nhiên họ thích ngồi bất động hay nằm bất động, hay ở một tư thế bất động, chứ họ thường là không có hoạt động. Mà mặc dầu cái tâm của họ lúc này là thấy được ba, bốn kiếp quá khứ và thấy được ba, bốn kiếp vị lai. Lúc này thần thông rất là mạnh, là Vô Sở Hữu Xứ Định nè, nhưng mà thích ngồi bất động. Khi chết có thể để nhục thân lại. Ví dụ như các nhà sư như Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường ở chùa chùa Keo ngoài Bắc đó. Đó là trường hợp của những vị mà để nhục thân lại

[55:20]là ít nhất đạt được Vô Sở Hữu Xứ Định này. Mà có thần thông nha, thần thông rất mạnh. Ngồi một chỗ mà quán biết tất cả mọi chuyện các nơi hết. Có thể thấy được mấy kiếp quá khứ và thấy được mấy kiếp vị lai. Khi tịch có thể để lại nhục thân là Vô Sở Hữu Xứ Định, nhưng lại thích ngồi bất động hay nằm bất động, một tư thế bất động. Qua tới Phi Phi Tưởng, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định đó, thì cũng ở trong vô thức nhưng mà đại hoạt dụng, đại thần thông. Những cái thần thông về thần túc thông đó là do từ cái Phi Phi Tưởng này mà khởi. Như Phật nói mà đi xuyên qua vách đá như là đi qua giữa hư không, đi trên nước như đi trên đất liền,

[56:06]hiện một thân thành nhiều thân, à nhiều thân gom lại một thân, hiện thân thành lớn, hiện thân thành nhỏ, hóa hiện nước, hiện lửa, hiện mưa, hiện nắng, khởi đại hoạt dụng, đại thần thông là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng này. Thì cái mức độ mà thấy biết của Phi Phi Tưởng á thì cũng đồng với Vô Sở Hữu, có thể thấy được mấy kiếp quá khứ và thấy được mấy kiếp vị lai, nhưng mà nó cao hơn cái Vô Sở Hữu là bởi vì khởi thần túc thông được, khởi thần túc thông. Người mới nhập được Vô Sở Hữu á thì chưa khởi được thần túc thông, mà nếu tiến thêm một bước nữa tới Phi Phi Tưởng á thì mới khởi thần túc thông là biến hóa đó, phi hành biến hóa đó.

[56:49]Trong cái lục thông thì thần túc thông gọi là khả năng phi hành biến hóa là Phi Phi Tưởng này đó. Còn cái Diệt Tận Định hay trong bài kinh này gọi là Vô Tướng Tâm Định là lại trở lại bất động. Cái định này lại bất động trở lại. Nhưng ở trong cái định này, thân vị đó cứng như đồng, như sắt. Có thể an trụ cái định này cả ngàn năm không có hư hoại, không biến dịch. Ở cái Diệt Tận Định này nè

[57:23]là thân trở nên cứng như đồng như sắt, mà có thể an trụ cái định này cả ngàn năm không hư hoại. Lửa đốt không cháy nha, dao chặt không đứt nữa. Trong kinh á, có một bài kinh Phật kể là có một vị A La Hán ngồi thiền nhập vào Diệt Tận Định. Lúc đó, có một số người đi rừng cái mới thấy vị đó ngồi mãi không xả, cứ tưởng là vị này đã nhập diệt nên mới chất củi lên đốt. Họ châm lửa xong họ đốt rồi họ bỏ đi, nghĩ là họ thiêu cái thân của một vị tu vậy thôi. Đến khi vị đó xuất định ra thì thấy thân mình nám nám nám nám hết trơn, nám nám hết trơn, nhìn chung quanh là tro tàn đầy hết trơn rồi mới thấy chắc

[58:03]ai đốt mình, mới đứng lên đi khất thực tiếp, ôm bát đi khất thực. Ra thì thấy quần áo nám nám không cháy hẳn, chung quanh nám nám, tro là bụi còn dính vậy. Đó, Phật kể lại trong bài kinh đó, là vị đã nhập Diệt Tận Định này nè, thân cứng như đồng như sắt, lửa đốt không cháy, dao búa chém không được, mà có thể an trụ cả ngàn năm nếu vị đó muốn.

[58:25]Nhưng mà thế này,

[58:29]ở nơi cái Diệt Tận Định này hay là Vô Tướng Tâm Định này thì nó chỉ còn cái gì gọi là còn cái mạng căn. Cái chữ mạng căn tức là cái thọ mạng còn giữ lại không có bỏ thân luôn. Cho nên ở đây trong kinh Phật gọi là sáu nhập duyên mạng đó, bài kinh này hồi nãy gọi là sáu nhập duyên mạng, tức là không còn gì nữa, chỉ còn chút thọ mạng giữ lại duy trì giữ lại thôi. Nó còn một cái chút mong manh cuối cùng của cái tâm thức, một chút vô minh cuối cùng ở chỗ này. Do đó vị đó mới khởi lên một cái trí lần cuối không chấp nhận nó, nghĩa là nói rằng

[59:06]vô tướng tâm định này thuộc hữu vi do tâm tư tạo nên, phàm cái gì thuộc hữu vi do tâm tư tạo nên cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt. Khi ý thức được điều đó thì cái vô minh cuối cùng tan vỡ thì vị đó được vào Niết Bàn, an trụ được chứng đạo được ở trong bản thể tuyệt đối. Đây là cái ý bài kinh này rất hay là không chấp thì từ từ tâm mình nó tiến lên. Ban đầu á thì với ngoại cảnh là mình không có chấp những cái cảnh mà không hiện hữu, chỉ còn chấp lại giữ lại cái cảnh đang hiện hữu. Nơi cái cảnh đang hiện hữu á mình không chấp cái rườm rà, chỉ giữ lại cái đơn giản. Nơi cái đơn giản mình không chấp thì tâm mình

[59:48]được cái định đầu tiên là Không Vô Biên Xứ. Mình không chấp cái Vô Biên Xứ á, không chấp nhận nó, thấy nó là dở, vào định sâu hơn là Thức Vô Biên Xứ. Thức Vô Biên Xứ mình không chấp không giữ nó thì mình nhập vào được Vô Sở Hữu Xứ. Không chấp Vô Sở Hữu Xứ thì đạt được Phi Phi Tưởng Xứ. Không chấp Phi Phi Tưởng Xứ thì đạt được Diệt Tận Định hay là Vô Tướng Tâm Định. Nơi Vô Tướng Tâm Định này vẫn biết nó là hữu vi thì ngay đó vượt qua khỏi nó để đạt được Niết Bàn thực sự, đạt được Niết Bàn thực sự. Nên cái nguyên tắc, đây là một cái phương pháp tu theo con đường định á là không chấp. Từ cái không chấp tự nhiên tâm mình tiến lên dần dần,

[1:00:29]tiến lên dần dần, tự nó tiến, nhưng dù tiến tới đâu mình vẫn không chấp. Cái yếu chỉ nó là thế này, không chấp cảnh giới đang an trụ. Yếu chỉ của bài kinh này nè, chúng ta nhớ vào, không chấp cái cảnh giới đang an trụ.

[1:00:49]Không chấp cảnh giới đang an trụ thì tự nhiên cái trình độ tâm linh mình tiến lên. Tự mình không mong cầu nhưng tự nhiên trình độ tâm linh tiến lên đó. Không chấp cảnh giới đang an trụ.

[1:01:05]Bây giờ chúng ta cũng vậy, như là chúng ta hằng ngày chúng ta tu thiền nhiếp tâm, dù tâm mình có được thanh tịnh lặng lẽ nhưng vẫn phải biết nó là sao?

[1:01:17]Phải biết nó làm sao? Vẫn là hữu vi, vẫn là vô thường biến diệt, không chấp nhận nó nhưng mà cũng không đòi hỏi một cái định mới, nhớ vậy nha. Nếu mà mình nói à cái định này là định mình đang an trú là còn hữu vi biến diệt, mình mơ ước cái định mới thì chính cái mơ ước đó lại là một cái sai lầm. Nhớ vậy. Không chấp cái định đang có nhưng không mơ ước cái gì khác thì tự nhiên tâm mình nó tiến lên.

[1:01:46]Nơi cái giải thoát thì còn lại một chút mạng căn tồn tại do duyên thôi, do duyên mình còn ở thế gian thì cái thọ mạng nó vẫn còn giữ lại. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết, trong sự giải thoát là sự hiểu biết, hiểu biết rằng đã được giải thoát. Hồi trước tôi đã nói điều này chưa? Trong sự giải thoát là mình biết rõ rằng mình đã được giải thoát. Như vậy nó có mâu thuẫn với cái là vô chứng vô đắc của Đại Thừa hay không? Thấy không? Hôm trước nói rồi ha? Thôi bỏ qua, không không nhắc lại. Là sự hiểu biết rằng mình đã được giải thoát chứ không phải giải thoát mà không biết đâu.

[1:02:32]Cái đoạn này nữa, cái từ mà Phật nói là "an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh". Cũng là cái "không tánh" thì mình hiểu nó là cái tương đối, là những cái sự vật sự việc trên cuộc đời này do duyên hợp nhiều cái mà thành. Gọi là nó là cái tánh không, là sự hư rỗng. Nhưng mà cái "cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh" lại là cái gì? Lại là cái tuyệt đối, lại là cái tuyệt đối. Nên mình không chấp tất cả những cái tương đối, dù đó là ngoại cảnh hay dù đó là cái tâm định, mình vẫn không chấp, bởi vì nó là gì? Nó là không tánh, là tương đối. Nhưng khi đi hết tận cùng của cái chấp hết cái chấp hết tất cả những cái chấp không

[1:03:14]tánh đó rồi, hết tất cả những cái tương đối đó rồi thì trở thành cái gì? Tuyệt đối. Tận cùng của cái tương đối là tuyệt đối. Tất cả những yếu tố cuối cùng mà tạo nên vật chất nè, từng cái cục đất hòn đá đều là những cái tương đối, là những cái không tánh, những cái tánh không hết. Nhưng mà cái tận cùng của những yếu tố mà tạo thành vật chất là tuyệt đối. Chúng ta phân tích thế này, nếu mà điều này không nói sau này bị nhiều người bác. Ở chỗ này nè. Cái căn bản của vật chất là gì? Căn bản của vật chất là cái gì?

[1:03:53]Là gì sư? Sâu hơn nữa. Nói vật chất là đất, đá, cây, cối rồi luôn tất cả không khí đồ luôn á. Thành phần căn bản của vật chất là gì? Hở? Không phải.

[1:04:13]Là nguyên tử. Nguyên tử. Nghĩa là khi người ta khám phá ra tận cùng của vật chất thì trong đó nó có một cái nhân. Trong cái nhân này nó có đựng nhiều hạt proton và neutron, nó tích điện dương. Bên ngoài đó nó có nhiều cái hạt electron nó bay quanh. Này đã học trong vật lý rồi phải không? Học rồi, những người đã học vật lý đều biết điều này rất rõ. Thì rất nhiều cái nguyên tử thế này, nó di động nha, những electron này nó bay quanh ào ào ào ào ấy, bay rất nhanh. Còn cái nhân này thì nó cố định, nó nằm ở giữa. Rất nhiều nguyên tử tập trung lại mà nó thành cái ly này. Là tức là thành phần căn bản của vật chất.

[1:04:51]Nhưng rồi mỗi một cái hạt

[1:04:55]proton này nè, những hạt electron này tận cùng của nó là gì? Người ta chưa phân tích ra được. Nhưng nếu chia chẻ ra được, chia chẻ ra nhỏ nữa, nhỏ nữa, nhỏ nữa, rất nhiều lần nhỏ nữa thì người ta sẽ thấy nó là tuyệt đối. Vật chất là tương đối, nguyên tử là tương đối, nhưng nếu tìm nó đến được cái điểm tận cùng của vật chất thì nó lại chính là tuyệt đối, là cả vũ trụ. Một cái nhỏ nhất chính là cả vũ trụ. Đây là điểm nghịch lý. Nên Thiền sư Mật Ứng, khi ngài ngộ rồi ngài có nói câu này: "Ai cũng biết một cái giọt nước gieo vào cái hồ to. Nhưng mấy ai biết được rằng cả đại dương rơi vào trong giọt nước."

[1:05:39]Câu nói rất là hay. Ai cũng biết một cái giọt nước gieo vào cái hồ to, đây là chỗ hiểu thường tình đó, là khi người ta tu được người ta thấy cái tâm của mình nó như nó hòa nhập vào cả cái không gian bao la của cái các lớp định này. Giống như là cái tiểu ngã của mình á, tự nhiên nó hòa vào cái đại ngã chung theo lý luận của Ấn Độ đó. Giống như vậy, nhưng mà cái chỗ tận cùng của Đạo, của Niết Bàn, của tuyệt đối là gì? Cả đại dương rớt vào trong giọt nước. Nên nếu tận cùng của vật chất này đó là những nguyên tử, nhưng mà đến tận cùng của nguyên tử, những phần nhỏ hơn nhỏ hơn là cả vũ trụ mênh mông.

[1:06:24]Cái cùng cực nhỏ nhất chính là cái lớn nhất.

[1:06:29]Nên cái "cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh" này là như vậy đó. Đi tận cùng hết cái tương đối, chúng ta bắt gặp cái tuyệt đối. Tâm chúng ta vậy, khước từ tất cả, khước từ từ cái ngoại cảnh, khước từ cả cái sức định của mình, những cái lớp định mình khước từ khước từ, đến cuối cùng là đến cứu cánh thanh tịnh không tánh này.

[1:06:51]Bây giờ mình giải thích về cái xuất và nhập định. Xuất và nhập định là gì? Như hôm trước ta đã nói là tâm này chưa phải là Phật tánh Niết Bàn, mà tâm này chỉ là cái ngõ để đi vào Phật tánh Niết Bàn. Chúng ta không thể đi vào Phật tánh Niết Bàn bằng bất cứ phương tiện nào, dù chúng ta có chế được tên lửa. Chúng ta chỉ đi vào tuyệt đối bằng con đường tâm mà thôi. Đi vào, nhưng ai đi?

[1:07:25]Nếu mình nói mình đi, mình đi như vậy thì mình đi từ cái tâm định này, cái mình đi từ từ cái mình lọt qua Niết Bàn, vậy mình đi lọt qua trong Niết Bàn, phải không? Cái lý luận vậy đúng không?

[1:07:37]Như vậy mình mang luôn cả cái ngã mình lọt qua trong Niết Bàn, quậy trỏng không ai chịu nổi hết. Nhưng mình nói là tâm này là cửa ngõ để đi vào tuyệt đối, phải không? Vậy là mình đi hử, đi từ cái tâm này giống như cái tâm nó là cái con đường ngõ, đường hẻm nè, mình đi đi đi đi lát mình lọt vô tuyệt đối. Nên cái lý luận nào nó cũng có cái hạn chế, bởi vì ngôn ngữ mà nó không thể diễn tả được cái tuyệt đối. Nói là đi hay là nói là nhập định chỉ là thế này, là từ bỏ chính mình dần dần. Đó đây là cái con đường mà đi qua từng lớp định đó. Mình đã không chấp cái an trú hiện tại, mình vào định cao hơn thì như vậy, hễ mà mình nghe người ta nói

[1:08:16]nhập định mình phải hiểu rằng đó chính là quá trình từ bỏ chính mình dần dần thôi. Mình đang an trú cái Không Vô Biên Xứ Định, mình từ bỏ chính mình ở đó, tự nhiên mình vào được cái Thức Vô Biên. Ngay đó mình từ bỏ ở cái Thức Vô Biên thì mình lọt vào Vô Sở Hữu Xứ Định. Mình từ bỏ Vô Sở Hữu thì mình lọt vào Phi Phi Tưởng. Mình từ bỏ Phi Phi Tưởng, mình lọt vào Diệt Tận Định. Mình từ bỏ Diệt Tận Định, mình vào luôn tuyệt đối. Đó, đó là nói là nhập, mà chỉ là từ bỏ chính mình dần dần thôi. Bây giờ xuất định là gì? Xuất định là gì?

[1:08:52]Hồi nãy là từ bỏ thì bây giờ là cái gì? Nhận lại chính mình. Từ trong tuyệt đối mình khởi cái tâm thô ra trở lại, nó vào chỗ Diệt Tận Định. Rồi mình chấp một chút nữa cái lọt vào Phi Tưởng Định, mình lấy trở lại lọt vào Vô Sở Hữu Xứ Định, từ từ từ từ ra trở lại đời sống bình thường. Như vậy có phải là mình vô minh trở lại không? Có phải không? Khi một người ví dụ như đi từ các lớp định đi vào luôn tới tuyệt đối, rồi khi vị đó xuất định đi ra trở lại thì có phải là vô minh trở lại không? Có phải là chấp ngã trở lại không? Vậy chứ làm sao?

[1:09:43]Thì đúng là không phải là mình tin như vậy, nhưng mà để nói luôn. Khi mình sử dụng trở lại, khi mình xuất định đó, tức là mình sử dụng lại cái tâm của mình. Chấp lại, sử dụng lại cái tâm của mình, mà tâm tức là gì? Tâm tức là ngã. Luôn trong tâm luôn luôn có ngã trong đó. Đó là chuyện đương nhiên, phải chấp nhận. Khi một người đã nhập định được tới tuyệt đối mà xuất định trở lui ra đó, tức là vị đó sử dụng lại cái ngã, sử dụng lại cái tâm. Nhưng mà cái ngã, cái tâm của vị đó nó khác với phàm phu. Bởi vì sao? Bởi vì nó đã được kiểm soát rồi. Nó đã được kiểm soát, được hướng dẫn. Không giống như mình, ví dụ mình bây giờ đó,

[1:10:31]mình chưa có vào được tuyệt đối thì mình cũng đang sống với cái tâm của mình, phải không? Nhưng cái tâm đó nó chưa được thuần hóa, nó chưa được gột rửa, không được tẩy sạch hoàn toàn. Cho nên lâu lâu nó sai mình làm chuyện quậy ngọa chút đỉnh. Chút đỉnh vậy chứ nhiều khi làm ghê lắm chứ không phải không. Là tâm nó chưa được thuần hóa, chưa được kiểm soát, cho nên mình dùng cái tâm này, nhưng mà cái tâm này nó cũng đang sử dụng mình, mình không làm chủ nó được hoàn toàn. Còn cái vị mà đã nhập định vào tuyệt đối rồi lui trở ra lại, gọi là xuất định đó, thì vị đó sử dụng được tâm mình giống như là nắm một cái gì hoàn toàn làm chủ.

[1:11:05]Cho nên vị đó sống bình thường giữa cuộc đời mà không bao giờ có lầm lỗi. Không bao giờ có lầm lỗi, nhớ điều đó. Còn mình đó, mình chưa phải từ trong cái định tuyệt đối đi ra lại, mà mình đang loay hoay tu hành thì cái tâm của mình, cái ngã của mình chưa được gột rửa hoàn toàn thì đôi khi mình vẫn còn lầm lỗi nếu mình không cẩn thận. Còn những vị mà từ trong định đi ra lại, họ sử dụng lại cái tâm, cái ngã, nhưng không bao giờ lầm lỗi nữa, hoàn toàn có đức hạnh. Nó khác nhau như vậy thôi. Chứ mình đừng tưởng tượng là có cái gọi là thường định, mặc dù là đi đứng nằm ngồi mà vẫn ở trong Niết Bàn, không phải đâu.

[1:11:44]Hễ Niết Bàn là thân phải bất động. Còn mà hoạt dụng á thì nó tùy cái định, hoạt dụng là hoặc là an trú Phi Phi Tưởng Định nè, hoặc là an trú Thức Vô Biên Định là người đó khởi dụng hoạt dụng á, thân thể cử động. Hoặc là họ đang ở Thức Vô Biên, hoặc là họ đang ở Phi Phi Tưởng. Còn mà những cái định khác như Không Vô Biên, Vô Sở Hữu hay Diệt Tận Định thì thường là bất động và Niết Bàn cũng bất động. Nhớ như vậy, mỗi cái loại định nó có một tính chất khác nhau. Còn mình nghe cái người nói đó là, nói có xuất có nhập mà không có thường định thì người đó không phải là cái định cứu cánh, không phải là cái định Đại thừa, Tối thượng thừa. Người đó chưa có kinh nghiệm.

[1:12:25]Cái người mà phê bình câu đó người đó chưa có kinh nghiệm. Thì người đó mà nói câu đó là biết rằng người đó đang hướng về cái Thức Vô Biên Xứ Định. Chỉ có cái Thức Vô Biên Xứ Định á mới có thể là vừa an trú trong định mà vừa khởi hoạt dụng đi, đứng, sinh hoạt bình thường. Vẫn an trú được cái Thức Vô Biên Xứ Định. Còn người mà khởi thần thông á, biến hóa phi hành thì là ở trong Phi Phi Tưởng Định. Còn bình thường những cái định khác nó đều có khuynh hướng bất động, kể cả người an trú Niết Bàn. Còn một vị mà từ Niết Bàn lui ra lại, lui ra lại sống đời sống bình thường á thì tức là phải sử dụng lại cái tâm, sử dụng lại cái ngã.

[1:13:05]Nhưng mà sử dụng nó mà kiểm soát được nó, làm chủ được nó nên không bao giờ lầm lỗi. Nhớ như vậy. Như vậy thôi. Hôm nay mình học đến đây. Mình viết cái câu hỏi:

[1:13:22]Trình bày sự hiểu biết về bài kinh Tiểu Không. Cho nói tự do đó.

[1:13:29]Trình bày sự hiểu biết về bài kinh Tiểu Không. Chúng ta ghi nha: Trung Bộ kinh III,

[1:13:40]trang 252. Trung Bộ kinh III đó, trang 252.

[1:14:01]Có ai hỏi gì không? Thầy, ở đây thầy giảng về thiền với lại bốn cái thiền thì không có giống như bốn cái thiền... Nhưng mà có giảng qua một vị đó là từ Không Vô Tưởng Xứ Định và đến Diệt Tận Định á thì thầy có giảng, nhưng bốn cái lớp thiền đầu từ năm cái cõi thiền thì thầy không có giảng... Thành ra con không biết đó là nối tiếp thì trước, trước khi vào Hư Không thì cũng qua Tứ thiền của Sắc giới định đó.

[1:14:32]Mà ở đây thầy không có... Không, không có. Hồi nãy tôi có nói rồi, mà sư không để ý, là nào giờ đó, trong kinh á, có những bài kinh nói theo thứ tự thế này: là người đó nhập Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền rồi nhập Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ phải không? Rất nhiều bài kinh nói thứ tự đó, nên mình lầm tưởng là các cái định này cao hơn các lớp thiền. Nhưng bài kinh vừa rồi mình học á, thì nhớ là Phật chỉ nói bốn thiền rồi Phật nói tới giải thoát luôn, Tam minh lục thông. Còn bài kinh này, Phật không nói bốn thiền mà nói vào là cái định đầu tiên là Không vô biên liền. Cho nên đúng như là tôi đã nói từ trước,

[1:15:07]là cái định và cái thiền này không phải là cái nào cao hơn cái nào hết. Hai bên nó tương đương với nhau. Hai bên tương đương với nhau, mà trong đó Không vô biên này tương đương với Sơ thiền. Cho nên cái lớp thiền đầu tiên mà người ta đạt được là Sơ thiền, cũng như hồi nãy khi mình từ bỏ hết cái ngoại cảnh, được cái lớp định đầu tiên là Không vô biên xứ, hai cái này tương đương. Rồi kế nữa đó, mà hai cái này đều được định mà còn phải dụng công. Ví dụ người mà tu hơi thở là phải nhiếp hơi thở rất kỹ, giữ hơi thở rất kỹ. Còn cái người mà được Không vô biên xứ á là phải giữ tâm rất kỹ. Chính cái tâm mà đang được giữ á, nó làm cho người đó trở nên thụ động.

[1:15:42]Qua tới cái Nhị thiền là không còn dụng công nữa. Ví dụ như mình nhiếp trong hơi thở, lúc đó tâm và hơi thở nhập làm một, không còn phải giữ mà tự động tâm với hơi thở nó giữ nhau được thanh tịnh, không dụng công. Thức vô biên cũng vậy, người mà bỏ Không vô biên đạt Thức vô biên thì không cần dụng công nữa mà tâm vẫn thanh tịnh, nên người này rất linh hoạt. Có thể sinh hoạt đời sống đi đứng bình thường mà đang an trú cái Thức vô biên này. Cho nên nhiều người tu trong thiền á tới được chỗ này tưởng là xong việc, bởi vì tâm phủ trùm cả trời đất chứ không ít đâu. Trực giác rất mạnh, có thần thông á.

[1:16:13]Rồi qua khỏi cái Thức vô biên này thì họ qua ba cái lớp định này tương đương bên Tam thiền. Nhưng mà tại sao bên thiền á thì chỉ có một cái Tam thiền, mà bên đây tới ba cái lớp định mà tương đương với nó? Bởi vì cái Tam thiền là nói tới cái thanh tịnh bản thân á là thường người ta giữ cái hơi thở. Chính vì giữ cái hơi thở cho nên nó không có khởi hoạt dụng. Khởi hoạt dụng, có nghĩa là họ không khởi thấy biết, không khởi thần thông, cứ nhiếp trong hơi thở đi cho qua hết Tam thiền để vào Tứ thiền thôi, để vượt hết cái vô thức luôn. Cho nên thường thì nó đơn giản, cứ giữ một cái hơi thở đi riết, đi riết cho hết vô thức luôn thì thôi.

[1:16:46]Nhưng mà còn trong cái định đó, tại vì cái tâm nó không giữ tại chỗ mà nó phóng hướng trùm pháp giới. Hồi nãy định nghĩa rồi, định là phóng hướng tâm trùm pháp giới, cho nên bắt đầu mỗi cái lớp định nó có tính chất khác nhau. Ở đây thì có khuynh hướng làm cho thân mình bất động nhưng mà trí tuệ thấy biết rất là sâu sắc, thấy được mấy kiếp quá khứ, mấy kiếp vị lai, có thể để lại nhục thân sau khi chết. Qua được cái lớp sâu hơn thì đi, đứng, nằm, ngồi, khởi hoạt dụng, bay lên hư không, hóa lửa, hóa nước, hiện thần túc thông là cái định này. Cái định này lại bất động trở lại, nhưng mà có thể giữ cái thân cứng như đồng, như sắt mà an trụ cả ngàn năm.

[1:17:21]Cho nên hai cái thiền, cái định này tương đương. Có nhiều bài kinh để trình bày cái thứ tự cái này thiền tới định làm mình cứ tưởng là định cao hơn thiền. Nhưng mình đọc hai bài kinh vừa rồi thấy rõ không? Qua Tứ thiền xong cái Phật nói tới giải thoát liền, cũng như bài kinh này, vừa nói bỏ hết ngoại cảnh cái vào được cái định đầu tiên là Không vô biên xứ liền. Như vậy, định thiền tương đương nhau. Còn cái việc mà tưởng cái định này cao hơn thiền là do cái lối trình bày bài kinh làm mình hiểu lầm, rất nhiều bài kinh làm mình hiểu lầm. Mà Phật muốn nói cho đầy đủ nên Phật trình bày cái này rồi Phật thống kê

[1:17:50]thêm cái định, làm mình cứ tưởng là cái này trau cái kia, không phải.

[1:17:58]Hồi nãy có nghe thầy nói tới Tứ thiền là thiền vô sắc định và có cõi trời không về... có Tứ thiền... Con không biết là... thế giới cõi trần có cái sự giống nhau, khác nhau với những... Hôm trước đó, thì tôi có nói với các sư là theo cái bài kinh đó nên mình quy ước với nhau là cái... cái từng mức như vậy. Nhưng mà ở nơi khác là họ định nghĩa Tứ thiền khác nha, họ định nghĩa Tứ thiền khác. Với nó có cái điều này nữa mình phải hiểu: do tính cách ước lượng, nhiều khi ngoại đạo họ được cái định rất cao nhưng mà mình vẫn phải bác họ. Bởi vì sao? Bởi vì nó chưa qua khỏi tà kiến, và đôi khi họ nhận họ là được

[1:18:39]Tứ thiền, được Tam thiền gì đó nhưng mà chưa chắc đâu. Chưa chắc đâu. Còn cái cõi trời, hôm nay thì có lẽ mai mốt chúng ta sẽ chọn bài kinh để nói đến các cõi và nói đến cái luân hồi đó, tức là khi mình chết, mình sống giữa cái... sống, tái sinh qua kiếp khác, những trạng thái gì phải trải qua đó. Rồi tại sao hiện tướng địa ngục, tại sao hiện tướng cõi trời, rồi tại sao có ma, có quỷ thì mình có lẽ là hôm nào mình nghiên cứu một bài kinh để về vấn đề đó để mình trình bày hơn. Còn các cõi trời, các cõi địa ngục, cõi ma, cõi quỷ nó cũng phức tạp lắm. Từ cái tâm thức mình nó đã hiện ra như thế nào

[1:19:15]thì sau này mình có dịp mình sẽ trao đổi với nhau thêm. Cũng giống như lần trước tôi hẹn nói về cái định á, thì có bài kinh thì nói. Mai mốt mình sẽ học một cái luận bản nào đó. Trong kinh tôi đọc qua thì không nói rõ lắm về các... luân hồi Phật chỉ nói là chết đây sanh kia thôi, nhưng mà phức tạp lắm, không có đơn giản về cái cơ cấu sống chết. Để mình hẹn một lần khác nói trình bày cho rõ luôn. Tại sao một cái người mà an trú được cái định nói cái thiền đó, chết mà nói rằng ở cõi trời Tứ thiền, cõi trời Tam thiền? Nó mệt. Cái Phật chê gác ngoài đạo. Cái gì? Hai cái từ "không tánh" và "tánh không",

[1:19:48]theo con hiểu "không tánh" là để vịn dựa vào cái... tánh gì tự... tự hữu duyên á để mà nói... không có thật tánh. Còn "tánh không" thì nói vào cái bản thể tuyệt đối... như vậy có đúng không? À thưa không, sư. Bởi vì hồi nãy mình nói đó, tại trong bài kinh này Hòa thượng Minh Châu ổng dịch theo cái thứ tự chữ Nho, cái chữ "không tánh" đó đó, nếu mà nói theo chữ Nho thì nó là viết thế này. "Không tánh", mình đọc lại cho đúng theo cái Việt Nam mình là "tánh không", còn đọc theo kiểu chữ Nho là tính từ để trước á thì gọi là "không tánh", đọc theo chữ Việt Nam mình là "tánh không", giống nhau thôi.

[1:20:31]Cũng đều là cái chữ rỗng này. Rỗng tức là tương đối, nhưng mà còn cái "cứu cánh vô thượng hoàn toàn thanh tịnh không tánh" đó, tức là tận cùng của cái tánh không tương đối này sẽ là mình đi được, mình gặp cái tuyệt đối. Tận cùng hết của cái tương đối khi mà mình từ bỏ hết, mình an trú không tức là không chấp hết, từ bỏ hết những cái hiện tại, những cái tương đối từng lớp, từng lớp mình sẽ đi đến được cái tuyệt đối. Cứu cánh thanh tịnh tuyệt đối của là... vô thượng á, "cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh" có nghĩa là nó là tương đối nè, nhưng mình không chấp nó, từ từ, từ từ sẽ đến được cái cái tuyệt đối kia.

[1:21:07]Ý nghĩa nó là vậy á. Chứ còn nói cái "không tánh" hay "tánh không" mà ban đầu mình phải hiểu nó là tương đối, là cái rỗng, là bản chất nó tạm bợ do duyên hợp, là nói đến vạn vật duyên khởi á. Nhưng mà nếu mình ý thức được điều đó, tu tập, từ bỏ hết tất cả những cái tương đối đó thì đến được cái tuyệt đối, mà Phật gọi là "cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh".

[1:21:33]Còn ai hỏi gì nữa không?

[1:21:38]Không hỏi nữa thôi nghỉ ha. Mời đứng lên. Ráng tập làm bài nhiều đi nha. Sau này còn làm giảng sư rồi với người ta nữa. Ráng lên. Cái trách nhiệm của người xuất gia mình khó lắm, ráng học để sau này mình hướng dẫn người sau mới có công đức. Nguyện đem công đức này, hướng về

[1:22:05]khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.