[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Như đã hẹn á, Sư phụ, đêm nay giao thừa, Sư phụ nói cái bài Tứ Niệm Xứ. Bài này khá quan trọng.
[0:26]Mà Sư phụ cũng cứ nói thoải mái nên Sư phụ cũng không biết khi nào Sư phụ sẽ dừng. Hy vọng là dừng trước giao thừa, nhưng không biết, mọi người cứ ngồi nghe. Ừ.
[0:45]Chúng ta đã đi qua từ Tứ Niệm Xứ 1, 2, 3, 4, 5. Hôm nay chúng ta nghe Tứ Niệm Xứ 6. Thì cái Tứ Niệm Xứ 6 này mới là cái lõi thực sự của Tứ Niệm Xứ. Những cái trước nghĩa là những cái dẫn đường, khái niệm vậy thôi, như khái niệm về chính mình rồi vân vân vậy. Lần này chúng ta mới đi vào cái lõi của Tứ Niệm Xứ.
[1:11]Như chúng ta biết vậy, cái mục tiêu tu hành trong đạo Phật là đạt được vô ngã, là không còn có cái cái ta. Mà cái nguyên tắc để đi tìm được vô ngã thì thực sự không phải chúng ta trốn cái bản ngã, mà chính là chúng ta an trú nơi cái ngã, nơi cái chính mình này, hiểu về nó, an trú ngay nó, gắn với nó, dính với nó, đứng lại với nó, mà không chấp nhận nó, không ca ngợi, không đề cao nó thì nó mới tan. Đây là nguyên tắc. Và cái con đường Tứ Niệm Xứ chính là cái con đường mà an trú nơi bản ngã, qua từng lớp bản ngã, cho tới khi bản ngã biến mất luôn. Đó là bí quyết của Tứ Niệm Xứ, và Tứ Niệm Xứ không phải là bốn cái chỗ
[2:13]mà thực sự là bốn cái trình độ, bốn lớp của bản ngã mà ta sẽ nhìn thấy để ta an trú khi ta khi ta giác ngộ lần lượt từng bước từng bước. Cái việc mà ta vượt qua bản ngã bằng cách an trú nơi chính bản ngã là một nguyên tắc vàng của tất cả mọi điều trong cuộc sống này. Ví dụ như ta có một lầm lỗi thì ta đừng trốn nó, đừng tránh nó, đừng nói dối về nó, cứ nhìn với nó, cứ ở ngay cái lỗi của mình, biết biết đó là lỗi và ở ngay đó, can đảm đối diện với cái lỗi mình, giữ lấy cái lỗi của mình. Vậy mà cái lỗi đó từ từ nó bứng khỏi trong tâm luôn, mất luôn ở trong tâm. Còn nếu ta cứ tránh né rồi nói không dám nghĩ về nó,
[3:05]ai nói tới lảng đi, vậy chứ cái lỗi đó còn hoài. Đây cũng là điều mà Sư phụ có đưa vào trong cái sách Cải Hóa Phạm Nhân là để bảo đảm cái người phạm nhân khi ra tù họ không phạm tội lại thì thời gian ở trong tù họ phải bứng sạch cái cái tâm bất thiện của họ. Mà muốn họ nhổ sạch cái tâm bất thiện của họ thì phải hướng dẫn cho họ an trú nơi cái tâm bất thiện đó, nhìn thấy nó, đối diện nó, giữ gìn nó, ôm ấp nó, không chấp nhận nó, nhưng không bao giờ rời xa nó. Về một ngày nào đó cái tâm bất thiện nó bỗng biến mất. Cũng vậy, ví dụ như ta có một cái nỗi đau khổ, ta đừng tránh né nó. Ví dụ như có một người
[3:53]mẹ mất đứa con thì đau khổ ghê gớm, và có nhiều người cứ khuyên thôi chị quên đi, thôi chị đi đây chơi cho nó khuây khỏa, những cái lời khuyên mà tránh né cái nỗi đau đó thì lại không bao giờ làm cho cái nỗi đau biến mất. Mà hay nhất là chị hãy khổ đi, hãy an trú vào nơi cái nỗi khổ ấy, nhìn cái nỗi khổ đó đi, đối diện với nỗi khổ đó đi, vậy chứ hai ba ngày nỗi khổ biến mất á. Đây rất là lạ, và đó là nguyên tắc gọi là ôm lấy niềm đau, một nguyên tắc rất kỳ diệu, rất mầu nhiệm. Rồi có người sẽ hỏi, nói thưa Thầy, con nghèo quá rồi con an trú nơi cái nghèo nó có hết nghèo không? Và câu trả lời là hết.
[4:40]Nếu ta nghèo, thiếu trước, thốn sau, làm gì cũng không đủ thì đừng trốn cái nghèo đó bằng cách giả vờ như giàu, hoặc hoặc là bằng cách giả vờ như đi chơi khỏi cái hoàn cảnh, cái địa phương, cái khung cảnh hoàn cảnh của mình, không có, ở ngay nơi đó, chấp nhận nó, vui vẻ với nó, và xử lý mọi điều đúng từng chút một, xài từng đồng, đúng từng xu một, rồi hết nghèo. Đó là nguyên tắc á. Đây là cái nguyên tắc vàng của để ta giải quyết mọi khổ đau, mọi bất hạnh trong cuộc đời này. Mà trong mọi cái khổ đau, mọi cái bất hạnh đó, có một cái tột cùng nhất, đau khổ nhất, chính là cái chấp ngã. Và để vượt khỏi cái chấp ngã này,
[5:31]cái chấp ngã cực kỳ sâu dày, cái vô minh cực kỳ thâm căn cố đế này, chúng ta không có trốn khỏi bản ngã được, mà phải ở lại nơi bản ngã, an trú nơi bản ngã, đứng nơi bản ngã, ôm lấy bản ngã, nhưng không chấp nhận bản ngã.
[5:52]Rồi một ngày nào đó, không biết một năm nào đó, một kiếp nào đó, ta sẽ tan vỡ bản ngã. Mà cái quá trình mà an trú nơi bản ngã,
[6:05]gọi là tìm thấy chính mình đó. Tiếng gì vậy con?
[6:11]Nhìn thấy chính mình, tìm thấy chính mình, an trú nơi chính mình đó, điều bất ngờ nhất là Phật dạy nơi Tứ Niệm Xứ. Nhưng chỉ bởi vì cái ngôn ngữ thời xưa nó khác biệt với bây giờ chúng ta không hiểu được. Bây giờ ta nói, bởi vì hầu hết trong mấy nghìn năm qua, khi ta nghe nói về Tứ Niệm Xứ, ta cứ tưởng là Phật dạy là quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp, nghĩa là hiểu cái thân này là tứ đại giả hợp là vô thường, hiểu cảm giác thọ này là buồn, vui, đau khổ, thoáng qua, hiểu cái tâm này là loạn động là chấp ngã, rồi hiểu cái pháp này là đại khái là là là nhân quả, Tứ Diệu Đế hay cái gì gì đó, hiểu rồi thôi, không phải.
[7:02]Thực sự Tứ Niệm Xứ là bốn mức độ mà ta thấy được chính mình.
[7:10]Và
[7:15]nhiều người đã đi qua mà cũng không ngờ rằng mình đã đi đúng con đường Tứ Niệm Xứ của Phật. Trong đạo Phật có ba cái cái bốn: Tứ Thánh quả, Tứ thiền, và Tứ Niệm Xứ. Ba cái này rất tương đương với nhau, tương đương chứ không hoàn toàn trùng hợp. Tứ Thánh quả là ta có bốn cái quả Thánh mà Đức Phật nhắc tới nhắc lui hoài, một là gì? Quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn, quả Thánh thứ hai là Tư-đà-hàm, quả Thánh thứ ba là A-na-hàm, và quả Thánh thứ tư là A-la-hán. Mỗi một mức độ quả Thánh này được đánh giá trên đạo đức, trên công đức. Bất ngờ nhiều khi người đó chứng quả chỉ bởi vì có cái công đức lớn từ quá khứ,
[8:04]và trong cái giây phút mà chứng quả Thánh đó, vị đó đạt được một cái đạo đức rất là cao, diệt trừ được một số bản năng xấu thẳm sâu trong tâm hồn mình. Ra cứ phá vỡ được những cái bản năng xấu thì ta chứng thêm được một quả Thánh, và Phật chia ra làm bốn quả Thánh. Rồi khi nói về mức độ định tâm thì Đức Phật đưa ra bốn mức thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Và Phật cũng định nghĩa Sơ thiền là gì. Nhưng mà chỉ sợ chỉ có một cái là cái chữ "sơ" trong cái chữ Nho đó nghĩa là thứ nhất, nhưng cái chữ "sơ" trong tiếng Việt lại là sơ sài, làm cho rất nhiều người Việt Nam bị hiểu nhầm, hiểu nhầm Sơ thiền là thiền sơ sơ.
[8:56]Không có đâu, Sơ thiền vĩ đại lắm, mức thiền thứ nhất vĩ đại lắm. Mà trong Bát Chánh Đạo thì Tứ thiền nằm trong cái phần cuối cùng là Chánh định. Trước Chánh định là Chánh niệm. Trước Chánh niệm là Chánh tinh tấn. Chúng ta loay hoay ở cái Chánh tinh tấn này không biết bao nhiêu năm, bao nhiêu kiếp rồi mới đạt được cái kết quả là Chánh niệm. Chúng ta loay hoay ở cái Chánh niệm này không biết bao nhiêu năm, bao nhiêu kiếp rồi ta mới bắt đầu được cái Chánh định. Mà trong cái Chánh định nó tới bốn cái mức định, nên cái đường đi nó mới lại cái lộ trình để đi trên con đường giác ngộ theo lời Phật dạy là thiên nan vạn nan.
[9:36]Mà thời Đức Phật á là nhờ có Đức Phật và các vị A-la-hán, nên khi ta tu tiến đến mức nào thì ta được các vị cho biết là ta chứng tới đâu nên ta không bị lầm, ta không bị lầm. À ví dụ ta chứng Nhị thiền rồi mình biết mình mới Nhị thiền, ráng tu nữa. Hay mình chứng Tam quả biết mình mới Tam quả, không phải A-la-hán, rồi cứ tiến tu nữa. Nhưng mà khi Đức Phật đã nhập Niết Bàn, khi chư Thánh đã nhập Niết Bàn, sau này không còn người để ứng chứng, để xác định cho ta đang ở mức độ nào, hầu hết chúng ta tự phong cho mình, chúng ta tự phong cho mình. Và chính cái tự phong này chúng ta bị những cái quả báo thê thảm.
[10:26]Ví dụ như vào thời Đức Phật mình chứng đạt khoảng là mức thứ hai của Tứ Niệm Xứ là quán thọ...
[10:36]Thì nhiều khi chỉ tu chừng vài năm nữa cái mình chứng luôn tới cái Quán pháp, coi như A-la-hán. Nhưng vì vào cái thời khoảng 1000 năm sau Phật, Phật không còn, các vị A-la-hán không còn, ta chứng được ngang cái chỗ mà Quán thọ, quá mầu nhiệm, kỳ lạ quá, cảnh giới tâm đặc biệt quá, người ta tự cho mình là cái tâm này là tâm Phật. Phật cũng chỉ là cái tâm này. À tâm này bình đẳng với Phật, tâm này là đã là Phật tánh, đó là chân tâm. Vì ý nghĩ thầm kín đó mà ta được dạy, ta được ông thầy mình ổng dạy á chứ không ai hết trơn. Chỉ vì ý nghĩ thầm kín đó nó sai, ta tự đánh giá mình nó cao hơn cái trình độ
[11:22]thật sự của mình thì có cái quả báo của nó, có cái giá phải trả của nó. Ta mất khoảng 2000 năm nữa để đi tiếp, trôi lạc lại, phải lăn lóc trong luân hồi, trôi lăn trong luân hồi thêm vài nghìn năm nữa vì cái tội đánh giá sai cái trình độ của mình. Có những người vậy hơn 1500 năm trước cũng là một thiền sư nổi tiếng, nhưng 1500 năm sau trở thành con người chỉ là một Phật tử bình thường có tâm đạo, mộ đạo vậy thôi. Vì sao? Vì cái thời xưa lúc cũng ngộ đạo được, hiểu lầm tưởng mình đã quá cao. Đó là cái thiệt thòi của biết bao nhiêu chúng sinh khi không còn có Phật. Nên hôm nay như vậy, chúng ta cố gắng hiểu lại đúng cái lời
[12:13]dạy của Phật để mình không bị lầm đánh giá mình quá cao mà không bị mất thêm một, hai nghìn năm trôi lăn nữa. Lỡ đời này có đạt được kết quả thì ta đời sau tiến lên tiếp, chứ không phải đời sau mắc quả báo trôi lại thêm mấy nghìn năm nữa, rất là uổng phí. Nên hôm nay vậy ta nói cái bài Tứ Niệm Xứ này để ta cảnh báo chung hết. Ta cảnh báo chung hết cái sự tu tập của chúng sinh khi mà không còn có Phật thật là một cái sự thiệt thòi hết sức là lớn lao. Lớn nhất là cái hiểu lầm trình độ của mình. Cái lộ trình giác ngộ này thật là vất vả, nhưng ta không còn con đường khác để đi. Vì nếu không đi, không đạt được sự giác ngộ,
[13:02]giải thoát, chúng ta mãi mãi là đau khổ. Vì sao là ta đau khổ? Bởi vì bản chất của tâm của chúng ta, bản chất của não bộ của chúng ta là đau khổ. Tự nhiên cái bộ não của chúng ta luôn luôn là buồn khổ. Nhớ như vậy. Có lần trước sư nói, hôm nay nhắc lại một lần nữa, một chút nữa sẽ nhắc lại một lần nữa. Khi chúng ta sinh ra trên cuộc đời, vừa mới lọt lòng mẹ thì điều đầu tiên chúng ta phải làm là gì? Khóc. Tại sao chúng ta khóc? Tại sao chúng ta khóc? Bởi vì hồi nãy nghe tin cái người bạn của mình là không chịu về đi sắm Tết, thấy không? Khóc mà chảy nước mắt có một con à, không hiểu tại sao. Khó lắm chứ không phải dễ đâu, đạt được trình độ mà mắt một con khó lắm á.
[14:00]Chúng ta khóc bởi vì ta buồn khổ. Nên em bé mà vừa sinh ra, cảm giác ngập tràn của nó hết là buồn khổ và nó bật khóc liền. Đó là phản ứng tự nhiên của cơ thể. Không tin kiếm mấy đứa đó hỏi coi. Nó vừa đẻ ra hỏi: "Tại sao khóc?" Nó sẽ trả lời: "Tại vì tui buồn khổ nên tui khóc." Nhưng mà vài giây sau nó nín khóc, vì sao vậy? Bắt đầu nguyên bộ não kích hoạt, khởi động, tiết ra cái chất, một cái hóa chất tạo niềm vui là dopamine. Hóa chất đó não bắt đầu hoạt động, hóa chất bắt đầu tiết ra cái nó chặn cái cảm giác buồn khổ lại, thế là ta hết cảm giác khổ. Chúng ta đang ngồi đây cũng vậy. Não chúng ta vẫn âm thầm tiết đều đều,
[14:45]đều đều cái chất dopamine đó giữ cho chúng ta ngồi đây bình thản. Chỉ cần trong một vài giây cái não nó không tiết ra chất dopamine nữa, tất cả chúng ta ngồi đây khóc ròng mà không biết tại sao mình khóc. Vì cái bản chất tự nhiên của bộ não là buồn khổ. Trong cái nhiều cái bản chất tự nhiên của của sự đau khổ đó mà Đức Phật đã đã định nghĩa trong cái Tứ Diệu Đế, ngay cái chân lý đầu tiên Đức Phật dạy bản chất cuộc đời là đau khổ, câu này mấy nghìn năm không ai hiểu. Phải đợi cho đến khi khoa học rất tiến bộ ta mới hiểu được cái chỗ này. Ta mới hiểu được có những cái hóa chất nó điều phối cảm xúc trong não
[15:29]ta, giữ cho ta không có cảm giác khổ nên ta không hiểu lời Phật dạy. Chớ chỉ cần ngưng tiết một cái, ta hiểu lời Phật dạy liền, cuộc đời này đúng chỉ là buồn khổ, tất cả chỉ là buồn khổ. Mà nãy giờ là sư phụ nói là chỉ có hóa chất của não, còn nếu mà xét ra một loạt các vấn đề khác nữa ta mới vỡ lẽ đúng là cuộc đời thật sự chỉ là đau khổ. Nhiều yếu tố nữa nhưng hôm nay không phải lúc ta nói về Tứ Diệu Đế nên ta không đào sâu cái triết lý về khổ mà Đức Phật dạy, chúng ta chỉ nói một chút cái hóa chất trên não thôi. Thì trên não chúng ta vậy, nó còn có một cái tính chất nữa là vọng tưởng. Não ta cứ phải suy nghĩ, luôn luôn nó cứ tự nhiên,
[16:14]bản chất tự nhiên của nó là suy nghĩ. Mà ta hiểu suy nghĩ là mê mờ, là loạn động, là rào cản để đi đến sự giác ngộ.
[16:26]Và đó là bản chất tự nhiên của não, tức là bản chất tự nhiên của não là vô minh. Tự nhiên như vậy, vì nó làm sao? Vì nó loạn động. Mà loạn động nghĩa là gì? Là cứ suy nghĩ. Nên bản chất tự nhiên của bộ não là suy nghĩ mà sự suy nghĩ đó là rào cản không cho ta tiến tới sự giác ngộ. À bây giờ vậy ta tu để làm gì? Diệt trừ vọng tưởng, đừng cho bộ não suy nghĩ nữa để đạt được cái tâm thanh tịnh trong thiền định thì ta bước dần dần đi đến sự giác ngộ, đi đến sự vô ngã. Mà làm cách nào để cho tâm không còn suy nghĩ nữa? Thì đây là cả một vấn đề rất là lớn. Diệt trừ vọng tưởng là điều cực kỳ khó khăn.
[17:22]Mà nếu ta thực hành một phương pháp thiền định sai thì cái hư đầu tiên là bộ não hư trước. Bộ não hư rồi có thể ta sẽ phát điên hoặc cơ thể ta xuất hiện nhiều bệnh tật liên quan tới bộ não. Có nhiều cái bệnh lý của thân nhưng sự thật xuất phát là từ trên trên não. Ví dụ như ta bị rung tay chân là không phải bệnh của tay, không phải níu cái tay lại mà nó hết run, mà là do ở trên não nó mất một cái hóa chất, nó chặn cái tín hiệu làm rung tay lại là thế là tay ta rung liền. Còn nếu nó tiết ra được cái hóa chất đó, tay ta không run nữa. Nên người già, khi mà cái phần mà hóa chất nó chặn rung đó nó không tiết
[18:11]ra nữa thì người già tự động rung tay liền, gọi là bệnh Parkinson. Tự động rung tay liền. Còn khi ta còn trẻ, còn khỏe, bộ não ta còn tiết ra được cái hóa chất nó chặn cái rung tay thì ta không rung tay. À ờ rồi hoặc là ta bị huyết áp, bị tim mạch, bị tiểu đường, nhiều bệnh lý khác á, thực sự bệnh lý đều do bộ não ta bị lão hóa, bị hư. Nên khi ta ngồi thiền mà đúng phương pháp á, ta diệt trừ được vọng tưởng, càng lúc càng được thanh tịnh, ta không bị những bệnh lý về thân và từ từ đi tới lần lần, tiến tới sâu vào thiền định từ từ. Còn nếu ta tu sai thì nhiều khi chưa kịp tâm được yên mà não đã hư và thân đã bệnh,
[19:04]hoặc là chúng ta được thanh tịnh ở giai đoạn đầu, nhưng sau đó bắt đầu hư. Bắt đầu não hư rồi thân bệnh. Nhưng mà ban đầu thì thấy tâm mình thanh tịnh cho nên ta tự tin lắm. Ta tự tin và tuyên bố đây là con đường thiền định duy nhất, à con đường thiền định hiệu quả để giáo hóa chúng sinh, để tu tập đạt được sự giác ngộ, giải thoát vì mình thấy bản thân mình tu được thành công mà, tâm mình thanh tịnh. Nhưng không ngờ nó còn có một loại: thanh tịnh ban đầu nhưng mà tan vỡ về sau. Đây cái thứ cái thứ hai này mới là cái khó nè. Thấy không? Cái thứ nhất là sai ngay từ ban đầu, tu sai, chỉ cần một, hai tháng sau là bắt đầu phát bệnh
[19:47]liền, não bắt đầu hư nói lảm nhảm và cơ thể bắt đầu phát bệnh. Đó là cái mà biết nó sai liền. Nhưng còn loại cái thứ hai: sai mà không biết sai. Vì sao? Vì tu một thời gian tâm thanh tịnh liền, nhưng không ngờ nó cho mình thanh tịnh thời gian đầu thôi, được năm, hai năm thôi hoặc là ba năm, bốn năm thôi, thậm chí có người tới được 10 năm, sau đó bắt đầu bệnh, bắt đầu bộ não hư rồi thân xuất hiện đủ thứ bệnh hết trơn. Và cái thứ hai này mới đáng sợ. Cái thứ hai mà cho đúng bước đầu mà sai bước sau. Và ta cố gắng đi tìm một phương pháp nào tránh được, nó đúng và đúng mãi mãi. Đúng giai đoạn đầu, càng tu càng đúng, càng tu càng ổn, như vậy.
[20:31]Nãy giờ ngồi nãy giờ có mệt không kìa? Ha? Phương Nhứt thấy con so so cái chân hoài, tội quá vậy. Ngồi nãy giờ có mỏi chưa? Mọi người có mỏi chân chưa hả? Ngồi nãy giờ mỏi chưa? Nếu mỏi rồi ta đứng lên chút xíu đi tại không biết bao giờ sư phụ ngừng, không biết bao giờ sư phụ ngừng. Thôi đứng lên đi, đứng lên đi, đứng lên chút xíu đi, ngoẹo tay ngoẹo chân qua đi, ẹo qua ẹo lại chút đi. Không biết bao giờ sư phụ ngừng nữa. Thấy mọi người stand standing up doing something, do something, exercise a little bit before we continue the the the the reach.
[21:12]Yes, good good, yes. Yeah, do something for your leg, yeah. Mario bụng bự quá không làm gì được. Mario, yeah. Big abdomen, cannot do anything. Rồi ẹo qua ẹo lại chút xíu đi, ẹo lum sa de, vài giây nữa đi rồi bắt đầu ngồi xuống nghe tiếp. Không biết bao giờ sư phụ ngừng. À thôi ngồi xuống, ngồi xuống. Thank you.
[21:44]Trong một nguyên tắc nữa của thiền định nữa là thế này:
[21:51]Nhiều người phải cần đi bên ngoài nữa hả? Khổ ghê, đủ thứ chuyện.
[21:57]Đáng lẽ sau khi mà xướng nghi giảng tụi con phải cho nghỉ 15 phút mới đúng á con, chứ đừng mời sư lên sớm, cho nhiều người ngồi vừa nghe vừa đau khổ kìa, dòm mặt thấy đau khổ. Cái nguyên tắc là thế này. Vọng tưởng là một cái gì ta muốn nó hết nhưng ta không được đụng tới nó.
[22:20]Đây là một cái tế nhị, một nghịch lý của thiền định.
[22:25]Vọng tưởng là một cái sai, một cái sự ngăn cản trên con đường đi đến giải thoát, nên ta cần nó phải chấm dứt, nhưng ta không được đụng tới nó, ta đụng tới nó là ta sai lầm. Nếu ta tu đúng, vọng tưởng tự nó hết, chứ ta không đụng tới nó. Cái nguyên tắc đầu tiên của thiền định. Nên ai mà tu tập thiền định mà cứ muốn tiêu diệt vọng tưởng, cứ nhắm tới vọng tưởng chiến đấu với nó, gào thét với nó, ta sai đầu tiên, sẽ xuất hiện bệnh lý liền, bệnh lý trên não và bệnh lý trên thân. Sáng mai là ngày mùng một, sư sẽ giảng cái bài nghịch lý của hạnh phúc cũng vậy. Giống như ta mơ ước hạnh phúc, đi tìm hạnh phúc,
[23:09]nhưng ta không được đụng tới nó, không được nói tới nó, không được nhắc tới nó, không được sờ tới nó, đụng tới nó là nó biến mất liền. Hạnh phúc là một cái gì cũng kỳ lạ như vậy. Thì hôm nay vậy, bây giờ đây ta nói về vọng tưởng trong thiền định cũng vậy. Ta muốn nó hết nhưng không được đụng tới nó, phải tu cách gì đó rồi nó tự biến mất, vậy.
[23:35]Đầu tiên, giống như là
[23:40]để có thể đạt được chánh định, hoặc là gần hơn là chánh niệm trong Bát Chánh Đạo, thì Phật dạy ta phải xoay xở tu tập trước đó với cái gì?
[23:52]Với cái gì? Một loạt các chánh, từ chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, rồi mới bắt đầu tới cái chánh niệm, chánh định. Nên cái chánh niệm, chánh định là cái chúng ta cần, nhưng mà trước đó phải xoay xở với rất nhiều cái công phu trước đó, cả một cuộc đời, cả một đời sống, cả một lý tưởng, cả một ước mơ, bao nhiêu mồ hôi nước mắt ở trước đó, đi qua không biết bao nhiêu thời gian, ta mới bắt đầu có thể có được chánh niệm và chánh định. Thì trong cái tứ niệm xứ này cũng vậy, bước vô đừng nói tới chuyện quán thân trên thân liền, vì tới quán thân trên thân là bằng với chứng Sơ thiền rồi.
[24:40]Cái đầu tiên cũng vậy, ta phải huân tập rất nhiều cái công đức và đạo đức. Nhưng mà trong cái công đức thì quan trọng nhất là lòng tôn kính các bậc giác ngộ như Đức Phật, các vị A-la-hán, vì kính thầy mới được làm thầy, tôn kính các bậc giác ngộ ta mới được giác ngộ, đó là nhân quả không còn con đường nào khác. Cái thứ hai nữa, ta muốn giác ngộ thì ta cũng phải giúp cho mọi người cùng được giác ngộ, không còn con đường nào khác. Cái điều gì tốt đẹp mà ta ước mơ, thì ta phải mưu cầu cho người khác trước, nhiều khi trước ta luôn đó. Chứ đừng bao giờ biết có một cái điều gì tốt đẹp, hay ho, mình cứ lặng lẽ đi tìm cho riêng một mình mình thì ta sẽ không
[25:28]bao giờ đạt được, hoặc đạt được cũng chỉ là một điều thành công nhỏ bé mà thôi. Ví dụ như ta biết cái phương thuốc đó là đem lại sức khỏe, đừng mua lén mua uống một mình, phải kể, tiết lộ cho mọi người cùng biết. Ta biết một phương pháp luyện tập nào rất là hiệu quả cho sức khỏe, đừng luyện một mình, chỉ cho mọi người cùng tập. Ta biết có một cái kiến thức nào đó nó lợi ích cho cuộc sống này, đừng để yên biết một mình, mà ráng share, truyền cho mọi người cùng biết để trong cuộc sống này ai cũng được lợi ích, đó là nguyên tắc. Thì cái đạo giác ngộ cũng như vậy, ta muốn đi tìm sự giác ngộ thì đừng đi một mình,
[26:17]những cái đạo lý mà ta có được đều tìm cách share cho mọi người, giúp cho mọi người ai cũng cùng tu với ta, mà thậm chí trên con đường tu tập đó có những người tiến nhanh hơn ta, càng tốt. Ta càng mừng, và chắc chắn sẽ có những người đồng hành với ta mà họ vượt lên trước ta, điều đó lại càng rất là tốt, chứ đừng nghĩ ô tôi tôi là chỉ ổng đó, mà nay sao ổng hơn tôi được. Không, tôi chỉ ổng nhưng ổng vẫn có thể hơn tôi. Mà điều đó càng tốt, ý như vậy. Giống như võ sư vậy đó, đâu phải ông võ sư nào cũng là giỏi hơn đệ tử. Có nhiều ông võ sư đánh không lại đệ tử mình, mặc dù ổng dạy đệ tử, nhưng mà nhiều khi có những người đệ tử có
[26:58]khiếu xuất sắc và có sức khỏe, có nội lực tiềm tàng, đánh bay ông thầy liền. Nhưng chỉ có cái là đạo nghĩa thầy trò thì học trò không bao giờ dám ra tay mạnh với thầy thôi, nhưng mà có những khi thầy trò vẫn giỏi hơn thầy. Là bạn mình mình kèm cho đi tu, phải không, ổng vô đi tu rồi là nhiều khi tu còn giỏi hơn mình. Ví dụ như như sư phụ nói vậy, cố gắng một năm ta độ một người, mình đi chùa mười năm, mình gặp cái ông bạn ở bên lề đường uống cà phê chơi, mình rủ ổng đi chùa, ổng nghe vui vui ổng đi. Ổng đi ổng tu một năm một ổng qua mặt mình luôn. Bỗng nhiên thầy bạn yêu mến ổng, ổng làm được rất nhiều công đức,
[27:36]cái hiểu đạo rất sâu, ngồi thiền rất là tốt, mình làm không lại. Mà trong khi mình tu trước ổng mười năm, ổng đi sau mình một năm ổng qua mặt mình luôn, đó là chuyện rất là bình thường, vậy, cuộc đời là vậy. Và có cái điều nữa là đừng bao giờ bí mật tự khen mình. Cái trong cái việc tu tập thiền định và rất nhiều điều khác trong cuộc đời này, có một cái âm thầm không ai biết không ai thấy, mà phá vỡ hết mọi công đức của mình đó là bí mật âm thầm tự khen mình. Ta phải tránh cái ý nghĩ ở trong đầu, vì ý nghĩ không ai kiểm soát được. Phật chặn ta lại cũng không kịp, Chư Thiên trên trời chặn ta lại cũng không kịp.
[28:21]Chỉ có ta tự khởi ý nghĩ tự khen mình, rồi cuộc đời ta tan vỡ, ta cũng không biết tại sao, mọi người nhìn cũng không biết tại sao. Nói trời đó trước ông đó ổng giỏi ghê sao bữa nay tự nhiên ổng nói năng lắp bắp, làm gì cũng không được hết trơn. Hồi trước hát hay ghê giờ lên hát trước quên sau, lạc giọng đủ thứ chuyện hết. Cũng không ai biết tại sao, kêu ổng giỏi quá mà sao giờ vậy sao. Nói ông đó đánh võ vô địch thiên hạ, bữa nọ bị người ta hạ đo ván luôn, knock out luôn. Không ai biết tại sao, thấy ổng đang sung, đang phong độ vậy bỗng nhiên thất bại, không ai biết trong đầu ổng cứ tự khen ổng riết á.
[28:54]Nên trong cái sự tu tập cũng vậy, ta tối kỵ cái việc tự khen mình vì nó phá vỡ hết mọi công đức, mà điều này không ai cản mình được, nó bí mật trong tâm mà, ai biết? Nên cái việc mà đầu tiên ta phải huân tập rất nhiều công đức và đạo đức thì để ý giùm ba điều: một là lòng tôn kính đối với Đấng Giác Ngộ, hai là phải giúp nhau cùng tu tập chứ đừng có tu một mình, và thứ ba, đừng bí mật tự khen mình. Đó những cái điều chúng ta cần chuẩn bị trên con đường tu tập ha.
[29:30]Rồi khi mà bắt đầu vào tu tập thì vọng tưởng chưa hết, vọng tưởng còn. Tuy vọng tưởng còn, nhưng đừng để những suy nghĩ sai lầm bậy bạ xuất hiện trong tâm, gọi là cái chánh tư duy. Tại vì nếu ta sai lầm, ta có những cái suy nghĩ sai lầm trong tâm, nhiều khi dắt ta đi nhiều kiếp, trôi lạc mất tiêu rất là uổng. Như có một cái người Phật tử phê bình phê bình sư phụ, làm điều đó là sư phụ làm điều đó là sai, tôi cũng không trả lời, thôi. Nhưng đến một ngày nào cả hơn một năm trời, người đó mới phát hiện mình nghĩ như vậy là bậy, đến xin sám hối. Sư mới nói phải cẩn thận. Vì một ý nghĩ như vậy, nhiều khi đi mất mười lăm kiếp không quay lại.
[30:21]Mười lăm kiếp sau mới lại tìm lại gặp sư phụ lại, mà không biết có gặp hay không. Nhưng chỉ bởi vì không hiểu sư phụ, thấy cái việc sư phụ làm rồi mình nghĩ theo ý mình, mình nghĩ đó là sai. Chứ đâu biết sư phụ làm gì sư cũng có cái chủ ý đằng sau, cái chủ ý thâm sâu mình không hiểu, cứ phê bình tầm bậy tầm bạ, mất đi mười lăm kiếp không gặp lại sư phụ. Nhưng cũng may là người đó hơn một năm thì hiểu ra, quay lại sám hối. Vì ta cẩn thận những ý nghĩ trong tâm mình, tâm ta chưa được thanh tịnh, nhưng đừng để nó nó nghĩ sai. Rồi bắt đầu khi ta bắt đầu thực hành ngồi thiền, thì ngồi ngồi đúng cách.
[31:02]Mà trong cái ngồi đúng cách đó, thì ta để ý cái hơi thở là nhẹ, ít, êm, nhớ như vậy. Vì ta biết rằng hơi thở là giống như cái mũi tên vậy đó, nó là cái thước đo cái nội tâm ta. Khi tâm ta loạn động, hơi thở sẽ sẽ mạnh. Khi nội tâm ta thanh tịnh, hơi thở sẽ êm. Đó là ta nói cái một cái định lý một chiều đó. Tâm ta động thì nó đưa đến hơi thở mạnh, tâm ta yên thì đưa đến hơi thở nó nhẹ.
[31:37]Nhưng mà nó cũng có cái chiều ngược lại, nếu ta thở êm, làm tâm ta cũng yên. À, nên ở chỗ này, ta không có thò tay điều khiển cái ý nghĩ, nhưng ta được quyền điều khiển hơi thở. Khéo léo điều khiển hơi thở nhẹ, ít, êm, ta đang điều khiển ngược lại cái tâm đó, điều khiển ngược lại cái vọng tưởng của mình, chứ đừng khờ dại trực tiếp mà đấu với đấu đá với vọng tưởng là ta hư bộ não liền. Nên chỉ ta chỉ điều chỉnh ở chỗ cái giống như một cái núm vặn á, ta chỉ điều chỉnh ở nơi cái hơi thở, mà ta đang tác động ngược lại. cái tâm của mình, cái suy nghĩ của mình. Mà tại sao lại không điều khiển? Tại sao lại phải điều khiển?
[32:26]Mà sư phụ thường hay nói là: "Biết mà không điều khiển". Một lát nữa nghe từ từ rồi tới cái chỗ đừng biết luôn. Nhưng ban đầu quý vị cứ khéo léo đừng để hơi thở mạnh, khéo léo giữ cho hơi thở nhẹ, ít, êm là ta đang tác động vào vào nội tâm của mình. Nên sư phụ dùng cái chữ là khéo léo giữ cho tâm nhẹ, ít, êm, chứ không phải can thiệp cái hơi thở một cách thô bạo. Ta can thiệp trực tiếp vào cái suy nghĩ là đại bậy á, hư bộ não liền. Đó là một cái can thiệp thô bạo, hết sức sai lầm, ta không được đụng tới. Thì bây giờ ta nói rằng hơi thở nó tác động ngược lại cái tâm ta, nên ta chỉ điều chỉnh hơi thở thôi, nhưng đừng can thiệp thô bạo vào hơi thở.
[33:21]Mà chỉ là gì? Sư phụ dùng chữ "khéo léo". Khéo léo giữ cho hơi thở nhẹ, ít, êm. Đó. Cũng giống như là biết mà không điều khiển thô bạo, khéo léo, nhẹ nhàng. Rồi, đó là một cái để ta xoay xở làm cho vọng tưởng dịu bớt. Cái xoay xở thứ hai nữa là quán thân này vô thường, lúc nào cũng thấy thân này là vô thường, có sinh rồi có diệt. Thân này lớn lên, phát triển, từ từ trước sau cũng già, cũng bệnh, cũng chết. Chết rồi từ từ cái thân này cũng tiêu hoại mất luôn. Cái điều nhận định đó, nhận thức đó, nó là một điều khách quan, là điều có thật, chẳng ai tránh khỏi, và ta phải đối diện với nó. Không được tránh né. Không được tránh né cái chết.
[34:13]Phải nhìn thẳng vào cái chết, nhìn thẳng vào cái vô thường, thấy đó là một điều hiển nhiên, đó cũng là một sự can đảm. Rồi, ta vừa tu tập, lại vừa quán thân vô thường, thấy cái thế giới này cũng vô thường. Vừa thở như vậy, nhưng vừa tác ý diệt trừ những cái lầm chấp sâu kín, những tập khí xấu xa, giống như là tham, sân, kiêu mạn,
[34:44]những cái sự loạn động thái quá, những cái cái tập khí xấu đó ta phải diệt trừ. Là cũng vậy, cũng không phải là can thiệp thô bạo, mà chỉ tự ra lệnh rồi tâm mình tự nó hoạt động. Ví dụ như ta phát hiện ta có tham, à mình thấy mình cứ thích sao mình có nhiều tiền, hoặc là thấy ai nhiều tiền cái mình mình động tâm lên, mình thích được như vậy. Thấy ai đi một chiếc xe đẹp, mình thích có chiếc xe giống như họ. Mình thấy ai có ngôi nhà lầu cao, mình cũng thích có như họ. Rồi mình nghe nói ai có tiền tỷ, tiền triệu, mình cũng thích có được như họ. Cái thích có được tài sản, tiền bạc như họ gọi là tâm tham,
[35:29]và ta phải diệt nó đi, ta không tham, sống trên đời đừng tham. Ta cứ sống hết sức là đạo đức, tốt đẹp với những gì mình có. Hồi nãy cũng nói đó, nghèo mà mình an trú trong cái nghèo, hết nghèo không? Hết. Nếu ngay trong cái nghèo, ta xài đúng từng đồng, xử sự đúng trong từng trường hợp, chắc chắn phước ta vượt lên và ta hết nghèo. Vậy nên diệt cái tâm tham, rồi diệt cái tâm sân, diệt cái tâm kiêu mạn, diệt cái tâm ích kỷ, những cái tranh đua, những cái hơn thua, đó là để ta thành lập những cái đạo đức của ta từ từ, từ từ. Mà cái đó là bằng cái gì? Bằng tự ra lệnh cho chính mình. Phật gọi là "như lý tác ý", tự ra lệnh cho chính mình, vì biết mình ích kỷ.
[36:20]Nó vô hình, biết đâu mà mà mà rờ nó, mà mà nhúm nó, mà nhổ nó được, mà diệt nó được. Cứ ra lệnh thôi, nói: "Đừng sống ích kỷ, hãy sống vì mọi người." Cứ nói câu đó thôi, mà mình cũng không biết ích kỷ nằm đâu. Nhưng mình cứ gửi vào tâm mình những cái mệnh lệnh như vậy, cứ nhắc tự nhắc mình, tự bảo mình: "Đừng sống ích kỷ, hãy sống vị tha, hãy sống vì người." Cứ nói như vậy, vậy mà cái tâm ích kỷ nó vô hình sâu trong tâm mình, bỗng nhiên nó bị mất dần, mất dần không hay. Cũng giống như vậy, lần thầy nói chuyện với ông người nước ngoài, thì ổng mới hỏi thầy vậy chứ cái lõi của đạo đức, cái quan trọng đạo đức là gì?
[36:57]Thầy nói: "Yêu thương mọi người." Ổng nói: "Làm sao yêu thương được?" Tại vì ổng cũng cảm thấy ổng sống hơn nửa đời người mà rất khó yêu thương ai. Sư phụ mới nói: "It took me 5 years." Nó lấy tôi mất 5 năm đầu để tập yêu thương. Cứ mỗi ngày tôi phải tự ra lệnh cho chính mình là phải yêu thương mọi người, yêu thương mọi loài. Dù nhắc cho chính mình 2, 3 năm trôi qua chả thấy gì, chả thấy thương ai, lòng cứ khô queo. Nhưng mà qua 5 năm rồi, bắt đầu nó xuất hiện chút xíu. Trong một lần đứng bên lề đường, nhìn dòng người đông đúc đi qua lại trên đường phố, bỗng nhiên mình thấy mình yêu thương được mọi người.
[37:40]À, lúc đó bắt đầu mới xuất hiện và mất 5 năm. Mà mới thấy chút xíu thôi. Chút xíu thì chưa đâu đủ đâu
[37:49]cho cái đạo đức của người tu hành. Cứ phải tích lũy mãi, 10 năm, 10 kiếp, cho đến khi cái tình yêu thương mình tràn ngập khắp nơi, chứ không phải dễ. Đó, nghĩa là trên con đường mà thành lập cái đạo đức vậy, ta phải tự nhắc mình, tự ra lệnh cho chính mình. Chứ còn những cái đạo đức đó vô hình, hoặc là những cái tâm xấu đó vô hình, mình không biết nó ở đâu để rờ, để nắn, để chỉnh, để sửa. Nhưng cứ vô tư gửi những cái mệnh lệnh cho chính mình thì nó tự nó đi vào trong tâm, nó sẽ sửa tâm ta lại đúng dần, đúng dần vậy.
[38:26]Một điều ta nhận định là thế này nữa:
[38:30]khi bắt đầu ta có trí tuệ thì
[38:36]cái trí tuệ đầu tiên mà ta hiểu là luật nhân quả. À, ban đầu ta hiểu nhân quả là do người khác dạy ta, do ta đọc sách. Ta làm một điều ác, thế nào ta phải chịu một điều đau khổ; ta làm một điều thiện, sau này ta được một điều hạnh phúc. Nhưng mà luật nhân quả nó phức tạp hơn rất là nhiều. Nếu ta hiểu về nó, ta thấy nó quá sâu xa đi, phải nói là nó có thể học lên tới hết trung học, tới đại học, tới tiến sĩ luôn vẫn chưa hết được những kiến thức về luật nhân quả. Luật nhân quả nó sâu xa đến như vậy, mà ta càng tiến đạo tới đâu, càng có trí tuệ tới đâu thì mới thấy luật nhân quả mênh mông chưa bao giờ hết, chưa bao giờ dừng lại.
[39:18]Chỉ tới khi mà thành Phật thôi mới có thể hiểu được nhân quả. Nhưng mà tuy nhiên, ta hiểu được phần nào thì ta ta có trí tuệ thêm, có đạo đức thêm phần nấy. Và sau một thời gian ta vất vả, vật lộn với nội tâm mình, vừa ngồi thiền định, vừa tu sửa đạo đức, vừa học nhân quả, rồi tự ta dần dần hiểu về nhân quả, dần dần hiểu nhân quả, dần dần. Mà khi hiểu nhân quả dần dần thì nó xuất hiện một cái ý niệm thế này:
[39:51]"Trong suốt vô lượng kiếp qua, ta đã làm rất nhiều việc bất thiện." Đó là điều giác ngộ đầu tiên, điều giác ngộ đầu tiên. Nếu ai chưa có ý nghĩ đó thì người này chưa, việc tu hành chưa có kết quả.
[40:15]Nhớ giùm sư phụ điều này. Để đánh giá mình nghĩa là sau nhiều năm tháng xoay xở, vật lộn với nội tâm trong sự tu tập cho đến cái ngày mình nhận ra được một điều: "Trong vô lượng kiếp qua, ta đã làm rất nhiều việc bất thiện." Sư phụ nói câu này nhiều người chưa hiểu đâu. Phải tu cho kỹ rồi mới hiểu cái chỗ này. Tại vì sao vậy? Vì khi ta hiểu sâu sắc rồi, ta mới phát hiện mình nhúc nhích cái tay, cái chân gì nó cũng có cái bất thiện đi kèm theo hết trơn. Còn ban đầu, bây giờ nói: "À, ông có tội lắm đó nha!" Ngơ ngơ ra nói: "Sao tự nhiên sao thầy mắng tôi có tội? Tôi biết đi chùa, ăn chay, niệm Phật mà sao thầy mắng tôi có tội?"
[41:02]Mình thấy mình không có tội gì hết, không thấy, không ai thấy mình có lỗi. Đang ngồi đây, mấy nghìn người đang ngồi đây đón giao thừa, bây giờ hỏi: "Có tội gì không?" Ngơ ngơ không thấy. Không ai thấy mình có tội, không ai thấy mình có lỗi. Nhưng mà phải tu cho đến cái ngày cái tâm mình bớt loạn động, cái trí tuệ mình phát triển, chợt hiểu ra một điều: "Trong vô lượng kiếp, ta đã làm rất nhiều điều bất thiện."
[41:34]Những điều bất thiện đó nó theo ta từ trong cái hành vi, từ trong cái dáng ngồi, dáng đi, dáng đứng, từng trong cái lời nói, từng trong sự cư xử của chúng ta. Ta bỏ qua rất nhiều việc thiện cần phải làm mà ta rất dễ dàng vướng vào một việc bất thiện nào đó trong vô lượng kiếp luân hồi.
[41:55]Sư phụ nói điều này, sư phụ cam đoan là đúng á, nhưng mà nhiều người không hiểu tại vì ta tu chưa tới cái mức đó. Thì tu tới cái mức nào đó ta nhận ra một điều ta đã làm rất nhiều điều bất thiện trong vô số kiếp luân hồi. Phải thấm cái điều này đầu tiên giùm sư phụ, nếu muốn bước vào con đường Tứ Niệm Xứ. Phải thấm điều này trước, hiểu điều này trước. Thì khi mà ta giác ngộ được cái điều đầu tiên này, trong vô lượng kiếp ta đã làm vô số điều bất thiện và ngộ được một điều đầu tiên nữa này, thực sự thân tâm ta là một khối tội, thân tâm ta là kết quả của tội lỗi từ vô lượng kiếp.
[42:43]Người nào nhận ra được điều đó là người giác ngộ đầu tiên, không biết có nhận nổi hay không thôi.
[42:51]Mọi người thấy ai cũng đẹp trai, thấy tôi cũng khỏe mạnh bình thường, có gì đâu mà nói tội lỗi. Nhưng phải ngộ được điều đầu tiên vậy. Mà cái điều giác ngộ đầu tiên này thấy không, phải rất là trí tuệ, rất là đạo đức và tâm cũng phải bắt đầu có cái sự thanh tịnh, bớt vọng tưởng ta mới ngộ được cái điều đầu tiên này. Và cái điều này sư phụ gọi là quán tội trên tội. Tứ Niệm Xứ là không có cái quán tội trên tội. Tứ Niệm Xứ chỉ có gì, quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Bốn cái mức này là bốn cái mức đã chứng à. Còn cái mức mà chuẩn bị để chứng chính là quán tội trên tội.
[43:38]Nhận ra được mình
[43:42]ta tạo vô số nghiệp bất thiện từ vô lượng kiếp và cái ý nghĩ đó nó cứ bám theo mình trong từng giờ, từng phút á, trong từng giây, từng phút của cuộc sống. Đây là cái chánh niệm đặc biệt, đây là một công án đặc biệt, đây là một cái đề mục đặc biệt.
[44:04]Thời Đức Phật vậy, có nhiều vị Tỳ kheo tu trong đại chúng tâm bắt đầu được thanh tịnh, bỗng nhiên tác ý là muốn đi vào cái sự thiền định chuyên sâu, cái đến gặp Đức Phật. Nói, "Bạch Thế Tôn, con muốn rời đại chúng để được đến một chỗ u tịch mà tập trung thiền định. Xin Thế Tôn cho con một đề mục để tu tập thiền định, để quán tưởng." Chứ trước đó bộ không tu hả, trước đó không có đề mục hả? Trước đó có, sao không có, cũng tu dữ lắm á. Nhưng bỗng nhiên đến một lúc nào đó, các ngài thấy ngài có một cái điều cần phải vượt qua mà không biết đó là cái gì, thì đến gặp xin Phật, Phật cho một đề mục. Thì với cái trí tuệ siêu việt của Phật,
[44:49]Phật nhìn mỗi người, Phật biết trong tâm vướng cái chỗ nào, nghiệp đời xưa ra sao, Phật cho một đề mục, ổng đi vài tháng ổng chứng đạo liền, tại đánh vỡ ngay cái vướng mắc trong nội tâm nhiều kiếp của ổng. À có ông thì chấp cái gì thường, Phật cho quán vô thường; ông chấp thân, Phật cho quán thân bất tịnh, vân vân, vậy đó. Ông thì Phật cho hơi thở, đúng cái vướng thẳm sâu trong nội tâm của ổng. Vị Tỳ kheo mang cái đề mục của Phật đi vào trong rừng ngồi mấy tháng sau đắc đạo, vì Phật nói được điều đó. Bây giờ không có Phật thì ta tu diện chung chung, nhưng chắc chắn có một cái chung: tất cả chúng ta đều vướng một điều chung giống nhau là tội lỗi từ vô lượng kiếp.
[45:33]À đây là một đề mục chung, tất cả chúng ta đều giống nhau. Trước khi chúng ta có thể đạt được cái quán thân trên thân, ta phải bỗng nhiên nó xuất hiện một cái trạng thái gọi là quán tội trên tội trước. Cái ý nghĩ cái chánh niệm lúc nào cũng nhớ
[45:54]thân tâm này là một khối tội lỗi, nó vằng vặc nó hiện hữu. Và nếu ai hỏi lúc này ai hỏi, "Chính mình là gì?" thì cái câu trả lời của mình là gì? Chính mình là là gì?
[47:16]Có rồi. Ừm, nó nhảy cái kia hả con?
[47:23]À, nó nhảy cái cầu dao. Ghi lại. Khi mà mình sau nhiều năm tháng như vậy tu tập, ta xoay xở đến khi ta đạt được cái giác ngộ đầu tiên là quán tội trên tội, thấy thân tâm này là một khối tội lỗi, nếu cái ý đó nó cứ vằng vặc vằng vặc đi theo mình và nó chặn đứng mọi cái vọng tưởng hết.
[47:45]À, thế là trước đây cái vọng tưởng nó thường xuyên, nó xảy ra nó nghĩ điều này, nghĩ điều kia. Nhưng bỗng khi nó hiện ra được cái quán tội trên tội, ta an trú nơi chính mình, mà cái chính mình này là chính là gì? Tội. Bỗng nhiên vọng tưởng không khởi được. Vọng tưởng nó bị chặn lại hết, bị chặn lại hết. Đây là cái đầu tiên mà để ta bắt đầu bước vào thiền định là cái quán tội trên tội. Cái này Phật không có dạy, bởi vì căn cơ các vị Tỳ kheo ngày xưa các vị không bị cái này, nên Phật dạy từ quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp chứng luôn. Còn thời nay cách Phật đã xa, tất cả chúng ta đều bị nghiệp rất là nặng.
[48:25]Thân tâm này là một khối tội lỗi. Tu cho đến ngày ta nhận ra được cái đó và cái lúc nào cũng thấy mình là một khối tội. Bây giờ ai hỏi, "Anh có tìm thấy chính mình chưa?" nói, "Tôi thấy rồi. Chính mình sao? Là tội lỗi." Câu trả lời đúng nhất lúc đó. Giai đoạn này là đúng nhất lúc đó. Thấy chính mình là tội lỗi. Mà khi lúc nào cũng thấy chính mình là tội lỗi, bỗng nhiên các vọng tưởng không vô được. Các vọng tưởng muốn khởi lên cái là tự nhiên nó giữ trở lại cái cái ý niệm mà cái cảm giác là cảm giác nơi chính mình, nơi toàn thân của mình. Mà nó không phải nơi cái thân này. Nó là một cảm giác gì nó vô hình vô hình.
[49:07]Nhưng mà giúp cho mình cứ an trú vào đó, chú ý vào đó. Vọng tưởng muốn khởi lên cái bị nó gạt ra liền, nó giữ lại cái chỗ chính mình đó. Và cái chính mình đó là một cái khối tội. Đây là cái bước đầu tiên để chúng ta đi vào Tứ Niệm Xứ, mà nói cái này chưa phải Tứ Niệm Xứ. Cái này là cái bước sơ sơ đẳng ban đầu nhưng rất là có lợi. Mà về đạo lý, về nhân quả thì cái ý niệm rằng thấy chính mình là một cái tội lỗi nó là một loại đạo đức. Nó vừa có cái tác dụng sám hối nghiệp của vô lượng kiếp, mà nó vừa có cái tác dụng là đạo đức khiêm hạ. Khi lúc nào cũng nhớ mình là một khối tội, mình không cách nào kiêu mạn nổi hết trơn á. Không cách nào kiêu mạn nổi.
[49:55]Giờ có ai khen mình lên tới trời rồi mình cũng cười cười chơi vui. Tại sao? Tại chính mình biết rằng mình là tội lỗi. Cái ý niệm nó cứ vằng vặc vằng vặc nó giữ chặt lấy cái thân tâm của mình, nó quyện chặt thân tâm của mình, không cho vọng tưởng khác đi vô, mà cũng không cho những lời khen hay tác động làm hư tâm mình, mà chính mình không bao giờ khởi lên ý nghĩ thầm kín tự khen mình được. Nên cái đầu tiên là cái quán tội trên tội rất là mầu nhiệm, phải đi qua cái cửa này trước. Mà ta không đi qua được cái cửa này là bởi vì sao? Vì ta không khiêm hạ, không thấy được lỗi mình, không hiểu được nhân quả sâu xa, không khởi lên được trí tuệ nhìn
[50:34]ngược lại quá khứ vô lượng kiếp, thấy mình quá nhiều điều bất thiện và cũng không thấy được những cái lỗi lầm trong hiện tại của mình. Khi chúng ta có trí tuệ, mà nhúc nhích tay chân mình phát hiện ra, "Ồ, lẽ ra mình làm cái này nó hay hơn. Lẽ ra mình nói lời kia nó đúng hơn." Nhưng mà ta cứ sai. Ta sai trong cái cử chỉ, ta sai trong lời nói, cứ sai suốt trong cuộc sống của mình. Đến khi mà ngộ rồi mới phát hiện thực ra, đó kiếp này biết đạo rồi đó á, mà nhúc nhích cái là sai, nhúc nhích cái là sai, huống hồ vô lượng kiếp xưa chưa biết gì, chỉ tội lỗi. Cái người mà nói câu đó khẳng định là người bắt đầu ngộ cái bước đầu tiên.
[51:12]Mà vọng tưởng không đánh vô được. Mỗi lần mà tâm nó muốn khởi cái gì bậy bạ, tự nhiên nó bị cái ý niệm tâm ta là một khối tội, nó giữ lại đó, không cho đi ra, không cho trôi dạt nữa. À và ta nhìn vào người đó ta biết liền. Ta nhìn vào người đó, cái cung cách người đó sống, họ thanh thản, họ sống họ có trách nhiệm nhưng họ thanh thản là bởi vì vọng tưởng khó đánh được rồi, vì do lúc nào họ cũng thấy họ là tội. Và cái cái tội đó nó không phải là một ý nghĩ nữa, mà nó là một cái cảm giác nó hiện ra nơi thân mình, nó chặn hết mọi cái vọng tưởng đánh vào. Đây là cái đầu tiên rất là hay. Tuy nhiên cái giai đoạn này ta cũng cẩn thận cái hơi thở.
[51:56]Mà lúc này vậy, thì có nói rằng Phật có dạy là ta phải biết toàn thân khi ngồi thiền. Phật chỉ nói là biết toàn thân tại có nhiều điều tế nhị Phật không nói. Nhưng mà hôm nay thì ta không cần tế nhị, ta nói thẳng ra luôn. Ở trong cái an trú toàn thân đó, ta phải biết tới tận đáy bụng, huyệt Hội Âm.
[52:19]Có một người nhắn tin cho sư phụ nói, "Thưa sư phụ, con phát hiện ra rằng cái hội âm, cái hậu môn mình là chính mình." Sư phụ nói không phải. Nhưng mà người đó khăng khăng. Khăng khăng là vì sao? Vì khi để tâm ở đó thấy yên quá. Sư phụ nói không phải. Chính mình đâu mà ở dưới hậu môn. Nhưng khi ta để tâm được ở đáy bụng, ở hội âm thì nó có cái công năng nó chữa lành những khiếm khuyết trên não của ta, và nó đẩy ta đi vào chính mình sâu dần, sâu dần đi qua cái quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp. Cái nó có tác động về kỹ thuật, và nó cũng có cái tác động về cái đạo đức khiêm hạ. Khi ta để tâm rất thấp thì mình không kiêu mạn được.
[53:02]Cho nên cái để tâm ở dưới đáy bụng, ở dưới huyệt hội âm, nó có tác động về y lý, về kỹ thuật và cũng về đạo đức. Đây, ngồi thiền mà ta biết toàn thân nhưng không bao giờ được rời cái đáy bụng, hội âm. Nó có cái tác dụng kỹ thuật. Cho nên là tới cái giai đoạn đó nó đi kèm với nhau. Cái kỹ thuật mà ta biết an trú được dưới đáy bụng, hội âm và thấy thân tâm này là một khối tội, cái cảm giác nó cứ vằng vặc vằng vặc nó giữ tâm ta trong thanh tịnh, vọng tưởng đánh không được. Thì, nhưng lúc đó coi chừng hơi thở. À. Vì khi mà cái tâm ta để dưới đáy bụng, hơi thở nó rất là rõ, và nó rõ quá, nó kéo cái chú ý ta vào hơi thở.
[53:51]Lát nữa sư phụ nói lại.
[53:56]Nó có những điều làm cho tâm ta hướng ngoại. Cái hướng ngoại đầu tiên là gì? Là những cái cảnh quan ta nhìn thấy người này, ta nhìn thấy người kia, tai ta nghe tiếng này, mắt ta nhìn cái kia là những cái làm cho tâm ta chạy ra bên ngoài. Cái hướng ngoại thứ hai là cái gì? Là những suy nghĩ về những chuyện đủ thứ chuyện trên đời, mắt không thấy nhưng mà đầu suy nghĩ về chuyện đó thì cũng là hướng ngoại. À ví dụ như ví dụ mắt ta nhìn thấy một cái nhà lầu, ta nói, "Trời, cái nhà lầu ai đẹp quá ha, phải chi mình có cái nhà lầu đó ha." Đó là ta hướng ngoại do mắt mình nhìn thấy. Nhưng bây giờ mắt không thấy nhưng suy nghĩ,
[54:38]suy nghĩ về cái nhà lầu, "Phải chi mình có cái nhà lầu đó ha," cũng là loại hướng ngoại. Cho nên, vọng tưởng cũng là một loại làm cho ta hướng ngoại. Và hơi thở cũng rất là lạ. Hơi thở nó vừa có tác dụng làm cho ta nhiếp được tâm, nhưng nó cũng là một loại hướng ngoại. À. Cho nên, nó có lợi trong bước đầu nhưng không phải là có lợi về lâu dài. Vì ta tập trung vào hơi thở, mãi giữ mãi giữ mãi hơi thở, ta không vào định sâu được nữa. Đó là cái điều, nó là cái quy luật như vậy. Và cái thứ, đó là cái thứ ba phải không? Là mắt thấy, tai nghe ngoại cảnh nè là một cái hướng ngoại nè, vọng tưởng nghĩ về đủ thứ chuyện là một cái hướng ngoại
[55:25]nè, hơi thở cũng là một cái hướng ngoại mặc dù hơi thở là cũng giúp ta được nhiếp tâm buổi đầu. Và cái thứ tư nữa cũng là một cái hướng ngoại nữa là gì? Là những cảnh giới thanh tịnh khi ta bắt đầu có kết quả thiền. Khi ta có kết quả thiền, tâm ta xuất hiện rất nhiều trạng thái làm cho ta chú ý vào những trạng thái đó, ta quên mất chính mình, cũng là cái hướng ngoại. Cái thứ năm làm cho ta hướng ngoại nữa là gì? Là thần thông. Phép lạ mà ta có được trong khi tu cũng là cái hướng ngoại, nhưng cái đó là những cái mức độ sau. Bây giờ ta trở lại cái mức độ cạn cạn ban đầu vậy. Là cái giác ngộ đầu tiên
[56:07]mà ta ngộ được là quán tội trên tội trước. Lúc nào cũng có cảm giác vằng vặc dính nơi chính mình và nhớ rằng thân tâm này là một khối tội lỗi. Cái cảm giác đó nó chận đứng cái vọng tưởng, nó bảo vệ ta, giống như là một cái phần thưởng cho cái người biết sám hối và biết khiêm hạ. Nhớ như vậy. Khi mà lúc nào ta cũng hiểu được rằng thân tâm này là một khối tội, vì vô số kiếp ta đã gây tạo điều bất thiện, đó, như nó xuất hiện thành một cái một cái cảm giác vô hình nơi chính mình, và nó chặn những cái vọng tưởng. Vọng tưởng vẫn tiếp tục đánh ta nhưng cái cảm giác đó nó chận chận chận lại, nó giữ cho ta ở trong chánh niệm, trong bình yên.
[56:52]Đây cũng là một cái phần thưởng. Sư phụ nhắc lại, đó phần thưởng của người biết khiêm hạ và biết sám hối, là vậy. Thì qua một thời gian như vậy, bất chợt người này bước lọt vào cái bước đầu của Tứ Niệm Xứ là quán thân trên thân.
[57:11]Hiểu về thân mình, ngộ về thân mình, bám chặt vào thân mình, dính vào thân mình, an trú vào thân mình không rời ra được. Và vọng tưởng rất khó đánh vào. Và khi bám vào thân mình như vậy, dính vào thân mình như vậy, được gọi là quán thân trên thân á. Đây gọi là cái chính mình cấp một. Cái quán tội là sơ sài, mình cũng gọi là chính mình được á. Nhưng mà hỏi mình là gì? Mình là tội lỗi thì nghe nó không có gì hay nhưng sự thực nó cũng là một loại chính mình đó. Hễ mà nói tìm ra được chính mình, nói chính mình là gì? Là tội, tội lỗi. Cũng là cái rất là đúng, là cái cửa ngõ ban đầu. Nhưng mà thực sự đến khi mà quán thân trên thân
[57:55]á mới bắt đầu là chính mình cấp độ thứ nhất. Tâm được thanh tịnh rồi, bỗng nhiên cảm giác biết rõ toàn thân nó dính chặt ở nơi thân mình, vọng tưởng không, rất khó đánh ta. Vọng tưởng vẫn còn, chưa hết. Tầm tứ vẫn còn, những vọng tưởng suy nghĩ nó vẫn còn, nhưng cái cảm giác mà biết rõ toàn thân nó chặt quá, chặt khắp thân ta quá, vọng tưởng khởi lên không được. Vọng tưởng muốn nhốm nhốm khởi là mất, nhốm nhốm khởi là mất. Chỗ này ngang với chỗ Sơ thiền chứ không phải vừa. Tội nghiệp nhiều người ngáp, quẹo qua quẹo lại, tội ghê. Mới tới mà quán thân trên thân là muốn bay hết rồi. Mười giờ rồi. Ráng thức nha.
[58:37]Có khi ta nói tới giao thừa luôn quá.
[58:46]Mười giờ rồi.
[58:52]Đây rất là lạ là thế này, là cái cảm giác mà quán thân trên thân là an trú nơi thân á, và lúc đó ai hỏi, "Mình là gì?" thì ta nói, "Là cái thân này. Là chính là cái thân này." Điều đó có sai không? Không sai. Đó là cái cảm giác đầu tiên của ta vì nó rõ ràng, nó vằng vặc vằng vặc biết rõ cái thân này. Nên là vọng tưởng nhốm lên nó chận, nhốm lên là nó chận. Rất là hay, rất là mầu nhiệm, tâm thanh tịnh. Và đặc biệt là khi mà ngồi thiền, mà nếu đạt được cái chỗ giác ngộ quán thân trên thân này á, thì tự nhiên mình thấy luôn cả nội tạng của mình nữa. Thấy tim, gan, phèo, phổi, mạch máu chảy sao thấy hết trơn.
[59:33]Đó là cái người đó là một cái hệ quả tự nhiên của cái giai đoạn mà quán thân trên thân. Nên trong kinh Phật nói rõ lắm, đây là tuyến tụy nè, đây là gan, đây là mật, đây là ruột, đây là chất dịch của não tủy, Phật kể rất là rõ.
[59:50]Mà cái đó là thuộc là kiến thức của giải phẫu học trong y học, nhưng mà tại sao lại đưa vào trong thiền? Bởi vì khi cái người mà quán thân trên thân họ thấy mấy cái đó hết trơn. Mà lúc hỏi "Chính mình là gì?" thì câu trả lời là, "Chính mình là cái thân này."
[1:00:10]Nhưng mà nó khác ở chỗ này chút xíu. Ở cái giai đoạn mà quán tội trên tội đó, hỏi chính mình là tội á, thì cảm giác nó cứ bám bám bám theo toàn thân mình nhưng nó rời khỏi thân mình một chút, nhưng nó cũng chặn được vọng tưởng. Còn ở cái giai đoạn mà quán thân trên thân á, dính chặt nơi thân mình, cảm giác nơi thân rất là rõ thì nó nó không phải rời khỏi thân mà nó trong thân mình, nó toàn thân mình rất là rõ và nó chặn mọi cái vọng tưởng lại hết. Và lúc đó cái cảm giác biết về thân nó như là một cái phao giúp cho ta chống lại cái sóng gió vọng tưởng. Mặc dù vọng tưởng chưa hết nhưng nó như là một chiếc phao
[1:00:49]vậy đó, cứ biết toàn thân mà vọng tưởng không khởi được. Đó là lý do mà khi buổi đầu khi ta mới ngồi thiền, Phật dạy ta là biết toàn thân á, hơi thở vào biết toàn thân, hơi thở ra ta biết toàn thân. Cái biết toàn thân nó có cái tính năng làm cho ta bớt suy nghĩ, bớt vọng tưởng. Nhưng cái đó là ta cố ý. Ta phải cố ý là ráng biết toàn thân để đừng suy nghĩ. Đó là ta phải dụng công. Còn ở giai đoạn mà chứng được cái Tứ Niệm Xứ, quán thân trên thân thì tự động một cảm giác rất chặt biết rõ toàn thân trong từng giờ từng phút luôn. Đi, đứng, nằm, ngồi đều là cái cảm giác biết rõ toàn thân. Và cái cảm giác biết rõ toàn thân đó nó chận những vọng
[1:01:35]tưởng đó lại luôn, giống như một cái phao vậy đó, vọng tưởng không đánh vô được là nhờ biết cái toàn thân. Còn trước kia ta biết toàn thân thì ta bớt vọng tưởng nhưng vọng tưởng nó vẫn đánh, thì đó là cái biết mình cố ý mà biết. Còn cái người mà chứng quán thân trên thân rồi cái nó là tự động, nó tự động. Cảm giác nó vằng vặc vằng vặc rõ ràng toàn thân toàn thân, đi, đứng, nằm, ngồi vậy. Nên trong kinh Phật nói á là vị Tỳ-kheo đi, biết đi; vị Tỳ-kheo ngồi, biết ngồi; vị Tỳ-kheo khi mà đắp y, mang bát, nhai cơm, ăn cơm nhai, nuốt đều biết rõ.
[1:02:11]Là ở cái mức độ này là nó của cái gọi là là quán thân trên thân. Vì cái cảm giác nó vằng vặc vằng vặc khắp cả thân này, biết rõ hết mọi cái, mình không cố ý. Còn cái mà ta cố ý để mà ráng biết á, nhiều khi nó căng não. Nói nghe nói là ờ đi biết đi, ngồi biết ngồi, cuốc đất biết cuốc đất, cái mình ráng biết. Cái biết đó tối về ngủ không được. Vì sao? Vì nó căng não quá đi, vì cái biết đó là do ta tự tạo ra. Còn cái biết mà của quán thân trên thân nó là tự động, nó cứ vằng vặc vằng vặc khắp cả thân này. Lúc đó ai hỏi mình, "Chính mình là gì?" mình nói là cái thân này, rõ lắm. Vì sao? Mình an trú nơi đó, biết rõ về thân, biết cả nội tạng thân và vọng tưởng dạt ra hết.
[1:02:54]Nó cũng rất là mầu nhiệm. Cái giai đoạn này gọi là giai đoạn giống như Sơ thiền vậy đó. Ừ. Ta để ý điểm này nữa nè.
[1:03:07]Trong cái cảm giác mà biết rõ toàn thân vậy, thì thường nó tụ lại ở ở bụng, ở ngực. Tụ lại ở bụng, ở ngực nhiều. Trong bình thường trong cuộc sống, tụ nhiều ở bụng, ở ngực. Và đó cũng là lý do cái cách ngồi thiền trong nhà Phật là hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân tụ lại ở ngay cái bụng. Đó là lý do. Còn mà ta thấy cái người mà không phải đạo Phật họ hay bắt tay họ để ngửa ra hai lòng bàn tay nơi hai đầu gối, giạt xa ra khỏi cái thân của mình, là biết người này không phải đi con đường Tứ niệm xứ của Phật. Họ cũng không có cái cảm giác của toàn thân, không có cảm giác hiện rõ của nơi an trú nơi bụng, nơi ngực mà tâm được yên.
[1:03:45]Tâm họ để vồng ra, biết cách đó nó sai. Còn cách của đạo Phật, của Phật dạy là hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân tụ lại một chỗ để nơi bụng, vì mọi cái cảm giác nằm ở đó hết, để nơi đó rồi tâm tự nhiên nó thanh tịnh, đó vậy.
[1:04:04]Đó, mà lúc đó như vậy, mặc dù vậy nhưng vui lòng đừng rời khỏi đáy bụng, hội âm. Tại vì sao? Vì cái chức năng của cái việc mà ta biết ở đáy bụng, ở hội âm, nó đẩy ta đi vào sâu những cái lớp chính mình tiếp theo. Tại vì ta còn phải quán thọ, quán tâm và quán pháp nữa mà. Cho nên đừng bao giờ rời cái đáy bụng, hội âm. Cái đáy bụng, hội âm nó giúp đẩy ta vào sâu trong chính mình những lớp khác nữa, à những lớp khác nữa. Và hơi thở cũng vậy. Hơi thở lúc đó nó sẽ rất là nhẹ, nhưng cái sức hút của hơi thở nó mầu nhiệm lắm, nó vẫn làm chúng ta chú tâm. Mà khi ta chú tâm hơi thở, ta rơi vào cái lỗi gì?
[1:04:45]Hướng hướng ngoại, nhớ như vậy. Thấy hơi thở nó giúp mình nhiếp tâm, nhưng nó cũng ghì, nó kéo mình hướng ngoại ra bên ngoài, chứ không không phải là hay. Nhưng ban đầu nó rất là quan trọng. Ban đầu mình biết hơi thở nó bớt cái vọng tưởng liền, nhưng mà giữ nó riết là đứng lại đó là không thoát được. Cũng giống như mà Phật ví cái người đi qua sông bằng chiếc bè vậy đó. Tới bờ rồi làm ơn bỏ cái bè, đừng có đừng có đứng ở mà ôm cái bè hoài là không lên bờ được. Cũng như vậy, hơi thở ban đầu nó giúp ta bớt suy nghĩ, nhưng ôm nó hoài, ta không đi vào định sâu được. Lý do là vậy. Cho nên để ý, mặc dù hơi thở nó rất là nhuyễn rồi nhẹ và nó có cái sức hút đó,
[1:05:27]cái sức hấp dẫn của hơi thở mà làm cho ta khoái lắm, ta thích nhiếp vào hơi thở lắm. Nhiếp vào hơi thở cái thấy tâm mình yên liền, thích liền. Nhưng nó cũng giữ ta hướng ngoại, làm ta kẹt lại chỗ đó, nhớ điều đó vậy.
[1:05:45]Trong cái quán thân, quán thân trên thân là khi ta an trú được thân mà làm cho
[1:05:53]ta bớt vọng tưởng. Tâm yên rất là sâu là cái quán thân trên thân, an trú nơi thân á, cái cảm giác vằng vặc vằng vặc nó dính với thân mình không phải mình cố ý, mà cái cảm giác dính chặt thân, biết rõ thân. Ai hỏi mình chính mình là gì, mình trả lời nó là thân. Mình mà lúc đó mình nhìn mọi chuyện nhạt nhòa trên cuộc đời này cũng không quan trọng. Bởi lúc đó ai hỏi: "Đời có gì?", nói: "Ôi, cái gì có sinh có diệt". Mình hay trả lời câu đó. Tại vì sao? Vì mọi chuyện trên đời hết quan trọng nè. Tại vì sao quan trọng? Cái thân này mới quan trọng. Cái cảm giác vằng vặc toàn thân này nó làm ta tâm thanh tịnh,
[1:06:30]yên, vọng tưởng đánh không được, nên cái thân này mới quan trọng. Và đó là cái lỗi một lần nữa. Cái lỗi là có thể xuất hiện chấp thân. Do đó phải làm sao? Phải nhắc mình thân này vô thường. Đó là lý do tại sao mà ta phải có cái bài kệ xả thiền. Đi đứng nằm ngồi, làm việc nghỉ ngơi tắm rửa gì, luôn luôn nhớ thân này là là vô thường. Nên cái bài kệ đó, bài kệ mà mà mà xả thiền là giữ cho ta ở cái người mà đã chứng được cái quán thân trên thân, đừng bị rơi vào cái lỗi chấp thân. Vì cái thân lúc đó nó mầu nhiệm. Thân nó mầu nhiệm, nó có tiềm lực, có những điều vi diệu của nó, có biết của nó, làm cho ta cũng có thần thông một số nữa, làm mình thông minh cực kỳ.
[1:07:15]Vì an trú nơi cái thân thôi, lúc đó "trong đôi mắt em, thân là tất cả". Làm vì nó chặn được vọng tưởng luôn mà. Chỉ cần cái cảm giác toàn thân biết rõ toàn thân, tự nó xuất hiện vằng vặc khắp thân, chặn được vọng tưởng luôn. Cho nên thực sự lúc đó thân là tất cả, ta dễ rơi vào bệnh chấp chấp thân. Nên thường ta phải nhớ vậy, nhắc thân này là là vô thường để trị cái bệnh đó mà đi qua cái giai đoạn này. Và nếu trong cái giai đoạn mà quán thân trên thân này, cảm giác dính với cái thân này, chặn được vọng tưởng ta mà ta vẫn giữ được một số điều như thế này: thứ nhất là vẫn biết được đáy bụng, thứ hai đừng bị hơi thở kéo ta
[1:07:55]hướng ngoại, và thứ ba này biết thân vô thường, thì đến một lúc chín muồi, ta bước qua cái bước thứ hai là quán thọ trên thọ. Thọ nghĩa là một cảm giác đó.
[1:08:14]Quán thọ trên thọ. Quán thọ trên thọ, cái câu hồi xưa nói như vậy bây giờ nghe không hiểu nổi. Quán thọ trên thọ nó là một cái chứng, một sự một cái bước kết quả của thiền.
[1:08:31]Thì lúc đó cái cái tâm chứng của ta nó không còn phải là cái thân này nữa, mà nó chỉ là một cảm giác vô hình nơi chính ta thôi. Ta không còn là cái thân này nữa. Lúc trước cái thân này rất là rõ. Nhưng mà tới giai đoạn mà quán thọ trên thọ, chứng một bước nữa, cái ta này chỉ là một cảm giác.
[1:08:59]Có ai hiểu không? Ai hiểu là giỏi hơn sư phụ luôn á. Cái ta này chỉ là một cảm giác vô hình, nhưng rất rõ ràng. À cái ta này,
[1:09:13]the me, it's me, the me is just a feeling, invisible feeling but very clearly.
[1:09:29]Một cảm giác về cái ta rất rõ ràng, vô hình nhưng rất rõ ràng và đừng hòng có vọng tưởng.
[1:09:39]Cái người đó họ bước tới bước lui vậy đó, cái thân cái tay chân họ đi cho vui vậy thôi chứ sự thực nó không còn là tay, không còn là chân nữa. Vì cái ta của họ lúc này chỉ là một cảm giác. Và dĩ nhiên nó có cái thần thông nó xuất hiện ngay lúc đó theo. Cái người này có thể là thấy những cái cõi âm, biết được nhiều chuyện rất là lạ, có thể biết được tâm người khác, vân vân, một số chuyện vậy. Một số thần thông nó xuất hiện vì chỗ này nó tương đương Nhị thiền. Cái chỗ quán thọ trên thọ này nó tương đương Nhị thiền. Cái ta lúc này là một cái gì vô hình, không còn là cái thân rõ ràng này nữa, chỉ là một cảm giác vô hình nhưng rất rõ ràng,
[1:10:19]rất chặt chẽ, rất là mạnh, và đừng hòng có vọng tưởng.
[1:10:25]Và dĩ nhiên cái sự thanh tịnh, sự an nhiên, sự tự tại, cảm giác hỷ lạc, hạnh phúc là rất là lớn. Ừm. Đây là cái chính mình ở mức độ thứ hai. Cái mà quán thân trên thân, chính mình là cái thân này là mức độ thứ nhất. Còn quán thọ trên thọ, ngộ ra được chính mình chỉ là một cảm giác vô hình nhưng rất là rõ ràng và không có vọng tưởng. Này mà sư phụ hay nói giống như cái đèn pin á, rất là sáng mà ánh sáng không có rọi đi đâu hết trơn, ánh sáng ở lại với chính mình, không có rọi đi đâu cả. Thì cái người mà họ ngộ được, chứng được cái chỗ quán thọ trên thọ, họ là một loại người như vậy. Cực kỳ sáng rõ, cực kỳ thanh tịnh, nhưng ở lại nơi chính mình.
[1:11:17]Đó là một cảm giác về cái ta, về chính mình rất rõ ràng. Nên cái câu này giống như Phật nói vậy, khi mà thấy Da-xá với cùng số thanh niên mà đi chạy kiếm cái cô gái giang hồ mà lừa lấy tiền á. Cái lúc mà Phật chặn đường, Phật ngồi thiền ở trong bóng đêm, trong rừng Phật tỏa ánh sáng ra. Mấy người thanh niên mà lúc trong đầu không có nghĩ gì cái một cái ông đạo sĩ đang tỏa hào quang đó, mà chỉ hỏi: "Ông có thấy một cái cô gái..." đi đâu, nói: "Đi tìm cô gái", Phật nói: "Sao không tìm chính mình?". Đấy cũng là một cái chính mình. Giống như ngày xưa Thiền sư Hắc Văn Chân Tịnh vậy, trong một buổi giảng ngài có nói câu này:
[1:12:01]"Các ông đừng tìm ta, hãy tìm chính mình". Thì cái chính mình này là một cái gì rất rõ vì nó rất là thanh tịnh. Và ngay lúc này, nếu ai nói với ta rằng cái chính mình đó chính là Phật, ta tin liền. Vì nó thanh tịnh quá, nó là một cái gì rất rõ ràng, rất cụ thể, rất xác thực, rất thực tế, chứ không phải mơ hồ, nhưng nó vô hình và chỉ là một cảm giác,
[1:12:30]và rất là tự tại. Thì ai nói cái đó là Phật, mình tin liền. Mà tin là chết.
[1:12:42]Để đối trị, đối trị với cái bệnh mà tưởng mình đã chứng cao ở giai đoạn này, thì ta có cái câu này:
[1:12:58]Cái cảm giác về chính mình đó
[1:13:02]vẫn là một khối si ám, vô minh, chấp ngã. Thì cần một bài kệ nữa, nhưng mà ta chưa tới đó là ta không cần. Nhưng mà nếu người nào có tu được tới đó, thì vui lòng nhắc cái này: Cái cảm giác chính mình rất là tự tại, rất là rõ ràng, rất là thanh tịnh, vô hình, chỉ là một cảm giác là quán thọ trên thọ. Nhưng vui lòng phải tự khởi ý, tự tác ý, nhắc cái đó vẫn là một khối si ám, vô minh, chấp ngã. Vì nếu ta không nhắc cái câu này, ta sẽ tự khen mình, bí mật tự khen mình, tự phong cho mình chứng quả này quả kia, đọc mấy cái sách thiền tưởng nó trên mây, rồi khi mà bỏ cái thân ở kiếp này, ta mất thêm vài ngàn năm trôi lăn nữa, đọa xuống lại liền.
[1:13:55]Mà mất một lần mất mấy nghìn năm rất là phí, rất là uổng. Còn nếu khi ta chứng được cái chỗ quán thọ trên thọ, thấy được chính mình chỉ là một cảm giác vô hình rất rõ và rất thanh tịnh, nhưng tự nhắc mình cái cảm giác vô hình đó vẫn chỉ là một khối si ám, vô minh, chấp ngã, thì ta đỡ mất trôi lăn thêm mấy nghìn năm nữa. Có thể một kiếp này hoặc một hai kiếp sau chứng xong luôn. Cái đó, cái tác ý đó rất là quan trọng. Nhớ. Nên ai mà ngày nào mà chứng tới cái chỗ đó, thì làm ơn nhớ ngày hôm nay sư phụ dặn trước rồi. Dù tâm rất thanh tịnh, chỉ còn một cảm giác chính mình nơi chính mình, vô hình, vi diệu, mầu nhiệm, thanh tịnh, vẫn phải làm ơn nhắc giùm nó là
[1:14:44]một khối si ám, vô minh, chấp ngã, để đừng trôi lăn mất thêm vài nghìn năm luân hồi, rất là phí, như vậy nha.
[1:15:00]Khi mà ta quán cái thân trên thân, tức là chứng được cái thân này là chính mình đó, bám chặt cái thân chính mình mà không vọng tưởng đó, thì ta kiểm soát được cử chỉ, oai nghi. Ta sẽ thấy cái người đó họ ít có động tác thừa. Đi, đứng, nằm, ngồi đều đẹp. À, không có cảm giác thừa. Đó là lý do tại sao một cái người mà tu tập khi mới xuất gia phải học cái oai nghi cử chỉ, không có những cử chỉ thô tháo. Thì mình đang học làm thánh mà, phải bắt chước cử chỉ của thánh. Nhưng đó là ta gượng gạo mà tự tạo ra cái cử chỉ nó đàng hoàng, nghiêm túc, là do mình tự tạo ra. Còn khi mà chứng được cái chỗ quán thân trên thân,
[1:15:46]cảm giác chặt chẽ toàn thân, biết rõ toàn thân tự nhiên, không phải cố ý, tâm thanh tịnh, thì mọi cử chỉ của ta đi, đứng, nằm, ngồi rất là đẹp, rất là trang nghiêm. Nhìn cái đó ta biết liền. Cho nên ví dụ nói một người tu thiền cao siêu mà ta liếc cái bước chân đi, ổng đi bước đây lại mười bước kia, ta thấy có một bước chân nó sai, nghi liền. Là tại sao có một bước chân đi sai, đến mức độ như vậy, kỹ đến mức độ như vậy. Hớ một bước chân là biết người này sai.
[1:16:21]Vì cái người mà họ vào được trong thiền, họ kiểm soát được cử chỉ của họ. Họ đi cả mấy cây số, không có một bước chân sai, trừ trường hợp vấp té hay trừ con chó chạy vô nó ủi té thì thôi, cái đó là là tai nạn. Còn để họ đi bình thường bình thường, mỗi bước chân là một bức tranh đẹp. Mỗi một cử chỉ, một cái nhấc tay, một cái nhìn một cái nhìn của họ đều là một bức tranh đẹp. Vậy đó. Còn cái người mà đã chứng được cái quán thọ trên thọ thì họ an trú được cái cảm giác vô hình của chính mình, thì họ kiểm soát được cái cảm xúc của mình. Kiểm soát được cái cảm xúc của mình, cái sâu cái buồn, cái vui, cái giận, cái hờn, cái thương, cái ghét.
[1:17:06]Có một lần vậy, thầy đến thầy chào hòa thượng. Hôm ấy tết đến chào hòa thượng, hòa thượng mới hỏi hòa thượng mới quay sang hòa thượng nạt một câu thiệt lớn. Mà hỏi mấy ngày xưa, à mà mấy ngày vừa rồi con ở đâu? Nói: "Dạ mấy ngày rồi con đến cái chùa gần nhà con để con cũng phụ công quả." Lúc này còn cư sĩ. Thì mình trả lời thiệt tình. Ổng quay qua ổng nạt một câu: "Vô chùa làm cái gì?" Mắt liếc, ổng nạt cho một câu mình giật mình, nhưng mà cái nạt của một vị thiền sư không hề có cái sân. Ngài nạt là ngài cái tiếng to lớn của ngài để thử coi cái mức độ ổn định nội tâm mình như thế nào, mức độ chánh niệm mình như thế nào.
[1:17:47]Vì cái tiếng nạt đó mình mất cái chánh niệm, mình trả lời bậy liền. Ổng cười xòa xòa liền. Trả lời sai ổng cười xòa. Tức là biết cái mức mức ổn định nội tâm mình chưa đủ. Nhưng mà cái nạt đó nó không phải là cái sân, vì ổng chủ động tạo ra. Đó là cái đại dụng của một thiền sư. Còn cái người mà họ đạt được cái quán thọ trên thọ, thấy được cái chính mình là một cảm giác vô hình, họ kiểm soát được cảm xúc của họ. Kiểm soát được thương, ghét. Ví dụ họ nói: "Tôi ghét cái thằng đó." Thật ra không có ghét. Chỉ là cái lời nói thôi, cái lời nói cường điệu chứ không ghét, nhưng mà không đồng ý về cái lối sống đó
[1:18:24]thôi, không đồng ý về cái cách xử sự đó thôi. Thì họ nói: "Ừ ôi! Thằng dòm thấy ghét." Nhưng mà thật ra không có ghét, tại họ kiểm soát được cái cảm xúc của họ. À. Nói: "Trời ơi! Sao bữa nay buồn dữ vậy nè trời. Sao hôm nay vô đây thấy cái gì cũng buồn hết trơn hà." Thật ra họ không hề buồn, nhưng họ chỉ nói để phê bình là cái khung cảnh ở đây thiếu cái sinh khí, mọi người ở đây không vui, những cái hoạt động ở đây thiếu ý nghĩa gì đó, cho nên cái không khí nó trầm lắng. Họ nhận ra điều đó, mà thay vì họ phê bình, họ chỉ nói: "Trời sao buồn dữ vậy nè?" Thật ra họ không có buồn, vì họ kiểm soát được cảm xúc họ rồi.
[1:18:59]Cho nên ta thấy cái người đó họ không có buồn, vui, giận, ghét tầm bậy tầm bạ như mình, vì họ đạt được cái chỗ gì? Quán thọ trên thọ. Thấy được cái ta này chỉ là một một cảm giác, kiểm soát cái cảm giác đó rất là kỹ. Vô hình nhưng rất rõ ràng. Phải không? Thì đến chỗ này ta mới trở lại cái chỗ mà khối não của ta. Như nãy ta nói, não của ta tự động nó là gì? Là buồn khổ. Não của ta tự động nó là gì? Là không có ngủ à. Nhưng mà nhờ có cái hóa chất nó tiết ra cái dopamine, cái giúp cho ta không buồn, mà khi nó tiết nhiều quá cái ta vui. Mà nó có hóa chất serotonin nó tiết ra cái làm ta ngủ, nó không tiết ra nữa mình mất ngủ.
[1:19:46]Cho nên bản chất của cuộc đời này là đau khổ, là mất ngủ. Nhưng mà nhờ cái một số tuyến nó còn tiết ra cái hóa chất trong não, cho nên làm cho ta không buồn, là ta ngủ được. Mà ai mà tiết nhiều quá thì ngủ li bì cả ngày, mà ta gọi là tiên, ăn được ngủ được là tiên. Cho nên ta tưởng tiên đẹp chứ thật ra tiên không đẹp, vì ăn được ngủ được là tiên thì chắc chắn điều tiên là béo. Ngủ nhiều, ăn nhiều phải béo. Thì cái não của ta vậy.
[1:20:24]Tại sao ta hạnh phúc? Cái cảm giác hạnh phúc của ta thực sự chính là cái hóa chất dopamine trong não ta nó tiết ra nhiều hơn bình thường, nhiều hơn đời sống bình thường, thế làm cho ta cảm giác hạnh phúc tràn ngập. À. Thì khi nào thì cái dopamine nó tiết ra nhiều? Khi nào thì dopamine nó tiết ra nhiều? Có rất nhiều loại kích thích dopamine nó tiết ra nhiều hơn. Ví dụ như khi ta lao động vất vả. Đừng tưởng lao động là cực khổ nha. Cái người lao động vất vả mà cái lao động đó nó có giá trị cho cuộc đời, thì não tự nhiên tiết ra dopamine nhiều hơn. Sau một buổi lao động vất vả, tự nhiên ta rất sảng khoái.
[1:21:07]Cái sảng khoái đó cũng là dopamine nó tiết ra nhiều hơn. Tại sao ta ghiền ăn ớt? Ớt nó cay mà, nhưng sau khi mà nhai cái miếng ớt cay đó rồi, nó kích thích não ta tiết ra dopamine để chống lại cái cái khổ sở do cái cay của ớt. Thế làm cho nhờ có dopamine tiết, ta có cảm giác dễ chịu ta không biết. Thế là bữa nào ăn cơm mà không có ớt, khó chịu vô cùng vì nó dopamine nó không tiết ra, nên phải đi xin miếng ớt. Cái mâm mình không có là phải phải chịu nhục đó, rồi cầm cái đũa đi lang thang qua mâm người khác mà xin miếng ớt là để chịu nhục. Vì sao? Vì cần một chút dopamine. Về nhai miếng vô cái nó tiết ra dopamine.
[1:21:47]Và tại sao người ta nghiện rượu? Vì cái chất cay của rượu nó cũng kích thích dopamine. Uống nó nó cơ thể ta chống lại cái cay nồng, nó tiết ra dopamine để làm cho ta bớt khó chịu, không ngờ không ngờ làm cho ta nghiện. Rồi dopamine nó tiết vào lúc nào? Dopamine nó tiết vào những lúc ta giúp đỡ người khác. À, ta thấy người khác trong cơn hoạn nạn, ta ra tay ta giúp đỡ bằng tiền bạc hay bằng công sức hay bằng lời nói cho người ta thoát khỏi cơn hoạn nạn, bỗng nhiên mình thấy hạnh phúc. Nên thực sự chưa đợi tới khi quả báo của luật nghiệp báo xuất hiện, ngay cái việc ta giúp đỡ người khác đã làm cho ta hạnh phúc, vì dopamine lúc đó nó tiết ra.
[1:22:29]Và một điều đặc biệt cuối cùng nữa chính là thiền định. Khi tâm ta thanh tịnh, dopamine nó tiết ra ồ ạt. Cái não ta bỗng nhiên nó mạnh lên, nó tiết ra dopamine rất là nhiều, làm cho người ta chìm trong hỷ lạc, rất là cái cảm giác hạnh phúc vô cùng. Nên là bây giờ muốn đau khổ cũng không đau khổ được, tại vì dopamine nó tiết ra nhiều quá. Nên cái người đó họ không đau khổ được, họ cứ an vui, họ thanh thản, cứ thấy cười cười cười cười hoài. Cho nên khi mà ta gặp ai mà lúc nào trên môi cũng nở một nụ cười, một là người đó đang điên, mắc tâm thần, hai là người đó chứng đạo. Không biết trường hợp nào. Cho nên thấy mà cười cười nãy giờ đó là không
[1:23:12]biết đang tâm thần hay là đang chứng đạo. Cứ thấy cười cười phải không mấy cô? Tường Phổ có cười không? Không phải không? Ờ vậy cũng không tâm thần, cũng không chứng đạo.
[1:23:29]Tại sao ta thờ hình tượng Đức Phật lúc nào cũng nở một nụ cười nhè nhẹ? Vì chứng tỏ rằng tâm của Phật làm sao? Hạnh phúc. À, cái nụ cười nhè nhẹ nhè nhẹ, nhưng mà do Ngài kiểm soát được cảm xúc, cho nên cái cảm giác hạnh phúc đó nó không có bùng vỡ như kiểu mình, nhưng lúc nào cũng hạnh phúc. Nên nhớ một điều: Phật là hạnh phúc. Nhớ như vậy, Phật là hạnh phúc.
[1:24:07]Rồi nếu ta an trú được nơi cái quán thọ trên thọ đó, lúc nào cũng giữ được chính mình là một cái cảm giác vô hình mà rất rõ ràng, mà tâm rất thanh tịnh như vậy, mà đừng bị ảo tưởng đó là cao siêu, đừng bị ảo tưởng đó là chân tâm, Phật tánh gì cao siêu. Đến khi mà ta tiếp tục làm những việc công đức cho đầy đủ, tôn kính Phật, giáo hóa yêu thương chúng sinh, việc nhỏ việc lớn gì mà việc phước gì mà làm được là không bao giờ từ chối. Đến khi duyên chín muồi, ta bước qua cái quán tâm trên tâm, thì lúc đó cái chính mình không còn là một cảm giác nữa, mà chính mình là tâm.
[1:24:51]Cái tâm nó không phải là một cảm giác nữa, mà nó rất là rõ ràng. Vì nó là cái gì?
[1:25:05]Tâm nó tới ba bước: tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Cho nên cái giai đoạn mà quán tâm trên tâm, đoạn đường này đi rất là dài. Ngang chỗ này nhiều khi ta kẹt lại, mà nếu ta hiểu lầm đây là Phật tánh, đi thêm 3000 năm nữa. Còn nếu người nào mà ngộ được tới cái chỗ quán tâm trên tâm, thấy được tâm mình rồi, an trú được tâm mình là chính mình rồi, mà không bị nhầm chân tâm Phật tánh, biết rõ trong đây vẫn còn vô minh chấp ngã, thì sẽ chứng được cái quán pháp trên pháp. Nhưng bây giờ tạm thời ta ở chỗ tâm trên tâm. Đa số nhiều người đủ phước chứng được ngang tâm trên tâm rồi mất vài ngàn năm nữa, bởi vì nó quá vi diệu,
[1:25:48]quá vi diệu, quá mầu nhiệm, mọi thần thông cái gì có đầy đủ gần hết, muốn dời núi dời đi được, muốn bay lên trời bay được, muốn chết là chết liền được. Nên cái quán tâm trên tâm này lúc này ta là cái gì? Ta là tâm, mà tâm là cái gì? Tuyệt đối vô hình. Tâm nó gồm tưởng ấm là cái cội nguồn của vọng tưởng, mất liền. Tâm là cử chỉ hành động, hành ấm, và của thức ấm là cái biết, nó là tới cội nguồn của cái những điều đó. Cho nên vì vậy ta thấy khi ông thiền sư ổng ngộ đạo, hỏi ổng hỏi ổng một câu thiền ngữ, cái ổng duỗi tay ra, tức là ổng đưa ra một cái hành động. Vì sao? Ổng tìm ra được tới cái tâm mà cái nguồn gốc của việc duỗi tay ra.
[1:26:34]Vì mình duỗi tay ra mình không thấy gì hết, thì duỗi tay thì chắc tôi lấy cái gì đó tôi duỗi tay, nhưng với một thiền sư, duỗi tay này ra là ở trong tâm nó ra, thấy được tới cái tận tâm, là cái gốc của cái việc mà duỗi cái tay này ra. Tới cái gốc của cái việc duỗi tay này ra, còn ta không thấy. Ta duỗi tay thì duỗi, nhưng ta không thấy được cái gốc, cái tâm nào mà đã làm cho cái tay này duỗi ra. Thấy người thiền sư họ ngộ được tới cái tâm rồi, họ thấy tới cái gốc đó, thấy cái tâm gốc đó. Nên vì vậy như ông Bàng Long Uẩn vậy, ông khi ổng ngộ đạo rồi ổng nói rằng: "Thần thông và diệu dụng chính là gánh nước và bửa
[1:27:12]củi." Đó, gánh nước và bửa củi là thần thông. Vì sao vậy? Cái việc gánh nước, việc bửa củi nó ngay trong cái gốc tâm nó đi ra mà họ an trú trong đó.
[1:27:26]Mỗi một hành vi họ đều là thanh tịnh. Bởi vì an trú được tới chỗ mà quán tâm trên tâm rồi, các thiền sư họ cực kỳ thanh tịnh. Họ làm gì làm không có mệt, mỗi hành động họ là một hạnh phúc. Vì mỗi một hành động họ đều từ trong cái thẳm sâu trong tâm đi ra và họ thấy được tới cái gốc đó. Hoặc là ví dụ như, cái hỏi: "Thế nào là Phật?", ổng ổng ổng đưa cái ly lên. Là cái gì vậy? Tại sao đưa cái ly lên? Đưa cái ly để làm chi vậy? Để cho mắt mình nhìn thấy cái ly không? Cái thấy đó, nó là gốc ở trong cái tâm này mà họ chứng được cái chỗ quán tâm trên tâm, họ thấy được cái gốc của cái thấy. Nó đưa cái tâm tâm thấy được cái gốc của cái thấy, biết cái
[1:28:11]cái thấy đó chính là tâm. Cái ông thiền sư ổng đưa lên mà có nhiều người chỉ thấy của con mắt, mà không thấy được tới cái gốc của cái thấy. Mà khi mà người ngộ được tâm, quán tâm trên tâm thì họ thấy được cái gốc của cái thấy, nên họ hiểu ông thiền sư đưa cái ly lên để khai thị là gì. Hoặc là hỏi: "Thế nào là đạo?", ổng hét một tiếng to. Là một âm thanh cho mình nghe, nhưng mà cái người bình thường nghe tiếng ổng hét to thôi, nhưng mà với người ngộ đạo họ quán được tâm trên tâm rồi, họ thấy cái gốc của cái nghe, họ thấy được cái gốc của cái nghe đó là cái gì. Nó thẳm sâu tới trong đó vậy. Nó có cái câu chuyện, cái thời đó là
[1:28:54]hai đại thiền sư, một người là là Hi Thiên Thạch Đầu, một người là Mã Tổ Đạo Nhất, hai vị đại thiền sư chứng đạo rất là cao siêu. Thì có ngài Đặng Ẩn Phong, là ổng đó sau này mà ổng bay lên trời mà ổng chỉ xuống hai cái đám quân, hai đám quân nó phải giạt ra không đánh nhau nữa đó, là ngài Đặng Ẩn Phong này nổi tiếng là thần thông, thì ngài Đặng Ẩn Phong là đệ tử của ngài Mã Tổ Đạo Nhất. Thì ở bên ngài Mã Tổ Đạo Nhất mới nghe tiếng ngài Hi Thiên Thạch Đầu ở bên kia cũng là một thiền sư rất giỏi. Cái ngài Đặng Ẩn Phong mới lên gặp ngài Mã Tổ, nói: "Bạch hòa thượng cho con đi qua gặp ngài Hi Thiên Thạch Đầu coi làm sao."
[1:29:34]Cái ngài Mã Tổ Đạo Nhất nói: "Đường Thạch Đầu trơn." Thạch Đầu tức là đầu dốc đá đó. "Đường Thạch Đầu trơn." Nói: "Không sao, con có cây gậy." Ý là gì? Tức là con có cái chỗ ngộ rồi, thấy được chính mình, cho nên là không sợ đường trơn, có cây gậy kìm không té. Tức là gặp ông đó rồi tin tự tin rằng mình có cái ngộ đạo ở trong tâm, mình đã ngộ được, thấy được chính mình, không biết đó, nên không sao. Ham đi quá rồi ngài Mã Tổ cho đi. Cái ngài Đặng Ẩn Phong qua tới gặp gặp ngài Hi Thiên Thạch Đầu mới hỏi câu này: "Thế nào là đạo?" Ngài Thạch Đầu trả lời: "Trời xanh." Ổng trố ngớ ngớ ra. Thế là ổng lặn lội mấy trăm cây số,
[1:30:17]mấy ngàn cây số ổng về về lại ngài Mã Tổ Đạo Nhất. Ổng kể lại, ổng nói: "Con hỏi thế nào là đạo, ngài Hi Thiên Thạch Đầu nói trời xanh, con không biết đường." Cái ngài Mã Tổ nói: "Sao lúc đó ngươi không hứ một tiếng?" Hứ một tiếng. "Ờ rồi, thôi được rồi, được rồi, con qua trở lại." Ổng lội lặn mấy ngàn cây số ổng lại gặp lại. Cái ổng vô ổng hỏi: "Thế nào là đạo?", thì ổng chờ ông kia trả lời là "Trời xanh" để ổng hứ một tiếng, thầy mình gọi là chỉ chỉ nước rồi. Ổng nói: "Thế nào là đạo?", cái ngài Hi Thiên Thạch Đầu: "Hứ." Ổng rớn cớ, ổng không biết đường trả lời, ổng quay về, ổng mới nói lại ngài Mã Tổ Đạo Nhất:
[1:30:52]"Cái là thế là thầy dạy con là ổng mà nói trời xanh thì con hứ, con vừa mới hỏi ổng hứ, cái con không biết đường." Cái ngài Mã Tổ nói: "Ta đã nói rồi, thạch đường Thạch Đầu trơn." Đó là một giai đoạn. Bây giờ sư hỏi lại: "Trời xanh" nghĩa là gì? Hỏi: "Thế nào là đạo?", nói: "Trời xanh." Mà có khi mà ngài Mã Tổ lại mách nước: "Nếu ông kia nói trời xanh thì con hứ một tiếng." "Hứ" là gì? Ở đây ai hiểu? Ai hiểu? Ai hiểu sư xây cái bàn thờ cho ngồi lên liền.
[1:31:31]Vì nếu ai hiểu cái đó là người này đã ngộ được tới chỗ quán tâm trên tâm, thấy chính mình là tâm. À, trước đây là thấy mình là tội, rồi mình tu cho đến khi thấy mình là cái thân, rồi tu đến khi thấy mình là một cảm giác vô hình, bây giờ thấy mình là cái tâm. Cái tâm vi diệu vô cùng. Mà cái tâm nó liên quan gì tới trời xanh và cái chữ "hứ"?
[1:31:56]Ây da! Không nói thì mọi người nói thầy giảng chả hiểu gì, mà nói ra thì sợ phản bội tổ sư, mấy ổng đã giấu mà mình đi nói.
[1:32:11]Nói làm sao đây? Chết mà gặp mấy ổng, mấy ổng mấy ổng đập chết.
[1:32:33]Cái chỗ mà tâm là chính mình,
[1:32:38]người mà ngộ được tới cái chỗ quán tâm trên tâm á, thấy tâm là chính mình á, ở trong đó nó vô số có cái cái cái triết lý, cái cảnh giới nó mầu nhiệm.
[1:32:50]Ví dụ như có ngài Mật Ấn ngài nói: "Ai cũng tưởng một cái giọt nước rơi vào cái hồ to, nhưng mấy ai biết cả một đại dương rơi vào trong giọt nước."
[1:33:06]Một giọt nước là nhỏ hay lớn? Rất nhỏ. Cái đại dương là lớn hay nhỏ? Rất lớn. Vậy mà đại dương rơi được vào giọt nước, nghĩa là khái niệm lớn nhỏ còn không? Không còn. Là khi ngài ngộ được tới cảnh giới, thấy được tâm, thấy được chính mình là tâm, trong đó các ngài thấy nhiều cảnh giới rất là lạ. Trong đó có một cảnh giới, cái khái niệm về không gian nó mất à.
[1:33:34]Hoặc là ngài Khắc Văn Chân Tịnh vậy. Khi ngài ngộ đạo rồi ngài mới về lại với ngài Hoàng Long. Tại lúc trước là ngài ở tu với ngài Hoàng Long trước, ngài cũng có cái sở ngộ sơ sơ, nhưng mà ngài Hoàng Long không khai ngộ ngài thêm, thì ngài mới đi qua cái chỗ Thiền sư Thuận ở Thúy Nham. Thiền sư Thuận ở Thúy Nham nói một câu ngài đại ngộ. Ngài mới gửi những bài kệ về ngài Hoàng Long công nhận, cái ngài mới quay lại thăm ngài Hoàng Long. Câu chuyện này dài dòng nhưng mà nó có một câu chuyện rất là lý thú, thôi chịu khó nghe sư phụ chút xíu. Lúc ở trong hội Hoàng Long á, ngài Hoàng Long là một thiền sư lúc đó nổi
[1:34:11]tiếng lắm, ngài Hoàng Long với ngài Dương Kỳ, Hoàng Long nổi tiếng. Ngài Hoàng Long nói trong cái câu câu câu câu câu câu của thiền ngữ thế này: "Tụng táng trên lầu chuông, trồng rau dưới chân giường."
[1:34:25]Kêu chúng comment, hạ ngữ á, trong nhà thiền gọi là: "Hãy nói một lời để chứng tỏ rằng cái hiểu của mình nơi cái cái câu thiền ngữ kia là gì? Tụng táng trên lầu chuông, trồng rau dưới chân giường. Comment, hạ ngữ đi." Thì trong lúc đó chưa ai hạ ngữ thì có ngài một ông Tỳ-kheo, ổng là thủ tọa, chức cũng lớn lớn, ổng tên là Duy Thắng á, ổng mới nói một câu là: "Mãnh hổ tọa lộ trung", con cọp mạnh ngồi giữa đường. Thế là ngài Hoàng Long mỉm cười hài lòng, nhường chức trụ trì luôn! Tức là vì một câu nói mà đắc ý ngài, ngài Hoàng Long, ổng nhường cái trụ trì chùa đó rồi ổng đi qua chỗ khác ổng cất am ở luôn.
[1:35:07]Qua cái chỗ Tích Thúy ha, Tích Thúy ổng cất cái am ở, nhường cả cái chùa to cho đệ tử mình, mà chỉ vì nói được một câu, comment được một câu mà đắc ý ngài. Ngài đưa ra cái câu: "Tụng táng trên lầu chuông, trồng rau dưới chân giường. Comment đi." Ngài Duy Thắng nói: "Cọp mạnh ngồi giữa đường." Xong ngài Hoàng Long rất hài lòng, nhường luôn trụ trì, đi chỗ khác ở. Thì lúc đó ngài Khắc Văn Chân Tịnh cũng ở trong hội ngài Hoàng Long. Ngài cũng không ngộ, ngài mới đi qua Thiền sư Thuận. Thì Thiền sư Thuận mới hỏi: "Ngươi ở đâu tới?" Nói: "Dạ con ở chỗ Hoàng Long tới." Rồi hỏi: "Khỏe không?" Nói mấy người kia:
[1:35:45]"Dạ cũng khỏe." Rồi ổng ngài Thiền sư Thuận mới nói câu này: "Tân trụ trì Hoàng Long thế nào?" Nói: "Dạ cũng khỏe." Rồi Thiền sư Thuận mới nói câu này: "Chỉ vì y hạ ngữ một câu hay mà được Hoàng Long nhường trụ trì, còn về thiền vẫn chưa mộng thấy." Phê bình một cái thì ngài Khắc Văn đứng bên cạnh đó đại ngộ liền, thấy được tâm liền. Thì khi ngài ngộ được tâm rồi, thì ở đó một thời gian xong ngài quay lại với ngài Hoàng Long. Ngài Hoàng Long thì thì trước đó ngài đã gửi vài cái bài thơ về nên ngài Hoàng Long đã biết là ngài có sở ngộ. Rồi ngài Hoàng Long mới khi mà gặp lại ngài Khắc Văn mới hỏi câu này:
[1:36:28]"Ngươi đi đâu vậy?" Nói: "Dạ con về thăm Hòa thượng." Nói: "Ta không có ở nhà." Ổng ngồi đó mà ổng trả lời: "Ta không có ở nhà." Thì ngài Khắc Văn mới hỏi: "Không biết Hòa thượng đi đâu?" Nói: "Ta du ở tại du ở Lô Sơn mà vẫn đi chơi ở Nam Nhạc." Ổng ngồi ở đó đó mà ổng nói ổng đang đi chơi hai chỗ khác, hai cái núi khác. Cái ngài Khắc Văn nói: "Ờ, nếu vậy thì con cũng được tự tại." Tức là ngài ngài cái tự tại đó lúc là không phải nghĩa tự tại mà có nghĩa là con cũng rảnh rỗi. Con về thăm thầy mà thầy đi chơi rồi thì thôi con cũng rảnh, ý là như vậy. Nhưng mà tự tại nó có nghĩa khác, cũng nghĩa là tự tại trong thiền định.
[1:37:06]Cái câu đó là câu chơi chữ của ngài Khắc Văn. Nếu mà con về đây thăm thầy mà thầy đi đâu chơi thì thôi con cũng rảnh rỗi, nhưng mà vì ngài dùng cái chữ tự tại nó có nghĩa chơi chữ. Cái thời nay mình đọc mấy cái đó mình khó hiểu là bởi vì vậy, nó có những cái chơi chữ. Sư phụ nhắc lại nè, nghe kỹ nè. Nói: "Ngươi đi đâu vậy?" Nói: "Dạ con về thăm Hòa thượng." "Ta không có ở nhà." Ổng ngồi đó ổng nói vậy. Nói: "Không biết Hòa thượng đi đâu?" Nói: "Ta vừa du ở Lô Sơn mà vẫn chơi tại Nam Nhạc." "À, nếu Hòa thượng đi chơi rồi thì con cũng khỏe, con cũng tự tại." Ngài Hoàng Long quay lại hỏi liền: "Đôi giày ngươi là mua ở đâu vậy?
[1:37:41]Ở đâu mà có được cái đôi giày?" Tự nhiên bất ngờ quay sang đôi giày ngài hỏi, thì ngài Khắc Văn mới nói: "Dạ, ở Lô Sơn con bỏ ra 700 tiền con mua đôi giày này." 700 tiền nó lớn lắm, đôi giày không có giá nào giá đó hết trơn á. Không có đôi giày nào mà giá tới 700 tiền á, 700 tiền hồi xưa giống như 700 lạng vàng. Nói: "Ở đâu có đôi giày này?" Nói: "Dạ, ở Lô Sơn con 700 tiền con mua được." Tức là cái giá rất là đắt, đắt tới mức độ đó thì ngài Hoàng Long mới phê bình: "Như vậy ngươi đâu có tự tại." Thì ngài Khắc Văn mới trả lời: "Chưa từng không tự tại."
[1:38:20]Hiểu không?
[1:38:25]Thôi bây giờ trở lại trở lại nhắc lại: "Ngươi đi đâu đó?" Nói: "Dạ con về thăm Hòa thượng." "Ta không có ở nhà." Tức là nơi chính mình mà không chính mình. "Ồ Hòa thượng đi đâu vậy?" "Ta vừa ở Lô Sơn nhưng vẫn giao vẫn đang du Sơn ở vẫn đang ở Nam Nhạc." Tức là vừa đang ở đây mà vẫn đang ở chỗ này, vẫn đang ở chỗ kia. Cái khái niệm không gian nó là sao rồi? Nó mất rồi. Trong cái thế giới mà quán tâm trên tâm á, khái niệm về không gian nó không còn. Các ngài thấy nhiều cảnh giới lạ, nên cái ngài nói bóng nói gió mình không hiểu, nhưng đó là cái các ngài nói cái các ngài đang thấy. Thì ngài Khắc Văn mới trả lời: "Như vậy con cũng được tự tại,
[1:39:08]thì con cũng ở không." Ổng quay sang hỏi cái đôi giày: "Ngươi ở đâu có đôi giày?" Đôi giày là cái gì? Chỗ ngươi nương tựa là gì? Cái chính mình của ngươi là gì? Ổng quay sang ổng hỏi, chớ không phải hỏi đôi giày đâu. Tại mình ai đi cũng phải mang giày mà, phải không? Chỗ giày là cái chỗ dựa của mình, đó là cái chính mình đó, ngài hỏi: "Cái đôi giày ở đâu có vậy?", ý là nói: "Chính mình của ngươi là gì?" Thì ngài Khắc Văn không thèm trả lời chính mình là cái gì, mà ổng trả lời nói như chuyện đời: "Dạ ở Lô Sơn con mất hết 700 tiền mới mua được." Tức là con mất hết 700 lạng vàng ổng mới mua được cái đôi giày đó đó.
[1:39:42]Số tiền rất là đắt, nó không có đáng cái giá đó. Nhưng mà hàm ý của ngài là một cái chuyện khác, là nó không phải điều đùa, cái chỗ mà con tìm thấy được chính mình không phải là một chuyện đùa, cực khổ lắm chớ không phải chuyện đùa. Ngài Hoàng Long mới chê: "Vậy không vậy đâu có tự tại!" Và nói: "Dạ, chưa từng không tự tại." Chính vì cái cực khổ đó mà làm sao? Con mới rảnh rang. Những câu đối đáp này nó phiền lắm. Nhưng mà đại khái là khi các ngài đối đáp với nhau, nó đều là những đạo lý mà nói bóng nói gió, nói bí nói hiểm. Những khái niệm đó nó mất á, những khái niệm về không gian, về thời gian nó biến mất nên các ngài nói ra những câu mình
[1:40:21]không hiểu nổi, vì các ngài thấy mà mình không thấy. Ở trong cái tâm các ngài, khi các ngài thấy mình là cái tâm và trong cảnh giới đó nhiều điều rất là lạ. Tại sao hỏi: "Thế nào là đạo?", nói: "Trời xanh." Nghĩa là gì? Tâm này là là cả một bầu trời ở trong đó, nó không phải bên ngoài nữa. Cái bầu trời xanh trên kia mênh mông này không phải bên ngoài, mà nơi tâm của ngài. Còn ông kia: "Hứ!", tại sao hứ? Mọi cử động đều từ gốc tâm mà mà ra. Hai ông trả lời khác nhau nhưng cùng một cái gốc tâm. Hỏi: "Thế nào là đạo?", "Trời xanh", cả trời đất mênh mông nằm trong đó. "Hứ!", cái hứ nhẹ nhàng đó cũng gốc trong đó đi ra.
[1:41:06]Cái trời xanh bao la và cái hứ đó cùng một cái gốc. Các ngài ngộ được chính mình là cái tâm, vô số điều mầu nhiệm mà các ngài thấy nên các ngài nói, mà các ngài nói, mình điếc, mình không hiểu, tại mình không thấy. Chỉ những người họ cùng ngộ ra giống nhau thì họ hiểu những điều của nhau. Hoặc như là ông Bàng Long Uẩn vậy, nói như: "Gái đá đứng múa, như người gỗ xem tranh vẽ."
[1:41:35]Gái đá, thạch nữ mà có thể múa. Mình nói cái tượng mà tượng đá thì làm sao múa được? Nhưng ổng nói cái người ngộ đạo cũng giống như là cái tượng của cô gái bằng đá mà đang múa, giống như một cái người bằng gỗ mà có thể xem được bức tranh.
[1:41:54]Đó là trạng thái gì? Trạng thái của một người cực kỳ vô tâm. Người như đá, như gỗ, nhưng không phải là không thấy, không phải là không cử động. Nên cảnh giới của người ta ngộ nó sâu, người ta nói những điều bí hiểm như vậy, cực kỳ là lý thú.
[1:42:24]Nhưng khổ một cái thế này, khi cái sức chứng ngộ ta tới đâu thì tà kiến nó xuất hiện theo tới đó. Ngang chỗ này mà nếu không có Phật xuất hiện thì tất cả mọi người đều tưởng mình đã thành Phật. Tại vì nó quá mầu nhiệm, nó quá vi diệu, nên trong tâm xuất hiện một cái tà kiến: Chỗ này là đã cuối cùng, đây là Niết Bàn, đây là Phật. Và Phật cũng chỉ thế thôi. Không biết được cảnh giới của Phật, nhưng tới chỗ mình chứng cái đó nó cao quá, nên trong tâm đã ngầm: Phật cũng chỉ là vậy thôi. Nên khi thấy tượng Phật, nhiều khi leo lên ngồi vắt lên vai tượng Phật, vì Phật cũng chỉ nhiêu đó thôi. Cái đó cũng là một tà kiến.
[1:43:09]Có nhiều thần thông, mấy vị này có thần thông muốn chết là chết, muốn sống là sống, muốn bay là bay, vậy đó.
[1:43:18]Nhưng trong đây nó cũng có một cái nhược điểm lớn. Sư phụ dặn ở chỗ này, sau này ai chứng tới thì nhớ giùm nghen.
[1:43:31]Nó có hai cái nhược điểm ở chỗ này, hai cái tà kiến khi một người chứng tới cái chỗ này. Một là tưởng tâm này đã bằng Phật. Thật ra nó vẫn còn gì? Vô minh, nhớ giùm nha. Nhưng vô minh khó thấy quá! Nhưng mà lúc vì cảnh giới tâm mình quá mầu nhiệm, quá thanh tịnh rồi, nên ta tưởng ta đã đến được cuối con đường, nhưng sự thật chưa, vẫn còn vô minh. Làm ơn nhớ cái thứ nhất là vô minh vẫn còn. Cái thứ hai, chỗ này mới độc nè, nó có thể làm hư não mình nè: Hướng ngoại. Lúc đó, hồi nãy chúng ta nói hướng ngoại là bao nhiêu điều làm ta hướng ngoại? Một là cái gì? Ngoại cảnh ta nhìn phải không? Hướng ngoại. Hai là gì?
[1:44:19]Cái vọng tưởng của ta. Ba là cái gì? Hơi thở. Bốn là cái gì? Là những cảnh giới thanh tịnh của nội tâm. Năm: Thần thông. Thì ở cái chỗ mức độ mà quán tâm trên tâm, ta bị hai điều: Cảnh giới mầu nhiệm của tâm và thần thông kéo ta chạy ra ngoài. Vì lúc đó mình nghĩ tâm mình là bất động rồi, không thể động được nữa, tha hồ nhìn ra bên ngoài, tha hồ khởi thần thông. Không ngờ chết vì cái này, chết vì cái nhìn ra bên ngoài, không ngờ chết vì cái thần thông. Nhất là cái mà gọi là trời xanh đó. Ví dụ hỏi thế nào là Phật? Nói: Cây bách ở trước sân. Một người, một vị Tăng hỏi một Thiền sư, ngài Triệu Châu:
[1:45:02]Thế nào là đại ý của Phật Pháp? Ngài nói: Cây bách, cây tùng ở trước sân. Vị Tăng mới nói: Hoà thượng đừng lấy cảnh bên ngoài lừa con. Nói: Ta không có lừa ngươi. Vậy thế nào là đại ý Phật Pháp? Cây bách ở trước sân. Ông kia ngộ đạo liền. Không biết có ngộ thật hay không, câu chuyện không kể tiếp nữa. Nhưng điều đó có nghĩa là gì? Khắp cả trời đất này là sự thanh tịnh, khắp cả trời đất này là nội tâm. Và ngay chỗ này, ta mới hiểu cái câu mà phục nguyện ở trong các bài kinh tụng của các chùa: "Tình dữ vô tình, đồng thành Phật đạo." Tình là các loài chúng sinh nè, vô tình là cây đá nè, đều là Phật, đều là giác ngộ.
[1:45:47]"Tình dữ vô tình, đồng thành Phật đạo."
[1:45:54]Con người cũng là cũng có giác tánh, cây đá cũng là sự giác ngộ, cũng đều có cái biết hết, tất cả đều trong tâm hết. Lúc đó ở đâu cũng là thanh tịnh, không cần an trú chính mình nữa. Mà như ta đã biết cái nguyên tắc á, để đi tìm vô ngã là an trú nơi nơi chính mình, cho tới ngày cái ngã nó biến mất. Nhưng lúc đó ta rời khỏi chính mình, vì tất cả là thanh tịnh, khắp cả trời đất là thanh tịnh, cây đá cỏ lá hoa tất cả là thanh tịnh, ta không cần ở với chính mình nữa. Đây là một cú lừa thứ hai, một cái tà kiến kế tiếp, rất nguy hiểm. Nhưng mà chỗ này không ai nhắc chúng ta, hầu hết ngang đây đứng lại, mất thêm năm mười ngàn năm nữa. Rất là uổng.
[1:46:38]Nên sau này nếu ai mà ngộ được cái chỗ quán tâm trên tâm thì làm ơn nhớ hai điều giùm Sư phụ: Một, nơi cái chỗ tâm vi diệu đó vẫn còn vô minh, chấp ngã. Hai, thấy cái sự thanh tịnh trùm khắp rồi, nghĩ mình không thể nào mà động lại được nữa, nên tâm tha hồ thả lỏng ra hết khắp nơi, không an trú được chính mình rồi mất luôn, sau này vẫn có thể động lại, não vẫn có thể bị hư vì cái hướng ngoại.
[1:47:12]Làm ơn nhớ hai điều này nghen, nha. Cho nên, lúc này vẫn phải sao? Làm ơn vẫn phải lễ kính Phật, vẫn phải phát nguyện hướng về vô ngã, vẫn phải phát nguyện độ sinh.
[1:47:27]Như có cái câu chuyện tức ngài Hoàng Bá ngài đắp y ngài đi lễ Phật, mà ngài Hoàng Bá là một Thiền sư vĩ đại, thầy của Lâm Tế mà. Ta biết tất cả cái Phật Đạo Phật của Việt Nam, Bắc tông này, đi vô chùa nào cũng là tông Lâm Tế. Mà ngài Lâm Tế là ai? Đệ tử ngài Hoàng Bá. Thì ta biết là Thiền sư Hoàng Bá vĩ đại. Hôm đó ngài đắp y ngài đi lễ Phật thì có cái ông quan đó ông ông ông ổng này ổng là hoàng thân rồi ổng trốn qua chùa do cái nạn ở trong cung điện, ổng trốn vào đó ổng đi tu. Ổng ngồi ổng đi tu, cái ổng thấy ngài Hoàng Bá đắp y đi lễ Phật cái ổng nói: Tượng Phật chỉ là gỗ xi à là là gỗ mà mà Hoà thượng lễ làm gì?
[1:48:05]Ngài Hoàng Bá tát cho hai bạt tai xỉng niểng liền. Nói: Thiền sư còn sân? Không phải sân, lúc đó phải dạy ổng bài học cho nhớ đời, vẫn phải tiếp tục lễ kính Phật. Mặc dù ngài Hoàng Bá là một Thiền sư vĩ đại, cái sức ngộ ngài rất sâu, nhưng ngài vẫn lễ Phật. Mà cái câu chuyện được ghi lại nơi cái nơi cái chùa của ngài Hoàng Bá, ngài pháp hiệu là Hy Vận, chùa là Hoàng Bá, cái xứ Hoàng Bá, ngài là Thiền sư Hy Vận, gọi là Hy Vận Hoàng Bá. Ngài đi lễ Phật. Cái ông kia là em vua, anh vua chứ, ông kia là anh vua, gặp nạn chạy trốn qua chùa đi tu, thấy ngài đắp y lễ Phật bày đặt phê bình, nói: Tượng Phật chỉ là tượng gỗ, bây giờ mình nói thêm tượng
[1:48:45]xi măng nữa, lễ làm gì, cho hai bạt tai liền. Ngài Hoàng Bá đi như vậy mới là đúng. Dù sức ngộ ta rất là sâu, không bao giờ được quên cái lễ kính Phật, không bao giờ quên cái phát nguyện để hướng về vô ngã triệt để, tu cho hết sạch vô minh, vẫn phải tiếp tục phát nguyện độ sinh, chứ không bao giờ cho là cho là đủ, chỗ đó vậy.
[1:49:08]Còn nếu mà ngang đây mà thấy mình đủ rồi thì lại vài nghìn năm nữa, lang thang thêm vài nghìn năm nữa.
[1:49:21]Giờ ta nhớ không? Tứ niệm xứ là gì?
[1:49:27]Là đi an trú nơi chính mình cho tới khi không còn chính mình, đạt được vô ngã. Cái chính mình đầu tiên mà ta tìm thấy là gì? Tội lỗi. Ta chính là tội lỗi. Cái này Phật cắt, Phật không có dạy. Nhưng mà bây giờ ta phải bổ sung thêm vì ta quá tội lỗi. Ở cấp độ thứ nhất, chính mình là gì? Cái thân này. Ta an trú được thân mà nó tự nhiên nó an trú chứ không phải là mình cố ý. Cấp độ thứ hai, mình là gì? Là thọ. Ta chỉ là một cảm giác vô hình, mà tâm rất thanh tịnh. Cấp độ thứ ba, chính mình là gì? Chính mình là cái tâm vi diệu, mầu nhiệm,
[1:50:14]sáng suốt, nhỏ nhiệm, nhưng động cái là phủ trùm.
[1:50:21]Nếu người nào biết rằng nơi cái tâm đó, thanh tịnh cực độ đó vẫn còn vô minh, vẫn tiếp tục lễ kính Phật, tiếp tục làm các việc công đức, thì khi đủ duyên ta bước qua cái thứ tư là quán pháp trên pháp.
[1:50:36]Lúc này
[1:50:40]ta không còn là ta mà ta là nhớ không?
[1:50:51]Vì không còn là chính mình, người đã thành... cái bài bài đó ở đâu vậy? Không còn là chính mình, người đã là... trong cái bài nào? Sám hối! Không còn là chính mình, người trở thành vũ trụ là trăng sao mây gió là lá hoa là đất. Nhớ không? Cho nên khi mới đầu, chính mình là cái thân, rồi tu đến khi chính mình chỉ là một cảm giác, rồi khi tu đến chính mình là cái tâm vi diệu. Cho đến chính mình không còn là chính mình nữa thì đã trở thành... trở thành gì? Trở thành gì? Vũ trụ phải không à? Sai. Trong cái bài kinh Sám hối thì sư phụ viết là như vậy: "Không còn là chính mình, người trở thành tất cả".
[1:51:46]Nhưng nói như vậy mới đúng không, nói đúng theo Tứ niệm xứ thì phải nói là thế này: "Khi không còn là chính mình, người trở thành chân lý của vũ trụ chứ không phải vũ trụ".
[1:52:02]Lúc đó toàn bộ cái chân lý, những nguyên lý sự thật, những đạo lý vi diệu là mình, mình không còn là mình nữa, không còn là cái ta này nữa, mà là chân lý chứ không phải là sự vật, không phải là sự việc, không phải giống như nói là trời xanh, không phải là khứ, không phải là cây bách trước sân, không phải là sự vật sự việc, mà là chân lý mầu nhiệm vô hình của vũ trụ thôi. Chỉ là đạo lý, chỉ là chân lý, không phải là sự vật, sự việc. Lúc này ta mới thấy cái khác nhau của một thiền sư mà ngộ được tâm với của một vị A-la-hán khác nhau. Của một vị thiền sư hỏi: "Thế nào là Phật?" "Cây bách ở trước sân".
[1:52:39]Nó vẫn là sự việc, sự vật. Tâm mình trùm hết, tất cả là tâm, tất cả là sự là sự sáng suốt, tất cả là sự giác ngộ, tất cả là sự biết, nhưng vẫn là sự vật sự việc. Còn đến sự vô ngã của một vị A-la-hán, không còn là chính mình, người đã trở thành chân lý của vũ trụ, chứ không phải vũ trụ nha. Vũ trụ vẫn là một cái gì mênh mông to lớn, vẫn còn khái niệm to lớn, còn cái chân lý nó không còn khái niệm nhỏ to nữa, nó là chân lý thôi. Người đó đã trở thành chân lý. Cho nên khi Đức Phật Ngài đắc đạo, điều Ngài ngộ ra đầu tiên là gì? Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế, thấy được Tứ Diệu Đế, thấy được Bát Chánh Đạo
[1:53:23]và đầy đủ thấy được tất cả nhân quả, luật nhân quả của vũ trụ này, thấy được cái luật quy luật luân hồi, thấy được tất cả các cõi giới, vì Ngài đã trở thành chân lý của vũ trụ chứ không phải trở thành vũ trụ. Cho nên trong trong cái bài hát Đêm Thành Đạo: "Một vì sao mai soi sáng, muôn không gian Người nắm trong tay rồi". Câu đó đúng hay sai?
[1:53:52]Là ý lúc viết lúc đó đó, thì sư nói rằng là khi giác ngộ rồi thì tâm của một vị đắc đạo, vị Phật là thu tóm hết cả vũ trụ. Nhưng câu đó sai. Vì vũ trụ nó vẫn còn cái khái niệm của sự rộng lớn. Thực sự khi mà ngộ đạo rồi thì bao nhiêu nguyên Ngài trở thành chân lý của vũ trụ, biết rõ mọi đạo lý, mọi nguyên lý, mọi sự thật, mọi định lý, tất cả cái cái quy luật đó, chứ không phải là cái cái cái vũ trụ rộng lớn, không phải là vũ trụ rộng lớn. À. Cho nên bài hát thì hát nghe cho vui, thật sự nó sai đó. Hoặc là: "Không còn là chính mình, Người đã trở thành tất cả". Câu đó cũng sai. Mà nếu đúng hơn phải là:
[1:54:35]"Không còn là chính mình, Ngài trở thành chân lý của vũ trụ". Câu đó mới là đúng. Chỉ là chân lý thôi, không phải là cái gì hết. Không phải là sự vật, không phải là sự việc, không phải là khái niệm, mà là chân lý thôi. Nên tất cả mọi điều đều biết hết. Nhất là Tứ Diệu Đế là biết nè, luật nhân quả là biết một cách sâu sắc nè. Các cõi giới biết hết, luân hồi thế nào biết hết. Và 12 nhân duyên biết hết. Và lúc này bắt đầu ta mới nói tới Thất Giác Chi. 11 giờ rồi. Buồn ngủ chưa? Cho ngáp vài giây đó. Thật sự đêm Giao Thừa năm nay rất là thiêng liêng khi ta nghe được bài Pháp này. Ai có duyên, có phúc ta nghe được bài Pháp này.
[1:55:26]Mà nếu người nào nghe bài Pháp này mà xúc động, mà ghi nhớ, mà thành kính, ta gieo được duyên một cái ân phúc rất là lớn cho sự tu hành của mình nha.
[1:55:37]Khi một vị giác ngộ rồi, ngộ đến chỗ mà quán pháp trên pháp, tức là không còn là chính mình. Mới đầu mình là thân, mình là thọ, mình là tâm, bây giờ mình là pháp, tức là không còn là mình nữa mà đã trở thành chân lý của vũ trụ. Người tự tại, tức là đã giải thoát rồi thì nó hiện ra cái cái Thất Giác Chi là bảy tính chất của một bậc giác ngộ. Tính chất thứ nhất là Trạch pháp. Trạch pháp nghĩa là biết rõ mọi điều trong cuộc sống này, biết cái gì sai, biết cái gì đúng, không có mờ mơ hồ. Không có chuyện nói: "Cái này cũng được, kia cũng được", không có cái "cũng". Cái nào đúng, cái nào sai, cái nào bao nhiêu phần đúng,
[1:56:18]bao nhiêu phần sai, biết rõ từng chi ly tất cả hết. Một người đó nói biết họ nói câu đó đúng bao nhiêu phần, sai bao nhiêu phần lẫn trong một câu nói. Tại vì nhiều khi không phải yes, no, không phải là hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai. Có khi đúng một phần, sai một phần. Thì một cái vị mà giác ngộ cái cái tính chất đầu tiên của Thất Giác Chi là Trạch pháp. Biết hết mọi điều, điều nào đúng, điều nào sai, biết hết. Đúng bao nhiêu phần, sai bao nhiêu phần, nghe, biết hết mọi chuyện, không bao giờ sai gọi là Trạch pháp. Cái thứ hai là Tinh tấn. Ta nghe chữ tinh tấn này lạ lạ. Tinh tấn này nghĩa khác rồi.
[1:56:56]Cái tinh tấn giống như cái Chánh tinh tấn mà lúc mình ráng tu mà chưa đắc đạo, chưa đắc thiền á, thì phải tinh tấn. Nhưng ủa, sao một người đắc đạo rồi lại có cái tinh tấn đây? Không phải. Cái chữ tinh tấn của Thất Giác Chi có nghĩa là tinh thần trách nhiệm tràn đầy. Cái người mà giác ngộ rồi, cái tinh thần trách nhiệm của họ đối với Phật Pháp, đối với chúng sinh là vô tận, chứ không có chuyện ở không, ở nhàn, ở rỗi, tự hưởng cái tự tại là là ở rảnh rỗi của mình, không có chuyện đó. Một vị đắc đạo rồi là một con người cực kỳ năng nổ, siêng năng. Tinh thần trách nhiệm cực kỳ cao đối với thế giới,
[1:57:33]đối với chúng sinh, đối với nhân loại, đối với Phật Pháp. Tính chất thứ hai của một vị giác ngộ là Tinh tấn. Tính chất thứ ba của một vị giác ngộ là Hạnh phúc. Hồi nãy chúng ta nói dopamine tiết ra, nên Phật cứ cười cười cười cười là vậy. Còn ai mà bắt chước cười cười thì coi chừng. Nha. Mình không phải là người giác ngộ, mình cứ cười cười thì nguy hiểm. Nhưng mà tính chất thứ ba của Thất Giác Chi là Hỷ, là hạnh phúc. Không bao giờ có chuyện đau khổ nơi một người đã giác ngộ. Cái tính chất thứ tư của một bậc giác ngộ là Khinh an. Khinh an là cảm giác thơi thới, nhẹ nhàng. Nó không phải là hạnh phúc.
[1:58:11]Cái Hỷ là hạnh phúc, là một cảm giác, còn cái cảm giác Khinh an lúc nào cũng nhẹ nhàng, nhẹ nhàng như hư vô là một cái tính chất của một bậc giác ngộ. Tính chất thứ năm của bậc giác ngộ là Niệm, có nghĩa là không bao giờ, tuyệt đối không có chuyện xao lãng. Không có chuyện xao lãng. Không có chuyện xao lãng là sao? Không có vọng tưởng mà làm mình đãng trí qua cái chuyện khác. Mà đặc biệt ví dụ như cái vị đó mình nghe một người nói đó, thì mình lắng nghe một người nói, nhưng ba người nói thì cái vị giác ngộ họ nghe cùng lúc ba người không mất người nào, không mất nội dung của người nào. Thấy cái niệm của họ tới vậy, giống như phân tâm.
[1:58:53]Mà thậm chí những vị như A-la-hán họ phân tâm ra 1.000 thân thì 1.000 thân đó làm việc chăm chú, đâu đó chu đáo hết. Cái sức niệm của một vị A-la-hán là vậy. Tức là không đãng trí, nhưng mà không phải không đãng trí cho một việc, mà không đãng trí cho cùng một lúc cả trăm việc, cả ngàn việc được. Dễ sợ như vậy. Đó là cái tính chất Thất Giác Chi. Và tính chất cuối cùng là cái tính chất thứ sáu của Thất Giác Chi là Định, có nghĩa là nhập định được, nhập định Diệt Tận Định luôn, định rất là sâu, đó là điều đương nhiên rồi. Tính chất thứ bảy của Thất Giác Chi là Xả, không còn bị ràng buộc, không còn bị vướng bận và cũng là cái đạo đức của sự tha thứ.
[1:59:32]Nên Thất Giác Chi thầy nhắc lại: Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Niệm, Định, Xả là bảy tính chất của một bậc giác ngộ. Như vậy, Trạch pháp là gì? Biết mọi điều sai đúng trong từng đường tơ kẽ tóc. Tinh tấn là gì? Có tinh thần trách nhiệm đối với Phật Pháp, đối với chúng sinh. Hỷ là gì? Chỉ có hạnh phúc, không bao giờ có đau khổ nơi một người đã giác ngộ. Khinh an là gì? Đó là trạng thái của thân và tâm rất là nhẹ nhàng. Niệm là gì? Không bao giờ bị xao lãng trong một chuyện và hay cùng một lúc nhiều chuyện cũng không xao lãng. Định là gì? Khả năng nhập từ các mức thiền, các mức định, nhập được hết. Và Xả là gì?
[2:00:15]Không còn bị ràng buộc bởi luân hồi sinh tử, bởi bất cứ chuyện gì, không còn chuyện gì. Đó. Nên là
[2:00:26]Chúng ta vừa đi qua Tứ Niệm Xứ. Vậy Tứ Niệm Xứ là gì? Là bốn tầng bậc chứng ngộ để đi đến vô ngã, mà trên con đường đi đến vô ngã ta phải đi với bản ngã. Cái bản ngã đó là chính mình theo tùy theo cái sức tu, cái sức chứng của ta mà cái ngã đó đang là cái gì. Với người phàm phu chúng ta, cái cái ngã ta là cái tội. Với cái người bắt đầu có kết quả của sự thanh tịnh thì cái ngã của ta là cái thân. Đối với người chứng cao hơn, cái ngã của ta là chỉ là một cảm giác vô hình. Đối với người chứng cao hơn nữa, cái ngã của ta là cái tâm, cái tâm mầu nhiệm, vi diệu, thanh tịnh, sáng suốt. Và cái mức độ thứ tư là không còn ngã nữa, mà đã trở thành chân lý của vũ trụ.
[2:01:21]Trở thành bậc giác ngộ thực sự, đây là như vậy. Các thiền sư là Thiền tông Trung Hoa hay nói là bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền là không nói gì. Truyền riêng nói câu bóng gió, nhưng sự thật các ngài đi đúng con đường Tứ Niệm Xứ. Còn bên Theravada, Vipassana thì thường thích đi con đường Tứ Thiền, ráng ngồi thở cho nó hy vọng là được vào được Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền gì đó, hy vọng đi con đường Tứ Thiền. Còn thiền sư Trung Hoa không cần thiền, không cần định tâm, không cần hết vọng tưởng mà cần anh thấy cái gì? Cần anh thấy được cái gì là mình? Cái mình của anh là cái gì? Các thiền sư cần cái đó, không cần cái mà ráng ngồi mà nhiếp tâm cho bữa nay được
[2:02:02]thanh tịnh mấy phút, ngày kia được thanh tịnh mấy phút như kiểu bên Theravada. Theravada đi con đường Tứ Thiền, còn bên Thiền tông Trung thưa Trung Hoa đi con đường Tứ Niệm Xứ, an trú chính mình. Hễ anh thấy được cái mình ở mức độ nào thì vọng tưởng không quan trọng nữa, không có đối phó với vọng tưởng. Giống như mình thấy mình là tội, tự nhiên vọng tưởng bị chặn lại; thấy mình là cái ta, cảm giác chặt chẽ, vọng tưởng bị chặn lại, không cần chống đối với vọng tưởng, vọng tưởng tự mất. Còn thấy mình là một cảm giác thôi, đừng hòng có vọng tưởng. Đây là chỗ khác nhau như vậy. Chỗ khác nhau giữa cái Tứ Thiền và Tứ Niệm Xứ nhưng rồi cuối cùng cũng là
[2:02:38]một, cũng đều phải tới Tứ Thiền, cũng đều phải tới tứ quả Thánh A La Hán và cũng đều tới cái quán pháp trên pháp, đều là giống nhau như vậy cả. Nên bốn quả Thánh là bốn tầng bậc, bốn thiền cũng là bốn tầng bậc và Tứ Niệm Xứ cũng là bốn tầng bậc của sự chứng ngộ, nhưng mà ta tiếp cận với một cái góc độ khác, cái góc nhìn khác. Hiểu được điều này rồi, ta có thể hiểu được hết mọi cái sự tu hành của các tông phái, họ đang đi con đường nào. Nếu có người nào chỉ tu dưỡng đạo đức rồi ráng làm các công đức, bất ngờ chứng quả, thì đó là người đi con đường tứ quả, tiến lên từ từ. Nếu người nào ráng thiền để nhiếp tâm thanh tịnh,
[2:03:16]người đó ráng đi con đường Tứ Thiền trong Chánh định của Bát Chánh Đạo. Còn nếu người nào cố gắng an trú chính mình để đi qua từng cái bước của cái ta, người đó đi con đường Tứ Niệm Xứ, rồi cuối cùng cũng sẽ gặp nhau vậy. Con đường Tứ Niệm Xứ là: chính mình an trú đi qua bốn phần, là thân, là thọ, là tâm, cuối cùng là pháp, xuất trần siêu phương. Cái ta đến tận cuối đường trở thành chân lý phi thường bao la. Khi không còn có cái ta, sẽ là giác ngộ chan hòa vô biên. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[2:04:01]Chưa tới giao thừa, mừng...
[2:04:05]Chúng con thành kính tri ân những lời pháp âm cao quý của sư phụ. Chúng con thành kính cung thỉnh sư phụ và toàn thể đại chúng khởi thân niệm hồi hướng.
[2:04:19]Nguyện cho khắp pháp giới chúng sinh, ai ai cũng tìm ra được chính mình, để rồi an trú qua nhiều kiếp, cuối cùng tan vỡ hết vô minh.
[2:04:51]Sau khi mà sư phụ giảng xong cái Tứ Niệm Xứ này đó thì sư mới nhận được một cái tin nhắn
[2:04:58]là quỷ sứ đang đứng đầy ngoài kia hết, ai nói bậy nghĩ bậy họ cắt lưỡi, họ đập đầu họ...
[2:05:12]Chúng con thành kính cung thỉnh sư phụ hồi quy phương trượng, kính thỉnh quý thầy cô và quý Phật tử nghỉ ngơi.