[0:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:35]Mời quý Phật tử ngồi xuống.
[0:41]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta cũng nói tiếp đề tài Sự Khác Biệt. Đề tài hôm nay là sự khác biệt giữa hai cái phạm trù đối lập, tương đối và tuyệt đối. Cái bài này cũng hơi quan trọng. Trước hết chúng ta định nghĩa tương đối, tuyệt đối là gì. Có một điều là ngôn ngữ của các quốc gia trên thế giới đều bị một cái tình trạng giống nhau là chữ nó đổi nghĩa từ từ. Theo thời gian, theo mỗi trường hợp, người ta dùng chữ đổi nghĩa từ từ hết trơn. Ví dụ như chữ tương đối, mới ban đầu nghĩa khác, nhưng sau này cái người ta dùng với nghĩa "à cô đó có đẹp không?", nói "cũng tương đối",
[1:30]tức là cũng khá đẹp vậy thôi, nên chữ tương đối bị hiểu là khá khá. Ví dụ như nói "cái máy đó tốt không?", nói "cũng tương đối", thì bị hiểu cái chữ tương đối bị hiểu qua cái nghĩa là khá khá, hơi hơi, được được. Ví dụ như chữ quậy, chữ quậy nghĩa là gì? Quậy tức là khi mình rót nước với có một cái chất gì mình lấy cái muỗng mình khuấy khuấy cho nó tan ra. Thì bây giờ chữ quậy nghĩa là gì? Quậy nghĩa là nghịch ngợm, phá phách này kia nọ. Nên theo thời gian cái ngôn ngữ nào cũng bị như vậy. Thì chữ tương đối và tuyệt đối theo thời gian nó cũng bị đổi nghĩa rất là nhiều. Chúng ta không có chạy theo cái nghĩa mà dân gian họ đã thay đổi.
[2:13]Chúng ta nói lại cái nghĩa chuẩn của cái từ tương đối và tuyệt đối. Bây giờ thứ nhất, theo chữ nghĩa thì tương đối có nghĩa là còn có thể so sánh, có thể đối chiếu với vật khác, những giá trị khác, những khái niệm khác, nghĩa là còn hơn, còn kém. Tương tức là tương quan, đối là đối chiếu. Tức là còn có thể lập một cái mối liên hệ để đối chiếu, để so sánh thì gọi là tương đối. Chừng nào mà không thể lập ra một sự so sánh với cái gì khác, vượt ra bên ngoài hết, chỉ là một giá trị độc nhất vượt hơn tất cả thì gọi là tuyệt đối. Đó là ý nghĩa chuẩn từ cái chữ Nho cho tới cái nghĩa trên khoa học cũng đều là như vậy.
[3:05]Một cái gì mà không biến di, biến dịch, một giá trị độc nhất không so sánh nữa thì gọi là tuyệt đối. Còn cái gì còn có thể so sánh hơn kém, dựa vào cái này để đánh giá cái kia, dựa vào cái kia để đánh giá cái nọ thì đều là tương đối, ý nghĩa là như vậy. Giờ chúng ta muốn hiểu nghĩa này thì chúng ta khảo sát qua một số ví dụ, chúng ta sẽ thấy rõ hơn. Ví dụ như Phật là bậc Thánh tuyệt đối vì không có một giá trị thánh triết nào có thể so sánh được. Thì như vậy chúng ta gọi Phật là vị Thánh tuyệt đối, vì trong đó không có những cái còn sơ suất hoặc là còn có cái gì có thể hơn được. Nên có một cái từ khác để ca ngợi cái vị trí Thánh của Phật là bậc Vô Thượng Tôn.
[4:01]Vô thượng là không gì có thể hơn được, Tôn là Đấng, Đấng vô thượng. Sau này chúng ta nghe có một vài vị ra làm đạo đã vội vã xưng mình là Vô Thượng Tôn, Vô Thượng Sư thì đây là một điều lầm nhận rất là nông nổi, nhưng nó gây cái nguy hiểm, làm tổn phước nặng. Chớ theo đạo lý thì Phật là vị Thánh tuyệt đối. Ở đây chúng ta phân biệt ra làm hai chút xíu, là giữa cái nhiệm vụ và cái thánh tính, tức là cái tính chất về Thánh. Ví dụ như nói trên cái nhiệm vụ thì có thể Đức Phật không phải là một người mà có một cái nhiệm vụ gì trong ba cõi sáu đường này hết. Vì Ngài đã từ bỏ cái ngôi vị thái tử mà để chuẩn bị làm vua, Ngài bỏ đi.
[4:53]Cho nên đối với thế gian Ngài không còn là gì nữa hết á. Ngài không còn là một người chồng, Ngài không còn là một người cha, không còn là một người con, thậm chí không còn là một thái tử, không còn là một người để kế thừa cái vương quyền nữa. Nên đối với thế gian Ngài không có một cái chức gì hết trơn. Và đối với những tầng trời cũng vậy, mỗi tầng trời đều có một vị vua trời để cai quản thì những vị vua trời đó quyền uy rất lớn. Ví dụ như trong cái thế gian này, cái quyền uy của những vị mà lãnh tụ của đất nước cũng rất là lớn. Hồi xưa vua là người lãnh đạo tối cao, tất cả mọi điều đều của vua, quyền uy của vua vô hạn.
[5:38]Vào trong thời đại dân chủ thì không có một cái vị lãnh đạo mà tối cao như vậy nữa, quyền hành được chia ra làm ba cơ quan: cơ quan lập pháp là Quốc hội tạo ra cái luật lệ; cơ quan hành pháp là thực hành, lãnh đạo, quản lý quốc gia theo cái luật mà Quốc hội đã bày ra; cơ quan tư pháp là coi chừng có ai phạm luật mà xử. Ba cái cơ quan đó nó đồng hành, phối hợp với nhau để điều hành quốc gia, chứ không còn một vị lãnh đạo tối cao muốn làm gì thì làm nữa. Nhưng mà vào cái thời Đức Phật thì mỗi quốc gia vẫn còn có một vị vua cai trị, quyền hành rất là lớn. Mà quyền hành đó cũng không bằng quyền hành của những vị vua cõi trời.
[6:19]Những vị đó quyền hành lớn lắm, vì mình ở cõi này mình không có hiểu được. Quyền hành đó lớn, lớn đến nỗi mà người ta có nghĩ rằng những vị vua đó có thể tạo ra được vũ trụ, tạo ra được con người, tạo được trời đất. Nên chỗ này chúng ta cẩn thận lại một chút. Có những tôn giáo họ tôn thờ cái vị vua cõi trời, bởi vì họ thấy vị đó quyền uy quá nên họ cho rằng vị đó là Thượng Đế tạo ra tất cả thế gian này, vũ trụ này từ một chỗ không có gì cả. Tức là từ thuở ban đầu vũ trụ không có gì hết, rồi có Thượng Đế, thế là Thượng Đế dựng lên từ từ những ngôi sao, những hành tinh rồi sự sống con người, vạn vật là do phép mầu, do ý muốn của Thượng Đế.
[7:08]Mà tại sao có cái ý nghĩ như vậy ở các tôn giáo khác? Bởi vì một vài lần nào đó, họ bắt gặp được cái sự thiêng liêng, cái quyền uy của những vị vua cõi trời nào đó. Mà theo cái vũ trụ quan của Đức Phật thì trên trời có nhiều tầng trời, mỗi tầng có một vị vua. Ở đây nó có chỗ này dễ làm người ta lầm, là ví dụ như có một người nhà giàu, giàu có đầy đủ, mà người tiền nhiều thì chúng ta phải hiểu là tự nhiên có quyền nhiều, tiền nhiều là có quyền nhiều. Rồi có một cái người nghèo đi đến với cái người giàu đó xin, à nói là: "Xin ngài cho con nhà con ở, cơm con ăn, áo con mặc vì con không có gì hết".
[7:53]Cái người nhà giàu đó thương tình: "Được, ta cho ngươi". Thế là người nhà giàu đó mới cho cái người này một căn nhà để ở, cho cơm để ăn, cho áo để mặc. Thì như vậy chúng ta thấy cái người giàu đó có quyền, có cái uy lực không? Đối với người nghèo là có uy lực không? Có phải không? Thì như vậy cái ơn mà của người nghèo mà phải thọ nhận đến cái người giàu đó là quá lớn không? Giống là người giàu này đã tạo ra cuộc đời cho mình, phải không? Từ một cuộc đời nghèo khổ không có gì mà gặp cái người giàu đó ổng từ bi, ổng cho một cái được tất cả. Thì như vậy chúng ta thấy trên cuộc đời này một cái quy luật là cái người có phước
[8:32]có thể ban, có thể cho cái người kém phước hơn mình. Đúng không? Đó là chúng ta ví dụ thế gian, phải không? Ví dụ rất bình thường ở thế gian là một cái người có phước nhiều sẽ có quyền ban cho cái người kém phước hơn mình. Đó là quy luật. Giờ suy rộng ra ở trên cõi trời cũng như vậy, cũng như vậy. Thí dụ một vị thiên tử cõi trời, chưa nói tới vua cõi trời, là những vị đó có phước hơn mình nhiều. Mình thì mình không biết vị nào thiên tử tại vì mình không có con mắt thánh, mình là một con người phàm tục, mình sống cõi người. Nhưng lúc nào đó cái mình khổ, mình gặp nhiều chướng ngại, mình năn nỉ, mình cầu nguyện, mình xin.
[9:14]Ví dụ như là mình nói là: "Giờ con quá nghèo khổ, xin cho con một ít vốn con làm ăn", ví dụ vậy. Thì nếu có duyên, tự nhiên cái vị đó cho mình được, cho bằng một cách gì đó mình không thấy nhưng mà một cái quyền lực bí mật phù hộ khiến tự nhiên mình gặp một cái may gì đó bất ngờ mình không ngờ tới được. Như có lần chúng tôi gặp cô Phật tử cô kể chuyện. Thì cô này lúc đó là chồng thì chết, một mình nuôi 11 đứa con. Sau giải phóng, lúc đó là thời buổi mà ai cũng ăn độn khoai mì đó, thời gian đó là cả đất nước mình khổ ghê gớm, mà một người phụ nữ nuôi 11 đứa con, lúc đó buôn bán lây lất ở chợ Kim Biên, mà buôn bán ít bữa hết vốn liền tại 11 cái miệng ăn thì cỡ nào cũng hết.
[9:57]Thì một lần đó cô nói là cô ngồi cô buồn quá mà cô rất là mộ đạo, nhiều khi dám mượn tiền đi cúng chùa nữa. Cô ngồi cô buồn cái cô, cô cầu Phật, cầu Bồ Tát, Phật gia hộ. Thì lúc đó tự nhiên cơn mưa đổ xuống, rồi nước nó chảy theo lề đường nó trôi. Rồi nó trôi một lát cái tự nhiên cô nhìn xuống cái dòng nước cô thấy có cái vật lấp lánh, thì cô cúi xuống cô nhặt lên một chiếc nhẫn vàng. Thế là cô bán cũng làm được cái vốn để làm ăn trở lại tiếp, như vậy. Tức là có những chuyện hên nho nhỏ nho nhỏ cô kể lại. Thì cái chuyện mà nước mà trôi cái nhẫn vàng nó tới mình thấy giống như ngẫu nhiên, nhưng mình đâu có ngờ là nó có một cái bí
[10:33]mật tác động của ơn trên, của những vị thiên tử nào đó. Thường thường có nhiều người á, ví dụ như cầu nguyện niệm Phật cầu gia bị, niệm Bồ Tát cầu gia bị, thì được cái chuyện linh ứng, được cái chuyện linh ứng đến với mình thì nghĩ rằng à Phật và Bồ Tát đã cho mình, nhưng không phải. Sự thật không phải. Đây là một bí mật nữa nè, của Bồ Tát hạnh. Thường thường á là ví dụ mình niệm Phật Thích Ca, niệm Bồ Tát Quan Âm thì đích thân những vị đó không làm gì hết, không có cho mình điều gì hết, mà ai cho? Chư Thiên không à? Đó là bí mật của hạnh Bồ Tát đó. Các vị lớn, các vị phước vô lượng các vị không làm.
[11:13]Cái vị mà ra tay làm á là không có cơ hội cho người khác làm. Cho nên thường lúc đó là chư thiên tử đó mượn cái đức của chư Phật, chư Bồ Tát để giúp cho cái chúng sinh mà đang có lòng mà đang cơn khốn cùng. Nhưng mà mình phải có duyên, mình phải có đức, mình có phước tiềm ẩn mới được giúp nha. Còn có những người mà không đức, không phước, không có gieo duyên, nhiều khi cầu xin cũng không ra. Có những người cầu nguyện được và có những người cầu nguyện không được gì hết. Những người cầu nguyện được là thế này nè: Là những người ví dụ như có tâm đạo mà phước chưa đủ, cho nên chư Thiên hay là chư Bồ Tát gia hộ cho mình giống như cho mình mượn phước.
[11:53]Nhưng mà biết cái người này sau này sẽ trả nợ được, tại vì người này có đạo tâm. Sau này cái người này mà làm ăn được thế nào cũng biết làm phước, bù lại. Cho nên đó là một trường hợp được gia hộ. Hoặc là có người có phước rồi mà phước đấy chưa tới, mà cái nạn nó tới sớm, thì các ngài gia hộ sớm chút để lấy cái phước của mình có sẵn mà lúc nó chưa trổ đó bù cho mình, tức lấy phước mình bù mình chứ các ngài không cho mượn gì hết, thì sau này mình không có cái may nữa. Ví dụ tháng sau mình sẽ có cái may mắn là mình được hai triệu, bây giờ mình bí quá mình cầu nguyện cái ngài lấy cái phước hai triệu cho mình sớm, mình được một triệu, lỗ mất một triệu.
[12:30]Cái gì xài sớm thấy lỗ. Nhân quả nó vậy. Đó là những trường hợp mà nói là cầu mà có linh đó. Còn trường hợp mà cầu không linh là cái loại người mà tâm đạo không có, nghĩa là người này cạn hết thiện tâm rồi. Đi lúc đánh bài thua quá rồi không biết sao cái lại quỳ xuống ông Địa cầu cho con kiếm ít tiền đi đánh bài tiếp thì cái cầu không ra. Nghĩa là thần thánh không gia hộ cho những trường hợp mà cái người không có đạo tâm, biết sau này nó không trả được. Rồi có những người có đạo tâm cầu nguyện cũng không linh luôn. Người có đạo tâm mà đạo tâm rất lớn, đạo tâm phi thường, cầu nguyện không được gì hết.
[13:05]Tại sao, ai biết? Hồi sao nãy mình nói là hễ có đạo tâm thì được gia hộ để sau này mình trả nợ, mà có những trường hợp có người đạo tâm, đạo tâm rất lớn, cầu nguyện không được gì hết? Tại vì cái người này đạo tâm quá lớn, phải cho nó học cái bài học. Cái người mà đạo tâm lớn là cái người này cột trụ của Phật pháp, thì cái người này đó phải được học những bài học trong đau khổ, trong nghịch cảnh. Không đau khổ uổng, sau này không biết giáo hóa chúng sinh. Dìm nó, dồn nó trong đau khổ cho nó biết mùi, để trong đó nó học được điều này điều kia của cuộc đời. Cho nên những người đó cầu gì cầu không bao giờ
[13:42]thấy cái gì linh hết trơn á, không bao giờ. Nhưng mà sau đó, những cái nỗi khổ đó là những bài học quý giá sau này cho cuộc đời. Nên cái việc mà chư thiên tử ở trên đó hay chư Bồ Tát mà gia hộ cho mình, các ngài sáng suốt, vi diệu lắm, mình không tưởng tượng nổi. Nên có người cầu thì được, khen Phật, Bồ Tát linh; có người cầu không được, nói: "Sao Phật, Bồ Tát không linh?" Mình đâu có trí tuệ để mình thấy điều đó. Nên khi mình chê, khi mình khen đều là cái trò trẻ con của người thế gian của mình, người cõi người, trí tuệ không có. Chứ còn ở trên á, cái người nào mình sẽ phù hộ, không phù hộ, các vị sáng suốt vô cùng.
[14:18]Đó là những vị thiên tử á, là những vị có thần thông tức là có phước để ban cho mình được. Và tới những cái vị mà vua cõi trời thì còn khủng khiếp nữa. Nghĩa là lập tức có thể biến một cô bé Lọ Lem thành công chúa liền, tức khắc không sao hết. Là đủ quyền lực để làm điều đó, đủ phép để làm điều đó. Ví dụ từ một cái cô bé xấu xí, rồi nếu mà mình có cái phước tiềm ẩn hoặc là có cái đạo tâm tiềm ẩn, mình thiết tha cầu nguyện, vị vua cõi trời ổng chỉ hô biến một cái, qua ngày hôm sau tự nhiên có người lại sửa sắc đẹp cho mình, rồi có người giàu có tới bưng mình đi liền. Nghĩa là trong tức khắc biến một cô bé Lọ Lem thành công
[14:54]chúa liền, đủ quyền uy, đủ quyền lực để làm chuyện đó. Nhưng mà coi vậy vẫn phải có điều kiện. Mà tại sao vậy? Là bởi vì càng là Bồ Tát chừng nào, càng là thánh nhân chừng nào thì luôn luôn tuân thủ luật nhân quả. Cho nên chỉ làm những điều đáng làm, cần làm mà phù hợp với luật nhân quả, chứ không bẻ gãy, không đi ngược lại luật nhân quả. Đó là lý do tại sao mà tất cả chúng ta ở đây đã nhiều người cầu nguyện trở thành công chúa mà chưa được là vì vậy, bởi vì còn cái luật nhân quả chi phối nữa. Có ai đã từng cầu nguyện làm công chúa không? Mà chưa được là vì lý do đó. Thôi, chúng ta thông cảm nha.
[15:33]Nên ráng mình phải tu thêm, mình tích đức rất nhiều để điều đó mới được. Chúng ta thấy đó là so sánh giữa Phật với những vị vua cõi trời thì về chức vụ ở cõi trời Phật cũng không có gì hết. Nghĩa là nói về nhiệm vụ, về chức vụ thì Đức Phật hoàn toàn không có gì hết. Cái không có này giống như là một người thấp nhất, nhưng mà kỳ thực cũng là một người thoát ra tất cả. Đó là về chức vụ, nhưng mà nói về thánh tính, tức là tính chất thánh á, thì không một vị nào trong thế gian ba cõi sáu đường, ở cõi người cũng như ở các tầng trời có thể so sánh được với Phật. Cho nên gọi Đức Phật là Thiên Nhân Chi Đạo Sư,
[16:14]tức là bậc Đạo sư của cả người lẫn trời là như vậy. Bởi vì dù là vua cõi trời đầy quyền uy, nghĩa là muốn làm điều gì thì làm đối với thế gian, đối với cõi người, đối với cõi trời, nhưng mà vẫn phải cúi đầu kính lễ Đức Phật. Trong kinh Phật còn kể lại nhiều câu chuyện là vua cõi trời nổi tiếng mà gần gũi với cõi người nhất á là vua Đế Thích. Vua Đế Thích là vua của một cõi trời mà cõi đó là cõi cũng cai quản thế gian này. Thì vị vua đó lâu lâu rảnh cũng tìm cách đến gặp để đảnh lễ Phật, chứ vị vua đó cũng rất là bận. Nên có cái câu chuyện trong kinh Nikaya một lần đó vua trời Đế Thích tìm đến để đảnh lễ Phật vì ngài có dịp dắt một đoàn thiên tử đi ngang qua,
[16:59]gần tới cái hang mà Đức Phật đang ngồi thiền nên ngài muốn vào để đảnh lễ Phật. Thì câu chuyện nó dài dòng, nhưng đại khái như vậy. Thì khi gặp Phật rồi cái ngài cũng than, ngài cũng nói: "Con rất là bận rộn. Hôm nay con có duyên đi ngang đây, thì thấy Thế Tôn đang tọa thiền, thì con xin phép để vào đảnh lễ Thế Tôn, hỏi han vài đạo lý một chút rồi con xin đi tiếp để làm nhiệm vụ của mình." Vua cõi trời là như vậy. Nhưng mà cũng như ở thế gian, ngài có quyền cho người này chức này, cho người kia chức kia, thay đổi số phận người này, số phận người kia theo ý muốn của mình, nhưng cũng theo luật nhân quả.
[17:32]Nghĩa là quyền hành lớn như vậy, nhưng mà vẫn phải cúi đầu đảnh lễ Phật. Bởi vì sao? Bởi vì những vị đó có con mắt của cõi trời, biết được cái cái thánh tính của Phật là không gì có thể so sánh được, là tuyệt đối vượt ra ngoài. Còn dưới Phật á là những bậc thánh mà mình gọi là chưa phải hoàn hảo. Chúng ta cũng có thể gọi là tương đối, đó, chỗ này là tương đối, nghĩa là còn có thể có một vị trí khác hơn mình. Ví dụ như người đạt được cái thánh quả Tu-đà-hoàn thì còn thấp hơn những vị thánh khác, hoặc là một vị chứng A-na-hàm thì vẫn thua một vị A-la-hán, gọi là trong cái thánh quả đó còn cái tương đối, còn có thể hơn kém.
[18:16]Đứng ở vị trí này quan sát vị trí kia còn có thể so sánh được. Hoặc là vị thánh A-la-hán là nói trên cái đạo quả là tuyệt đối, nhưng mà trên những cái trí tuệ, thần thông, công đức, dung mạo, vân vân thì vẫn không bằng Phật được. Nghĩa là tuy đạo quả như tuyệt đối, nhưng ở những tính chất khác thì vẫn là tương đối. Cái ví dụ khác, là cái niềm vui hay niềm hạnh phúc trên đời này đều là tương đối vì nó không có kéo dài mãi. Nó chỉ là một cái cảm giác nội tâm mà lấy cái điều kiện từ bên ngoài, mà nếu kéo dài lâu quá cái nó mệt mỏi, nó trở thành nhàm chán. Điều này chúng ta nói với nhau mấy lần phải không, ở trong các bài giảng khác?
[19:00]Hôm nay chúng ta lặp lại một chút, là mọi niềm vui trên cuộc đời coi vậy chớ đều là là tương đối, là tạm bợ. Mọi người sống trên đời, chúng ta cũng đã đi qua nhiều lần có được cái niềm vui. Có người có phước thì có niềm vui lớn, ít phước thì có những niềm vui nhỏ. Những niềm vui lớn nó như thế nào? Là ví dụ như là ngày hồi còn trẻ, khi mình khổ công học tập rồi thi được đậu, hoặc là lớn hơn nữa là được đậu cao, thì đó là niềm vui. Nhưng mà niềm vui đó cũng không phải là kéo dài mãi, vì sau đó là mình phải tiếp tục nỗ lực, phấn đấu học tiếp để lên nữa, cực khổ, và thấy cũng nhiều người đậu như mình chứ không phải mình mình ngon lành gì.
[19:43]Cho nên từ từ nó cũng khuây khỏa, trôi qua mà lo cái việc khác, nên đó cũng là một niềm vui. Hoặc là ví dụ như lúc mình còn nhỏ thì cái tuổi nhỏ thường thường cái thích ăn uống, hoặc lâu lâu được người lớn cho một ít tiền để đi coi ciné, thì đó cũng là một cái niềm vui rồi thoáng chốc nào đó, chứ không bao giờ mãi mãi. Chúng ta thường hay nghe các thi sĩ và các nhạc sĩ cũng nói đến một loại hạnh phúc, niềm vui lớn là niềm vui gì? Ai biết? Mấy nhạc sĩ, nhà thơ nói hoài. Là cái tình yêu đôi lứa đó các nhạc sĩ, thi sĩ hay ca ngợi mà họ nghĩ như là vĩnh viễn, nhưng mà sự thật rất là khó tồn tại vĩnh viễn.
[20:29]Chúng ta cứ đi hỏi bao nhiêu cặp vợ chồng thì những cái nông nổi, rộn rã, bồi hồi buổi đầu cũng chỉ được bao nhiêu thời gian đó, còn lại là một sự thay đổi. Có những cặp vợ chồng mà sống tốt á thì họ êm ấm, tin cậy nhau suốt đời. Và cái... cái êm ấm đó đủ rồi, chứ không còn một cái bồng bột, xao động như lúc trẻ. Còn mình không tốt á thì sống với nhau được vài năm thì chuyện này chuyện kia xảy ra, rồi nhìn thấy nhau không còn như buổi đầu mà mình nhìn nữa thì hạnh phúc cũng không còn. Cái niềm vui thế gian chỉ là như thế. Nên chúng ta thấy mọi cái vậy đều tạm bợ mà nó đòi điều kiện bên ngoài. Điều kiện bên ngoài nghĩa là ví dụ như phải có một cái gì
[21:16]tác động mình mới vui, chứ không có ai mà ngồi một mình tự nhiên vui, cười, vỗ tay lên sung sướng, không có. Có không? Có, nhưng mà người đó làm sao? Là người mà mình gặp là mình phải đi lén lén đi qua, sợ ổng rượt mình chạy. Thế còn đa phần chúng ta đều phải có một cái gì đến thì mình mới vui được, phải không? Nghĩa là ai tự nhiên đến cho mình tờ vé số bảo là đã trúng, bảo đảm á, mình mới vui; hay là ai đến cho mình tiền, ai đến tự nhiên khen mình đẹp nức nở, vân vân, những cái đó nghĩa là cái gì bên ngoài đến mới vui. Chứ còn mà tự nhiên không có gì bên ngoài đến mà mình cười ha hả, vui sướng lên thì không phải bình thường.
[21:53]Cuộc đời nó là vậy đó. Mà khảo sát cái bản chất niềm vui là gì thì khoa học cũng công nhận mà Đạo Phật cũng công nhận là do thọ uẩn, tức là sự động lên của một bộ phận thần kinh gọi là thần kinh cảm xúc, thần kinh cảm giác. Nghĩa là tận ở trong cái hệ thần kinh não bộ chúng ta, cũng như những hệ thần kinh nơi da chúng ta, nhịp tim chúng ta, nó có một loại rung động. Mà hễ rung động theo kiểu đó đó là chúng ta gọi là hạnh phúc, rung động kiểu khác mình gọi là lo sợ, rung động theo một tần số khác mình gọi là đau khổ, cay đắng. Nên tùy cái loại rung động thì những cái tiếp xúc bên ngoài cho thần
[22:31]kinh chúng ta một loại rung động để gọi là niềm vui, làm hạnh phúc. Nhưng mà hạnh phúc hay đau khổ nó vẫn là một loại rung động, mà cái nào rung động lâu thì nó cũng lờn, dây thần kinh nó cũng rơ. Nó rơ rồi cái nó nó nhàm. Ví dụ như là có một bài nhạc hay, lát mình nghe mình thích thì cái thích đó cũng là một niềm vui đó. Mình thích cái mình cứ mở nghe tới nghe lui hoài thì bao lâu? Nghĩa là người nào mà lì lợm nhất nghe chừng trăm lần, lần sau mà nghe tới bài đó là trốn liền, thấy không? Dây thần kinh nó nó rung động nó bị lờn rồi, cái cảm giác nó hết. Cũng vậy, ăn món ăn người ta cũng phải thay đổi.
[23:09]Cái cay đắng, cái phũ phàng của con người là vậy đó. Cái mà mình gọi là niềm vui, hạnh phúc nó lại gây cho mình cái nhàm chán. Thế gian là như vậy, là tương đối, là tạm bợ như vậy. Đó là lý do tại sao mà nhiều người đã than thở. Thì thường thì phụ nữ chung thủy hơn hơn người đàn ông. Người đàn ông là cái dây cảm giác họ rơ lẹ quá nên họ nhàm lẹ quá, cuộc đời là vậy. Lưu Quang Vũ thì có cái vở kịch là "Hãy tin vào hoa hồng", nhưng mà chúng ta dặn nhau, đừng tin vào tình yêu nhiều lắm là vậy đó. Bởi vì coi vậy chứ nó vẫn là một cái gì dễ thay đổi. Chỉ có cái gì mà nó đến từ cái lý tưởng, từ đạo đức thì hy vọng còn bền được,
[23:51]chứ còn không thì những cái bồng bột sôi nổi theo cái hình thức coi vậy chứ dễ trôi qua. Đó là cái niềm vui mà đòi điều kiện, nó là tương đối. Bây giờ có một loại niềm vui mà gọi là tuyệt đối, không cần điều kiện bên ngoài mà càng kéo dài thì càng tốt chứ không nhàm chán. Đó là niềm vui gì? Là nội tâm thanh tịnh. Nội tâm thanh tịnh, đây là một cái lạ. Cái niềm vui mà trong thiền định á, nghĩa là khi chúng ta tu tập thiền định, tâm mình lắng dần lắng dần, không suy nghĩ, những vọng tưởng biến mất, tâm trở nên an ổn, rỗng rang, sáng tỏ, nhẹ nhàng, lắng sâu thì bỗng nhiên hạnh phúc xuất hiện. Mà cái hạnh phúc này cứ càng kéo dài càng lâu càng
[24:39]tốt, không nhàm, mà không cần điều kiện bên ngoài thì gọi là một hạnh phúc tuyệt đối đó. Dĩ nhiên mới ban đầu thì chưa tuyệt đối vì chúng ta không thể ngồi thiền lâu mãi được. Chúng ta ngồi một thời gian nào đó, người mới ngồi ngồi được nửa tiếng, người ngồi lâu được một tiếng, tiếng rưỡi, hai tiếng, ba tiếng gì đó, chứ chúng ta chưa thể kéo dài mãi. Còn những vị thánh á, ví dụ không cần ngồi thiền, trong đời sống bình thường tâm vẫn thanh tịnh, vẫn có hạnh phúc. Đây là lý do mà tại sao ta thấy những vị thánh họ ít có cần tới cái niềm vui đến từ bên ngoài là vậy. Mà tự bên trong, cái tâm thanh tịnh đó là nguồn
[25:13]hạnh phúc dào dạt nên các ngài rất là an ổn. Đôi khi nghĩa là không cần phải nói chuyện với ai, không cần phải xao động bất cứ việc gì, tự nơi thân mình đã có hạnh phúc lớn. Còn nếu mà có bước ra ngoài để làm điều gì thì chỉ là vì chúng sinh, vì Phật pháp mà làm, chứ không phải vì mình. Đó là cái hạnh phúc nó đã sẵn đủ nơi chính mình từ cái tâm thiền định an ổn mà không có cần điều kiện mà không có nhàm chán. Cái hay của cái thiền định là không có nhàm. Nó khác với cái hạnh phúc mà ở thế gian tương đối là phải có điều kiện mà kéo lâu là mình chịu không nổi. Bởi vì chúng tôi cũng ít có tham gia những trò vui bên ngoài
[25:57]nên nhiều khi không nhớ, quan sát cũng không nhiều. Nhưng mà thấy như tuổi trẻ vậy, à à vừa rồi đọc báo là cái thuốc lắc á, cái loại ma túy mà loại hồng phiến á, tức là ma túy tổng hợp á, nó đem vào trong các vũ trường nó bán mà hiện nay báo đang báo động là vậy đó. Họ phân tích ra là khi uống cái thuốc đó vào, cảm thấy mình hưng phấn lên, thấy mình mạnh khỏe và luôn luôn muốn hoạt động và muốn có những cái trò vui mà nó thật là dữ dội thì mình tham gia vào cái cảm giác rất là đã. Cái mà người ta thấy phù hợp nhất là nhạc mạnh mà có những tiếng trống bass đập thật là to. Họ nghe những cái dữ dội vậy họ lại dễ chịu.
[26:37]Nên ở đây là chúng ta thấy thế này, cái người mà mạnh á, cái tiếng trống bass làm họ thích, nhưng cái người yếu, cái tiếng trống bass dộng mạnh họ khó chịu. Thì cái người mà uống thuốc lắc á, lúc đó họ có cảm giác họ mạnh nên cái tiếng trống dộng ầm ầm á làm cho họ khoan khoái, dễ chịu. Khi thuốc nó tan rồi đó thì bao nhiêu cái sức lực, bao nhiêu cái dây thần kinh, bao nhiêu cái năng lực trong con người đã lấy ra nó xài hết rồi, nó xài vào trong cái cuộc vui vừa rồi hết rồi. Thì lúc đó còn lại là cái gì khi mà không có thuốc? Là một sự nhàm chán không thể tưởng tượng được. Một cái sự nhàm chán nghĩa là chán cho đến phát chán chường,
[27:15]thấy sợ cả thế gian, không ai chịu đựng nổi cái cảm giác nhàm chán đó. Thấy thế giới này như là ảm đạm vậy, cho nên lật đật phải đi kiếm thuốc uống vô lại để tạo lại một cái cảm giác hưng phấn, thích thú để sống trên đời trở lại. Nhưng mà mỗi lần uống như vậy là cái thuốc đó nó lấy năng lực mất của mình. Cứ uống mà nhiều lần như vậy á thì tùy cái sức khỏe mỗi người, ví dụ cái người khỏe mạnh thì họ chịu đựng được chừng một năm thì kiệt sức hết. Vì mỗi lần uống thuốc lấy hết năng lực ra để xài, để lắc mà. Còn cái người yếu thì chừng năm ba bữa chịu không nổi. Ở trong báo kể một có một ông già, ổng năm mươi mấy tuổi thì ổng gặp các cô gái,
[27:52]ổng tham gia các vụ thuốc lắc đi vũ trường chơi, gặp mấy cái cô gái gọi ổng bằng bố. Ổng nói: "Đừng gọi anh bằng bố mà hãy gọi bố bằng anh." Thì ổng cũng thử uống thuốc lắc một lần, ổng uống lắc một lần ổng đi bệnh viện nằm ba tháng vì sức lực không còn, nó lấy hết năng lực. Mà chúng ta thấy sau đó nó tạo một sự nhàm chán, người có tiền cứ uống tiếp uống tiếp thì tất cả đều chết sớm hết. Rất nhiều trường hợp mà cảnh sát phát hiện là chết vì dùng ma túy quá liều. Bởi vì lần đầu mình uống một viên là có cảm giác hưng phấn, nhưng về lâu phải dùng tới ba viên nó mới đủ nó lấy năng lực ra thì đến lúc nào đó tim đứng chết liền.
[28:29]Thì chúng ta thấy, chúng ta đi tìm cái sự thích thú, niềm vui của cuộc đời theo cái cách đó thì chúng ta thấy rõ cái tương đối của niềm vui, nó tạm bợ, ngắn ngủi, nó đem lại đau khổ kế bên cạnh. Nó lấy hết những cái phước mình đã có và nó kéo lại đau khổ cho mình. Nên cuộc đời là như vậy. Nên chúng ta thấy những người tuổi trẻ, những người thanh thiếu niên mà họ lao vào những cuộc chơi nhậu nhẹt, ăn chơi trác táng, chúng ta phải hiểu là họ đang đốt cái năng lực của mình và một cuộc vui nào vậy nó sẽ ngắn ngủi rồi họ phải đi tìm cái khác để đốt cái phước và đốt cái năng lực của mình, không tồn tại lâu.
[29:08]Chúng ta may mắn đến với đạo, đạo cho chúng ta một sự trầm tĩnh, một sự kiềm chế và một cái niềm vui khác thay thế. Nên nhờ vậy, chúng ta sống trên đời an ổn, trầm tĩnh, nhẹ nhàng mà vui. Vui trong cái đạo lý, vui trong việc làm từ thiện, vui trong thiền định. Những cái niềm vui đó tuy chúng ta chưa thể đạt được tuyệt đối, nhưng nó đang đi dần đến chỗ tuyệt đối. Bởi nó không lệ thuộc vào điều kiện bên ngoài, bởi nó càng kéo dài càng tốt. Chúng ta ví dụ một cái nữa, là tình thương yêu giữa chúng sinh với nhau hầu hết là tương đối. Tại sao vậy? Bởi vì phải có điều kiện, tức là mình muốn phải được thương lại.
[29:54]Ví dụ mình thương người đó mà người đó không thương mình, một thời gian mình không kiên nhẫn để thương hoài. Ví dụ như có một ông cụ, ông già ổng cô đơn, cái ổng thấy một đứa trẻ dễ thương, ổng thương và ổng muốn nó thương mình. Ổng muốn nó tới lui gần gũi mình cho đỡ cô đơn. Mỗi lần nó đi ngang nhà ổng đều ngoắc vô ổng cho tiền, ổng cho bánh, cho quần, cho áo là ổng bày tỏ tình thương yêu trước với nó để cho đến lúc nào đó nó thương lại ổng. Vì ổng thương nó nhưng mà muốn nó thương ổng. Tình thương yêu thế gian là vậy. Nhưng mà cái thằng nhỏ này thì nó ham vui, ngoài kia nó còn có bạn bè nó, đủ thứ chuyện ngoài ấy mà ngồi chơi với ông
[30:31]già ổng tủng mủng tẳng mẳng, ổng ngồi một cục, ổng nói chuyện xưa cũ, đời tích xưa quá khứ nào của ổng nó ngồi nó nghe hoài nó chán. Lén lén lén trốn chạy về mất. Cứ vậy rồi mai mốt ổng bắt cóc nó được, ổng chụp cổ áo được ổng lôi vô, ổng cho ăn cho uống rồi ngồi nói chuyện nữa, nhưng rồi nó cũng cười cười ăn cái bánh xong lẻn mất, trốn mất, cứ như vậy. Rồi một thời gian ổng cũng chán, thấy nó đi qua thôi cho nó đi luôn cho rồi, không thương nổi nữa. Vì tình thương trên đời là vậy, nó cần đáp ứng. Thế mình thương một người mãi mà người đó không thương mình, mình khó thương hoài. Thế gian là vậy.
[31:03]Rồi một cái nữa là vì mình thương người đó, nhưng coi vậy chứ mình vẫn thương bản thân mình nhiều hơn. Ừ cũng có một số trường hợp mà có những cái tình thương lớn mà người này dám hy sinh cho người kia thì cái tình thương đó nó nằm ở trong tiểu thuyết, trong phim nhiều hơn là trong đời thường. Ví dụ cha mẹ có thể chết vì con có, nhưng cũng hiếm. Đa phần thôi con cứ chết, mẹ phải sống để nuôi các anh chị con. Thì mình không biết thiệt giả, nhưng mà biểu hiện nó cũng giống như là vẫn thương bản thân mình nhiều hơn. Rồi ừ có những cặp tình nhân thì trong truyện kể là đã hy sinh chết giùm cho người yêu á, mình cũng nghe truyện kể chứ ngoài đời mình cũng chưa thấy.
[31:47]Hoặc là trong truyện của Shakespeare là Roméo et Juliette á cái chuyện như vậy, khi thấy người yêu mình chết rồi mình cũng uống thuốc độc chết theo, thì những cái đó cũng có nhưng mà cũng hiếm. Ở trong truyện thì nhiều hơn ngoài đời, ở ngoài đời thì cũng khóc đau khổ lắm rồi cũng phải yêu người khác chứ để lâu cũng không được. Đối xử nhau như cuối cùng mình vẫn thương bản thân mình nhiều hơn mình thương người khác. Một lý do nữa là do ân nghĩa quá khứ là mình thương ai vì đời xưa có cái duyên nợ với nhau, có ân nghĩa với nhau, có đối xử tốt với nhau. Chứ còn đời xưa mình đối xử với nhau ẹ quá thì đời này
[32:23]gặp không thương nổi, mà gặp thấy ghét, thấy chán. Đây là điều chúng ta so sánh để đánh giá. Tình thương đến với nhau mà tự nhiên nhẹ nhàng thì đều là ân nghĩa của quá khứ. Còn ví dụ như phải mua chuộc, mình phải năn nỉ ỉ ôi thì không phải là duyên của quá khứ và nó sẽ không có bền. Ở đây ví dụ trong đời sống mình kết bạn với nhau, mình gặp người bạn tâm đầu ý hợp, gắn bó với nhau, vui với nhau, chia sẻ với nhau thì bảo đảm là quá khứ đã đối xử tốt với nhau. Còn cái duyên nợ mà vợ chồng hay trong tình yêu thì cái ân nghĩa nó còn nhiều hơn nữa, mạnh hơn nữa, nhưng mà đều là nợ. Có những trường hợp là có những vợ chồng lấy nhau
[33:05]vì một cái món nợ gì quá khứ mà tình yêu không có, có nhiều trường hợp như vậy. Một lý do để chúng ta gọi cái tình thương yêu thế gian này tương đối nữa là vì thế này, là bởi vì cái tình thương yêu đó hay kéo theo buồn, vui, giận, hờn, trách, móc, nhớ, nhung đủ thứ. Trên đời này không có ai thương ai mà không giận nhau hết trơn á. Cha mẹ thương con chứ cũng có lúc giận, bạn bè thương nhau cũng có lúc giận, mà còn cái kia còn giận dữ dội nữa. Có ai đã từng kinh nghiệm giơ tay lên cho biết báo cáo điển hình giùm. Thương nhiều chừng nào thì giận hờn nhiều chừng đó. Có đúng không? Đúng không? Nay tu hết trơn rồi trời, không ai trả lời hết.
[33:48]Đó là tình thương ở thế gian là như vậy đó. Còn cái lòng từ bi của Phật là tuyệt đối bởi vì không bị những điều đó. Lòng từ bi của vị Thánh, của Đức Phật, của Bồ tát đối với chúng sinh là một loại tình thương yêu tuyệt đối bởi vì nó phủ trùm mênh mông vô tận, nó không có giới hạn, ai mình cũng thương được. Rồi thương mà cũng không cần người ta biết mình thương. Làm lợi ích cho chúng sinh được thì cứ làm, không cần người ta biết mình là ai. Bởi đó là tình thương tuyệt đối. Giúp người ta, thương người ta mà không cần cái ân nghĩa. Và một cái điều đặc biệt nữa là thương mà không có cái phiền động đi theo.
[34:29]Cái tình thương yêu thế gian á là luôn luôn nó kéo theo buồn, vui, giận, hờn, trách móc. Còn cái lòng từ bi, tức là tình thương yêu tuyệt đối này thì không có kéo theo những phiền động đó nên chúng ta gọi là tuyệt đối. Chúng ta đưa ra một vài ví dụ để so sánh hai cái định nghĩa tương đối là gì, tuyệt đối là gì. Đó. Thì chúng ta thấy là những gì mà thuộc về thế gian đều là tương đối vì nó còn biến dịch, đau khổ, còn luân hồi, còn vô thường. Còn những gì mà thuộc về sự giác ngộ giải thoát là tuyệt đối bởi vì là thanh tịnh, là không đau khổ, là không biến dịch. Đó là cái chúng ta so sánh. Để minh họa, chúng ta có câu chuyện của một thiền sư.
[35:16]Là lúc đó ông Bàng Long Uẩn là một cư sĩ nổi tiếng vì cả nhà ông đắc đạo. Lần đầu ông đến gặp Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên, tên là Hi Thiên nhưng mà ở đầu ngọn đá kêu là Thạch Đầu. Gặp Thạch Đầu, ổng mới hỏi: "Người chẳng cùng vạn pháp làm bạn là người nào?". Vạn pháp tức là mọi cái điều của thế gian này. Mà một cái gì nó không làm bạn với muôn pháp tức là nó không còn trong tương đối. Người xưa dùng cái chữ dài dòng như vậy, nhưng mà bây giờ mình phải hiểu là cái gì nó không phải là tương đối, nó không có đối chiếu không so sánh đối với thế gian này, cái đó là cái gì? Ổng đi ổng hỏi như vậy: "Người chẳng làm bạn với vạn pháp là người nào?",
[35:57]tức là ổng muốn hỏi cái tuyệt đối là gì đó. Thì ngài Thạch Đầu bước xuống bịt cái miệng ổng lại. Ngay đó ổng bừng ngộ liền. Cái căn cơ ổng cũng rất là đặc biệt. Mình bây giờ mình hỏi rồi xúm lại người nhờ người này bịt miệng nhờ người kia bịt miệng mình cũng không ngộ được cái gì hết trơn. Nhưng mà căn cơ ổng đặc biệt thiệt, ngài xuống ngài bịt miệng ổng cái ổng ngộ đạo liền. Đó là lần ngộ đầu tiên. Lần sau ổng đến gặp Mã Tổ, ổng cũng đem câu đó ổng hỏi lại. Ổng xem coi ngài Mã Tổ trả lời có hay hơn ngài Thạch Đầu hay không, cũng là bậc hòa thượng: "Người không làm bạn với vạn pháp trên đời này là ai?".
[36:31]Thì Mã Tổ lại không có bịt miệng mà ngài trả lời một câu thú vị, nói: "Đợi khi nào ông uống một ngụm mà cạn sạch dòng Tây Giang này, ta sẽ trả lời cho ông". Ngay đó ổng đại ngộ luôn. Ổng bừng ngộ lần thứ hai, lần này trọn vẹn hơn. Cho nên coi như ổng là người đệ tử của Mã Tổ, dù ban đầu thì ổng là đệ tử của ngài Thạch Đầu. Thời đó có hai vị thiền sư là thuộc loại nổi tiếng là ngài Thạch Đầu, ngài Mã Tổ, cả hai lừng lẫy, giỏi lắm. Thì ổng được ngộ đạo bởi hai vị đó hết. Mà cái câu hỏi ổng nó liên quan tới cái khái niệm tương đối và tuyệt đối này. Thì ở đây cái tương đối và tuyệt đối trong đạo á,
[37:10]các vị không trả lời không có dài dòng như chúng ta ngày hôm nay mà ngồi mổ xẻ, chia ly, phân tích ra từng điểm, không có. Một ông thì bịt miệng cái, còn một ông nói một câu lãng mạn mà đều làm cho Bàng Long Uẩn ngộ đạo, hiểu được, nhận ra, giải thoát. Một ông thì bịt miệng là điều đó đừng hỏi tới, đừng mở miệng nói ra là trật. Còn một ông thì nói: "Đợi khi nào ông uống một ngụm hết sạch dòng Tây Giang này, ta trả lời cho ông", một câu rất lãng mạn, cũng làm ngài ngộ. Ở đây cái ý các ngài á là cái gì tương đối là bạn với muôn pháp. Mình sống trong đời này, có cái này hơn cái kia kém, cái này dở cái nọ hay, là những cái tương đối trong cuộc đời, là bạn với vạn pháp.
[37:53]Còn cái tuyệt đối vượt ra ngoài những điều của thế gian như vậy là điều mà lời nói không diễn tả được. Không diễn tả được vậy làm sao mình hiểu? Thì cái đó là chỉ có trực ngộ, chúng ta trực tiếp nhận nó được, tỏ ngộ nội tâm mình mới hiểu, mà hiểu rồi lời nói không diễn tả được. Nên ở đây cái mà gọi là làm bạn với muôn pháp á tức là cái tương đối bởi vì nó có biến dịch, có luân hồi, có đau khổ. Như tất cả chúng ta ngồi ở đây vậy, biết đâu chừng có những kiếp quá khứ chúng ta đã đạt được cái vinh quang tột đỉnh, nhưng mà rồi có những kiếp chúng ta cũng vất vả khốn cùng. Cuộc đời là như vậy. Thí dụ có những người một kiếp nào đó làm vua,
[38:40]nhưng có những kiếp khác làm ăn mày, chuyện bình thường. Rồi có những người ngồi đây vậy, có những đời nào đó chúng ta trong cái cung vua, mình làm tới hoàng hậu vương phi, mà biết đâu kiếp này à mình ngồi đây mình chỉ là một người sống vừa đủ ăn hay khang khá, không còn cái vinh quang của ngày xưa nữa thì đó vậy. Cho nên cuộc đời này nó tương đối là vậy bởi vì nó biến dịch. Trong cái biến dịch đó, chúng ta khi thì hạnh phúc mà khi thì đau khổ. Và biết bao nhiêu người thân yêu của chúng ta vậy, có những lúc quây quần, đầm ấm với nhau nhưng rồi có những lúc chia xa, đắng cay. Trong luân hồi vô tận này, có những kiếp xưa chúng ta là bạn với
[39:24]nhau, ở bên cạnh nhau là sống với nhau vui vẻ, nhưng rồi có những kiếp bẵng đi rất nhiều thời gian không được gặp nhau. Đến khi gặp lại thì cái nhiều khi duyên số đã muộn màng, không biết chừng được. Cuộc đời là như vậy, là tương đối, là biến dịch. Dù chúng ta có cố gắng hết sức để đạt được những vinh quang gì tột cùng, rồi tất cả cũng sẽ sụp đổ, cũng sẽ thay đổi, cũng sẽ biến mất. Nên vì vậy mà người tu theo Phật pháp á, ban đầu chúng ta đều phải biết làm phước, biết giúp người. Cái giúp người đó nó được hai cái điều lợi. Thứ nhất á là chúng ta hãy giúp người để tu tập lòng từ bi. Cái lòng từ bi không thể nói bằng miệng, à không thể nói:
[40:10]"Tôi thương mọi người" không làm gì hết trơn, không được, phải làm điều gì đó để tu tập lòng từ bi. Và thứ hai, cũng để tích lũy phước cho chính mình. Cái tích lũy phước cho chính mình cái này đó nếu mình mới hiểu sơ sơ thì mình nghĩ giống như ích kỷ, nhưng mình hiểu sâu không phải, không phải ích kỷ. Cái người hiểu cạn á đi làm phước cầu phước là người ích kỷ, nhưng mà người có trí tuệ hiểu sâu theo đạo Bồ tát á thì tích lũy phước cho mình không phải ích kỷ. Rất nhiều lần chúng tôi phê bình một người làm phước mà cầu phước, à chúng tôi cũng cho biết đó là cái tâm ích kỷ. Nhưng mà ngày hôm nay chúng ta nói tới vấn đề nó hơi lớn một chút,
[40:52]cho nên chúng tôi khuyến khích cái việc mà tích lũy phước cho mỗi người. Chúng ta phải tích lũy phước cho bản thân mình, mà cái tích lũy phước này là không ích kỷ. Khác nhau. Chúng ta thấy ngộ chưa? Cũng cái tích lũy phước á, mình bị phê bình là ích kỷ, nhưng mà ngày hôm nay thì được khuyến khích. Chúng ta thấy có những giai đoạn ngộ lắm. Hồi mình mới đến với đạo á, cái mình nghe dụ là phải làm phước, có phước sống mới được à, có phước đời sau cho nó sướng. Đó mới nghe dụ, cái mình hăm hở mình theo đạo Phật mình làm phước. Theo một thời gian rồi bắt đầu nghe quý thầy chê làm phước mà cầu phước chết á, là mai mốt làm tội á, không được.
[41:32]Cái lật đật làm phước không cầu phước. Nhưng mà tới giai đoạn thứ ba này, cái lại nghe nói là phải ráng mà tích lũy phước. Tới chừng này cái lại kêu mình tích lũy phước lại lần nữa. Nhưng mà tích lũy phước này nó không giống như là giai đoạn thứ một mình mới đến với đạo. Giai đoạn thứ nhất mình mới đến với đạo, mình cũng cầu phước. Giai đoạn thứ hai, mình bị phê bình phải bỏ cái cầu phước đi. Nhưng tới giai đoạn thứ ba của Bồ Tát đạo, mình không còn ích kỷ nữa thì mình lại cần phải tích lũy phước cho lớn. À. Cái người còn ích kỷ đó là phải tiêu diệt cho bằng được cái tâm cầu phước. Còn cái người qua giai đoạn thứ hai hết ích kỷ
[42:07]rồi, tới giai đoạn thứ ba tu Bồ Tát đạo rồi thì phải biết khôn mà tích lũy phước cho nhiều. Cái tích lũy phước đó làm cho mình đi trong luân hồi nó đỡ vất vả, mình dễ làm được những điều thiện mình muốn. Chứ còn bây giờ ví dụ mình muốn làm một điều phước, không có phước không làm được, không có tiền không làm được. Mình muốn giúp ai không có phước không giúp được. Như nãy chúng ta nói đó, người nhà giàu muốn cho người nhà nghèo vì họ có phước mới cho cái người kém phước hơn mình. Thế bây giờ mình không có phước lấy gì cho? Vì vậy, một vị Bồ Tát phải luôn luôn tích lũy phước rất lớn để có phước mà cho chúng sinh.
[42:42]Chúng ta nhớ chúng ta không bao giờ cho chúng sinh bằng thần thông được nghe, không bao giờ. Chúng ta chỉ cho phước thôi. Có phước cho được mà cái người đó phải có ân nghĩa với mình, có duyên với mình mới cho được, người không có duyên cũng không cho được. Tại sao mà không cho được bằng thần thông? Ví dụ thế này, như có cái người nghèo quá gặp mình, cái mình muốn giúp tiền cho họ mà mình không có tiền, mình chỉ có thần thông thôi chứ mình không có tiền, mình không có phước mà, mình chỉ có thần thông. Thế mình dùng thần thông mình, mình mới quan sát à biết chiều nay số đề nó sẽ ra cái số gì đó, 35 ví dụ vậy. Thì mình mới nói:
[43:19]"Thôi bây giờ bạn hãy đi đánh cái số 35, chiều nay nó ra đó, rồi kiếm ít tiền mà mua gạo cho con." Cái người này mừng quá. Tức là mình cho người ta bằng cái thần thông á chứ không phải cho bằng phước. Người này lật đật đi mượn 50.000 đánh cái số 35. Rồi chúng ta sẽ thấy không có phước. Tự nhiên chạy lại tới cái ông mà ổng ghi đề cái ổng vừa mới bị xe đụng, bữa nay ổng nghỉ không ghi đề nữa. Rồi bắt đầu đi kiếm ai ghi số đề ghi số đề, rồi hỏi ngay nhầm cái ông công an, ổng chụp ổng bắt luôn. Bữa đó đúng ra số 35 thiệt, nhưng mình lúc mình đang ngồi ở trong đồn công an á, ổng rầy ổng phạt bắt viết kiểm điểm
[43:51]đã đời, chiều ổng thả về không được, mà mượn 50.000. Rồi trước khi về phải nộp phạt hết 60.000, thiếu nợ cái đồn công an 10.000 nữa rồi cũng xong luôn. Nghĩa là nó sẽ có những cái trục trặc nó xảy ra vì cái người mà không có phước. Cho nên nhớ chúng ta phải có phước chúng ta mới san sẻ chúng sinh được, chứ mình tu có thần thông mình cũng không giúp ai được hết vì nếu chúng sinh không có phước, nếu mình không có phước. Vì vậy, một vị mà tu Bồ Tát đạo phải tích lũy phước dữ dội lắm, tích lũy phước không bao giờ ngừng nghỉ. Nhưng nó khác với cái người phàm phu là cái người phàm phu họ làm phước thật nhiều để họ đi tìm cái vinh quang trong luân hồi này.
[44:28]Mà chúng ta biết luân hồi là tương đối. Vinh quang đó rồi mai mốt sụp đổ lại, làm vua đó mai mốt làm ăn mày, không có gì là bền bỉ. Nên cái vị Bồ Tát mà tích lũy phước á không đi tìm cái vinh quang của thế gian, mà lấy cái phước đó vừa để tu nội tâm mình mà vừa để giúp chúng sinh thôi thì đó là Bồ Tát đạo. Các vị biết đi trong luân hồi tương đối, biến dịch này mà đùa với nó chứ không bị đau khổ vì nó. Còn mình, mình không biết á, mình bị đau khổ bởi vinh quang và tủi nhục. Hai cái đó nó cứ đổi qua đổi lại hoài. Mình khi làm phước rồi khi mình vinh quang quá mình kiêu mạn, mình làm tội cái rớt xuống lại.
[45:09]Nghĩa là cái vinh quang và cay đắng nó cứ thay đi đổi lại hết kiếp này đến kiếp kia của mình. Còn cái vị Bồ Tát thì họ đùa với cái sự tương đối của luân hồi, của nhân quả. Nghĩa là các vị làm phước nhưng mà để san sẻ, để đi trong luân hồi để làm được những điều từ thiện chứ không phải đi tìm cái vinh quang của mình. Khác nhau là như vậy. Và chính vì chúng ta biết mọi điều thuộc về thế gian là tương đối, là biến dịch, cho nên chúng ta tinh tấn tu tập thiền định để đi về cái sự giác ngộ tuyệt đối. Cái tuyệt đối nó còn được hiểu là những nguyên tắc, những nguyên lý không thay đổi. Hồi nãy chúng ta nói cái tuyệt đối là một cái gì nó
[45:47]lớn lao, nó vĩ đại, vượt ra ngoài hết tất cả. Nhưng bây giờ có một cái nghĩa của sự tuyệt đối nó đơn giản hơn, nó gần với đời thường hơn, nghĩa là những cái gì mà là nguyên tắc, nguyên lý không thay đổi cũng gọi là tuyệt đối. Ví dụ như hai cộng với hai là là bốn thì điều đó là chân lý tuyệt đối. Bây giờ mình ở Trái Đất hai cộng với hai là bốn, mình đi lên Hỏa Tinh hai cộng hai cũng bốn. Giờ mình có lui lại một triệu năm trước thì hai cộng hai vẫn là bốn, mình đi tới một triệu năm sau hai cộng hai vẫn là bốn. Thì cái ổn định về cái toán học đó, chân lý đó chúng ta gọi là tuyệt đối. Nghĩa là trong thực tế thì chúng ta không đạt được cái chính xác hoàn toàn.
[46:27]Ví dụ chúng ta đem hai lon gạo với hai lon gạo mà nhiều khi nó không ra hoàn toàn bốn lon gạo là vì sao vậy? Bởi vì mỗi lon nó không hoàn toàn giống nhau, cái này nó bớt đi năm hột cái kia nó thêm đi mười hột thì trong thực tế nó không hoàn toàn đúng tuyệt đối. Trong thực tế thì nó tương đối, nhưng trên lý thuyết thì hai cộng với hai luôn luôn là bốn, ba nhân năm luôn luôn là là 15, bảy nhân năm luôn luôn là 35, 70 chia hai luôn luôn cũng là 35. Những cái đó tuyệt đối đúng như vậy. Đó là lý do tại sao có nhiều người họ đam mê toán học là vậy đó, bởi vì cái sự chính xác của toán học luôn luôn là
[47:03]tuyệt đối mà toán học luôn luôn đi trước thời đại. Nghĩa là toán học đã cứu được cái giá trị của con người. Toán học cứu được giá trị con người ở chỗ này. Chúng ta nói sơ sơ một chút về lịch sử triết học của Tây phương, mấy cái này nghe nhức đầu. Đại khái là có một thời gian dài là người ta mất cái niềm tin rằng con người có một cái linh hồn cao siêu. Người ta cho rằng cái tâm con người là một cái gì thụ động, là do mình thấy, mình nghe, mình biết những cái bên ngoài tạo thành cái biết ở trong tâm mình. Cái biết trong tâm mình nó thụ động, nếu mà không có cái dữ kiện bên ngoài mình không biết gì hết.
[47:36]Đó là một thời gian dài có nhiều triết gia đã chủ trương như vậy. Nhưng mà rồi có một cái ông già mình hay kêu là Kant, đọc theo tiếng Pháp là triết gia Kant á, K-A-N-T đó, gốc của ông là người Ái Nhĩ Lan hay là ông ở Áo, một người châu Âu mà cao chưa tới một thước năm mươi ba, thấp như vậy. Lát nữa mình trở lại cái cuộc đời ổng như cái máy móc. Thì ổng ngồi ổng tư duy 60 năm sau ổng mới cho ra một tác phẩm đảo lộn triết học thế giới. Ổng nói là: "Trước khi có dữ kiện đến thì trong tâm mình đã có cái làm chủ trước mọi điều." Ví dụ như trong cái thư viện, người ta ghi dữ kiện lên cái thẻ người ta bỏ vào người ta lưu trữ phải không?
[48:15]Tức là cái ngăn này có nhiều cái thẻ là cái cuốn sách về địa lý nó nằm ở đâu, cuốn sách về toán học, cuốn sách triết học, cuốn sách về điện ảnh nghệ thuật ở đâu, mình sắp sắp từng ngăn từng ngăn hết. Thì ổng nói rằng phải có cái người sắp cái thẻ đó. Chứ còn nếu nói như những triết gia trước đây là trong tâm mình không có gì trỏng hết, chỉ do cái dữ kiện bên ngoài đưa vào thì cũng giống như ở ngoài mà người ta chọi những cái thẻ vào, chọi sách vào, quăng một đống hỗn độn trong đó, không có ai sắp hết. Rồi tự nhiên những cái thẻ đó, những cuốn sách đó nó đứng lên nó bay vào đúng cái ngăn của nó:
[48:46]hễ cuốn sách địa lý bay vào ngăn địa lý, cuốn sách toán học bay vào ngăn toán học. Thì như vậy có hợp lý không? Không hợp lý. Cho nên những cái người mà chủ trương rằng tâm mình nó không có cái chủ nhân ở trỏng á, không có cái bản ngã làm chủ trỏng á thì những người đó đã nói một điều huyền thoại không có thật. Phải có cái người thủ thư, người quản lý thư viện họ sắp xếp từng loại trỏng. Dữ kiện bên ngoài cứ quăng vô nhưng họ lấy từng cái họ đưa cái này vào cái kia, sắp cái kia vào cái nọ. Cho nên dữ kiện đến với mình rất nhiều, mình thấy cái này mình nghe cái kia đủ thứ hết, nhưng mà vào tâm mình nó sắp ra từng loại có hệ
[49:18]thống hết, cho nên tâm mình không có thụ động. Cũng như toán học luôn luôn đi trước thực nghiệm khoa học. Có những dãy số nhà khoa học tìm ra trước, mãi sau này người ta mới thấy những cái tần số của ánh sáng nó đi đúng như vậy, nghĩa là toán học đã đi trước. Chứ không phải những cái suy nghĩ của mình là đi sau cái thực tế khách quan đâu, không có đâu. Có khi tâm mình đã suy nghĩ trước cái bên ngoài. Đó là cái điều mà gọi là toán học đã cứu được cái giá trị con người. Chứ ban đầu người ta nghĩ con người tầm thường lắm, con người như là vật chất á, rồi do bên ngoài đưa vô mình biết chứ mình không có gì hơn.
[49:51]Nhưng mà ông triết gia Kant ổng lật ngược lại: con người có cái gì thâm sâu bên trong á làm chủ ở trỏng á, chứ không phải không. Cái chuyện đó nó dài dòng. Đại khái chúng ta thấy cái toán học, cái khoa học là cái gì chuẩn xác mà được gọi là tuyệt đối. Nên sau này ông Bill Gates là một nhà tỉ phú giàu nhất thế giới hiện nay mà chủ tịch của cái công ty Microsoft, ai học về tin học thì đều biết ổng này ổng nổi tiếng. Ổng nói thế này, ổng nói: "Vũ trụ này được sắp xếp trật tự bằng những con số. Mặc dầu thấy tất cả đều hỗn độn, quay cuồng, nhưng mà coi vậy chứ nó có cái chương trình của nó, và chương trình nó sẽ được thể hiện bằng những con số.
[50:26]Bởi vì con số là chính xác tuyệt đối." Thì ổng đưa ra một cái quan điểm, một cái chủ nghĩa đối với vũ trụ như vậy. Thì cái chuyện đó từ từ người ta sẽ tính với nhau nữa, mình bây giờ mình miễn bàn. Đây chúng ta nói thêm vậy: nó có những cái nguyên tắc, những nguyên lý của khoa học hay của cuộc đời mà gọi là tuyệt đối. Ví dụ như nước sôi ở 100°C thì đó nguyên lý tuyệt đối, mà chưa đủ nha, còn gì nữa? Dưới áp suất của không khí là 76 cm thủy ngân. Chúng ta đi lên trên đỉnh núi cao, lúc đó cái áp suất không khí nó loãng hơn thì chúng ta nấu chưa tới 100°, 80° nó sôi mất á. Nhưng mà ở dưới đồng bằng, cái không khí mà nó nặng ở
[51:07]đúng 76 cm thủy ngân thì mình nấu 100° nước mới sôi. Còn ví dụ như một cái nồi áp suất người ta nén thì áp suất ở trong đó nó nặng rất nhiều thì 100° nước chừng chưa sôi, tới 200° nó mới sôi. Thì cái nguyên lý tuyệt đối là thế này: nước thuần khiết H2O sôi ở 100°C dưới áp suất 76 cm thủy ngân thì đó là nguyên lý tuyệt đối. Hoặc là luật nghiệp báo là tuyệt đối đúng, ai mà phủ nhận hay hiểu sai là bị tội nặng. Cái luật nghiệp báo vậy. Chúng ta nhớ lại câu chuyện về ông già chồn đó, nói trật một cái ông đọa làm thân chồn 500 đời. Ổng cho rằng cái người mà tu cao rồi, đắc đạo rồi là làm gì làm không có quả báo.
[51:52]Ông hiểu câu đó, ông bị đọa làm thân chồn 500 đời. Vừa rồi báo Giác Ngộ cũng có một câu trả lời về nghiệp, nghe cũng hơi run đó. Trả lời theo kiểu đó thì không biết bao nhiêu đời mình không hiểu. Hôm trước chúng tôi có trả lời ở chùa Từ Tân, hôm nay nhắc lại một chút, là chúng ta nhớ cái luật nhân quả mà Phật nói là luật nhân quả thiện ác báo ứng tương tác giữa người với người. Có nhiều cái nhân quả lắm. Ví dụ như là chúng ta nấu một lát là nhân, thì lát nước sôi là quả. Hoặc là cái người siêng năng tập thể dục thì cái quả báo là mình được khỏe mạnh. Đó cũng là nhân quả, nhưng mà nhân quả đó không phải
[52:33]là nhân quả thiện ác báo ứng mà Phật muốn nói. Nhân quả thiện ác báo ứng á là mình phải làm cái gì cho người khác á rồi kết quả trở lại với mình một cách mà mình không ngờ được chứ không phải là mình lường trước được. Ví dụ như mình tập luyện thể dục á thì cái mà mình lường trước được là mình sẽ khỏe mạnh, bắp thịt mình rắn chắc dần, rắn chắc dần. Còn cái ví dụ như mình giúp cho người kia cứu họ qua một cơn khốn cùng, mình giúp họ một lần đó mình tốn rất là nhiều triệu mình giúp người đó qua cơn khốn cùng gì đó suýt chết, rồi mình không thể nào lường được cái may nó đến lúc nào. Có khi kiếp sau hoặc là 10 năm sau cái quả báo nó mới tới,
[53:10]tự nhiên mình được một cái may mắn mình không thể ngờ được thì đó mới là nhân quả thiện ác báo ứng mà Phật muốn nói. Còn cái cách mà báo Giác Ngộ trả lời á cũng là cái nhân quả bình thường mà mình lường được. Có nghĩa ráng học thì mới giỏi, không cần giúp ai thì đó không phải là nhân quả mà Phật muốn nói nên họ đã hiểu lầm. Nên luật nhân quả không phải dễ hiểu. Thì luật nhân quả cũng là một cái luật tuyệt đối đúng. Cho nên chúng ta là người đệ tử Phật, mình có thể dốt nhiều cái nhưng xin đừng dốt về luật nhân quả nghiệp báo, phải hiểu cho tường tận. Một điều nữa là luật nhân quả nó khuyến khích con người ta đối xử tốt với nhau.
[53:48]Chúng ta hiểu luật nhân quả rồi, mình chỉ muốn đi giúp người khác thôi thì như vậy chúng ta hiểu đúng về luật nhân quả. Còn chúng ta hiểu luật nhân quả mà theo như báo Giác Ngộ nói á thì mình không cần phải giúp ai nữa, mình cứ đóng cửa học mình để mai mốt giỏi. Nó không khuyến khích một cái sự đối xử tốt đẹp giữa người và người thì cái đó cũng là hiểu sai về luật nhân quả. Rồi có một cái luật nó đúng tuyệt đối nữa là luật vô thường, tức là mọi cái đều phải thay đổi. Cho nên có một lần có một nhà triết gia, nhà văn nói câu này: "Tất cả mọi cái đều thay đổi ngoại trừ sự đổi thay." Nghĩa là cái luật đó thì không bao giờ thay đổi.
[54:26]Cái gì rồi cũng thay đổi: tóc ta rồi sẽ bạc, phải không? Lưng ta rồi sẽ còng. Cái giàu sang rồi biến mất, khi chết rồi tất cả buông bỏ, vân vân. Nhưng mà cái luật thay đổi đó thì không bao giờ mất. Thế gian này là tương đối, cho nên cái luật nói về sự tương đối á là đúng tuyệt đối. Bây giờ nói về cái tính tình cũng vậy, có những cái tính tình mà chúng ta gọi là tuyệt đối. Mình hay khen ngợi ai tuân thủ những nguyên tắc gì quá, mình cũng gọi họ là tuyệt đối. Ví dụ như những người mà tuân thủ những nguyên tắc bất di bất dịch như triết gia Kant mà nãy mình nói á, cái ông đó cũng kỳ khôi lắm. Tới đúng giờ bắt đầu ổng mặc cái áo khoác lên, ổng đi dạo ra ngoài cái rừng phi lao.
[55:07]Ổng đếm từng bước chân vậy đó, đúng mấy giờ ổng sẽ đi về. Thì những cái người mà láng giềng, hàng xóm ở trên phố của ổng, hễ gặp ổng gật đầu chào cái là bắt đầu họ sửa lại cái đồng hồ. Tại vì ổng đúng hơn cái đồng hồ của họ. Ông già đó kỳ khôi vậy á. Cả cuộc đời ổng chỉ có một lần sơ suất là lúc đó trên đường đi dạo về thì thay vì ổng về nhà là cho đúng chính xác cái giờ đó, bỗng nhiên ổng trễ hết năm phút vì ổng ghé vào sạp báo ổng mua tờ báo để nghe cái tin về có một cái chiến tranh đang xảy ra ở Âu Châu. Có một lần duy nhất á. Con người mà nghĩa là tuân thủ nguyên tắc bất di bất dịch mình gọi là tuyệt đối đúng.
[55:41]Đó, những con người đó mình cũng gọi là tuyệt đối. Ông già này ổng kỳ khôi. Ở cái xứ Âu Châu lạnh á, mà lạnh đầu tiên nó tấn công vào hai cái xoang mũi mình, nên khi mình hít vào là hít vào không khí lạnh. Rồi không khí nó vào phổi được người mình nó hơ nóng. Khi mình thở ra bằng mũi thì nó sẽ sưởi ấm lại cái xoang mũi hồi nãy. Bây giờ không khí nóng ở trong đi ra nó làm ấm lại cái xoang mũi thì mình đỡ bệnh. Cho nên khi mình hít vào bằng mũi mà mình mắc nói chuyện thì hơi đi ra bằng miệng thì cái xoang mũi nó sẽ bị lạnh hoài, người mình sẽ cảm liền, đúng không? Cho nên vì vậy ổng nói thôi, thà im lặng không nói chuyện, không để cảm, mệt lắm.
[56:17]Nên ổng rất ít nói. Trời lạnh rồi hỏi ổng làm thinh cười cười tại vì ổng mở miệng nói sợ hơi ra đằng miệng á, nó không sưởi ấm cái mũi ổng. Rồi có hai lần ổng định cưới vợ thì một lần ổng thương cô đó, ổng cân nhắc. Ổng ngồi ổng suy tới ổng tính lui tính lợi hại thì ổng chưa tính xong thì có một ông khác lại cua cô đó đi mất. Rồi một lần khác ổng thương cô nữa, ổng ngồi ổng cũng cân nhắc, ổng tính toán, ổng suy tính coi có nên cưới không thì ổng quyết định chưa xong thì cô đó dọn nhà qua tỉnh khác. Thôi, ở vậy nuôi heo luôn là xong chuyện. Cái ông triết gia này kỳ lạ như vậy. Hoặc là có những người mà họ có cái tính không tham đến tuyệt đối,
[56:54]như là không ăn cắp, không cầm nhầm của ai dù một xu nhỏ, hoặc là một đống châu báu lớn cũng không tơ hào đụng tới một chút nhỏ. Cái người này gọi là không tham đến tuyệt đối. Chúng ta tu theo đạo Phật, lòng mà không tham cái vô tham của người Phật tử mình tương đối ai cũng lớn chứ không phải không. Dĩ nhiên là mình chưa chắc là mình tuyệt đối, phải không? Mình chưa chắc thôi, chứ nói chung là ở đây ai cũng có thể là lớn. Ví dụ bây giờ ở trong chùa mình thấy ai rớt 10.000 mình sẽ không lượm. Ra ngoài chùa thì không biết, chứ ở trong chùa mình không nỡ lấy của ai vì cũng huynh đệ, bạn đạo nhau.
[57:27]Hoặc là ví dụ bây giờ mình đi lạc vào một cái kho tàng đời xưa đi thì trong đó vàng bạc, châu báu đầy, mình tính sao? Nói thiệt lòng nghen. Mình sẽ suy nghĩ thế này: cái số này là không còn chủ, phải không? Mình có lấy thì cũng không có phạm tội, không tội ăn cắp, cho nên thôi đành phải lấy. Lương tâm mình cũng không có cắn rứt gì lắm. Cái phần lương tâm hôm nào mình sẽ giảng ở Từ Tân cái lương tâm là gì. Nhưng mà nhà nước thì nghĩ sao? Nhà nước thì nghĩ rằng tất cả mọi tài sản trên đất nước này đều là của quốc gia. Cho nên nếu mình có lỡ phát hiện, mình không được thủ đắc mà mình phải báo nhà nước rồi nhà nước sẽ sẽ thưởng.
[58:11]Thì đó mới là không vi phạm luật pháp, chứ nó không giống như những chuyện đời xưa mà mình đi tìm được cái kho tàng rồi từ từ mình ôm về mình xài hết, mình trở thành giàu có cực kỳ như trong truyện tiểu thuyết. Bây giờ điều đó là phạm luật. Mình phải báo nhà nước rồi được thưởng thôi, thưởng bao nhiêu phần trăm. Nhưng mà trường hợp đó thì mình nghĩ sao? Mình sẽ tuân thủ luật pháp hay mình sẽ bốc ít nắm bỏ túi rồi mình mới báo sau? Thì những cái thử thách đó nó mới xem cái tâm mà vô tham của mình đến tuyệt đối hay không. Bây giờ đặt trường hợp mình thật sự là một người mà không tham lam đến tuyệt đối, là một xu nhỏ không tơ hào và một đống vàng lớn cũng không tham,
[58:51]mình thật sự là con người như vậy, đạt được tâm vô tham tuyệt đối giống như là cái quả thánh Tư-đà-hàm, nhưng mà nó vẫn tương đối. Tương đối ở chỗ này: mình sẽ vô tình mình ăn cắp ở đâu đó, mình tham ở đâu một cách gián tiếp mà mình không biết. Ví dụ mình ăn chay, nghĩa là mình muốn tuyệt đối không sát sinh, phải không? Mà tuyệt được không? Không. Bởi vì cái rau mình ăn á là cũng bao nhiêu sinh mạng phải chết vì cái rau đó. Nhiều chuyện lắm. Tính ra rồi mình thấy coi vậy chứ chỉ bớt thôi, chứ không thể nào tuyệt đối. Cũng giống như thề mình nói là tôi thề là suốt đời tu theo cái cái hạnh là bất hại, không bao giờ làm tổn hại một chúng sinh nào.
[59:38]Nhưng rồi mình giữ được không? Nếu mình giữ điều đó, mình sẽ làm hại người khác. Kỳ lạ như vậy. Ví dụ bây giờ thế này: mình đứng trước một cái chuyện, ha, một cái thằng ăn cướp nó chuẩn bị giết cái người kia, nó đang trói tay trói chân người kia, mà lúc đó mình có cái phương tiện trong tay mình là có cái cây, mình đập nó một cái vào tay nó để nó rớt cây dao xuống, hoặc đập một cái vô chân nó để cho nó khuỵu xuống để nó đừng có đâm dao giết người kia. Đó, thì lúc đó là mình sẽ đập nó một cái, tức là mình làm hại nó để cứu người kia, hay là mình tu theo hạnh bất hại không đập nó cho nó giết thằng kia?
[1:00:13]Lúc đó mình phải chọn lựa, phải không? Như vậy lúc đó mình tu theo cái hạnh bất hại được không? Không thể nào giữ tuyệt đối được, không thể nào được. Cuộc đời nó vậy đó, có những cái mình nguyện mình giữ tuyệt đối bởi vì mình nghĩ nó đúng, nhưng coi chừng khi đụng chuyện mình mới thấy nó không phải hẳn là như vậy. Ví dụ như là bên Ấn Độ có một vị thánh cận đại nổi tiếng là ai? Thánh Gandhi. Tức là người mà đấu tranh giành độc lập cho Ấn Độ bằng con đường bất bạo động, là không bao giờ cầm súng, cầm dao, cầm gươm để đánh lại với người Anh đang cai trị một cách dã man đất nước Ấn Độ, chỉ nhẫn nhục chịu đựng.
[1:00:51]Thì cái chủ trương bất bạo động đó mình thấy thánh thiện không? Thánh thiện, phải không? Nhưng mà với chủ trương đó, biết bao nhiêu người Ấn Độ phải chết. Vì lúc đó người Anh họ đóng thuế muối rất là cao. Mà lục địa Ấn Độ lớn cho nên những cái người mà ở vùng sâu, xa biển á là phải mua muối rất là mắc do ngoài ven vùng biển người Anh họ độc quyền, họ làm muối họ đem vô bán. Thì bây giờ Thánh Gandhi mới phản đối chuyện đó bằng cách là tự kêu người Ấn đi bộ về biển múc nước biển về làm muối lấy, không có mua của người Anh. Thì lúc đó lính Anh mới đứng dàn ra, nó tấn công những cái người mà người Ấn Độ nối tiếp nhau ra múc nước biển.
[1:01:31]Nó cầm cái cây nó đánh, đánh hết người này gục ngã tới người kia gục ngã mà những người kia bởi vì tuân lời Thánh Gandhi nên không chống trả. Cho nên cái chủ trương của Thánh Gandhi rất là đẹp đối với người Anh nhưng lại sao? Ác độc đối với người Ấn Độ. Vì chủ trương đó bao nhiêu người bị người Anh đánh gục ngã xuống đó, có người chết luôn. Thì như vậy chúng ta thấy cái bất bạo động đó tuyệt đối không? Không, rõ ràng, bớt bạo động ở chỗ này nhưng mà để cho chỗ khác bị hại. Cuộc đời là vậy. Nên có những cái, ví dụ mình tuân thủ rất là nghiêm túc một điều gì đó, coi chừng nó lại có cái sai ở những chỗ khác.
[1:02:06]Nên chúng ta khó mà đi tìm một cái thiện, một cái đúng tuyệt đối trên cuộc đời này lắm, rất là khó. Chúng ta phải cân nhắc, khôn ngoan từng trường hợp mà thôi, không thiện hoàn toàn được. Đó là vì vậy mà chúng ta thấy trên đời này người ta dễ phê bình nhau là vậy đó. Cái người này thấy người đó tốt, người khác thấy người đó xấu. Chúng ta thấy là nó vẫn có những cái tương đối xen lẫn vào những cái mà ta gọi là tuyệt đối. Ví dụ như toán học là biểu trưng cho sự chính xác tuyệt đối, nhưng mà cuối cùng cũng không. Vì sao vậy? Bởi vì trong toán vẫn có những con số mình gọi là số vô tỉ. Con số đó nếu mình tìm cho ra cái số lẻ nó không bao giờ hết.
[1:02:46]Ví dụ như con số pi đó, pi là cái tỉ số giữa chu vi và đường kính phải không? Chúng ta ra được con số mấy? Pi là 3,1416 là mình tạm dừng thôi. Chứ nếu tìm cho ra nữa, ra nữa thì tới ngày nay người ta đã tìm ra được là mấy chục ngàn số lẻ rồi, vẫn chưa hết. Nên không bao giờ có con số dừng đúng tuyệt đối của con số pi. Trong toán học gọi là số vô tỉ. Và có nhiều trường hợp như vậy. À ví dụ như 7 chia cho 3, không bao giờ mình dừng lại được hết số lẻ của nó. Có những con số đó, ví dụ như đến năm cái số lẻ nó hết ngang đó, bài toán chia chẵn luôn, dừng lại. Nhưng có những con số mà chia với nhau rồi là số lẻ mãi số lẻ mãi không bao giờ hết.
[1:03:25]Ta gọi là số vô tỉ. Thì đó vẫn là cái tương đối trong toán học, chúng ta thấy không? Đó mình nói toán học là cái gì nó chính xác tuyệt đối, nhưng rồi trong cái gọi là tuyệt đối đó vẫn có cái tương đối là như vậy. Ví dụ như là trong đạo Phật có một vị thánh là Ma-ha-ca-diếp, nghĩa là ngài có cái gương và hạnh đầu đà rất là mẫu mực. Ngài luôn luôn mặc quần áo rách, cũ của người ta quăng bỏ, y phấn tảo đó. Người chết rồi cái người ta đem quăng vào cái rừng, người ta quăng luôn bộ đồ đó, cái tấm vải, cái y đó thì ngài lấy cái y đó ngài giặt ngài mặc, chứ không bao giờ mặc đồ mới. Ngài sống rất là kham khổ, chỉ thích sống dưới gốc cây trong hang động,
[1:04:08]chứ không thích sống trong nhà cửa được xây cất đàng hoàng. Nghĩa là ngài đày đọa bản thân mình, ngài sống đơn giản. Thì cái hạnh đó đáng nể, vì nếu không có ý chí phi thường, không có đạo lực phi thường, không có sức khỏe phi thường theo không nổi. Mà đâu phải là ngài luôn luôn được ca ngợi, vì ngài Phú-lâu-na không đồng ý điều đó. Mà ngài Phú-lâu-na cũng là một Đại La Hán, một vị A-la-hán, một đại đệ tử Đức Phật, đâu phải là người thường. Ngài Phú-lâu-na cũng phê bình cái cách sống đó. Ngài Phú-lâu-na là chủ trương một đời sống phải cởi mở hơn để có thể có nhiều người đến với đạo. Còn nếu đưa cái mẫu mực của ngài Ca Diếp ra
[1:04:45]á thì người ta thấy đạo Phật người ta sợ. Và người tu theo đạo Phật kiểu đó là tự câu thúc mình, tự cột trói mình, rồi không làm được nhiều việc lớn. Muốn đến với chúng sinh, muốn giáo hóa, muốn làm được việc đạo phải sống hơi thoải mái một chút, có phương tiện thêm một chút. Chứ còn bây giờ mà cứ phải khổ hạnh thì nhiều khi không làm được việc. Ví dụ như chúng tôi vậy, giờ chúng tôi cũng không muốn mình sang, nhưng mà giờ đi giảng xa không có xe hơi đi không được. Đó là sự thật. Ai phê bình đành phải chịu. Chứ ví dụ bây giờ từ trên núi chúng tôi muốn đi về Long An hay Mỹ Tho giảng, làm sao đủ sức đi xe Honda, phải không?
[1:05:26]Mà làm sao đi xe đò được, đón qua nhiều chặng nó rất là mệt. Đó là lý do vậy, nên quan điểm của ngài Phú-lâu-na lại rất là chính xác. Nếu mình muốn dấn thân, làm việc để độ chúng sinh thì phương tiện là cần thiết, chứ không nên khổ hạnh một cách quá độ như vậy, tự cột trói lấy bản thân mình rồi không thể phát triển được đạo. Cho nên chúng ta thấy là cái mẫu mực đó, dường như tuyệt đối đó, trọn vẹn đó, vẫn bị phê bình. Nghĩa là vẫn là tương đối thôi ở một khía cạnh khác, là như vậy. Giờ chúng ta nói qua cái thuyết tương đối Einstein một chút. Hôm nay chúng ta nói về tương đối tuyệt đối thì nó đụng tới cái thuyết tương đối Einstein.
[1:06:04]Cái thuyết này thì nó cực kỳ khó, nó được tính toán theo toán học mà nhờ đó nhà bác học Einstein đã nhìn trước nhiều điều của khoa học mà đến bây giờ người ta vẫn chưa chứng minh hết. Cứ lâu lâu về kỹ thuật tiến bộ một chút người ta mới phát hiện rằng Einstein đã nói đúng 50 năm trước. Chứ tới bây giờ vẫn chưa biết là ổng nói đúng hay sai, ổng nhìn trước nhiều vấn đề quá. Ví dụ như tia sáng laze, lúc đó là chưa có kỹ thuật để làm ra được tia sáng đó, mà ổng Einstein đã tiên đoán được trước là sẽ có cái tia sáng như vậy, một tần số thuần khiết như vậy để tập trung lại, không có phát tán. Mà lúc đó chưa có kỹ thuật để làm,
[1:06:38]rồi sau này người ta mới có kỹ thuật làm và thấy đúng như Einstein đã nói. Hoặc là sự chuyển động của các thiên thể trên vũ trụ Einstein đã nói trước hết. Vì vậy mà người ta vẫn coi Einstein là nhà bác học vĩ đại nhất của thế kỷ này, mà nhiều người còn cho là của thiên niên kỷ này luôn nữa. Cái thông minh độc đáo của ổng, cái nhìn lạ lùng như vậy, thì cái nổi tiếng của ổng là cái thuyết tương đối, thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối mở rộng. Nhưng mà mình không có thì giờ để mình trình bày, mình chỉ nói thế này chút xíu thôi, dễ hiểu thôi: là mỗi cái giá trị nó đều lệ thuộc vào các điều kiện chứ không có độc lập tuyệt đối.
[1:07:13]Ví dụ mình nói chiếc xe đó chạy với vận tốc là 50 km/h, thì ông Einstein ông nói là: Nói vậy không được. Nói như vậy giống như nói nó độc lập tuyệt đối, không được. Phải so sánh nó với cái gì đó thì mới được nói là xe đó đang chạy 50 km/h. Là so sánh với cái gì? So sánh với mặt đất. Nhưng mà nếu so sánh với một xe đang đi bên cạnh thì chiếc xe này nó không còn là chạy theo vận tốc 50 km/h nữa mà nó đang đứng yên. Hai chiếc xe song song với nhau á, không có vận tốc, hoàn toàn không có 50 km/h. Đó là lý thuyết của Einstein. Quý Phật tử nghe dễ hiểu không? Dễ không? Dễ thấy không? Đó vậy, cho nên hồi Đệ nhị Thế chiến có một câu chuyện,
[1:07:55]truyền thuyết này mình không có biết có thật hay không, là có một cái viên phi công người Anh á, lúc đánh nhau với quân Đức thì đang bay để bắn nhau để thả bom, thì ổng đang bay ổng nhìn thấy có một viên đạn ở bên cạnh ổng thò tay ổng nắm bỏ vô máy bay ổng cất. Vì sao? Vì lúc đó là ổng đang bị cái súng phòng không của Đức bắn lên, mà bắn tới đó cái vận tốc nó giảm rồi nó bay bằng vận tốc của chiếc máy bay ổng đang bay, nên đối với cái chiếc máy bay là viên đạn đang đứng yên. Nên ổng thò tay ổng lấy dễ dàng ổng bỏ vào. Đó là một cái minh họa cho cái thuyết tương đối Einstein. Còn nếu với cái người đứng dưới mặt đất thì viên đạn nó đang bay mấy
[1:08:33]trăm cây số một giờ gì đó, là đụng mình một cái mình lủng liền. Nghĩa là mình muốn nói một cái giá trị thì mình phải có cái so sánh. Ví dụ nói cái cô đó cân nặng chưa tới một tạ, ví dụ vậy, thì mình phải lấy cái điều kiện nó nằm ở đâu? Là ở trên Trái Đất này. Với Trái Đất này thì cô đó cân nặng chưa tới một tạ. Nhưng mà nếu đem cái cô đó lên trên Mộc tinh thì cô đó nặng sơ sơ có chưa tới một tấn, nó nặng lên liền. Cho nên nói là phải có cái điều kiện, có cái đối chiếu so sánh chứ không được nói một mình. Đó, ví dụ như mình khen: "À, cái cô đó đẹp", thì là phải so sánh, là vì sao cô ấy đẹp? Bởi vì đối với cái người ngắm, phải không?
[1:09:16]Chứ coi chừng đối với người khác á thành ra không phải đẹp. Cho nên nó có cái đối chiếu, có cái so sánh, có cái hệ quy chiếu. Thuyết tương đối Einstein là vậy. Cái độc đáo của ổng, ổng nói cả không gian, thời gian này cũng tương đối luôn. Ví dụ như cái phòng này chúng ta thấy bề dài 8 mét, bề ngang 5 mét đi ví dụ như vậy, nhưng mà nếu mình bưng nguyên cái phòng này đi lên một cái thiên thể nào đó nó thật là nặng, thì coi chừng cái phòng này nó chỉ còn có gì: bề ngang là 2 mét, bề dài là 3 mét, ví dụ vậy. Cái không gian bị biến mất liền, thay đổi liền. Ông Einstein ổng hay đưa ra một cái ví dụ như một cây
[1:09:52]thước nó dài 50 cm, và ổng mới hỏi sinh viên là: "Như vậy cây thước này nó cố định tuyệt đối không?". Ổng nói là khi mà người ta bay với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng thì cây thước này nó rút ngắn lại còn có mấy phân thôi, không còn 5 tấc. Thì một người sinh viên mới hỏi ổng: "Là nhưng mà trong thực tế nó vẫn là 50 cm chứ? Ví dụ như ông cho rằng khi bay nhanh như vậy rút lại còn mấy phân chỉ là một ảo giác tạm thời, chứ trong thực tế nó vẫn là 50 cm chứ?". Ông Einstein nói: "Không có cái thực tế. Thực tế chỉ là cái thói quen của mình thôi. Mình ở đây mình quen rồi thì mình nghĩ luôn luôn cái khúc đó là 50 cm,
[1:10:32]nhưng với một người họ quen ở trong môi trường khác thì cái này luôn luôn là 3 cm. Nên không có cái thực tế, đừng chấp vào cái gọi là thực tế". Cho nên học cái toán học tương đối Einstein là phải biết thoát ra khỏi những cái mình đã dính từ nào giờ, từ nhỏ tới lớn mình đã dính, thoát ra khỏi đi. Ví dụ như từ nhỏ tới lớn mình có cái thói quen là phải sống cho mình, đó là cái thói quen, thì những cái thói quen đó khi mình bước vào đạo phải bỏ đi. Vì những thói quen đó không không phải là chân lý. Nhưng mà mình thấy trên cuộc đời: Ủa, tui thấy bên nhà ông A ổng cũng giành cái đồ ăn nhiều cho ổng,
[1:11:05]bên bà B bả cũng giành đất nhiều cho bả, tức là thấy trên đời ai cũng giành về cho mình thì như vậy tui cũng phải giành cho tui là điều lẽ phải? Không, cái đó không phải lẽ phải. Đó là lẽ phải mà mình đã lỡ dính, lỡ chấp do cái hoàn cảnh của mình. Hôm nay cái lẽ phải mà chúng ta phải học mới là nhường cho người khác đi, không giành cho mình nữa. Đó đó mới là lẽ phải, và chân lý là vậy, là một cái gì rất mới nhưng rất đúng làm cho chúng ta thoát đi những cái kiến chấp sai lầm cũ, những cái thói quen, những cái suy nghĩ nào giờ mình tưởng là đúng mà tai hại. Giống như là thuyết tương đối Einstein là như vậy.
[1:11:39]Quý Phật tử tạm hiểu không? Tạm hiểu ha, vậy đó. Chứ phức tạp lắm, khủng khiếp lắm, không đủ sức. Sống trên đời này thì chúng ta cố gắng đạt đến sự chí thiện, sự hoàn hảo, dù biết là sẽ còn những sơ suất. Nghĩa là chúng ta biết một điều là dù chúng ta cố gắng cách mấy, thế nào cũng còn có cái lầm lỗi, có sơ suất. Nhưng mà phải quyết tâm đạt cho bằng được cái sự hoàn hảo, vượt qua từng cái sơ suất nào mà mình thấy được. Chứ đừng có nói rằng "Ôi trên đời cái gì cũng tương đối, đừng có cầu toàn quá". Đừng suy nghĩ như vậy. Người đệ tử Phật không được suy nghĩ như vậy, bởi vì sao? Bởi vì sự giải thoát là tuyệt đối.
[1:12:21]Chúng ta phải có cái khát khao tuyệt đối, chúng ta mới đạt được sự giải thoát. Chúng ta phải hoàn thiện mình đến tuyệt đối, chúng ta mới đạt được sự giác ngộ tuyệt đối. Còn nếu mình dễ duôi theo cái quan niệm à cho rằng cuộc đời này cái gì cũng tương đối, thôi đừng có cố gắng quá, sống cho nó vui vui, tàn tàn cũng được. Thì như vậy mình không phải đệ tử Phật. Chúng ta nên nhớ điều này: mình nỗ lực mười thì kết quả mà mình đạt được chỉ được tám rưỡi là người giỏi. Còn nếu mình nói "Ôi đời cái gì cũng tương đối, sống tàn tàn" nên mình chỉ nỗ lực năm thôi, thì kết quả mình chỉ đạt được là một. Mà nếu cái thước đo là mười mà mình chỉ được một thì mình là con người loại nào?
[1:13:02]Dưới trung bình rất xa, là người đạo đức dưới trung bình. Vì vậy, chúng ta tinh tấn tu hành, chúng ta rèn luyện đạo đức cho đến cái hoàn thiện tuyệt đối không có điểm sơ suất nhỏ. Mình cố gắng như vậy, nhưng mà trong thực tế chắc chắn là sao? Vẫn có sơ suất, nhưng mà sẽ ít. Còn nếu mình ỷ y nói cái gì cũng tương đối, thôi kệ sống cho vui vui chút chứ gì gò bó quá vậy không biết nữa, thì đạo đức mình từ từ tuột xuống còn một, hai. Nếu mười điểm là điểm tối đa, mình chỉ được chấm một, hai điểm thì lúc đó mình là người nhân cách rất là xấu. Nên vì vậy là tuy biết rằng trên đời này mọi cái điều đều là tương đối,
[1:13:41]không thể nào hoàn toàn được, nhưng người đệ tử Phật chúng ta phải đòi hỏi cái tuyệt đối nơi chính mình, phải cầu toàn nơi chính mình. Mình nói cái gì cũng tương đối là để mình thông cảm cho sự sơ suất của người khác, còn với bản thân mình, mình phải đòi hỏi sự tuyệt đối. Và mỗi ngày trôi qua là chúng ta phải phát triển dần trên đường tu tập, phải phát triển thêm cái lòng tôn kính Phật, lòng từ bi thương yêu chúng sinh, cái tâm khiêm hạ, diệt trừ dần dần những cái thói xấu, những cái tâm bất thiện như là tham lam, sân hận, kiêu mạn, vân vân. Tức là mỗi ngày đi qua, chúng ta phải tiến dần tiến dần để đi đến cái tuyệt đối hoàn hảo,
[1:14:22]chứ không bao giờ được dễ duôi, dễ dãi, ỷ lại nói: "Vì cái gì cũng tương đối, mình không cần phải phấn đấu" là mình sẽ tuột lại từ từ. Mình ngừng cái sự cố gắng là mình tuột lại từ từ liền. Còn mình nỗ lực phi thường, mình mới đi ngược được cái dòng nước lũ của luân hồi, của sinh tử. Chứ cái cơn thác của luân hồi sinh tử rất mạnh, mình ngừng lại là nó cuốn mình đi tuột xuống liền, là trôi luôn vào luân hồi trong những điều xấu xa, bất thiện. Còn mình hết sức cố gắng, mình mới đi ngược lại được dòng nước đó từng bước chậm, từng bước chậm. Mà đòi hỏi mình phải cố gắng mười, nghĩa là cố gắng hết sức,
[1:14:59]đòi hỏi tuyệt đối hoàn hảo thì mình mới đi được từng bước chậm, từng bước chậm. Và một kiếp nào đó mình mới đến được cái đích, cái tận nguồn, chấm dứt được cái sự vô minh, si mê này. Không phải là dễ như vậy. Chúng ta có cái câu của Kant, ông nói cũng hay. Ông nói: "Đạo đức không phải là một chủ thuyết để làm thế nào cho ta được hạnh phúc, mà nó là một cái cách để làm thế nào cho ta xứng đáng với hạnh phúc." Nghĩa là cuộc đời nó sẽ có đau khổ, có hạnh phúc, nhưng không phải là cái đạo đức là con đường đi tìm hạnh phúc, mà là con đường chúng ta sống thế nào để khi có hạnh phúc chúng ta xứng đáng với nó.
[1:15:38]Ví dụ như khi chúng ta giàu có, chúng ta xứng đáng với sự giàu có đó vì mình đã rất tốt bụng với người khác. Khi chúng ta khen ngợi, chúng ta được hạnh phúc là bởi vì chúng ta đã quá tốt đẹp với mọi người, nên chúng ta xứng đáng. Đạo đức theo định nghĩa của Kant là như vậy, câu nghe rất là hay phải không? "Ta hãy tìm hạnh phúc cho kẻ khác, nhưng cho chính ta, ta hãy tìm sự toàn thiện, dù điều đó đem lại cho ta nhọc nhằn, vất vả." Cái câu nói rất là hay. Trên cái con đường mà đi tìm sự toàn thiện cho mình thì rõ ràng là rất nhọc nhằn, vất vả, nhưng đó là điều mà chúng ta phải cố gắng nơi chính mình.
[1:16:13]Còn với người khác, chúng ta cố gắng đem niềm vui, đem hạnh phúc đến cho họ. Việc mà đặt bổn phận lên trên cái đẹp, đạo đức lên trên cái hạnh phúc là điều khó theo, nhưng mà chỉ có cách ấy, chúng ta mới thôi là những con vật và bắt đầu làm thần thánh. Những câu nói tuyệt vời của triết gia, triết gia mà trơ tới ngã phước năm mươi lăm. Việc mà chúng ta đặt bổn phận lên trên cái đẹp là có những cái vui nhưng mà chúng ta biết khước từ bởi vì biết mình quay lại để sống cho đúng với bổn phận, mình hy sinh vì bổn phận trước. Hoặc là đặt đạo đức cao hơn cái hạnh phúc, nghĩa là mình đi nhậu có niềm vui liền
[1:16:52]nhưng một bên là đạo đức không cho phép, mình lo cho người nhà mình cái đã. Tức là đặt đạo đức lên trên hạnh phúc, bổn phận lên trên cái đẹp, cái vui thì điều đó khó làm, nhưng mà chỉ có làm như vậy chúng ta mới thôi làm những con thú vật mà bắt đầu làm thần thánh. Những câu nói mà thật đáng ca ngợi như vậy. Một điều nữa là cái ngôn ngữ, cái tư tưởng không bao giờ nắm bắt, không bao giờ diễn tả được cái chân lý tuyệt đối. Ở cái mức độ mà tâm thức cạn thì ngôn ngữ được tạo thành để diễn tả những tư tưởng, những cái hiểu biết mà ở cái mức độ cái tâm thức cạn đó. Ví dụ như chúng ta hiện nay chưa vào cái định sâu,
[1:17:32]chúng ta nhìn cái thế gian như vậy hoa là đỏ, lá là xanh, người thì cao người thấp như thế, từng lời nói như thế thì mình thấy như vậy, mình hiểu như vậy, mình nói lên như vậy, tức là cái ngôn ngữ của mình sẽ diễn tả những điều rất tương đối, rất là cạn theo cái biết của mình hiện giờ. Vì tâm mình chưa vào định sâu nên cái biết của mình rất là cạn và cái lời nói mình cũng chỉ chừng ấy thôi, không cao hơn được. Còn mà khi tâm lắng sâu á thì cái mình biết về thế giới nó bắt đầu nó biến mất, nó đổi khác, nó kỳ lạ thì ngôn ngữ diễn tả không được mà nhiều khi gây hiểu lầm nữa. Khi tâm mình vào định rồi, cái hiểu mình về thế giới nó khác.
[1:18:13]Ví dụ như là khi mà thiền sư nói "Tâm an định là hạnh phúc" thì người nghe coi chừng hiểu lầm cái hạnh phúc mà ông thiền sư nói giống như là cái niềm vui xao động của thế gian như mà khi được trúng số, khi được khen ngợi, khi được ăn ngon mặc đẹp. Mình hiểu lầm cái chữ hạnh phúc của thiền sư tại ông thiền sư cũng không có từ nào ổng xài hết. Khi ổng nhận ra được cái hạnh phúc của thiền định, ổng đâu có cái từ mới diễn tả mà mình cũng không hiểu, ổng phải dùng lại cái từ nào giờ người ta đã dùng là hạnh phúc, nhưng mà mình lại hiểu cái chữ đó theo nghĩa khác của mình, hiểu không đúng. Nên chúng ta thấy là cái ngôn ngữ không diễn tả được cái chân lý mà khi tâm
[1:18:47]mình vào sâu rồi mình thấy được, là cái tương đối của ngôn ngữ không diễn tả được cái tuyệt đối trong cái đạo lý mà người ta thực chứng được. Ví dụ thế này, có ông thiền sư ổng nói là: "Ngọn cỏ, lá cây đều là Phật, là Pháp." Thì người mà chưa ngộ đó ráng nhìn ngọn cỏ, lá cây coi Phật, Pháp chỗ nào, suy luận lung tung hết trơn, đó là không đúng. Cái đó phải chứng mới thấy, còn cái lời nói của thiền sư là gượng gạo mà nói, không bao giờ diễn tả được hết. Khi tâm chúng ta vào định tuyệt đối, bản ngã chấm dứt, cái ta không còn thì lúc đó là bản thể tuyệt đối của vũ trụ. Cái bản thể đó chúng ta đừng hiểu như là một cái vật
[1:19:27]thể hay là một khoảng không bao la, không phải. Cái suy nghĩ chúng ta không bao giờ hiểu được cái bản thể tuyệt đối đó hết. Ở đây mình nói sơ sơ vài điều một chút: bản thể đó vừa là tất cả vạn hữu mà vừa thoát ra tất cả vạn hữu, nghĩa là vừa giải thoát mà vừa thông đạt. Cái này mình hiểu nổi không? Ngôn ngữ hiểu nổi không? Tư tưởng hiểu nổi không? Vừa là cái này vừa là cái kia. Cái bản thể đó vừa chính là hạt bụi, lá cây, là sao, là trời, là trăng mà vừa không phải, thoát ra tất cả những cái đó. Mình nghe đó mình hiểu không nổi, hoặc là nói: bản thể vừa rất nhỏ, vừa rất lớn. Ờ nói là bản thể nhỏ, nhỏ hơn đầu mũi kim nhưng mà
[1:20:06]lớn hơn cả cái pháp giới không gian vũ trụ này. Mình nghe mình hiểu nổi không? Không hiểu nổi. Ngôn ngữ diễn tả không hết ý. Hoặc nói: bản thể vừa là khoảnh khắc mà vừa là thiên thu. Mình nghe không hiểu nổi. Là ngắn như một khoảnh khắc nhưng mà vĩnh viễn như là một thiên thu. Bản thể tuyệt đối là như vậy, hiểu không nổi. Hoặc nói bản thể vừa là thương yêu, vừa là thanh thản. Hễ mình thương yêu thì mình là chất ngất á, nhưng mà bản thể không phải, vừa là thương yêu với tất cả chúng sinh nhưng mà lại vừa là thanh thản như không thương ai, kỳ khôi vậy! Nên đó là những cái không hiểu nổi. Bản thể vừa là trí tuệ biết hết mà vừa là tịch diệt như không biết gì hết.
[1:20:52]Đó, những cái tâm chứng của các vị thánh mình nghe diễn tả bằng lời mình không hiểu nổi. Thời gian cũng đã hết. Chúng ta hôm nay nói chuyện với nhau về cái tương đối và tuyệt đối. Chúng ta biết có những điều tuyệt đối thì ngôn ngữ, tư tưởng không nói tới được. Chúng ta cũng biết thế gian này là tương đối, tạm bợ cho nên chúng ta đừng có bám vào thế gian này mà chúng ta đi tìm cái tuyệt đối vĩnh cửu. Và chúng ta cũng biết mọi chuyện trên đời là tương đối, cái tuyệt đối rất khó tìm, nhưng chúng ta cũng phải dặn lòng mình là đi tìm sự hoàn thiện tuyệt đối. Bởi vì nếu chúng ta dễ duôi, ỷ lại, chúng ta sẽ tuột hậu liền, sẽ tuột rất xa về nhân cách, về đạo đức, mọi điều.
[1:21:37]Hôm nay chúng ta nghe bài này, xin chúc cho các Phật tử có được cái khát khao tuyệt đối để mỗi ngày mỗi giờ trôi qua là chúng ta hoàn thiện được bản thân mình, nội tâm mình để đi về nơi chí thiện, nơi cao cả, nơi hoàn hảo. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:22:02]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
[1:22:17]đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.