[0:14]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:22]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:37]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:49]Mời quý Phật tử ngồi xuống.
[0:55]À Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng ta nghe tiếp bài kinh Kim Cang lần thứ tư ha. Lần trước chúng ta nghe đến cái đoạn mà Phật ca ngợi cái công hạnh của một người bố thí bất trụ tướng. Bồ tát mà bố thí bất trụ tướng thì cái phước đức không thể nghĩ bàn, ha: "Nhược Bồ tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng". Hôm trước chúng ta cũng phân tích thế nào là trụ tướng. Trụ tướng ở đây nghĩa là những cái động cơ mà mình bố thí một cách không có chính đáng. Thì chúng ta thấy cái điều này nó đang nói về bốn tướng: ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, thì bỗng nhiên đề tài được chuyển
[1:39]sang một cách bất ngờ là lại nói về vấn đề là bố thí, ha. Thì trong cái bố thí này, Đức Phật đặt vấn đề là bố thí không có trụ tướng. Bố thí trụ tướng tức là những cái động cơ không chân chính đó. Hôm trước chúng ta đã nói một số vấn đề phải không? Có ai nhớ không? Khi mà mình bố thí mà trụ tướng, tức là động cơ không chân chính là những động cơ gì, nhớ không? Là bố thí vì thấy người ta đẹp. À, mấy cái đó bộ dễ nhớ. Bố thí vì người ta khéo nịnh. Khéo nịnh chứ người ta giàu rồi bố thí làm chi nữa? Người ta giàu rồi mình nịnh mình lấy tiền chứ, ha. Đó, mình bố thí vì người đó nịnh mình, mình bố thí vì người đó là
[2:21]ruột rà của mình, mình bố thí vì người đó vì mình muốn cầu phước, mình bố thí vì mình muốn được được khen, được giỏi, mình bố thí vì muốn bày tỏ uy thế, thấy mình ngon hơn thiên hạ, mình bố thí vì mình muốn mua chuộc thế lực để làm kéo người ta về với phe cánh của mình. Tức là những cái động cơ như vậy Phật gọi là những động cơ không có chân chính. Tức là cái hành động thì có vẻ đạo đức, bố thí là một hành vi đạo đức, nhưng mà cái tâm thì không đạo đức, nên gọi là có trụ tướng. Như vậy phải bố thí mà không được bố thí vì một động cơ sai lầm. Vậy thì lý do gì để mình bố thí, động cơ gì để mình bố thí?
[3:07]Phải bố thí chứ không được không bố thí, vì sao vậy? Bởi vì Bồ tát là cái hạnh bố thí làm đầu. Trong kinh Kim Cang này thì thường là nói về cái công hạnh tu hành của một vị Bồ tát, cho nên là nói rất nhiều vấn đề. Thì đang nói về cái bốn tướng, một người Bồ tát phải có cái thái độ đối với bốn tướng như thế nào, nghe đã rất là vất vả rồi, bỗng nhiên chuyển sang đề tài bố thí, bởi vì bố thí là một trong những công hạnh của Bồ tát mà không thể thiếu. Nhưng mà bố thí phải cho đúng hướng. Thì đầu tiên là trong kinh nói tránh cái trụ tướng, nghĩa là vì những động cơ không chân chính. Bây giờ thì chúng ta phải định nghĩa cái động cơ chân chính là gì,
[3:49]chứ không thể khi không mà mình xách tiền mình cho người ta, không thể khi không xách tiền mình cho, phải có lý do để cho. Nhưng mà bố thí mà không trụ tướng, tức là cho mà không thấy mình cho, cho mà không phải vì động cơ sai lầm, mà cũng không thể khi không mà cho, đồng ý không? Có bao giờ quý Phật tử tự nhiên không có gì hết trơn chạy vô trong nhà cái lục tiền đi ra đứng đón người ta ngoài đường đi qua đi lại đưa không, có không? Có không? Cũng có, cũng có ha. Sau đó thì sao? Người ta chở mình vô Biên Hòa vậy thôi, cũng có. Thành thử ra nó phải có lý do gì đó, không biết. Vậy lý do gì, nói nghe?
[4:26]Từ bi, rồi gì nữa? Hử? Nó có hai lý do, nó có hai lý do thì hai lý do này thì sẽ được gọi là không trụ tướng. Lý do thứ nhất á là mình giúp người qua một cái khó khăn nào đó. Ví dụ như người ta đang nghèo, đang thiếu, người ta cần học hành, người ta khốn đốn, người ta bệnh hoạn mà người ta khó khăn, người ta không đủ khả năng, người ta không đủ khả năng để người ta vượt qua được cái khó khăn đó, thì mình giúp người ta để người ta vượt qua khó khăn đó trong đời sống, trong sự tu hành, trong sự tu học, trong sự tu tập. Đó là lý do thứ nhất, chứ không có vì những lý do kia. Lý do thứ hai là để kết duyên lành mà giáo hóa về sau. Đó, nhớ như vậy.
[5:17]Lý do thứ nhất thì rất là bình thường, phải không? Là chúng ta dễ tập được, dễ tu được, dễ hiểu được. Là bình thường một người Phật tử mà có cái tâm từ bi thương người đều có thể có lý do thứ nhất này là khi thấy một người nào đó rơi vào khó khăn không tự giải quyết được, mình sẵn sàng mình giúp đỡ, thì cái này gọi là bố thí mà không trụ tướng. Mà đây là bố thí mà không muốn được khen, không muốn khoe, không cầu phước. Đây là những động cơ rất chân chính, chỉ vì thương người trong cái lúc người ta không tự giải quyết được. Và cái thứ hai mới là cái động cơ quan trọng của Bồ tát là bố thí để kết duyên lành mà mình giáo hóa về sau.
[5:57]Thì cái chính vì nhờ cái động cơ thứ hai này đó thì cái hành vi bố thí của Bồ tát mới rộng rãi. Chúng ta ví dụ thế này: ví dụ như nếu mà vì động cơ thứ nhất á, mình gặp một người bình thường á mình không có lý do gì thì mình không bao giờ cho gì hết, tại vì người ta vẫn ăn no, vẫn mặc đẹp, người ta không có cái gì khó khăn để phải mà gọi là không tự giải quyết được, cho nên là gặp người đó mình không có gì phải cho hết, bởi vì nếu theo cái mục tiêu thứ nhất là giúp người trong cơn khốn quẫn. Nhưng mà Bồ tát đôi khi có những trường hợp là người ta vẫn đang bình thường mà vẫn cho luôn là vì lý do thứ hai là để kết duyên lành mà giáo hóa về sau.
[6:35]Người ta vẫn đang ăn ngon, người ta vẫn đang mặc đẹp, người ta vẫn khỏe khoắn không có gì bức xúc hết, nhưng mà tự nhiên mình vẫn đem một món quà đến mình cho. À ví dụ như tự nhiên mình có cái trái cây mình cũng đem tới tặng, hộp bánh ngon, món quà dễ thương gì đó mình cũng vẫn đem tặng tới. Thì cái này không vì lý do thứ nhất mà vì lý do thứ hai là để kết duyên lành về sau. Đó, nghĩa là người ta không trong trường hợp túng quẫn mà mình vẫn tặng biếu là vì lý do thứ hai. Có những người trong đời này, nghĩa là khi thấy người khác không có túng quẫn, không có túng thiếu, bình thường, thậm chí giàu mà vẫn đem quà cho nữa là có không?
[7:10]Ủa, hay vậy, đó là trường hợp gì? Hối lộ, rồi, lý do thứ nhất, cái gì nữa? Mấy người này giỏi ta, hình như kinh nghiệm đầy mình hay sao, kỳ quá. Thậm chí người ta còn giàu hơn mình, phải không? Mà vẫn đem về vét sạch tiền để mà đưa người ta, để người ta ký cho tờ giấy. Đó, ít người nha, chứ không phải nói tất cả rồi nhà nước bắt chết. Mà thật ra trên thế giới đều như vậy và từ xưa đến giờ như vậy, cái tình trạng mà hối lộ nó xảy ra hoài trong suốt cuộc sống của nhân loại. Có lẽ là không bao giờ mà cái chuyện hối lộ nó hết trên cái thế giới này. Đây là cái điều mà chúng ta phải chiến đấu vất vả giữa điều thiện và điều ác.
[7:46]Chừng nào mà người Phật tử mình cho đông, cho mạnh, đạo đức lan tràn hết, rồi thậm chí là những người Phật tử mình mà làm công chức cán bộ á mà có đạo đức á thì từ từ cái đó nó giảm bớt cái tỉ lệ lại thôi chứ hết hoàn toàn cũng không hết được. Đó là cái tình trạng là không phải vì những động cơ gì hết, người ta không túng quẫn mà vẫn đem tiền vét hết đưa người ta là vì lý do hối lộ. Đây là để chúng ta thấy thế này: khi mà học kinh Kim Cang á, sau khi mà chúng ta học với nhau qua mấy bài như vậy rồi đó, bắt đầu chúng ta thấy lờ mờ cái hướng kinh Kim Cang đi về hướng nào chưa? Nhìn ra chưa? Giờ ví dụ như có một người hỏi mình:
[8:20]vậy yếu chỉ kinh Kim Cang nói cái gì, mình trả lời được chưa? Tại vì cái đầu kinh Kim Cang á là hỏi cái gì? Làm sao để hàng phục tâm, phải không? Rồi bắt đầu Phật trả lời đi đâu á, đi vòng vòng vòng vo Tam Quốc, đi hết tam thiên thế giới vòng vòng vòng vòng nãy giờ, hình như cũng chưa trả lời câu hỏi mình, phải không? Nhưng mà hôm nay chúng ta nói chuyện với nhau lần thứ tư rồi, chúng ta vẫn chưa nghe câu trả lời rõ ràng về vấn đề hàng phục tâm. Phật cũng nói chuyện vòng vòng vòng vòng đâu không. À bây giờ nếu có người hỏi mình: vậy chứ yếu chỉ kinh Kim Cang là để nói cái gì, thì chúng ta trả lời được chưa?
[9:00]Được chưa?
[9:09]Thường thường á hầu hết có một số vị mà học kinh đại thừa mà nhất là qua bên cái hệ thống Bát Nhã mà Kim Cang này là cái hệ thống Bát Nhã, thuộc hệ thống Bát Nhã khởi đầu của Bát Nhã, chúng ta có cái Tâm Kinh chúng ta tụng mỗi đêm cũng là Bát Nhã. Chúng ta có nguyên cái bộ bộ nghĩa là Đại Bát Nhã dày 600 quyển cũng là hệ thống Bát Nhã. Mà hệ thống Bát Nhã này khi nói tới chúng ta đếm sẽ ra rất nhiều cái chữ không, chữ vô, chữ bất. Đó, tức là những chữ phủ định không. Ngay như cái bản kinh Kim Cang này nếu mà chúng ta về nhà chúng ta lật chúng ta đếm những cái chữ mà thuộc về phủ định á cũng rất là nhiều.
[9:49]Còn cái bài kinh Tâm Kinh mà chúng ta tụng kinh mỗi đêm có đọc á, chúng ta đếm cũng ra rất nhiều cái chữ vô, chữ không, chữ bất phải không? Đó, và lúc đó làm cho chúng ta có cái cảm tưởng hễ kinh gì thuộc về hệ thống Bát Nhã thì nói về nghĩa nghĩa không, hầu hết đều nghĩ như vậy. Nhưng vào kinh Kim Cang cũng vậy. Khi mà có một người nào đó hỏi chúng ta là kinh Kim Cang muốn nói điều gì, chúng ta dễ trả lời một cách vội vã: nói về không. Phải không? Và hầu hết nhiều vị triển khai kinh Kim Cang là cũng cứ đào sâu cái nghĩa không này. Mà ở đây chúng ta thấy là chúng ta học qua bốn bài rồi thì chúng
[10:29]ta thấy có phải kinh Kim Cang nói nghĩa không, không? Có không? Không dám trả lời thì sợ sợ không biết ông thầy có lắt léo gì ông trả lời sợ hớ. Nhưng chúng ta để ý điều này nè, là ví dụ như hôm trước Phật nói là không có cái bốn tướng: ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, cũng là chữ không, để làm gì? Để làm gì? Để đạt được cái đạo đức cao nhất của đạo Phật. Nhớ không? Rồi Phật kêu bố thí hay kêu không bố thí? Có bố thí hay không có bố thí? Có Có bố thí. Như vậy có phải vấn đề đạo đức không? Đạo đức. Mà nếu bố thí vì một động cơ không chân chính thì đạo đức hay không đạo đức? Không đạo đức Không đạo đức.
[11:12]Cho nên phải bố thí mà vì động cơ chân chính để cho cái đạo đức nó làm chi? Nó được hoàn toàn hoàn hảo viên mãn, phải không? Như vậy nội cái bố thí mà không trụ tướng là để xây dựng một cái đạo đức hoàn chỉnh từ hành vi cho tới nội tâm. Như vậy kinh Kim Cang nói về cái gì? Nói về cái gì? Đạo đức không. Hãy xác định lại điều này. Cho nên từ đây chúng ta xác định lại điều này, là kinh Kim Cang nói về đạo đức, mà bởi vì cái đạo đức này quá sâu nên phải dùng rất nhiều cái chữ không để trợ giúp cho cái ý nghĩa đạo đức. Ừ, đây là điều rất là lạ. Mà không phải riêng kinh Kim Cang, toàn bộ cái hệ thống Bát Nhã là như vậy.
[11:51]Chúng ta đừng tưởng là hệ thống trí tuệ Bát Nhã dừng lại ở chữ không, mà sự thực dùng cái chữ không đó để xây dựng cho một vị Bồ Tát đạt được cái đạo đức tuyệt đối, cao vút ở trên đỉnh luôn. Hãy nhớ điều này, hãy nhớ điều này. Và chúng ta sẽ thấy là Đức Phật không trả lời cái câu: Làm sao để hàng phục tâm? Mà nguyên cả bộ kinh Kim Cang là cứ xây dựng những cái điều này, những cái đạo đức không, mà đạo đức ở cái mức độ là high tech á, kỹ thuật cao, chứ không phải đạo đức mà ở những cái căn bản nữa, ờ những cái bố thí, trì giới, nhẫn nhục, không có, mà b- đạo đức mà ở mức độ quá cao rồi thì phải dùng rất nhiều cái chữ không để
[12:30]diễn tả, để hỗ trợ, cho nên nghe nhiều cái chữ không rồi mình tưởng kinh này mục đích là chúng ta phải đi vào cái không, ờ ta lại hiểu sai. Vậy chúng ta sẽ đặt vấn đề câu hỏi: Ủa, nếu mà thầy nói kinh Kim Cang nói về đạo đức ừ tại sao trong suốt bộ kinh không có chữ đạo đức? Ai biết lý do tại sao? Nếu mà nói rằng kinh Kim Cang nói về đạo đức thì trong cái chữ kinh này phải nói nhiều chữ đạo đức mà không thấy? Tại sao vậy? Tại sao? Tại vì? Vì hồi xưa chưa có chữ đạo đức.
[13:08]Hồi xưa không có chữ Nghĩa là từ bên Ấn Độ mà dịch qua chữ Nho, rồi chữ Tàu, dịch qua chữ Việt Nam, hồi đó không có chữ đạo đức. À, ngộ ghê á. Chữ đạo đức ở đâu ra? Từ cái Đạo Đức Kinh của Lão Tử mà ra. Nghĩa là Lão Tử có cái chữ Đạo Đức Kinh, rồi cái chữ Đạo Đức Kinh của Lão Tử ổng hiểu theo nghĩa khác. Nhưng mà trôi qua mấy ngàn năm trôi từ từ vòng vòng vòng qua tới Việt Nam mình thì ngày nay mình hiểu cái chữ đạo đức là khác nữa. Ừ Trong kinh Phật thời xưa đó có dùng cái chữ đạo đức, mà Phật dùng cái chữ là hắc pháp ở trong tâm, cái pháp đen ở trong tâm. Cho nên cái mình dùng chữ pháp hắc gọi là bạch pháp ở trong tâm và hắc pháp
[13:49]trong tâm, hắc pháp trong tâm là những điều bất thiện và bạch pháp ở trong tâm là những điều thiện, hoặc là chữ thiện pháp hay là bất thiện pháp, là xưa là dùng cái chữ đó thôi chứ không có dùng cái chữ đạo đức. Cho nên là đọc suốt bộ kinh Kim Cang chúng ta không hề thấy chữ đạo đức mà chỉ thấy cái chữ không rất là nhiều, mà không ngờ rằng cái chữ không đó để phục vụ cho đạo đức. Vì sao vậy? Bởi vì Bồ Tát là những vị thánh mà đạo đức cực kỳ cao, cực kỳ sâu. Ở đây vậy chúng ta cứ để ý thế này, ví dụ như là một năm trước chúng ta đến với đạo Phật rồi bây giờ chúng ta tu học qua được một năm, chúng ta nhìn lại một năm trước chúng ta thấy mình có lỗi không, năm ngoái á?
[14:30]Có không? Có. Nhiều hay ít? Nhiều. Hử, khi qua một năm mà mình nhìn lại năm ngoái mình nhớ mình lỗi nhiều tức là mình tiến hay là thoái? Tiến, phải không? Trí tuệ mình cao lên mình mới nhìn thấy được cái lỗi quá khứ. Còn nếu mà hỏi ai là năm ngoái nay thấy có lỗi gì không? Thấy ngồi suy nghĩ lát: "Không, không thấy gì hết trơn. Thấy tốt ghê á, tôi tu ngon lành không thấy lỗi gì hết" thì người đó tu làm sao? Ừ, người đó tu quá tệ. Hoặc là có người ờ khi suy nghĩ ngồi nghĩ đi nghĩ lại nói: "Ờ, năm ngoái tôi còn tốt hơn năm nay nữa nha". Tức là người đó làm sao? Lui mất tiêu rồi, phải không? Cho nên cái việc tu là cứ nhìn lại nhìn lại thì cứ thấy là không ngờ
[15:10]là ngày trước mình sai lầm đến như vậy, là người đó đang tiến. Đó, mà nếu mà cái người mà hay hay hơn á là qua ngày mai nhìn lại ngày hôm nay đã thấy ngày hôm nay có những sai lầm, thì đó là người đó có cái tiến nhanh. Ví dụ ngày hôm qua chúng ta đến đây dự khóa thiền à chúng ta tu hành cũng thanh tịnh với bạn đạo chung hết, rồi ngày hôm nay ngồi lại nhìn lại ngày hôm qua đã phát hiện ra một số lỗi của ngày hôm qua, tức là người đã trí tuệ đã nhanh lên rồi, trí tuệ đã nhanh. Mà nếu có người nào ví dụ đang ngồi đây thanh tịnh, ngồi lắng lòng nghe giáo pháp mà vẫn thấy được lỗi đang tồn tại trong tâm mình thì người đó làm sao rồi?
[15:46]Người đó làm sao? Người đó đã tới cái mức sát của chánh niệm và chánh định rồi, tới cái mức sát. Nghĩa là người đó đang an trú được trong chánh niệm, tâm đang thanh tịnh, chỉ có những người tâm đang thanh tịnh mới phát hiện lỗi mình đang còn tồn tại, mặc dù nó chưa khởi gì hết. Ví dụ chưa nổi sân là biết cái sân còn trong bụng mình, chưa có tham mà biết cái tham vẫn còn mà vẫn đang biết nó đang tồn tại, mặc dầu chưa diệt được. Chứ còn mà những năm xưa năm ngoái đồ thì thôi đầy rồi khỏi chê rồi. Đó là đó là người tiến bộ. Thì chúng ta suy luận như vậy đó bản thân mình như vậy, bây giờ mình đặt vấn đề nếu 50 năm sau mình đắc đạo thì ngày hôm nay làm sao?
[16:25]Mình nhìn lại ngày hôm nay làm sao? Kinh hồn luôn, không thể tưởng tượng là mình tệ đến mức độ như vậy, không thể tưởng tượng được. Rồi ví dụ một vị A La Hán đi, ví dụ 5 kiếp sau cái vị đó đắc đạo, nhớ lại được vô lượng kiếp, nhớ luôn những kiếp ngày hôm nay thì vị A La Hán đó nhớ lại thấy cái lỗi mình làm sao? Thấy dễ sợ lắm, không thể tưởng tượng được. Nhưng mà chỉ có cái may mắn là thế này, là khi một vị mà chứng đạo thì đạt được cái tâm bất hối, tức là vượt qua được cái triền cái mà nghi hối á, cho nên tuy biết mình có lỗi rất nhiều trong quá khứ nhưng mà tâm không có buồn, không có dằn vặt, thanh thản, biết thôi.
[17:01]Thấy nhờ vậy mà vẫn làm Bồ Tát, vẫn làm A La Hán được. Chứ nếu mà mình biết được cái lỗi mình mà đến cái mức độ đó thì chắc ai nấy đau khổ chịu không thấu. Nhưng mà nhờ đi trong Phật pháp chúng ta đi trong thiền định, tâm thanh tịnh cho nên tuy biết lỗi rất nhiều mà mình bình thản, không có dày vò. Nhờ vậy mới sống vui được, chứ biết lỗi mà dày vò thì mình chịu không nổi vì lỗi mình quá nhiều, lỗi quá nhiều. Bây giờ chúng ta đặt vấn đề vậy, như một vị mà hướng tâm đến đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là hướng tâm đến thành Phật, là tu hạnh Bồ Tát. Mà Bồ Tát thì phải trí tuệ rất cao, đức hạnh rất viên mãn.
[17:39]Và cái đức hạnh mà cực kỳ cao cực kỳ viên mãn đó không chấp nhận những cái lỗi lầm rất nhỏ nhỏ nhỏ vi tế vi tế trong tâm mình. Do đó là những cái nó phải vắng những cái lỗi đó đi, vắng những cái chấp này, vắng những cái lỗi kia hết để cho đạo đức được viên mãn. Thì vắng những cái lỗi đi cái chữ vắng là phủ định hay xác định? Cái chữ vắng cái lỗi đi, vắng là phủ định hay xác định? Phủ chớ sao mà xác nữa? Phủ định. Vắng mặt một cái gì đó là phủ định, phải không? Thì cái chữ phủ định đó, chúng ta thấy nó đồng cái cách dùng trong kinh Kim Cang là cái gì cũng không, cũng bất, cũng vô hết trơn, nhớ không?
[18:15]Đó là lý do mà kinh Kim Cang hay có chữ không, chữ bất, chữ vô nhiều là vậy đó. Để vắng đi những cái lỗi lầm mà những lỗi đó rất vi tế, những cái lỗi đó mà người thường mình hiểu không nổi. Nhưng mà Bồ Tát thì phải nhìn cho ra, cho nên do đó cái trí tuệ Bồ Tát rất cao, đức hạnh Bồ Tát rất cao thì cái phủ định càng nhiều, cái phủ định càng nhiều mà không nói đến cái tốt. Cái tốt mình có thì không nói, mà chỉ nói tới cái phủ định. Là ví dụ thế này. Ví dụ nói rằng mình phải từ bi thương yêu chúng sinh, đó là cách nói nó xác định, phải không? Nói xác định, bây giờ mình nói một câu thế này: "Không ghét ai hết, không ghét ai hết." Hai câu này nói là sao?
[18:53]Đồng nghĩa, nhưng mà hai cách nói khác nhau. Thì cái câu thứ nhất á là phải thương yêu tất cả chúng sinh á, cái câu đó nó rõ nghĩa, nó xác định và dễ làm mình chấp, làm mình có người thương, có người được thương. Còn cái câu nói phủ định á là không ghét ai hết, cái câu đó nghe bỗng nhiên nó nhẹ nhàng hơn, mặc dù nó đồng nghĩa là không ghét ai tức là tức là thương. À tuy nhiên tuy nhiên là hiện nay với mức độ tu tập chúng ta, chúng ta vẫn cần cái câu thứ nhất hãy thương yêu tất cả mọi người, thương yêu tất cả chúng sinh. Còn cái chữ phủ định á là để đi sâu vào trong tâm moi ra những cái lỗi đó mà khoét đi, mới dùng cái chữ không này, dùng chữ khoét.
[19:31]Ví dụ như kỳ rồi chúng ta nói tới cái bốn tướng, đến nỗi mà chúng ta thấy một vị Bồ Tát ờ xem mình đồng với cây cỏ, xem mình đồng với cây cỏ như vậy là cái đạo đức cao không? Quá cao mà còn bị Phật chê. Là Phật thích nói rằng phải vắng luôn cái điều đó, thấy rằng mình không có tồn tại luôn. Còn để mình thấy mình tồn tại để mà còn được đồng với cây cỏ, thì Phật gọi là đạo đức vẫn chưa cao, mình gọi là cái chấp vẫn còn. Đó chúng ta thấy tưởng tượng nổi chưa? Trong khi mình sao? Mình là mình thấy mình đồng với mọi người là vẫn chưa thấy nổi, phải không? Ví dụ mình thấy một cảnh khổ, mình giúp. Ai nói sao mà tiền đâu tào lao đi giúp người ngoài? Thì mình nói:
[20:09]"Thôi cũng là con người với nhau." Người mà nói được cái câu đó thì sao? Thiệt nói như là một bậc thánh giữa cuộc đời này rồi, vậy mà Phật chê. Cho đến khi mà mình thấy mình tới được cái thọ giả tướng á, tức là thấy mình đồng với cây cỏ. Đồng luôn, thương hết tất cả. Vậy mà Phật vẫn cho rằng cái đạo đức chưa chuẩn vì vẫn còn chấp sự tồn tại của mình. Cho nên chúng ta thấy là trong kinh Kim Cang này là nói về đạo đức mà cái chữ không hoặc là những cái từ phủ định, mục tiêu là để xây dựng cái đạo đức cực kỳ cao cho một vị Bồ Tát, chứ không phải là cho con người. Nên kinh Kim Cang không nói cho con người.
[20:45]Nếu mà nói cho con người thì chỉ dùng một số nguyên tắc căn bản được rồi, ngũ giới, thập thiện gì đó được rồi. Nhưng mà nói tới Bồ Tát thì dùng nhiều chữ không để cho cái đạo đức đạt được cái mức độ thật là cao, thật là sâu thẳm. Đấy. Và bắt đầu nói tới cái hành động bố thí của Bồ Tát là cái phần này nói như vậy. Thì chúng ta thấy là là bố thí là công hạnh hàng đầu, là cửa ngõ để giáo hóa chúng sinh, là Bồ Tát luôn luôn như vậy. Mà để trả lời cái câu muốn hàng phục tâm, Đức Phật đi một vòng rất xa rồi bắt đầu đi qua cái phần bố thí. Thì tại sao muốn hàng phục tâm thì lại phải bố thí? Tất cả những câu này đều trả lời cho câu thứ nhất là hàng phục tâm.
[21:27]Mà chúng ta cứ tưởng là hễ muốn hàng phục tâm thì mình cứ ngồi một chỗ mình kiểm soát tâm mình, phải không? Mình tu cái gì trong tâm. Chúng ta không ngờ là cái bài kinh Kim Cang để trả lời cho câu hàng phục tâm đi ra một vòng rất rộng bên ngoài, bây giờ đi tới vấn đề bố thí. Mà tại sao muốn hàng phục tâm phải bố thí?
[21:49]Đây nó thế này nữa nè. Đây là nói về nhân quả. Cho nên mấy kinh này nói về nhân quả không. Muốn tâm mình yên thì chúng ta phải gieo nhân là làm cho người khác yên, yên vui nữa, thêm cái chữ yên vui mới đúng. Yên tức là vui. Muốn tâm mình được an vui thì phải làm cho tâm người khác được an vui. Mà muốn cho người khác được an vui thì mình phải phải phải sao? Phải giúp đỡ người ta rất nhiều. Nghĩa là khi người ta khổ thì mình mình làm cho người ta hết khổ. Khi người ta không vui thì mình làm cho người ta người ta vui. Khi người ta không vui thì mình làm cho người ta vui. Cái câu này phải cẩn thận.
[22:29]Tức là làm cho người ta tăng trưởng được cái điều thiện, người ta vui, chứ không phải thấy người ta không vui mình kể chuyện cười cho người ta cười, không phải, đừng có hiểu lầm. Nghĩa là mục đích làm cho chúng sinh bớt khổ, được vui. Đó là làm cho chúng sinh tâm an vui. Mà làm rất nhiều rất nhiều như vậy thì cái nhân quả đó mới rớt vào tâm mình làm cho tâm mình được an vui. Mà trong các điều mà giúp đỡ chúng sinh á thì cái bố thí là là hàng đầu, phải không? Cho nên tự nhiên đang trả lời cái câu hàng phục tâm nói đủ thứ chuyện, bỗng nhiên Đức Phật nói rớt qua cái bố thí. Thì chúng ta phải hiểu vậy, mục tiêu của bố thí là làm cho chúng sinh an vui.
[23:06]Nên là muốn hàng phục tâm của chúng ta đó, thì chúng ta phải có đạo đức. Mà muốn có đạo đức á thì phải bớt chấp ngã. Mà muốn bớt chấp ngã đó, thì phải thì phải? Phải hy sinh những cái gì thuộc về ngã cho chúng sinh. Chúng ta những cái gì thuộc về ngã, thuộc về cái bản ngã mình có mà mình phải phải bỏ nó đi. Thứ nhất là là sở hữu, tiền bạc á. Rồi cái chấp về thân xác, chấp về danh dự, uy tín, á đó tất cả những cái đó đều là ngã sở hết, nó làm cho củng cố cái bản ngã. Bây giờ những cái đó mình phải bỏ dần bỏ dần ra, làm nhẹ cái ngã của mình thì mình mới có thể hàng phục tâm được. Bố thí là cái hàng đầu là như vậy đó, loại bỏ cái ngã sở đi.
[23:50]Cho nên một vị Bồ Tát mà thật sự á, chúng ta thấy nói như Đức Phật là có một câu rất đẹp là: "Vị đó không có đôi bàn tay nắm lại, không có đôi bàn tay nắm lại." Cái hình ảnh người xưa dùng cái từ rất là dễ thương là không có đôi bàn tay nắm lại, buông ra hết, là không có chấp giữ gì cho mình, nhất là không có thích tham lam, tích trữ tài sản. Nếu vị đó có giữ tài sản thì rõ ràng là cái số tài sản đó dùng việc gì đó chính đáng cho chúng sinh, cho Phật pháp, chứ hoàn toàn không phải là để cái cảm giác rằng mình là người giàu. Hãy nhớ điều này, khác nhau. Chúng ta xác định lại, chứ không phải nghe cái câu này rồi về nhà có nhiêu tiền
[24:26]đem ra cho hết, rồi gia đình chửi cái kiếm lại chùa Từ Tân mắng vốn thầy trụ trì, chứ lúc đó tôi trốn lên núi mất tiêu rồi, không có ở đây đâu. Nói là đi nghe giảng ở chùa Từ Tân rồi cái nhà có nhiêu tiền đem đi cho hết, cái là người ta đứng xếp hàng trước đây người ta biểu tình thầy trụ trì thì tội nghiệp thầy, thầy cất chùa chưa xong, kẹt. Còn chúng tôi thì trốn núi mất, không bao giờ dám xuống đây nữa. Cho nên phải nói rõ ràng lại thế này, là bố thí là chúng ta tập buông xả cái ngã sở cũng tức là buông bỏ cái bản ngã. Cho nên một vị Bồ Tát không có đôi bàn tay nắm lại, không tham lam, không thích tích trữ làm giàu.
[24:59]Nhưng có khi cất giữ tiền để lo một cái điều gì đó cho Phật pháp, cho chúng sinh chứ không phải cho mình. Đó, khác nhau. Còn thường thường chúng ta tích trữ tiền vì lý do là có cảm giác rằng mình là người giàu. Cảm giác nó rất bí mật trong tâm mình, đúng không? Đúng không? Ai có tiền rồi giơ tay lên. Chúng tôi không có tới thăm đâu đừng lo, nói cho biết. Không ai dám giơ tay là bởi vì sợ, sợ sao thầy tới thăm. Rồi ở đây có câu thế này, là bố thí mà bất trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường. Mà chúng ta nghe cái đoạn này cũng vui là mới hỏi Tu Bồ Đề: "Ý ông nghĩ sao? Cái hư không ở phía đông á thì ông có thể hình dung ra được
[25:45]hết nó có biên giới không?" Thì ngài Tu Bồ Đề trả lời là: "Không thể." Ví dụ mình nhìn về phía mặt trời mọc, cái hư không nó mênh mông mênh mông như vậy thì không biết nó tới đâu là dừng lại. Rồi Phật cũng hỏi là: "Về phía nam, tây, bắc phương, tứ duy, thượng, hạ, ông có hình dung được cái hư không, cái ranh giới của cái không gian về phía đó hay không?" Thì ngài Tu Bồ Đề cũng nói: "Không, không thể hình dung được." Thì Phật nói rằng: "Bồ Tát mà vô trụ tướng bố thí thì phước đức diệc phục như thị, bất khả tư lượng." Bồ Tát mà bố thí mà không trụ tướng thì phước đức cũng như vậy, không thể suy nghĩ được, giống như cái không gian về mọi phía.
[26:25]Và này Tu Bồ Đề, Bồ Tát đãng ưng như sở giáo trụ. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát chỉ nên dựa vào giáo lý như thế mà thôi. Dựa vào cái loại giáo lý gì? Bố thí là cái giáo lý là bố thí bất trụ tướng. Trên nguyên tắc là thế này, trên nguyên tắc mà Phật đã nói giống như một cái mũi tên chúng ta bắn lên, bắn hết đà thì nó làm sao? Nó rớt xuống. Thì cái việc mà chúng ta làm phước cũng vậy, chúng ta bố thí cũng vậy, nó có cái đà của nó, rồi chúng ta hưởng hết rồi thì phước đó nó sẽ lần lần nó phải mòn, chứ không bao giờ mà phước mà nó vô lượng mãi như hư không. Đó là nguyên tắc của nhân quả. Thế nhưng mà tại sao trong kinh này Đức Phật nói người bố
[27:06]thí mà vì động cơ chân chính thì phước phước vô lượng? Nó phải có cái lý do. Tại sao mà là nguyên tắc của nhân quả phước nào hưởng rồi cũng phải hết, mà tại sao vậy mà cái người mà bố thí, tức là giúp đỡ chúng sinh á, mà không trụ tướng thì phước đức không bao giờ hết? Bởi vì trong thực tế nha, vì trong thực tế chúng ta tưởng tượng, tưởng tượng là mình theo đúng lời Phật dạy, mình bố thí là không phải vì người đó đẹp, không phải vì người đó nịnh, không phải vì người đó ruột rà mình, không cầu phước, không muốn khen, không phải muốn uy thế, thế lực gì hết, mà mình chỉ vì người đó khó khăn. Rồi mình muốn giáo hóa cái mình đem cho người
[27:45]đó một triệu đồng, đem cho một triệu đồng. Mình bằng cái trực giác của mình mình ngồi mình nghĩ là một triệu đó có thể thành cái phước là vô lượng vô biên cho đến tới cái ngày mình đắc đạo luôn không? Có không? Mình cứ bình tâm suy nghĩ coi có không? Một triệu mà có thể đổi được như vậy không? Dù tâm mình rất tốt, dù động cơ chân chính thì một triệu vẫn không thể đạt được một cái kết quả là vô biên vô lượng được, nó vẫn có cái giới hạn. Nhưng mà tại sao kinh nói là nó sẽ hưởng vô lượng? Lại có một lý do khác, có một lý do khác. Lý do là thế này, lý do là cái người mà bố thí chân chính á, với động cơ chân chính không trụ tướng thì được hai điều hay.
[28:25]Được hai điều hay. Thứ nhất là người đó ít hưởng phước và biết kiềm chế bản thân. Đây là một cái đặc tính rất đặc biệt. À, là vì sao là khi mình bố thí mà động cơ chân chính thì tự nhiên mình ít có thích hưởng cái phước khi nó trở lại với mình, mà mình biết kiềm chế bản thân hơn. Nè ví dụ, ví dụ bây giờ là mình thấy một người đó đẹp, mình cho tiền. Thì trong đầu mình nghĩ cái gì trong khi mình cho cái người đẹp đó tiền? Ai mà hay cho người đẹp tiền đó, nói thiệt. Ha. Ở đây, ông nào mà thấy cho người đẹp tiền giơ tay lên đây rồi rồi nói thiệt thầy nghe trong cái tâm đó làm sao? Lúc mà mình móc tiền mình cho người đẹp á là mình muốn cái gì?
[29:10]Muốn cái gì? Muốn gì? Muốn dụ người ta chứ phải không? Thì cái nhân nó nằm trong đầu thì cái ngày cái quả nó phải tới phải không? Cái quả nó tới là mình sẽ được kết duyên với người đẹp. Rồi sau đó mình hưởng cái thú vui cuộc sống. Và như vậy hưởng nó hết, đúng không? Đó. Chính vì cái động cơ không chân chính cái đó làm hết, là mình sẽ hưởng. Còn cái người mà không vì cái đẹp thì họ không hưởng cái đó, họ không thích hưởng cái đó khi cái đó đến. Khi người đẹp mà đến cái mình: "Thôi từ từ từ đừng đụng tới tôi." như vậy. Họ không hưởng, tại vì họ không có muốn cái đó lúc mà họ bố thí. Thú vị. Hoặc là bây giờ ví dụ mình muốn được khen,
[29:46]mình cho mình làm bố thí rồi mình đăng tên tuổi lên vì mình muốn được khen. Thì vì có cái nhân đó nên sẽ có cái ngày sao? Sẽ có nhiều người họ khen ngợi mình. Và khen thì mình cũng hưởng hết cái phước đó. À, quên. Nó có cái nhân quả này để nói luôn cho chúng ta biết. Chúng ta đừng nghĩ rằng hễ tiền thì đem lại quả báo tiền mới sòng phẳng. Không có. Tiền vẫn đổi được tiếng khen và hết sạch không còn gì nữa nha. Sau không còn đồng nào để hưởng. Nhớ điều đó. Nghĩa là ví dụ chúng ta bố thí hai triệu đồng cho một cái chỗ mồ côi nào đó. Rồi sau đó chúng ta tung lên báo, báo đầy ra hết trơn. Nhiều người biết khen chúng ta là về sau không bao giờ có
[30:25]cái phước của hai triệu đồng trở lại nha, hết luôn. Không bao giờ mai mốt được trúng số để mà thành bốn triệu, hai chục triệu gì hết, không được một đồng nào nữa. Bởi vì đã hưởng qua cái lời khen rồi. Nhớ nha. Lời khen cũng là một loại hưởng phước bằng như vật chất mà hưởng sạch không còn luôn. Cho nên cái người nào mà bố thí làm phước mà kín đáo thì người đó được hưởng hết, hưởng trọn vẹn. Hễ xì ra chút nào thì nó bớt một chút, xì ra chút nào bớt chút đó. Cho nên có nhiều người mà hay bố thí, cúng dường chùa mà năn nỉ với thầy: "Con bố thí con cúng dường này thầy đừng có nói cho ai biết nha." Đó là người sao?
[30:58]Người khôn nhất trên trần đời. Muốn hưởng hết không xì ra miếng nào cho ai. Thấy chưa? Đó là người khôn nhất. Còn cái người ví dụ cúng cái ghế đá mà để cái chữ trên cái ghế đá đó là không bao giờ có ghế ngồi nữa. Hết rồi, hưởng hưởng cái danh hết rồi. Cho nên tôi để về sau cúng ghế đá cho chùa nhớ bôi giùm mấy chữ giùm thầy. Nhớ bôi giùm hết, hết sạch. Thì rầu vô chùa mà thấy ghế đá nào cũng ông, bà gì đó cúng chùa thì đau khổ giùm người đó, thấy tội họ không có ghế ngồi. Cúng ghế cho chùa dữ nữa mà không có ghế ngồi, tại hưởng cái danh hết trơn. Cho nên cái người mà bố thí mà vì lòng thương á tự nhiên
[31:30]họ họ không thích hưởng phước khi cái quả báo nó tới. Ví dụ bây giờ mình bố thí một triệu rồi khoảng mười năm sau tự nhiên mình trúng số được một trăm triệu. Ví dụ như là một triệu nó biến thành một trăm triệu tại vì quả báo luôn luôn nó lớn hơn cái nhân, luôn luôn. Một trăm triệu. Thì khi cái bất ngờ có người mới báo cho mình nói là: "Thưa bố, mình vừa trúng độc đắc một trăm triệu." Thì nghe hơi vui rồi bình tâm lại liền. Bỗng nhiên trong đầu nghĩ chuyện gì trong đó với một trăm triệu? Kiếm chuyện phước làm nữa, kiếm người giúp nữa. Bởi vì sao? Vì cái ngày xưa lúc mà bố thí một triệu đồng á là vì thương cái người khổ.
[32:04]Cho nên ngày hôm nay một trăm triệu nó tới, không thích xài, không thích xài, không thích mua sắm gì mình nhiều. Và chính vì lý do đem một trăm triệu mà làm nữa thì làm sao? Về sau nó làm sao? Nó thành tỷ nữa. Nó vô cùng khổ là vậy. Nó đau khổ. Bởi vì Phật mới nói là giống như cái cái không gian về mười phương á nó mênh mông như vậy thì phước của người mà bố thí không trụ tướng nó sẽ vô biên vô tận là bởi vì nó nối tiếp nối tiếp. Cái nhân mình như lúa gieo ra gặt vào không thèm ăn mà lại đem gieo trồng nữa, mở mang đất gieo trồng nữa thì nó cứ vô tận. Đó là lý do lúc mà cái niệm đầu tiên mình bố thí
[32:38]mà với động cơ chân chính thì nó được cái đó. Cho nên chúng ta nhớ những lãnh tụ mà cao cả chân chính thường có một đời sống đơn giản. Ví dụ mình nói một lãnh tụ nào vĩ đại thì mình cứ coi cái đời sống của ổng đơn giản hay không. Bởi vì nếu mà đời sống của ổng nó đơn giản á thì có nghĩa là cái ngày xưa mà ổng gieo cái nhân để làm lãnh tụ á ổng gieo cái nhân chân chính, không có vì tham, không vì danh, không vì cầu phước gì hết nên đời này khi lên làm lãnh tụ ổng sống một đời giản dị. Còn ví dụ người nào lên làm lãnh tụ rồi sống đời sống xa hoa thì biết là ngày xưa lúc mà ổng làm phước á ổng có cái tâm cầu phước,
[33:12]muốn khen, muốn cái gì đó, nó hơi không chân chính giống Bồ Tát lắm. Đó, đây là điều chúng ta để ý. Mình nhìn cái phước nó đến người ta mình hiểu là ngày xưa cái nhân người ta gieo với cái tâm gì, với cái tâm gì. Đó. Cái điều hay thứ hai á là mình thường có cơ hội để làm phước tiếp. Thường có cơ hội để làm phước tiếp. Tại vì sao vậy? Chúng ta đừng tưởng là hễ làm phước muốn làm là làm nha. Nhiều khi không có cơ hội để làm. Nó như vậy. Nhiều khi có tiền mà không biết làm chuyện gì nữa, không có cơ hội. Còn mà cái người mà có cái nhân lành á, có cái tâm tốt á thì cơ hội nó hay mở ra trước mắt. Tự nhiên cái nó đến với mình chứ mình không phải là đi tìm vất vả và mình cứ
[33:51]giúp người này, cứ làm được điều kia, tự nhiên nó nhiều điều nó đến lắm. Như là có những người ví dụ như trong cái ngôi chùa là có một cái vài Phật tử tự nhiên họ năng nổ, họ hay xin được tiền và hay tìm những người nghèo để giúp, để làm thành một cái ban từ thiện của cái chùa. Là bởi vì sao? Là bởi vì như có cái duyên gì đó rất là lạ mà người khác đứng vô làm không được. Chỉ một, hai người cứ năng nổ à. Xin đâu người ta cũng cho rồi kiếm chỗ làm phước rất là tốt. Một, hai người cái nhân tố tốt vậy thôi chứ còn đa phần không phải. Là chính vì người này ngày xưa là cũng có cái nhân lành khi bố thí á, có cái tâm niệm chân chính khi bố thí. Đó.
[34:26]Nên vì vậy mà Phật nói rằng là phước nó sẽ vô tận. Vô tận không phải là làm một lần mà vô tận. Mà tự nhiên một lần đó nó khiến cho chúng ta sẽ có vô số lần, vô số lần để làm mãi, làm mãi, làm mãi mà không chịu hưởng. Chính vì làm phước mà không chịu hưởng thì cái phước nó để ở đâu? Nó để ở đâu? Để ở đâu? Ví dụ bây giờ thế này. Thì mình nói là có một người đi trồng lúa à mới đầu trồng có lon lúa à. Thì sau đó là hưởng là được mấy thùng lúa. Rồi không hưởng, đem mấy thùng lúa đó gieo nữa thì nó thành một bồ lúa. Bồ lúa đem gieo nữa thành một nhà lúa. Nhà lúa đem gieo nữa thành ra cả một kho lẫm lớn.
[35:06]Mà cứ làm như vậy hoài thì lúa chất ở đâu ai biết? Lấy gì chất lúa? Hử? Nó sẽ chất trong tâm. Tại vì ở đâu nó cũng có cái hình tướng á, nó hữu hạn, cái hữu hạn không chứa được cái vô hạn. Tâm không hình tướng nên vô hạn và có thể chứa được cái vô hạn. Khi phước vô hạn nó sẽ chứa ở trong tâm mình nó thành cái gì? Thành cái gì? Ừ đúng rồi, thành giải thoát đó, thành định, thành tuệ, thành giải thoát. Đó. Bây giờ chúng ta trở lại cái chỗ này một chút xíu nó có một ý niệm nhỏ. Là không riêng gì kinh Kim Cang này, nhiều kinh điển Đại thừa trong đạo Phật hay nói về cái khái niệm về sự vô lượng, vô biên.
[35:51]Chúng ta nghe nói về khái niệm số cát sông Hằng phải không? Đây có ai đọc kinh Pháp Hoa chưa? Có nghe nói về số cát sông Hằng phải không? À, trong kinh Kim Cang chúng ta sẽ gặp lại khái niệm này khủng khiếp khủng khiếp. Nghĩa là đọc tới những cái đoạn mà nói về sự vô lượng, vô biên mà dùng cái con số cát của sông Hằng để thí dụ mình sợ luôn vậy đó, mình tưởng tượng không nổi. Mà nếu mình mà mất bình tĩnh mình té xỉu liền. Thì không biết ngày xưa tại sao mà người ta nói được như vậy? Ví dụ nói rằng là số cát sông Hằng nhiều hay không? Nói quá nhiều, phải không? Số cát sông Hằng quá nhiều bởi vì sông Hằng đầy cát,
[36:24]dưới lòng sông đầy cát do là kéo núi từ trên Hy Mã Lạp Sơn á, bụi bặm cát nó xuống tràn đầy bờ sông đầy hết. Mà ngày xưa thì không có cái cạp cát mà như bây giờ mà để xài cho nên là cứ cát nó cứ tích lũy đầy đầy đầy theo lòng sông, lâu lâu nổi lên một cái cồn cát như vậy, nhiều lắm, nhiều lắm. Rồi trong kinh nói nếu mỗi một hạt cát đó lại biến thành một con sông Hằng thì như vậy là cát của tất cả các con sông Hằng đó mình hình dung nổi không? Không nổi, mình nghe xong mình xây xẩm xỉu liền. Vì cái hình dung không biết người ngày người xưa công nhận cái đầu óc họ vĩ đại, họ nghĩ ra những con số gì khủng khiếp.
[36:56]Thì trong đạo Phật có nhiều cái hình ảnh để nói về vô lượng, vô biên thì hình ảnh đơn giản nhất ở đầu kinh Kim Cang là cái này. Mà về sau chúng ta sẽ gặp những cái phức tạp hơn. Này Tu-bồ-đề, cái đông phương, bắc phương, tây phương, nam phương rồi phương tứ duy là bốn phương chéo, rồi phương thượng, phương hạ, cái không gian đó có giới hạn hay không? Ngài Tu-bồ-đề nói không. Phật nói đúng, thì phước đức người kia cũng vô lượng như vậy. Thì đây chúng ta để ý nha. Là bây giờ mình nhìn phương đông mà ngày xưa vào cái kinh điển quan điểm của đạo Phật, cái vũ trụ quan của đạo Phật đã cho biết rằng cái không gian nó vô tận không bao giờ có điểm dừng.
[37:37]Là mình thấy tiến bộ không? Như vậy quan điểm tiến bộ không? Quá tiến bộ ha, rất giống với bây giờ. Đêm điều rất lạ, cái phương trên là nhiều tôn giáo ngày xưa đã nhìn lên trên bầu trời một màu xanh và nghĩ đó là giới hạn của bầu trời. Nghe bầu trời giống như cái bát úp xuống che cái lòng đất, cái giới hạn của bầu trời, không có cái gì bên ngoài cái bầu trời xanh đó nữa. Bầu trời xanh nó giống như một cái màng hay một cái kiếng gì nó che lại, hết. Vậy mà vào thời đó trong kinh Phật đã dám nói là xuyên thủng khỏi cái lớp màu xanh đó là không gian vô tận. Thấy hồi xưa tiến bộ không? Quan điểm đạo Phật sao? Rất là vượt bậc phải không?
[38:15]Mấy ngàn năm trước mà đã dám nói câu này. Mà khủng khiếp hơn là cái này nữa là phía dưới. Thường thường chúng ta đều suy nghĩ đất là giới hạn của không gian rồi, phải không? Khi mình đặt chân lên mặt đất rồi đây là giới hạn, không còn gì phía dưới nữa. Dưới đặc cứng, che hết không gian. Vậy mà trong thời điểm mấy ngàn năm trước đó dám nói không gian ở phía dưới này cũng là vô tận luôn. Như vậy nghĩa là trái đất này nó làm sao? Người hàm ý điều gì? Đất này là cái gì? Nó lơ lửng giữa hư không, đúng không? Nè, lật kinh ra, tôi không có nói dóc đâu, đọc kinh đi. Nè: "Nam, tây, bắc phương, tứ duy, thượng, hạ hư không, khả tư lượng phủ?".
[38:56]Cả cái phía dưới này, cái hư không phía dưới này cũng không thể nghĩ bàn, tức là cũng vô hạn, thì điều đó muốn nói rằng cái trái đất nó làm sao? Lơ lửng giữa hư không. Đây là một câu nói không rõ ràng, xác định như chúng ta bây giờ. Chúng ta bây giờ thì nhờ các phương tiện kỹ thuật đo đạc, quan sát, chúng ta biết chắc trái đất mình là sao? Quay lơ lửng trong vũ trụ hư không. Thì bây giờ mình ai cũng tin cũng hiểu điều đó dễ dàng. Vậy mà vào cái thời mình đặt chân lên mặt đất, cứ nghĩ rằng đây là giới hạn cuối cùng ở phía dưới, vậy mà trong kinh Phật dám nói: "Hư không vô tận ở phía dưới đó". Vậy ngày xưa người ta đã hiểu rồi.
[39:31]Trong đạo Phật các vị thánh đã hiểu rồi: Trái đất lơ lửng giữa hư không, khủng khiếp thiệt. Mà bởi vì đây không phải là một bài nói về địa lý, sử ký hay vũ trụ nên không đào sâu tiếp, nhưng một cái ý nhá ra làm chúng ta hết hồn là không ngờ ngày xưa Phật và các vị thánh đã biết điều này, là trái đất lơ lửng giữa hư không, nên mới nói rằng phía dưới này là vô tận. Thì bây giờ vào cái thời buổi đó, khi mà thấy cái vũ trụ quan lớn lao như vậy thì tự nhiên sẽ sinh ra một cái nhân sinh quan lớn lao. À, đây là một tương quan. Vũ trụ quan lớn lao tức là biết cái vũ trụ này mênh mông, không có giới hạn, còn nhiều điều lắm chứ không phải chỉ trái đất này.
[40:13]Mà cái vũ trụ quan lớn như vậy thì tự nhiên nó tạo ra một cái nhân sinh quan lớn. Nhân sinh quan lớn là gì? Là cái nhìn về con người, cái cách nghĩ của con người, cái cách sống của con người tự nhiên nó vượt bực nó lớn lên chứ không còn giới hạn nữa. Cái hay là như vậy. Tức là từ một cái trí tuệ lớn, người ta có thể có một vũ trụ quan lớn. Ví dụ như ngày hôm nay, là nhờ cái trí tuệ lớn của loài người mà lần lần người ta mới phát hiện ra vũ trụ mênh mông, là do cái trí tuệ của con người lớn nên có được vũ trụ quan lớn. Nhưng mà ngày xưa đó, thì chưa đủ cái kỹ thuật như thế này để biết, nhưng mà không biết làm sao là các vị đã thấy được cái vũ trụ quan rất là lớn.
[40:50]Từ cái vũ trụ quan lớn lao đó, nó ảnh hưởng ngược lại cái nhân sinh quan lớn là chúng ta sống trên đời, chúng ta suy nghĩ, chúng ta hành động tự nhiên nó không còn hẹp hòi, ích kỷ nữa. Vì sao? Vì mình biết con người là vô cùng nhỏ bé trong vũ trụ. Bây giờ thế này nè: Ở đây đã có ai mà ra tận cái sân đá banh coi đá banh chưa? Giơ tay lên coi. Có mấy người gật đầu, giơ tay lên. Có ai mà mê đá banh đến nỗi đi mua vé vô trong ngồi trong sân vận động coi đá banh chưa? Có chưa? Hơi ít ha, hơi ít. Mấy người... Mà coi vậy coi trên truyền hình rồi phải không? Có không? Có, đúng rồi, khi người ta đá suýt vô cũng dô dô vậy đó.
[41:33]Thì thôi mình tạm thời mình hình dung là cái sân banh cũng khá rộng phải không? Sân banh rất là lớn. Vậy nếu... nếu cái kích thước vũ trụ bằng cái sân bóng đá thì trái đất mình chưa bằng một hạt bụi nằm trên cái sân đó nha. Trái đất mình soi kính hiển vi lên nhìn không thấy. Nó như vậy, nó nhỏ như vậy. Nếu vũ trụ bằng một sân banh thì trái đất chúng ta kích thước chưa bằng một hạt bụi nằm trên cái sân banh đó. Hãy nhớ điều đó, người ta đo đạc đàng hoàng. Và như vậy cái con người mình nằm trong đây làm sao? Vô nghĩa, không đáng. Và như vậy là con người vô cùng nhỏ bé. Mình hãy tưởng tượng thế này:
[42:13]Ví dụ như bây giờ mình bước ra ngoài kia mình giẫm một con kiến nó chết thì cái chết của con kiến nó có liên quan gì đến cái trái đất này không? Có ảnh hưởng gì không? Dường như chẳng ảnh hưởng gì hết trơn á, phải không? Và mình còn thua con kiến đó. Ví dụ mình có chết đi cũng không ảnh hưởng gì cái vũ trụ đang quay cuồng này hết trơn. Cái thân phận con người nhỏ bé và tầm thường như vậy. Nghĩa là cái thân phận con người nhỏ bé và tầm thường như vậy, vì vậy con người phải khiêm... phải khiêm tốn lại một chút, mình chả là cái gì hết. Nhưng con người có cái giá trị lớn, bởi vì sao? Nếu mà nói cái câu thế này:
[42:50]Là cứ so sánh với kích thước vũ trụ để thấy thân phận của con người vô cùng nhỏ bé và con người giống như vô nghĩa và việc con người sống, chết này không có liên quan gì tới vũ trụ, chúng ta sẽ rơi vào một cái tâm trạng là khinh bỉ tất cả, khinh bỉ bản thân mình và khinh bỉ mọi người. Mình chửi, mình mắng, mình giết ai coi như không quan trọng nữa, nó sẽ đi tới một cái triết lý, một cái loại triết lý là vô nhân, vô nhân đạo luôn, mất hết nhân bản. Khi mà nghĩ rằng cái vũ trụ quá lớn, thân phận con người quá nhỏ, tầm thường, vô nghĩa, sống chết không quan trọng, chúng ta sẽ đưa đến một cái triết lý
[43:25]tàn bạo, coi cái sự sống con người không còn quý giá nữa. Nhưng mà không phải như vậy. Tuy rằng con người rất là nhỏ bé, nhưng mà con người lại có cái giá trị lớn. Vì sao? Ai biết? Vì sao ai biết? Hãy trả lời một câu mà dù cho cái người không tin theo đạo Phật vẫn phải chấp nhận. Vì sao vậy? Đối với cái thân phận vô cùng nhỏ bé, tầm thường của con người trong vũ trụ, sống chết không liên quan tới vũ trụ nhiều, vậy mà chúng ta vẫn có giá trị rất đáng trân trọng. Vì sao?
[44:08]Trí tuệ để tu đắc đạo thành Bồ tát, thành Phật, câu đó chỉ được chấp nhận với người tin theo đạo Phật. Thầy muốn tìm một câu trả lời mà dù cái người không theo đạo Phật vẫn phải chấp nhận.
[44:21]Hả?
[44:26]Thấy vạn pháp là không, cái này cũng chỉ người trong đạo Phật chịu thôi chứ người ngoài đạo Phật không chịu. Biết tư duy? Chưa tới lắm. Lương tâm? Lương tâm, lương tri rồi gì nữa? Đạo đức rồi gì nữa? Thông minh rồi gì nữa? Trí tuệ rồi gì nữa? Nghe chưa đã tai, chưa đã tai. Thực ra cái này thầy có nói rồi. Thầy có một lần thầy giảng trên núi thầy nói cái này rồi, mà quên. Vì nghe băng nhiều quá rồi quên, hoặc là chưa nghe tới. Đây là câu trả lời: Là tuy con người cái thân phận vô cùng nhỏ bé so với vũ trụ, nhưng con người rất có giá trị bởi vì con người hiểu được vũ trụ. Con người có khả năng hiểu được vũ trụ.
[45:17]Đồng ý không? Ít người đồng ý quá vậy ta? Đồng ý không? Rồi, cảm ơn. Khi mà chúng ta trả lời như vậy, dù cái người không tin theo đạo Phật vẫn phải chấp nhận, phải không? Nó như vậy. Tuy là con người nhỏ bé, nhưng cái trí tuệ con người hiểu được vũ trụ, và đó chính là giá trị của con người. Và từ cái điều này, cái trí tuệ này, con người có thể đạt được cho chính mình một cái năng lực, cái tâm linh, hoặc là sự thăng hoa về đời sống về đạo đức vượt bực lên tới vô cùng, vô tận như là vũ trụ, như là vũ trụ. Đây chính là cái điểm mà chúng ta trân trọng con người là vậy. Đây chính là điểm... Do đó, chúng ta sẽ không rơi vào một cái loại triết lý tàn
[46:02]bạo là xem thường sự sống con người, tôn trọng cái niềm vui của con người, tôn trọng cuộc sống của con người. Nó đưa đến một cái loại đạo lý đầy tính nhân bản là vì chúng ta hiểu được điều này. Do đó, chúng ta nói một cái nền đạo lý mà mở ra, cái thái độ đạo lý sống mở ra, nó xuất phát từ cái sự nhận thức ban đầu là vậy. Bởi vì biết vũ trụ mênh mông, con người phải biết khiêm tốn, nhưng mà con người vẫn đáng quý, bởi vì con người có trí tuệ hiểu được vũ trụ và có thể đạt được đến vô lượng vô biên như vũ trụ. Và như vậy, để làm con người, chúng ta phải có hai cái tính chất, nếu thiếu một trong hai tính chất này mình không phải con người.
[46:44]Vậy mà đã rất lâu nay mình thiếu hai tính chất này. Thứ nhất là phải khiêm tốn. Bởi vì sao? Đối với vũ trụ con người quá... quá nhỏ bé, quá vô nghĩa. Nhưng mà con người phải có cái tính chất thứ hai là có hoài bão lớn lao. Phải không? Bởi vì mình có khả năng vươn tới được cái hiểu biết, cái đức hạnh, cái đạo đức, cái thánh tính vô lượng vô biên như vũ trụ, mà chúng ta được tôn trọng bởi vì cái yếu... yếu tố này. Do đó, làm con người đúng nghĩa mà để không bị khinh thường, vừa đúng mức mà vừa không bị khinh thường, chúng ta vừa phải khiêm tốn và vừa phải có hoài bão lớn lao. Cho nên người nào sống mà kênh kiệu,
[47:28]kiêu căng, ngạo mạn, người đó mất cái tính chất đáng quý đầu tiên của con người. Người nào sống mà không có hoài bão lớn lao, không dám ước mơ đạt đến sự giác ngộ, người này cũng thiếu hẳn một cái tính chất của con người. Và vì vậy, chúng ta xác định điều này. Nếu chúng ta ngồi đây dưới mái chùa trong cái hào quang của Đức Phật, trong cái tình thương yêu của Đức Phật, trong cái trí tuệ dạy dỗ, dẫn dắt của Đức Phật, chúng ta phải ý thức điều này. Khi mà Đức Phật nói về cái hư không vô lượng vô biên để chúng ta thấy cái thân phận nhỏ bé mình để chúng ta khiêm tốn, Đức Phật cũng dạy cho chúng ta một con đường để đạt đến cái tuyệt
[48:05]đối vô lượng vô biên đó, chúng ta phải biết có hoài bão lớn lao đi theo con đường đó để mình là một con người đúng nghĩa. Nếu mình nói riêng là mình làm một người đệ tử Phật chân chính đúng nghĩa, nhưng mà nếu nói chung trên toàn nhân loại, hễ làm con người thì đều phải biết khiêm tốn và phải biết có những hoài bão lớn lao. Mà cái lớn lao đó là cái gì? Là cái gì? Là đây: Là "Thế Tôn, thiện nam tử, thiện nữ nhân phát a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tâm...". Tức là: "Bạch Thế Tôn, khi mà người thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu giác ngộ tối thượng", đó là hoài bão lớn lao. Chúng ta sống trên đời phải biết như vậy.
[48:47]Phải biết vừa khiêm tốn mà vừa tìm đến cái mục tiêu tuyệt đối, chúng ta mới được làm con người đúng nghĩa. Nhưng mà nếu nói cái yêu cầu cao như vậy, sẽ có người nói: "Trên thế gian này vậy đâu có được bao nhiêu người có, phải không?". Thì đó, đây là điều làm chúng ta đau lòng, là bởi vì có rất nhiều người đang được sống là một con người mà không biết khiêm tốn cũng không biết có hoài bão lớn lao, rất là đáng thương. Và mục đích của chúng ta, trách nhiệm chúng ta, sứ mạng của chúng ta khi làm đệ tử Phật là chúng ta phải đem hai cái điều này nói với con người. Là bạn sống làm người, bạn hãy khiêm tốn và
[49:24]hãy có cái hoài bão lớn lao, được không? Được không? Hãy nhớ là: "Vì đạo pháp ta đi gieo rắc ngàn nơi. Với con tim bao la như ánh mặt trời". Được không? Ở đâu ra hai câu đó? Có nghe chưa? Ừ. Thêm một điều nữa là khi bố thí mà vì cái động cơ giáo hóa thì nhân quả mở ra cái chân trời thênh thang. Hồi nãy đó chúng ta mới nói cái người là khi mà bố thí mà không vì những động cơ cá nhân á, thì sau này mình không hưởng phước và mình hay có cơ hội làm phước tiếp. Còn một cái vị Bồ Tát mà khi cho ai một cái gì, giúp ai cái gì, trong đầu đã có cái ý đồ là để giúp người này sau này biết được Phật pháp, thì cái nhân quả mở ra thênh
[50:11]thang luôn, không đơn giản nữa, mở ra khủng khiếp luôn. Là sau này khi mà cái quả báo nó tới, gặp lại duyên chúng sinh tới, tự nhiên mình giúp người ta, mình giáo hóa người ta và mở mang nhiều điều tốt đẹp cho thế giới này, cho trần gian này, nghĩa là mở ra vô lượng, vô biên tung bay luôn á. Ở cái ý thứ nhất là mình chỉ giúp người ta vì thương thôi, mà cái kết quả nó trở lại đã rất là cao cả. Còn mà nếu khi mình giúp người ta mà trong đầu mình có cái ý là sẽ giúp người ta biết Phật pháp thì nhân quả đến khủng khiếp lắm, mênh mông, vô tận, vô biên. Không tin quý Phật tử làm thử đi. Không tin quý Phật tử một lát bố thí cho chúng tôi thử
[50:46]với cái ý là sau này sẽ độ cho thầy Chân Quang này ổng biết tu phải không? Tự nhiên sau này thấy nhiều cái nhân quả mở ra rất là đặc biệt như vậy. Làm việc đó, một lát thử đi rồi biết. Thôi, để cất chùa kìa, chùa chưa xong. Còn mà nếu mà khi mình bố thí mà trụ tướng á, tức là vì động cơ không chân chính, thì nhân quả đóng lại liền. Đóng lại, tự nhiên sau này mình cứ ít làm được phước, thích hưởng rồi từ từ cái phước hết và nghèo khổ trở lại. Đó, khác nhau ở chỗ này. Đó là nãy giờ nói về bố thí. Bỗng nhiên chuyển một cái ý này rất là lạ, kinh Kim Cang tới đây chuyển một cái ý. Đang nói về bố thí là một cái hạnh
[51:26]để cho một vị Bồ Tát tạo được phước và tăng trưởng đạo đức. Bắt đầu nói nè: "Tu-bồ-đề, ư ý vân hà, khả dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ? Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, có thể căn cứ hay dựa ở trên thân tướng để thấy được, để hiểu được Như Lai chăng?" Nè coi nè, đang bố thí bỗng nhiên nhảy qua cái hiểu được Như Lai. Là vì sao vậy? Bởi vì trong cái công hạnh tu hành, trong cái đạo đức của một vị Bồ Tát thì vấn đề hiểu Phật như thế nào là một vấn đề lớn. Nhớ nếu mình là đệ tử Phật mà không hiểu Phật đúng mức thì cái trí tuệ mình kém, đạo đức mình kém, hướng đi mình sẽ lạc lối liền. Nên do đó, phải xác định lại vấn đề hiểu được Phật.
[52:13]Và như vậy trong cái loạt bài tâm lý đạo đức, cái bài đầu tiên đạo đức là phải hiểu và tôn kính Phật là sai hay đúng? Phù hợp với kinh Kim Cang không? Quá phù hợp đi. Nên phải xác định cái quan điểm chúng ta hiểu Phật như thế nào? Hiểu Phật như thế nào? Chúng ta nhớ hay là chúng ta học được ba cái giai đoạn trong cái bài kinh Kim Cang này tới đây. Cái thứ nhất á là cái tiến trình hàng phục tâm là thế này. Thứ nhất là độ sinh, lý tưởng độ sinh mà không chấp công. Nhớ không? Độ cho bốn loài noãn sinh á mà không thấy chúng sinh được độ, phải không? Ý thứ nhất là độ sinh không chấp công. Ý kế tiếp vừa rồi là bố thí mà không không trụ tướng là với động cơ tốt.
[52:52]Bắt đầu bây giờ bước qua tới ý kế tiếp là hiểu và tôn kính Phật. Cái tiến trình đi rất là rõ ràng, tiến trình. Tất cả những câu trả lời mà Phật dẫn dắt từng bước từng bước này đều trả lời cho cái câu đầu tiên là hàng phục tâm để đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chúng ta nhớ nha. Kinh Kim Cang cái chữ thì cô đọng nhưng mà cái tiến trình mà ý kinh dẫn dắt đi, dẫn dắt đi rất là hợp lý mà rất là chặt chẽ. Nên không thể tu theo Phật mà thiếu lòng tôn kính Phật được hết. Đây là cái tiền đề. Một cái tôn giáo mà muốn mạnh thì tín đồ phải tôn kính vị vị giáo chủ. Đó là nguyên tắc. Hễ một cái đạo nào mà cái người tín đồ coi thường
[53:38]vị giáo chủ mình thì cái đạo đó sẽ suy tàn. Đó là nguyên tắc căn bản. Chúng ta điểm lại các tôn giáo trên thế giới để chúng ta thấy một điểm đó. Là hễ tôn giáo nào mạnh, tôn giáo đó đều có những cái giáo lý, những cái giáo điều bắt buộc đưa đến, tạo thành một cái niềm tôn kính mạnh mẽ, thiết tha cho người tín đồ đối với vị giáo chủ. Chúng ta nhìn bên đạo Hồi cũng vậy, đạo Thiên Chúa cũng vậy. Và khi mà so sánh số tín đồ của ba tôn giáo lớn là Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Phật giáo, thì cái tôn giáo mà tín đồ ít nhất là tôn giáo nào? Là Phật giáo. Chúng ta chỉ bằng 1/2, 1/3, 1/4, 1/5 những tôn giáo khác như Thiên Chúa và Hồi giáo.
[54:26]Trong khi đạo Phật đã có mặt trước họ 600 năm, có mặt trước họ 1000 năm nhưng mà tín đồ không phát triển. Lý do vì sao? Lý do bởi vì chúng ta mất cái điều căn bản này. Là cái người đệ tử Phật, cái người tín đồ trong đạo Phật không đủ lòng tôn kính cái vị giáo chủ của mình là Đức Phật Thích Ca. Mà tại sao trong đạo Phật chúng ta lại có cái khuyết điểm như thế nó xuất hiện?
[54:54]Tại sao trong đạo Phật mình lại xuất hiện có những cái khuynh hướng là không tôn kính Phật, làm cho đạo Phật suy yếu hơn các tôn giáo khác? Ở đâu lòi ra cái khuynh hướng kỳ lạ như vậy? Bởi vì sao? Vì không biết vì sao. Không biết vì sao mà có nhiều cái vị đại sư, chân sư, tông sư, thiền sư gì đó đưa ra những loại giáo lý công kích Đức Phật, coi thường Đức Phật. Kỳ lạ như vậy, không hiểu. Có một lần chúng tôi nghe một người cư sĩ kể, này là người cư sĩ đó đến chùa vì nhầm vào lúc cái giờ mà chùa tụng kinh. Thì bèn nhìn trong chánh điện có một vài thầy đang dẫn dẫn Phật tử để mà trì tụng kinh điển, đang tụng kinh.
[55:40]Thì có một ông thầy ổng cứ chắp tay ổng đi ngoài hàng hiên, không biết ổng tu cái gì lúc đó. Thì vị cư sĩ đó mới thắc mắc hỏi, hỏi thăm vui thôi, nói: "Dạ thưa thầy, sao thầy không vào tụng kinh lễ Phật thầy?", hỏi cho vui. Cái ông vị thầy đó mới kéo cái người cư sĩ đó lại cái cửa, chỉ vào tượng Phật: "Nhìn kỹ coi, đó là xi-măng." Chỉ vào, nói xi-măng. Rồi xong ổng buông cái người cư sĩ ra, ổng tiếp tục ổng đi dạo ngoài sân. Là có những loại giáo lý hiểu như vậy, hiểu như vậy. Nhìn tượng Phật mà nhìn thấy đó là xi-măng nên không cần phải đặt lên đó lòng tôn kính. Thì như vậy họ hiểu Phật là như thế nào, mình không biết.
[56:20]Thường thường chúng ta nhớ thế này, là một cái biểu tượng thuộc về vật chất, hình thức. Nhưng mà khi chúng ta quy định để cho nó có một cái giá trị tinh thần cao thì nó vẫn rất là đáng quý. Ví dụ như cái cờ của Tổ quốc chẳng hạn, chỉ là sao? Chỉ là một mảnh vải thôi. Nhưng mà nhiều khi để bảo vệ cái lá cờ đó người ta phải hy sinh cả thân mạng mình, là vì vậy. Vì nó nó ẩn chứa cả cái hồn thiêng dân tộc trong đó, ẩn chứa cả cái danh dự của quốc gia trong đó, ẩn chứa cả cái niềm tự hào suốt mấy nghìn năm lịch sử trong đó. Thì cũng vậy, mặc dầu đó là xi-măng, nhưng mà khi được tạc lên với một hình tướng Phật thì đó không còn là cục xi-măng nữa mà đã là biểu
[56:55]tượng cho bậc thầy của trời người, một vị đã mở ra một cái chân lý cho nhân loại, một vị mà có lòng từ bi và trí tuệ vô lượng. Còn nếu nhìn vô chỉ thấy đó là xi-măng thì người này con mắt người này làm sao? Người này thứ nhất là quá ngu. Quá ngu, mình nói thẳng một câu vậy, ngu phải không? Nhìn như vậy mà chỉ thấy đó là xi-măng thì người cũng là người này quá ngu. Không thấy được đó là một biểu tượng vĩ đại của một bậc Thánh mà chúng ta phải tôn thờ. Cho nên trong đạo Phật xuất hiện những cái loại giáo lý mà cạn cợt và chúng ta có thể dùng chữ ngu xuẩn như vậy, làm cho đạo Phật chậm phát triển lại liền,
[57:31]làm cho người tín đồ đạo Phật không thiết tha tôn kính cái vị giáo chủ của mình và cái tôn giáo nó suy yếu luôn. Chúng ta rơi đúng vào cái lỗi đó. Nó làm cho đạo Phật yếu nên ngày hôm nay điều này phải được dừng lại, chúng ta phải dựng lại những gì đã bị ngã, đó là lòng tôn kính Đức Phật của mình. Phải thiết tha dựng lại điều này, không được đi ngược lại. Cho nên từ đây về sau, nếu ai đi ngược lại điều này, nếu ai nói một câu nào để làm cho người khác mà xem thường Đức Phật là cái người đó phỉ báng Phật, người đó chống lại đạo Phật. Ở bên Hồi giáo mà chống lại giáo chủ là họ giết liền. Đạo Phật mình thì không có cực đoan như vậy nhưng mình biết
[58:07]người này sai rất trầm trọng, sai trầm trọng và mình có bổn phận phải khuyên bảo họ là đừng có cái tư tưởng đó nữa. Và khuyên bảo bằng mọi cái cách mà mình có được, từ lời nói cho tới tay chân gì đó thầy không biết, thầy không có góp ý, làm sao đó làm, miễn người ta đừng có dám chống Phật nữa thôi. Thầy không có xúi nha, thấy nó làm sao nó làm thầy không biết. Nên đây là cái nhân quả và căn bản, mà đây là điều rất hay là trong bài kinh Kim Cang thường hay nói cái chữ "không" mà đặt rất nghiêm túc cái vấn đề chúng ta phải hiểu Phật như thế nào cho chính xác, cho đúng. Không phải là không hiểu Phật, mà phải hiểu Phật cho đúng,
[58:47]giống như hồi nãy là không phải là không bố thí, mà phải bố thí cho đúng. Không phải là không độ sinh, mà phải độ sinh mà không chấp công. Thì bây giờ trở lại vấn đề vậy, phải hiểu Phật, hiểu Phật làm sao cho đúng. Chứ không phải là nói làm ngơ không biết Phật là ai nha, phải thế nào? Kiến Như Lai. Làm thế nào để kiến Như Lai? Dựa vào cái gì để kiến Như Lai? Đó. Vào thời Đức Phật tại thế đó thì thân tướng Phật trang nghiêm, trí tuệ Phật siêu việt, tư cách Phật tuyệt vời nên đó là cái biểu tượng để cho chúng ta hướng tâm tôn kính trực tiếp. Chúng ta có một cái điều bất hạnh lớn là chúng ta sinh vào thời không có Phật.
[59:27]Cho nên bây giờ những điều gì mà chúng ta hiểu về Phật toàn là nghe kể lại. Ví dụ mình kể Đức Phật đẹp lắm, 80 vẻ đẹp, 32 tướng tốt, chúng ta cũng nghe kể lại. Chúng ta nghe nói Đức Phật từ bi lắm, điềm đạm lắm, ung dung lắm, cũng chỉ nghe kể lại. Và khi mà nghe kể lại thì cái hiệu quả hiệu quả tâm lý chúng ta đạt được bao nhiêu phần? Phân nửa không? Phân nửa không? Không, bao nhiêu phần nói chính xác coi? Hả? Nếu có một triệu phần thì mình được chừng phần, ít ỏi, ít lắm. Bây giờ chúng ta thử tưởng tượng bỗng nhiên Đức Phật hiện ra thành ông Phật thiệt ngồi đây. Ngài bắt đầu ngài thuyết pháp, ngài nói, ngài chỉ vẽ thì chúng ta mới thấy cái lòng
[1:00:15]tôn kính mình lúc đó nó tăng lên một triệu lần so với bây giờ. Thầy nói thật, một triệu lần so với bây giờ và với cái người mà tim không đủ mạnh có thể đứng tim chết liền. Thầy nói nghiêm chỉnh một câu. Nhưng mà có thể là lúc đó nhờ phước kính Phật á tim nó không chết, không chết nhưng mà cái sức tôn kính Phật tha thiết á là người yếu tim chịu không nổi, tim chịu không nổi. Tại thầy nhớ có một lần thầy nằm mơ thầy thấy Đức Phật, không biết thầy có kể trong đây chưa ta? Kể chưa? Hay kể ra ngoài mất rồi? Một lần đó thầy cũng về đây giảng ở Từ Tân đây nè, hình như kỳ đó giảng Pháp Hoa hay sao á, Pháp Hoa đang giảng thì đêm ngủ, nằm ngủ cái thấy Đức Phật
[1:00:53]ở Bồ Đề Đạo Tràng, ngài nhổ một cây bồ đề con ở Bồ Đề Đạo Tràng lên, ngài bước một bước qua tới Việt Nam ngài đặt xuống ngài trồng. Thì trong giấc mơ mà thấy Phật mình chịu không nổi, chịu không nổi. Nghĩa là lòng thiết tha tôn kính á nó quá sức đi. Nếu mình cứ nghĩ là nếu mà giấc mơ kéo dài thêm chừng một phút nữa là chắc đứng tim chết luôn trên giường, tại vì quá tôn kính Phật chịu không nổi. Nhưng mà may mắn là do lúc đó xúc động quá sức nên giật mình thức dậy luôn. Giật mình thức dậy chứ nếu mà thêm chút nữa đứng tim chết, Phật không cho thấy nữa, thấy biết thằng này cho nó chết rồi, thôi cho nó sống để còn nói lảm nhảm rồi được.
[1:01:26]Nên đây là cái điều mà bất hạnh của chúng ta là chúng ta không được sống trong thời có Phật. Chúng ta không chiêm ngưỡng được tất cả những điều vĩ đại, tuyệt vời, thánh thiện, cao cả của Phật. Do đó mà mình nghe thuật lại, nghĩa là ông thầy nào mà cái miệng lưỡi giỏi lắm thì cũng gieo cho lòng mình cái lòng tôn kính ờ cái gì đó hay hay chút chút, chỉ được một phần triệu sự thật thôi. Chứ còn nếu mà mình thật sự mình sống trong thời Đức Phật, mình thấy Đức Phật, nghe Đức Phật rồi thì có mười cái gia đình giàu mình cũng đạp mình bỏ đi tu liền. Mà dù cho mình tội lỗi cỡ nào mình cũng từ bỏ hết để đi theo Đức Phật tu liền.
[1:02:00]Đó là lý do tại sao mà vào thời Đức Phật người ta đi xuất gia rất đông và chứng đạo rất nhanh là vậy, bởi vì quá thiết tha. Tu hành bằng tất cả cái nhiệt tâm của mình. Còn bây giờ do là chúng ta không có đủ lòng thiết tha tôn kính đó, mình tu lai rai chơi vui. Cho nên thầy cũng mở khóa thiền, tu một bữa ngán trốn sạch sẽ theo không còn ai vậy đó. Tuy nhiên là theo luật vô thường rồi Đức Phật cũng phải vào Niết Bàn, thân Đức Phật được thiêu để lấy xá lợi, tư cách chỉ còn là những kỷ niệm mà được ghi trong kinh điển. Trí tuệ mênh mông trong kinh điển của Phật lại theo thời gian lại bị hiểu lệch lạc, lại bị thêm thắt.
[1:02:42]Cho nên là ngày hôm nay chúng ta hiểu Phật hoàn toàn dường như sai nhiều lắm, không đúng. Mà chính vì hiểu sai cho nên chúng ta không đủ lòng tôn kính Đức Phật. Mà khi chúng ta không đủ lòng tôn kính Đức Phật thì cái sự tu hành của mình nó làm sao? Không có mạnh, nó dãi đãi. Và khi mà mình không đủ lòng tôn kính Đức Phật thì tự nhiên mình cũng không đủ sức để bảo vệ Phật pháp và truyền bá Phật pháp nữa. Đó là lý do tại sao mà ngày nay chúng ta tu ít có tiến và đạo Phật không mạnh. Chớ còn nếu mà chúng ta hiểu được Phật, tôn kính Phật tha thiết thì bản thân mình tu rất là tinh tấn và đạo Phật sẽ mạnh.
[1:03:21]Cho nên ngày hôm nay, ví dụ như chúng ta có hô hào, kêu gọi là phải xây dựng đạo Phật, phát triển đạo Phật thì điều đầu tiên chúng ta phải làm là? Hả? Không. Xây dựng lòng tôn kính Phật cho mọi người cái đã. Đó là điều căn bản, đạo Phật sẽ mạnh. Nhưng mà muốn xây dựng cái lòng tôn kính Phật cho mọi người thì phải giúp cho mọi người hiểu được Phật. Mà muốn cho mọi người hiểu được Phật thì chúng ta phải? Phải nói cho giỏi, hả? Chính mình phải hiểu trước, chính mình phải thực hành, chính mình phải tu, chính mình phải thiết tha tôn kính Phật thì tự nhiên lời nói mình phát ra làm cho người ta lay động được.
[1:04:03]Lay động được, người ta bắt đầu tôn kính Phật hơn và cuộc đời người ta sẽ được hạnh phúc hơn, hãy nhớ điều đó. Khi chúng ta cho ai cái niềm tôn kính Phật là chúng ta cho họ cái hạnh phúc về sau đó. Nên bây giờ vậy, trong việc truyền đạo, nhiều khi mình không cần nói một điều gì quá cao xa, chỉ làm sao cho người ta khởi được cái tâm tôn kính Phật là đã cho người ta được hạnh phúc rồi. Bây giờ từ đây mỗi người chúng ta về nhà chúng ta hãy suy nghĩ về điều này: làm sao cho mọi người tôn kính Phật thiết tha lên. Còn tượng Phật á, bây giờ chúng ta phải hiểu Phật như thế nào cho đúng nè. Nếu mà nhìn tượng Phật mà hiểu á thì chúng ta thấy thế này:
[1:04:39]tượng Phật chỉ là biểu tượng, phải không? Và không có tượng nào giống tượng nào hết, cho nên cái tùy theo cái người tạc. Ha ví dụ, cái người mà tay nghề giỏi sẽ tạc được cái tượng đẹp hơn, hoặc là cái người đặt tượng mà họ khắt khe thì họ buộc cái người điêu khắc phải cẩn thận hơn, phải chi tiết hơn. Còn nếu cái người, ví dụ cái chùa đó ông thầy đó ổng hời hợt, ổng đặt một người điêu khắc tạc cái tượng mà ổng không có khắt khe, không kỹ, rồi cái người điêu khắc đó tay nghề cũng kém thì sẽ bưng một cái tượng Phật lên mà mũi với mặt với miệng nó mờ mờ mờ mờ nó lợt lợt lạt lạt thấy như nó nó nó giống giống nhau.
[1:05:13]Mũi giống mắt, mắt giống miệng, mắt miệng giống tai thì cái biểu tượng nó rất là kém, mà không tượng Phật nào giống tượng Phật nào. Cho nên nghĩa là tượng Phật chúng ta hiểu là biểu tượng là nơi để chúng ta là chúng ta nhớ đến Phật, chúng ta đặt lên đó cái lòng tôn kính và chúng ta nhớ lại những cái trí tuệ tuyệt đối của Phật, từ bi tuyệt đối của Phật, sự tĩnh lặng tuyệt đối của Phật, sự công bằng tuyệt đối của Phật và nhớ Phật không hình tướng, à. Cái cuối cùng là nhớ rằng Phật không hình tướng. Vì nếu mà chúng ta tôn kính Phật là Phật từ bi, trí tuệ rồi mình quy định Phật có một hình tướng gì đó,
[1:05:51]ngay đó mình sai liền, lập tức mình rơi vào tà kiến liền. Là chỗ này là rơi đúng vào chỗ mà Phật quở là: "Có thể dùng thân tướng để hiểu Như Lai được không?" Thì ngài Tu Bồ Đề trả lời: "Phất dã, Thế Tôn, bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai." Là: "Thưa không Thế Tôn à, vì sao? Bởi vì không thể dùng thân tướng mà thấy Như Lai được. Là vì sao vậy? Bởi vì Đức Phật đã nói: "Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng." Bởi vì Đức Phật đã nói thân tướng này cũng không phải là thân tướng." Và Đức Phật xác nhận, Phật cáo Tu Bồ Đề: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng." Là cái gì có hình tướng là không phải thật, nó chỉ là tương đối, tạm bợ thôi.
[1:06:32]Đó. Cái chữ "kiến" á là hiểu, phải không? Chúng ta nếu mà hiểu được Phật đúng mức thì tự nhiên mình tôn kính Phật vô biên dù không ai bắt buộc. Thiếu lòng tôn kính Phật thì không có nhân lành để tiến tu, đó là nguyên tắc. Cho nên nếu mà mỗi ngày chúng ta lễ kính Phật thì chúng ta tăng trưởng được thiện căn, đó là nguyên tắc, là nhân quả. Cho nên ngày hôm nay chúng ta không còn cái duyên để thấy Phật mà khởi lòng tôn kính thì ngày hôm nay chúng ta bù lại điều đó bằng cách là chúng ta mỗi ngày đến trước tượng Phật, chúng ta lễ kính Phật. Chúng ta huân tập nhiều như vậy thì tự nhiên cái thiện căn của mình cũng tăng trưởng lên lần lần lần lần. Đó.
[1:07:13]Thì cũng vậy, giống như "bố thí bất trụ tướng", chứ không phải là "bất bố thí", chúng ta nhớ câu này, "bố thí bất trụ tướng" chứ không phải là "bất bố thí". Bố thí mà không trụ tướng thì cũng vậy, chúng ta lễ kính Phật mà không chấp vào hình tướng chứ không phải là không lễ Phật. À. Đây là chỗ nhiều người hiểu sai, đi tới việc mà không lạy Phật á. Lại đọc cái đoạn kinh này hiểu trật, là bởi vì "phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng" rồi quay lưng không lạy Phật. Là giống như hiểu đoạn trước là "bố thí bất trụ tướng" là thôi đừng bố thí, thì cũng vậy. Là hiểu Phật nhưng mà biết rằng Phật không hình tướng,
[1:07:48]cho nên phải lạy Phật nhưng mà không chấp vào hình tướng này. Cho nên lỡ cái tượng Phật này bị bể thì mình sao? Làm tượng khác thờ tiếp, không có gì phải buồn, bởi vì đó là hình tướng tạm bợ, tương đối. Còn cái lòng tôn kính của mình đối với Đức Phật tuyệt đối thì không có gì đập vỡ được. Không gì đập vỡ được, phải không? Nhớ như vậy. Cho nên cái việc mà ngày xưa Taliban mà bắn sập cái tượng Phật á thì họ bị cái quả báo của họ rồi, mình không nói, nhưng mà người Phật tử mình không buồn là vì như vậy đó, bởi vì mình biết phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Mặc dù cũng là một cái nỗi buồn của mình đó,
[1:08:24]nhưng mà mất tượng này ta sẽ xây dựng lại tượng khác ngàn lần tươi đẹp hơn. Khi mà thắng được Taliban rồi ta sẽ xây tượng khác đẹp mười ngàn lần hơn, không sao hết.
[1:08:38]Còn non còn nước còn người. Khi thắng Taliban rồi, sẽ xây dựng tượng khác gấp 10 lần hơn. Có nhiều người vậy, chúng ta để ý cái chỗ này một chút, để ý chỗ này một chút, chỗ này rất là tế nhị. Có một lần mấy vị hỏi chúng tôi, mà chúng tôi cũng rất là khó trả lời. Hồi xưa vậy có một vị thầy cũng nổi tiếng lắm, vị thầy đó ngày nay tịch rồi, vị thầy đó cũng rất là đức độ. Vị thầy đó mới trùng tu cái ngôi chùa cổ lại, xây lại hết, xây đẹp, xây lớn, xây to lên hết. Thì thầy đó vô cái ổng thấy cái chánh điện cũ đó, thờ Phật đời xưa đó, quý vị có từng gặp cái tượng Phật đời xưa chưa? Coi nó sơ sài lắm không, xấu xí, sơ sài, xoàng xĩnh kỳ lắm ha.
[1:09:17]Cái vị đó mới tạc cái bức tượng đời mới như thế này, sơn son thiếp vàng, còn bao nhiêu tượng cũ đem ra ổng đập sạch sẽ không còn gì hết trơn. Thì mấy người mà dân làng nó chới với vậy đó, chới với, trời ơi, cái tượng mà ngày xưa họ lạy mỗi ngày á, ngày nay ông thầy ổng lấy búa tạ ổng ra ổng đập bốp bốp bể tan nát thành tro bụi rồi ổng quăng luôn, quăng luôn. Mọi người đứng sững sững hết trơn rồi không biết sao, nói trời ơi sao nói là làm thân Phật ra máu á là một trong ngũ nghịch đại tội, sao ông thầy này ổng tỉnh queo, ổng lấy búa tạ ổng đập tan nát mấy bức tượng không còn gì hết trơn. Rồi có một vị khác khi mà về chùa trùng tu thì cũng vậy
[1:09:50]thỉnh một cái ngôi tượng lớn lên rồi không dám đập tượng cũ, tại vì người ta thờ ổng thiêng liêng đó, cái xây một cái tháp tốn tiền lắm bưng hết tượng cũ vô trong đó giấu trỏng luôn không trưng ra nữa. Đó là một cách giải quyết cũng trung đạo ha, cách giải quyết đó cũng trung đạo. Nhiều người hay hỏi chúng tôi điều đó thì chúng tôi ủng hộ cái giải pháp thứ hai là thôi xây một cái tháp đem hết tượng cổ giấu trỏng luôn cho rồi, từ đây mãi mãi không thấy nhau, tại vì cái yêu cầu mỹ thuật mỗi ngày một cao hơn, gắt gao hơn á, nó vậy. Mặc dù mình cũng tiếc cái kỷ niệm thiệt, nhưng mà nhiều khi cuộc đời sống phải thay đổi, nó vậy.
[1:10:26]Cái gì có hình tướng đều là tương đối, tạm bợ kể cả những điều chúng ta tôn quý, hãy nhớ cái điều đó, kể cả tượng Phật, ừ kể cả tượng Phật. Và ví dụ như cha mẹ chúng ta là người chúng ta thương yêu, chúng ta tôn kính vậy, ngày nào cũng phải chết, mang cái thân này cũng hủy hoại. Nên nhớ bất cái gì vậy, phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhưng cái chữ hư vọng này đừng có tưởng là nghĩa chê bai nha. Đây nè có nhiều người đọc Kinh Kim Cang tới chỗ này hiểu lầm một lần nữa, hư là hư là gì, hư không phải là hư hỏng mà hư là rỗng, chữ hư trong chữ Nho nghĩa là rỗng, vọng là vọng là giả. Ở đây nè ngày nay chúng ta dịch cái chữ này,
[1:11:06]chúng ta dịch chữ hư vọng nghĩa là tạm bợ, tương đối, nhẹ nhàng thôi, chứ cũng không phải chữ hư vọng nghĩa là ôi cái đồ giả, nói cái với khinh, chê mà bỉm nhẹ mang tội liền. Ví dụ mình nói tượng Phật á, mình nhìn vô mình nói à tượng Phật phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, mình hiểu cái chữ hư vọng là à tượng này cũng tương đối, tạm bợ, hiện nay với tượng này chúng ta thờ kính để chúng ta nhớ tới Phật, hiểu như vậy nhẹ nhàng thì được, chứ còn nói ôi phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng quay lưng cái xoẹt đi chỗ khác là mang tội liền. Tức là cái chữ hư vọng mình hiểu với nghĩa chê, khinh là mang tội liền, nên cái chữ hư vọng mình phải hiểu
[1:11:43]với nghĩa nhẹ nhàng là tương đối, là tạm bợ mà thôi thì mới được. Ví dụ những cái hình tướng xấu như là sự loè loẹt, sự phô trương, sự sa đoạ thì nó đã tạm bợ đã đành, mà cả những cái chùa tháp nè, tượng Phật cũng không phải vĩnh cửu. Đó là sự thật mà chúng ta phải chấp nhận. Chúng ta nhớ lại trong lịch sử là từ Trung Hoa qua tới Việt Nam, tới Ấn Độ, rồi cả bên Indonesia hoặc là bên Campuchia vậy, có nhiều ngôi chùa tháp rất lớn mà ngày nay đều hoang tàn hết, hoang tàn, có những cái sụp đổ, hư hại luôn. Nên đó là một sự thật mà những điều chúng ta tôn quý nhất, cao cả nhất cũng không phải là vĩnh cửu.
[1:12:26]Ví dụ như cái người cất chùa, tạo tượng thì được hưởng phước theo thời gian mà cái chùa, cái tượng nó được tồn tại, cái lợi ích nó được lan ra, hết rồi là sẽ hết. Đây cái câu này nói hiểu như thế này: ví dụ bây giờ là chúng ta xúm lại chúng ta cất cái chùa Từ Tân, ừ rồi chùa Từ Tân này là một nơi mà tu học tốt cho mọi người, bắt buộc phải là nơi tu học tốt nha, chứ nếu mà tu học không tốt thì lại cái người cất không có phước. Ví dụ nơi cái chùa Từ Tân này là Tăng Ni chúng quy tụ về học, Phật tử quy tụ về học, nhiều khoá tu xuất hiện, nhiều điều lợi ích lan ra trong cuộc đời này từ cái nơi ngôi chùa
[1:13:03]Từ Tân này, thì những ai mà góp tiền xây cất cái chùa Từ Tân này thì sẽ hưởng cái phước bằng đúng cái thời gian mà ngôi chùa Từ Tân này tồn tại. Ví dụ như người đó đủ phước lên cõi trời thì chùa Từ Tân này còn thì cứ ở trên cõi trời. Ví dụ như mình đủ có được cái không phải lên cõi trời mà làm người giàu, thì chùa Từ Tân này mà còn thì mình cứ ở kiếp nào cứ làm người giàu, chết đầu thai, chết đầu thai luôn luôn trong người giàu, luôn luôn làm người giàu, coi chừng nào chùa Từ Tân này còn tồn tại. Nhưng nếu lúc nào mà chùa Từ Tân không tồn tại, ví dụ nó biến mất, đó ví dụ như là đập ra để mà xây
[1:13:37]cái khác nữa đó thì lúc đó cái phước mình sẽ hết. Thì cái người mà ở trên cõi trời đó bắt đầu tự nhiên thích sinh xuống loài người, rồi cái người mà ở kiếp xưa mình đang giàu bỗng nhiên cái hên không còn nữa, cái đời sống thấp hơn lại, nghèo hơn một chút, là bởi vì ngôi chùa tại đây đã bị đập ra rồi, là cái mình đóng góp vào không còn tồn tại nữa, lúc đó phước mình hết, hãy nhớ như vậy. Một cái tượng Phật mình tạc ra cũng vậy, thời gian mà người ta đang thờ là thời gian đó mình ở kiếp nào không biết mình đang làm quan, hoặc là ở trên trời, hoặc là ở dưới đất mình đang hưởng sung sướng, được uy quyền, hiển hách,
[1:14:10]được mọi người tôn kính khi mà tượng Phật cứ còn nằm đó người ta lạy. Còn khi nào cái tượng Phật giống như ông thầy kia ổng lấy búa tạ ổng đập bể, ổng dọn hết thì bắt đầu hết quan rớt xuống làm dân, trên trời rớt cái ịch xuống đây làm người lại, nhớ như vậy, đó là nhân quả. Nhưng phước thì hết, nhưng mà duyên với đạo thì vĩnh viễn không bao giờ hết. Ví dụ như một người đó hưởng phước do cái chùa tồn tại đến khi cái chùa đó đập để xây cái chùa khác hoặc là hoang tàn, hoang phế, không còn lợi ích gì nữa, hoặc là nơi đó trở thành cái trường gà, cá độ gì đó thì không còn lợi ích nữa thì mình không còn giàu sang vinh hiển nữa, nhưng mà cái duyên với Phật pháp cứ còn.
[1:14:48]Mặc dù nghèo rồi nhưng mà vẫn mến đạo, vẫn thương đạo, cứ tìm tới tu hành rồi tìm tới cách làm phước nữa. Ví dụ như tất cả chúng ta ngồi đây, chúng ta đang yêu đạo, mến đạo mà có thể chúng ta đang nghèo, ở đây có ai nghèo giơ tay lên, để thầy không bao giờ dám tới, đó nghèo, đó nghèo mà đang mến đạo là coi chừng mình thuộc vào cái hạng này, là mình thuộc là ngày xưa mình đã cất chùa, cất tượng mà có ông nào ổng chơi ổng đập cái chùa của mình, cái tượng của mình mất, nên bây giờ cái lòng mến đạo thì còn tha thiết mà nghèo, mà ổng đó biết đâu mà cự ổng phải không? Thôi bây giờ đành phải cất cái chùa mới ha,
[1:15:22]rồi xúm nhau cất cái chùa Từ Tân này ví dụ vậy, rồi mai mốt mình sẽ vinh quang trở lại, đó. Nên ở đây là vậy là chúng ta phải biết kiến chư tướng phi tướng, tức là nhìn thấy hình tướng chúng ta thấy luôn cái sự tạm bợ nên không có chấp, mà biết xem như không, biết xem như không, bởi vì cái mà chúng ta hướng tâm đến thật sự không phải nằm nơi cái tượng này, mà đó là một Đức Phật không hình không tướng trong Niết Bàn mà từ bi vô lượng, trí tuệ vô lượng, công bằng vô lượng, thì cái đó nó không lệ thuộc hình tướng, mà hình tướng chỉ gợi cho chúng ta nhớ về cái vô lượng vô biên kia thôi, đó nhớ như vậy.
[1:16:00]Tuy nhiên chúng ta cẩn thận cái mà cái hư vọng này, ví dụ khi chúng ta nhìn thấy mọi người, chúng ta nhìn thấy chúng sinh, hình tướng chúng sinh có hư vọng không? Có, tạm bợ, tương đối, ngày nào đó cái thân này sẽ mục rữa, đang đẹp ngày nào đó sẽ già, sẽ tàn, đang còn sống, còn tươi ngày nào đó chết, sẽ sình, sẽ thối, đó là một sự thật. Khi nhìn chúng sinh chúng ta cũng thấy như vậy. Nhưng mà phải thương yêu, phải tôn trọng. À cũng giống như khi chúng ta nhìn lên cái tượng, tuy là xi măng nhưng mà nơi đó gói ghém nơi đó biểu tượng nơi đó là cả một cái gì vô cùng thiêng liêng vĩ đại đối với chúng ta phải không?
[1:16:41]Nên chúng ta cứ cúi đầu lạy trước tượng mà không bao giờ biết mệt. Mặc dù tượng đó là vô thường, là tạm bợ, là kiến chư tướng phi tướng. Bây giờ chúng ta quay lại nhìn con người vậy, thì đừng có nhìn tượng nữa mà hãy quay lại nhìn nhau, chúng ta sẽ thấy cái người ngồi bên cạnh mình cũng như vậy, cái thân họ cũng tạm bợ, cũng vô thường, nhưng mà nơi đó ẩn chứa một cái gì đó để chúng ta thương yêu được, chúng ta tôn trọng được. Cái gì? Cái gì nơi cái người ngồi bên cạnh mà làm cho chúng ta thương yêu, tôn trọng? Hử? Cái gì?
[1:17:21]Nhiều cái nếu ta phân tích từng cá nhân không thì mỗi người sẽ có những cái hay riêng. Nhưng bây giờ có một cái chung nhất để mà chúng ta thương yêu, chúng ta tôn trọng nơi cái người ngồi bên cạnh chúng ta, mặc dù cái thân họ sẽ tàn hoại. Một cái chung nhất của mọi người đó là, đó là những vị Phật tương lai. Đồng ý không? Đồng ý không? Rồi. Phải nhớ như vậy. Mà thương nhất là cái người nào mà mình dòm nhiều á. Dòm nhiều.
[1:17:54]Nên khi mà mình hiểu được cái điều chung nhất cái này là đây là những vị Phật tương lai. Ai cũng vậy cho nên cái thân tướng này sẽ tàn hoại nhưng cái lòng thương yêu tôn trọng mình là luôn luôn tràn đầy và có thể nếu phân tích theo cá nhân cái người này xấu tính. Có người xấu tính ví dụ như cái người bên cạnh chúng ta mà chúng ta biết là cái ông Phật tương lai đó, phải không? Cái người này cái ví dụ mình nói là cái ông ông Tư Xỉnh này là tương Phật tương lai đó nhưng mà ông Phật tương lai này nhậu xàng xạc tối ngày. Rồi quậy phá hàng xóm ví dụ vậy, có cái xấu. Mà trong thực tế là vậy. Phải không?
[1:18:27]Thực tế là rất nhiều ông Phật tương lai đang bê bối ghê lắm. Thì ở đây cái điểm là vì chúng ta thương yêu, chúng ta tôn trọng mà chúng ta luôn luôn mong mỏi cho họ tốt lên. Vì vì sao? Cái dấu hiệu của lòng thương là chỗ này, là mong cho họ tốt lên. Đó là tình thương chân chính. Và khi mà hiểu được cái câu này cái định nghĩa là khi thương ai chúng ta mong cho người đó tốt lên, chúng ta phát hiện ra một điều rất nhiều bậc cha mẹ chưa hề thương con chân chính. Là sao? Nhất là những người giàu. Là con đòi cái gì cho cái đó. Thậm chí đòi tới xe hơi để đua cho luôn. Đâu có biết rằng nó đua xong nó bị bắt mất tiêu,
[1:19:04]nó tông người ta chết nó bị bắt mất tiêu. Mà không mong cho con mình tốt lên mà chỉ mong cho con mình sướng hơn. Đây là tình thương không chân chính mà rất nhiều bậc cha mẹ đã bị. Ngày nay chúng ta quay lại đạo Phật, chúng ta hiểu lại. Khi chúng ta thương yêu mọi người vì thấy đây là những vị Phật tương lai, mà có khi vị Phật tương lai đó đang còn lầm lỗi, đang còn những cái điều khuyết điểm, thì cái tâm chúng ta luôn luôn mong cho vị đó tốt lên, hoàn chỉnh hơn. Tình thương chân chính là như vậy trước. Chứ không phải vội vàng mong cho người đó sướng hơn. Cái đó là cái sau thôi, họ tốt xong họ sẽ sướng.
[1:19:39]Chứ đừng có mà bỏ cái tốt mà tìm cái sướng liền là cái tình thương không chân chính mà nhất là cha mẹ đối với con cái. Đấy. Và trong cái ước mong mà cho mọi người tốt lên đó, thì cái ước mong nào là tột đỉnh?
[1:19:57]Khi mình nhìn thấy những người chung quanh mình như vậy, mình thương yêu, có người xấu người tốt mà phần nhiều là xấu, ha? Chúng ta ai cũng khuyết điểm. Và chúng ta mong cho mọi người tốt lên. Mong cho tốt lên. Thì cái ước mong nào là tột đỉnh?
[1:20:15]Đạo đức, nhân quả rồi gì nữa? Giải thoát rồi gì nữa? Thành Phật. Đúng, ai nói câu đó? Cho ngay một chiếc xe Trung Quốc bằng giấy liền, không nói gì hết trơn. Đúng. Cái ước mong tột đỉnh mà chúng ta nhìn tới mọi người đó chúng ta gửi đến họ là mong cho họ sẽ thành Phật, còn hình tướng bên ngoài không quan trọng. Cái hình tướng này tạm bợ, bỏ đi, tàn hoại. Mà chúng ta mong cho mọi người tốt lên mà tột đỉnh là mong họ thành Phật, phải có ước mong đó khi chúng ta nhìn thấy mọi người. Được chưa? Được, đó. Ai mà nói được câu đó là tuyệt vời đó. Tóm lại là chúng ta hiểu, kính Phật trên những ý nghĩa tuyệt đối
[1:21:03]về từ bi, về trí tuệ chứ chúng ta không quan trọng hình tướng. Nhớ như vậy, ừ. Và chúng ta cũng vậy, thương yêu chúng sinh trên ý nghĩa vị Phật tương lai chứ không quan trọng hình tướng. Đây là cái câu mà nói rằng là: "Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai." Nếu ai có thể nhìn thấy hình tướng của bất cứ mọi điều, mọi người luôn, cả chúng sinh luôn. Nếu ai có thể nhìn thấy hình tướng, kể cả từ Phật tới chúng sinh mà không phải là hình tướng, không cho rằng hình tướng đó là thật thì người đó hiểu được cái ý của Phật. Tức kiến Như Lai, kiến Như Lai là vừa là hiểu được Phật, vừa là hiểu được cái thâm ý của Phật muốn dạy mình điều đó. Đó. Nay mình thấy chưa?
[1:21:45]Mình hiểu được thâm ý của Phật chưa? Hiểu chưa? Hiểu rồi, tạm thời vậy là hiểu, đó là kiến Như Lai đó. Kiến Như Lai là hiểu Phật để tôn kính Phật và hiểu Phật để thương yêu chúng sinh mà không quan trọng cái hình tướng. Đó như vậy, ừ. Dù là khác nhau biên giới, màu da đó. Dù là cách xa bao lớp sơn hà. Như vậy, ừ. Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn: "Thế Tôn! Phả hữu chúng sinh đắc văn như thị ngôn thuyết chương cú, sinh thật tín phủ?" Ngài Tu-bồ-đề bạch Đức Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Có thể có được nhiều chúng sinh thật lòng tin tưởng khi nghe những điều như vậy hay chăng?" Và Đức Phật chẳng nói là có nhiều hay không
[1:22:27]có nhiều, mà Đức Phật trả lời một câu rất là dài dòng thế này. Phật cáo Tu-bồ-đề: "Mạc tác thị thuyết. Như Lai diệt hậu, hậu ngũ bách tuế, hữu trì giới tu phước giả, ư thử chương cú năng sinh tín tâm, dĩ thử vi thật. Đương tri thị nhân bất ư nhất Phật, nhị Phật, tam tứ ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở chủng chư thiện căn, văn thị chương cú, nãi chí nhất niệm sinh tịnh tín giả." Cái đoạn này dài. Phật bảo Tu-bồ-đề: "Chớ nói những điều như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ 500 năm, nếu có người nào đã biết giữ giới, tu phước, rồi khi nghe những điều này liền tin tưởng, chấp nhận và cho đó là chân thật, hãy biết người đó không
[1:23:09]phải chỉ mới trồng căn lành từ vài vị Phật, mà thật ra đã trồng căn lành từ vô lượng nghìn muôn vị Phật. Người như vậy mới có thể nghe qua điều này mà nhanh chóng tin tưởng." Ở đây đó là chúng ta nói rằng khi mà chủng chư thiện căn, tức là cái căn lành mà chúng ta gieo trồng ở những đời trước được đánh giá qua một cái yếu tố thế này, là khả năng không chấp nhận hình tướng để nhìn thấy những điều sâu xa bên trong. Chúng ta hay đánh giá thiện căn qua nhiều cái tiêu chuẩn khác. Ví dụ như thấy người đó rất là mộ đạo, mình nói người này có thiện căn. Rồi mình thấy người đó sống tốt, rộng rãi, hay bố thí, mình nói người này có thiện căn.
[1:23:50]À rồi mình thấy người đó muốn xuất gia, mình nói người này có thiện căn. Hoặc mình nói người đó hay ủng hộ chư Tăng tu hành, mình nói người này có thiện căn. Nhưng mà riêng trong kinh Kim Cang đưa ra một tiêu chuẩn về thiện căn rất là độc đáo để chúng ta xem, là người nào mà biết vượt qua cái hình tướng tầm thường để nhìn thấy cái giá trị sâu xa bên trong, người đó là người có thiện căn, thiện căn rất là lớn, được gieo trồng từ nhiều nghìn muôn vị Phật quá khứ. Vì sao? Bởi vì bình thường con người ta bị lừa gạt bởi hình tướng hết, bởi hình thức hết. Nghe những lời ngon ngọt mình dễ tin, thấy một người có tướng mạo đẹp là mình dễ bị mê hoặc.
[1:24:33]Nhưng mà chỉ những người nào vượt qua được những điều đó, vượt bỏ những cái lời nói ngọt ngào, vượt bỏ những cái hình tướng hấp dẫn để tìm cái giá trị thật bên trong là người đó là người có thiện căn. Và cái thiện căn này chúng ta phải hiểu là có trí tuệ sâu sắc, sâu sắc. Ừ. Ở đây nó có những cái điều thế này. Là chúng ta có ba cái hạng người này nha. Cái hạng người thứ nhất chúng ta vừa nói á là người chấp hình tướng, tức là thấy cái gì đẹp, hay bên ngoài là cho đó là thật, là đánh giá trị theo cái bên ngoài đó. Đó là hạng thứ nhất. Hạng thứ hai là không chấp hình tướng và cũng bỏ luôn, không để ý tới giá trị bên trong. Ví dụ như nói là tượng Phật:
[1:25:13]"Ôi, bằng xi măng, quay lưng luôn không lạy." Đó là hạng thứ hai. Còn hạng thứ nhất là tượng Phật đẹp, sơn son thếp vàng, thờ phượng rồi kỹ lưỡng. Giống như trong cái Góp nhặt cát đá có câu chuyện là có một cái sư cô đó có cái tượng Phật bằng vàng, bà rất quý, đi đâu bà cũng mang theo. Và mỗi khi mà bà đến nơi ở đâu để lễ Phật á, thì ai lễ Phật gì không biết, bà lấy cái tượng Phật của bà ra bà để trước mắt để bà lễ cái tượng của bà thôi, không lễ tượng của ai hết. Rồi khi bà thắp nhang mà cái nhang bà lựa là nhang đặc biệt rất là thơm, bà thắp cho cái tượng đó, thì bà sợ nó bay cái mùi thơm qua các tượng
[1:25:48]khác cho nên bà mới làm cái ống để cho khói nó bay theo cái ống đó đi đến cái mũi của ông Phật đó thôi, chứ không cho qua tượng khác. Thì sau khi bà thắp một lát nhìn lại thì giống như là ông Phật mà có cái vòi ngay trước mũi đó, mở ra cái mặt đen thui luôn, bị khói nó chui vô đó hết. Đó vậy. Trong cái chuyện Góp nhặt cát đá có một câu chuyện như thế. Thì đây là cái hạng người mà hạng người phàm phu thứ nhất, hễ chấp hình tướng rồi kẹt trong đó. Còn hạng người thứ hai là không chấp hình tướng rồi bỏ luôn cái giá trị bên trong, quay luôn, không thèm lạy Phật. Và hạng người thứ ba là hạng người mà
[1:26:18]không chấp hình tướng nhưng mà nhìn thấy được cái giá trị bên trong. Đây là ba hạng người. Thì chúng ta chọn người nào? Người thứ ba là người Trung đạo, phải không? Là người mà Đức Phật chọn, đánh giá là người có thiện căn sâu xa, nhất là đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, đối với chúng sinh. Thấy không? Cái quan điểm là như vậy. Có ai hỏi gì không? Chúng ta giải đáp câu hỏi một chút rồi hồi hướng. Là con người phải có hoài bão lớn nhưng mà thường nghe mọi người quan niệm ai thường sống thiểu dục tri túc thì dễ có đời sống bình an. Thiểu dục tri túc với hoài bão lớn đâu có gì ngược nhau đâu.
[1:26:56]Thiểu dục tri túc là mình an vui trong cái phước mình có, nhưng mà mình có cái hoài bão lớn về sự tức là làm điều lợi cho con người, về ước mơ tìm sự giác ngộ thì đâu có sao đâu. Trong khi mình đang thiểu dục tri túc, mình vẫn đang có hoài bão lớn đâu có gì đâu chống trái nhau. Mà chính những người thiểu dục tri túc là những người mới dễ có hoài bão lớn, còn những người mà sống xa hoa thì không có hoài bão lớn nổi đâu, đó vậy.
[1:27:21]Cái lòng tham muốn hiểu hết thế giới có đi ngược cái quan niệm về sống thiểu dục tri túc hay không? Cái về trí tuệ cái chỗ này cẩn thận. Ở đây mình nói cái hoài bão lớn á tức là đi tìm sự giác ngộ đó, mình hiểu hết thế giới bằng sự đắc đạo vô ngã. Lại hôm trước vậy, có một cái người Mỹ, ông này là người tín đồ Cơ Đốc giáo thì ông mới gặp những người đạo Phật ở bên Mỹ nói chuyện, thì ông mới ngạc nhiên rằng các người đạo Phật không tin có một Thượng đế tạo ra tất cả, à không tin rằng có Thượng đế tạo ra loài người. Mà chính bản thân ông cũng nghi ngờ điều đó. Ông nói mà nói Chúa tạo ra loài người ông cũng
[1:27:56]hồ nghi quá cho nên bản thân cũng không tin. Ổng tìm câu trả lời đúng hơn và muốn tìm nơi đạo Phật. Thì nghe cái người Phật tử đó nói là đệ tử của một ông thầy bên Việt Nam, ổng nói bây giờ cô hỏi giùm thầy cô giùm tui cái câu: "Where did we come from? Chúng ta đã đến từ đâu?" Thì cái cô Phật tử đó mới gởi nguyên cái bức thư của ổng về, về cho chúng tôi. Và chúng tôi trả lời, trả lời một bức thư rất là dài, trả lời xong thì ổng mới phát hiện ra là mình cũng không trả lời gì hết. Chúng tôi nói như thế này, chúng tôi nói không phải riêng con người mà bất cứ vật gì nhỏ nhặt nhất, không bao giờ chúng ta tìm thấy cái nguồn gốc ban đầu của nó.
[1:28:36]Ví dụ như bây giờ nội một cái cái ly thôi, nguồn gốc cái ly là cái gì? Là từ cát mà nấu thành cái gì phải không? Cát rồi tới công thợ, kỹ thuật nấu, đó là nguồn gốc. Rồi bây giờ cái kỹ thuật nấu đó ở đâu ra? Công thợ đâu ra? Cát lấy ở đâu? Rồi cát đó lại từ đâu mà có? Cái ông thợ đó ổng học nghề ở đâu? Cái lò đó ở đâu mà xây dựng? Chúng ta sẽ thấy không bao giờ tìm ra được cái nguồn gốc ban đầu, không bao giờ. Cho nên, khi mà tìm mỏi mệt tìm không ra thôi mình đành nói là thôi có một Thượng đế tạo ra cho nó khỏe, để mình ngừng cái sự tìm kiếm lại như là một sự an ủi, chớ cái Thượng đế không phải là câu trả lời chính xác lắm đâu.
[1:29:15]Nhưng mà mình quá mệt mỏi rồi, người xưa cũng quá mệt mỏi rồi nên đành chọn là một Thượng đế. Còn cái nguồn gốc thực sự mà nhất là sự sống con người bắt đầu từ cái kiếp nào, cái kiếp ban đầu trước khi mình luân hồi là như thế nào, thì cái này chỉ những vị thánh chứng đạo mới biết, Phật mới thấy, vị A La Hán chứng đạo nhìn ngược lại vô lượng kiếp của mình mới biết cái ban đầu nó từ đâu ra, biết rồi nói không được luôn, biết rồi nín luôn. Thành thử ra vẫn không có câu trả lời. Nhưng mà tuy nhiên chúng tôi cũng có tham vọng hôm nào cũng nói sơ sơ một chút. Lần hôm qua, hình như hôm qua cái khóa thiền chúng
[1:29:48]tôi có nói điều này một chút phải không? Nói rằng cái sự sống nó thường là mấy năm qua chúng tôi hay nói về luật nhân quả nghiệp báo, tức là cái gì đều có cái nguyên nhân của nó. Tức là nói trên khía cạnh tất nhiên, phải không? Tất nhiên là cái gì nó phải có nguyên nhân chứ không bao giờ ngẫu nhiên hết, tất nhiên. Nhưng mà thực sự cái khởi nguyên của sự sống trong vũ trụ nó có cả yếu tố ngẫu nhiên ở trong, vừa tất nhiên vừa ngẫu nhiên. Giống như một khi mà gió thổi một cái lá rơi xuống thì có những cái lá rơi vào hồ, có lá rơi dưới chân mình, có lá rơi lãng đãng qua cái sân bên nhà bên cạnh. Nó có yếu tố ngẫu nhiên ở trỏng.
[1:30:25]Cho nên, cái chuỗi dài của sự sống trong vũ trụ bắt nguồn thế nào nó gồm cả yếu tố tất nhiên và yếu tố ngẫu nhiên. Mà tại sao tất nhiên? Tại sao ngẫu nhiên? Rồi cái ngẫu nhiên đó nó đưa cái sự sống của vũ trụ nó chia chẻ ra thành vô số sự sống khác nhau để rồi lăn trôi như thế nào, biến hóa như thế nào là một điều rất phức tạp. Chính vì nó quá phức tạp, Đức Phật không muốn cho những đệ tử của mình chìm trong những tư duy đó. Hãy để họ chứng đạo rồi họ biết, vì họ được an lạc, chớ còn nếu họ mày mò họ đi tìm những điều đó hết một kiếp người vẫn chưa tìm xong như một cái môn khoa học mình không thể tìm hết được.
[1:30:58]Nên Đức Phật nói đó, khi mà mũi tên cắm vô rồi đó, hãy khoan rút mũi tên ra hãy cho biết mũi tên này làm bằng cái cây con gì đó, à lông con gì, ai bắn tui, người đó dòng tộc làm sao rồi mới cho nhổ thì Đức Phật mới nói là nghĩa là chưa trả lời xong thì người này đã chết vì cái vết thương đó rồi. Cho nên là hãy chữa bệnh cái đã rồi sẽ tìm hiểu sau và tự sẽ biết, cũng vậy. Chúng ta đến từ đâu, where did we come from, chúng ta hãy tu đắc đạo rồi sẽ biết. Mà khi mà biết được cái chỗ đầu tiên đó rồi thì mình mới phát hiện ra nó không phải là một cái gì xa xưa trong quá khứ mà nó lại là một cái chỗ không thời
[1:31:31]gian, không phải hiện tại, không phải quá khứ, không phải tương lai. Cái câu trả lời dài ngặc ổng đọc xong ổng nói đúng là hổng ai trả lời được, hổng tôn giáo nào trả lời được thực sự. Nó rắc rối như vậy. Bây giờ giải thích giúp con Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả. Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả là Bồ Tát bởi vì trí tuệ nhìn suốt nhân quả cho nên vừa làm sai biết ngay kết quả liền, mà biết rất rõ cái quả như thế nào nên đã sợ ngay từ đó. Còn chúng sinh á đợi tới chừng nào mà bị lửa cắt dao đâm á, lúc đó mới đau đớn rồi mới sợ. Chứ còn lúc mà đi hù dọa thiên hạ thì không sợ mà thấy khoái nữa.
[1:32:07]Còn Bồ Tát vừa mới trừng mắt nhìn thiên hạ một cái là biết, biết cái quả báo sao cho nên sợ, vì trí tuệ hiểu nhân quả kỹ quá, đó vậy.