[0:11]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:32]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:42]Kính lạy Đức Thế Tôn, nếu có một ngày đẹp nhất trần gian này thì đó chính là ngày Thế Tôn đản sinh vào thế giới. Nếu có một lần hạnh phúc nhất trong đời chúng con thì đó chính là ngày chúng con được quỳ dưới chân Người để nguyện lòng đi theo Người mãi mãi. Nếu có một tình thương cao cả nhất trong vũ trụ thì đó chính là lòng từ bi bao la của Người che chở chúng con. Nếu có một điều ao ước duy nhất để chọn lựa thì chúng con sẽ xin được ước rằng tất cả chúng con sẽ yêu thương nhau như lời Người dạy bảo. Nếu có một ngọn lửa phải thắp lên trong tim thì chúng con sẽ xin thắp lên ngọn lửa giải thoát giác ngộ cao siêu, vượt khỏi những điều tầm thường của nhân thế.
[1:34]Nếu có một nẻo đường thánh thiện phải bước đi thì chúng con xin bước đi trên con đường Bát Chánh Đạo để tránh xa những lối mòn sai lầm tà kiến. Nếu có một niềm tin phải kiên cường ghi khắc thì đó chính là niềm tin vào luật nhân quả công bằng mà Người đã chỉ dạy rõ ràng. Nếu có một lý tưởng mà chúng con phải đem cả cuộc đời mình để dâng hiến thì đó chính là lý tưởng Phật hoá cả thế giới này. Nếu có một bóng mát mà chúng con phải ngồi lại nghỉ ngơi giữa nắng hè gay gắt thì đó chính là bóng mát của ngôi chùa trên quê hương thân yêu. Kính lạy Đức Thế Tôn, đường luân hồi vợi vợi khổ đau, vô minh của chúng con thì sâu dày nặng trĩu.
[2:20]Nếu không có Thế Tôn xuất hiện giữa trần gian thì chúng con đang là những kẻ vừa độc ác, vừa khốn cùng, sống với nhau mà sẽ không biết thương nhau, mỗi một ngày trôi qua sẽ là thêm một ngày chất chồng tội lỗi. Thế rồi, một ngày đầu hạ nơi vườn Lâm Tỳ Ni, Người bước vào thế gian và chiếu sáng khắp thế gian này với mặt trời chân lý. Ánh sáng đó soi khắp thế gian này suốt mấy nghìn năm qua chưa hề tắt và sẽ chiếu soi mãi mãi. Có những lúc vài kẻ ác muốn đưa tay che mặt trời, nhưng ánh sáng mặt trời là bất diệt mênh mông. Hôm nay, quỳ đây giữa núi rừng thanh thoát, những đứa con của Người xin hứa rằng sẽ vượt qua tất
[3:05]cả khó khăn để chiến thắng bản thân mình, sẽ cúi xuống thật thấp để yêu quý muôn loài, sẽ chắp cánh bay đi thật xa để đem tin vui đạo lý của Người đến mọi nơi, sẽ dũng mãnh kiên cường giẫm lên sự hiểu lầm chống đối của kẻ chưa biết, sẽ đoàn kết cả loài người bằng Phật pháp nhiệm mầu để một ngày nào đó, chúng con cũng sẽ thoát khỏi thế gian phiền muộn này bằng trái tim giải thoát bao la. Nguyện Thế Tôn gia hộ cho chúng con và tất cả chúng sinh tiến bước trên đường Phật pháp. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[4:13]Kính lạy Đấng Vô Thượng, Người là cành hoa sen nơi biển đời nhân thế.
[4:30]Người là nguồn thương yêu, bao dung khắp muôn loài,
[4:40]là mặt trời ban mai đem ánh sáng cho đời, dựng lại niềm tin sâu nơi tăm tối u sầu.
[4:59]Quỳ lạy Bậc Chánh Giác, Thầy của khắp trời người,
[5:13]lòng từ bi bao la, cha lành chung bốn loài.
[5:22]Người là một đại dương mà con như
[5:32]giọt nước, Người là ngọn cao sơn mà con như hạt bụi.
[5:48]Con xin đảnh lễ Người với trọn lòng thiết tha, quy y và tôn kính.
[6:03]Xin đem trọn cuộc đời đi theo bước chân Người,
[6:13]xa lìa bờ vô minh, tìm về nơi giác ngộ.
[6:23]Xin theo trái tim Người để trải lòng thương yêu bao dung khắp muôn loài.
[6:41]Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
[7:03]Nam Mô Thích Ca Mâu Ni
[7:16]Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
[7:50]Kính lạy Đấng Vô Thượng, Người là cành hoa sen nơi biển đời nhân thế.
[8:04]Người là nguồn thương yêu, bao dung khắp muôn loài,
[8:15]là mặt trời ban mai đem ánh sáng cho đời, dựng lại niềm tin sâu nơi tăm tối u sầu.
[8:34]Quỳ lạy Bậc Chánh Giác, Thầy của khắp trời người,
[8:47]lòng từ bi bao la, cha lành chung bốn loài.
[9:00]Người là một đại dương mà con như giọt nước, Người là ngọn cao sơn mà con như hạt bụi.
[9:22]Con xin đảnh lễ Người với trọn lòng thiết tha, quy y và tôn kính.
[9:37]Xin đem trọn cuộc đời đi theo bước chân Người,
[9:47]xa lìa bờ vô minh, tìm về nơi giác ngộ.
[9:57]Xin theo trái... nghe tiếng người để trải lòng thương yêu bao dung khắp muôn loài.
[10:16]Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
[11:10]Chí tâm đảnh lễ,
[11:16]Nam mô khắp mười phương hư không tất cả chư Phật.
[11:38]Chí tâm đảnh lễ,
[11:45]Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chánh pháp.
[12:05]Chí tâm đảnh lễ,
[12:12]Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng.
[12:32]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Như thông lệ, khi bắt đầu vào lễ Phật đản, chúng ta sẽ nghe nói về cuộc đời Đức Phật, rồi sau đó chúng ta tiến hành nghi lễ dâng hoa và tụng bài sám. Xin mời quý thầy, quý cô, quý Phật tử chúng ta ngồi xuống để nghe nói về Phật đản một chút.
[13:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hai năm qua chúng ta đã kể chuyện về Đức Phật hai lần, lần này là lần thứ ba. Chúng ta sẽ kể về cái giai đoạn mà Đức Phật rời bỏ kinh thành để đi xuất gia. Giờ chúng ta nói về cái khung cảnh tôn giáo thời Đức Phật trước. Như chúng ta đã biết, Đức Phật là một con người phi thường. Ngài sống trong cảnh giàu sang vương giả, nhưng lúc nào tâm hồn cũng hướng về sự siêu thoát tột cùng. Ngài không thỏa mãn bất cứ một cái niềm vui hay một giá trị của trần gian, trong tâm lúc nào cũng khắc khoải đi tìm cái tuyệt đối. Vào cái thời đó, Ấn Độ có xuất hiện cái giai cấp Bà-la-môn,
[13:49]tức là những tu sĩ chiếm ưu thế giữ gìn về cái đạo lý, tôn giáo của quần chúng Ấn Độ. Mặc dù lúc đó Ấn Độ chia ra rất nhiều nước, xấp xỉ gần 30 quốc gia, có hai đế quốc lớn là Kosala và Magadha, nhưng mà còn rải rác rất nhiều quốc gia nhỏ nhỏ lệ thuộc vào hai đế quốc đó. Và hai đế quốc đó, Kosala và Magadha lại cũng có cái họ hàng với nhau, có kết hôn qua lại với nhau nên họ giữ cái tình bà con hiếu hòa. Vào khoảng 1500 năm trước Công nguyên, tức là trước khi Đức Phật xuất hiện khoảng 1000 năm, thì tại xứ sở Ấn Độ đã lưu truyền kinh điển Vệ-đà. Rồi khoảng 200 năm trước khi Đức Phật xuất hiện, thì tại Ấn Độ lại xuất hiện cái kinh điển là Upanishad.
[14:43]Thì những cái bài kinh trong Vệ-đà, chữ Vệ-đà có nghĩa là trí tuệ, chữ Upanishad có nghĩa là ngồi nói với nhau. Thì trong Vệ-đà đó là những bài thơ, những bài hát về những câu chuyện thần thoại. Đầu tiên chỉ là như vậy, nghĩa là người ta kể chuyện thần tiên bằng những bài thơ, bằng những bài hát có điệu có vần ngâm nga. Nhưng rồi qua nhiều thời gian, có nhiều thời gian bắt đầu những bài hát, những bài ca đó biến thành những câu thần chú linh thiêng, chứ thuở ban đầu nó chỉ là những câu chuyện thần thoại. Những câu chuyện thần thoại kể về những vị thần ở trên trời, ví dụ như thần Indra là thần sấm sét,
[15:31]đó là thần chủ tể, thần chiến thắng, thần tạo ra tất cả. Rồi có lại thần Varuna, thần Mitra, và cuối cùng là thần lửa Agni. Thì chính cái thần lửa Agni này giống như hình một con rắn mà uốn khúc, đã tạo nên một cái tôn giáo thờ lửa lan truyền cả Ấn Độ và lan sang tới Ba Tư là cái câu chuyện về thần lửa Agni này. Rồi những cái bài đó không biết do nhiều cái thi nhân nối tiếp nhau soạn ra mà nghe hấp dẫn và linh thiêng trong cái thời cổ đại như thế, nên nhiều người có cái niềm tin về thần thánh. Và cái niềm tin đó làm cho họ cảm thấy là họ phải có cái nghi lễ, có cái sự kính trọng, có những cái nghi thức để cái trình bày
[16:18]những bài hát đó, và lần lần những cái bài thơ bài hát biến thành cái thần chú. Biến thành thần chú thì mục tiêu của người tụng thần chú là thế này: thứ nhất là cầu xin thần thánh che chở phù hộ cho mình được mọi điều tốt đẹp, may mắn trong cuộc sống. Và cái lời cầu xin của họ thì hoàn toàn không một chút ngượng ngùng, ví dụ như là họ cầu xin cho họ được giàu sang, họ được may mắn, và họ chấp nhận bao nhiêu cái lời phải nói dùng chữ nịnh, tức là trong những bài kinh xưa là hoàn toàn nịnh thần thánh một cách trơ tráo luôn, không cần kể gì hết, không có một chút công bằng. Tức là không đòi hỏi mình phải có một cái cống hiến gì
[17:03]cho cuộc đời để được thần linh thưởng lại, chỉ cần ca ngợi, tôn vinh thôi là sẽ được thần linh ban thưởng.
[17:15]Thì lúc đó do là những bài hát đó cần phải được tụng niệm một cách chuyên môn, cho nên xuất hiện một cái giai cấp là giai cấp tế sư. Tế sư là những người chuyên môn cúng tế, phải rất là chuyên môn để họ tụng họ đọc những bài đó thật là hoàn chỉnh. Vì ngôn ngữ lần lần nó trở nên khó hiểu với bình dân, chỉ có những người được học chuyên môn mới có thể hiểu được và phải ngâm những cái câu kệ đó lên đúng vần đúng điệu, nghỉ chỗ nào, dừng chỗ nào chính xác. Cho nên là phải là những người được học cả bao nhiêu năm, ít nhất 12 năm trời họ mới có thể là đọc tụng những bài kinh đó thành thạo. Và tạo thành một cái giai cấp là giai cấp tế sư của Bà-la-môn.
[18:00]Thì những người đó họ cũng được quyền có vợ có con. Những người con cái họ sinh ra thì lại
[18:08]trở thành nghĩa là dòng dõi của Bà-la-môn. Tuy nhiên dòng dõi Bà-la-môn không phải là ai cũng trở thành tế sư, họ chỉ được kính trọng vì họ được đẻ ra bởi những người cha là tế sư thôi, chứ còn không phải ai cũng theo cái nghề đó được. Mà người nào mà theo cái nghề tế sư Bà-la-môn phải luyện tập dữ dội, khắc khổ lắm, phải rèn luyện phải kiềm chế nên cũng được kính trọng lắm. Tức là họ phải bện những cái búi tóc theo đúng cái quy cách bao nhiêu lọn, mấy lọn vắt bên phải, mấy lọn vắt bên trái, trên đỉnh đầu có mấy lọn, xõa xuống mấy lọn, đúng quy cách. Rồi họ phải tiết dục, họ phải ăn chay, họ phải cầu nguyện, họ phải giữ mình thanh tịnh để trở
[18:46]thành một tế sư, và chính vì vậy nên họ được mọi người kính trọng. Và những lời mà họ tụng kinh Vệ-đà đó là coi như là được thông thấu đến thần linh, nên nếu ai có chuyện gì cần để họ cúng thì phải có cái cái sự đáp lễ, bây giờ ta gọi là cúng dường. Nhưng mà rồi lần lần, lần lần là khiến cái giai cấp đó trở nên kiêu ngạo, trở nên kiêu ngạo. Là xuất hiện lác đác trong những kinh của Bà-la-môn có nói câu thế này, là: Thần thánh còn phải nhờ tới tế sư. Tức là chính nhờ tế sư mà thần thánh mới được có những buổi lễ dâng cúng, chứ nếu không có tế sư thần thánh cũng bị bỏ đói luôn, cái ý họ kiêu ngạo như vậy.
[19:29]Rồi tại sao mà tế sư quan trọng dữ vậy, là chỉ bởi vì là những câu thần chú đó quá hay, quá quan trọng, nên trong kinh Vệ-đà có để lại những cái câu rất là kỳ quặc, nói là: Thần chú cao hơn tất cả mọi điều. Tức là thần chú còn cao hơn cả thần thánh nữa, lạ lùng như vậy. Nên ai mà tụng thần chú thì coi như là được mọi điều như mình mong muốn, nghĩa là càng ngày càng đi đến chỗ quá quắt, con người ta đi đến chỗ kiêu ngạo vượt hơn tất cả. Và như vậy khiến cho xuất hiện một cái sự phản kháng trong lòng nhiều người, nhất là những người họ có hiểu biết, họ cảm thấy là những cái điều mà tế sư Bà-la-môn tự cho
[20:08]mình là cao siêu, đòi hỏi sự cúng lễ, vân vân nó quá đáng, nên có nhiều người đã nổi dậy và phản kháng, nên xuất hiện nhiều cái giáo phái vào thời Đức Phật mà đọc trong kinh chúng ta vẫn còn thấy. Thì Đức Phật lúc mà ngài còn là Thái tử, ngài được vua cha mời các vị thầy về dạy hết mọi điều trong cuộc đời để chuẩn bị cho ngài kế thừa ngai vàng. Và không phải là chỉ kế thừa ngai vàng của tiểu quốc Sakya mà vua Tịnh Phạn còn có một cái tham vọng lớn hơn nhiều, là con mình phải làm bá chủ toàn cõi Ấn Độ. Bởi vì ông là một vị vua, ông đi đây đi kia nhiều, cái kiến thức ông rất là rộng. Ông đã từng gặp những vị vua ở bên Kosala,
[20:50]gặp những vị vua ở Ma Kiệt Đà và gặp vua ở những tiểu quốc. Thì giỏi thì ai cũng giỏi, tướng mạo là uy nghi đường bệ thì ai cũng uy nghi đường bệ, ông nhìn ông thấy. Nhưng mà để có một người mà siêu việt như con trai ông thì chưa hề có. Tức là những cái vua của đế quốc Kosala ông đã gặp rồi, tại ông cũng phải đi sang thăm viếng ngoại giao; vua của đế quốc Ma Kiệt Đà ông gặp rồi; còn vua những tiểu quốc Malla, Koliya mà bạn bè gần kế bên thì ông cũng đã đến thăm họ hoặc là họ cũng đã đến thăm ông, thì dưới con mắt của ông, chẳng người nào nói bằng ông cũng chưa bằng chứ đừng nói là bằng con trai ông.
[21:27]Mà ông có một người con trai quá siêu việt, nghĩa là nói về thân tướng cao hơn tất cả mọi người, giống như một người khổng lồ vào thời đó, ngài đứng lên là sừng sững lên, nổi bật trước mọi người vì Thái tử rất là cao lớn. Nói về vẻ đẹp thì trên cuộc đời này chưa có người thứ hai đẹp bằng con trai ông. Và nói về cái đức độ, cái điềm đạm, cái sự mà thu phục được mọi người thì chỉ bằng một cái nhìn đầu tiên là người ta chỉ muốn quỳ sụp xuống Thái tử thì không có vị vua nào được. Những vị vua khác người ta gặp người ta quỳ xuống tung hô bởi vì nghi thức, vì bắt buộc. Còn con trai ông, nghĩa là người đi bên đường người dân thấy là tự động
[22:03]quỳ xuống, nghĩa là cái uy đức mà cảm hóa lòng người kỳ lạ như vậy. Và chưa nói tới trí tuệ, tài năng. Trí tuệ của con trai ông thì nghĩa là châu biến khắp cả thiên hạ, không chuyện gì không biết. Mà nói về võ thuật, chiến lược mà để chiến đấu nếu cần cầm một cánh quân đi đánh thì ông nói: "Bảo đảm dưới gầm trời này không ai đánh lại con trai ông". Là con người siêu việt vì ổng chính vua dạy võ vua biết mà. Vua Tịnh Phạn cũng là một võ sư, nghĩa là vua dạy những bí quyết, cái khí công cho con mình, mời nhiều võ sư lại dạy. Nhưng mà con ông chỉ học một thời gian thôi thì không còn ông thầy nào đánh lại, nên ông biết là dưới gầm trời này con trai ông là vô địch,
[22:40]xứng đáng để thâu tóm toàn cõi Ấn Độ này thành một đế quốc. Nên cái cái ấp ủ, cái hoài vọng của vua Tịnh Phạn rất là lớn, đặt lên Thái tử Siddhartha. Chính vì cái tham vọng quá lớn đó mà ông cương quyết níu chân Thái tử không cho đi xuất gia. Đó ta thấy cái khó của Thái tử không cho đi xuất gia chỉ bởi vì cái kỳ vọng mà ông đặt nơi Thái tử quá khủng khiếp, quá khủng khiếp. Thì vua cha kỳ gì đó kỳ, muốn gì đó muốn, Thái tử lặng lẽ trong tâm mình nuôi dưỡng một con đường riêng. Ngài không ham muốn bất cứ điều gì của thế gian này. Ngài không ham muốn dù là ngài biết quần thần ai cũng nể phục ngài, nhưng mà ngài lặng lẽ mỉm cười và lánh xa mọi sự
[23:24]hơn thua tranh giành quyền lực cứ lẩn quẩn trong triều đình. Trong triều đình cứ người này tranh người kia, người kia ghìm người nọ, chỉ có ngài mỉm cười lánh xa những điều đó, ngài không cần. Mà ngài cứ âm thầm hay nghiên cứu về tôn giáo và thích nói chuyện với những vị tế sư Bà-la-môn cũng như gặp những cái du sĩ, những cái tu sĩ, những đạo sĩ của các giáo phái khác. Thì vào thời đó chúng ta thấy có những cái khuynh hướng về tư tưởng đạo giáo xuất hiện như thế này: Thứ nhất á là từ cái Vệ Đà chỉ là những cái chuyện thần thoại nhiều khi giống như hoang đường thì xuất hiện cái Upanishad là một bước tiến cực kỳ vượt bực của triết học Ấn Độ.
[24:04]Lúc đó Upanishad không còn là những chuyện thần thoại hoang đường nữa mà đã có tính triết học rất là cao, mà trong đó đề cao một cái gọi là siêu ngã. Cái siêu ngã của Upanishad rất giống với trong đạo Phật ta nói về chân tâm Phật tánh, rất giống như vậy. Ở trong đó thì cái Brahman á như là một bản ngã, mà cũng như là một siêu ngã, mà cũng như là một linh hồn. Chính vì cái chữ Brahman hay chữ Atman nó vừa là có nghĩa như linh hồn, vừa có nghĩa như bản ngã, vừa có nghĩa như siêu ngã, cho nên khi mà ta nói về cái chữ Atman hay Brahman á ta bị lẫn lộn, ta bị lẫn lộn. Ví dụ nói là Đức Phật bác bản ngã
[24:41]thì chúng ta cứ tưởng là Đức Phật bác luôn cái thần thức linh hồn. Không có, hai cái nó khác nhau, mà bị cái từ của Ấn Độ ngày xưa những cái đó nó cứ lẫn qua lẫn lại, cái nghĩa nó không rõ ràng như là ta ngày nay. Như ngày nay ta có hai chữ tách bạch rõ ràng: một chữ bản ngã rất là trừu tượng hay chữ siêu ngã, chân ngã rất là trừu tượng, còn một chữ linh hồn rất là cụ thể. Linh hồn là mình sống sao mình chết có linh hồn có hình thức khá giống cái xác của mình, mà ta gọi là thần thức hay là thân trung ấm, chính lẫn qua lẫn lại. Cho nên ngay trong đạo Phật bây giờ là chúng ta cũng bị lẫn điều đó, nhất là các vị sư Nam tông
[25:13]á, hễ nói bác bản ngã, các sư cứ nghĩ bác luôn linh hồn, thật sự không phải. Có bên bên Bắc tông á, bên Bắc tông thì tách hai đó ra, là thần thức riêng, trung ấm riêng và cái bản ngã riêng, rõ ràng. Thì cái một cái nhóm giáo phái là không chấp nhận Vệ Đà nhưng mà lại tôn thờ cái Upanishad, là tôn thờ cái siêu ngã. Và chấp nhận có nghiệp báo, nghĩa là có nhân có quả, ai gieo nhân đời trước sẽ gặt quả đời sau, nghĩa là triết Upanishad là bước tiến rất là xa và đến rất gần với đạo Phật. Và có một cái giáo phái nữa là giáo phái duy vật luận, giáo phái rất là giống cái chủ nghĩa duy vật ngày nay. Giáo phái đó cho rằng là không có gì tồn tại sau
[25:59]khi chết, con người chỉ là tứ đại, không có linh hồn, không có tâm linh, không có gì hết trơn. Và họ có làm bài thơ để châm biếm, họ cái châm biếm thế này họ nói rằng, nghĩa là: "Từ bỏ cái thế gian này để mà mơ ước chuyện xa xôi thần thánh thì chúng ta biết rằng đó là chuyện điên khùng của chúng sinh". Tức là cho rằng những người nào mà bỏ cái thế gian thực tế này để đi tìm cái xa xôi, là huyền hoặc là những kẻ điên khùng. Họ có một bài thơ nổi tiếng và họ cứ truyền miệng nhau câu đó, nên sau này hễ mà gặp ai mở miệng nói về thần thánh, nói về siêu ngã, nói kiếp trước kiếp sau, họ họ cười phì vô mặt.
[26:38]Và cái chủ trương của họ là sống trên đời cứ hưởng thụ. Sống trên đời cứ hưởng thụ, hưởng cho hết cuộc đời rồi chết nào chết chết, vì chết xong là về với cát bụi. Có một phái duy vật luận như vậy. Rồi có một cái giáo phái nữa là giáo phái khổ hạnh. Giáo phái khổ hạnh này thì họ cho rằng như là tối hôm qua chúng ta nói, là con người ta đời trước tạo ác nghiệp nên đời này phải chịu khổ. Và thay vì đợi quả báo nó đến nó đày cho mình khổ thì mình tự đày đọa mình trước. Khi mình tự đày đọa mình trước như vậy thì nghiệp báo nó bị hết và hết thì mình được giải thoát. Cái đơn giản lý luận như vậy. Và Phật cực lực bác cái giáo phái này.
[27:15]Chính Phật đã từng đi qua khổ hạnh là khủng khiếp và ngài cũng từ chối luôn vì ngài biết lý luận đó sai lầm, mà ngài cũng đi hết gần sáu năm trời. Tuy nhiên chúng ta đừng coi thường những nhà khổ hạnh, vì cái ý chí của họ phi thường. Mà nếu không có định lực, không ai khổ hạnh được hết. Chúng ta nghe những cái khổ hạnh của họ chúng ta sợ luôn. Ví dụ như họ đứng bất động giữa trưa nắng, họ ngồi bất động giữa trưa nắng thì không có định không ai chịu nổi cái nắng cháy người gục liền, nhưng họ nhiếp trong định rồi họ đứng bất động ở đó luôn. Rồi chúng ta tưởng là họ tự đày đọa, không có đâu, họ đang an trú trong định, nên cái giới khổ hạnh dễ sợ lắm.
[27:51]Hoặc là có người ngâm mình dưới nước, ngâm mình họ nhập định họ đứng chịu đựng, đứng bất động dưới nước. Hoặc là có người khổ sở là bò la bò lết như một con chó để làm cái khổ hạnh tự mình trả cái nghiệp súc sinh, nói vì tôi đời trước tôi có ác nghiệp nên tôi phải đọa súc sanh, thôi bây giờ tôi tự làm súc sanh trước thì sau này tôi không đọa nữa nên họ sống như một con chó, hoặc họ sống như một con bò. Rồi nhiều cái khổ hạnh khốc liệt, rồi có người cứ đứng giơ một cánh tay lên trời thế này thôi và không nhúc nhích, không thả tay xuống mà không mỏi thì ta phải biết cái sức định họ phi thường, không phải đơn giản.
[28:25]Nên những nhà khổ hạnh thời đó được kính trọng bởi vì họ có thần thông. Những nhà khổ hạnh mà khi họ khổ hạnh được những cái điều đó họ đều có thần thông hết trơn. Họ có thể biết được kiếp trước kiếp sau, biết được chuyện quá khứ vị lai và họ có một số thần thông thậm chí chữa bệnh được người khác. Nhưng mà đi vô gặp họ thì hơi khó tại họ hay lõa thể, họ khổ hạnh rồi họ không thèm mặc quần áo. Thật ra chính Đức Phật ta có một thời gian tu khổ hạnh ngài cũng không mặc quần áo ở trong rừng chứ không phải là không, vì lúc đó họ cho như vậy mới là khổ, còn nếu mà còn mặc quần áo thì vẫn còn sung sướng, lúc đó họ đày đọa như vậy.
[28:57]Và một cái phái khác, nói là một phái khác chứ đây là một nhóm nhiều phái là nhóm khất sĩ, nhóm khất sĩ là samana mà ta hay gọi là sa-môn á. Thì cái những người này họ ôm bình bát đi khất thực và họ đủ loại trường phái, đủ loại tư tưởng hết trơn. Nên cái nhóm du sĩ khất thực này nè mới là làm cho cái phong phú cái triết học Ấn Độ. Là những người này họ ôm bình bát đi ăn, bình bát cơm ngàn nhà, gặp đâu xin đó và ai cho gì ăn nấy, và bàn đủ thứ chuyện triết học, đủ thứ chuyện đạo lý trên đời. Họ nhiều phái như vậy rất là tạp, mà không ngờ sau này chính Đức Phật của ta cũng chọn cái hình thức này để tu, cũng chọn hình thức là khất thực.
[29:34]Tuy nhiên cái giáo lý thì ngài thống nhất lại một con đường của Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, nhưng mà về cái hình thức về đời sống thì ngài cũng chọn cái đời sống của khất thực, của các vị khất sĩ sa-môn này. Về sau này những năm cuối đời của Đức Phật, thì trong kinh mà Đức Phật dùng cái chữ sa-môn là chỉ hoàn toàn ám chỉ cho đệ tử Phật, chứ còn trước thời Đức Phật hoặc là Đức Phật mới xuất hiện thì chữ sa-môn là ám chỉ cho cả một cái hệ thống khất sĩ rất là đông, nhiều giáo phái chứ không riêng là trong đạo Phật. Thì Thái tử lúc đó đều có tiếp xúc với tất cả các nhóm hết. Như là khi mà gặp các triết học, cái nhóm siêu ngã
[30:12]nói cho tin rằng bên trong mình có một cái bản ngã cao siêu, giống như hiện nay rất giống với Phật tính chân tâm á. Thì Ngài bẻ vài câu rồi gãy liền, thua liền. Nên Ngài thấy cái siêu ngã này nói siêu gì siêu vẫn còn bản ngã. Và khi vẫn còn bản ngã thì vẫn chưa giải thoát, nên Ngài từ chối cái Upanishad. Ngài chỉ chấp nhận cái luân hồi nghiệp báo, Ngài nói cái đó công bằng, cái đó là đúng. Nghĩa là đúng phải có nhân có quả, chứ còn cái siêu ngã là Ngài không chấp nhận. Nhưng mà Ngài nói hễ siêu ngã hay chân ngã gì cũng là bản ngã, mà hễ còn bản ngã thì không thể giải thoát. Rồi còn cái duy vật thì Ngài cũng không chấp nhận,
[30:48]bởi vì Ngài nói là cái đời sống của vũ trụ mênh mông, mắt mình không thấy, nhưng mà không thể là chỉ có cái mà mắt thấy tai nghe mới là sự thật. Vì khi mà tiến lên cao siêu hơn thì có những điều mắt không thấy, tai không nghe, nhưng mà nó vẫn tồn tại. Giống như khoa học ta ngày nay càng lúc càng tiến bộ là ta đi vào những cái không thấy, không nghe: những tia sáng không thấy, những sóng điện từ không thấy, những thiết bị không thấy, vân vân là những cái đang chi phối ta hằng ngày, hằng giờ. Ví dụ như bây giờ ai cũng biết xài điện thoại di động thì không ai thấy sóng hết, nhưng mà đúng là cả thế giới ngày nay mà mất
[31:22]cái sóng điện thoại di động là khóc lên liền, phải không? Là không còn làm ăn, không còn buôn bán, không còn liên lạc gì nhau được nữa. Đó, thì chính cái đó cái vô hình. Nên Đức Phật vậy, có nhiều cái vô hình mắt không thấy, tai không nghe, nhưng nó thực sự tồn tại. Đó, nên Ngài cũng không chấp nhận cái duy vật luận. Rồi qua tới khổ hạnh thì Ngài có vẻ tin. Ban đầu là Ngài có vẻ tin cái khổ hạnh, vì sự thật lúc đó có nhiều nhà khổ hạnh rất là phi thường. Nghĩa là họ đứng một chân, trồng cây chuối hoặc là đứng lộn đầu chổng chân lên trời, đầu dưới đất hoặc là đứng giơ một tay, vân vân hoặc là treo ngược trên cành cây.
[31:55]Và và họ đứng bất động nhiều ngày, họ nhập định nhiều ngày và họ có thần thông. Cho nên làm có những lúc cảm giác Thái tử thấy dường như đây là cái con đường mà có thể đi tìm được sự giải thoát cao siêu chứ không phải không. Đó, có lúc như vậy. Còn tiếp xúc với các nhóm khất sĩ, Ngài nói chuyện thì Ngài thấy là họ lung tung quá, người có khi nói gần đúng, có khi nói sai. Mỗi người cứ chấp ý của mình rồi đi lang thang tứ tung hết trơn. Mà trong đời giáo hóa Đức Phật cũng gặp nhiều vị khất sĩ như vậy tiếp tục chứ không phải là không. Thì bây giờ tới giai đoạn mà Phật quyết định phải xuất gia, năm đó là Phật 29 tuổi là năm 534 trước Công nguyên, đó là năm Đức Phật xuất gia.
[32:34]Thì lúc đó trong nhiều lần giữa cha con nói chuyện với nhau, thì vua Tịnh Phạn đều hay nói về vấn đề trị nước và nói rõ ràng là cái tình hình các quốc gia lân bang. Vua Tịnh Phạn đều phân tích cho con mình biết là quốc gia Malla là thế nào, quốc gia Koliya thế nào, những quốc gia Uruvela như thế nào, rồi quốc gia nghĩa là Kosala, Magadha, mỗi quốc gia ưu khuyết điểm, khuyết điểm từng cái từng cái như thế nào. Chỉ có phía bắc là núi Hy Mã Lạp Sơn là vua Tịnh Phạn không nói tới, tại khu vực đó nó nó nó lạnh khiếp mà chỉ là núi đá, tuyết phủ quanh năm nên vua không nói tới và cũng chẳng có ai ở, chỉ có vài bộ tộc nào đó ở.
[33:14]Nhưng mà còn ở phía tây, phía đông và phía nam thì tràn ngập những cái khu vực có thể sinh sống và nhiều quốc gia. Và vua cha, vua Tịnh Phạn đã cho thám tử đi thăm dò hết. Ngài đã chuẩn bị tung thám tử đi hết thì Ngài hay nói phân tích cho con mình biết những cái chuyện cơ mật là quốc gia đó đặc điểm thế nào, khuyết điểm chỗ nào, phân tích hết để ngầm cho con mình biết sau này là nếu muốn thôn tính quốc gia đó mình phải đánh như thế nào. Thì nghĩa là vua cha nói đã đời Thái tử mới nói: "Thưa cha, dù ta có chiếm được năm châu bốn biển rồi ta cũng phải chết." Vua cha nói: "Ta để lại cho con cháu ta." Thái tử nói:
[33:49]"Con cháu ta cũng phải chết. Không có sự bất tử. Con muốn đi tìm cái bất tử, cái gì mà thời gian không làm suy tàn, không làm hư hao, không làm biến mất nó. Con muốn đi tìm cái đó. Còn những cái quyền lực, danh vọng thế gian này thật là phù du." Nghĩa là có những lúc mà Thái tử đã cứng rắn cãi lại cha mình làm vua Tịnh Phạn rất là tức giận, vua rất là phiền. Cưng con thì không dám tại vua kính trọng Thái tử dữ lắm, không dám nói nặng nhưng mà rất là buồn phiền vì con mình đã không đi theo cái ý của mình. Nhưng mà vua cha nói thẳng là nói: "Ngai vàng này phải có người kế vị, con không được đi tu." Có một lần Thái tử đã hỏi vua cha:
[34:28]"Nhưng nếu con có một đứa con?" Thì lúc vua Tịnh Phạn im lặng, vua không có biết cách nào để nói, tại vì mục tiêu chỉ là giữ kế vị ngai vàng. Nhưng mà thấy vua cha quyết liệt quá nên Thái tử buộc lòng phải để lại một đứa con để cho nghĩa là vua Tịnh Phạn không còn cái đường để cản mình nữa, thì cái niềm hy vọng sẽ đặt qua đứa cháu nội thì Ngài sẽ được tự do đi xuất gia. Nên Ngài để lại một đứa con và đó là năm 534 trước Công nguyên. Thì đây cũng là một cái lời giáo huấn của Đức Phật là nếu cái việc mà chúng ta xuất gia tu hành, mà nếu gia đình ta quá bất an thì ta tu không được. Nên Đức Phật đã để lại một đứa con để cho vua cha không bị bức xúc quá độ.
[35:09]Vì nếu mà Ngài mà xuất gia, mà vua cha thì cái kỳ vọng phải nói là tham vọng quá lớn thì vua cha có thể nghĩa là phát bệnh, nghĩa là thổ huyết mà chết liền. Thì như vậy coi như là việc tu của Ngài không chính đáng. Bởi vì nếu mà vua cha đừng có cái kỳ vọng, đừng tham vọng, nhẹ nhàng quá, dám Ngài bỏ Ngài đi luôn, Ngài không cần. Nhưng mà bởi vì Ngài đọc được cái tâm của vua cha là cái tham vọng lớn quá, mà nếu bây giờ Ngài bỏ đi không ai kế vị ngai vàng thì cái tham vọng đó mà nó mà nó bị hụt hẫng một cái có thể vua cha thổ huyết chết liền. Biết vì như vậy nên là Ngài đã làm cho vua cha an tâm để lại một đứa con để ra đi.
[35:45]Đó là lý do có La Hầu La. Và cũng là một lời giáo huấn: khi ai muốn xuất gia phải cân nhắc cái hoàn cảnh gia đình mình là như vậy, đừng để gia đình mình bức xúc quá. Thì ngay khi mà công nương Yasodhara, ta gọi là Da Du Đà La đó, hạ sinh thì chính đêm đó Thái tử ra đi luôn. Phải nói cái hoàn cảnh rất là khắc nghiệt. Ngài chờ cái giây phút mẹ tròn con vuông, Ngài chỉ thoáng nhìn mặt đứa con mình, tin báo về cho vua cha vui mừng à và vua cha bởi vì là cái nghi lễ thời đó nên vua cha không thể tới thăm cái người con dâu liền, phải đợi qua ngày hôm sau, tức là lúc mà vua Tịnh Phạn chưa nhìn mặt đứa cháu nội thì đúng đêm đó Thái tử vượt thành ra đi.
[36:30]Vượt thành ra đi. Bởi vì đó là cái chí nguyện của Ngài. Ngài có lý do để đặt cái kỳ vọng của vua cha, cái tình thương của vua cha hướng vào đứa cháu nội, Ngài bước ra đi liền. Đây là điều rất là đặc biệt. Còn cái chuyện mà truyền thuyết mà Ngài đi bốn cửa thành là chuyện của Phật Tỳ Bà Thi quá khứ, không phải chuyện của Đức Phật Thích Ca. Lúc đó Ngài mới gọi cái người chăn ngựa của Ngài là Xa Nặc, dắt cái con ngựa Kiền Trắc, Kanthaka, để mà vượt thành trong đêm. Thì Ngài đi dĩ nhiên là Ngài cũng còn mặc nguyên cái cái cái trang phục của mình, vòng vàng đeo đầy hết, quần áo rất là sang trọng và
[37:02]có một cái lưỡi gươm bén đi theo của một người võ sĩ Sát-đế-lợi. Ngài lay Xa Nặc dậy nói: "Xa Nặc, hãy đưa ta đi." Xa Nặc: "Ủa, giờ này mà Thái tử đi đâu?" Lúc mà trời còn đang tối:
[37:16]"Trời tối nhân gian mờ mịt quá, giờ này Thái tử định đi đâu? Chính vì trời tối nên ta phải đi để tìm ra ánh nhiệm mầu." Chúng ta nhớ mấy câu thơ đó không? Thơ trong Ánh Đạo Vàng của bác Võ Đình Cường. Bốn câu thơ thật là tuyệt vời: "Trời tối nhân gian mờ mịt quá, giờ này Thái tử định đi đâu? Chính vì trời tối nên ta phải đi để tìm ra ánh nhiệm mầu." Phải nói khóc được. Thì con ngựa Kiền Trắc là con ngựa như thế nào? Đó là một con ngựa mà năm Thái tử 15 tuổi có một người đem đến dâng cho Thái tử. Thực ra là họ cũng không dâng Thái tử đâu, họ dâng vua Tịnh Phạn. Vì khi mà cái con ngựa mẹ đẻ ra cái con ngựa con,
[38:00]một con ngựa tuấn mã nghĩa là nhìn cái tướng, những người mà họ nuôi ngựa họ biết nhìn tướng ngựa, họ nhìn lông, nhìn tai, nhìn mắt, nhìn trán, nhìn cái cái cặp đùi và nhìn cái móng thì họ biết đây là loại tuấn mã phi thường. Thì lúc mà nó lớn lên một cái thì đừng có hòng ai leo lên lưng nó cưỡi, kể cả chủ nuôi của nó. Leo lên hất một cái văng ra liền, không một người nào cưỡi được. Nó sống bình thường, đừng ai leo lên lưng, con ngựa Kiền Trắc đó. Thì thấy con ngựa mà nó lớn sừng sững phi thường, nó lớn gấp đôi những con ngựa thường, cao mà người đứng với tay không tới, không tới cái lưng nó đó.
[38:32]Nên chỉ có những người mà biết võ phóng người lên, phóng một cái thứ nhất là dặm lên cái cái cái bàn đạp rồi đạp một cái nữa mới mới mới leo lên ngồi nó được thôi. Chỉ có trừ Thái tử là phắt một cái lên nhẹ nhàng thôi, chứ còn không có ai mà nó cho leo lên lưng mà nó cao với tay không tới. Lúc đó để lập công mà thấy nó không thể đi theo ai, con ngựa nó bán không đi theo ai, mà không ai cưỡi, cái cuối cùng cái người chủ ngựa mới đem đến hiến cho vua Tịnh Phạn. Thì khi đến vua Tịnh Phạn rất là mừng. Vua Tịnh Phạn cưỡi nó cũng không cho luôn. Nghĩa là Vua Tịnh Phạn là người cực kỳ giỏi võ nha. Bước lại gần nó nó nghĩa là Vua Tịnh Phạn mà phóng lên
[39:07]thì nó nhảy qua chỗ khác, vua rớt xuống đất lại. Mà chụp yên cương nó là nó hất ra liền, mà chỉ có kêu Thái tử tới thì nó đứng ngoan ngoãn cho Thái tử leo lên. Vua Tịnh Phạn mới ngạc nhiên. Vua Tịnh Phạn mới nhớ một điều là xưa nay tất cả những mà vị quốc vương mà chinh đông chinh tây, đánh thắng trăm trận trăm thắng đều có một con tuấn mã đến với mình. Đó là cái điềm lành, và chính vì vậy mà vua càng nuôi cái hy vọng con mình sẽ là bá chủ thế giới. Chính vì cái con ngựa Kiền Trắc nó còn thêm một cái ý tưởng đó nữa, con ngựa quá phi thường. Thế là Thái tử được là hiến luôn cái con ngựa đó. Vua thưởng rất nhiều vàng cho cái người chủ ngựa đi về,
[39:44]và Thái tử làm bạn với con ngựa đó trong nhiều năm trời, đi đâu cũng rong ruổi rong ruổi và giao cho Xa Nặc để mà mà giữ ngựa. Thì có những khi nào mà có Thái tử ngồi á, mà Thái tử cho phép thì Xa Nặc mới được nhảy lên lưng phía sau nếu mà đi một đoạn đường dài. Luật thì người người tớ không được ngồi chung ngựa với chủ, nhưng mà vì Thái tử lòng rất nhân từ, có những đoạn khi Ngài đi xa mà không thể để Xa Nặc mà đi bộ hoặc là đi chậm, Ngài cho Xa Nặc ngồi sau lưng Ngài, thì con ngựa đó mới cho. Nghĩa là Thái tử cho thì nó mới cho, còn không thì đừng hòng ai leo lên nó cỡi. Và cái truyền thuyết về con ngựa Kiền Trắc rất là lạ,
[40:19]thật ra đó chính là một vị thiên tử, một vị thiên tử hóa thân. Thì trong cái cuộc đời mà khi Đức Phật Ngài từ trên cung trời Đâu Suất Ngài đi xuống vào loài người để hiện thân mà xuất gia tu hành thành Phật, thì có một vị thiên tử phát đại nguyện sẽ làm cái con ngựa đưa Ngài đi vào cái đêm xuất gia. Xuất hiện tại vì cái thời đó như vậy, nên là cái vị thiên tử đó sinh vào loài ngựa để trở thành con ngựa Kiền Trắc mà làm thành cái bản hoài của mình. Sau khi đưa Thái tử vượt bao nhiêu đoạn đường, vượt bao nhiêu con sông để xuất gia xong, thì đưa Xa Nặc trở về mà trả quần áo và trang phục rồi thì con ngựa Kiền Trắc
[40:59]đó biến mất luôn, vượt khỏi kinh thành, đi về Núi Tuyết và biến mất. Thật ra đi nó chết để đầu thai trở lại làm một vị sa môn, sau này xuất gia đắc đạo với Phật. Con ngựa Kiền Trắc đặc biệt như vậy, không phải ngựa thường. Khi mà lay Xa Nặc dậy thì cửa cung điện đã đóng rồi, không cho ai đi qua hết. Nhưng mà tự nhiên Đức Phật có một cái niềm tin, Thái tử lúc đó có cái niềm tin đã tới lúc rồi. Thắng yên cương xong, Ngài phóng lên lưng, Ngài kêu: "Xa Nặc, em lên đi." Cái Xa Nặc Ngài nắm tay, nhấc nhẹ một cái là Xa Nặc bay bổng người lên ngồi phía sau Ngài. Và Ngài vỗ nhẹ con ngựa, nói: "Đừng kêu." Con ngựa biết ý, thế là thầy trò phóng ngựa bay đi.
[41:36]Lúc đó đây là truyền thuyết mà có lẽ cũng là sự thật, thì thiên thần, chư thiên dùng thần lực của mình mở cánh cửa ra. Cánh cửa gỗ dày mà khi mở ra đó nó nghe vang cái tiếng động cót két cót két mà vang cả thành đều nghe. Nhưng mà lạ lùng là chỉ trong đêm đó cánh cửa mở ra không một tiếng động. Thái tử bay ra khỏi cửa rồi thì cánh cửa khép lại, gài đúng như cũ lại. Và trong đêm đó thầy trò vượt qua ba cái lãnh thổ ở phía đông nam, đi qua ba cái xứ của ba quốc vương cai trị luôn, trong một đêm đó thôi. Tại vì đây là lúc mà con ngựa Kiền Trắc nó thực hiện cái lời đại nguyện của mình từ ở trên cõi trời, là đưa Phật đi xuất gia trong đêm.
[42:18]Nên chỉ trong một đêm đó thôi, con ngựa đó bay như gió, bay vù vù vù vù, vượt qua ba lãnh thổ luôn, của ba quốc vương cai trị luôn, và không ai có thể cản đường được. Con ngựa đó đi như lướt trên ngọn cỏ, đi như lướt trên ngọn cỏ, bay vù vù vù, qua sông qua suối. Những con sông suối thường thường là bay vù vù vù bay qua hết, và có những lúc có cảm giác như những cái những cái lòng sông mà nó lướt trên mặt nước để vượt qua bên kia bờ luôn. Đó là lúc mà con ngựa Kiền Trắc nó thực hiện cái đại nguyện của mình như vậy. Thì đến dòng sông Anoma Ngài dừng lại. Ngài dừng lại thì lúc đó là Xa Nặc bắt đầu hiểu, Xa Nặc bắt đầu hiểu.
[42:52]Và Xa Nặc khóc như mưa, đứng đó khóc quá chừng khóc. Còn Thái tử thì lặng lẽ Ngài rút gươm ra, Ngài nắm tóc Ngài cắt. Thật ra cái dao mà bình thường á cắt tóc không đứt. Ở đây những cái người xuất gia thì quen cạo tóc phải không? Lưỡi dao phải thật mảnh cạo mới đứt, còn mà lấy một cái dao mà mình mình xắt dưa leo mình cạo tóc nổi không? Đó, không cạo nổi, đau khủng khiếp lắm. Còn mấy người có tóc thì chắc không bao giờ biết chuyện đó. Cho nên có ai hăm nói: "Tao cạo đầu khô mày á", tức là vậy đó, tức là lấy dao cùn mà cạo chịu không nổi, đau khiếp lắm. Còn cái lưỡi gươm mà Thái tử cầm đi theo là loại gươm báu,
[43:28]nó như thần linh á nên Ngài cầm lên Ngài cắt tóc của Ngài. Dĩ nhiên là Ngài cắt mà có láng như bây giờ không? Không. Trong đêm đó làm đâu có gương, mà Xa Nặc đâu có biết cạo tóc, chỉ biết là vấn, uốn, bới thôi. Vì thời đó những người mà hoàng tộc họ vấn tóc rất là đẹp. Thì Đức Phật nắm từng lọn tóc của mình cắt, bực, rớt xuống, cắt, bực, rớt xuống. Thì Xa Nặc lúc đó chụp lấy một lọn tóc, gói bỏ vào người. Ngài cắt hết thì tóc Ngài lúc đó lởm chởm lởm chởm như vậy nè, chứ không phải là cạo sát như bây giờ. Nhưng mà khi cắt lởm chởm lởm chởm như vậy rồi á, nó sát sát như vậy rồi thì nó hiện ra trên đầu Phật những cái xoáy tóc rất là lạ.
[44:03]Thường thường chúng ta có mấy xoáy? Một xoáy. Mà nếu người nào ngang ngang thì mấy xoáy? Hai xoáy. Đó vậy là biết coi tướng là hai xoáy. Nhưng mà Đức Phật thì Ngài cực kỳ nhiều xoáy, là cứ nhìn những cái xoáy trên đầu Ngài xoáy đều đều đều đều khắp cả đầu vậy á, rất là lạ. Thì đây cũng là lần đầu tiên mà Xa Nặc mới trông thấy cái xoáy tóc của Phật. Chứ còn hồi nhỏ thì nghe nói không nhớ, vì lúc đó là Đức Phật sinh ra thì Xa Nặc chưa có sinh ra. Bây giờ thì bắt đầu khi mà Đức Phật thì Xa Nặc nước mắt đầm đìa mà nhìn thấy những xoáy tóc rất là lạ của Phật xoáy xoáy xoáy xoáy khắp đầu như vậy. Thì Phật lại cởi hết trang phục của hoàng tộc ra,
[44:40]tháo hết vòng vàng ra, và lấy sẵn trong người ra một mảnh vải thô quấn lại thành một cái y. Nhìn vô là mất hết cái vẻ hoàng tộc, chỉ có cái là dáng điệu quá sang trọng vậy thôi. Mới giao cho Xa Nặc, mới nói: "Em hãy về đưa tất cả này về hoàng cung, và nói vua cha đừng đi tìm ta, đã có La Hầu La. Ta đã đặt tên La Hầu La, công nương đã sinh hạ. Về nói vua cha hãy đặt kỳ vọng vào đứa bé này, còn ta phải đi tìm con đường giải thoát, cứu độ chúng sinh, em hãy về." Lúc đó Xa Nặc khóc quá chừng khóc. Khóc thì khóc nhưng mà Thái tử bắt buộc, đây là lệnh, thế là vẫn phải vâng lời, lạy Thái tử ba lạy rồi gói tất cả đồ đạc đó bỏ lên lưng ngựa phi về.
[45:19]Rồi Thái tử bắt đầu cái cuộc đời sống làm sa môn của mình trong cái ngày đầu tiên đó. Thì thật ra là Ngài chuẩn bị cái bình bát, Ngài đã đi khất thực. Bắt đầu Ngài khất thực đầu tiên là Ngài đi bộ, đi chân không, đi dần về phía phía nam và phía tây nam. Vì lúc đó Ngài hướng đến cái cái kinh đô của xứ Ma Kiệt Đà là thành Vương Xá, Rājagaha. Vì sao vậy? Bởi vì Ngài nghe đồn từ lâu là có nhiều du sĩ từ cái thành Vương Xá đi thăm cái tiểu quốc Thích Ca của Ngài. Ở nơi cái thành Vương Xá đó tập trung rất nhiều đạo sĩ, rất nhiều triết gia. Không hiểu sao cái xứ Vương Xá của Vua Bần Bà Sa Vương mà sau này là Vua
[45:57]A Xà Thế lên thay, là là tập trung rất nhiều đạo sĩ quanh quanh đó. Cái xứ đó giống như là một xứ triết học, xứ đạo học của Ấn Độ vào thời xưa, đó là trung tâm đạo học. Nên Đức Phật quyết tâm đi về xứ đó để tìm đạo. Nên Ngài đi bộ, đi khất thực, đi dần đi dần, đi tới đâu là khất thực tới đó. Thì ít nhất là Ngài phải vượt qua bốn con sông lớn, nhất là phải vượt luôn qua con sông Hằng, tại vì cái kinh đô Vương Xá nằm ở phía nam của con sông Hằng. Rồi sau cái con sông Hằng là ba cái con sông nhỏ hơn. Đó. Ngài vượt qua thì lúc đó đó người Ấn Độ họ không có tàu thuyền, họ chỉ có những cái bè tre thật to để đưa người qua lại qua sông chứ không có thuyền.
[46:38]Nên trong kinh ta thấy không có phải là nói là qua sông bằng thuyền mà qua sông bằng cái gì? Bằng bè. Trong kinh rõ ràng đó, qua sông rồi bỏ bè đó. Bởi vì thời đó Ấn Độ đi bè, bè tre, họ chống cây họ đi qua lần lần. Thì Đức Phật cũng vậy, Ngài tới đó Ngài nhờ cái người đưa Ngài qua sông. Và trên đường đi thì Ngài có cái lạ thế này: Đức Phật có cái khả năng học ngôn ngữ rất là nhanh. Là lúc mà còn ở kinh đô Ca Tỳ La Vệ là Ngài đã được học một số ngôn ngữ rồi. Vì vua cha đã chuẩn bị để cho Ngài đi xâm chiếm khắp nơi mà, nên đã học phía nam là những ngôn ngữ nào, phía bắc ngôn ngữ nào học hết, nên Ngài biết rất là nhiều.
[47:14]Và trên đường đi Ngài thực hành luôn. Là gặp đi tới xứ nào Ngài nói chuyện với xứ đó và Ngài học rất là nhanh. Những chữ Ngài chưa biết nhưng mà Ngài đoán được tâm, Ngài thông minh kỳ lạ. Người ta nói, nhiều khi chữ đó Ngài không hiểu hết nhưng mà Ngài hiểu được cái ý người ta muốn cái gì, nên Ngài nhanh chóng bắt được cái ngôn ngữ. Nghĩa là từ trên đường đi bộ trong mấy tháng vậy đó, khoảng chừng tháng Ngài đi tới kinh đô Vương Xá thì Ngài biết luôn bốn ngôn ngữ. Nên về sau mà Đức Phật đi thuyết pháp khắp nơi là vậy đó, đi tới xứ nào Ngài biết ngôn ngữ xứ đó. Là vậy. Và Ngài cũng tiếp xúc với nhiều hạng người,
[47:45]trên đường đi vậy, nghĩa là khi khất thực, khi ăn, rồi khi trầm tư, cũng có khi ngồi thiền, Ngài cứ đi dần xuống phía nam, và Ngài gặp gỡ nhiều người. Gặp gỡ nhiều người dân cũng thấy Ngài tướng mạo đẹp đẽ đã đến nói chuyện, Ngài cũng nói thật là Ngài đang đi tầm đạo. Và khi người ta hỏi một vài điều gì Ngài biết được Ngài cũng khuyên, thứ nhất là Ngài khuyên người ta sống tốt với nhau, gieo những nghiệp lành, hãy sống từ ái, vân vân, đừng tham lam, đừng trộm cắp, đừng mưu hại người khác. Đó, những cái giáo lý căn bản Ngài đi suốt trên con đường Ngài vẫn dạy. Thậm chí là có những kẻ trộm cắp nữa.
[48:16]Có một lần trên đường đi mà khoảng giữa đường tới Vương Xá, lúc đó là Ngài đang ở trong rừng, Ngài đi khất thực Ngài vào rừng ngồi ngồi ăn cơm, thì có một nhóm trộm nó trộm được một số đồ đạc nó chạy vô ngay đúng cái chỗ Ngài. Cái chỗ Ngài cái thấy Ngài ăn, cái lúc đó nó nhìn nhau thì thì trong bốn năm tên mà ánh mắt nó nhìn nhau thì có một đứa nghĩ rằng thôi đi chỗ khác chia đồ, tại nó phải chia vàng bạc nhau. Nhưng một đứa thì ánh mắt lóe lên là phải giết luôn để mà bịt miệng. Thì Ngài nhìn Ngài biết liền, tức là một người đã thông minh, Ngài chưa cần đắc đạo, Ngài đã hiểu được tâm ý, và lúc đó Ngài đã lên tiếng Ngài khuyên.
[48:50]Ngài khuyên hãy từ bỏ cái nghề thất đức ác độc đó, vậy. Và có những lúc Ngài đi trên đường Ngài gặp những khất sĩ nữa, những người sa môn cũng đi khất thực như Ngài, và đôi bên ngồi cũng nói chuyện với nhau. Thì thật ra những người như thế Ngài đã gặp hồi ở kinh thành Ca Tỳ La Vệ quá nhiều. Nên chỉ trong vài câu chuyện thì dĩ nhiên là mỗi người cũng đi theo cái khuynh hướng của mình, vậy thôi rồi lại chia tay nhau, Ngài đi dần về đến cái cái Vương Xá thành.
[49:18]Có điều rất hay là lúc đó mặc dù Ấn Độ chia ra nhiều quốc gia, nhưng mà cái tín ngưỡng họ rất là chung nhau nha. Tín ngưỡng họ rất là chung nhau là có một cái giai cấp Bà-la-môn cũng là... nghĩa là là giữ vai trò lãnh đạo tinh thần hết quốc gia này tới quốc gia kia. Chúng ta đi quốc gia nào chúng ta cũng gặp giai cấp Bà-la-môn, ngôn ngữ thì có thể khác nhưng mà tín ngưỡng giống như là có một. Và lạ một cái là con người ta đi xuyên biên giới từ nước này qua nước kia không cần xin phép, không bị ngăn cấm, chỉ trừ trường hợp là có những tội phạm nghiêm trọng mà bị truy nã, treo hình thì thôi, chứ còn ai muốn đi đâu đó đi à, cái thời xưa cũng vậy cũng có vẻ thanh bình.
[49:55]Thì sau khi vượt qua con sông Ni Liên Thiền, Nerañjarā mà chúng ta có nghe nói đó, nó là một cái phụ lưu của con sông Hằng thì Ngài đi vào kinh đô Rājagaha. Ngài vào đó Ngài khất thực trước, tức là vì Ngài muốn vào đó để gặp bao nhiêu đạo sĩ để hỏi thăm lần lần. Thì lúc đó mà khi gặp các vị đạo sĩ đó thì Ngài nghe tiếng hai vị đạo sư danh tiếng ở khu vực phía Tây Nam của thành Vương Xá là Āḷāra Kālāma và Uất Đầu Lam Phất, tức là hai người mà sau này Ngài sẽ đi tới học đạo, tại vì lúc đó là dân ở đó và cũng như là các vị Sa môn khất sĩ ở đó ca ngợi hai vị đạo sĩ này rất là nhiều, nên Ngài cũng đã để tâm.
[50:35]Tuy nhiên, Ngài cũng muốn tìm hiểu thêm là tại cái vùng Vương Xá này có bao nhiêu phái triết học, bao nhiêu vị đạo sư tất cả, nên Ngài chưa có tìm đến vội hai vị đó, mà ở đi đó khất thực một thời gian. Thì sự hiện diện của Ngài gây chấn động cái kinh thành Vương Xá. Lúc đó là mọi người thấy một Sa môn khất sĩ với cái dáng dấp là oai vệ, đĩnh đạc, với gương mặt mà đẹp như là ngàn ánh trăng, thân tướng thì rực rỡ như ngàn ánh mặt trời, tức là đi đứng điềm đạm, chuẩn mực, không một cử chỉ thừa, vượt hẳn tất cả những cái Sa môn khất sĩ mà mọi người trông thấy. Là những Sa môn khất sĩ khác cũng ôm bình bát đi khất thực,
[51:13]nhưng mà nhìn vô đôi khi nó vẫn có một cái gì nó thường thường, tầm thường. Còn riêng có một vị Sa môn kia cao vòi vọi, cao nhất kinh thành Vương Xá không ai cao bằng, đẹp cực kỳ đẹp, trên đời chưa ai đẹp bằng, mà từng bước chân đi, từng cái ngón tay, từng cái cử động, từng cái ánh mắt nhìn không một chút thừa thãi, đều điềm đạm, đều chuẩn mực, nghĩa là ai cũng kính trọng, họ đồn nhau rần rần rần rần cả kinh thành hết trơn, nói không biết ở đâu xuất hiện một vị thánh nhân, Ngài chưa đắc đạo mà họ đã gọi là một vị thánh, một vị chân sư nào đã xuất hiện ở đây, nhưng mà lúc đó Ngài còn quá trẻ nên họ cũng chưa biết là Ngài là như thế nào,
[51:47]chỉ thấy đẹp quá đồn nhau rần rần, và cái thám tử của vua Bimbisāra chạy về báo cho vua liền. Về nói là muốn muốn tâu hoàng thượng là bỗng nhiên xuất hiện có một Sa môn khất sĩ đi khất thực trong kinh thành Vương Xá và gây xôn xao khắp nơi, là người dân họ đồn đại người này rất là đẹp, điềm đạm, đạo đức. Chúng con cũng có theo dõi và thấy cái vị này rất là đạo đức, rất là chuẩn mực, mà không biết từ đâu tới, không biết nguồn gốc là thế nào mà quá đẹp. Cái vua Bimbisāra nói: Trẫm cũng bận quá, khi nào mà các ngươi thấy cái vị Sa môn đó đi khất thực gần cái cung điện báo cho ta biết. Thì đúng có một lần đó, hôm đó là Thái tử mới đi khất thực,
[52:26]vô tình đi lần lần tới gần cung điện, thì thám tử lật đật chạy lên báo cho vua. Cái vua mới bước ra ngoài lầu vua xem, vua bước lên cái triền thành vua đứng vua xem, thì vua đứng từ xa vua nhìn vua thấy có một Sa môn vậy cao, cao kì lạ, trên đời này không ai cao bằng, mà từ xa nhìn nhìn không thấy rõ mà giống như là một vầng ánh sáng từ từ đi tới, lạ như vậy. Vua ngạc nhiên, vua ngạc nhiên nói: Ủa, sao trên đời này lại có một con người nào mà kì lạ như thế này, siêu việt như thế này? Nghĩa là từ xa đi chưa nhìn rõ là đã thấy như một vầng ánh sáng đang đi tới dần dần dần dần, mà khi đi tới mà vua nhìn rõ thì vua vua xúc động liền.
[53:01]Nghĩa là trên đời này chưa có ai làm cho vua phải mềm lòng như là khi mà nhìn thấy một vị đạo sĩ như thế này. Biết bao nhiêu đạo sĩ mà vua đã gặp mà vua coi thường lắm, tại vì sao? Tại vì chính vua đã gài thám tử trà trộn trong các đạo sĩ hết. Vua cũng cho thám tử giả bộ làm khất sĩ đi khất thực tùm lum để điều tra coi có ai làm phản làm gì hay không, đó là cái nghề của vua chúa mà, nên họ cũng làm hết. Cho nên đạo sĩ thế nào thì vua cũng biết cả rồi, nhưng mà tự nhiên có một con người đạo sĩ này chưa bao giờ vua thấy, nhìn mà vua xúc động. Rồi lúc đó rồi vua đứng nhìn cho cái bóng dáng người Sa môn nó đi khuất dần khuất
[53:34]dần khuất dần, vua mới quay vào vua nói với với cẩn thận mình thế này, nói: Các ngươi cải trang xem xem vị Sa môn kia trú ngụ tại đâu, về báo cho ta biết để ta đi thăm liền, thăm trong chiều nay. Thì năm mà hai vị gặp nhau đó đó là Thái tử 29 tuổi, nghĩa là Thái tử Siddhartha 29 tuổi, còn vua Bimbisāra là 24 tuổi, mà vua đã trị vì nước từ năm 15 tuổi, là lên làm vua được 9 năm, mà tuổi nhỏ hơn Đức Phật, là thua Đức Phật 5 tuổi. Thì cái thám tử bắt đầu cải trang mới đi theo, Đức Phật đi khất thực xong rồi đi về, thì thấy là Ngài đi về phía Đông Bắc của thành Vương Xá trên cái ngọn đồi là Pāṇḍava, thì cái thám tử chạy về báo liền.
[54:18]Thám tử đi báo liền cái thì lúc đó là vua nôn nóng bỏ luôn bữa ăn cơm trưa luôn. Mà Thái tử thì đã ăn xong, thì Ngài đi khất thực xong Ngài ăn rồi, Ngài về Ngài trú ngụ nơi cái ngọn đồi Pāṇḍava ở phía Đông Bắc thành Vương Xá, còn vua thì bỏ bữa ăn. Lúc đó là hoàng hậu Mạt Lợi mới nói: Bệ hạ phải dùng thôi. Không, ta không kềm lòng được nữa, ta phải đi gặp người này. Thì hoàng hậu mới bỏ theo một ít bánh để trên kiệu, thì các quân sĩ mới thắn kiệu đưa vua đi liền, đi tức tốc liền. Thì đi lên ngọn đồi cái vua mới đến gặp, hai bên chào hỏi nhau nói chuyện, thì vua mới đầu tiên mới hỏi về nguồn gốc:
[54:59]Thưa tôn giả, tôn giả từ đâu đến đây? Chắc hẳn là tôn giả không phải người xứ này, bởi vì người xứ này thì trẫm đều biết tất cả, không có ai có thể có người đặc biệt như thế. Thì Thái tử mới nói thật: Tôi là con trai của vua Tịnh Phạn Suddhodana ở cái xứ Ca-tỳ-la-vệ, từ bỏ vương quyền để đi xuất gia mong tìm sự giải thoát. Nghe đó thì vua Bimbisāra hết lòng kính nể, một người mà dám từ bỏ vương quyền để mà đi xuất gia như vậy, vua kính nể. Cái lúc đó cái vua mới hỏi tiếp về vấn đề đạo học, là hiện nay có rất nhiều cái đạo lý mà Ngài chưa có tìm được đạo lý nào hay sao, mà không có thầy hay sao,
[55:42]không có dòng phái hay sao, mà một mình về đây đi như thế này? Thì Thái tử mới trả lời rành mạch là đã có những giáo phái như thế, như thế, triết học như thế đều có điểm hở như thế, nghĩa là Upanishad thì hở về cái siêu ngã là vẫn còn bản ngã, còn những giáo phái kia đều có những cái gì nó sai lầm, cho nên là chưa thỏa mãn, Ngài muốn tự mình đi tìm, chứ còn ở hoàng cung hỏi không ai trả lời cho Ngài thỏa mãn hết, nên Ngài quyết định Ngài tự đi tìm. Rồi lúc đó nhân tiện như vậy cái vua hỏi về việc trị nước an dân, thì không ngờ là Thái tử vanh vách, vua hỏi tới đâu là Ngài nói tới đó về vấn đề trị nước an dân, và Thái tử khuyên vua vậy lúc nào cũng
[56:18]giữ cái đạo đức làm đầu, nghĩa là người lãnh đạo, vua chúa mà có đạo đức, dạy dân đạo đức thì đất nước sẽ phồn thịnh, sẽ vững chắc. Nghĩa là nghe Thái tử nói mê quá cái vua buột miệng mời Ngài về trị quốc chung. Trong câu chuyện đó đó, mời Ngài về trị quốc, Thái tử mỉm cười từ chối, nghĩa là cái vị Sa môn Siddhartha mà ta biết mỉm cười từ chối, nói: Lòng tôi còn có một lý tưởng phải phải đi. Không mời được cái vua mới nói thế này: Nếu sau này Ngài đắc đạo, xin Ngài hãy trở về đây, trẫm sẽ hết sức cúng dường và xin được hóa độ. Thì Sa môn Siddhartha có mỉm cười chấp nhận. Thì cái chuyện mà vua đích thân bỏ bữa cơm trưa để đi đến gặp Ngài,
[57:02]hầu chuyện với Ngài ở ngọn đồi Pāṇḍava nó đồn ra hết cả Vương Xá luôn. Trời ơi, Ngài cực kỳ nổi tiếng liền, cực kỳ nổi tiếng liền. Nghĩa là lúc đó dân làng xôn xao xôn xao, nghĩa là Ngài không thèm đi khất thực nữa, vừa mới bước vào kinh thành là xúm nhau một ngàn người tới cúng. Ngài thấy bắt đầu không yên, ở đó không yên vì nổi tiếng quá, nên Ngài lặng lẽ Ngài trốn, Ngài trốn đi, Ngài trốn đi về phía Tây Nam của Vương Xá, rồi để gia nhập vào cái hội chúng của Āḷāra Kālāma để xin tu hành ở đó. Và Ngài tu hành như thế nào thì sang năm ta sẽ biết, sang năm ta biết. Năm nay tạm dừng.
[58:06]Ta ca vang, ta ca vang ca khúc mừng ngày Đản Sanh. Hôm nay đây, hôm nay đây hoa lá đón mừng nắng mai. Tin hân hoan, tin hân hoan bay đến muôn lòng chứa chan. Khắp nhân gian, khắp nhân gian từ bi thắm tươi ngàn nơi. Ôi hân hoan, ôi hân hoan vui đón mừng ngày tháng tư. Khắp muôn nơi, khắp muôn nơi chim hót trăng rằm sáng ngời. Bao yêu thương, bao yêu thương thơm ngát hương từ bốn phương. Khắp quê hương, khắp quê hương từ bi sống trong đạo vàng. Tin lành về đây, tin lành về đây. Ngày Đản Sanh sáng tươi, ngày Đản Sanh sáng tươi. Hoa lá reo cười hào quang soi ngàn nơi.
[59:15]Ta ca vang...
[59:41]Chuông ngân nga, chuông ngân nga, cao vút giọng đồng thiết tha. Hương lan xa, hương lan xa, hương ngát nhân từ ái hòa. Con chắp tay, con chắp tay, nguyện khấn cho đời an vui. Trong yêu thương, trong yêu thương, từ bi xóa tan hận thù.
[1:00:52]Hôm nay đây, hôm nay đây, hoa lá đón mừng bóng Ngài. Tin hân hoan, tin hân hoan, bay đến muôn lòng chứa chan. Khắp nhân gian, khắp nhân gian, từ bi sáng tươi ngàn nơi. Chuông ngân nga, chuông ngân nga, cao vút giọng đồng thiết tha. Hương lan xa, hương lan xa, hương ngát nhân từ ái hòa. Con chắp tay, con chắp tay, nguyện khấn cho đời an vui. Trong yêu thương, trong yêu thương, từ bi xóa tan hận thù.