Transcript: Kim Cang Mầu Nhiệm - Kinh Kim Cang 13

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:34:34

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Chúng ta niệm Phật cầu gia bị.

[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:31]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:47]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:01]Xin cung thỉnh Thượng tọa giảng sư an tọa. Xin mời toàn thể Phật tử an tọa. Nó ngồi quá nó bu lại... ta đi vô.

[1:17]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:27]Hôm nay là ngày giảng cuối của năm nay, chúng ta vẫn không có giảng hết được kinh Kim Cang, vì đành phải qua năm sau. Thì như vậy mùng 1 tháng 12 thì tới chắc là mùng 1 tháng 2 chúng ta mới gặp lại nhau khoảng hai tháng. Nếu trong khoảng hai tháng này chúng ta không có cái dịp gì gặp nhau, tuy nhiên sắp tới thì trên chùa chúng ta có lễ Phật thành đạo thì có Thầy trụ trì đây cũng sẽ lên để thuyết pháp. Nếu quý Phật tử mà sắp xếp được thời gian á, chúng ta lên dự vào sáng mùng 7, rồi khoảng sáng mùng 8 chúng ta về. Lên đó bụi đời một bữa, lên ở rừng ở núi một bữa cho biết. Hả? Không nghe hả? Kỳ quá.

[2:21]Tại cái loa nhỏ nha.

[2:25]Tức là nói nói rằng là hai tháng nữa chúng ta mới gặp nhau nếu chúng ta xù không chịu lên dự lễ Thành đạo. Còn nếu mình à nếu quý Phật tử lên dự lễ Thành đạo trên chùa là sáng mùng 7 lên, sáng à sáng mùng 8 chúng ta về ha. Thầy trụ trì đây cũng Thầy lên để Thầy cũng điều khiển buổi lễ.

[2:49]Chúng ta lên thì bụi đời một bữa thì trên đó trên rừng núi thì không có tiện nghi, nhưng để chúng ta thưởng thức cái không khí núi rừng trong cái đêm Thành đạo. Ờ còn điều nữa là cái công trình chùa này đang trên một cái tiến triển rất là tốt, mọi chuyện đang rất là đẹp. Ngôi chúng ta sẽ sắp sửa có một ngôi phạm vũ, tức là một ngôi già lam thật là mang cái bản sắc vừa là dân tộc mà vừa là hiện đại, là những đồng tiền mà chúng ta đã cúng vào đây đang trở thành từng centimet vuông, từng centimet khối ờ của gì? Trở thành của Phật pháp, của một cái văn hóa của thời đại. Và hình như nghe nói Thầy trụ trì cũng sắp hết tiền nữa rồi.

[3:37]Cho nên ráng phụ với Thầy cho xong cái ngôi chùa cho rồi.

[3:45]Giờ chúng ta nghe tiếp lại bài kinh này nha. Hôm nay chúng ta nghe đoạn thứ 13. Hôm trước tới cái đoạn kinh là:

[3:59]Nói này Tu Bồ Đề, nơi nào mà có kinh này thì tất cả trời, người, A-tu-la đều nên cúng dường. Hãy biết rằng cái nơi đó không khác gì tháp miếu của Phật đáng được cung kính đảnh lễ, nhiễu quanh và tung rải hương hoa. Đây cũng là một lối ca ngợi kinh qua một cái hình thức khác. Thì ở đây chúng ta phải hiểu thế này: Nơi nào mà có kinh này á là không phải là nơi mà có cái quyển kinh in chữ này. Không có. Quyển kinh in chữ này đốt cái cháy liền nói chi. Nơi nào nơi nào nơi nào có kinh này nghĩa là sao?

[4:46]Hử? Nơi nào có kinh này thì nơi đó trời, người nên cúng dường. Chỗ nào có kinh này? Phải chỗ này không? Phải chỗ này không? Này có quyển kinh nè. Chỗ nào? Chỗ nào có kinh Kim Cang?

[5:11]Đây là cái ừm chỗ này đó nói thì đơn giản nhưng chúng ta hiểu kỹ để không bị rơi vào mê tín. Vì nếu mà nói nơi nào có cái bản kinh, chúng ta cứ xem cứ đem kinh này lên trên bàn thờ thờ thì nó thành ra mê tín liền. Người ngoài người ta nhìn vào người ta cười Đạo Phật mình, là chỉ thờ một cuốn sách để như vậy không có nghĩa. Mà riêng không phải riêng kinh Kim Cang này, đã có nhiều cái bài kinh được đưa lên bàn thờ thờ, in rất đẹp thờ và không bao giờ dám đụng tới, đọc tới luôn thì đừng bao giờ nói tới chuyện thực hành. Chính vì vậy, tuy có quyển kinh mà không có kinh gì hết. Nên ở đây nói rằng nơi nào có kinh này,

[5:52]chúng ta phải hiểu rằng nơi nào có những con người hiểu được kinh này, thực hành kinh này. Và chính cái giá trị của kinh là nơi sức sống của chúng ta, nơi cái đời sống của chúng ta, nơi cái sự thực hành của chúng ta thì làm cảm động cả trời đất, chứ không phải cái bản kinh gồm những chữ in vô nghĩa này. Chúng ta nhớ điều đó. Chính vì vậy, ở nơi nào mà có người hiểu được cái giáo lý an trú tâm, hàng phục tâm, ở nơi nào mà có những con người hi sinh tận tụy cả đời của mình để phục vụ cho mọi người mà không chấp công. Đó là đó. Hoặc có những người mà biết xem thế gian này như không mà vẫn tận tụy với con người.

[6:35]Ở nơi nào mà biết chúng sinh là huyễn hóa mà vẫn trân trọng cái nỗi đau của mọi người thì ở đó có kinh Kim Cang, và ở nơi đó thì trời người nên ủng hộ. Nên chúng ta sửa cái chữ cúng dường thành ra chữ ủng hộ. Nghĩa là nếu ở thế gian này có những người nào mà sống được như vậy thì ở trên trời đó, những vị chư thiên phải theo ủng hộ nơi đó, ủng hộ những con người đó. Nên cái ý nghĩa là như vậy, nhưng mà bản kinh nói cường điệu gọi là cúng dường nơi đó, chúng ta hiểu khiêm tốn hơn là nơi đó đáng được chư thiên ủng hộ vì có những người thực hành được kinh này. Vì vậy qua cái đoạn kế tiếp chúng ta nghe cái đoạn thế này:

[7:22]Này Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào thọ trì, đọc tụng kinh này liền bị người khinh thường, nhục mạ, đó là do tội nghiệp đời trước đáng lẽ phải bị đọa vào ác đạo, nhưng vì biết thọ trì kinh này nên người này chỉ còn quả báo bị người khinh rẻ, rồi còn về sau sẽ chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

[7:49]Không không ai cúng dường cái đồng hồ hết ta? Bữa nay ai xung phong cúng dường cái đồng hồ treo ở giảng đường? À à, phải.

[8:07]Bản kinh này nói đến cái đoạn là kinh Kim Cang có công năng chuyển nghiệp. Nghĩa là từ một người đáng lẽ phải bị đọa vào ác đạo nhưng đời này chỉ bị người ta cự cự nự chút đỉnh rồi rồi rồi nghiệp nó sẽ hết và sau này sẽ thành thành đắc đạo. Ở đây chúng ta sẽ lý giải với nhau một chút là tại sao tại sao kinh này có thể chuyển được nghiệp như vậy? Thì chúng ta phân tích chút xíu là nghiệp có hai loại: là có nghiệp nặng và nghiệp nhẹ. Nghiệp nặng còn gọi là định nghiệp, nghĩa là cái nghiệp cố định không chuyển được. Mình có tu gì tu cũng không chuyển được. Và tất cả mọi sự cố gắng của chúng ta trong việc tạo phước,

[8:58]làm lành thì chỉ để dành đời sau hưởng, chứ không không chuyển được. Ví dụ như là một đời nào đó

[9:08]mình có cái ác tâm, mình chặt chân ai đó mà mình chặt quá nhiều người, thì sau đó mình biết tu hành, biết sám hối. Bây giờ cái định nghiệp xảy ra trong đời này là mình phải bị cụt hai chân, là mình được báo trước luôn. Ví dụ có một ông thầy bói, có một nhà tiên tri siêu đẳng báo trước mình cái nghiệp mình sẽ bị cụt hai chân, và nghe như vậy mình sợ quá, mình mới làm vô số việc phước nhưng mà vẫn cụt hai chân, vẫn một tai nạn xảy ra cụt hai chân. Rồi bao nhiêu việc phước mình làm là chỉ để dành kiếp sau thôi, chứ kiếp này không chuyển được nữa. Kiếp sau sẽ rất vinh quang, nhưng mà kiếp này phải bị cụt hai chân.

[9:52]Đó là nghiệp nó sẽ xảy ra. Còn trường hợp mà ví dụ như người đã cụt hai chân rồi thì làm vô số phước để cho hai chân mọc lại, được không? Không, không có được. Nên có một câu chuyện, có một đứa bé nó đi học mà ở bên Âu châu, ở bên Âu châu thì thường thường hồi nhỏ người ta hay học ở trong các trường dòng... Thì khi mà vào được học cái trường của các bên Cơ Đốc họ tổ chức là các sơ, các Frère dạy thì đứa nhỏ đầu tiên là được dạy lòng tin vào Thượng Đế. Thì được dạy niềm tin nói là Thượng Đế tạo ra tất cả, cái chuyện gì cũng vậy. Nên đứa bé tin mà đứa bé thì dễ tin, nhỏ thì dễ tin, không cần suy nghĩ.

[10:33]Có đứa bé nó bị cụt một chân, cái tật đó đó, nên nó cứ buồn nó than với các Frère, các Sơ. Thì các Frère, Sơ cứ an ủi là nói con cứ cầu nguyện với với Thượng Đế, Thượng Đế sẽ ban cho con những gì con muốn. Và hôm đó là ngày trước ngày Giáng sinh thì nó chỉ cầu một điều là cho con có cái chân nó mọc lại để con đi chơi Giáng sinh với các bạn ở trên hồ đi chơi trượt tuyết đồ được, tại thấy các bạn nó chơi chơi ngoài tuyết á thoải mái. Và nó nói đúng ngày đó, xin ngày 24 giùm chứ không ngày nào khác. Sáng à mà tối á tối đó đi ngủ, tối ngày 23 đi ngủ với tất cả sự hồi hộp và sự mong chờ. Sáng thức dậy nó tung cái mùng ra thì cũng không có cái chân nào mọc thêm.

[11:20]Cái câu chuyện như vậy nghe nói như một câu chuyện hài, có đó là câu chuyện có thật, một cái tâm trạng của đứa bé. Nghe như một câu chuyện hài nhưng mà chúng ta phải hiểu điều này, là có những nghiệp không thể chuyển được, là đành chịu luôn. Hoặc là có những trường hợp có cái người tuy biết đạo, làm việc phước nhiều nhưng cái nghiệp phải chết sớm, người đó phải chết sớm vì cái nhân duyên là qua những kiếp sau nó đã được sắp xếp hết. Nên người này tu gì tu, làm phước gì làm phước rồi tới lúc đó cũng phải ra đi, chỉ có cái là ra đi nhẹ nhàng thôi rồi qua kiếp sau hưởng được nhiều điều vinh quang.

[11:58]Nên có những cái định nghiệp không chuyển được. Còn có những cái nghiệp nhẹ hơn thì có thể chuyển bằng cách tu tập, tạo phước và cầu nguyện. Tu tập nè, tạo phước và cầu nguyện thì ở đây, cái chỗ này là chỗ mà cái cái công năng chuyển nghiệp của kinh Kim Cang rất là rõ, rất là mạnh. Là chúng ta chia ra như thế này, ví dụ như là ừm

[12:27]một người này có thể là bị cái nghiệp là nằm bán thân bất toại, nằm tới từ đây cho tới chết. Ừ có thể bị cái nghiệp như vậy. Nhưng mà người này biết phát tâm tu tập à như là kinh Kim Cang nói rồi hay làm các việc phước mà không có chấp công vân vân, nghĩa là làm cứ tận tụy như vậy bắt đầu nghiệp nó trổ ra. Nhưng mà thay vì bị một lần nằm luôn thì cái người này bị từng chập từng chập bắt đầu bệnh đổ ra nha, cũng bị tai biến, cái ngã xuống một trận, cái chữa hết, cái ngồi dậy được. Làm một chập phước nữa, mai mốt cái ngã bệnh xuống nằm, lần đó rồi lại ngồi dậy. Tức là người đó cứ bệnh trở đi trở lại, trở đi trở lại nhưng mà không bị nằm luôn.

[13:16]Vẫn có thể có những lúc mà khỏe mạnh để làm được những công đức, để tu tập vậy đó. Rồi tới khi mà chết thì tỉnh táo hẳn, khỏe khoắn hẳn rồi mới chết thì mình biết ngay là người này chính nhờ cái phước làm mà cầm cự chuyển hóa cái nghiệp hiện đời. Đó là cái dấu hiệu. Nên vì vậy, cái nhiều người nói sao tôi tu mà tôi bệnh hoài, không biết tu có linh không mà thấy bệnh hoài. Không biết là nếu không tu thì mình đã nằm một chỗ hoặc chết rồi. Nên đây là chỗ mình không hiểu. Hoặc là nói ừm hôm đó đi chùa Từ Tân nghe pháp hay quá chừng, đi ra xe tông cái rầm, về nằm ba ngày. Nói sao kỳ vậy ta? Đi chùa linh mà Phật không có phù hộ.

[13:58]Nói là nếu hôm đó mà Phật không phù hộ thì bay luôn vô nhà thương, gãy luôn một chân, nằm luôn 2 năm cũng có. Nên có những cái tai nạn mình không hiểu rằng là nếu mà không tu, không làm phước thì nó đã nặng hơn rất nhiều, nặng hơn rất nhiều. Đã chuyển rồi mà mình không biết á. Nên đây là trường hợp là cái nghiệp được chia ra nhiều lần để mình trả nhiều lần thay vì dồn một lần mình không có chịu nổi. Đó. Hoặc là ví dụ như là ừm

[14:28]có người có cái nghiệp phải ở tù. Phải ở tù là bị bị giam, không còn tự do. Nhưng mà người này à tự nhiên phát tâm tu tập là mua cá rồi phóng sinh, rồi mua chim thả, rồi nhập thất luôn. Cái ba nghiệp ở tù giải mất tiêu. Rồi mai mốt cũng bị ví dụ gặp cái chuyện gì đó khiến mình gặp xui cái bị công an họ phạt, họ cự nự, rồi có người đòi truy tố mình ra tòa. Nhưng mà trong cái phiên tòa thì mình được tuyên trắng án. Tức là nó xít xoát xít xoát lắm, nghĩa là nó nó sát sát với cái tù. Cái tù cửa tù là thấy mở ra rồi đó nhưng mà không ngờ là đóng lại là vì mình đã chuyển được nghiệp rồi. Mình đã mua chim phóng sanh rồi mình nhập thất,

[15:11]mình nhập thất tức là tự mình giam mình rồi, thấy không? Thay vì mình ở tù một năm mình nhập thất một tháng là hết nghiệp luôn, nghĩa là tự mình đã giam mình. Nhưng mà ở tù một năm á, ở tù thật sự thì rất là khổ sở vì mình bị cảm thấy bị bó buộc, còn nhập thất là mình tự nguyện nên mình an vui, nhưng hai hình thức nó rất là giống nhau. Nên vì vậy ai sợ mình mà mắc nghiệp ở tù á cứ đi vô nhập thất. Nhập thất nha. Rồi à mình à ừm giúp cho người khác, giúp cho loài vật được an vui, được phóng thích vân vân cũng là một cách, cũng cách giải nghiệp. Ừm. Rồi à ừm có khi mà phước mình tạo ra lớn quá thì nó khiến cho cái quả báo gần như xóa mất luôn.

[16:00]Nó chỉ để lại một cái dấu hiệu nho nhỏ cho mình thấy à. Là ví dụ như mình có cái nghiệp là phải chết vì bị nhà sập. À nhưng mà cái phước mình làm lớn quá chuyển, cái nghiệp đó không phải là định nghiệp, ví dụ vậy. Hoặc là nhà mình sập có thể là mình bị thương, bị gãy tay gãy chân thì thê thảm. Nhưng mà cái nghiệp đó mình chuyển, chuyển mất nên hôm đó khiến cái nhà nó cũng rớt luôn một cái cái cánh bê tông xuống, một cái tấm bê tông xuống thì mình mình lách ra được trong gang tấc rồi mình chỉ trầy sơ một ngón tay thay vì là gãy luôn nguyên một cánh tay nát ra. Thì đó, những dấu hiệu như vậy đều là do phước mình làm quá nhiều rồi mình

[16:40]chuyển, chuyển hết luôn hẳn á, chỉ còn để lại dấu hiệu rất là ít. Nên đây là gọi là công năng chuyển nghiệp. Thì ở đây chúng ta nói thế này: Là ừm ví dụ như cái trường hợp này là trường hợp mình làm phước rồi, đã được nhiều rồi nên mình chuyển được nghiệp cũ. Nhưng mà ý ở trong kinh Kim Cang á thì giống như là một người chưa phải là đã làm được nhiều, chỉ mới hiểu kinh thôi, phát tâm thôi, mới làm được sơ sơ, vậy mà nghiệp đã được chặn lại là tại sao vậy? Tại sao vậy? Cái nãy giờ chúng ta ví dụ là trường hợp người đã làm nhiều cho nên xứng đáng rồi, xứng đáng đền được cái tội cũ rồi. Nhưng mà trong kinh Kim Cang thì chỉ cần người

[17:23]thọ trì, tức là mới phát tâm, mới hiểu à. Vậy mà đã chuyển được cái nghiệp cũ là tại sao vậy? Ở đây nếu có ai nghe cái kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn thì chúng chúng chúng ta có giải thích rồi, hôm nay chúng ta lặp lại. Lặp lại thế này: Sự thật nói á nhân quả ai làm nấy chịu là mình nói nguyên tắc tổng quát thôi, chứ không phải là nghiệp ai làm nấy chịu đâu. Là cái một nghiệp của một người liên đới, quan hệ với rất nhiều người trong cuộc sống này. Ví dụ như trong gia đình, một người cha mà bị khổ thì con cái chắc chắn bị khổ theo, phải không? Một người nằm bệnh viện thì những người còn lại trong gia

[18:06]đình phải theo chăm sóc nuôi nấng, đương nhiên như vậy. Đó là nói trong gia đình, còn nói lớn hơn nữa, ví dụ một người trong Đạo Phật mà bị nghiệp chướng thì động lên tới cả chư Thiên. Tại vì chư Thiên, chư Bồ Tát là những vị mà mình lễ lạy, mình ca tụng, mình mình mình cúng dường, mình tán thán, mình đi theo. Cho nên ví dụ một người bị bệnh, bị nạn là động lên tới trên trên chư Thiên á chứ không phải chuyện chơi đâu. Nên nên quý Phật tử nhiều khi mình thấy mình bình thường thì cũng là cái khiêm tốn tốt mà cũng là cái không có trí tuệ của mình. Hồi nào giờ mình đi chùa mình lạy Phật nhiều rồi mình tưởng mình vẫn chỉ là mình, mình làm gì mình hưởng nấy, không có đâu.

[18:52]Mình đang được sự theo dõi ở trên rất là kỹ. Và cái tâm hạnh mình tiến lên như thế nào thì chư Bồ Tát, chư Thiên, chư Phật đều ghi nhận, đánh giá hết. Nên có những trường hợp là nghiệp xảy đến cho chúng ta à mà phước chúng ta chưa đủ để hóa giải. Là ví dụ thế này: Là ừm có một người Phật tử à biết tu hành chân chính, nói như kinh Kim Cang á là biết tất cả là không mà vẫn tận tụy với con người, người tu theo đúng như vậy. Thì chợt có một cái nghiệp cũ xảy ra là có thể bị tù đày, bức bách, nghĩa là bị mọi cái xui nó dồn tới rồi không trở tay được là thấy người ta kiện mình và đủ chứng cớ, đủ cái cái thế để mình phải thua trong một phiên tòa và buộc phải đi tù.

[19:45]Mà cái tù này có thể 5 tới 10 năm, ví dụ như vậy. Rồi lúc đó mình cầu nguyện. Cầu nguyện thì chúng ta sẽ thấy tự nhiên lách qua lách lại khiến khiến bỗng nhiên cái cái chúng ta có những luật sư giỏi hay có những cái cơ may gì xảy ra bất ngờ cái chuyển bại thành thắng, cái phiên tòa vượt qua được. Là mình không thay vì bị 5, 10 năm tù, người ta xét ra là mình chỉ đáng bị phạt thôi. Cái bị tù treo hay là phạt số tiền gì đó chứ không đáng bị giam giữ. À thì đây là phước không phải là do phước mình có mà do thần lực của ở trên chư Bồ Tát, chư Phật á chặn cái nghiệp đó lại cho mình. Nếu cái chữ này mình dùng như vậy thì nói là có phải là sai nhân quả hay không?

[20:31]Bởi vì... Không biết cái nghiệp gì sắp xảy ra nữa đây.

[20:43]Ví dụ như là nói như vậy thì giống như là không phải nhân quả là tại sao có một người can thiệp được vào cuộc đời của người khác? Ở đây chúng ta nhớ như vậy là nhân quả nó không phải chỉ bó gọn trong một con người mà nó liên quan chằng chịt. Vì vậy khi một người Phật tử tu hành chân chính mà bị nạn, tức là bị nghiệp cũ nó đến đó, thì ở trên chư Phật, chư Bồ Tát, chư thiên đều có trách nhiệm. Là cái cái trách nhiệm của họ cứu mình đó là họ căn cứ trên đạo hạnh của mình. Nếu mà mình họ nhìn thấy cái tâm mình hiểu đạo đúng thì cái nhân quả này đó nói là: người này hiểu đạo đúng nè, tương lai người này sẽ làm được rất nhiều công đức lớn.

[21:24]Họ đánh giá trước, bây giờ mình chưa làm được, nhưng mà họ nhìn cái tâm đó họ biết. Với con người khiêm tốn như thế, từ bi như thế, thông minh như thế, quyết tâm như thế, bảo đảm con người này sau này sẽ làm được rất nhiều điều thiện cho cuộc đời. Và như vậy bây giờ tạm thời chặn cái nghiệp không cho người này bị nạn thì người này có cơ hội để tu tập và làm phước thì dần dần sẽ bù lại cái nghiệp của ngày xưa, chặn lại. Nó giống như trường hợp của một ngân hàng vậy. Ngân hàng khi chúng ta đến cái ngân hàng chúng ta vay tiền làm ăn thì chúng ta lúc đó mình không đủ tiền mình mới vay, thì cái người trong cái ngân hàng đó họ xem xét là trước hết chúng

[22:07]ta có cái phương thức làm ăn, rồi cái tư cách của mình, cái lý lịch của mình. Sau khi họ xem thì họ thấy rằng với số tiền mà chúng ta vay được, chúng ta có thể làm ăn có lợi, hiệu quả và có thể hoàn trả lại được cái vốn đã vay của ngân hàng với tiền lãi đầy đủ. Sau khi họ đánh giá như vậy họ cho mình mượn. Chứ còn thực sự lúc đó thì mình không đủ tiền. Do đó lúc đó là vay vốn, đó là biện pháp can thiệp chứ không phải là tiền ai nấy xài. Trong trường hợp này chúng ta đã mượn tiền của người khác mà đây là ngân hàng. Mà muốn mượn được thì người ta đánh giá mình, đánh giá là mình đủ sức trả, đủ sức làm ăn hiệu quả.

[22:50]Thì cũng vậy, khi mà đạo hạnh mình có, nhiều khi cái nạn tới nạn được Phật chặn lại liền, không cho cái nghiệp nó đánh vào mình để cho mình được bình yên và tu tập vì biết là mình sau này làm được nhiều chuyện công đức lớn cho Phật pháp, cho chúng sinh. Thì cái điều này nó rất là hợp lý, rất là công bình và và nó nó tương tự với nhau. Nên chúng ta mượn cái chuyện ngân hàng để chúng ta hiểu được là chúng ta cũng được theo dõi, được đánh giá như vậy. Do đó có thể là hiện nay cho đến hôm nay, ví dụ hôm nay chúng ta nghe tới Kim Cang thứ 13, chúng ta cũng chưa làm được nhiều việc lớn. Nhưng mà nếu chúng ta có cái hiểu sâu sắc, mỗi ngày chúng ta đều giữ gìn

[23:36]đạo lý trong tâm mình, nhìn con người luôn luôn thương yêu, biết tất cả đều vô thường nhưng mà luôn luôn trân trọng nỗi đau của mọi người. Đó! Xem cái gì cũng không nhưng mà luôn luôn tận tụy, làm được rất nhiều điều, làm được điều nào rồi cũng không chấp công. Thì nếu mà mình thấm những điều đó sâu sắc thì ở trên chư Phật đã thấy được trong tâm mình. Và khi mình có nạn mình chỉ khấn Phật bỗng nhiên được chặn lại liền. Không phải là do Phật linh, mà Phật có linh á nhưng mà nghiệp nó chưa hết, mình được vay thôi. Mà khi mà mình cầu nguyện như vậy, mình được vượt qua một cái nạn như vậy thì hãy nhớ điều này, hãy nhớ điều này:

[24:21]ví dụ một năm sau mình có làm được công đức rất lớn thì không có thấy quả báo nha, không bao giờ được thấy quả báo lành nữa. Tại sao vậy? Vì để để trả cho cái nạn năm trước mà mình đã vay phước của Phật, nhớ điều đó. Cho nên có những trường hợp là nói sao tu hoài mà không thấy phước, là cái loại người nào? Là loại người đụng chút là niệm Phật cầu xin. Nha! Thì người đó là Phật đã cho quá nhiều, hễ bây giờ làm được bao nhiêu phước là Phật lấy lại hết. Nên có những người nói là làm phước chừng 3 năm bắt đầu cuộc đời gặp may, nhưng có người nói sao con đi chùa con làm phước cúng dường hoài mà sao đời

[25:03]con không tiến, không thấy may mắn, không thấy giàu, không thấy khá? Thì quá chừng lần mình cầu nguyện, niệm Phật xin cái này xin cái kia quá chừng rồi, tức là vay chưa trả được thì bây giờ là cứ làm phước nhiêu Phật lấy hết. Giống như là có cái người mà mà họ đòi nợ họ đứng ngay cửa, vừa đi lãnh lương về họ chặn ngay cửa: đưa đây, hễ vô không có xài nữa, trả tôi! Ví dụ như vậy. Thì mình phải Cho nên cái người nào mà hễ đụng chút cầu Phật, đụng chút cầu Phật thì ngày hôm nay phải coi chừng lại. Sau này làm phước thì đừng có than là tại sao làm nhiều mà không hưởng nha, nhớ vậy đó. Đó, vì vậy từ đây về sau mình đừng có lạm dụng.

[25:41]Cái gì mình chịu đựng được mình chịu đựng, cái gì làm được làm chứ không phải là mỗi chút mỗi mỗi cầu Phật. Như người đi thi nói Phật cho con đậu, cho con đậu để để con cúng Phật nải chuối. Thật ra không phải vì nải chuối mà Phật cho mình đậu khi nào, mà vì Phật thấy tâm mình có tâm đạo, nói người này thôi kệ cho nó đậu xong mai mốt nó giúp đời được, cái thôi. Là thay vì mình phải rớt lật đật cái tự nhiên đậu, khiến đậu lọt vô. Tới chừng sau này khi mình ra làm bác sĩ, kỹ sư cái mình hy sinh, mình tận tụy cả mười năm như vậy không hề thấy cái gì mà gặp đâu người ta cũng ghét, người ta cũng chửi, không có gì may mắn mà mặc dù mình tốt với con người.

[26:19]Thì ra là bởi vì phước mình không đủ để làm bác sĩ, nhưng vì mình cầu xin quá cái Phật cho. Phật cho nhưng sau đó là suốt lúc mà mình làm bác sĩ, kỹ sư thì làm được nhiêu điều lợi người ta lượm hết, Phật lấy lại hết. Nên cái người nào mà có cái tật hay đụng chút cầu Phật, cầu Phật thì mai mốt mà không thấy phước báo thì hiểu, ngày hôm nay chúng ta hiểu cái chuyện nó xảy ra như vậy, ừ.

[26:47]Rồi trong cái kinh này nói là thay vì chịu đọa nơi ác đạo, tức là mình có cái nghiệp đáng lẽ là phải đọa vào súc sinh, địa ngục hay ngạ quỷ, nhưng mà bây giờ thì mình chỉ bị người ta khinh thường, nói xấu là sao? Chúng ta để ý nè, bây giờ địa ngục, ngạ quỷ thì mình không thấy, nhưng mà mình thấy súc sinh thôi. Ví dụ bây giờ mình có cái bánh mình cho con chó ăn, mình cho làm sao? Có bao giờ mình bỏ đĩa mình dâng hai tay mời chó ăn không? Có không? Không. Đó, mời Mi Lu ăn, không có, mà cầm nè, Mi Lu chốc chốc quăng dưới đất liền, phải không? Như vậy khi mình đối xử với con chó so với cái con người nó một trời một vực khác nhau.

[27:35]Gặp con người mình mời kiểu đó không ai ăn, mà mình phải trân trọng mời đi mời lại hai ba lần nữa. Đó! À! Ví dụ như mà quý Phật tử mà mời như mời thầy á thì mời chưa hết câu là thầy ăn rồi, nên khỏe. Còn gặp cái người mà sinh từ cái vĩ tuyến 17 mà trở ra phía Bắc á thì phải mời ba lần mới ăn. Phải không? Còn vì thầy đẻ trong này nên mời chưa hết là ăn liền. Thì đối với con người là như vậy, cho nên là phải mời mọc đàng hoàng người ta mới ăn, nhưng mà đối với một con vật, quăng xuống thôi. Thì chúng ta thấy cái gọi là bị mình thấy thì bình thường phải không, nhưng mà nếu so sánh rõ ràng súc sinh là phải bị khinh không?

[28:15]Bị khinh bỉ, rõ ràng phải không? Bây giờ ví dụ mình có cái nghiệp đáng lẽ là mình bị đọa làm súc sinh là đáng lẽ bị người ta khinh bỉ ngàn ngàn lần như vậy, chứ không còn đối xử như một con người khi đọa súc sinh. Nhưng ngày hôm nay do mình biết đạo, mình biết tôn kính Phật vượt qua cái hình thức của Phật mà tôn kính sâu sắc nơi cái trí tuệ của Phật, nơi từ bi của Phật, rồi mình biết thương yêu con người, tận tụy với con người mà không chấp công. Tất cả những cái biết, cái hiểu đó mà thành những hành động từ từ từ từ như vậy thì cái nghiệp bị bị chuyển do cái hiểu của mình là cái hiểu của thánh.

[28:50]Khi mình hiểu được như vậy là cái hiểu của thánh thì cái nghiệp mà mình bị khinh á bỗng nhiên nó bị chặn, bị phá đi. Do đó chúng ta không còn bị rơi vào cái cảnh phải làm một con chó mà người ta muốn đá, muốn đánh, muốn quăng ăn sao cũng được, quăng thức ăn mà rớt dưới đất dơ rồi cũng phải ráng ăn, không có. Bây giờ không nữa, chỉ trả lại cũng làm con người nhưng mà có những lúc bị người ta chửi mắng một chút, chửi mắng một chút thôi, nhưng mà cái nghiệp đọa làm súc sinh mất luôn là do trong tâm mình đã có được cái hiểu của thánh, cái tư cách vượt lên rồi. Mặc dầu cái nghiệp cũ để làm chó ví dụ còn,

[29:24]nhưng mà trong tâm đã xuất hiện cái nhân của thánh, hai cái đó phá trừ lẫn nhau. Cho nên bây giờ mình vẫn làm người mà bị nghiệp chút đỉnh, bị chửi mắng chút đỉnh. Nên bây giờ vậy, nếu mà chúng ta có gặp ai chửi mắng thì chúng ta hiểu là chúng ta đã giải nghiệp được rất nhiều do trong tâm chúng ta xuất hiện được cái hiểu của thánh. Cái hiểu của thánh là cái hiểu gì? Như kinh Kim Cang nói ha, chúng ta đã học qua bao nhiêu bài từ trước tới giờ vậy. Làm tất cả mọi điều tốt mà không chấp công, ví dụ vậy đó, vân vân vân vân. Hôm trước giờ học quá nhiều, hôm nay không lặp lại. Nhưng nếu ai hiểu được kinh này một cách sâu sắc như vậy

[30:01]và thực hành như vậy thì chuyển được nghiệp rất là mạnh, bởi vì trong tâm chúng ta le lói cái nghiệp của thánh. Khi nghe nói cái mà le lói cái nghiệp của thánh mình mừng không? Mừng không? Mừng không? Nếu mình mừng là ngay đó không còn hiểu kinh Kim Cang nữa. Khổ vậy đó! Khổ vậy! Không được mừng.

[30:28]Bởi tu nó khổ vậy đó, không được mừng.

[30:35]Tuy nhiên chúng ta phân biệt được hai hạng người, phân biệt hai hạng người để xem hạng người nào chuyển nghiệp. Ví dụ có người tới kỳ giảng Kim Cang thì đi nghe mà nghe đầy đủ, một tháng hai lần vậy, ví dụ mùng một một lần rồi Chủ nhật một lần. Nghe rồi lâu lâu nghe nữa à rồi thôi, quên. Thì người này chuyển được nghiệp không? Không! Không chuyển được. Nghe thấy hỏi ông thầy ổng giảng gì, ờ thấy ổng giảng gì vui vui, thấy lâu lâu người ta cười không biết giảng gì. Thì người này không có chuyển được nghiệp. Còn cái người đó mà nghe xong hiểu và có lý tưởng, có quyết tâm đem trọn cuộc đời của mình sống theo như

[31:15]vậy thì người này mới là người chuyển được nghiệp. Như vậy ai ở trong đây mà lâu lâu nghe cho vui á thì thì đụng chuyện mà năn nỉ Phật không linh, nhớ vậy. Còn nếu người nào mà đi nghe với tất cả quyết tâm của mình, nghe không sót, nghe hiểu kỹ, thấm, quyết tâm thực hành thì người đó là người coi như được Phật quan sát, theo dõi, ủng hộ và cứu giúp khi cần, nhớ, như vậy.

[31:59]Có một đoạn này: "Này Tu Bồ Đề, ta nhớ lại thuở quá khứ a tăng kỳ kiếp trước thời Phật Nhiên Đăng, ta đã từng được gặp 800.000 vạn ức na do tha chư Phật và đều cúng dường thờ sự không sót. Nếu đời sau này có người có thể thọ trì đọc tụng kinh này sẽ được công đức còn hơn cả vô số lần công đức mà ta đã làm trước kia." Thì cái đoạn khen này nó hơi quá đáng, phải không? Mình nghe thấy hơi quá đáng. Tuy nhiên có một chuyện thế này: là Đức Phật trước khi thành Phật là trong quá khứ Ngài đã từng cúng dường, gặp gỡ, tôn kính không biết bao nhiêu là vị Phật. Do công đức đó, Ngài được thành Phật. Thì làm cho chúng ta cảm thấy cái thời gian nó lớn quá,

[32:44]cái công lao của Phật lớn quá, không biết ngày nay mình có làm nổi hay không? Xin thưa thời gian là vô nghĩa, mà cái nhân duyên để làm một vị Phật là vô biên vô tận như vậy đó, cho nên một hai công đức nho nhỏ mình hưởng hết sạch rồi. Nói thế này, ví dụ như là chúng ta đi trồng cây, chúng ta trồng được năm cái cây bưởi hay xoài, thì mình nói: "À, mình trồng cái này sau này mình sẽ được hưởng cái quả, cái trái của nó." Thì đúng là mình hưởng, nhưng mà cũng vừa đủ để mình ăn rồi mình cho vài người hàng xóm à. Nhiều khi không đủ để mình sống quanh năm nữa. Bán ra cái số năm sáu cây không đủ mình sống, không có đủ để mình tích lũy vô tận

[33:28]để trở thành bán ra mà giàu thành một cái người phú hộ giàu có, không đủ. Cho nên phải trồng là cả một vườn bạt ngàn từ nhìn không còn thấy chân trời, nhìn tới chân trời á thì lúc đó cái số đó bán ra đó mới đủ để làm mình thành một người cực kỳ giàu sang. Thì cũng vậy, trong cuộc đời chúng ta mà chúng ta có làm một vài việc phước thì không đủ để mà mình mình mình hưởng nữa. Vì hiện ngày nay á, hiện nay cái xã hội là xã hội tiêu thụ lần lần, nên ai cũng đua đòi để mà mua sắm. Chúng ta muốn mình có một chiếc xe đẹp, một bộ quần áo đắt tiền, cái mỹ phẩm xài cái loại sang, loại tóc thì nó lại bên đỏ bên xanh,

[34:16]rồi đôi giày thì có đầu trước phải mũi thiệt nhọn, ví dụ vậy, cái dây cột ba bốn lớp, ví dụ. Nghĩa là những cái điều đó là cái sự hưởng thụ thì những cái điều mà mình làm phước chút chút không đủ để tích lũy, mình xài hết trơn à. Nhưng để trở thành một vị Thánh, phước cực kỳ lớn, đức thật là vô hạn thì chúng ta làm phước không mệt mỏi, phải vô lượng kiếp như Phật nói vậy đó chứ không phải là dễ. Cho nên vì vậy, chúng ta nghe cái đoạn này thì tuy là có nói hơi quá đáng để khen cái người trì Kinh Kim Cang, nhưng mà nhắc chúng ta một điều làm chúng ta giật mình, tức là chúng ta đừng có hưởng mà phước phải làm thật là nhiều thật là nhiều

[35:02]thì mới có thể có phước để làm Thánh được. Nó nói: "Tại sao mình tu hoài không thấy đắc đạo?" Tại vì cái phước chúng ta ít quá. Chúng ta tiêu, chúng ta xài, chúng ta mua món đồ hưởng thụ nó hết mất tiêu rồi. Chừng nào mà phước thật lớn mới có thể đắc đạo được chứ không phải dễ. Nói: "Sao con đi chùa 10 năm rồi mà chưa đắc đạo?" Hãy hãy nghe Phật nói: "Là ta đã gặp được vô số ức na do tha Đức Phật quá khứ." Hãy nhớ câu đó và mình cứ yên tâm mà tích lũy phước tiếp, nói vậy, ừ. Có một đoạn thế này: "Này Tu Bồ Đề, nếu vào đời sau này có thiện nam, thiện nữ biết thọ trì, đọc tụng kinh này và cũng nếu có người nghe kinh

[35:49]này mà tâm nghi ngờ, chẳng tin, ta sẽ nói rằng cả hai đều có quả báo khác nhau không thể nghĩ bàn, chỉ vì kinh này nghĩa lý không thể nghĩ bàn." Tức là đoạn nhấn mạnh về cái công đức thọ trì kinh, ở trong đó so sánh hai hạng người: là một người nghe, thực hành, tin tưởng, quyết tâm; còn một người thì nghi ngờ, không tin thì quả báo sau này cách nhau một trời một vực. Cái chữ mà "sau này" làm cho chúng ta không hiểu là bao lâu, ừ. Nhưng mà bây giờ chúng ta cứ suy luận chúng ta sẽ thấy đoạn này nói chính xác. Bây giờ nè, có một người không biết thương người, không biết làm phước, không biết giúp ai,

[36:43]coi thường mọi người, và một người biết thương người, biết làm phước, biết giúp đỡ. Ví dụ hai người đó có thể là bây giờ chỗ xuất phát là bằng nhau, hai người đó đều cùng có một chiếc xe hơi, cùng có nhà lầu ba tầng, cùng có công ăn việc làm ổn định, nhưng một người thì chỉ tiếp tục quơ quào về cho mình, vơ vét về cho mình, luôn luôn là tranh danh đoạt lợi, không thương ai hết, còn một người thì luôn luôn tìm cách làm việc thiện, thì hai người đó đã đi về hai con đường khác nhau, phải không? Một người là đi về cõi lành, đi tới những quả báo đẹp, còn một người là đi vào cái cõi dữ, tới những quả báo xấu.

[37:25]Thì mình chỉ nói hai cái rẽ hướng nhau, giống như là từ một điểm xuất phát mà chúng ta bẻ hai cái góc ra, mở ra một cái góc một đường từ một cái điểm từ một cái điểm đặt tên là O, chúng ta mở một con đường Ox đi về cái hướng tây bắc, vẽ tiếp con đường Oy đi về hướng đông bắc, thì ở tại gần cái điểm tâm O đó hai con đường nó còn gần nhau, phải không? Nhưng mà càng đi xa càng đi xa thì sao? Hai con đường nó càng cách nhau, cách nhau muôn trùng. Và nếu chúng ta nghĩ rằng đi tới 1000 năm thì sao? Thì họ không nhìn thấy nhau nữa, người này không nhìn thấy người kia nữa. Mà vì sao vậy? Vì một người ở tận trên cõi trời,

[38:13]một người đang đọa dưới địa ngục, hai người đó không liên quan gì nhau nữa. Mà có thể ví dụ có một thời gian họ là hàng xóm và họ có qua lại, đã có từng nói chuyện, đi trên đường mỗi lần sáng đi làm gặp nhau đều có "À chào anh!" rồi đi làm. Nhưng 1000 năm sau thì cái cơ hội nhìn thấy mặt nhau không bao giờ nữa. Vì cái người kia ở trên cõi trời và họ bận việc của cõi trời, họ tu tập theo cõi trời, họ hưởng cái thiên phước, vinh quang, còn một người chìm mất trong dưới địa ngục, thân hình thì nhỏ, xấu, bị đày đọa, bị la, bị hét ở dưới, lửa đốt, dao đâm. Nên 1000 năm sau thì đúng là một trời một vực là như vậy.

[38:55]Đó là mình nói bình thường chưa có nói Kinh Kim Cang. Bây giờ lại nói nói nhích lên chút xíu. Ví dụ có một cái người không đến nỗi ác để đến nỗi là phải hại người ta mà đi tìm cái lợi cho mình, chỉ là một người sống bình thường không tin Phật pháp thôi, cũng không tin Kinh Kim Cang, không tin có cái đạo lý mà làm thật nhiều mà đừng chấp công là hay, phải nói làm là phải chấp công, làm là phải được khen, là phải được thưởng, nghĩ như vậy, cho nên họ cũng sống bình thường nhưng mà không tin Kinh Kim Cang. Còn có một người tin Kinh Kim Cang là họ tin rằng là sống trên đời này phải làm vô số điều phước mà đừng chấp công, họ tin điều đó.

[39:36]Thì cũng vậy, 1000 năm sau, 2000 năm sau là hai người đó cũng không còn cơ hội gặp nhau nữa. Vì sao vậy? Là bởi vì cái người mà hễ làm một ai mắng mình phải mắng lại, ai hại mình hại lại, ai nói theo thế gian ai chơi mình thì chơi lại, và khi làm điều tốt thì phải được khen thưởng, đánh giá rõ ràng, một người. Thì như vậy họ làm được phước họ hưởng, họ làm phước hưởng, họ làm họ là làm tội thì chịu phạt, làm ra được chút phước thì hưởng liền. Còn một người làm mà không chấp công, cho nên cái phước họ làm họ không hưởng, nó cứ tích lũy, nó cứ tích lũy mà nó dồn nó dồn nó dồn thì nó giống như là cái việc mà một thiết bị bay mà nó cất cánh lên vậy đó.

[40:25]Như một người nhảy lên một cái xong hết đà rớt xuống, một người nhảy lên rớt xuống, còn một cái người kia thì họ cất cánh họ bay dần dần bay dần dần mà tới lúc họ bay càng lúc càng nhanh và bay tới mức độ như phản lực như tên lửa. Thì vì mà phước tích lũy quá lớn, 1000 năm sau, 2000 năm sau vậy họ ở một vị trí ở cõi trời cao, vì do cái tâm họ không bao giờ chấp công, cho nên cái đức họ lớn, cái phước họ lớn, còn cái người làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu thì cứ lẹt đẹt ở cõi người, và hai người đó cũng không có cơ hội gặp nhau nữa. Mà nhất là cái hạng người mà làm mà không chấp công á thì họ ở trên cõi trời mà cái đỉnh cao của cõi trời á,

[41:07]là cái người mà nhiều khi cai quản, chỉ huy cõi trời á, tức là những vị quan nào trên cõi trời á chứ không phải là một thiên chúng bình thường đâu. Cho nên cái phước của người mà làm việc thiện

[41:24]Làm việc thiện mà không chấp công á, thì không không nói hết được. Nó mở ra cái phước rất là lớn, không phải chỉ lên cõi trời, mà nhiều khi làm vua làm quan cõi trời. Do đó, cái đạo lý của kinh Kim Cang á, tuy nói là đơn giản, là độ vô số chúng sinh mà không thấy có chúng sinh được độ, hoặc làm vô số điều thiện, mà không thấy có điều thiện gì được làm. Cái câu nói đó nghe đơn giản, nhưng mà nó mở tung ra cái chân trời vô hạn, nó chuẩn bị thành cái phước rất là lớn. Ngày hôm nay đó, chúng ta nghe thì công nhận có hay, phải không? Thấy hay không? Chúng ta thấy hay, vì chúng ta có trí tuệ, chúng ta biết đúng làm việc thiện đừng chấp công, chúng ta biết.

[42:07]Nhưng mà không biết nó hay cỡ nào đâu. Thật sự quý phật tử không biết là cái đạo lý đó hay cỡ nào đâu. Nếu quý phật tử có trí tuệ cao hơn, mình đắc đạo cao hơn một chút, thì mới biết rằng cái giáo lý trong kinh Kim Cang nói rằng làm phước mà không chấp công á, nó vĩ đại khủng khiếp lắm, không đơn giản. Rất là khó làm, nhưng mà cái phước nó đem đến cho người ta là không thể tưởng tượng nổi. Còn ngày hôm nay, ví dụ quý thầy có ngồi trên pháp tòa, quý thầy có giảng kinh Kim Cang, có ca ngợi: làm phước đừng chấp công nha, làm phước đừng chấp công. Thì nghe cũng có lý: ờ, đúng rồi đạo Phật hay thiệt, là làm phước mà không chấp công

[42:47]là cao thượng, mình chỉ hiểu mơ mơ chừng đó, chứ mình không thể tưởng tượng được cái quả báo khủng khiếp của nó sau này. Quả báo của một người mà làm phước mà không chấp công khủng khiếp, lớn, ghê lắm. Nên vì vậy, một cái người mà thấm được cái giáo lý của Kim Cang và một người không hiểu nổi chỗ này, một ngàn năm sau hai người đó không nhìn thấy nhau nữa, ở hai vị trí cách biệt hẳn luôn. Bởi vậy, nên vì vậy mà có một cái đoạn so sánh là như vầy thế, là một người tin và một người không tin thì thì thì

[43:26]thì không thì không sau này là không thể tính tính toán được cái cái sự sai biệt của họ. Ừm.

[43:38]Bỗng nhiên trở lại trở lại đoạn này nè, chúng ta nghe nè: Khi ấy, ngài Tu Bồ Đề thưa với Phật rằng:

[43:46]Bạch Thế Tôn, khi thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu giác ngộ tối thượng thì dựa vào cái gì và hàng phục nội tâm như thế nào? Này chúng ta nghe chưa? Nghe chưa? Nghe ngay từ đầu kinh, phải không? Nhưng mà tại sao tới giữa kinh bỗng nhiên lặp lại? Lặp lại y như hồi đầu kinh vậy, hử?

[44:09]Và cái đoạn sau chúng ta cũng nghe thế này, nghe Phật trả lời: Ờ, Phật bảo Tu Bồ Đề rằng: Khi thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu giác ngộ tối thượng phải khởi tâm như thế này: Ta nên độ thoát tất cả chúng sinh, sau khi độ thoát tất cả chúng sinh rồi, ta vẫn không thấy thật có chúng sinh nào được ta độ thoát cả. Cái đạo lý này mình nghe chưa? Nghe ngay từ đầu kinh, phải không? Chỉ trừ những người mà chưa có nghe đầu kinh không lấy băng nghe lại thì không biết, chứ ngay từ đầu kinh Kim Cang cái giáo lý này đã được đã được nêu lên. Nhưng mà tại sao giữa kinh bỗng nhiên lặp lại, ai biết? Hử? Tại sao bỗng nhiên giữa kinh lặp lại cái đạo lý này?

[44:58]Ở đây chúng ta chúng ta nêu ra hai lý do mà tại sao bỗng nhiên giữa kinh lặp lại. Lý do thứ nhất là thế này: Ví dụ như trong một cái pháp hội lớn là mấy ngàn con người đến dự để nghe kinh Kim Cang, ví dụ vậy. Rồi cái đạo lý được thuyết giảng rất là phức tạp chứ không phải là chỉ đơn giản cái quyển kinh có mấy chữ thế này, không phải đâu. Khi mà thuyết pháp thật sự thì thuyết rất là dài, mà nếu ai hiểu chép lại thì chép chừng bản mỏng. Chúng ta tưởng tượng có một cái pháp hội như thế, lớn mu- lớn mấy ngàn người. Và khi đang thuyết nửa chừng thì có một đại đệ tử, có thể là hàng cư sĩ nhưng mà là một người

[45:46]đã chứng thánh quả và người rất là uy thế, rất là giàu có và đã ủng hộ cho Phật và chư Tăng rất là nhiều, họ đến muộn. Khi đến muộn thì cái người này mới lặng lẽ đảnh lễ Phật và chúng Tăng rồi tìm đến một cái bóng cây để ngồi xuống tiếp tục nghe pháp. Thì người này sẽ hỏi cái người đã ngồi trước đó ở bên cạnh, nói: Này thưa thiện hữu, là tôi thiếu duyên nên đã đến muộn trong cái pháp hội này, vậy trong pháp hội này Thế Tôn đã giảng đạo lý gì? À. Thì có lẽ vì quý trọng cái người cư sĩ mà đã chứng thánh quả mà đã từng ủng hộ chư Tăng rất nhiều, cho nên Phật và ngài Tu Bồ Đề đã không tiếc lời để lặp lại cái yếu chỉ ban đầu của cái bài kinh này.

[46:44]Là bài kinh này nói đến cái phương pháp để an trú tâm và hàng phục tâm của người tu theo hạnh Bồ-tát, của người muốn đạt được sự giác ngộ tối thượng. Vì muốn đạt được sự giác ngộ tối thượng thì tâm phải được an trú. Mà an trú bằng cách nào? Thì câu trả lời lại lặp lại như thuở ban đầu một lần nữa, là thay vì như trong vô số những bản kinh khác ở Nikaya là nêu ra một cái phương pháp, một kỹ thuật là chúng ta hít vào biết hơi thở vào, thở ra biết hơi thở ra à hoặc là à chúng ta thấy quán thân vô thường, là thấy thân này là những xương trắng, tro tàn, vân vân, thì trong kinh Kim Cang này lại không

[47:30]trả lời như thế, mà lại đưa ra một phương pháp hàng phục tâm bằng cái công đức độ tất cả chúng sinh mà không chấp công. Thì đây là phương pháp an trú tâm. Cái đoạn này lạ một cái là nó không có liên quan gì đến kỹ thuật nhiếp tâm, mà lại là một phương pháp an trú tâm đặc biệt quan trọng của kinh Kim Cang mà Phật nhắc đi nhắc lại hai lần. Đó là một lý do thứ nhất. Lý do thứ hai là có thể qua rất nhiều giáo lý mà chúng ta nghe từ đầu kinh đến bây giờ, bỗng nhiên một người hoang mang, không còn nhớ là thế nào là cái yếu chỉ an trú tâm của kinh Kim Cang nữa, có thể có trường hợp đó xảy ra. Là quên mất:

[48:14]Ủa, kinh Kim Cang thì nói gì cũng hay đó, nhưng mà kinh Kim Cang để làm cái gì? Thì kinh đoạn này để lặp lại để xác định lại một lần nữa, cuối cùng cái công năng của kinh này là làm cho tâm chúng ta đi vào trong an định. Công năng của kinh này là làm tâm chúng ta đi vào trong an định, mặc dầu nói đủ thứ chuyện. Chúng ta nghe đã lần tới lần thứ 13 rồi, có khi chúng ta quên mất, kinh này để làm gì? Chúng ta cứ tưởng nói thấy cái này không, thấy cái kia không, làm mà đừng chấp, vân vân, mà để làm cái gì? Xin thưa rằng, tất cả những điều đó là để an trú tâm. Ví dụ những cái đoạn vừa phía trước chúng ta có nghe

[48:55]là cái người đáng lẽ đọa ác đạo mà tu theo kinh này, chuyển nghiệp liền. À, người nào mà không tin kinh này thì tiếp tục làm một người tầm thường, trong khi người tin theo kinh này thì sẽ trở thành một người vinh quang của cái thiên phước, của thánh quả. Chúng ta nghe một lát chúng ta mờ mịt mất tiêu, quên mất là kinh Kim Cang để làm cái gì. Thì cái đoạn này khẳng định lại một lần nữa sau khi đã nói ra là phước kinh Kim Cang rất lớn, nhưng mà lặp lại một điểm quan trọng, tất cả cái phước đó coi vậy chứ vô nghĩa, cuối cùng vẫn là gì? Vẫn là an trú tâm. Vẫn chỉ là an trú tâm mới là điều quý giá.

[49:35]Ví dụ như chúng ta hưởng được cái phước lớn là mình trở lại cõi này, mình là một người cực kỳ giàu sang, vinh quang, quyền chức lớn, không quan trọng; hoặc chúng ta từ bỏ vẫn là an trú tâm, hãy nhớ điều đó. Cho nên vì vậy là khi mà giới thiệu về phước thì Phật đã nói hai mức độ. Một mức độ dành cho cái người mà chúng ta còn có cái ham thích phước là nói theo kinh này, trì kinh này, thực hành kinh này, phước rất là lớn ở cõi người và cõi trời, chuyển được nghiệp xấu, tăng được cái phước thánh, vân vân, nói rất nhiều. Nhưng mà cái ý thứ hai là nói cho những người trầm tĩnh, sâu sắc, có trí tuệ, không màng tới quả báo.

[50:27]Mà đây mới là cái yếu chỉ quan trọng mà Phật muốn nhắm đến, muốn gửi gắm cho chúng ta là không phước gì bằng cái phước là an trú được tâm. Nhớ như vậy, không một phước gì bằng cái phước an trú được tâm. Chúng ta tu mà chưa an trú được tâm bởi vì chúng ta chưa chưa chưa đủ phước, nhớ điều đó. Nên khi mà chúng ta ngồi thiền hoặc khi chúng ta niệm Phật, chúng ta thực hành rất là miên mật, lâu dài, mà vẫn chưa thấy có kết quả, hôm nay thấy tâm yên yên, ngày mai tâm loạn mất thì phải hiểu một điều thế này, là cái phước chúng ta chưa đủ. Đó. Mà bây giờ dù có cho mình hưởng mọi cái vinh quang thế gian

[51:14]này, cho mình làm chức chức lớn gì, vân vân, nhớ những điều đó đối với cái nhìn của Phật tạm bợ và vô nghĩa. Chỉ có cái phước an trú tâm mới là cái mục tiêu quý giá nhất, chúng ta hãy nhớ điều đó. Chính vì vậy mà có những vị mà họ không màng đến cái vinh quang thế gian, mà lại tìm vào trong rừng sâu an trú trong thiền định. Bởi vì sao? Bởi vì họ hiểu ra được một điều: Phước thế gian coi vậy chứ không quan trọng, mà cái an trú tâm mới là cái quý giá nhất. Đó. Đây là cái điều mà bỗng nhiên giữa kinh dừng lại, lặp trở lại cái đầu kinh để xác định lại cho chúng ta. Nói đi nói lại rất nhiều điều, công đức của Kim Cang cuối

[52:02]cùng phải nhắm vào chỗ là an trú được tâm mình. Tu là phải lấy mục tiêu đó làm chính, còn những phước khác không đáng không đáng chúng ta bận tâm. Vì sao? Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng thì đâu phải là Bồ-tát nữa. Thì cái chỗ này chúng ta hiểu rồi ha, lặp lại thôi. Đoạn sau này: Vì sao? Này Tu-bồ-đề, thật ra không có điều gọi là phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Cái chỗ này đánh vào cái phát tâm ban đầu của chúng ta luôn, nên cái đoạn kinh này mà nếu mình hiểu không kỹ á, thế người ta bỏ tu liền. Chỗ này rất là nguy hiểm. Cái chỗ này phải hiểu cho kỹ.

[52:43]Rất nhiều người đọc kinh Kim Cang tới đoạn này là mất ý chí tu hành luôn, bởi vì cái câu này là thật ra không có điều gì để gọi là phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Cái đầu bài kinh á, chúng ta thấy ngài Tu-bồ-đề nêu ra một cái tiên đề, một cái điểm khởi xuất rất là quan trọng là một cái vị mà cầu giác ngộ tối thượng thì phải tu như thế nào. Thì như vậy xem cái căn bản là cái sự phát tâm cầu giác ngộ tối thượng là tiền đề không được nói tới, mà chỉ bàn cái phía sau thôi, là làm sao để an trú tâm thôi. Nên toàn bộ bài kinh là luôn luôn bàn đến cái việc làm cái gì để an trú tâm. Thì từ trước đến giờ chúng ta nghe nói cách để an trú tâm là làm vô

[53:27]số việc phước mà không chấp công, xem thế gian như không mà vẫn tận tụy với cuộc đời, thấy chúng sinh là hư ảo mà vẫn trân trọng cái nỗi đau khổ chúng sinh, tất cả những điều đó là để an trú tâm. Thế còn cái mà phát tâm cầu giác ngộ tối thượng là tiền đề không được đụng tới, mà chỉ giải quyết cái phía sau đó là để an trú tâm. Nhưng mà tới cái đoạn này đánh luôn vào trong cái tiền đề, là cả cái gọi là phát tâm cầu giác ngộ tối thượng không thật. Nghe tới đây nếu mà chúng ta không hiểu ra được, chới với mất, bỏ tu liền. Vì mất lý tưởng rồi mình không tu nữa, phải không? Sở dĩ chúng ta cực khổ chúng ta ngồi thiền,

[54:07]chúng ta cực khổ thương yêu con người, chúng ta cực khổ tận tụy với cuộc đời bởi vì chúng ta có cái lý tưởng lớn là phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Vậy mà ngay cái điểm này cái sự phát tâm đó bị đánh luôn, làm bị xóa luôn, mình chới với, mất liền, mất hướng đi liền. Nên chỗ này nếu không hiểu bỗng nhiên chúng ta phản bội cái lý tưởng giác ngộ của mình. Cái chỗ này phải hiểu cho kỹ. Hiểu kỹ như thế nào? Chúng ta phải có lý tưởng để làm động lực tu hành, vì nếu không có lý tưởng chúng ta không tu được, nhớ như vậy. Nhưng phải biết bỏ cái bản ngã mà đã tạo ra cái lý tưởng đó. Phải có lý tưởng mà phải bỏ cái bản ngã đã tạo ra cái lý tưởng đó.

[54:56]Chỗ này dễ hay khó? Không làm được. Cái chỗ này rất là tế nhị. Giống như thế này, giống như là chúng ta phải thương yêu chúng sinh nhưng mà phải bỏ cái ta đã thương yêu chúng sinh. Làm được không? Không được. Hễ mình thương thì phải có người thương và người được thương. Còn ở đây mình phải thương yêu con người đến vô hạn, gặp ai cũng thương mà không có cái ta để thương, làm được không? Dường như không làm được, mà không làm được thì không đắc đạo. Thì tới chỗ này mình làm sao giải quyết? Không giải quyết được. Vậy mà mình tu rồi là phải làm được điều này. Cho nên vì vậy trong cái đạo lý mà quán từ bi á,

[55:39]mỗi đêm khi chúng ta quỳ trước bàn Phật hay chúng ta bắt chân chúng ta ngồi kiết già rồi chúng ta tưởng tượng cái tình thương yêu mình lan hết trong vũ trụ này, thương yêu tất cả mọi người. Mỗi ngày chúng ta đều tu như vậy. Có tu vậy không? Dòm mặt nghi quá à, không nghi không có. Người Phật tử phải tu như vậy nha. Mỗi một đêm đều phải trải tình thương yêu khắp cho vũ trụ pháp giới này. Mỗi một ngày đều phải như vậy một lần ít nhất, được không? Nhớ nha, từ hôm nay. Thế là khi mà chúng ta tưởng tượng mình trải tình thương yêu mình khắp trong vũ trụ này, nhưng mà sau đó mình bước ra rồi bỗng nhiên

[56:21]bản ngã mình tăng lên, cái kiêu mạn nó tăng lên. Tại sao vậy? Tại vì nó có một cái ta để nó phát cái tình thương ra. Nên cái chỗ vướng mắc là nằm lại chỗ đó. Vì vậy rồi bây giờ phải làm sao? Phải làm sao thương được, thấy mình thương mọi người mà không có cái ta để thương? Thì tiếp tục sau đó là phải trừ cái ta đó bằng cách nào? Phải thấy mình là cát bụi, là cỏ rác. Đó là lý do tại sao tu từ bi rồi lập tức phải tu khiêm hạ liền thì nó mới hóa giải được. Thế còn nếu tu từ bi mà không tu khiêm hạ thì tuy thương người thì thương đó, nhưng mà vẫn hách xì xằng. Thật sự, chúng ta sẽ thấy như này nè,

[57:02]trong cuộc sống có những người thế này là họ rất tốt với con người. Nghĩa là ai cần gì họ sẵn sàng họ bỏ tiền giúp, nhưng mà thái độ họ vẫn là thái độ kẻ cả. Có không? Có. Là vì sao? Bởi vì đời trước họ thương người, giúp người, có làm phước, nhưng quên tu cái tâm khiêm hạ. Nghĩa là họ ngồi từ bi, quán từ bi, thấy ta thương yêu tất cả thế gian này giống như ta là cha của người ta, của thiên hạ vậy. Nên cái tâm từ bi nó kích động cái sự kiêu mạn dễ sợ như vậy. Bởi vì vậy là hễ có tu từ bi, sau đó phải tu khiêm hạ liền để hóa giải cái trạng thái mà mình thương yêu thiên hạ như thiên hạ là con của mình.

[57:44]Cái chỗ này rất là cẩn thận. Chúng ta thấy như vậy không? Khi mình thương ai dường như người đó thấp hơn mình chút, phải không? Giống như khi mình cho tiền ai thì người đó hơi thấp hơn mình chút. Chỉ trừ trường hợp mình cho tiền thầy trụ trì thôi. Cho ông. Chứ còn mình cho ai mình thấy mình cũng ngon hơn người ta một chút. Và vì vậy cũng vậy, nghĩa là khi chúng ta phát tâm cầu giác ngộ tối thượng thì cái động lực đó rất là quý, nhưng mà nó còn cái ta. Cái ta phát tâm thì chúng ta sẽ thấy mình càng phát tâm chừng nào thì cái ta nó càng càng lớn chừng nấy. Cho nên cái người đó sau khi vô chùa quỳ lạy Phật:

[58:23]Hôm nay con phát tâm cầu giác ngộ tối thượng, đi ra tự nhiên dòm mặt biến thành người khác liền. Nói: Ủa, anh mới vô chùa anh dễ thương, khi anh ra khỏi chánh điện sao thấy mặt anh kênh chịu không nổi? Mới nói: Tại tôi mới phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Nói vậy, phải không? Nghĩa là khi mà mình nguyện là con nguyện sẽ thành tựu được vô thượng chánh đẳng chánh giác này kia nọ, nhưng mà sau đó phải thấy không có cái ta. Đó là con thấy con vẫn là là cát bụi, là cỏ rác. Mãi mãi con chỉ xin được làm hạt bụi nơi bước chân Phật đã đã giẫm qua. Hãy nhớ như vậy. Nên cái tác ý mà khiêm hạ rất là quan trọng

[58:59]khi chúng ta phát tâm những điều hay. Cái tâm khiêm hạ lúc nào cũng vậy, phải kèm kèm kèm để nó xóa đi, nó xóa cái side effect tức là cái phản ứng phụ. Chúng ta nhớ một cái đạo lý gì coi vậy chứ vẫn có một cái phản ứng phụ phía sau. Nghĩa là tâm từ bi coi hay vậy vẫn có thể tạo thành kiêu mạn. Cái phát tâm cầu giác ngộ tối thượng coi hay vậy vẫn có thể tạo ra kiêu mạn. Tức là một đạo lý nó giống như một loại thuốc, thì thuốc nào cũng có phản ứng phụ. Ví dụ như là bị cảm thì mình uống gì? Uống cái gì? Uống cái gì mà trên báo quảng cáo, trên ti vi quảng cáo? Decolgen gì đó phải không? Nhưng mà cái phản ứng phụ là gì? Làm gan.

[59:38]Gan buồn ngủ và hại yếu gan, do đó phải uống thuốc lọc gan thì cũng vậy. Chúng ta có một cái đạo lý hay, hay mặt này nhưng nó lại dở ở chỗ khác, phải biết trừ nó, phải biết chặn cái phản ứng phụ. Trong việc tu hành cũng vậy, cho nên vì vậy mà khi chúng ta nghe cái người nào tu hành tinh tấn một pháp môn một, chúng ta biết ngay người này sao? Thế nào cũng sai. Cho nên vì vậy có một lần có một người Phật tử hỏi chúng tôi thế này: Dạ thưa Thầy, như vậy Phật pháp chỉ tu như thế này là được đúng không? Chúng tôi trả lời: Thầy ghét nhất là chữ chỉ. Chỉ như một cái gì tức là làm có một cái, trong khi viên kim cương không bao giờ được quyền có một mặt, phải không?

[1:00:20]Viên kim cương luôn luôn rất nhiều mặt mới thành một viên kim cương đẹp. Thì đạo Phật cũng vậy, đạo Phật là một cái gì tổng thể toàn diện rất đẹp, từ tâm cho tới thân, tới mọi hoàn cảnh, trong đạo hạnh và trong chí hướng, đẹp tất cả. Cho nên khi chúng ta tu cũng vậy, không bao giờ là chỉ một cái mà làm. Chỉ một cái làm thì cái phản ứng phụ của nó mình trị không nổi. Nói: Anh tu cái gì? Nói: Dạ, em tu từ bi. Ít bữa sau mình thấy người đó thương người thì thương mà kênh chịu không nổi. Bị cái phản ứng phụ cũng vậy. Cho nên cái người nói tu cái gì, nói: Tinh tấn nhập thất thôi, không, tránh duyên, chỉ ngồi thiền lặng lẽ, thì thấy hay không?

[1:00:58]Hay, nhưng mà nếu chỉ như vậy thì cái phản ứng phụ là gì? Hết phước, không có thương chúng sinh, cô độc và ích kỷ xuất hiện. Tại không còn có ai để mình lo hết, bỗng nhiên cái tâm ích kỷ nó lớn lên từ từ. Nhớ như vậy, chúng ta ở một mình tâm ích kỷ sẽ lớn từ từ. Còn khi chúng ta ở với con người, có con người để mình thương yêu, mình lo lắng, mình tận tụy, tâm ích kỷ nó bị đánh vô, nó phá từ từ. Nên đời sống có con người để mình vị tha thì nó mới trừ được cái cái vị kỷ. Nên chúng ta thấy đạo lý gì hay gì hay vẫn để lại một phản ứng phụ. Cho nên ai chuyên chú đi một con đường, chúng ta có thể nói một câu quả quyết:

[1:01:41]người đó có một cái bệnh bên cạnh rất nặng. Như thế á. Cho nên vì vậy luôn luôn là uống thuốc thì phải coi chừng phản ứng phụ, và tu tập Phật pháp cũng vậy, phải luôn luôn coi chừng phản ứng phụ. Và vì vậy, ngay cái tiên đề rất đẹp là một người phát tâm cầu giác ngộ tối thượng, cái tiên đề đẹp vô cùng, nhưng vẫn để lại phản ứng phụ là có một cái ta, cái ta tuyệt vời vô cùng đã biết phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Cho nên vì vậy hôm nay phát thì phát, nhưng mà cái ta đó làm ơn trừ giùm. Nghĩa là khi mình đến trước Phật mình lạy là: Xin Phật chứng minh là con xin được vì tất cả chúng sinh mà con cầu sự giác ngộ tối thượng để sau này đủ đạo lực

[1:02:27]giáo hóa chúng sinh, và xin cho con lúc nào cũng giữ được khiêm hạ, không thấy mình là hay, không thấy mình là quan trọng, xin cho con đạt được cái đạo lý vô ngã. Phải có cái câu thứ hai để trừ lại liền. Và chính cái trung đạo đó, đó là phát cái lý tưởng tu hành, nhưng mà luôn luôn khống chế không cho cái kiêu mạn khởi lên, đó chính là trung đạo mà hôm nay cái đoạn kinh này giải quyết: Là này Tu-bồ-đề, thật ra chẳng có gì gọi là phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Cái câu này để đánh vào cái người đang chấp cái phát tâm, phải không? Ví dụ mình khoe mọi người, nói: Tôi nói cho anh hay nha, tôi đã phát tâm cầu giác

[1:03:07]ngộ tối thượng rồi đó, đừng có đụng tới tôi á. Thì nếu có người nào như vậy thì gặp cái đoạn kinh này: Thật ra không có gì gọi là phát tâm cầu giác ngộ tối thượng, thì cái người đó xìu xuống liền, hết có hết có khoe, hết có kênh, như vậy. Mà đây ai khoe? Ai kênh? Ai khoe? Ai kênh? Mình muốn biết có ai khoe ai kênh hay không thì lát nữa mình về nhà mình hãy nhìn vào trong gương ha, mình thấy cái người đó liền. Nên vì vậy, ở cái chỗ mà phải có lý tưởng, nhưng mà đừng tự hào vì cái lý tưởng của mình thì đây là chỗ mà cái người đệ tử Phật phải khéo léo lách qua đó mà đi. Cái đó cái khe nó rất là hẹp, phải không?

[1:03:49]Mình để nhích qua đây một xíu là mình đụng liền. Hễ mình nhích qua bên đây thì mình bỏ mất lý tưởng, mình nhích qua bên kia để có lý tưởng thì đụng bản ngã liền. Và với mình lách qua cái khe đó làm thế nào có được lý tưởng mà không tự hào vì cái lý tưởng đó. Cái đạo lý chỗ này rất rõ ràng, được không? Được nha, nhớ như vậy. Nghĩa là chúng ta hiểu đạo rất là hay, nhưng mà không tự hào vì cái hiểu đạo đó. Chúng ta có một cái quyết tâm rất lớn nhưng không tự hào vì cái quyết tâm đó. Chúng ta có sự tinh tấn vượt bực nhưng không bao giờ kiêu mạn vì sự tinh tấn đó. Đó, lách qua cái khe hở đó mà đi. Cái khe này không lách qua được thì đứng lại.

[1:04:31]Cấn qua bên đây đụng cục đá, cấn qua bên kia cũng cục đá, chỉ có một cái khe ở giữa rất nhỏ để mình lách lách lách qua lách lại mà đi, khéo khéo mới qua được. Này Tu-bồ-đề, ý ông thế nào? Như Lai có chứng pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nơi Phật Nhiên Đăng chăng? Thưa không, bạch Thế Tôn, như con được hiểu nghĩa lý mà Phật đã thuyết thì Phật không hề thấy mình chứng pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cái này mình đã nghe rồi phải không? Nghe hiểu rồi, đằng sau. Phật bảo: Đúng như thế, đúng như thế. Này Tu-bồ-đề, quả thật không có cái điều Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu có cái điều là Như Lai đã chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh

[1:05:07]Giác thì Phật Nhiên Đăng đã không thọ ký cho ta rằng: Về đời sau này, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Chỉ bởi vì thật không có cái gọi là đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta như thế. Cái câu này nghe nó giống như là ngược đời, phải không? Mâu thuẫn, nhưng mà thật là hay. Vì không thấy mình chứng cho nên được công nhận là sẽ thành Phật. Còn nếu người nào mà thấy mình có chứng thì không được công nhận là sẽ thành Phật. Dễ hiểu không? Dễ hiểu phải không? Đó, chúng ta thấy cũng dễ lắm, ví dụ thế này: Ví dụ như bây giờ trong ngôi chùa thì một vị thầy có nhiều đệ tử,

[1:05:52]nhưng mà có một cái người đệ tử đó rất là siêng năng, giỏi giắn, việc gì cũng gánh vác, mà khi ông thầy ổng khen á, ông thầy khen nói: Thầy thấy con thiệt là giỏi. Cái người đó nói liền, nói: Dạ thưa thầy, con cũng còn rất là dở, con còn phải nương tựa vào các huynh đệ mình rất là nhiều. Nghĩa là mỗi lần ông thầy khen thì người đó lại từ chối không nhận. Thì ông thầy ổng sao? Ông thầy ổng cũng không biết sao nhưng mà ổng buột miệng nói một câu liền, nói: Sau này cái chùa của thầy chắc giao con trụ trì. Đó là một câu thọ ký, đúng không? Đó cũng là một câu thọ ký. Ví dụ như khi mà ổng thấy cái người mà rất siêng,

[1:06:33]rất là tốt, khiêm tốn, hiền lành, khen giỏi thì không nhận, thì tự nhiên ổng có một cái cảm nhận sâu sắc: Đây mới là người trụ trì ngôi chùa tương lai này. Phải không? Vì cái con người mà không chấp công, cái đức rất là lớn. Ổng không cảm nhận một cách rõ ràng bằng cái lý trí, bằng cái ý thức, nhưng mà trong sâu thẳm, chính cái con người mà khen không nhận, cái người đó mới đủ đức làm trụ trì.

[1:07:01]Thì cũng vậy, là cái người mà tu đắc đạo đến cái mức không thấy mình đắc nữa thì người đó bảo đảm hết trật rồi. Người đó bảo đảm hết trật rồi. Người đó chỉ con đường tiến cho tới vô biên vô tận và phải thành Phật thôi. Do đó là Phật Nhiên Đăng đã buột miệng phải thọ ký là ông sau này sẽ thành Phật, hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Cái chữ mà thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni á, bây giờ nếu mà mình xét trên cái sử học tổng quan thế giới, mình thấy nhiều khi sao nó cũng không lớn lắm, phải không? Vì bây giờ mình hỏi một người mà không theo đạo Phật, một học giả ở Âu châu, họ chưa từng theo đạo Phật nhiều,

[1:07:42]cũng không biết giáo lý nhiều, thì họ nếu mà hỏi: Phật Thích-ca là ai? Họ sẽ trả lời là: Cách đây hơn 2.500 năm, ở Ấn Độ, có một cái tiểu quốc Sakya, có một vị vương tử đã không có chịu kế thừa ngai vàng, đã bỏ đi tu, rồi sau đó được gọi là giác ngộ, rồi có dạy dỗ được nhiều người theo, rồi vị đó tịch năm 80 tuổi, và cái giáo lý của vị đó có tồn tại tới bây giờ. Họ chỉ vắn tắt nhiêu đó thôi. Phải không? Và cái gọi là mình tôn sùng một vị Phật là tất cả là chí tôn, là Đấng Chí Tôn chí kính. Phật là Đấng Chí Tôn chí kính, con đời đời xin đảnh lễ Người. Phải không? Có nhớ câu đó không? Phật là Đấng Chí Tôn chí kính, con đời đời xin đảnh lễ Người.

[1:08:32]Từ bi trí tuệ rạng ngời, nương hào quang Phật con rời cõi mê. Lời Phật dạy đường về nẻo giác. Nhớ ở đâu chưa? Thì mình thì mình ca ngợi Phật như vậy, nhưng một người học giả bình thường, họ thấy Phật ờ ông này cũng giỏi thiệt ha, ờ cũng để lại ảnh hưởng dài, vậy thôi, hết. Thì như vậy cái mà thành Phật có gì vinh quang không? Giống như cũng không gì vinh quang lắm, nhưng không phải. Đối với thế giới loài người này thì không gì vinh quang lắm trong giai đoạn hiện nay, nhưng mà đối với thế giới chư Thiên, với những vị Bồ Tát thì đúng là không ai hơn Phật. Và ngay trái đất này cũng vậy, khoảng 100 năm sau thì mọi người sẽ công nhận rằng không ai hơn Phật.

[1:09:20]100 năm nữa, hãy đợi đấy, chờ xem. Là vì sao? Vì lúc đó cái tri thức loài người tiến rất là mạnh, người ta có dịp cọ xát so sánh hết tất cả mọi lý thuyết, mọi tôn giáo trên thế giới này. Hồi xưa á cái thông tin liên lạc á không có liên quan nhau nhiều, nên người xứ nào biết người xứ đó. Ví dụ ở chỗ này đạo Phật, ở chỗ khác đạo khác, không có biết, không có so sánh. Nhưng rồi 100 năm nữa, nghĩa là cả cái trái đất này giống như cái chùa Từ Tân á, qua hôm nay đụng, kia đụng hết, gần nhau như vậy, cái thông tin liên lạc nó rất là dễ. Và lúc đó các cái giáo lý, các cái lý thuyết đụng chạm, cọ xát, được so sánh với nhau hết, và người ta sẽ hiểu rằng

[1:10:02]đúng là không có một cái lý thuyết nào đẹp bằng đạo Phật. Nhưng mà chuyện thực hành được hay không lại là một cái điều khác nữa nha, nhưng và lúc đó họ sẽ công nhận đúng cái vĩ nhân trên cuộc đời này không ai bằng Đức Phật. Người đã để lại một cái chân lý quá tuyệt vời. Nhưng phải 100 năm nữa thì cả thế giới này mới công nhận. Còn hiện nay, cái điều mà biết rằng Phật là Đấng Chí Tôn chí kính thì chuyện đó chỉ ở cõi trời mới đủ sức nhìn thấy thôi. Thì cái chuyện mà được thọ ký thành Phật à là một cái sự giác ngộ

[1:10:38]cao siêu như vậy chỉ được thọ ký bởi vì cái người đó không nhận thấy kết quả của mình, không nhận lấy. Chỉ vì thấy mình không được gì nên đã được công nhận là được tất cả. Cái chỗ này nhắc chúng ta như vậy, là chính cái người nào mà không thấy mình có gì hết thì người đó lại được công nhận rằng sẽ có tất cả. Người nào thấy mình chỉ là hạt bụi, thấy mình chỉ là kẻ tôi tớ phục vụ tất cả mọi người thì người đó lại trở thành người ở trên tất cả, được thọ ký là như vậy á. Vì sao? Vì Như Lai có nghĩa là nghĩa lý đúng như thật của các pháp. Như Lai giả, tức chư pháp như nghĩa, tức là nghĩa lý đúng như thật của các pháp.

[1:11:25]Nếu có người nói rằng Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì phải biết người đó nói sai. Này Tu-bồ-đề, quả thật không có điều gọi là Phật chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ở đây bỗng nhiên định nghĩa chữ Như Lai là gì. Sau này chúng ta sẽ gặp lại: Như Lai là không đi không đến. Nhưng ở đây là định nghĩa: Như Lai tức chư pháp như nghĩa, nghĩa là Như Lai là cái nghĩa chân thật của các pháp. Ở đây á Đức Phật tự xưng mình là Như Lai. Trong cái chữ Ấn Độ, chữ Pali là Tathāgata á. Tathāgata là đến như thế. Tathāgata là đến như thế, một người tự xưng mình là đến như thế, là Như Lai, là ở ngôi thứ nhất,

[1:12:12]số ít, cái nghĩa rất là trừu tượng, và vẫn là một bí hiểm tới bây giờ, chúng ta vẫn không hiểu tại sao Phật lại xưng mình là đến như thế. Nếu mình có nói mình muốn cho dễ hiểu mình phải thêm cái chữ kẻ phía trước: Kẻ đến như thế. Đó Phật chỉ khiêm tốn xưng mình là kẻ đến như thế. Chúng ta không quen lắm phải không? Nhưng mà sự thật là trong cái đời sống văn hóa thực tế của chúng ta cũng có những cái lối xưng hô ở ngôi thứ nhất số ít rất là lạ. Ví dụ thế này: Ví dụ như có người họ xưng hô không rõ ràng, họ kêu người khác thì bằng anh bằng chị mà họ xưng họ kêu là đằng này, nói: Anh có đi đâu anh ghé lại đằng này chơi chút, phải không?

[1:12:52]Anh cho đằng này mượn 5.000 đi, phải không? Đằng này thương chị lắm, ví dụ vậy. Là cái xưng đằng này có không? Có nghe không? Mà có người khôi hài hơn nữa không kêu đằng này mà kêu thằng này: Thằng này nói cho anh nghe nha, là cái thằng này thương anh lắm, ví dụ xưng là thằng này, có không? Mình thấy nó kỳ phải không? Nhưng mà có. Rồi nhiều khi vua xưng mình là cái gì? Trẫm hoặc là quả nhân. Quả nhân là người kém đức. Như vậy. Ông vua mà ổng khiêm tốn ổng xưng, tâu lên để muôn tâu bệ hạ cái gì đó, thì ổng thấy "Quả nhân nghĩ chuyện này thế này". Quả nhân tức là người kém đức, đó. Hay là trẫm. Còn ông quan thì ổng xưng là cái gì?

[1:13:34]Mình coi cái phim Bao Công á? Bổn quan, phải không? Còn người dân mà xưng lại với thì xưng là gì? Thảo dân. Ôi, mấy người này rành dễ sợ thật, đúng. Thảo dân. Tức là thảo là cỏ đó, dân là dân cỏ. Thảo dân hay bổn quan. Tức là cũng có những từ rất lạ, chứ không phải những cái từ bình thường mình đã nghe là tôi, anh hay chị đâu. Có những từ rất lạ. Hoặc là trong truyện kiếm hiệp thì xưng là gì? Tại hạ, phải không? Như vậy. Còn mình nghe người vợ mà xưng với chồng làm quan làm vua thì xưng là thần thiếp. Đó, có những từ cũng lạ. Thì ở đây Phật xưng mình là "Kẻ đã đến như thế". Kẻ đã đến như thế. Mình không hiểu đến như thế là đến như thế nào.

[1:14:15]Nên vì vậy là chúng ta tạm hiểu cái ý nghĩa đó chút. Tại sao Phật xưng đến như thế, kẻ đến như thế? Thì trong cái nghĩa này đó, trước hết nó nghe một cái gì nó hiền lành, không cao siêu, phải không? Không cao siêu lắm, là Phật không cho mình là một cái gì cao siêu mà chỉ gọi là kẻ đến như thế, giống như chữ "đằng này" hay "thằng này", "y" á, hay là "kẻ hèn này", ví dụ vậy, là kẻ đã đến như thế. Là Phật xưng một cách khiêm tốn mà không thiếu phần thâm thúy. Phải không? Trong cái câu đó, chúng ta nghe rất là hiền lành, nhẹ nhàng, đơn giản và khiêm tốn nhưng mà ẩn chứa trong cái khiêm tốn đó có những cái gì rất là sâu xa.

[1:15:02]Kẻ đã đến như thế. Là vì sao? Vì trước hết có nghĩa là kẻ đã đến như thế nghĩa là sự xuất hiện của Phật là một nhân duyên. Nghĩa là Ngài đến như thế vì nhân duyên như thế. Nhân duyên là Ngài phải đến với thế gian. Vì cái hạnh nguyện từ vô lượng kiếp cũng như là cái công đức Ngài từ vô lượng kiếp đã đến lúc phải đắc đạo, đã đến lúc phải thành Phật, nên chuyện như thế thì phải như thế, không khác hơn được nữa. Nên kẻ này đã đến như thế bởi vì cái nhân duyên là như thế, công đức là như thế, sự việc là như thế, cho nên nó là chuyện đương nhiên như thế, nên đừng ai hỏi gì đến chuyện như thế nữa. Nó như thế. Nên cái chữ Tathāgata đó nhiều nghĩa rắc rối,

[1:15:47]nghe thì khiêm tốn, hiền lành nhưng mà chuyện như thế nó thật là khó giải thích cho nó rõ ràng. Hiểu như thế là thế nào. Rồi có một cái nghĩa khác là cái chữ mà Tathāgata, kẻ đến như thế nó còn có nghĩa là nếu hiểu khiêm tốn là: chỉ như thế mà thôi. Là chỉ như thế mà thôi, chứ đừng hiểu gì rắc rối, rườm rà nữa. Nghĩa là cũng chỉ là một con người như mọi người như thế mà thôi. Cái chữ Tathāgata quý vị, Như Lai á. Là coi như trước cái sự mà tôn xưng của mọi người, sự kính trọng tột bực của mọi người, bởi vì nhìn thấy Phật là ngợp liền. Ngày hôm nay đó, chúng ta vô phước, mình cách Phật mấy ngàn năm, chúng ta chỉ tin thôi:

[1:16:31]"À, Phật linh thiêng lắm, cao siêu lắm". Nhưng mà nếu chúng ta có cái duyên gặp Phật thực sự thì chúng ta mới thấy vấn đề không đơn giản. Mình tưởng tượng, mình tưởng tượng là mình đi trên đường rồi mình gặp Phật đi ngược chiều lại. Mình không quen biết. Đại khái là không quen cái ông mà ổng đắp cái y, ổng ôm bình bát ổng đi trên đường là ai. Mà có khi nhằm cái lúc Phật đang đi một mình. Mình ba, bốn người mình đang đi trên đường, gặp một cái ông nào đó, hình như ông thầy tu thì phải, tóc hơi quăn quăn, ví dụ vậy, ổng đi ngược chiều. Nhưng mà tới gần mình nhìn thấy ổng một cái rồi là mình rụng rời, rã rời, rệu rạo liền. Tại sao vậy?

[1:17:10]Sững sờ trước con người, chỉ nhìn hình dung thôi là cảm nhận được sự vĩ đại liền. Còn cái đời nay đó, mình muốn biết cái người nào vĩ đại hay không á là mình phải sống gần người đó, phải không? Nghe người đó nói chuyện, nhìn cái việc người đó làm, hiểu được tâm hồn, nhân cách người đó, mình mới thấy: "À, người này thật vĩ đại". Còn Đức Phật á, Ngài có cái sức thuyết phục kỳ lạ, nhìn thấy một cái là mình nhận ra đây là con người vĩ đại hiếm có giữa cuộc đời này liền. Nghĩa là cái uy đức của Ngài rừng rực chiếu ra. Cho nên vì vậy là vào thời Đức Phật, chung quanh Ngài người ta tôn xưng Ngài, tôn kính Ngài không thể tưởng tượng được.

[1:17:51]Và để đổi lại đó, Ngài xưng Ngài cái chữ là "Như Lai", nghĩa là chỉ như thế mà thôi, tức là chỉ con người như thế mà thôi, chứ không có gì cầu kỳ, rườm rà lắm, là ý muốn giảm bớt lại cái sự cung kính quá mức của mọi người. Nên Ngài xưng cái lời rất là nhẹ nhàng. Nó hay như vậy. Và nó còn thêm có ý nghĩa thế này nữa. Nếu ý nghĩa mà cao siêu á thì chữ Như Lai nghĩa là cái pháp như thật của mọi điều, là muốn nói rằng: Như Lai là kẻ đã đem đến sự thật như thế. Chữ Tathāgata là đến như thế, nghĩa là người đã đem lại sự thật như thế. Vì sao? Vì sự thật này là dù không có Phật thì sự thật vẫn là sự thật, dù Phật không đến.

[1:18:38]Chỉ có một điều là Phật là người thấy được, nói lên được, làm chúng ta hiểu ra được sự thật như thế. Và Phật không thêm không bớt. Phật không thêm không bớt, nghĩa là Phật không có vẽ vời để cho cái lý thuyết nó lạ lùng hơn và cũng không cắt xén bớt, là không thêm không bớt gì đối với cái chân lý mà mình đã thấy. Cho nên cái mà người mà thấy được sự thật thì đó là một sự rất vĩ đại. Nhưng mà nói rằng là sự thật như thế nào Ngài nói đúng như thế không thêm thì lại rất là khiêm tốn. Nên trong cái câu mà nói Tathāgata - Như Lai - người đã đem đến sự thật như thế, câu nói đó vừa khiêm tốn, vừa vĩ đại.

[1:19:19]Vĩ đại bởi vì Phật mới thấy được sự thật để nói cho chúng ta. Và khiêm tốn ở chỗ là đó là một sự thật khách quan, Phật không chế tác thêm. Cái hay là như vậy. Nên vì vậy, chúng ta nhớ cái câu mà nói rằng cái sự chứng ngộ của Phật là "chẳng thật, chẳng hư" là như vậy. Vì sao? Chẳng thật vì Ngài không có thêm gì. Chẳng hư là do Ngài biết được sự thật của vũ trụ, của nhân sinh. Này Tu Bồ Đề, trong cái ý nghĩa Như Lai chứng vô thượng chánh đẳng giác là chẳng thật, chẳng hư là ở chỗ đó quý vị. Thế nên Như Lai dạy rằng: "Tất cả pháp đều là Phật pháp". "Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp", cái câu này là một câu rất độc đáo.

[1:20:06]Tất cả pháp đều là Phật pháp. Cái bài này như chúng ta có nói trong một cuốn băng giảng rồi, quý Phật tử tìm lại nghe nha. Hôm nay mình không có triển khai hết, chúng ta chỉ nói sơ sơ vì trong kinh có nói. "Tất cả pháp đều là Phật pháp", như vậy chữ Phật pháp chúng ta phải hiểu là gì? Tức là nguyên lý, là chân lý, là quy luật. Bất cứ điều gì cũng nằm trong quy luật, cho nên bất cứ điều gì cũng là Phật pháp. Ví dụ, chúng ta thấy một người giàu, chúng ta có thể nói được nguyên nhân tại sao họ giàu. Thấy người nghèo, chúng ta nói được nguyên nhân tại sao một người nghèo. Chúng ta thấy một người làm được công đức,

[1:20:43]chúng ta giải thích được tại sao người đó làm được công đức. Chúng ta thấy một người gây tội lỗi, chúng ta cũng giải thích tại sao người đó gây nên tội lỗi. Nghĩa là chuyện gì cũng có cái quy luật và có nguyên nhân, nên chuyện gì cũng có thể giải thích được. Và vì vậy, bất cứ chuyện gì cũng là là Phật pháp. Cái câu này có nghĩa là như vậy. Là bất cứ điều gì chúng ta đều thấy nó nằm trong quy luật, dù một chuyện rất là bình thường, tầm thường. Ví dụ, mấy người bạn đang ngồi chơi với nhau bình thường, có một người tự nhiên phát hứng lên nói thế này: "Thôi, đi kiếm cái gì ăn cho ngon". Cái đó có gì liên quan tới đạo lý không? Có không? Không.

[1:21:25]Nhưng mà với một người có trí tuệ vẫn giải thích cái câu đó có quy luật đàng hoàng. Tại sao? Và liên quan tới Phật pháp luôn, chứ không phải chuyện đùa. Một câu nói rất bâng quơ: "Rồi, đi kiếm cái gì ăn cho ngon". Một câu tưởng như chẳng ăn nhập gì tới đạo hết, cái chuyện ăn, chuyện ngon. Vậy mà mình vẫn thể giải thích ra đạo lý được bình thường luôn, một cách sâu sắc luôn. Ai giải thích ra được? Một cái điều bình thường vậy mà mình vẫn thấy có đạo lý trong đó, vẫn dùng Phật pháp giải thích được thì chúng ta mới hiểu rằng tất cả pháp đều là Phật pháp. Ở đây chúng tôi không có giải thích cái trường hợp tại sao đòi ăn

[1:22:03]ngon mà lại có Phật pháp nha, mỗi người về mình tự suy nghĩ. Nếu mình suy nghĩ ra rồi thì từ đây mình nhìn mọi điều trên cuộc đời, mình sẽ thấy là cái gì cũng có cái quy luật, có nguyên nhân mà mình có thể nói thành một bài pháp được hết. Ví dụ, mình thấy mấy cái người tự nhiên tóc hôm qua đen, bữa nay tự nhiên có một chùm đỏ, mình cũng giải thích ra tại sao. Nó có cái đạo lý, có quy luật vậy chứ không phải khơi khơi. Rồi một lúc nào đó, bỗng nhiên mình thấy người ta ra đường á, hai cái ống quần một ống cắt phân nửa bỏ, lòi đầu gối chơi. Mình cũng biết tại sao này. Nó có cái đạo lý, có quy luật hết.

[1:22:38]Là tất cả pháp đều là Phật pháp hết. Giờ chưa thấy thì thôi khoan nói. Rồi câu nói kế tiếp thế này: Này Tu-bồ-đề! Nói rằng tất cả pháp cũng chính là không phải tất cả pháp, nên gọi là tất cả pháp. Cái này giống như mọi cái lý luận lần trước phải không? Là bất cứ điều gì cũng có thể được xem là... là Không, nhưng mà vẫn... vẫn là... Có. Tức là tất cả mọi cái đều biến thiên theo quy luật. Cái câu dưới này là để nhắc lại câu trên. Câu trên nói rằng tất cả pháp đều là Phật pháp, thì câu dưới này nói tất cả pháp không phải là tất cả pháp, nhưng mà chính là tất cả pháp. Có nghĩa là tất cả pháp coi vậy nó vẫn là hư ảo,

[1:23:28]vẫn là Không đó, nhưng mà nó đều đi theo có một quy luật, chứ không phải bừa bãi lộn xộn. Giống như bây giờ mình có người đến nói chuyện mình chứ: "À, đêm qua tôi nằm mơ thấy cái giấc mơ là có một cái người họ đem một cái đống tiền vào nhà rồi họ cho tôi. Tôi cảm ơn họ. Cái không ngờ là giật mình thức dậy thì không thấy gì nữa." Thì nghe câu chuyện vậy thì mình nói người ta: "Ôi, chuyện mơ mộng không có thật, đừng để ý." Tức là mình coi rằng hễ cái gì mà là mộng thì nó không có một chút giá trị. Rồi bây giờ bắt đầu chúng ta nghe nói cuộc đời này cũng được xem như mộng thì mình tưởng rằng nó không có giá trị gì hết, lại là sai.

[1:24:10]Cái chuyện mộng mị khác mà chuyện cuộc sống này xem như mộng nó khác. Khác chỗ nào? Khác ở chỗ là mọi chuyện trên đời này mình biết xem như mộng, nhưng mà những điều ở trong cái mộng này, trong cái đại mộng này nó đi theo quy luật. Đi theo quy luật chứ nó không phải là khi không giống như một người vác một bao vàng tới đây cho mình như trong giấc mơ. Ở trong giấc mơ tự nhiên có người vác bao vàng tới cho mình không có lý do, không có quy luật, rồi sáng ra nó mất. Nhưng còn trong cuộc đời này, nếu có một người vác một bao vàng tới cho mình thì tuy nó mộng đó nhưng nó có lý do. Và vì vậy, nhất thiết pháp không phải là nhất thiết

[1:24:50]pháp nhưng vẫn là nhất thiết pháp là vậy đó. Là cuộc đời này như mộng như ảo nhưng mọi cái có quy luật. Cho nên chúng ta vẫn cẩn thận, vừa siêu thoát, vừa không chấp mọi điều, nhưng mà rất là cẩn thận chứ không được sống bừa bãi là vậy đó. Chứ không phải nói: "Ôi, cuộc đời này như mộng, nhất thiết pháp không phải là nhất thiết pháp", rồi mình muốn sống sao mình sống là tiêu liền á, là sai liền. Biết cuộc đời như mộng nhưng mà luôn luôn hết sức cẩn thận, vì chuyện gì cũng có quy luật của nó. Này Tu-bồ-đề! Ví như thân thể của một người cao lớn, cái đoạn này lặp lại hôm trước: Bạch Thế Tôn, Như Lai nói thân thể cao lớn cũng không phải

[1:25:30]là thân thể cao lớn, nên gọi là thân thể cao lớn. Cái này mình có rồi phải không? Thôi không lặp lại để đỡ mất thời gian. Này Tu-bồ-đề! Bồ Tát cũng như vậy, nếu ai nói rằng ta sẽ độ thoát vô lượng chúng sinh thì không đáng gọi là Bồ Tát nữa. Đoạn này chúng ta cũng nói nhiều rồi. Vì sao này Tu-bồ-đề? Quả thật không có gì để gọi là Bồ Tát cả. Thế nên Phật mới bảo rằng tất cả pháp vốn vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả. Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát nào nói rằng ta sẽ làm trang nghiêm cõi Phật thì không đáng gọi là Bồ Tát nữa. Vì sao? Vì Như Lai đã nói làm trang nghiêm cõi Phật cũng tức là chẳng

[1:26:07]làm trang nghiêm gì cả, nên gọi là làm trang nghiêm. Đoạn này chúng ta hiểu rồi phải không? Nghe rồi. Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát thông đạt đạo lý vô ngã, Như Lai nói rằng đó là Bồ Tát đúng nghĩa. Thôi hiểu rồi, không nói nữa. Bắt đầu qua đoạn này: Này Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có nhục nhãn chăng? Là con mắt thịt. Thì ngài Tu-bồ-đề trả lời: Thưa có. Rồi Đức Phật cũng hỏi lần lần tới năm loại mắt của Phật, là có thiên nhãn hay không, có tuệ nhãn hay không, có pháp nhãn hay không, và có Phật nhãn hay không. Thì ngài Tu-bồ-đề đều công nhận Phật có năm con mắt như vậy hết. Thì sau đó Phật mới giải thích là cái giáo lý gì

[1:26:49]mà để Phật xác định rằng mình có năm con mắt? Thì bây giờ chúng ta phải hiểu năm con mắt đó là gì cái đã. Nhục nhãn là con mắt vật chất là như chúng ta đây ai cũng có, trừ cái người mà mình gọi là khiếm thị, tức là không biết nó rớt đâu mất rồi. Thôi. Còn bình thường là chúng ta đều có con mắt này và lâu lâu thì nó cận hay nó viễn hay là nó bị đục thủy tinh thể gì đó vân vân. Và con mắt này thấy được những điều mà như chúng ta vẫn đang thấy đây. Đó. Và mỗi người chúng ta nhìn con người chứ nó khác nhau á. Ví dụ dưới đó quý Phật tử đều nhìn lên chúng tôi, nhưng có người do con mắt chuẩn xác, chính xác thì nhìn thấy chúng tôi đẹp trai vô cùng.

[1:27:33]Nhưng có con người con mắt bị cái gì đó họ nhìn lên thấy trên này xấu. Thấy không? Hễ thấy mà trên này xấu là biết con mắt mình có bệnh, phải không? Mình phải đi chữa. Tuy nhiên là không phải con mắt chúng ta thấy được mọi điều. Không phải thấy được mọi điều. Ví dụ như sóng vô tuyến mình có thấy được không? Không thấy được nha. Cái hơi ấm mình không thấy được. Ví dụ như là cái ly nước trà này nóng thì nó có tỏa ra một cái màu đỏ đỏ chung quanh mình không thấy, con rắn nó thấy, mình không thấy. Hoặc là ánh sáng ngoài tần số rồi là mình không thấy được. Cho nên vì vậy là con mắt này chúng ta thấy được mọi

[1:28:08]điều cho phép thấy chứ không phải thấy được tất cả. Rồi khi chúng ta nhìn thấy rồi đó, chúng ta mới bắt đầu suy luận để chúng ta hiểu được sự thật là cái gì. Đó. Ví dụ như là khi chúng ta nhìn thấy hai người dắt tay nhau đi trên đường, ví dụ một cái người lớn dắt tay một em bé đi trên đường, đó là con mắt thấy. Bắt đầu mình suy luận, thì mình suy luận làm sao? Suy luận làm sao? Thì có người suy luận: "À, đây là cái người nhà, có thể là cha, là mẹ hay là chị của đứa bé đó, họ đang đón nó đi... đi học về", phải không? Nhưng có người suy luận: "À, đây là cái người bắt cóc vừa mới bỏ bùa dụ dỗ dẫn nó đi bán", phải không?

[1:28:48]Tức là từ một cái con mắt thấy giống nhau, nhưng mà cái suy luận khác nhau. Nếu suy luận đúng á thì kết quả tốt, mà nếu suy luận sai thì... thì tệ hại, thì kết quả tệ hại. Nếu quả thật đó là cái người mà bắt cóc con nít mà mình thấy đúng như vậy thì mình có thể mình chặn được một cái tội ác. Nhưng mà nếu người ta là người nhà, người ta dắt con mình về mà mình đi lại mình la lên đây là mẹ mìn bắt cóc con nít thì chuyện gì xảy ra? Nó nhiều cái chuyện nó hơi rắc rối, nó là vậy. Cho nên hai con mắt là thấy những điều cho phép thấy nhưng mà rồi mình cộng thêm cái trí tuệ để mà phải suy luận cho đúng,

[1:29:27]chứ trên đời này nhìn không chính xác, nhìn không không đúng. Cho nên có một người đã nói: "Bạn hãy tin phân nửa những gì bạn thấy và đừng bao giờ tin những gì bạn nghe." Có những người đã sâu sắc. Bởi vì con mắt này chưa đủ biết hết sự thật trên đời, còn phải có cái trí tuệ nữa. Và trong con mắt này thì có người mắt tinh tường hơn người khác, là để nhìn thấy rõ hơn, thấy sáng hơn. Chúng ta vẫn nghe kể có những người, ví dụ như vua Quang Trung Nguyễn Huệ vậy, ổng có đôi mắt là trong bóng đêm, đôi mắt tự phát ra ánh sáng để ổng có thể đọc sách được. Nguyễn Huệ ngày xưa đôi mắt ổng sáng như vậy.

[1:30:05]Cho nên ở trước ba quân ổng nhìn là mọi người chỉ biết sợ và vâng lời, không ai dám cãi. Khi ổng ra ngoài Thăng Long mà vua Lê mới cho triệu tập quần thần lại ngồi để cùng gặp với Nguyễn Huệ thì mọi người mới nhìn Nguyễn Huệ, nói đây đúng là ông thần sống. Cái uy lực khủng khiếp quá! Nhìn các quan cái là quan rúng động tinh thần hết liền, không ai dám nhìn thẳng vào mắt của Nguyễn Huệ. Và ban đêm tắt đèn hết, ổng có thể ổng tập trung nhãn lực ổng nhìn vào trang giấy là ánh sáng chiếu ra, trang giấy hiện ra liền. Nó có những người đặc biệt. Còn bình thường thì chúng ta bình thường, đôi khi chúng ta bị những bệnh về mắt rồi phải chữa, ví dụ vậy.

[1:30:46]Thôi nghỉ ha, có ai hỏi gì không? Có ai hỏi thì chúng ta đưa câu hỏi. Trong khi chờ đợi, chị Tố Lan hát ha. Mời chị. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Và giờ này, Tố Lan xin trình bày một bài thơ

[1:31:05]để cúng dường lên mười phương chư Phật, chư tôn hiền đức Tăng Ni và chư vị Phật tử tại chùa Từ Tân.

[1:31:19]Ngày xưa rừng thẳm hoang vu,

[1:31:29]Người ngồi im lặng bóng bồ đề che.

[1:31:39]Chúng sinh chìm đắm si mê,

[1:31:45]Chờ Người viên mãn câu thề

[1:31:51]nguyện xưa.

[1:31:58]Bốn mươi chín buổi chiều đưa, Người ngồi bất động như là hư vô.

[1:32:15]Dù bão thổi, dù sóng xô,

[1:32:21]Tâm Người kiên cố, chúng ma cúi

[1:32:29]đầu.

[1:32:34]Rồi trong chánh định thẳm sâu,

[1:32:44]Bừng lên trí giác nhiệm mầu vô biên.

[1:32:57]Sao mai từ góc trời lên, Chung tử sinh đã dứt, não phiền tiêu tan.

[1:33:12]Mười phương thế giới hân hoan,

[1:33:19]Mừng Đấng Chánh Giác với ngàn lời ca.

[1:33:32]Chúng sinh giờ đã có Cha, Có đường ra khỏi ngôi nhà trầm

[1:33:44]luân.

[1:33:49]Vũ trụ rực rỡ mùa xuân, Ngàn sao sáng mãi một chân lý

[1:34:03]này.

[1:34:09]Vũ trụ rực rỡ mùa xuân,

[1:34:20]Ngàn sao sáng mãi một chân lý

[1:34:29]này.