Transcript: Một Số Trường Hợp Đắc Đạo 02

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:20:15

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Giảng sư phải... bất cứ ai cũng phải có bổn phận đó hết và phải đào tạo cho mình được cái khả năng đó chứ không có riêng người nào hết. Hễ mà chúng ta đã phủi tóc mặc áo rồi thì một ngày nào đó phải trở thành một người có khả năng thuyết giảng và giảng đúng chánh pháp, giảng lôi cuốn, hấp dẫn. Mà trên căn bản của một cái thân giáo, giới hạnh vững chắc. Chúng ta chỉ đóng góp cuộc đời được bao nhiêu đó để đền ơn đàn na tín thí, đền ơn thầy bạn dạy bảo thôi. Mà như vậy, cái học của mình không thể là một cái học chơi chơi được, học rất là sâu sắc, có một sự rèn luyện cực khổ, chứ không thể mình học một cách hời hợt được.

[0:56]Quý sư ráng điều đó. Chúng ta học cũng phải học hết mình, học một cách vất vả. Chúng ta thấy người đời họ đi học, giả tỉ như họ đậu được cái tốt nghiệp phổ thông thôi, bao nhiêu năm cơm áo, cực khổ, học thức đêm thức ngày mà chưa làm được điều gì, còn phải học nhiều nữa. Chúng ta là người xuất gia, chúng ta thấy mình hơn đứng ở vị trí hơn người thường, mà đủ khả năng để giáo hóa người khác thì cái học không đơn giản. Nhất là như trong cái bài kinh mà Gopaka Moggallana, một trong mười khả hỷ pháp để cho một Tỳ kheo được mọi người nương tựa là là có cái đa văn ở trong đó, là học rất vững, không có thường thường, bên cạnh sự tu chứng,

[1:41]cái học rất vững, học rất vất vả, nắm vấn đề rất là kỹ, sâu sắc và chính xác. Trong đó mình có cái sáng tạo thêm của mình.

[1:53]Chúng ta học trong kinh điển là học cái căn bản thôi, nhưng mà còn phải có cái sáng tạo của mình để làm cho đạo Phật được phát triển mãi. Những bài kinh trong trong kinh điển nó là những tư tưởng cơ bản thôi. Mình phải có cái nhìn từ một cái câu kinh gọn vậy mà mình thấy được cả một cái ý quan trọng để mình áp dụng cho việc tu, áp dụng cho việc tu của mình rồi mình lấy kinh nghiệm mình hướng dẫn người khác. Từ những câu rất nhỏ gọn, người khác nhiều khi nhìn vô không thấy được cái ý đó mà mình phải nhìn vô thấy được cái ý đó. Rồi nó thêm một cái điều nữa là cứ thế hệ sau phát triển hơn thế hệ trước.

[2:33]Ví dụ như thế hệ bậc thầy của chúng ta, các ngài đọc bài kinh đó giảng giải được như vậy, nhưng đến thế hệ chúng ta, chúng ta phải có cái sáng tạo hơn nữa. Phải sáng tạo hơn lớp người đi trước rồi chúng ta phải dạy cho đệ tử chúng ta làm sao sau này có những cái sáng tạo hơn chúng ta ngày hôm nay nữa. Phải như vậy đạo Phật mới không mai một, tiến theo kịp với thời đại. Chứ không bao giờ chúng ta là một người kết thúc, chúng ta phải có một cái tư tưởng chuẩn bị, không bao giờ chúng ta là một người kết thúc hay thầy chúng ta đã là một người kết thúc vấn đề, không có. Chưa bao giờ vấn đề được hoàn chỉnh hết,

[3:12]luôn luôn đợi mãi đời mãi sự đóng góp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cho nên, chúng ta cố gắng học hết sức mình, tu hết sức mình để có thể dạy được người khác, đủ khả năng làm thầy dạy người khác và chúng ta phải đủ khả năng dạy làm sao để cái người sau này trở thành thầy dạy người khác nữa. Chứ không phải chúng ta chỉ làm cho mình trở thành một bậc thầy không, chưa đủ, mà chúng ta phải đủ cái khả năng dạy để cho đệ tử mình thành thầy dạy người khác nữa, như vậy đạo Phật mới không mai một. Thì quý sư nghĩ cái tu, cái học để đủ cho mình thành thầy và dạy được đệ tử mình thành thầy thì cái tu học hiện nay nó nó có thể đơn giản được hay không?

[3:56]Đơn giản hay không đơn giản? Cho nên, đối với vấn đề học mà chúng ta không có một cái nghiêm túc, hết sức cố gắng thì là thiếu một cái điều ghê gớm lắm. Chúng ta phải nói là thiếu bổn phận đối với Phật pháp, đối với chúng sinh, đối với ơn của thầy tổ, đàn na tín thí thấy ghê gớm lắm. Cố gắng. Cái học nó không phải là

[4:20]chúng ta thu nhận kiến thức suông rồi thôi, không phải. Chúng ta học là chúng ta đi tìm phương pháp để tu, để áp dụng trong cái nội tâm của mình. Một cái câu nói ra, một ý nghĩa chúng ta nhận được, chúng ta áp dụng trong đời sống để tạo cho mình thành một cái đức hạnh, thành một cái sức sống tâm linh thật sự. Học là như vậy, chứ không phải học là để nhớ để hiểu. Không bao giờ học là để nhớ để hiểu mà thôi. Học rồi làm sao biến thành con người của mình, nghĩa là từ cái mình hiểu, cái nhớ đó trở thành cái nhân cách, một cái sự tu chứng của tâm linh, một sự tiến bộ tâm linh rõ ràng và sự tăng trưởng của đạo đức.

[5:02]Có một điều mà tôi rất lấy làm lo sợ cho bản thân của tôi và tôi cũng nhắc nhở các đệ tử là ngay khi mình mới tu không được bao nhiêu người kính trọng mà mình phải kính trọng những người khác thì cái ngã mình nhỏ lắm, tại mình mới vô chùa mà, gặp ai mình cũng phải chào, phải xá. Nhưng theo ngày tháng mình lớn lên dần dần, mình thọ giới này giới kia, qua năm tháng mình có đệ tử, bắt đầu mình lần lần được người ta chào, xá, cung kính lại mà mình không cần phải đáp lễ lại nữa. Lúc cái ngã mình nó leo lên từ từ, từ từ mà mình không thấy. Dù rằng có khi mình đang được cái định rồi đó, mình đã nhiếp tâm được vào định rồi,

[5:44]mà khi mà được cái sự cung kính của mọi người nhiều quá, cái ngã mình nó vẫn tăng lên một cách bí mật bên trong mà cái định mình không đủ để kiểm soát nó nữa. Lúc đó cái nhân cách mình đang đổ vỡ từ từ mà mình không hay và bên ngoài người ta cũng không ai biết, không ai biết, người ta vẫn nghĩ rằng mình đạo cao đức trọng và mình cũng nghĩ như vậy. Nhưng mà cái ngã mình nó đang lớn dần dần dần dần cho đến một ngày kia, một ngày nào đó có một chuyện gì đó xảy ra, mình nói lên một lời, mình làm một cử chỉ, lúc đó mình và mọi người mới biết rằng cái nhân cách của mình đã đổ vỡ hết rồi, mà không ai hay, cả một thời gian dài mình không biết.

[6:25]Cho nên ngày hôm nay, chúng ta phải học những cái kinh nghiệm đó, nó thành một cái kinh nghiệm cho đời mình, từ bây giờ mình phải có một cái nhận định: phải làm sao tránh cái ngày sau này khi mà mình đã thành Thượng tọa, Hòa thượng rồi mà cái ngã của mình nó mỏng nhạt như sương, như khói, không để cho nó lén, nó phát triển trong tâm mình mà mình không biết, mặc dù mọi người chúng ta đang xung quanh đang cung kính mình. Cái sự cung kính của mọi người là mũi dao giết chết mình từng giờ từng phút mà mình không biết, nguy hiểm, nếu mình không có sự tỉnh giác, không được sự nhắc nhở, không có sự chuẩn bị ngay từ bây giờ, ngay từ bây giờ.

[7:03]Mới trong đạo mà nhất là bên quý sư, cả Khất sĩ và Nguyên thủy cũng vậy, Bắc tông cũng bị nhưng Bắc tông tôi thấy ít bị hơn, là khi người ta thọ giới Tỳ kheo rồi đó thì người ta cảm thấy mình rất quan trọng. Đây là điều đáng buồn. Trong khi cái giới mà thọ được chưa có nói lên cái giá trị của người đó mà ai cũng tưởng mình đã hay rồi. Thì quý sư thấy mới như vậy mà đã như vậy, huống hồ sau này tuổi đời theo năm theo tháng lớn lên nữa, người ta cung kính mình nhiều hơn nữa thì cái bản ngã tới đâu, cái nhân cách nó đổ vỡ tới đâu mình không hay. Từ bây giờ mình phải chuẩn bị cho cái ngày đó, cái ngày mà mình được nhiều người cung kính.

[7:45]Bây giờ chúng ta nghe tiếp trường hợp của ngài Vajjiputta. Trong thời Đức Phật hiện tại, ngài sinh trong một gia đình viện nghị sĩ và được gọi là con của Vajji. Chữ Putta là con, Vajjiputta là con của Putta. Ngài thấy uy nghi đức độ của bậc Đạo Sư khi bậc Đạo Sư đến Vesālī, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Và sau thời kỳ làm Sa-di, ngài ở trong một ngôi rừng gần Vesālī. Một ngày lễ được tổ chức ở Vesālī và có hát, có nhạc, có múa và mọi người hoan hỷ tham gia ngày lễ. Tiếng ồn ào làm vị Tỳ kheo dao động, ngài bỏ chỗ tịnh cư của ngài, dừng nghỉ tu tập thiền quán và nêu rõ sự viễn ly của mình trong câu kệ:

[8:28]"Một mình chúng tôi sống trong rừng núi hoang vu, như khúc gỗ bị quăng bỏ rơi trong rừng núi, như vậy ngày tháng qua ngày này tiếp ngày khác, còn có ai bất hạnh hơn bất hạnh chúng ta." Ngài than lên cái nỗi buồn của sự cô độc. Một thiên nhân trong rừng nghe vậy, thương xót vị Tỳ kheo nên đến trách vị Tỳ kheo: "Này Tỳ kheo, dù ngươi có khinh thường đời sống trong rừng núi, nhưng những vị sáng suốt muốn sống thanh tịnh đều nói nhiều đến rừng núi." Thiên nhân ấy nói lên bài kệ tán thán đời sống ở rừng núi: "Một mình chúng tôi sống trong rừng núi hoang vu, như khúc gỗ bị quăng bỏ rơi trong rừng núi,

[9:05]nhưng nhiều người thương mến đời sống ấy của ta, như kẻ đọa địa ngục ưa đón cảnh thiên giới." Rồi vị Tỳ kheo như con ngựa hay được thúc đẩy, ngài triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài nghĩ: "Bài kệ của thiên nhân đã thúc đẩy ta" và ngài đọc lại bài kệ ấy. Trong đây thì cái trường hợp của ngài nó có một cái điểm đáng chú ý là trong giai đoạn đầu, khi mà ngài chưa phát triển được thiền quán, ngài có cái mặc cảm cô độc, bị bỏ rơi, bị thiếu thốn.

[9:39]Nhưng mà cái vị thiên nhân nào đấy mình không biết đã cảnh tỉnh ngài. Vị thiên nhân này có vẻ là thần bí, nhưng mà sao đời xưa thường hay có mà mình thì không biết, mà thường thường là thường hay do Tam Bảo gia hộ thôi, nhưng trong kinh cứ ghi như vậy theo như cái quan niệm, cái tín ngưỡng của người Ấn Độ ngày xưa. Ở đây là chúng ta thấy chúng ta cũng dễ bị cái tâm trạng này của ngài lắm. Tôi nêu cái trường hợp của ngài là nói như vậy đó. Có những lúc nào đó chúng ta thấy một người sống tịnh cư, cô độc, cái đời sống có vẻ âm thầm mà vĩ đại quá, chúng ta cũng muốn thực tập, chúng ta tìm về nơi hẻo lánh để sống.

[10:17]Nhưng do tâm mình chưa nhiếp được nên có thể một ngày nào đó chúng ta bị cái mặc cảm cô độc này nổi lên thì chúng ta nhớ lại trường hợp của ngài. Khi cái mặc cảm buồn bã, cô độc khi mà thấy dân mọi người chung quanh họ đang vui đùa trong cái lễ hội, còn mình sống âm thầm, hẩm hiu ở đây thấy có vẻ buồn thì mình ráng vượt qua. Nghĩ rằng như cái người thiên nhân nói, những người mà có trí, những người thật sự đi tìm sự tu chứng thì ưa thích cái nơi vắng lặng như vậy để hàm dưỡng được cái tâm linh, cái đạo đức của mình. Và các vị đó thương mến cái đời sống đó giống như kẻ đọa địa ngục mà ham thích cái cảnh của cõi trời, đúng như vậy.

[11:01]Ngài Meghiya, trang 48. Trong thời Đức Phật hiện tại, ngài sinh ở Kapilavatthu trong gia đình một hoàng tộc Thích Ca và được đặt tên là Meghiya, có nghĩa là như mây. Khi lớn lên, ngài xuất gia hầu hạ Thế Tôn. Khi Thế Tôn ở Calika trên bờ sông Kimikala, thấy một rừng xoài xinh đẹp, ngài muốn sống tại đấy nhưng hai lần Thế Tôn không chấp nhận và cuối cùng trước lời yêu cầu khẩn khoản, Thế Tôn cho phép. Nhưng ở đấy, vì tâm tư bất thiện không chế ngự được và bị ruồi muỗi cắn nên tâm ngài không được định tĩnh và ngài lại về hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn dạy: "Này Meghiya, khi tâm chưa chín muồi để giải thoát,

[11:48]năm pháp đưa đến tâm trạng ấy." Và bậc Đạo Sư giáo giới cho ngài. Nhờ đấy, Meghiya chứng quả A La Hán và nói lên thánh trí của mình trong bài kệ: "Bậc Đại Hùng giảng dạy, vượt qua tất cả pháp, ta nghe pháp ngài dạy, sống hoan hỷ cạnh ngài, ba minh ta chứng đạt, lời Phật dạy làm xong." Ở đây, chúng ta thê... nghe thêm một cái trường hợp nữa là khi cái đạo lực chưa đủ mà chúng ta đã vội vàng

[12:23]dấn thân vào những cái cái cái nghịch cảnh, cái thiếu thốn quá thì nó lại làm trở ngại cho sự tu hành. Đó. Cho nên để chúng ta cân đối cái đời sống của mình làm sao cho nó thích hợp, chứ không bao giờ được quan niệm một cách cố chấp, cực đoan. Cố chấp, cực đoan là sao? Là có người chủ trương theo như người xưa là phải khổ hạnh, phải ít ăn, ít ngủ, phải đày đọa cái thể xác, như như kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: đầu hôm ngồi thiền, giữa hôm tụng kinh, nửa kinh hành, rồi cuối hôm là ngồi thiền gì đó, cả đêm như không ngủ, cho vậy mới là cái hạnh của Sa môn là một sự sai lầm. Hoặc có người nói rằng:

[13:08]"Phải ăn càng ít càng tốt, nhờ ăn ít như vậy cái tâm mình nó thanh tịnh dễ tu." Sai lầm nữa. Vì sao? Vì mình muốn nhiếp tâm được, mình phải có cái sức mạnh ở não, não mình phải rất là khỏe, mình mới nhiếp tâm được. Não mà không khỏe, người đó sẽ bị căng thẳng thường xuyên, sẽ bị mất ngủ, muốn nhiếp tâm nhiếp không được. Lúc đó tâm nó cứ tự khởi lên những cái ý tưởng lăng xăng, loạn động mà mình không kềm lại được. Bộ não đó gọi là bộ não yếu. Nó có hai trường hợp bệnh là bộ não yếu rồi tới bộ não hư. Bộ não yếu, tức là mình không làm chủ được cái tư tưởng của mình, không nhiếp nó lại được, muốn nó yên mà nó không yên được.

[13:53]Nằm xuống muốn ngủ mà nó cứ khởi hết ý nghĩ này tới ý nghĩ kia làm căng thẳng, không ngủ được, đó gọi là bộ não yếu, người ta gọi là suy nhược thần kinh. Còn bộ não hư là nó đi tới trầm trọng mất cái nhân cách. Tự người đó không làm chủ được nhân cách, trong đó nó khởi ra những ý nghĩ, nó sai khiến mình phải làm thế này làm thế kia, người ta gọi là bệnh điên hay là bệnh tâm thần. Thì trong hai trường hợp bộ não yếu hay hư, nó đều có một cái tính chất giống nhau là tự nó hoạt động mà mình không còn kiểm soát được nữa, đó là yếu hay hư. Còn bộ não mạnh là bộ não mà mình kiểm soát được, mình muốn nó thanh tịnh thì nó thanh tịnh, mình muốn nó suy nghĩ thì nó suy nghĩ, đó.

[14:38]Mà cái đời sống không hợp lý, ăn ngủ quá thiếu thốn thì nó làm cái thân thể suy kiệt, rồi bộ não suy kiệt theo. Ít ăn á thì cơ thể gầy mòn, suy nhược cơ thể trước. Suy nhược cơ thể một thời gian dài, bắt đầu tới suy nhược thần kinh, bởi vì lượng máu và oxy cung cấp lên não không đủ, những chất dinh dưỡng nuôi não không đủ nữa, nên bộ não lần lần bị suy nhược. Đó, nó hư yếu, không nhiếp tâm được nữa. Rồi cái ngủ ít á, ngủ không đủ giấc mà cứ ráng gượng nửa đêm bật dậy, bật dậy để ngồi thiền á, lâu ngày nó sinh căng thẳng. Cái căng thẳng nó nó làm căng thẳng toàn bộ cơ thể, vùng nào yếu nó nổ bệnh ra trước.

[15:21]Nếu người đó bao tử yếu thì đổ bao tử trước, người đó gan yếu đổ gan trước, người đó thận yếu, thận đổ trước. Mà cái quan trọng nhất là căng thẳng thần kinh thường xuyên, không nhiếp tâm được. Cho nên chúng ta phải chọn cái chế độ ăn ngủ, sinh hoạt nó hợp với thể tạng của mình và hợp với trình độ tu của mình, chứ đừng có bắt chước ai hết á. Thí dụ như chúng ta tự thấy là một ngày mình ngủ tám tiếng mới đủ, mà bảy tiếng thì ngày đó mình có vẻ tinh thần nó không minh mẫn là phải ngủ đủ tám tiếng. Chúng ta thấy ngày đó tự nhiên chúng ta phải ăn ba bữa cơm, buổi chiều ăn một chén, bữa những bữa khác ăn ba chén.

[16:01]Chúng ta thấy ăn như vậy mới đủ sức, còn ăn yếu hơn, hơi yếu thì buộc lòng phải ăn như vậy, không cách nào khác. Mà mình làm sao mình cảm thấy cơ thể khỏe, cái mình cảm nhận đầu tiên là mình cảm thấy tinh thần thư thái và cơ thể khỏe thì cái chế độ đó thích hợp với mình, cái giờ đó thức dậy là hợp với mình. Đừng có đừng có hấp tấp mà giảm bớt. Đến khi nào cơ thể khỏe mạnh á, đầu óc thư thái đó thì phải nỗ lực ngồi thiền, chứ trong lúc đó mà không nỗ lực ngồi thiền thì không bao giờ tiến hơn được nữa. Nghĩa là trong khi mà mình cảm thấy cơ thể đang khỏe, tinh thần thư thái phải nỗ lực tìm cái phương pháp,

[16:38]nhờ ai hướng dẫn để nhiếp tâm vào định cho bằng được cho đúng cách. Khi nhiếp tâm vào định được rồi, bỗng nhiên mình tự mình thấy cái đòi hỏi của cái ngủ nó giảm lại liền. Lần trước mình ngủ phải tỉ như là buổi tối mình ngủ bảy tiếng mới đủ, hôm đó mình ngủ năm tiếng mình thức dậy mình thấy thư thái liền, chứ nó không có đòi phải ngủ thêm nữa. Giấc ngủ nó sâu rồi do có cái sức định, mình thấy: "À, như vậy từ ngày nay năm tiếng mình đủ rồi." Cái mình canh năm tiếng mình thức dậy, tự nhiên cái ngủ nó giảm lại. Và cái ăn cũng vậy, những ví dụ lúc đó mình thấy lao động nặng thì mình cứ ăn bình thường, hôm đó mình cảm thấy

[17:15]công việc rảnh rỗi, tự nhiên mình thấy cơ thể nó cũng bớt đòi hỏi mà vẫn khỏe, mình có quyền bớt lại ăn từ từ. Mình phải theo dõi cơ thể tự biết mình, không được nghe lời ai hết. Không được nghe lời hai cái: một là mình và hai là người khác. Một là mình là sao? Nghĩa là ăn ngon quá, thôi ráng ta ăn cho no chút nữa, hoặc là muốn làm như ta đây ngon lắm, để mọi người biết ngày ăn một bữa, tuyên bố: "Ngồi tôi ăn có bữa", gặp ai cũng khoe cùng trời cùng đất: "Tôi ăn ngày có bữa, ngủ ngày có ba tiếng à." Mà tới mình ở đây mình ngủ ngày có ba tiếng mà ở thành phố biết luôn vậy đó, thì cái đó nó không phải là cái tu,

[17:54]cái đó là cũng nghe lời theo cái tâm háo danh của mình. Cũng nghe lời theo mình là cái sự buông thả. Ví dụ như ngon quá, đáng lẽ cơ thể mình ăn ba chén vừa đủ rồi, mình cảm thấy cần phải ăn bốn chén, cái từ từ mình lên cân, thấy bộ phát tướng, ha, gặp ai cũng khen: "Thầy bữa nay phát tướng", cái rồi ráng thêm năm chén cho mau mau phát tướng, đó cũng là một cái không phải chánh kiến, quan niệm nó sai lầm. Đó là nghe lời mình mà nghe lời sai đó, hoặc nghe lời người khác. Nghe người ta khuyên là phải ngày ăn một bữa, ngủ bốn tiếng thôi, vậy mới tu tinh tấn mau đắc đạo, mình lật đật mình làm theo, đày đọa cũng là sai.

[18:30]Cho nên ở đây mình tránh hai cái: đừng nghe lời người ta vội mà cũng đừng nghe theo cái chủ quan của mình. Phải bình tĩnh quan sát, tìm chế độ sinh hoạt thích hợp với mình để cho mình khỏe, thư thái, sáng suốt mà tiến tu, đó là điều quan trọng á.

[18:48]Rồi từ cái căn bản mà chúng ta khỏe thư thái đó, ráng nhiếp tâm. Còn trước khi mà chưa đủ đạo lực thì đừng vội vàng dấn thân vào những nghịch cảnh mà nó chỉ quấy rối thêm làm tâm mình phiền động, không ích lợi gì hết. Đó là trường hợp của ngài Meghiya. Ở đây có một cái bài kệ ha, muốn nói là ngài tuyên bố: "Ba minh đã chứng đạt, lời Phật dạy làm xong."

[19:14]Ở đây ngài tuyên bố lên cái chỗ cái kết quả của mình.

[19:20]Chúng ta thấy thế nào? Có phải là một lời khoe khoang? Như chúng ta vẫn nghe nói cái người tu chứng không ai biết, mà ở đây ngài tuyên bố lên, có phải ngài sai lầm?

[19:38]Người có say không?

[19:42]Sư Trung. Người có say không Sư? Sư Sư Hạnh à.

[19:53]Sư Hạnh ráng lên nghe. Ráng làm thuốc đi. Dạ. Dạ. Ừm. Ừm, đúng rồi. Không uống nhưng mà. Tôi không tin câu chuyện đó. Tôi khẳng định. Có nhiều câu chuyện Phật giáo được kể lại, kể cả được kể lại trong luật, tôi đọc lại tôi không tin. Tôi khẳng định điều đó. Chuyện đó không không thực tế. Ngày xưa thời nguyên thủy Đức Phật và các chư Tăng ăn mặn nha. Người ta cúng gì ăn nấy, cúng thịt cúng cá thì ăn hết, ngày ăn một bữa nhưng ăn mặn. Ngài không quá cố chấp chuyện đó. Với một điều nữa là cái lược trùng trong nước á, nó có cái ý nghĩa gì? Mặc dầu nói ra đó nó giống như là sợ cái con vật đó con vi

[20:41]trùng nó chết, không không có quá quá đáng như vậy đâu. Tại vì con lãi trong bụng mình, mình cũng cần phải xổ. Con vi khuẩn nó ăn mình phải uống kháng sinh để diệt cái nó đi mà. Cái con trùng trong nước nói như vậy sự thực là ngày xưa Phật vệ sinh thôi. Với sự sáng suốt đó qua khoa học chưa có tiến bộ mà Ngài thấy chư Tăng đi lang thang, đụng đâu uống nước đó mà không có nấu được thì Ngài buộc lòng chế ra cái lọc nước cho kỹ, để bớt được con trùng thô đi. Con trùng nhỏ còn thì cộng thêm cái sức đề kháng người xưa nó mạnh hơn mình, có thể nó chống lại được. Quý sư nghĩ là cái vải nó lọc được con vi trùng không?

[21:14]Lọc hết không? Nếu mà mình đặt trong kính hiển vi đó thì cái cái lỗ của cái vải nó lớn vầy nè. Đặt trong kính hiển vi nó lớn vầy, con vi trùng nó chút xíu vầy nó lọt qua tuốt luôn. Chỉ lọc được những con trùng quá thô thôi, có thể nó gây đau bụng, còn cái trùng nhỏ hơn nó vẫn đi qua, không bao giờ lọc hết được. Cho nên cái ý nghĩa mà cái đãi lọc nước nó có ý nghĩa vệ sinh hơn là cái gọi là giữ giới sát, không quá đáng đâu. Nếu mình so sánh với cái ngày xưa các ngài cũng ăn mặn. Nếu mà nói mà giữ triệt để thì các ngài từ đó phải tuyên bố ăn chay á, chay kỹ lưỡng. Không, Đức Phật vẫn dùng mặn bình thường.

[21:51]Cho nên điều đó không phải là một điều quá đáng, quá đáng chú trọng mà cái chú trọng của Đức Phật là cái giới và cái định, đó cái quan trọng mà Đức Phật chú ý. Cái đạo đức và cái định đó, mình đối xử với con người, thương yêu, vị tha, đùm bọc lẫn nhau, với những con vật lớn á, đối với mình có lòng từ hộ trì, nó vậy. Và nhiếp tâm được vào định, cái quan trọng. Chứ trong đời sống này, không ai tránh khỏi tội lỗi hết á, không ai tránh khỏi. Ví dụ như một người sống bình thường không đụng chạm gì tới ai thì người đó mỗi ngày chồng chất tội lỗi, chồng chất tội lỗi. Tại sao? Vì trong cái xã hội này mọi điều nó tương quan với nhau hết.

[22:34]Chúng ta ăn cái bát cơm là đã tội rồi. Trong cái bát cơm này bao nhiêu mồ hôi nước mắt, bao nhiêu sự làm lụng cực khổ người khác, bao nhiêu thuốc sâu, thuốc rầy đổ lên đó, dầm sương giãi nắng, bao nhiêu sự cực khổ, cả một buồng máy xã hội vận động để ngày nay chúng ta bưng cái bát cơm lên. Cho nên chúng ta ăn bát cơm này nợ đầy trong đó hết. Rồi chúng ta ví dụ chúng ta cất một cái chùa bình thường, tội đầy trong đó hết. Cái sự quyên góp mồ hôi nước mắt của bao nhiêu người mới dồn về được. Cái gì cũng có tội hết. Nhưng cái quan trọng là cái chúng ta làm phước bù lại cái tội đó thôi. Chứ trong cuộc đời này không bao giờ chúng ta tránh khỏi,

[23:15]chúng ta đạt được một đời sống hoàn toàn không có tội, luôn luôn có tội. Nhưng cũng rất dễ có phước, làm cái gì cũng có phước hết. Ngay cả chúng ta cầm đồng tiền đi ra đó là mua nghĩa là 10 thước vải cũng có phước nữa. Việc lặt vặt cũng thành phước nữa. Phước gì? Chúng ta mua vải là chúng ta thúc đẩy con người mua, người bán, người dệt. Chúng ta có đóng thuế trong cái số tiền mua đó mà đóng thuế vào cho xã hội, cho cái quốc gia họ điều động cái đất nước này cũng là một sự đóng góp trong đó, giúp cho cái kinh tế nó chạy lên một chút. Nó, việc rất bình thường cũng thành cái phước nữa. Cho nên trong cuộc đời sống này chúng ta đứng ở đây,

[23:51]tội phước nó đan xen chằng chịt nhau mà đôi khi chúng ta không thấy. Nên những cái tội nhỏ không đáng lắm đâu. Cái quan trọng là cái phước lớn để bù lại những cái tội lặt vặt lặt vặt mà trong suốt đời sống của chúng ta luôn luôn phải gánh. Cho nên cái câu chuyện mà nói về vị Tỳ-kheo, tôi không tin câu chuyện kể lại. Có rất nhiều câu chuyện trong đạo Phật khiên hoặc vô lý nên quý sư nhớ cẩn thận. Sau này quý sư có đi thuyết giảng mà điều đó chắc chắn á, đó là điều bắt buộc á. Sau này quý sư có đi thuyết giảng mà có kể lại những câu chuyện trong đạo Phật, quý sư nên lựa kỹ. Tại cái lớp trẻ sau này là lớp trẻ không có tín ngưỡng nhiều.

[24:30]Mình kể một câu chuyện có những cái vớ vô lý, sơ hở họ bắt bẻ, mình trả lời không được nếu mình không có cái chuẩn bị, không có cái nhìn trước. Như tôi kể chuyện ngày hôm qua thôi, tôi đi giảng cho số sinh viên mà được cái học bổng Hiểu và Thương của báo Giác Ngộ thì vì được học bổng nên mỗi tháng nó đến sinh hoạt thì tôi về tôi giảng. Hôm qua tôi giảng đề tài là Tín ngưỡng. Tôi đặt thẳng vào vấn đề, tại tôi biết cái lớp trẻ bây giờ không có tín ngưỡng nhiều. Mặc dầu đến chùa nghe giảng từ bao nhiêu lâu nay chứ trong lòng vẫn có nhiều điểm không có đồng ý. Tôi đặt vấn đề tín ngưỡng. Tôi giảng hết từ cái tín ngưỡng xa xưa trong các bộ lạc sơ khai

[25:08]qua tới phát triển thành những tôn giáo lớn rồi cho tới ngày hôm nay, bên cạnh những tôn giáo cổ truyền có những giáo phái mới ra như thế nào, thế nào, nguyên nhân từ đâu mà thành lập tín ngưỡng, từ những niềm tin ban đầu ra sao, ra sao. Sau khi nói hết qua các tôn giáo tín ngưỡng khác, tôi nói qua tới đạo Phật cuối cùng. Thì tôi nêu: Trong đạo Phật có ba cái tiên đề mà chúng ta cũng chấp nhận, không giải thích. Ở các tôn giáo khác đều có những cái tiên đề phải chấp nhận, không giải thích. Đạo Phật cũng vậy, có ba cái: Thứ nhất là Niết-bàn, hai là Nhân quả, thứ ba là Luân hồi. Bây giờ tôi yêu cầu các em phát biểu

[25:43]cái hiểu, cái tin, cái nhận thức của các em về ba cái tiên đề đó thì đa số các em lên phát biểu đều không tin hẳn ba tiên đề đó hết. Nhân quả thì hay tin hơn, luân hồi ít được người tin, còn Niết-bàn đa số là không hiểu, không biết, không chấp nhận. Hôm đó thì hết giờ nên tôi không giảng được nữa, tôi hẹn kỳ tới tôi sẽ giảng tiếp, tôi nói về cái điều đó để đả thông cho cho mấy đứa đó. Các sư thấy đó, càng về sau chúng ta càng đối diện nhiều với những người nghe Pháp như vậy, còn cái lớp bà già mà nghe đâu tin đó nghe đâu tin đó sẽ chết hết rồi, sắp chết hết rồi. Còn cái lớp trẻ đầy hoài nghi á mà quý sư là những người phải đối diện, phải gặp gỡ.

[26:24]Cho nên các câu chuyện từ xưa để lại cẩn thận chút. Nên chúng ta thấy đó, Đức Phật ngài cân đối cái đời sống cho thích hợp chứ không quá đáng. Mình qua bài khác ha. Channa. Trang 50. Channa tức là ông Sa-nặc, ông mà đánh đánh ngựa cho Phật đó. Khi Thế Tôn còn sống trong gia đình vua Suddhodana, ngài sanh từ con một người nô lệ và được đặt tên là Channa. Sống đồng thời với Đức Phật, ngài khởi lòng tin Đức Thế Tôn khi Bậc Đạo Sư về thăm lại gia đình, rồi ngài xuất gia vì lòng thương mến Thế Tôn, vì tự phụ, tự đắc đối với Đức Phật của chúng ta, giáo pháp của chúng ta. Ngài không thể chinh phục khuyết điểm này và không làm tròn

[27:06]bổn phận của một người Sa-di khi Thế Tôn mệnh chung. Và theo lời dặn của Thế Tôn cần phải phạt nặng Channa, ngài xấu hổ, chế ngự được khuyết điểm này và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Sung sướng với quả chứng của mình, ngài nói lên sự sung sướng của mình trong bài kệ như sau: Sau khi nghe Chánh pháp, vị ngọt lớn, pháp lớn do Nhất Thiết Thắng Trí thuyết giảng và trình bày, ta dấn thân trên đường, đường đưa đến bất tử. Ngài thật bậc thiện xảo, con đường diệt khổ ách. Ở đây chúng ta gặp lại trường hợp tuyên bố về cái sự chứng ngộ của mình giống như ngài Meghiya lúc nãy. Nhưng mà ở đây thế này, cái câu chuyện của ngài

[27:47]Channa có một điểm làm chúng ta chú ý là: Vì lòng thương mến Thế Tôn, vì tự phụ, tự đắc đối với Đức Phật của chúng ta, giáo pháp của chúng ta, ngài không thể chinh phục khuyết điểm này và không làm tròn bổn phận của người Tỳ-kheo. Tôi thích cái câu chuyện này ghê. Là khi chúng ta chọn đạo Phật để chúng ta làm người tín đồ, chúng ta xuất gia thì chúng ta phải nghĩ rằng đạo Phật hơn hết những đạo khác chúng ta mới tu theo phải không? Chứ có ai nghĩ mình tu theo đạo Phật mà đạo Thiên Chúa hay hơn, có ai nghĩ vậy, phải không? Đó đương nhiên là mình phải nghĩ đạo Phật hay hơn mình mới tu theo đạo Phật.

[28:26]Vậy mà cái tư tưởng rằng đạo mình hơn hết, Đức Phật mình là hơn hết lại là một trở ngại đối với đạo. Ghê gớm chưa? Hay chưa? Mà bài kinh này nêu ra được, thật là hay. Ở đây tại sao như vậy? Đây là một cái nghịch lý mà chúng ta phải vượt qua. Trong đạo có nhiều cái nghịch lý lắm mà đây là một cái nghịch lý lớn, một cái nghịch lý rất lớn. Rõ ràng là chúng ta phải công nhận đạo chúng ta hơn hết, chúng ta mới vào đây xuất gia. Vậy mà với tư tưởng đạo mình ngon hơn đạo mọi người hết lại là một cái sai lầm, một cái sai lầm trong cái đức hạnh. Vậy làm sao giải quyết được cái điểm này?

[29:12]Quý sư cho ý kiến đi, quý sư quý cô cho ý kiến đi. Làm sao vượt qua được nghịch lý này? Đa số chúng ta chưa vượt qua được nghịch lý này. Bây giờ phải vượt qua cho bằng được, chứ đừng để nó tồn tại trong tâm mình á, để chúng ta chuẩn bị đối diện với những người không tín ngưỡng, chuẩn bị đối diện với những thế kỷ sắp tới. Sư Hải, sư có ý kiến gì không?

[29:39]Dạ.

[29:44]Dạ. Dạ dạ. Cảm ơn sư. Sư Hải trình bày khá chỉnh. Điều này chúng ta phải chuẩn bị trước trong tâm tư mình để sau này mà bước ra giáo hóa mình mình bớt lấn cấn. Và trong cái sự tu hành của mình, mình cũng tránh được cái lỗi như Ngài Channa đã bị. Nó có những điểm đúng à như Sư Hải nói đúng là cái bản ngã chúng ta đó, chúng ta đồng hóa cái hay của của Đức Phật thành cái gì của riêng mình, đạo của chúng ta. Trong khi cái gọi là đạo, cái chân lý, cái cao siêu đó, nó không của riêng ai hết. Nó giống như một vì sao lấp lánh trên trời cao, cái chân lý. Mà cũng vì sao đó thôi, có người ở chỗ này gọi là sao mai,

[30:32]người ở kia gọi là sao hôm, người ở chỗ khác gọi là sao khuê, người ở chỗ khác nữa gọi là sao Vệ Nữ, vân vân. Đó, rồi mỗi người cứ nghĩ cái sao đó là của mình do cái tên mình đặt. Trong khi chân lý không thuộc về ai và không có tên, không cả cái tên đạo Phật cũng không. Nhưng chân lý là chân lý. Và cái chân lý đó chúng ta không thuộc về mình đã đành rồi, luôn luôn chúng ta mong mỏi rằng mọi người đều tiếp cận được, đạt được cái chân lý đó, chứ không nghĩ chân lý của riêng mình. Chúng ta đến với đạo Phật bởi vì đạo Phật chứa đựng khá nhiều chân lý để chúng ta có thể học hỏi. Và chúng ta biết cái chân lý ẩn chứa trong đạo Phật á,

[31:15]nó không mang cả cái danh từ đạo Phật nữa, cũng không của chúng ta mà chúng ta phải học cho bằng được, đạt cho bằng được và mong mỏi tất cả chúng sinh đều tiếp cận được, đạt được như vậy. Chứ không khéo chỉ cần cái bản ngã nó nhích lên một chút, nó đồng hóa cái đạo Phật là của chúng ta, để thấy cái đạo Phật khác với các đạo khác, để mong rằng à mình đi được con đường hay hơn hết và những người khác không đi được con đường hay như vậy, họ dở hơn mình, có cái tâm hơn thua, khen mình chê người, nó thành ra cái tội. Ở đây Ngài Channa ngài thêm một cái Đức Phật của chúng ta nữa có nghĩa là không biết có phải là Ngài đồng hóa coi như cái giáo chủ mình hơn những giáo

[31:55]chủ khác hay là Ngài nghĩ rằng Ngài thân với Đức Phật từ ngày xưa? Ngày xưa Ngài là người đánh ngựa cho Phật và là người đưa Phật vượt thành đi xuất gia. À nên có cái sự thân tình đó mà Ngài hơi có cái kiêu mạn. Sau Đức Phật quở Ngài nặng nề, nhất là Ngài Ca Diếp quở Ngài xối xả dữ dội lắm sau khi Đức Phật nhập diệt. Đó, Ngài mới hổ thẹn. Bị ngăn cấm đủ thứ rồi Ngài hổ thẹn mà phát triển được thiền quán, Ngài đắc đạo. Cái điều mà thân cận với Đức Phật để rồi khởi bản ngã thì chúng ta ít bị, nhưng đối với cái đạo Phật của chúng ta đó, chúng ta thấy hay hết, chúng ta đi theo nhưng mà cẩn thận không bao

[32:34]giờ được đồng hóa là của ta, chân lý của riêng ta mà chân lý có nhãn hiệu hết. Chúng ta cố gắng đi tìm được cái chân lý tột cùng và mong cho tất cả chúng sinh đều đạt được điều đó. Và mong cho họ đạt được nhiều hơn mình, sớm hơn mình nữa để mà triệt trừ cái tâm hơn thua trong lòng mình. Người tu chúng ta dễ bị cái hơn thua nó len lỏi. Ví dụ như cùng tu trong huynh đệ với nhau, trong lòng mình nó âm thầm bí mật luôn luôn có một cái mong mình là một người trội vượt hơn huynh đệ. Mình học giỏi hơn, mình tu giỏi hơn, mình đạo đức nhiều hơn mọi người, luôn luôn chúng ta thầm kín thầm kín như thế. Cho nên để diệt trừ cái điều đó, mỗi ngày chúng ta phải nguyện

[33:15]là nguyện cho huynh đệ của mình được hơn mình mọi mặt, được nghĩa là Phật tử cung kính hơn, tu hành giới hạnh hơn, học tập giỏi giắn hơn, vân vân, mình mong cho mọi người được hơn mình hết. Cái lời cầu nguyện chân thành đó nó diệt được cái tâm hơn thua, đố kỵ trong lòng mình. Còn nếu không, cái sự tinh tấn của chúng ta ngày hôm nay luôn luôn nó ngầm chứa một sự ganh đua trỏng, một sự hơn thua bí mật bên trong. Nó phá hoại cái đạo đức mình mà mình không biết được á. Còn cái việc mà các ngài tuyên bố sự đắc đạo của mình, à hôm trước có lần nói rồi ha, thì thôi mình lướt qua.

[33:56]Thì người ta hơn mình là tức là mình thua người ta rồi chứ gì nữa.

[34:05]Nó không nói thẳng là mình thua người ta. Không nói thẳng, nhưng mà người ta hơn mình thì tức là mình thua rồi. Nhưng mà để làm gì? Nói cái hơn thua để làm gì? Nghĩa là như thế này nè. Ví dụ như mình nói mình cầu nguyện mình thua người ta là người ta đang đứng ở mức độ năm ha, mình cầu nguyện mình thua người ta tức là mình cầu nguyện mình tụt mình tụt tụt tụt tụt xuống còn ba một hai, tức là cầu nguyện cho mình thối lui. Còn mình nói cầu nguyện người ta hơn mình á, có nghĩa mình đang ở năm nè cái người ta được sáu, bảy, thứ bảy, người ta bảy, tám. Thì nó không biết mình tiến hay không, nhưng mà trong đó có sự tiến bộ.

[34:38]Còn mình cầu nguyện mình thua người ta thì không thấy có sự tiến bộ, không hàm ý có sự tiến bộ mà nó hay hàm ý là một sự thoái bộ của ai đó. Cho nên mình nói người ta hơn mình tức là trong đại chúng chung thì nó có sự tiến bộ đi lên. Chú ý điểm đó hơn. Chúng ta cẩn thận cái lời nguyện này đi, vì sau này chúng ta phải đối diện với cái lòng đố kỵ đó đó. Ví dụ sau này lớn lên huynh đệ chia năm xẻ bảy ra, người trụ trì chùa này, người trụ trì chùa kia, rồi có người mình theo phụ với huynh đệ mình, để huynh đệ mình đang trụ trì thì mình về mình giúp, mình phụ, thì trong đó chúng ta dễ gặp cái cái tâm trạng này lắm.

[35:12]Cho nên từ ngày hôm nay chúng ta chuẩn bị trước cái tâm niệm đó. Khandasumana.

[35:20]Trang 65. Trong thời Đức Phật hiện tại, Ngài tái sinh trong một gia đình của vua Malla, Ngài được đặt tên là Khandasumana (bông lài) vì khi Ngài sanh, bông lài nở hoa. Ngài nghe Đức Phật thuyết pháp khi Đức Phật ở tại rừng xoài của Cunda ở Pāvā, xuất gia và chứng được sáu thắng trí. Chứng dễ gì đâu. Rồi Ngài nhớ đến đời sống quá khứ khi Ngài cúng một nhánh bông lài tại tháp của Đức Phật Kassapa trong khi tất cả bông hái đều thuộc về của vua. Nhận thấy cử chỉ của Ngài giúp Ngài chứng được quả Niết Bàn, Ngài nói lên bài kệ như sau: "Do một bông từ bỏ, được hưởng 8 ức năm sống trong cảnh cõi trời, còn số năm còn lại ta được sống tịch tịnh." Ở đây

[36:12]trong bài kinh này có cái đặc biệt là cái công đức cúng dường Phật mà tạo thành cái quả báo đắc đạo sau này. Đây điểm đặc biệt đây, trong cái nhân quả.

[36:26]Là Ngài trong thời Đức Phật Kassapa, lúc đó vua ra lệnh là không biết ông vua ổng mê ổng mê bông gì không biết, mà ổng cấm không ai được hái bông, vì bông đó chỉ được dâng vua chứ người dân thường không hái. Mà Ngài lúc đó Ngài Ngài cung kính Đức Phật Kassapa quá độ, ổng cung kính tột độ nên Ngài dám mới dám vượt qua cái lệnh cấm của vua để mà hái cái bông hoa cúng Phật. Và do cái bông đó cúng Phật trong hoàn cảnh khắc nghiệt khó khăn như vậy, với một quyết tâm như vậy, với một cái một cái trọn lòng như vậy, nên Ngài được cái phước thù thắng lạ lùng. Cái phước đó là sau kiếp đó chết, Ngài sống 8 ức năm trong cõi trời.

[37:11]Khi trở lại cõi người, Ngài sinh được làm vua, làm hoàng tử chứ, sinh trong gia đình của vua tức là được hoàng tử, rồi chưa hết phước, lại gặp Đức Phật tu đắc đạo luôn. Đặc biệt như vậy, cái phước quá lớn! Mà chỉ bằng một cành bông từ bỏ. "Do một bông từ bỏ, được hưởng 8 ức năm sống trong cảnh cõi trời. Còn số năm còn lại, ta sống đời tịch tịnh." Hay ghê sợ! Vậy ở đây chúng ta nhận định cái cái cái nhân quả chỗ này như thế nào? Chúng ta rút ra được một bài học gì? Sư Cô Trí. Hay Cô Hạnh? Hạnh kia, Hạnh còn tóc.

[38:05]Trời ơi! Như thế này: Thôi khoan nhập định đi mà, đi học một chút. Như thế này: là trong cái thời đó cái ông vua đó ổng không biết mắc cái chứng gì ổng mê bông quá độ đi, ổng mới ra lệnh không ai hái bông được hết, bông là chỉ để dành cho vua thôi. Cái lệnh đó rất là nghiêm khắc, cho nên ai hái bông là coi như bị phạm tội. Mà lúc đó là Đức Phật Kassapa đã nhập diệt rồi, Phật Ca Diếp đã nhập diệt, có tháp. Ngài cung kính Đức Phật quá độ mà không biết lấy cái gì để cúng dường tháp Phật cho nó hay nhất, mà chỉ có cúng bông là hay nhất thôi. Chứ đâu có đem thức ăn gì cúng tháp thì nó cũng tầm thường.

[38:46]Chỉ có cái hoa là có sự tinh khiết nhất, hương thơm và sự tinh khiết. Ngài mới liều mạng Ngài cắt cái bông mà của vua cấm đó, Ngài đem Ngài đặt lên tháp cúng Phật. Chỉ vậy đó. Khi Ngài bỏ thân kiếp đó Ngài sống 8 ức năm trên cõi trời. Nên khi Đức Phật Thích Ca ra đời á thì Ngài sinh xuống làm người, làm hoàng tử, rồi gặp Phật xuất gia tu đắc đạo luôn. Chỉ có một cái hoa cúng Phật. Ở đây chúng ta rút ra được một cái nhân quả gì? Sư Hiếu. Dạ, cúng với đức thành kính. Sư nói cũng đúng á, nhưng mà tôi muốn có một cái sự phân tích kỹ kỹ hơn chút. Sư nào đi? Dạ mời Sư Hải. Không

[39:39]có nhớ nổi đâu, Khandasumana.

[39:47]Kính bạch Thầy, con thấy nhân quả

[39:53]Dạ dạ. Dạ dạ, dạ dạ cảm ơn sư. Ai có ý kiến gì nữa không? Liên Nhường, Sư Phương, sư gì? Xin lỗi, sư ngồi người gần cuối á.

[40:11]Sư pháp danh gì? Quang Tiến, dạ. Đây mình trao đổi thêm mỗi người mình góp ý cho nó sáng cái vấn đề. Như vậy chúng ta rút ra được bài học từ đây nè: cái nhân mà cung kính bậc giác ngộ thì sẽ được giác ngộ. Phải không? Đó, như vậy chúng ta rút ra được một cái bài học: cung kính bậc giác ngộ thì sẽ được giác ngộ. Rồi chúng ta phân tích thêm chút nữa là cái mức độ cung kính càng sâu sắc, càng lớn lao thì cái quả chứng đến càng nhiều, càng nhanh, càng thuận tiện. Đó chúng ta rút thêm được cái bước thứ hai nữa phải không? Từ cái thứ hai này chúng ta phân... Tất cả chúng ta ngồi đây thì đúng là ai cũng kính Phật hết.

[40:55]Đức Phật mà chúng ta đang thờ, chúng ta lễ bái mỗi ngày mỗi đêm, ai cũng kính hết. Nhưng sự cung kính nó khác nhau, mỗi người cung kính khác nhau. Người kính nhiều, người kính ít. Quý sư cô đồng ý tôi điều này không? Phải không? Không có ai kính Phật bằng nhau đâu, người mỗi người có khác nhau người nhiều người ít trỏng á. Nhưng ở đây tại sao người kính Phật nhiều người kính Phật ít? Ở đây ngài Khandasumana đó, ngài kính Phật đến cái độ mà ngài liều mạng, dám vượt qua cái cái cái lệnh cấm của vua, có thể gây nguy hiểm đến tự thân, có thể bị bắt bớ vân vân. Mà nói như là Sư Hải là vượt qua cái bản ngã của mình đó.

[41:36]Ở đây chứ tôi không gọi là vượt qua bản ngã mà tôi ng- gọi là ngài... ngài quá liều, quá liều lĩnh, gan dạ, chấp nhận cái nguy hiểm. Đó, tức là bởi cái lòng cung kính ngài quá quá nhiều. Ở đây đó bắt đầu chúng ta nói tới cái cung kính nhiều ít nè. Tại sao một người kính Phật nhiều người kính Phật ít? Chúng ta đi tìm nguyên nhân đi, để chúng ta có thể hiểu tại sao mình kính Phật chưa đủ và chúng ta phải làm sao kính Phật đủ. Nhờ lòng kính trọng Phật đủ đó, cái việc tu hành chúng ta được có cái phước hơn, dễ tu hơn. Chúng ta phân tích tại sao có người kính Phật nhiều người kính Phật ít. Sư gì nữa?

[42:14]Sư gì ngồi sau Sư Hiếu đó? Sư gì? Tạo, dạ. Mời sư. Tại sao người kính Phật nhiều người kính Phật ít?

[42:26]Có ai có ý kiến gì nữa không?

[42:31]Sư cô gì ngồi ngồi sau Liên Nhường kìa. Cô có ý kiến gì không?

[42:44]Như vậy sư cô nói là cái hạt giống bồ-đề gieo sâu gieo ít hả? Hạt giống bồ-đề gieo sâu gieo ít. Chưa hiểu lắm. Cảm ơn sư cô. Có ai có ý kiến gì nữa không? Có ai có ý kiến gì thêm? Dạ, mời cô Trí.

[43:17]Cảm ơn sư cô, làm tôi nở mũi quá.

[43:22]Là... Thôi bây giờ đừng nói tôi nữa, tôi dở lắm. Mình nói Đức Phật, tức là chúng ta đều có duyên với Đức Phật phải không? Có duyên với Đức Phật. À thôi cứ cho là có duyên đều hết đi. Không ai không ai có duyên ít hơn hết, ai có duyên với Đức Phật bằng hết rồi đó. Nhưng mà tại sao vẫn cái lòng cung kính vẫn ít nhiều khác nhau? Dạ, mời

[43:44]sư Trung. Dạ.

[43:54]Đúng là sư Trung mới đang bắt đầu mở được cái vấn đề đó, là cái mình thấy được phải không? Thấy được cái hay của Đức Phật gì đó, để mà mình có cái lòng cung kính hơn do so sánh với các giáo chủ khác. Vậy ai có ý kiến gì nữa không? Ráng lật cho hết vấn đề này đi. Thầy mới vô cười cười mỉm chi đó, thầy có ý kiến gì không? Mời Sư Hải đi.

[44:32]Dạ dạ, cảm ơn sư. Như vậy là chúng ta phân tích trên hai cái lĩnh vực ha. Một là nhân duyên nhiều đời, và thứ hai là chúng ta thấy được cái hay của Phật phải không? Ở đây tôi muốn nói đến cái thứ hai đó. Cái mà chúng ta thấy được cái hay của Phật để mà mình nể phục, mình cung kính. Như vậy là cái thấy được cái hay của Phật là do chúng ta, do cái trí của từng người. Người nào mà có cái trí sâu thì người đó

[45:02]nhìn thấy được cái hay của Đức Phật nhiều hơn người khác. Còn cái người mà mình nhìn không ra đó, mình thấy Đức Phật thường thường thường, thì thấy à Phật cũng hay: sanh làm thái tử còn dám bỏ đi tu; vợ đẹp, con ngoan rồi bỏ đi rồi sáu năm khổ hạnh rồi Ngài tu đắc đạo, Ngài có thần thông cũng hay, vậy. Nhưng mà cái người có trí lại nhìn khác. Thấy cái hay Phật cỡ nào, trong cái việc mà giáo hóa độ sinh tại sao là... giúp cho người này, giúp cho người kia đắc đạo mà biết cái duyên, biết cơ, lúc nào khai ngộ người này, lúc nào khai ngộ người kia đúng thời, đúng lúc. Tại sao lúc mà các Bà-la-môn chất vấn Ngài khéo dùng câu nói để mà

[45:38]cảm hóa được họ một cách hết sức là tế nhị, sâu sắc vân vân; rồi những cái thần thông của Ngài rồi những công hạnh trong quá khứ mà Ngài làm từng chút từng chút, đó. Tức là cái trí của chúng ta cảm nhận được cái điều đó nó... nó quá sâu sắc, quá tỉ mỉ. Cho đến một ngày kia, cái mình nhìn lại chúng ta thấy Đức Phật như một biển cả mà mình như là một giọt nước nhỏ. Cho đến một ngày kia mà chúng ta thấy Đức Phật như một sa mạc mà mình chỉ như một hạt cát. Cái lòng cung kính nó lớn như vậy đó là do cái nhận thức của chúng ta nó sâu. Chúng ta thấy được cái hay của Phật nó mênh mông như vậy, kỹ lưỡng như vậy, chứ không phải thấy một cách hời hợt.

[46:14]Mà điều đó là do chúng ta đọc kinh lại, chúng ta thấy, chúng ta cảm nhận một cách sâu sắc. Nên cái người thông minh á, cảm cái hay của Phật hơn cái người không thông minh. Với thêm nữa là cái người tu có kết quả đó, sẽ kính Phật hơn cái người tu chưa có kết quả. Vì cái người tu có kết quả, tâm họ được an lạc tràn đầy, lúc đó họ mới thấy cái hay của Phật nhiều hơn. Cùng quỳ lạy Phật như vậy đó, nhưng mà người mà tâm nhiếp được định, cái lòng kính trọng Phật nó vượt bực hơn. Còn cái người mà tâm chưa nhiếp được lạy Phật một cách hời hợt, kính kính hơi hơi thôi. Nhiều khi đang cúi đầu đụng đất cái đang nghĩ chuyện đâu bên Mỹ, Sài Gòn á.

[46:50]Còn cái người tâm nhiếp được định, biết ơn Phật, cảm được cái hay của Phật mà hiểu rằng mình mới thường mà đã được chút an lạc này, huống hồ Đức Phật mênh mông, vĩ đại thì cái an lạc, cái trí tuệ của Ngài không biết cái ngằn nào. Do có cảm nhận được nó, cho nên cái lòng kính trọng hơn hẳn người kia. Đó, như vậy thứ nhất là do cái tu hành của mình có kết quả hay chưa có kết quả; thứ hai là do cái trí của mình sâu hay cạn, để mình hiểu được Đức Phật nhiều hay ít. Từ đó mà mình có cái lòng kính trọng Đức Phật thiếu hay đủ. Mà với cái người mà lòng kính trọng Đức Phật nó nó vô biên, vô hạn nó thành giống như là một biển cả đối với một giọt nước,

[47:33]giống như cả một cái sa mạc mà đối với một hạt cát thì người này dám, dám liều mạng cùi giống như ngài Khandasumana mà vượt qua lệnh vua để bày tỏ lòng cung kính với Đức Phật đã nhập diệt. Cái lòng cung kính ngài tột bực như vậy thì phải hiểu rằng cái trí của ngài trong thời đó không có bình thường. Nó không phải là một niềm tin cuồng nhiệt kiểu mà mê muội, mà ngài có cái sự nhận thức cái hay của Đức Phật ở như chỗ nào. Ngài có cái kết quả gì trong cái cái tu, trong tâm linh rồi nên ngài biểu lộ sự cung kính vượt bực mặc dầu rất đơn giản, để rồi ngài được cái phước báu thù thắng. Như vậy, chúng ta từ cái mà cung kính Đức Phật, chúng ta rút lại mấy vấn đề:

[48:15]là nếu một người cư sĩ mà biết kính trọng chư Tăng thì người đó có cái nhân để xuất gia, phải không? Tại vì mình kính trọng người nào, mình sẽ đạt được cái tính chất của người đó. Mình kính trọng một bậc thượng tọa, hòa thượng với cái hạnh từ bi, sau này mình sẽ đạt được cái tâm hạnh từ bi đó. Mình kính trọng một bậc thầy nào về cái giới luật, sau này mình sẽ đạt được cái giới luật. Đó, do cái tâm kính trọng nó thành tựu giống như cái tính cách của vị mà mình kính trọng. Cho nên cái may mắn trong đời của chúng ta là nếu chúng ta gặp được một bậc chân tu đắc đạo để cho mình kính trọng ngay trong đời hiện tại, đó là cái phước lớn của mình đó.

[48:56]Mình gặp được một vị sống hiện tiền, mình gặp gỡ, tiếp xúc, gần gũi mà vị đó thật đúng là một vị chân tu, đắc đạo, cái phước mình lớn ghê lắm, mình dễ tu lắm. Nhưng mà coi chừng, có những vị mà nghe đồn, nổi tiếng lừng lẫy, rồi mình tới, do cái niềm tin thôi, nghe tiếng đồn thôi, mình tới để mình bày tỏ lòng cung kính thì mình cũng có phước chứ không phải không, nhưng mà phước đó nó không nhiều bằng, không nhiều bằng nếu cái vị đó thật sự đắc đạo. Còn cái vị đó đôi khi không thật sự đắc đạo mà do có cái hay gì đó rồi cái một đồn mười, mười đồn trăm thôi, thì cái phước mình cũng không nhiều lắm.

[49:34]Đó. Nên như vậy ở đây chúng ta rút ra được thế này: chúng ta biết đặt lòng kính trọng đúng người. Luôn luôn kính trọng mọi người là cái căn bản, kính trọng mọi người là một cái căn bản rồi, chúng ta kính trọng những bậc nghĩa là chân tu, thạc đức là cái thứ hai. Đồng thời chúng ta ráng tu cho hết ngã ngã, đạt được cái kết quả để cho mọi người kính trọng. Để chi vậy? Để cho sướng hả? Để cho mọi người kính trọng chi vậy? Chi vậy? Nhưng mình tu sao để cho được người ta kính trọng, để chi vậy? Dạ, mời sư, sư Trung.

[50:20]Lại vướng vô cái khác. Cảm ơn sư. Ai có ý gì nữa không? Vậy tại sao ngoài cái việc mà chúng ta kính trọng tất cả mọi người, chúng ta kính trọng những bậc chân sư rồi chúng ta phải tu, tu một cách nào để xứng đáng được mọi người kính trọng nữa, chi vậy?

[50:46]Ai có ý kiến? Cô Hoa, có ý kiến gì không?

[50:55]Vậy hả?

[51:00]Dạ xin cám ơn cô. Ai có ý kiến gì nữa không? Dạ, cám ơn sư. Dạ, ai có ý kiến gì nữa không?

[51:14]Dạ mời cô Trí. Không không. Ở đây nói rằng không phải là mình muốn người ta kính trọng, mà là mình được người ta kính trọng để làm gì thôi. Để cho sướng hay sao? Thôi tôi trả lời luôn. Ở đây đó, là cái mình nghe nói một người chân tu không còn hiếu danh, phải không? Không mong cầu sự cung kính, sự cúng dường của người khác, đó mới là bậc chân tu. Nhưng mà tại sao ở đây chúng ta đặt cái vấn đề là chúng ta phải tu để cho mọi người kính trọng? Mục đích thế này: là không phải chúng ta hiếu danh, mà chúng ta tu cho đến cái chỗ mà bản ngã hết, và cố gắng để cho chúng sinh kính trọng mình để họ gieo nhân.

[52:02]Bởi vì họ kính trọng được một người đã hết ngã, thì sau này họ sẽ hết ngã. Tức là mình cho họ cơ hội để làm phước, chứ không phải là mình cầu họ kính mình để cho mình sướng, vì lúc đó bản ngã mình đã hết rồi. Đó, ý nghĩa là như vậy. Cho nên khi mà ngài Ca-diếp với ngài Tu-bồ-đề mà đi khất thực đó, một vị thì cứ kiếm mấy ông nhà giàu đi khất thực, một vị kiếm mấy ông nhà nghèo đi khất thực. Hỏi sao? Nói rằng ông kia nói: "Mấy người nhà nghèo tội quá, họ không đủ ăn mà khất thực họ tội, nên tôi kiếm mấy người họ họ dư dư khá khá". Ngài Ca-diếp mới nói: "Mấy người nghèo là lý do tại họ chưa từng bố thí cúng dường,

[52:38]nên bây giờ tôi đến tôi hóa duyên để cho họ cúng cho họ có phước". Như vậy các ngài vẫn biết là các ngài là phước điền, chúng sinh cúng mình họ sẽ có phước, nên ngài tạo cơ hội cho chúng sinh có phước. Như vậy cái hành vi mà ngài nhận cúng dường hay nhận sự cung kính đó, là rõ ràng là vì chúng sinh, muốn chúng sinh có phước, chứ không phải là để cho mình cho ngon, không phải mình à ta là A-la-hán đắc đạo, không có. Mặc dầu trên cái khách quan ngài biết ngài là A-la-hán đắc đạo rồi nè, chúng sinh thì thiếu phước nè, bây giờ họ cúng mình thì như vậy họ được có phước, chứ không phải là để cho mình là một vị có giá trị.

[53:13]Chúng ta thấy đây là một cái nghịch lý nữa nha. Đây là một nghịch lý nữa chúng ta để ý nha. Thì chúng ta phân tích cái nghịch lý này: Một á, là phải biết mình tu chứng, bởi vì tu tới đâu biết tới đó chứ! Ngày hôm qua mình có vọng tưởng, ngày hôm nay mình không có vọng tưởng, thì phải biết chứ! Phải không? Trước kia mình chưa hết vô minh, bây giờ đã hết vô minh, thì cái đó phải biết thôi, chứ không phải là không biết. Nhưng mà biết cái đó mà vẫn không để cho một cái gọi là cái tình cảm hơn thua, tình cảm tự hào nó khởi lên. Đây là cái khó nè! Cái bậc mà thật sự tới A-la-hán á, thì các ngài đạt được cái đó, ngài vượt qua được cái nghịch lý đó.

[53:57]Biết rõ mình đắc đạo mà cái tâm hơn thua không có nữa, không thấy mình hơn, không còn cái tình cảm thích thú tự kiêu tự hãnh nữa, mặc dầu vẫn biết mình đắc đạo. Đó, đây là các bậc A-la-hán vượt qua được cái nghịch lý đó. Còn đa số người mà tu mặc dầu được định sâu, có kết quả, có thần thông, nhưng chưa được A-la-hán á, thì chưa vượt qua được cái nghịch lý này. Tức là biết mình tu có kết quả, đồng thời vẫn có cái tự hào bí mật bên trong, có cái thấy mình hơn người. Đây mới là một cái nghịch lý, nên chúng ta để ý, chúng ta dè dặt ở điểm này. Chúng ta lui lại ở chỗ cái mà như ngài Khandasumana do cái nhân kính Phật, kính một bậc giác ngộ nên bây giờ được

[54:42]tháo mở, thì chúng ta cố gắng biết kính trọng mọi người, kính trọng bậc giác ngộ, và tu để làm phước điền cho chúng sinh. Cái tu mà để làm phước điền cho chúng sinh, để cho chúng sinh cúng dường mình, cung kính mình mà được phước á, là hoàn toàn vì chúng sinh, chứ không phải chúng ta hiếu danh. Đó, ta để ý vậy. Qua ngài Belatthakani, trang 67. Tái sanh trong thời Đức Phật, hiện tại ở Sāvatthī trong một gia đình Bà-la-môn. Ngài được đặt tên là Belatthakani. Sau khi nghe Đức Phật giảng, ngài xuất gia và tu tập chỉ quán trong một khu rừng ở Kosala. Nhưng ngài rất biếng nhác và hay nói lời thô ngữ.

[55:23]Do vậy, tâm tư ngài không chân chánh để tu tập. Thế Tôn biết được thiền quán chín muồi của ngài, khích lệ ngài với bài kệ như sau: "Từ bỏ đời cư sĩ, trách nhiệm chưa làm xong, dùng dằng như cái cày, bụng ăn no biếng nhác, như con heo to lớn, đồ ăn thật đầy đủ, kẻ nhác lại liên tục đi đến chỗ thai tạng" (đầu thai lại). Như thấy Đức Bổn Sư trước mặt, ngài cảm thấy xúc động mãnh liệt khi nghe lời bài kệ này, và triển khai thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán, và ngài dùng bài kệ này nói lên chánh trí của ngài. Ở đây có một cái điểm là: do thấy được thiền quán chín muồi của ngài, ờ Đức Phật thấy căn cơ tới lúc rồi.

[56:08]Trước kia ngài cũng biếng nhác lắm mà Đức Phật lơ lơ như không biết vậy. Nhưng tới lúc đã tới kích rồi, phải ra tay rồi, cái duyên nó tới rồi, Đức Phật quở bằng một bài kệ nặng, cái ngài vượt qua được, ngài chứng đạo luôn. Đây là cái khéo Phật mà người khác không bằng được, mình không bằng nổi đâu. Đức Phật mới quan sát được cái nhân duyên: lúc nào nên ra tay, xuất chiêu một cái là ngài thành liền; còn trước đó nhiều khi Đức Phật vẫn lơ lơ lơ lơ, không có không có nói. Nên Đức Phật nói hay không nói nó đúng thời đúng lúc, đấy điểm đặc biệt Đức Phật, mình không bì được. Ở đây là ngài có duyên đắc đạo, nhưng còn cái biểu hiện xấu. Đây là cái điểm lạ.

[56:49]Nghĩa là ngài bước vào làm người xuất gia, ăn nói thì thô cộc, tâm tư không có chân chánh, nên mình thấy như là tầm thường, khinh thường vậy đó. Bây giờ, chung quanh chúng ta cũng còn rất nhiều những người như vậy, những người tu như vậy, ăn nói thì bừa bãi, ngôn hạnh thì thô tháo. Tuy nhiên biết đâu trỏng có cái duyên đắc đạo mà không hay. Mà tiếc là không có Đức Phật quở ổng một câu, thôi cái ổng lề mề suốt đời ổng, thôi thua luôn! Chứ nếu mà có một người biết, mà có đủ uy đức rầy ổng một câu, dám ổng đắc đạo lắm. Hôm qua mình mới khinh ổng, hôm nay coi chừng phải lễ ổng. Nên đọc cái bài kinh này, thì chúng ta có một cái ý nghĩ thế này,

[57:27]là đừng khinh ai hết, khi thấy người đó còn có những cái xấu. Tại vì biết đâu cái vị đó, cái duyên tu chứng á nó ẩn tàng, nó bị che lấp. Nó ẩn tàng nó bị che lấp, chưa tới lúc nó phát triển, mà mình thì không đủ sức để khai ngộ cho người đó, nên họ còn cái biểu hiện xấu, thì chúng ta đừng có khinh. Vì chúng ta khinh ai, sau này chúng ta mắc đúng cái lỗi đó. Chúng ta chỉ cầu nguyện cho mọi người tốt lên. Chúng ta bằng cái lòng từ bi thương yêu của mình, mong cho mọi người vượt qua được lỗi lầm để tu tiến. Đó, bài này răn nhắc cho chúng ta cái bài học đó. Chúng ta qua ngài Mahānāma, trang 74. Bài Mahānāma này thì nó giống như là ngài Mahānāma, em họ Đức Phật, ừ không phải.

[58:18]Trong thời Đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sāvatthī trong gia đình một Bà-la-môn và được đặt tên là Mahānāma. Ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia, lấy một đề tài làm thiền quán. Ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesādaka, không thể chặn đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: "Đời này của ta có ý nghĩa gì với tâm tư uế nhiễm như vậy?". Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi và như muốn lao mình xuống. Ngài nói với ngài như nói với một người khác: "Ta sẽ giết nó!" với bài kệ như sau: "Hãy xem sao đời này lại chấm dứt ở đây, với hòn núi nhiều ngọn và nhiều cây cối này,

[58:59]núi Nesādaka, một ngọn núi có danh, rậm rạp với cỏ cây, che kín trùm tất cả". Tự trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán, và bài kệ này trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài. Cái trường hợp này nó khá lạ. Trong thời Đức Phật có mấy vị rơi vào trường hợp này. Mấy vị lận chứ không phải một mình ngài. Có một sư cô đó cũng vậy, khi xuất gia rồi thì cái ni cô đó bị cái dục vọng nó ám ảnh mãnh liệt, không thể kiềm chế được, mặc dù là một người phát tâm tu chân chánh tha thiết. Một lần, ni sư mới hổ thẹn quá, lấy cái dây đi ra bìa rừng để thắt cổ. Sau khi cột dây lên nhánh cây, làm cái thòng lọng vừa mới đưa cái

[59:44]đầu mình vào cổ thì ngay đó đắc đạo, rồi tháo sợi dây ra đi về. Có trường hợp như vậy. Ở đây trường hợp ngài này cũng vậy, là ngài tự tử, nhưng ngay ngay cái phút mà ngài quyết định tự tử thì ngài phát triển được thiền quán và chứng A-la-hán. Đó là hai vị. Nhưng mình đừng bắt chước nha! Tại vì cũng rất nhiều vị tự tử rồi chết luôn, không có ghi thành kinh sách, xin thưa điều đó! Nhiều vị tự tử chết rồi không ai ghi lại hết, cho nên mình đừng bắt chước. Hễ có cái gì thì thôi, ráng tu tập sám hối, chớ nói: "Mình quyết định tự tử dám đắc đạo ngay đó lắm", cái ra lấy dao, rồi thôi đem chôn luôn. Đã có rồi đó, đã có thật rồi đó.

[1:00:22]Cách mình đây không xa, không bao nhiêu cây số đâu, cũng có một vị như vậy, cũng bị một cái tâm tư như vậy, rồi trong cái lúc mà đau khổ tột cùng cực như vậy cũng tự tử, nhảy xuống giếng cũng chết luôn thôi. Khi người ta hay lên thì sình to lên đem chôn. Cho nên ngài đó ổng có duyên ổng vậy ổng đắc đạo, mình không có, đừng có liều mạng, không có đắc đâu. Mắc công nhiều người phiền phức. Ở đây là cái tuyệt vọng cùng cực vì dục tưởng. Thật ra tôi muốn hỏi quý sư, quý cô ai có thể tìm ra được cái nguyên nhân tại sao mình tu hành mà dục tưởng khởi lên? Đây là một điều thực tế chúng ta phải biết, đừng có tránh né, phải nhìn thẳng.

[1:01:02]Đây là một điều của con người, mà chúng ta vẫn còn là những con người, chúng ta vẫn có thể bị. Chúng ta phải biết nguyên nhân của nó và biết phương pháp để vượt qua, để chúng ta tự tu cho mình, sau này dạy người khác có kinh nghiệm. Mà không biết, mình có thể phạm sai lầm, mà đệ tử mình sau này nó bị, mình không biết đường để gỡ. Tại sao người tu bị dục tưởng ám ảnh? Khi dục tưởng ám ảnh, nó sẽ phát sinh ra mấy cái tâm trạng. Một là tuyệt vọng, bởi vì mình tha thiết tu hành mà bị cái dục tưởng khởi lên quá mạnh, không kiềm chế được, tuyệt vọng đến nỗi muốn tự tử như vị này. Hoặc là mình buông xuôi, ngã quỵ.

[1:01:44]Khi dục tưởng nó khởi lên, mình sẽ phát sinh hai cái tâm trạng đó, một trong hai tâm trạng. Bây giờ chúng ta phải biết nguyên nhân của nó để vượt qua khỏi nó. Sư Hạnh có ý kiến gì không? Dạ dạ, nha, không biết hả?

[1:02:01]Có ai biết không? Phải biết nguyên nhân, chứ không có hỏi ai bị đâu, đừng có mắc cỡ, không sao. Chỉ hỏi ai biết cái nguyên nhân không? Dạ, mời Sư Hải. Dạ, cảm ơn sư.

[1:02:22]Ai có ý kiến gì nữa không?

[1:02:28]Sư Hải nói giống như là nó có sẵn, nhưng mà khi lúc mà mình tu hành, mình thanh lọc nội tâm mình mới thấy nó rõ hơn phải không? Đó. Nhưng mà không phải sư ơi, nó vầy, có những trường hợp giống như là nó nó không phải là do mình tu rồi mình mới thấy nó rõ, mà nó khởi lên rất mạnh. Có cái nguyên nhân của nó, phải tìm cho ra, phải biết rõ. Cô Hạnh có ý kiến gì không?

[1:02:56]Dạ, dạ, cảm ơn cô. Cũng là một lý do đó, đúng. Dạ. Dạ, nghiệp của quá khứ. Dạ dạ, cảm ơn cô. Cũng giống như Sư Hải nói cái tập khí quá khứ. Dạ, mời Sư Trung.

[1:03:12]Dạ, không thúc liễm, thúc liễm lục căn trong ngày thường, trong đời sống bình thường. Dạ, cảm ơn sư. Ai có ý kiến gì nữa không? Dạ, Sư Hiếu.

[1:03:24]Dạ. Dạ dạ. Khi thanh tịnh thì nó nổi lên mạnh hơn trong lúc mình không nhiếp tâm, cũng là một trường hợp. Dạ, cảm ơn sư. Ai có ý kiến gì nữa không? Thôi bây giờ để nói luôn. Cái dục á, nó nằm ở trong não, nó nằm ở cái phần mà giáp nối giữa tiểu não với cái vùng dưới đồi của não. Cái sợi dây tủy sống đi lên trên, từ cái theo xương sống lên trên, nó có cái tiểu não nó giáp với cái vùng dưới đồi, trong đó nó có một cái tuyến, lâu quá tôi quên tên khoa học của nó, nhưng cái tuyến đó nó mà động á thì nó phát sinh ra cái đòi hỏi dục vọng, đòi hỏi về tính dục. Ở đây mình tìm nguyên nhân tại sao nó phát sinh ra.

[1:04:10]Thật ra, nó là một cái quả báo. Cái quả báo này nó không phải là tập khí rõ đâu, mặc dầu đúng là nó là tập khí đó, ví dụ như từ nhiều kiếp mình đã từng lăn lộn trong cái dục nhiễm của thế gian nên bây giờ nó lặp lại. Không hẳn, đó là một yếu tố nhưng nó yếu tố đó không mạnh lắm, không quan trọng lắm. Vì khi một người mà bước vào đời sống tu hành thì trước đó họ đã tập luyện quen rồi, họ cảm thấy họ thanh thản được rồi, họ không có bị vướng bận, ngay cả những người đã có gia đình rồi cũng vậy, họ cảm thấy vượt qua được rồi họ mới bước vào đời sống xuất gia. Nhưng mà tại sao bước vào tu hành tinh tấn rồi nó lại khởi lên rất mạnh?

[1:04:47]Cho nên cái yếu tố mà gọi là tập khí này kia nọ đó, tôi cảm thấy yếu tố đó không quan trọng lắm, mà yếu tố thực sự nó là cái quả báo về đạo đức. Quả báo về đạo đức là ở chỗ này, những người này mà sẽ bị cái này. Đây là những người sẽ bị nè. Thứ nhất, là hay công kích người khác. Người mà hay công kích người khác, giống như cái niệm mà công kích trong đầu mình á, nó nó tạo thành một cái luồng sóng nó kích động qua cái vùng, qua cái tuyến sinh dục á, cái khiến cái tuyến nó hoạt động mạnh lên làm cho người mình khởi ái dục lên. Nó là một quả báo của đạo đức. Cái thứ hai đó, là mình có một cái tự hào trong cái sự tu hành của mình.

[1:05:24]Cái tự hào đó như thế này, là khi mình nhiếp tâm được, mình thấy mừng lên, mình thấy: "À, như vậy là mình hay rồi. Mình đã nhiếp tâm được á là mình đã thấy được cái đầu mối của đạo rồi. Mình đã ngộ được một phần rồi. Từ nay mình tỉnh giác, mình sáng suốt, chọn con đường đi không lầm nữa rồi." Khi những niệm đó vừa khởi lên xong thì bắt đầu cái dục nhiễm nó khởi lên liền. Nó là một quả báo của đạo đức, khi mà cái bản ngã mình nó khởi lên. Rồi như cô Hạnh nói sự dằn ép. Cái dằn ép đó nó cũng là một cái tham vọng, tham vọng muốn mình tu nhanh, tu đắc đạo. Vì một người mà không có tham vọng á, tự nhiên họ có một cái dụng công nhẹ nhàng lại,

[1:06:00]khiến họ có dụng công nó trung đạo, nó không buông lỏng quá mà nó không dằn ép quá. Còn cái người mà có tham vọng á, tự nhiên họ rơi vào một cực đoan là dồn ép, dụng công dồn ép. Từ cái tham vọng ham muốn được đắc đạo để cho người khác cung kính cúng dường mình thế này thế kia, để mình được nổi danh, cái tham vọng bí mật bên trong đó nó tác động vào cái tuyến sinh dục, bỗng nhiên ái dục nổi lên. Cho nên cái mà dục nhiễm nó nổi lên, nó là một cái quả báo của đạo đức, đồng thời nó là một sự nhắc nhở mình có một cái gì sai trong cái tâm niệm, trong sự tu hành. Ở đây đó, có nhiều người bị thế này nữa.

[1:06:35]Ví dụ như đang tu tiến, ví dụ như thấy mình giữ giới tinh tấn, giới hạnh oai nghi nghiêm chỉnh, ai cũng cung kính. Hằng ngày như vậy, nhiếp tâm từ năm này qua năm kia như vậy, bắt đầu khởi cái bệnh, người nam á thì khởi cái bệnh mộng tinh, ban đêm nằm thấy gần người nữ rồi bị thoát tinh; còn người ni nằm mơ thì thấy gần người nam, rồi có ái dục, dục nhiễm. Trong khi đời sống hằng ngày thì người đó được đánh giá là một người giới hạnh nghiêm chỉnh. Cái nguyên nhân đó cũng nằm ở trong cái cái tự hào bên trong, luôn luôn tự cho mình "À, mình là người giới hạnh hơn người khác." Chính cái tâm niệm bí mật đó mà mình không

[1:07:13]thấy, mặc dầu vẻ bên ngoài vẫn giữ như mình là oai nghi đức hạnh, thì bên trong cái ái dục nó khởi lên nó đánh tơi bời như là một sự cảnh cáo, nhắc nhở để mình tìm lại, diệt cho được cái cái tâm niệm bất thiện bí mật đó, nhưng mà đa số chúng ta không thấy. Nhiều người bị cái đó không biết, rồi cứ tuyệt vọng hoặc là buông xuôi, nhưng mà không ngờ nó có một cái nguyên nhân rất đơn giản thôi mà chúng ta phải vượt qua được. Chính cái bản ngã, những tâm niệm mà làm mất đạo đức đó nó phát sinh ra cái rung động ở trong cái vùng não của tính dục làm cho tính dục nó khởi lên mạnh thêm. Cho nên chúng ta tu hành mà nếu chợt một ngày nào chúng ta bị tác

[1:07:53]động bởi những cái đó thì đừng có hốt hoảng, đừng tuyệt vọng, đừng buông xuôi, biết rằng mình vừa có những cái tâm niệm khuyết nào đó nó đã xảy ra rồi, cố gắng truy tìm lại, tìm lại, tìm lại. Thì những cái đó nó như thế này nữa nè. Ví dụ như là một người họ tu cái pháp môn đó, được ông thầy ổng nói rằng pháp môn này là hay nhất, không pháp môn nào bằng, rồi họ dụng công theo pháp môn đó, họ bị liền, bỗng nhiên ái dục khởi lên dữ dội. Do cái tự kiêu trong cái pháp môn, chưa đắc đạo nhưng cái tự kiêu trong pháp môn đủ để cái ái dục khởi lên như là một sự nhắc nhở, một sự cảnh cáo, là cái tâm niệm mà tự tôn về cái pháp môn

[1:08:33]sai rồi, dẹp đi, pháp môn này không hay nhất đâu. Nhưng mà đôi khi mình không tìm ra cái tội của mình, mình không biết lý do, rồi hoang mang, tuyệt vọng. Hoặc là trong khi chúng ta tu hành, chúng ta tìm ra được một cái pháp môn để nhiếp tâm, chúng ta hào hứng, thích thú, chúng ta công kích các pháp môn khác, chúng ta thấy cái pháp môn mình tìm được nó mới chính xác, nó đem lại kết quả cụ thể, còn bao nhiêu pháp môn khác nói dài dòng chứ không có kết quả. Khi chúng ta tự tôn cái pháp môn mà mình tìm được, bệnh ái dục cũng sẽ khởi lên. Rồi hoặc là trong cái tinh tấn của mình, mình có kết quả, cái tự tôn, tự hào khởi lên, ái dục sẽ khởi lên theo.

[1:09:12]Khi chúng ta nhập thất một cách tinh tấn, chúng ta tuyên bố cho mọi người biết: "À, tôi tinh tấn, tôi nhập thất 1 năm, 2 năm", ai cũng biết, trong thất chúng ta sẽ bị đánh tơi bời vì ái dục. Bởi vì chúng ta tu lộ liễu, có cái hiếu danh bí mật từ ngay cái khởi điểm của cái tu hành đó. Cho nên người tu phải bí mật lắm, tinh tấn mà làm như giải đãi không ai biết, như Lão Tử đã nói: "Cái đức lớn á thì giống như là nhục nhã, như là hèn kém. Cái tinh tấn siêng năng thì làm như giải đãi. Cái địa vị trước mọi người luôn luôn chứng tỏ như mình ở dưới mọi người." Cái câu nói của Lão Tử rất có giá trị đối với người tu chúng ta,

[1:09:50]nên chúng ta tiến đạo thì làm như thối lui, Lão Tử cũng dặn mình câu đó: "Tiến đạo thì làm như thối lui." Tâm chúng ta nhiếp được vào sâu thì không bao giờ được thể hiện, lòng mình đã không tự hào và bên ngoài không cho mọi người biết gì điều đó hết. Chúng ta giữ giới thanh tịnh thì đừng bao giờ thấy mình hay và vẫn cảm thấy là tầm thường thôi, chưa đủ so với chư Phật chư thánh mình mới là một hạt cát thôi, vân vân, nó rất nhiều điểm như vậy đó. Rồi chúng ta sẽ thấy cái ái dục nó nhẹ đi, nên ái dục ở đây nó là một cái quả báo của vấn đề đạo đức, chứ nó không có nghiêm trọng lắm mà nếu chúng ta không biết,

[1:10:26]chúng ta sẽ tuyệt vọng hay là buông xuôi mà đánh mất cả đời tu của mình. Nó chỉ là một sự nhắc nhở cái bản ngã chúng ta đã khởi lên trong một hình thức nào đó về sự tu hành, về pháp môn, về tự kiêu, về dòng tộc tông phái, vân vân, vân vân. Chúng ta bình thản tìm cho ra để vượt qua nó thôi. Bất cứ pháp môn nào. Bởi vì nó có một cái tự kiêu là pháp môn của mình đang tu, nó có cái mình ở trỏng á, là bản ngã đó. Rồi công kích người khác nữa, mình thấy pháp môn mình hay, mình công kích người khác, hoặc cái người mà cứ nhìn lỗi người khác công kích nói xấu riết cũng bị nữa. Mà cái này là tôi chứng kiến trong hiện đời đó.

[1:11:05]Tôi có quen mấy ông thầy, mấy thầy đó ngồi lại nói chuyện với nhau là công kích hòa thượng này, thượng tọa kia, ông thầy nọ, công kích hết người này tới người kia. Có một lần tôi nhắc thì ông thầy đó ổng nạt tôi luôn. Nhưng rồi đúng tôi thấy chứng kiến rõ, mấy ông đó mắc bệnh giống nhau hết về vấn đề ái dục. Thê thảm luôn vậy nè. Thực ra thì tôi biết nguyên nhân tôi thấy nó không có gì hết, mình thấy tội nghiệp thôi tại biết cái nguyên nhân đó rồi. Nhưng mà nói thì họ cũng không nghe. Họ cứ nghĩ họ tại họ bệnh hay gì gì, nghiệp quá khứ gì thôi. Nhưng sự thật tôi biết rất rõ chỉ vì công kích người khác thôi,

[1:11:37]mà nó thành cái bệnh ngày hôm nay, mà khuyên mà không được. Chứ nếu mà họ nghe lời tôi khuyên á, hả, bỏ cái bệnh mà công kích người khác, mình khiêm tốn lại, thấy mình luôn luôn dở hơn mọi người thì bệnh nó sẽ hết liền. Nó đơn giản vậy thôi không có gì hết. Nên cái điểm này hôm nay tôi dẫn cái bài kinh này để cho cả chúng ta thấy đây là vấn đề mà chúng ta rất dễ gặp phải đối với người tu. Chúng ta phải biết rõ nó và sau này dạy đệ tử mình, nếu như ngày xưa. Bài Kimbila, trang 76. "Trong thời Đức Phật tại thế, Ngài sanh ở Kapilavatthu, trong một gia đình của một vị vua dòng họ Thích Ca, tên là Kimbila.

[1:12:19]Ngài hưởng được tài sản rất nhiều. Bậc Đạo Sư thấy được thiền quán của Ngài chín muồi khi Ngài ở Anupiya và để khích lệ Ngài, Thế Tôn cho hiện lên một nữ nhân rất đẹp trong tuổi trẻ và làm cho Ngài thấy nữ nhân ấy từ tuổi trẻ bước qua tuổi già. Kimbila thấy vậy rất xúc động và nói lên bài kệ: Như bị lời trù ếm, tuổi già đến áp đảo, dung sắc bị đổi khác, dung sắc trước vì ấy như thế nào không có gì thay đổi, nhưng ta chớ tự ngã có gì đã đổi khác." Câu này khó hiểu. "Nghĩ đến lẽ vô thường, Ngài cảm thấy dao động mạnh và đi đến bậc Đạo Sư nghe pháp, xuất gia và sau một thời gian chứng quả A-la-hán.

[1:13:02]Ngài nhấn mạnh cái nhìn thường hằng trước của Ngài đối với sự vật và nói lại bài kệ, Ngài nói lên chánh trí của Ngài." Ở đây cái điểm này là thế này, trong cái trường hợp của Ngài thì có cái đặc biệt Đức Phật cũng hay dùng lắm, là Đức Phật dùng thần thông để giáo hóa. Ngài hiện lên một nữ nhân và làm cho nữ nhân đó từ trẻ bước sang già để đánh thức cái cái thiền quán, cái ý thức về cái lý vô thường của Ngài, làm Ngài xúc động để Ngài xuất gia đi tu và đắc đạo. Ở đây cái lý vô thường trong thời đại hôm nay chúng ta phải đối diện, không biết cái này tôi đã nói chưa ta? Về cái vô thường, hình như có nói rồi.

[1:13:45]Thôi lặp lại. Vô thường tức là thay đổi, phải không? Cái này như nói rồi. Mình nói vắn tóm tắt thôi, không cần nói nhiều. Vô thường tức là thay đổi, thì cái thay đổi nó có hai cái sự kiện: một là đổi từ tốt thành xấu, và hai là từ xấu thành tốt, phải không? Như một người từ nhỏ yếu ớt mà lớn lên khỏe mạnh, tức là từ xấu mà thành tốt. Rồi từ một người lớn lên khỏe mạnh đó, lần lần già nua yếu đuối lại, tức là từ tốt mà thành xấu. Ví dụ như một con vật nó ăn uống, nó ăn những hoa cỏ mà nó thơm ngon như vậy, rồi cái nó thải ra thành cái phân, như vậy là từ tốt mà thành xấu. Nhưng mình lấy cái phân đó, như phân bò mình trồng hoa

[1:14:34]thì nó từ cái phân bò là xấu mà thành cái hoa đẹp à, từ xấu thành thành tốt. Nhưng ở đây thế này, nếu mà chúng ta quán vô thường trong một chiều á, thì nó sẽ sai lầm. Như một người á quán vô thường chỉ nhìn một cái bề là thấy vật nào cũng từ tốt thành xấu thì nó phát sinh ra cái tâm trạng bi quan, chán đời. Thấy cái gì cũng từ tốt rồi thành xấu, từ tốt rồi thành xấu, người đó sẽ phát sinh cái tâm trạng bi quan, chán đời, cái này không phải đạo Phật. Rồi một người quan sát cái vô thường á chỉ quan sát từ xấu thành tốt thôi, cái gì cũng từ xấu thành tốt, từ xấu thành tốt thì người đó sẽ phát sinh một cái tâm trạng là lạc quan, yêu đời.

[1:15:13]Thì cái tâm trạng này cũng không phải đạo Phật. Cái nhìn của đạo Phật là nhìn ở đâu? Nhìn trạng thái nào? Khi mình quan sát vô thường.

[1:15:24]Bây giờ mình nhìn từ xấu thành tốt mình phát sinh cái lạc quan, không đúng. Mà mình chỉ nhìn từ tốt thành xấu phát sinh cái bi quan, cũng không đúng. Như vậy mình phải nhìn cái vô thường trên cái lập trường nào mới là đúng? Mọi người viết câu hỏi này vô đi, sau trả lời.

[1:15:45]Quý sư ráng làm bài. Nhiều, ít nhiều ráng làm để tập, sau này còn phải giáo hóa chúng sinh để đền ơn Phật. Đó là một bổn phận không thể tránh né được. Câu hỏi là như vậy đó, hiểu cái nghĩa đó đi, mình phải nhìn vô thường trên lập trường nào? Trong khi là tốt thành xấu là bi quan, mà xấu thành tốt thì lạc quan, hai cái đó đều không đúng hết. Bây giờ mình phải nhìn trên lập trường nào? Trong khi đó mà nhìn từ xấu thành tốt hay tốt thành xấu đều là không đúng hết. Đây là một trong những câu hỏi.

[1:16:21]Trong trường hợp Ngài Kimbila thì Phật dùng thần thông để giáo hóa, cho nên cái vấn đề thần thông á hôm trước mình đã nói có hai cực đoan phải không? Đó, khoe thần thông là sai mà phủ nhận thần thông cũng sai, hôm nay mình không lặp lại. Bây giờ nói qua Ngài Uttara, trang 78. "Trong thời Đức Phật hiện tại, Ngài sanh ở Rājagaha (Vương Xá), con một Bà-la-môn có danh tiếng và được đặt tên là Uttara. Ngài thông suốt giáo điển Veda và có danh tiếng về gia tộc, về dung sắc, về thông minh và về đức hạnh. Vassakāra, một vị bộ trưởng có danh tiếng ở Magadha thấy những thành tích của Ngài muốn gả con gái cho Ngài.

[1:17:00]Nhưng Ngài đã thiên về hạnh giải thoát nên đã từ chối và Ngài đến nghe ngài Sāriputta thuyết giảng. Với lòng tin, Ngài xuất gia, làm tròn bổn phận của người Sa-di hầu hạ Tôn giả Sāriputta. Một hôm Tôn giả Sāriputta bị bệnh và Uttara đi tìm một y sĩ chữa bệnh. Ngài đặt bình bát trên bờ hồ và xuống hồ nước để súc miệng. Một người ăn trộm bị lính đuổi chạy ra khỏi cửa thành, khi chạy ngang liền quăng bỏ các châu báu đánh cắp vào trong bình bát của người Sa-di và bỏ chạy. Khi các người lính đến thấy đồ châu báu trong bình bát của Ngài liền bắt Ngài đưa đến Bà-la-môn Vassakāra để trừng phạt Ngài. Đức Phật nhận thấy thiền quán của Ngài đã chín muồi

[1:17:35]nên đi đến Ngài, đặt nhẹ tay trên đầu Ngài và nói: Đây là kết quả nghiệp trước của ngươi, ngươi cần phải chấp nhận nhờ sức mạnh suy tư. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Ngài, Uttara nhờ Đức Phật đặt nhẹ tay trên đầu tâm tư được phấn khởi và nhờ thiền quán chín muồi, nhờ uy nghi đức độ của bậc Đạo Sư, Ngài cảm thọ hỷ lạc, đoạn tận các uế nhiễm và chứng sáu thánh trí. Vươn mình lên khỏi cột trụ, Ngài đứng trên hư không và hiển hiện thần thông." Vì lòng từ mẫn đối với kẻ khác, tức là lúc đó Ngài đang bị treo lên cây cột, có thể là bị cái bị treo cổ luôn. "Trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, các vết thương của Ngài được lành hẳn," có nghĩa là Ngài đã bị đánh đập thê thảm.

[1:18:17]"Khi được các Tỳ-kheo khác hỏi: Thưa Hiền giả làm sao khi Hiền giả đau khổ như vậy, Hiền giả có thể phát triển thiền quán? Ngài trả lời: Khi tôi thấy rõ được sự khổ đau của mình, tái sanh và tánh nhân duyên sanh của sự vật thì sự nguy hiểm của sự đau khổ ít hơn hiện tại không ngăn tôi phát triển thiền quán và chứng được kết quả. Không có gì có mặt lại thường còn mãi mãi, không có các thành trì lại thường hằng thường trú. Các uẩn được khởi lên đến đời khác diệt vong. Biết được nguy hiểm này ta không muốn sanh hữu, từ bỏ tất cả dục, ta chứng lậu hoặc tận." Mình ráng học cho hết Trưởng Lão Tăng Kệ ha, cũng dài lắm.

[1:18:58]Nhưng mà nó cũng có cái hay là trong cái đời sống tu chứng của các Ngài có nhiều vấn đề lắm, mỗi vị có một trường hợp á, nhờ đó mình học được rất nhiều điều. Nên mình sẽ học cho hết cái Trưởng Lão Tăng Kệ trong Tiểu Bộ Kinh này. Ở đây nó có mấy điểm mà chúng ta lặp lại, đó là: Ngài chứng đạo rất nhanh trong khi đang gặp nạn, ừ trường hợp rất đặc biệt. Thứ hai là Ngài bị vu oan, bị trừng phạt thê thảm, là Đức Phật nói là do nghiệp trước, ừ. Thứ ba là Đức Phật thấy cái duyên của Ngài đã đến lúc nên xuất hiện đúng lúc, mà bằng thần thông thôi. Ở đây không nói rõ là Đức Phật đã hiện ra trước mặt mọi người hay Ngài

[1:19:42]chỉ hiện ra vừa đủ cho Ngài Uttara thấy, trong kinh không nói rõ. Nhưng mà tôi có cái đoán, theo cái nhìn của riêng tôi, tôi đoán là Đức Phật hiện thần thông vừa đủ Ngài thấy thôi. Cho nên mọi người mới ngạc nhiên là khi một tù nhân đang bị treo lên, bị đánh đập, bỗng bất ngờ bay lên trên cột trụ hiện thần thông rồi các vết thương lành, biểu hiện sự đắc đạo. Thì lúc đó là vua quan họ mới tin một vị chân tu đắc đạo như vậy là không có lỗi.