Transcript: Tiến Trình Tâm Linh, Tâm Thức Của Ngài Khổng Tử

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 56:38

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:28]Cái hạnh phúc của mình trên cuộc đời là thấy người khác hạnh phúc, đúng không ạ? Thấy người khác hạnh phúc. Nếu mình không hiểu đạo á, cái hạnh phúc là vì mình được hạnh phúc. Nhưng khi mình hiểu đạo rồi, cái hạnh phúc của mình nó nằm ở hạnh phúc của mọi người. Ví dụ như bây giờ ông sư huynh thầy ổng có những cái gì vinh quang, ổng hạnh phúc, thì đó chính là niềm vui của thầy. Mà nghe tin báo cái gì mà nó vui vui, cái là mình mừng liền, rồi ngon lành, ông sư huynh mình vậy là mình ngon lành. Bởi vậy, thì như sư huynh ngồi đây ổng nhìn thấy Phật tử nhìn ai ngồi cũng đẹp đẽ, trang nghiêm thế này thì ổng ổng lại có niềm

[1:06]vui, ổng thấy à đây là những con người từ cõi trời xuống. Thì hôm nay mới gặp trong cái pháp hội này. Cho nên thầy cái niềm vui của thầy lại nằm nơi các các Phật tử, người đó. Và ai mà hiểu được cái đạo lý này thì cả cuộc đời mình là niềm vui. Còn không thì mình cứ lo đi tìm cái niềm vui của mình, cuối cùng chỉ là đau khổ, chỉ là đau khổ. Nên cuộc đời nó nghịch lý như vậy. Mình tìm cái niềm vui, hạnh phúc của mình nơi mọi người thì mình lại có niềm vui hoài. Còn mình cứ đi giành giật để tìm niềm vui cho mình là mình sẽ đau khổ ạ. Ta cứ nghiền ngẫm điều này, ta tìm ra nhiều cái hay. Hôm nay thì thôi cũng là gọi là một món quà đạo lý chia sẻ với nhau,

[1:50]thì nói về cái cái tiến trình tâm linh, tâm thức của ngài Khổng Tử một chút, vì coi để ta đối chiếu lại với cái con đường tu tập trong Phật pháp của mình coi nó có giống hay không. Mà cái tiến trình tâm linh của Khổng Tử như vậy đã làm ngài trở thành một bậc gọi là Vạn thế sư biểu. Những nhà Nho đó, tôn vinh Khổng Tử là Vạn thế sư biểu. Vạn thế là muôn đời. Sư là bậc thầy. Biểu là một cái đỉnh cao, một cái biểu tượng lớn, gọi là một cái cái hình mẫu, bậc thầy lớn lao của muôn đời sau. Có những giai đoạn thì người ta chê ngài Khổng Tử là phong kiến, góp phần tạo nên cái xã hội phong kiến vì ngài chủ

[2:34]trương là phải trung quân ái quốc, tức là đối với vua phải hết lòng là trung thành, đối với quốc gia phải hết lòng yêu thương. Thì mà cái lúc đó người ta đổi từ cái chế độ quân chủ qua chế độ dân chủ cái người ta nói là ngài lạc hậu, ngài phong kiến. Nhưng đến ngày hôm nay, bên Trung Quốc phải lập nguyên một Viện Khổng Tử lại và xem Khổng Tử như niềm tự hào của họ vì có một bậc đại triết gia sản sinh từ cái đất nước Trung Hoa. Việt Nam mình cũng ảnh hưởng cái cái triết lý của Khổng Tử rất là nhiều, cho nên trong Việt Nam mình có những nhà Nho sống cũng rất là hay. Và đặc biệt, thầy có dịp mà quen với nhà Nho,

[3:13]thầy mới thấy rằng có nhiều nhà Nho họ trước khi chết họ báo trước ngày chết của họ. Thì rõ ràng là cái con đường họ đi có cái gì chân chính rất là hay, họ chết họ mới báo trước. Còn khi mà mình chết mà lỡ mình mờ mịt thì mình có cái gì sai sai à. Như vậy đạo Nho đã đem cho họ một cái gì rất là đúng, nên họ được cái phước lành là họ biết trước cái chết của họ, bình thản đón nhận cái chết của họ để rồi ra đi. Thì như vậy cái đạo lý này không được phép coi thường. Có những nhà Nho vậy, ta thấy họ kiên cường, kiên cường cái tới khi cứng rắn và có những người cứng ngắc và cố chấp thì nó rơi vào đúng cái bệnh là giới cấm thủ mà Đức Phật đã rầy.

[3:59]Mà không phải đạo Nho bị, trong đạo Phật ta cũng bị. Những cái người mà chủ trương phải trì giới mà trì giới đến mức độ mà mà trở thành giới cấm thủ luôn, cố chấp luôn thì không ai chịu nổi, làm cho đạo Phật bị tê liệt, bị đóng khung, không phát triển được. Trong đạo Phật ta cũng bị cái đó, trong nhà Nho cũng bị cái đó. Nhưng mà nếu những nhà Nho mà họ không bị cái đó, họ trở thành những nhà khoáng đạt, tiêu dao, tự tại mà vẫn khuôn mẫu, vẫn nề nếp. Họ chuẩn mực rất là hay mà lòng thì nhẹ nhàng, giải thoát, hay lắm chứ không phải là không. Cái đạo Phật mình cũng vậy, những cái người nào mà họ tự tại trong

[4:40]cái giới, cái định, cái tuệ thì họ không có câu chấp khuôn phép. Tuệ giác thì phát triển và đem được lợi ích cho chúng sinh và cũng đóng góp vào sự phát triển của đạo Phật trong cái thời đại của họ. Thì bây giờ ta xem cái lộ trình tâm thức mà Khổng Tử ổng nói qua mấy bước, mấy bước của cuộc đời ổng như vậy rồi ta đối chiếu lại mình một chút. Nếu quý vị thắc mắc thì ta cứ hỏi ông thầy mình ở đây. Ổng nói là: Ngô dĩ đó, thập ngũ nhi lập chí ư học. Tôi 15 tuổi bắt đầu lập chí học. Thì cái học của ngài mình cũng chả hiểu hồi xưa học cái gì. Mình thì bây giờ học sớm hơn, mới 6 tuổi mình vô trường trường gì, mẫu giáo nha.

[5:28]Mới 6 tuổi mình vô mẫu giáo học, mình học sớm hơn Khổng Tử hết trơn, Khổng Tử 15 tuổi ổng mới học, mình 6 tuổi mình đã học mất rồi. Nhưng mà không biết học cái gì? Bắt đầu 30 tuổi là tam thập nhi lập. Cái câu mà tam thập nhi lập này mình cứ nói mãi, nhưng mà hình như không ai hiểu. Có có người mới hỏi: "Bao nhiêu tuổi rồi con?", "Dạ, con 30", "Đó, tam thập nhi lập, mày lập gia đình đi!". Nó tưởng nhi lập là lập gia đình. Không phải. Cái chữ lập của ông nó vĩ đại lắm. Lập là thiết lập, xác lập,

[6:04]là ấn định được cái con đường đi của mình. Trong đạo Phật mình gọi là cái gì? Đạo Phật mình gọi là ngộ đạo. Đây là ngài học tinh cần từ năm 15 tuổi, 15 năm sau ngài ngộ đạo, tam thập nhi lập. Dùng cái từ nhẹ nhàng nhưng mà một bước tiến rất lớn trong tâm thức của ngài. Không bao giờ ta nghe mà Khổng Tử nói về thiền định, nhưng mà trong bàng bạc trong nhiều cái lời dạy của Khổng Tử đều là cái tuệ giác từ thiền định mà ra. Rất là lạ, nên tới năm 30 tuổi là tam thập nhi lập. 30 tuổi ổng ngộ đạo, mà không biết ngộ đạo gì mình không hiểu. Ví dụ như mình đạo Phật thì mình nói mình ngộ được đạo Phật,

[6:49]mình giác ngộ được cái thiền định, tỉnh giác gì đó, nhưng mà ngài thì ngài nói tam thập nhi lập là xác định được con đường để tìm thấy được con đường, ấn định được con đường để mà đi. Rồi tới năm tứ thập nhi bất hoặc, 40 thì không nghi ngờ nữa.

[7:10]Cái chữ mà bất hoặc, không nghi ngờ nữa, nó thấy hai nghĩa. Một cái nghĩa là giống như trong đạo Phật mình diệt được cái triền cái, cái kiết sử nghi của một bậc Tu-đà-hoàn. Vì Tu-đà-hoàn là diệt ba cái kiết sử: một là gì? Thân kiến, hai là giới cấm thủ, ba là nghi. Mình tu phải trong kiếp này ráng tu chứng Tu-đà-hoàn. Mà làm sao biết mình tu chứng Tu-đà-hoàn? Là dựa vào mình diệt trừ được ba cái kiết sử này: một là thân kiến, không còn ích kỷ nữa; hai là giới cấm thủ, không còn cố chấp nữa; và ba là diệt trừ cái nghi, là giống như Khổng Tử nói tứ thập nhi bất hoặc. Không còn hồ nghi nữa. Không còn hồ nghi điều gì? Không còn hồ nghi điều gì?

[8:05]Thì không còn hồ nghi, như vậy 30 là đã ấn định được con đường, tam thập nhi lập, thì cũng là một cái là xác định rồi không hồ nghi con đường tu tập của mình nữa, rồi tại sao tới tứ thập là nhi bất hoặc là không còn hồ nghi nữa, hai cái này nó khác nhau thế nào? Thì nó có cái khác, trong đạo Phật cũng vậy, trong đạo Phật, hai cái nghi này nó cũng hai cái trình độ khác nhau. Cái nghi thứ nhất á là cái nghi là mình xác định được cái con đường tâm linh tu tập của mình. Khi mình mà chứng tới mức độ đó rồi, biết rồi, đây đúng là con đường này không thể sai được nữa, tự biết. Mà nó không phải là một cái tự kiêu,

[8:42]không phải là một cái gọi là tự đại, mà nó là một cái tự tin, là một cái tự tin. Chứng tới đó rồi là biết chắc, đây, con đường nó đây rồi, hết trật rồi. Tự tin rất là vững vàng. Thì đây là diệt được cái kiết sử nghi. Nhưng đó là cái diệt được cái nghi trong cái tâm thức thanh tịnh tu hành.

[9:05]Tuy nhiên bước vào trong cuộc sống rồi bắt đầu nó vô số điều phức tạp, vô số chuyện phức tạp phải xử lý.

[9:14]Cái đồng tiền này bây giờ phải xài cho ai, cho người này được không, rồi mình xin người này được không, rồi mình nói cái câu này đối với người đó được hay không, mình xử lý việc đó... nhà mình có dời đi được không, hôm nay có nhận đứa học trò này hay không hay là phải cho người đó đi, vân vân. Vô số điều phải xử lý mà không xử lý việc gì sai cả. Biết chắc từng việc mình phải xử lý thì cái này mới là tới cái gọi là cái trí tuệ mà xử lý mọi việc cực kỳ hợp lý hết, người ta gọi một lần nữa là không còn mơ hồ, nghi hoặc. Đây là một cái trí tuệ cực kỳ lớn mà phải tới bậc Bồ Tát mới có thể đạt được và bớt bị sai lầm, bớt bị tạo nghiệp cho những kiếp sau.

[9:56]Ta nhớ đó, Bồ Tát chứ vẫn còn bị tạo nghiệp. Như Lục Tổ Huệ Năng vậy đó, cái tay cái gì, Trực Mậu Trực gì đó tìm ngài rút dao chém ngài, chém ngài, ngài không đưa cổ chém, chém không đứt vì ngài có thần thông. Thế ngài mới nói: "Kiếp trước ta mắc nợ vàng của ngươi chứ không mắc nợ mạng." Ông lấy mười cây vàng, bảo: "Cầm đi đi." Nói: "Ngươi đi trốn rồi sau này thay hình đổi dạng lại ta độ cho tu. Còn bây giờ ngươi đứng đây mà cầm gươm thế này, đệ tử ta biết vô giết ngươi." Tại vì những đệ tử ngài cũng hết sức là thương kính thầy mình, sẽ bảo vệ thầy mình. Nếu thấy có một cái thích khách như vậy thì họ vô có khi họ liều mạng,

[10:37]họ chấp nhận tù đày để họ giết chết cái kẻ thích khách mà tính ám hại thầy mình. Xong có thể là vua quan bắt họ đi tù, họ chấp nhận, chứ phải bảo vệ thầy mình cái đã. Vậy thì ngài Huệ Năng cũng sợ thì cũng mang những cái nghiệp. Hoặc là ngài Nham Đầu Toàn Hoát, con người mà cái sức ngộ đàng cao ngất, rồi đến khi giặc tới, ai đi đi, ổng không đi, ổng chờ giặc tới để giết ổng và ổng đón nhận cái chết. Có những người, những thiền sư thì gặp giặc nói một câu cái giặc nó tan, nó rút, còn ngài Nham Đầu Toàn Hoát, ngài giặc nó không đi, nó giết ngài luôn. Nó kêu chùa có cái gì nộp cho nó, tại vì nó đi đánh đánh tới đâu nó cướp

[11:15]tới đó, đánh tới đâu cướp tới đó, vô tới chùa cướp luôn, bất kể gì. Vô thấy ngài nói không có gì cho hết, rút giáo đâm ngài liền. Vọt ra dòng sữa, sữa trắng, rồi ngài rống một tiếng vang xa mười dặm đường, ngài tịch luôn. Thế ngài thản nhiên đón cái chết, nhưng mà như vậy ta hiểu rằng ngài cũng có gì? Có nghiệp phải trả. Mà tại sao nếu đời này ngài đắc đạo thì đời trước ngài tu có ít không? Không. Cũng phải tu dữ lắm, bao nhiêu kiếp tu lắm thì đời này mới đắc đạo. Nhưng mà trong bao nhiêu kiếp tu rất nhiều đó có sót một cái nghiệp nào mà phải bị đâm chết. Trong nhiều kiếp ta tu tập, không phải mọi việc ta làm đều đúng cả. Đó là vấn đề.

[12:00]Nhớ như vậy. Như quý Phật tử ngồi đây cũng vậy, giờ mình phát tâm tu hành cho tới cái ngày mình chứng quả cao siêu thì nội ngay trong kiếp này thôi, vậy chứ có những việc là mình đã sai lầm. Phải không ạ? Có chắc mọi việc mình làm đúng hết không? Không. Vì những tình huống éo le, vì những cảm tính, những cảm tình riêng, vì nghiệp lực thúc đẩy, có những lúc mình đã phạm sai lầm. Thì mà tu đến khi nào mà đạt được như Khổng Tử nói là "nhi bất hoặc", không nghi ngờ, tức là mọi việc mình xử lý hết sức chính xác, lúc đó bắt đầu mới ngưng tay tạo nghiệp. Cái trình độ giác ngộ thì tăng tiến, mỗi một việc làm đều tạo ra phước,

[12:48]cho nên cứ phước lực cứ tăng tiến, tuệ giác cứ tăng tiến, mà ác nghiệp thì dừng lại. Đó là cái ước mơ của bao nhiêu các bậc Bồ Tát. Nghĩa là tu hành không biết bao nhiêu kiếp, nhưng mà làm sao đến được cái chỗ đó, không bao giờ làm một việc gì sai nữa. Mọi việc làm đều chỉ là đúng mà thôi, đúng dần đúng dần đúng dần, cho nên cái phước cứ tăng mãi tăng mãi, trí cứ tăng mãi tăng mãi. Đó là cái ước mơ của các bậc Bồ Tát. Sau đó rồi bỏ cái kiếp này

[13:21]nếu các ngài cần thì về cõi Trời, còn nếu không tái sinh lại để mà giáo hóa chúng sinh. Thì đó là cái tâm nguyện của các ngài như vậy. Việc mà những vị Bồ Tát mà tái lai để gieo duyên giáo hóa chúng sinh có không? Mình nghĩ chắc là có, mà có ai gặp không? Không. Phải không ạ? Vì các ngài thường ẩn danh, các ngài sống bình thường như mình. Đó, và nhiều khi cũng giả vờ ngồi bên cạnh mình để cùng nghe Pháp, không biết chừng. Giống như cái người mà thực ra trên đây là một cái người phàm phu giảng cho một bậc Thánh ngồi ở dưới, không biết chừng. Vì các ngài có lẫn lộn trong chúng sinh để gieo duyên

[14:03]lành, giáo hóa chúng sinh, mình không biết được. Nhưng mà gần đây quý vị, nhờ cái sự tiến bộ của công nghệ, nhờ cái camera an ninh nó gắn tùm lum, rồi nhờ phương tiện Facebook nó lan truyền, ta mới phát hiện trên đời này thực sự có những siêu nhân. Mà siêu nhân đó là những bậc Thánh, họ đến với trần gian họ giống như để gieo duyên, kết duyên lành với chúng sinh mà mà giáo hóa. Khi mà đạt cái mức độ, Bồ Tát mà đạt tới mức độ đó là họ được cái hay là họ có cái trí tuệ xử lý mọi việc đều rất là đúng, đều rất không có sai. Còn ta, mình hiểu đạo rồi, nhưng mà khi bước vào cuộc sống thực sự thì ta bị lầm rất là nhiều.

[14:47]Lầm trên cái sự tình, lầm trên lý luận và thiếu trực giác thần thông. Mình không biết người đó là tốt xấu thế nào để mình đối xử. Tại vì đối xử tốt hết rủi lỡ một cái thằng xấu lén vào, nhưng ai mình cũng nghi ngờ hết cái mình lại sao? Cái mình lại vô tình mình bạc bẽo với cái người tốt. Cứ giằng co giằng co bởi những cái điều như vậy. Trong cái không biết đó thì rõ ràng mình có tạo nghiệp. Còn một bậc Bồ Tát, họ đến cuộc đời họ đạt được cái trình độ là "tứ thập nhi bất hoặc", không nghi ngờ. Ai sao biết hết, sao đối xử đúng hết thì họ không bị tạo nghiệp. Nên cái chữ mà "tứ thập mà nhi bất hoặc" của Khổng Tử vĩ đại lắm.

[15:28]Có thể lúc đó ngài cũng chưa có thần thông nhưng mà ngài xử lý mọi việc trong cuộc đời rất là hợp lý. Bắt đầu ngài năm hai mươi mấy tuổi ngài đã đi dạy rồi, bắt đầu dạy học trò. Học từ năm mười lăm tuổi đến năm hai mươi hai tuổi bắt đầu đi dạy học trò, nhưng mà tới năm ba mươi tuổi ngài mới tuyên bố rằng ngài "tam thập nhi lập" là ngài mới tìm được con đường. Và tiếp tục đi dạy học trò rồi đi làm quan, rồi tới "tứ thập" mới "nhi bất hoặc", không còn nghi ngờ, không còn nghi ngờ về đạo lý mà không còn nghi ngờ về cái mọi việc ứng xử trên cuộc đời này nữa. Tứ thập. "Ngũ thập tri thiên mệnh", cái câu này đến bây giờ cũng không ai dám lý giải hết.

[16:10]Biết mệnh trời. Năm mươi bắt đầu ngài biết mệnh trời. Câu này xưa giờ người ta cứ cứ dè dặt ngại ngùng không có dám giải thích. Bởi vì nếu mà theo cái nghĩa đen của cái câu đó mà nói, giống như là ngài biết coi bói, biết quá khứ vị lai. Mà nếu rời cái câu đó ra, không giải thích theo cái ý rằng ngài đã biết coi bói, biết quá khứ vị lai thì giải thích theo ý gì? Giải thích theo ý gì cũng trật với chữ đó hết trơn.

[16:41]Chỉ có một cái ý duy nhất: biết quá khứ vị lai. Mà câu đó mới là đúng. Tức là tới năm mươi tuổi, Khổng Tử có thần thông. Cái bí mật của cái mà "ngũ thập tri thiên mệnh" này có thần thông này, nhiều chính nhà Nho họ cũng dè dặt, họ không dám nói. Thấy lạ quá mà ngài tự tuyên bố mà: "ngũ thập tri thiên mệnh". Lúc đó thì người ta mới phát hiện ra rằng Khổng Tử là một người coi bói rất là giỏi, bởi vì ngài giỏi về quẻ Dịch. Ở đây có mọi người có nghe nói quẻ Dịch không? Bói Dịch đó. Bói Dịch. Tức là từ Chu Văn Vương, từ đời nhà Chu vậy, khi bị giam ở Dũ Lý thì ông ngồi ông mấy năm bị giam cầm ông mới tư duy về cái quẻ Dịch và ông truyền dạy lại.

[17:31]Thì sau đó thì người ta mới học gieo quẻ bằng cái quẻ Dịch để bói toán, đoán trước cái sự tình xảy ra. Và cái hiệu quả của nó cũng khá cao, nên nó được truyền đời. Bây giờ thì bị thất truyền rồi, cũng ít người biết dần rồi, nhưng mà ngày xưa một cái ông quan, ông tướng đi đánh trận mà không thể không biết gieo quẻ Dịch. Ngoài cái việc mà tính toán mưu kế với nhau, họ còn phải biết gieo quẻ. Ví dụ như bây giờ tới cái giờ đó mà xuất quân thì mình lợi hay giặc lợi? Thấy gieo cái quẻ tới giờ đó mà xuất quân giặc lợi thì ngu sao đi đánh giờ đó. Tránh cái giờ, phải lọt qua cái giờ mà gì, mình lợi, giặc không lợi thì mới xuất quân.

[18:16]Nhưng mà bên kia giặc nó cũng gieo quẻ. Nó oánh cái giờ này thì bên mình lợi, nó không lợi, nó cũng trốn. Thành thử ra biết nhau cả, rồi bởi vậy mới dùng mưu gài nhau lừa nhau mà đánh nhau, đại khái là như vậy xưa ông tướng. Thì Khổng Tử là một người cũng rất giỏi quẻ Dịch. Ông bói toán cũng rất là hay. Nhưng mà cái bói toán bằng quẻ Dịch của ông chỉ là một cái ngành phụ, còn cái mà ông tuyên bố "ngũ thập tri thiên mệnh" là tự trực giác mình biết được mệnh trời, biết được quá khứ vị lai, cái đó mới ghê. Nên thời đó vậy, có nhiều chuyện mà không ai hiểu gì, người ta cũng kêu kêu Khổng Tử người ta hỏi.

[18:54]Và cái thú vị nhất có một lần người ta đào lên được cái bộ xương khổng lồ, người ta cũng kêu Khổng Tử lên hỏi. Bây giờ thì mình biết liền cái gì phải không hả? Giờ là xương gì? Hả? Xương khủng long. Tức là có những con khủng long mà nó từ mấy chục triệu năm không biết sao những bộ xương giờ vẫn còn đào được. Thì bên Trung Hoa có cái ổ khủng long ở bển á, lâu lâu bên đó người ta vẫn hay đào được cái xương khủng long. Thì thời Khổng Tử đào được thì chắc nó cũng vậy thôi, cũng là xương khủng long. Thì lúc đó là Khổng Tử cũng giải thích liền. Thì ổng nói xương à cái con này tên đó thời đó vậy. Nhưng mà cái thú vị nhất là thời đó có con Kỳ Lân. À!

[19:32]Cái truyền thuyết về Kỳ Lân này tới khi mà Khổng Tử sắp mất, năm ngài bảy mươi hai tuổi mất á, thì có người phát hiện ra một cái con Kỳ Lân bị bị tật. Kêu ngài Khổng Tử tới tại Khổng Tử là người chuyện gì cũng biết. Tới ông nhìn con Kỳ Lân xong cái ông nói: "Thôi, ta sắp chết rồi." Ồ, đó là một điều rất là lạ. Tại sao một con Kỳ Lân của ai bắt được gần bịnh, ổng kêu ổng tới ổng thăm, ổng nhìn vô ổng nói rằng: "À, ta sắp đi rồi." Và đúng ổng đi thật, năm bảy mươi hai tuổi ổng mất. Thì cái lý giải là tại sao ổng nhìn Kỳ Lân mà ổng ổng gán ghép vào, kết nối với cái cuộc đời của ổng này thì cũng là lạ, ta cũng không hiểu được mà đúng là ổng cũng đi thật.

[20:13]Được tới ngũ thập mà tri thiên mệnh này á, nên sau này những người mà làm phim về Khổng Tử á, họ mới khai thác cái chỗ này: ngũ thập tri thiên mệnh này. Và họ tin chắc một điều rằng Khổng Tử có thần thông, biết quá khứ, vị lai, đi coi bói, nên họ hư cấu ra nhiều câu chuyện thú vị, hư cấu nhiều câu chuyện thú vị về cái tài của Khổng Tử về việc mà biết được quá khứ, vị lai. Là trong đó có người học trò, vậy đó. Khi khi mà từ giã thầy mình giận, thầy mình giả vờ nói chuyện nhà có bận nên bỏ đi về, Nhan Nhan Hồi. Ổng dặn mấy điều thôi, trong đó có một cái điều là: khi cái gì con chưa chắc chắn thì đừng có ra tay giết người.

[20:56]Thì câu nói cũng bình thường, nhưng khi đêm đó ông Nhan Hồi ổng về thì ổng không báo cho vợ ổng biết, ổng xô cửa ổng len lén vô thì ổng mới phát hiện trên giường của vợ ổng tới hai người nằm. Ổng mới thấy một người đàn bà mà như vậy, chồng đi vắng mà như vậy là không được, ổng mới rút gươm tính giết, nhưng ổng sực nhớ tới câu của Khổng Tử: chuyện gì con chưa chắc chắn đừng có ra tay giết người. Thế là ổng mới đi đánh lửa lên coi là ai, thì ra vợ ổng với cô em gái ổng. Tại bà vợ ở một mình buồn quá kêu cô em gái của ổng qua đây ngủ chung cho nó đỡ buồn. Tí nữa ổng dứt hai mạng người mà hai mạng người rất là đàng hoàng, đứng đắn.

[21:29]Lúc mới sực nhớ rằng thầy mình đã dặn những câu đó vậy. Quay, lật đật quay lại liền, không dám bỏ thầy đi, trở lại hầu thầy, học thầy, hết sức là kính trọng. Rõ ràng là thầy mình biết trước chuyện như vậy. Thì những bộ phim họ hư cấu lên để họ xoáy vào cái chỗ mà ngũ thập tri thiên mệnh này của Khổng Tử, con người siêu việt, không có bình thường. Rồi có một phim Khổng Tử của Châu Nhuận Phát đóng thì không khai thác điểm này, chỉ khai thác cái tính triết học thôi: con người đàng hoàng, chuẩn mực, giỏi giang, thông minh, sâu sắc, lý lẽ, vậy thôi, bình thường. Nhưng mà có một cái phim bộ đó thì họ khai thác cái khía cạnh thần thông này.

[22:07]Còn thầy thì thầy tin Khổng Tử có thần thông. Tại sao vậy? Nói theo nhân quả thôi: cái người mà có chánh tư duy thì thế nào cũng có trí tuệ, bắt đầu có cái trực giác. Thường là như vậy. Người mà có chánh tư duy là mình, trong đầu mình không có nghĩ bậy, lúc nào cũng suy nghĩ điều đúng, rồi lúc nào cũng cư xử đúng, thì nó không đủ để đưa mình đến một cái cái đại thần thông như là một vị A-la-hán hay vị A-na-hàm, nhưng mà cũng làm cho mình có cái trực giác trong cuộc sống này, cũng làm cho mình đoán được chuyện này, đoán được chuyện kia, vân vân, là như vậy. Mà ở Khổng Tử ở mức độ ổng là độ cao cấp.

[22:46]Ví dụ cái như mà tứ thập nhi bất hoặc, tức là mọi việc gì cũng đều xử lý sáng tỏ hết, chứng tỏ là cái tuệ của ngài rất là cao. Mà trong cái nhân quả đó thì tới 50 ổng có thần thông, biết trước chuyện này, chuyện kia. Rồi ổng tu tới với lục thập nhi nhĩ thuận. Nhĩ thuận là xuôi tai. Xuôi tai là làm sao? Nhưng ngài dùng cái từ khó hiểu, nhưng mà nhờ mình học trong đạo Phật mình mới hiểu cái lời nói của Khổng Tử. Lạ như vậy. Chúng ta đi vào trong đạo Phật, tu tập theo Đức Phật thì ta mới hiểu những người khác. Như có mấy lần thầy gặp mấy ông cha mà thầy kể chuyện mấy ông cha ngỡ ngàng. Ờ, mà ngạc nhiên là tại sao là người đạo Phật mà hiểu vậy.

[23:34]Toàn là mình lấy bằng cái kiến thức của đạo Phật. Có một lần có cái ông cha ổng lên chùa ổng đi chơi, dắt theo mấy sinh viên. Lịch sự cái ổng có mời thầy ra ngồi chơi để nghe họ sinh hoạt giáo lý, thì cũng lịch sự mời mình nói trước, thì chắc nghĩ mình nói hai ba chữ rồi nín. Gì không ngờ thầy giảng luôn một bài về Chúa Giê-su từ đầu tới cuối. Ôi giời ơi, cuối cùng vào ăn cơm cái.

[23:57]Cuối cùng cái vào ăn cơm, cái ổng ổng mời thầy về giảng ở cái nhà thờ gì mà ở ở nhà thờ Vườn Xoài đường đường Lê Văn Sỹ á. Nhưng mà thầy sợ thấy mồ đâu dám, nhưng mà mãi sau này mười mấy năm sau ổng lên lại, hôm rồi ổng dắt thêm một ông cha nữa lên lại thăm. Ổng cũng nhắc lại ổng nói bây giờ ổng dời qua một giáo xứ khác, ổng cũng mời rảnh tới chơi. Rồi có một lần thầy gặp một cái ông cha đó cũng một cái ừ cũng chức vụ cũng cao nên mình cũng không rành. Thầy kể một câu chuyện Martin de Porres, một thánh như vậy, rồi và thầy dẫn những cái cái câu tứ ngài nói như vậy và những sự tình, sự kiện xong thầy chứng minh được.

[24:33]Thầy Thật ra là toàn là do mình học lóm của Phật á, nên mình lý giải những tôn giáo khác rất là sắc. Nên quay lại mình nhìn đạo Nho cũng vậy, mình nhìn đạo Nho bằng cái nhìn của đạo Phật mình hiểu đạo Nho rất kỹ. Thế nên như lục thập nhi nhĩ thuận, tức là 60 thì xuôi tai. Xuôi tai là làm sao?

[24:56]Ai nói làm sao nghe cũng lọt. Ai nói sao nghe cũng lọt, nghĩa là gì? Tự tại, đúng không ạ? Hết phiền não, hết sân si. 60 tuổi thì ngài đạt được tới mức độ vi tế của cái sự tự tại, không còn phiền não, bực bội gì gì vi tế rất là sâu xa như vậy. Mãi tới năm 60 ngài mới lấy mới mới đạt được. Thật ra nếu mà nói theo lộ trình tâm thức của đạo Phật, của tâm linh đạo Phật thì hơi muộn, hơi muộn.

[25:33]Vì sao mãi tới 60 ngài mới đạt được cái tự tại? Mà thật sự trong Thiền, nếu 30 mà ngộ đạo thì chỉ 31, 32 đã đạt được cái sự tự tại rồi. An trú trong thiền định tới 31, 32 là xong rồi. Nhưng mà vì con đường của ngài Khổng Tử ngài không đi chuyên trong thiền định, ngài đi trong cái lý lẽ cư xử sống thôi. Cho nên về cái cái lý lẽ đối với cuộc sống, về cư xử đối với cuộc sống thì ngài cực kỳ xuất sắc và dạy các đệ tử mình cực kỳ xuất sắc. Nhưng để đạt được cái sâu thẳm của sự tự tại như trong đạo Phật thì ngài đành đi chậm lại. Tới 60 ngài mới xác nhận rằng ngài mới thành tựu được điều đó, là nhĩ thuận, là xuôi tai,

[26:18]mình thì gọi là tự tại, hết phiền não, ý là như vậy, tới năm 60. Nên cái lộ trình tâm thức của ngài như vậy, hôm nay mình kể ra để mình mình so sánh là như vậy chút xíu. Có những cái mà ta đi nhanh hơn ngài, nhưng có những cái ta cũng thua ngài. Dạ. Thì tới năm 60 thì ai nói gì nói hết giận nổi rồi, xuôi tai, không có điều gì mà có thể gây phiền não, buồn bực được nữa. Hồi nãy giống như Hòa thượng nói cái chữ gì? Chữ "Hiền" đó, ha. Thì ừ mình ráng tu cái được chữ "Hiền" thì đây chính là cái chỗ mà lục thập nhi nhĩ thuận của Khổng Tử. Rồi ông Hòa thượng mình nói cái chữ gì? Chữ "Tịnh". Tịnh là là tịnh nó hai nghĩa, người ta hay hiểu nó là thanh tịnh,

[27:06]tức là trong sạch mà cũng có nghĩa là là an tĩnh, là yên tâm, tâm mình thanh lặng lẽ không khởi, mà cũng có nghĩa là sạch. Chữ tịnh nó tới hai hai ý như vậy. Nguyên cái chữ Nho thì chữ tịnh có nghĩa là sạch. Nhưng mà thường khi đọc tới chữ tịnh, ta đều hiểu đó là chữ định luôn, an định luôn, thế nên hai nghĩa. Thì ông thầy mình ổng tặng cho mình cái chữ Tịnh, Hòa thượng cho mình chữ Hiền, thì hai cái đó nó nó là một: mình có tịnh mình mới hiền, hiền cũng tức là là tịnh. Thì tới 60 này thì Khổng Tử đạt được cái chữ mà hai thầy mình vừa cho: lục thập nhi nhĩ thuận. Nhưng mà sao? Cái mức độ mà tinh tế trong cuộc sống, mức độ trực giác thì 50 ổng đạt trước mình.

[27:52]Có khi là mình được tự tại rồi mà mình vẫn chưa có thần thông, còn Khổng Tử ổng lại có thần thông trước: ngũ thập tri thiên mệnh, mà tới 60 thì mới đạt được cái cái cái gốc của phiền não đó bị bứng hết. Lạ như vậy, tức là cái sân si bứng hết như vậy. Còn cái là tới: thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ. Nghe qua có giống như tụng thần chú không? Nhi tùng tâm sở dục bất du củ,

[28:23]là cái điều mà trong tâm muốn, bất du củ, củ là quy củ đó, du củ là ra khỏi khuôn phép. Cái điều mà muốn không bao giờ ra khỏi khuôn phép nữa. Cái chỗ này cực kỳ thâm thúy. Riêng cái chỗ này thôi, ta phải giảng bao nhiêu bài mới hết cái ý này. Nhưng hôm nay ta nói vắn tắt rồi mọi người về ta suy ngẫm thêm. Đó, thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ. Trong tâm những cái ý muốn trong tâm không bao giờ ra ngoài khuôn phép nữa. Ta nói ví dụ thế này: bây giờ ví dụ như ở đây thì bất chợt mình khởi lên một cái muốn, thường mình muốn cái gì? Nói thiệt coi. Tu bao nhiêu năm rồi bây giờ ví dụ cho tự do muốn,

[29:14]nói thật lòng ra luôn, đừng có bị ai chê trách, phê phán rồi mình sẽ muốn cái gì? Đã bao nhiêu năm mình làm con người rất là đàng hoàng, ha, mình đi chùa tu tập. Rồi hôm nay vì thầy nói thôi bây giờ thầy đại diện trời Phật, thầy cho mọi người muốn thoải mái, không phê phán nữa, muốn gì được nấy mà không phê phán tốt xấu, nói thật cái muốn thì nói ra đi. Lúc đó ta lộ chân tướng ra. Hỏi muốn gì? Nói: "Dạ, con thấy cái nhà kế bên nó đẹp quá rồi con muốn có cái nhà đẹp hơn nó." Đơn giản. Có người nói: "Dạ, Vietlott bữa nay là hơn 100 triệu rồi chưa có người trúng, con muốn trúng cái đó thôi." Rồi có người nói:

[30:01]"Con xa người yêu đã lâu, giờ muốn gặp lại." Có người nói: "Con không cần gì đời, con đơn giản cho con chầu nhậu cho đã." Bộc lộ lại những tính chất mình từ lâu giấu giếm. Tức là bao nhiêu năm mình tu hành ráng giữ cái vẻ đàng hoàng đạo mạo, nhưng trong tâm mình vẫn còn gì? Vẫn còn những ước muốn sai lầm, chưa sạch. Cho muốn cái muốn bậy liền. Cái đó nó du củ liền, ra khỏi những điều đạo lý tốt đẹp liền. Nghe nói xong cái thầy mới rầy. Nói nói: "Tại nãy thầy hứa thầy cho muốn không rầy mà bây giờ tự nhiên thầy rầy, ha?" Nói: "Tại sao mà mà mà muốn kỳ khôi?" Nói: "Dạ tại cái cô đó vợ của ông kia nhưng mà thực sự

[30:42]là người yêu cũ của con, cho nên con thương nhớ. Bây giờ thầy nói thầy nào giờ cũng ấp ủ, bây giờ thầy hứa thầy cho con muốn thì con nói thiệt là con muốn cổ." Té ra là người nào cũng có những cái hư bí mật trong tâm. Đúng không ạ?

[31:01]Thì cái đó Khổng Tử gọi là gì? Là "dục tùng tâm khởi dục du củ", ra ngoài khuôn phép. Mà nói: "Bây giờ thầy cấm con, con đau khổ quá à! Thầy đừng có cấm, con phải có đâu điều ước ao thầm kín của con bao nhiêu lâu, bây giờ phải cho con, không con quá đau khổ." Mình không được cái điều mình muốn, mình đau khổ. Nhớ như vậy, chúng sinh là như vậy, muốn mà không đạt được ước muốn là đau khổ, còn thỏa mãn được cái ước muốn thấy mình rất là sướng, hạnh phúc, thấy mình vui. Hồi đó thầy đi học nè, lúc thầy học Đại học Anh văn có ông thầy ổng ngồi ổng, bỗng nhiên một bữa đó ổng phát sao cái ổng kể chuyện

[31:39]đời ổng, kể chuyện tình của ổng cười chết mồ luôn. Ổng ngồi ổng kể chuyện, hồi năm học lớp năm, lớp nhất hồi xưa lớp năm là bắt đầu ổng biết yêu với cô bạn cùng lớp. Thấy yêu cô bạn cùng lớp tại nghĩa là ổng hạng nhất cổ hạng nhì, mà cổ hạng nhất thì ổng hạng nhì, cứ cặp cặp nhau như vậy. Tới chừng lớn lên rồi thì ổng đi về thành phố ổng học rồi chia tay. Sau này rồi ổng nói với cái tài học cô này thì chắc là cổ cuộc đời cổ sẽ... Rồi ổng lấy vợ lấy con rồi mà cứ quay quắt cái tình yêu ảo tưởng đó cho tới khi mà ổng quyết đi tìm. Sau đó thì ổng ngắt, ổng không kể đoạn sau nữa nhưng ổng tìm ra lại, ổng tìm ra lại đó.

[32:13]Thì đó là cái cái khát khao nằm tiềm ẩn bao nhiêu năm vậy. Mình nghe lại mình rầy mình la, nhưng mà cái ước muốn con người vậy, không thỏa mãn cái muốn mình đau khổ. Và đó chính là cái ý nghĩa của tự do trong cuộc sống này. Các nhà chính trị lúc nào cũng lấy cái tự do nó nhử chúng ta:

[32:36]"Theo tôi là được tự do là hạnh phúc. Là muốn gì được làm cái nấy mới là hạnh phúc không?" Vì đó là tâm lý mà, đó là nguyên tắc của tâm lý. Khi mình muốn cái gì mà mình làm được, mình hạnh phúc. Đó là nguyên tắc. Mấy đứa con nít vậy, ở nhà nó: "Ba cho con đi coi ca hát." - "Đi coi ca hát gì, lo học đi!" Ba rầy la nó đau khổ không? Rất là đau khổ. Nhưng lúc đó ba nói: "Ờ, cho tiền con đi coi hát đi con." Rất là sung sướng. Nên khi ta muốn cái gì mà ta được thỏa mãn, ta là hạnh phúc. Đó là tâm lý. Và trong chính trị họ cũng đem tự do họ nhử chúng ta. Nhưng khi ta biết đạo rồi, ta mới biết rằng cái mà cái ước muốn con người để

[33:16]mà con người đòi hỏi thỏa mãn gọi là tự do đó, chính sự thật nó là tội ác. Nó là tội ác. Mà Khổng Tử nói rồi: "Du củ, tùng tâm sở dục du củ." Cái muốn của mình nó ra khỏi đạo lý, ở đây mình nói nó ra khỏi luật pháp, nó ra khỏi cái lẽ phải. Nếu mà nói bộc lộ cho cái muốn của mình, mình toàn muốn bậy không à. Vì sao vậy? Vì cái sự chứng ngộ tu hành trong tâm mình chưa đạt được cảnh giới thượng thừa. Còn Khổng Tử đến năm này, ổng đạt được cảnh giới thượng thừa, tất cả những điều ông muốn chỉ là gì? Chỉ là ở trong đạo lý, không bao giờ lọt ra ngoài. Và muốn, làm được thì hạnh phúc. Nhớ công thức nó như vậy:

[34:03]ta muốn cái gì mà ta làm được thì ta hạnh phúc. Nhưng mà cái gì ngài muốn? Muốn chỉ trong đạo lý mà thôi, không có cái muốn ngoài đạo lý. Do đó nên luôn luôn ngài đều hạnh phúc, vì những điều muốn của ngài trong đạo lý, ngài cứ thoải mái mà làm. Còn chúng ta muốn và không dám làm vì sao? Hễ ta làm cái công an tới bắt liền, ta làm một cái là người đời chê trách liền, ta làm một cái gia đình ta cự nự liền, vì toàn là ta muốn mấy cái du củ không à, ra ngoài khuôn phép không. Còn cái người mà họ muốn cái muốn họ trong đạo lý, họ hạnh phúc vì họ được quyền tự do làm, được quyền tự do. Tự do là gì? Không ai cấm cản, mà càng muốn càng nhiều thì người ta càng ca ngợi.

[34:45]Những cái điều muốn của mình nói ra toàn được người ta ca ngợi, vì sao? Vì toàn là muốn trong trong đạo lý, trong khuôn phép cả. Ví dụ bây giờ thầy trò ta muốn cái gì? Biểu nói thật lòng coi. Nói: "Dạ, muốn có một cái chùa để mình tới lui tu tập." Cái đó hạnh phúc không? Người ta nói: "Hạnh phúc." Mà dễ làm không? Dễ. Bởi vì sao? Vì nó không có sai với pháp luật, không sai với đạo lý. Nói: "Bây giờ muốn cái gì?" Nói: "Muốn làm một pho tượng Phật thật to, thật đẹp để cho mọi người chiêm bái muôn đời." Cái muốn đó có hại không? Không. Mà làm được hạnh phúc không? Hạnh phúc. Mà có ai bắt bớ không?

[35:25]Không, người ta lại ca ngợi. Cho nên những cái muốn của mình mà nó bất du củ, không ra ngoài khuôn phép thì được mọi người ca ngợi, được chư Thiên ca ngợi, được quỷ Thần yêu mến thì cái đức của ta cứ tăng dần tăng dần. Còn người đời của chúng ta hễ muốn là toàn muốn bậy không. Trong cái bí mật của mình toàn muốn bậy. Mà tu đến mức độ mà trong cái bí mật của tâm thức mình không bao giờ có cái muốn bậy, hễ trong tâm thức mình chỉ điều gì muốn chỉ là muốn trong đạo lý, đó mới là người đến được cái hạnh phúc. Vì mình thỏa mãn được cái mình muốn là mình hạnh phúc, mà mình thỏa mãn được cái mình muốn thì mọi người ca ngợi.

[36:07]Hạnh phúc gấp gấp đôi lần, gấp bội lần. Còn mà người đời muốn, mình thỏa mãn được cái muốn mình thì mình hạnh phúc, nhưng mà chung quanh người đời người ta nguyền rủa. Cho nên nó làm sao? Rồi không hạnh phúc. Không hạnh phúc. Nó tan vỡ vì lý do đó. Cho nên là tu đến cái mức độ tu đến cái mức độ mà tùng tâm sở dục bất du củ là đã thượng thừa. Không không có. Ở đây ta thấy thế này, ta so sánh thế này: ví dụ khi ta tu thiền thì ta ráng sao tâm đừng có khởi niệm, phải không ạ? Khởi vọng tưởng là sai, ráng lắng vọng tưởng xuống, giữ tâm thanh tịnh. Khổng Tử không nói vọng tưởng, mà Khổng Tử nói tới cái tình cảm, ước muốn.

[36:57]Tức là sao? Nó mới là gốc của mọi tư tưởng. Vì sức mạnh nằm ở cái dục, sức mạnh nằm ở ở tình cảm cả. Không khởi tình cảm, không khởi dục, cái đó mới là cái thanh tịnh đệ nhất. Còn mà tâm ta lăng xăng nghĩ này nghĩ kia nghĩ kia, cái đó cũng là động đó, nhưng cái động đó thường thôi, vô hại. Mà động của cái tình cảm, động của cái ước muốn đó, cái đó mới là chuyện lớn trong cuộc đời mình. Vì sao? Vì khi động lên cái tình cảm, động lên cái ước muốn ta đều muốn hành động, ta đều muốn làm, ta đều muốn tạo nghiệp. Còn bảo ta ngồi bình thường đầu nó nghĩ chuyện này chuyện kia, nó vô hại. Nó không thanh tịnh thôi chứ nó không hại, tại vì sao?

[37:37]Vì ta không muốn làm. Nó cứ nghĩ do do cái não của ta nó cứ bắt ta phải suy nghĩ, trừ khi ta chứng đạo, một thiền sư. Còn ta không có ngồi đó ta ta ta ta nghĩ hoài chuyện này mà vô hại, vì nó không thúc đẩy ta đi làm gì cả. Nhưng mà ta khởi lên một cái tình cảm cái là nó thúc đẩy ta đi làm liền, phải không ạ? Thúc đẩy ta đi làm liền. Cho nên là cái gốc của tạo nghiệp chính là cái động tâm, cái sở dục này, tùng tâm sở dục. Mà Khổng Tử là ổng triệt ngay cái gốc đó luôn. Nên cái thâm thúy của Khổng Tử chính là chỗ này: là ngay cái mà tùng tâm sở dục, ngay cái ước muốn cái tình cảm trong tâm ổng chặn ngay đó luôn.

[38:17]Ổng chặn ngay đó luôn, thành thử ra là tắt luôn con đường tạo nghiệp. Hay là như vậy. Mà tới năm 70 thì ngài mới đạt được cái này. Sự thật thì ta không có phê bình vì ngài đi con đường khác, cuối cùng cũng rất là giống đạo Phật. Tuy nhiên là cái con đường của chúng ta đi thì cái lộ trình ta hơi khác. Ta hơi khác ở chỗ này: là ban đầu Đức Phật cũng dạy ta chuẩn bị cái sự tu tập bằng bằng đạo đức, bằng giới luật. Mình bây giờ mình có thêm cái khí công. Nói: "Hồi xưa Phật đâu nói khí công, sao giờ thầy chế khí công?" Nói Phật không nói khí công bởi vì Phật đã thành tựu khí công rồi. Lúc mà còn nhỏ ở cung vua, thái tử đã là võ công siêu đẳng.

[39:04]Mà ta nhớ là cái khí công của Trung Hoa cũng trùng với Ấn Độ nha, cũng là từ Ấn Độ mang qua. Bây giờ ta thấy cái người mà đâm giáo không thủng, nằm cho xe cán qua không sao thì bên Ấn Độ họ đều làm được từ hồi xưa cả. Cái khí công của Ấn Độ đều có cả. Nên thời đó là Thái tử Sĩ-đạt-ta đã thành tựu khí công phi thường. Sau này thì cái nội lực đó giúp cho ngài đi vào định dễ dàng. Và ngài chỉ lý luận về phần định, và còn cái khí công ngài chỉ nói ở cái phần theo dõi hơi thở thôi: "Này các tỳ-kheo, nha, các quán niệm theo dõi hơi thở, biết hơi thở vào, hơi thở ra, được lợi ích lớn." Ngài nói như vậy, tức là ám chỉ gì?

[39:46]Ám chỉ một cái nội lực khí công chuẩn bị để cho việc nhiếp tâm. Cái thời đó nên ngài chuẩn bị cho ta cái khí công nè, cái đạo đức, cái giới luật, công đức để bắt đầu ta đi vào vào định cho nhanh. Mà khi ta lọt được vào định rồi thì những việc như là ngộ đạo nè, diệt trừ cái nghi nè, có thần thông nè, diệt được phiền não nè, dứt cái dục cái nọ, ta thanh toán không lâu. Nhiều khi thanh toán mấy năm xong mất tiêu. Rồi có khi 10 năm, khi 20 năm, khi 30 năm. Nếu đi đúng đường thì khi khoảng chừng năm đó ta xong. Còn Khổng Tử, ổng lại không đi con đường đó, mà ổng đi bằng cái con đường chánh tư duy và chánh nghiệp.

[40:27]Ông dừng chỗ đó thôi, Chánh tư duy và Chánh nghiệp rồi ổng tạo hết mọi công đức khác. Chánh tư duy là gì? Hiểu cho đúng đạo lý. Chánh nghiệp là gì? Cư xử mọi điều cho đúng. Ông chỉ nhấn mạnh trên hai cái đó. Nhưng mà khi có Chánh tư duy, có Chánh nghiệp rồi thì khai mở hết mọi điều. Ta thấy giống như Ngài đã khai mở được cả cái gì? Chánh nghiệp. Không nghe nói Chánh định, nhưng mà những trạng thái rất là giống, và cái đặc biệt là cái thần thông này rất giống như là cái người đã đạt được Chánh định hay là Chánh niệm trong đạo Phật vậy, rất là giống như vậy. Nhưng mà Ngài an trú đứng ở chỗ cái Chánh nghiệp

[41:05]và Chánh tư duy, suy nghĩ đúng, cư xử cho đúng. Trong cái cư xử cho đúng của Ngài, nó có một cái vài cái điều

[41:16]vài cái điều, ví dụ như là: tam cang ngũ thường,

[41:21]trai thời trung hiếu làm đầu đó, đại khái vậy ha. Tam cang là ba cái mối quan hệ quan trọng: quân, sư, phụ. Quân là đối với vua, bây giờ mình gọi là mối quan hệ giữa công dân đối với nhà nước. Sư là đối với thầy mình, thì bây giờ là việc tôn sư trọng đạo ha. Phụ, tức là đối với ba mẹ, lòng hiếu kính đối với ba mẹ, tức là ba cái mối quan hệ quan trọng trong cuộc đời. Và con người phải xác định phải có cái đối xử cho đúng. Bây giờ thì mối quan hệ ta nhiều hơn, phải không ạ? Ví dụ ta có cái gì? Bạn bè, có đồng nghiệp, đồng chí, đồng đạo, vân vân, ta còn nhiều mối quan hệ hơn. Nhưng mà vào trong thời của Khổng Tử thì ổng xác lập là tam

[42:05]cang, nghĩa là đối với Khổng Tử việc đó là trong cái cuộc sống này mỗi những mối quan hệ phải được thiết lập rõ ràng, cư xử cho đúng mực, đúng chuẩn, như là con cái với cha cha mẹ là hiếu kính, không có chuyện giỡn chơi, không có chuyện mà nói là là được cãi bố mẹ hay là muốn cái gì cũng được, phải vâng lời bố mẹ, không nói gì hết. Và có một thời gian chúng ta có cái cuộc cách mạng xã hội tự do gì đó, dân chủ gì đó rồi đưa ra luật bảo vệ trẻ em, thì ta sẽ thấy nó tạo điều kiện cho trẻ em nó hỗn láo với bố mẹ. Ta bước qua Mỹ thấy liền, bước qua các nước châu Âu thấy liền, sợ kinh khiếp liền. Ở Việt Nam mình còn giữ được cái giềng mối nên là

[42:48]Việt Nam mình là gì, bởi thầy nói mình ráng giữ cái hiếu kính này vì thế giới sẽ về đây học mình. Đúng là vừa rồi có một cái giáo sư, bà giáo sư Mỹ đó, bả ca ngợi như là cái cái lối dạy dỗ của cha mẹ Việt Nam đối với con cái rất là hay, người Mỹ phải học. Cái này thầy cũng nói trước rồi. Mình nói trước nhiều thứ lắm rồi từ từ thế giới nói sau. Nên cái tinh thần đó không thể sai. Rồi đối với tinh thần là tôn sư trọng đạo thì cho đó là một cái mối quan hệ quan trọng. Ngày hôm nay cái vấn đề giáo dục nó đang trở nên bị thương mại hóa, học trò phải đóng tiền nhiều quá, nên khi mà ta đóng tiền nhiều quá rồi cái tự nhiên cái tình đối với thầy cô nó giảm.

[43:30]Chứ ngày xưa đó là ông thầy ổng dạy học trò là ổng coi như con á. Sau khi thương lượng với thầy xong cái bữa nọ là dắt đứa con tới mặc cái áo dài, đem cho ông ông thầy đồ một cục thịt, gói trà, nếp, làm lễ học, quỳ xuống lạy ổng rồi ổng nhận từ đó ổng coi như con luôn. Cái tình rất là nặng, nên cái mối quan hệ giữa thầy trò nó lớn lao, mà mối quan hệ đó bây giờ chỉ tìm được ở trong chùa thôi. Tức là vô chùa ông thầy ổng xuống tóc cho già rồi ổng coi như con luôn, ổng lo hết luôn. Thì đó là mối liên hệ thiêng liêng. Và nơi quân, sư, phụ, mối quan hệ thầy trò lớn hơn mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ, theo Khổng Tử.

[44:08]Cái cho mình cái tinh thần mới là điều thiêng liêng. Và cái quân đầu tiên là mối quan hệ giữa thần dân với vua. Ngày xưa là tất cả quyền lực tập trung nơi vua hết, cho nên là cái lòng trung thành, tôn trọng, khuất phục đối với vua phải tuyệt đối, Khổng Tử cho là như vậy. Khổng Tử cho là như vậy, bây giờ thì mình dân chủ chứ mình gặp mấy ông lãnh đạo mình cũng coi ngang ngang như mình chứ cái điều đó đối với Khổng Tử là tối kỵ. Vì cái người mà ngày đêm họ phải lo đau đáu cho cái sự sống của mấy bao nhiêu hàng triệu triệu con người, cái đức của họ, cái công của họ, cái tình của họ nó ở một bậc rất là cao.

[44:49]Nhưng mà ta không hiểu rồi ta cứ coi thường thường, trừ quan tham thì thôi mình không nói, nhưng mà cái người mà thật sự có trách nhiệm với đất nước, cái đức họ lớn. Mình mình nghĩ lo ba bốn người trong gia đình, họ lo bao nhiêu triệu con người phải được no cơm ấm áo, cái thuế này nên giảm hay thuế này nên tăng, ngân sách nên thiếu hay đủ như thế nào, điều phối như thế nào, cái chỗ đó bị kẹt xe hoài phải làm sao xử lý, làm sao đỡ tốn tiền mà đừng kẹt xe, những bài toán cực kỳ khó trong cả một đất nước này. Bây giờ ta đầu tư phát triển kinh tế không mua vũ khí, thằng kia nó oánh mình liền. Nó phát hiện ra vũ khí mình giảm một cái là nó đem quân đánh liền,

[45:22]cho nên phải bỏ tiền ra mua vũ khí để mà giữ đất nước. Bỏ tiền ra mua vũ khí thì bớt đi cái phần mà đầu tư kinh tế thì đời sống dân sẽ bị tụt xuống, mà đời sống dân tụt xuống thì sẽ bị thế này thế kia, tức là đau đầu bởi vì bao nhiêu cái cái cái bài toán phải giải trong một đất nước. Còn mình thì về tối mình chỉ ngủ thôi. Nhưng còn cái việc lo đó đúng là nhà nước lo đó, nên người ta hay nói đùa: "Các anh đừng có no để nhà nước no." Nhưng mà thật sự là như vậy đó, mọi chuyện nhà nước lo hết. Cái hiểu được cái cái cái cái tình, cái tâm tình đó, cái công lao đó nên Khổng Tử đặt cái chữ quân, cái mối quan hệ giữa thần dân với vua lên đầu tiên: Tam can.

[45:59]Và bây giờ buộc Khổng Tử sai hay đúng? Khổng Tử sai hay đúng? Sai hay đúng? Nói cho đúng nghe, nói cho thật mạnh nghe, sai hay đúng? Rồi nha, đó bao nhiêu người đây nữa nha, công nhận Khổng Tử đúng hết ha. Nếu Khổng Tử đúng thì những cái gì mà ta gọi là tiến bộ của ngày hôm nay là? Vấn đề nó phức tạp hơn rất là nhiều, không đơn giản đâu. Mà ngày xưa Khổng Tử đã xác định rồi: "Tùng tâm sở dục bất du củ", cái muốn không bao giờ ra ngoài khuôn phép thì không có chuyện tự do, mà phải gì, con người kiềm chế mình trong trong đạo lý, trong khuôn phép, đó mới là hạnh phúc. Chứ không phải muốn làm gì làm được gọi là tự do là hạnh phúc, không phải.

[46:42]Còn như là dân chủ, ngày xưa Khổng Tử nói mối tam can: quân, quân sư phụ, người dân đối với vị vua hết mực một lòng, đất nước mới ổn định được. Có cái sự trung thành như vậy đất nước mới ổn định, không bị ngoại bang thọc vô nó phá. Cho nên cái đó là cái tam can. Còn ngũ thường là gì? Ngũ

[47:06]thường tức là năm cái điều mà luôn luôn ta phải có. Năm điều gì? Tức là năm đức hạnh luôn luôn ta phải có là, nói tới giờ này là biết rồi phải không gì: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Đó, năm điều, năm phẩm chất, năm điều đức hạnh ta phải luôn luôn có trong tâm mình, không được mất đi chút nào. Ví dụ như bây giờ nói chữ tín. À, nói phải giữ à, hứa là phải làm à. Và cái chữ tín khủng khiếp lắm. Ví dụ mình cái gì mình cũng giỏi hết, mình là người có lòng nhân, mình cư xử lễ độ, à mình có biết lễ giáo nghĩa lễ nghĩa đó, nhân lễ nghĩa, trí, mình là người khôn ngoan nhưng không có cái tín, nói xong quên, hứa xong bỏ

[47:51]thì chết không nhắm mắt. Khi chết vuốt mắt hoài không nhắm. Tại vì sao? Vì chuyên môn hứa lèo. Vừa bị tội mà vừa mất hết sức mạnh của tinh thần. Ta thử tưởng tượng, ta thử tưởng tượng cái người mà giữ được lời hứa, cái sức mạnh tinh thần họ tới đâu. Tại vì sao? Tại vì khi ta hứa nhiều khi cái thời gian nó rất là rất là lâu mà không được quên, không được nuốt lời. Nói ví dụ thế này: Cái nói: "Anh đi đi, em ở nhà em chờ anh không thay lòng đổi dạ."

[48:37]Bả hứa chứ ổng không hứa. Thế là ổng đi chiến đấu ổng tập kết ra Bắc, ổng ôm thêm bà nữa. Giải phóng xong trở vô, bà này vẫn giữ lời.

[48:48]Lúc đi là con gái còn son, về là già rồi, vẫn thủ tiết thờ chồng, mà chỉ là người yêu thôi, vẫn còn vẫn đứng đó chờ. Ông kia lỡ đò lỡ chợ, có thêm bà vợ mà mấy nhiều con ở ngoài Bắc. Vô đây cái người yêu cũ vẫn chờ đợi mình, bỏ được không? Không, bà này tinh thần bả là sắt thép. Giữ được cái lời hứa trong mấy chục năm đó là con người phi thường sắt thép. Ta mới thấy những cái phẩm chất trước: nhân, lễ, nghĩa, trí coi vậy chứ mà dễ hơn cái chữ tín. Giữ được cái lời hứa của mình trong bao nhiêu chục năm con người đó mới là vĩ đại. Nên lúc đó là nhà nước khi mà soạn cái luật dân sự, trong đó có cái luật hôn nhân gia đình

[49:31]thì quy định rõ ràng là luật pháp Việt Nam là quy định là một chồng một vợ, trừ trường hợp cái người tập kết ra Bắc lấy thêm vợ về miền Nam được bưng lại bà vợ cũ vô nữa, trừ trường hợp đó.

[49:47]Thầy nói câu này là là là đúng luật nha, tại thầy học luật mà. À, thì cái hứa của người ta mới khủng khiếp. Nên ta mà đọc lại những câu chuyện về những cái lời hứa mà những người mà họ giữ được cái lời hứa, ta mới thấy họ vĩ đại. Hoặc là bây giờ ta nói một cái người mà trước đó là bóng cờ, lời thề son sắt. Thì một lần đó họ được kết nạp gì đó không biết, họ đứng trước cái bóng cờ với các đồng chí họ thề suốt đời trung thành với Tổ quốc. Rồi đến khi giặc bắt, giặc bắt thì nó hứa. Hứa bây giờ thôi bây giờ anh khai ra đi ha, anh nhận lệnh này của ai, tổ chức nằm ở chỗ nào, địa chỉ đâu, người nào ra sao.

[50:26]Thì tôi tôi cho anh bao nhiêu đây tiền đây, cho anh cái chức này đây, vậy vậy đó, rồi cái nhà này đó. Ta thấy, ta thấy cái sự thử thách khủng khiếp không? Khủng khiếp lắm! Trong khi mình là trong chiến đấu thì nghèo khổ, bây giờ nó cho một đống tiền thường không ai chịu nổi. Nhưng vì chữ tín, vì lời hứa, lời thề trước bóng cờ, thà tan xương nát thịt chứ không bao giờ vi phạm lời thề, lời hứa. Cái người đó ta nhớ cái tinh thần của họ, cái sức mạnh tinh thần của họ bằng ngang một ông Thần, một vị Thần nhân. Cho nên cái công đức họ lớn lắm, chết rồi thành Thần liền, vì cái sức mạnh mà giữ được cái lời hứa.

[51:03]Còn ta, nhiều khi mình nói cao siêu quá cái mình không có trau dồi cái việc mà phải giữ cái chữ tín, nên ta thua cái người đạo Nho là vậy. Ta nói mình là cao siêu, là giải thoát, là tự tại rồi đó, mình quên mất cái chữ tín. Mà cái chữ tín mới khủng khiếp. Đó là lý do tại sao mà những người học trò của Khổng Tử chết mà họ biết trước giờ chết là vì cái chữ tín này. Hễ nói rồi giữ lời. Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín là ngũ thường đó mà. Còn cái Nhân hết sức là vĩ đại, ổng đặt đầu tiên luôn, chữ Nhân. Vào đạo lý khi Nhan Hồi nói chuyện với Khổng Tử nói: "Rốt cuộc đạo lý của thầy là gì?". Chỉ rút lại một chữ Nhân.

[51:44]Đây mình gọi là gì? Từ bi. Cho nên trong kinh Đức Phật cũng có một bài kinh mà Tứ Vô Lượng Tâm có quán từ bi đó. Và Đức Phật tuyên bố chỉ quán cái tình yêu thương trải khắp chúng sinh thôi, người này đủ sức thành tựu vô lượng công đức, đắc đạo luôn. Thì Khổng Tử cũng nói như vậy: "Bây giờ thầy nói vô lượng đủ thứ đạo lý nhưng rút lại đạo lý của thầy chỉ là chữ Nhân mà thôi." Hay như vậy. Nên năm cái cái phẩm chất của người đạo Nho thì ngũ thường, đó: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín ta ngồi ta cứ suy ngẫm. Mà bây chữ Lễ mà chữ Nghĩa,

[52:20]thì có ông sư huynh nhận chung với ông sư huynh mình ở đây là thầy Phước Hạnh ở dưới Vĩnh Long. Thầy Phước Hạnh là một kinh sư, chuyên tán tụng. Thì thầy với quý thầy mới kết tình anh em. Thì thầy ổng là kinh sư rất là giỏi, cho đến khi mà ổng tiếp nhận cái thiền thì ổng theo thiền luôn. Ổng theo thiền mà đệ tử cứ sợ: "Thầy thầy, bây giờ thầy đổi qua tu thiền chắc thầy bỏ hết kinh sư." Nhưng sau đó mới mọi người phát hiện ra gì, cái đường lối Phật Quang mình hết sức coi trọng những cái nghi thức, nghi lễ. Là năm nào tới rằm tháng tám mình cũng tổ chức cái gì, cái chẩn tế. Thầy là một người tu theo Thiền tông, còn à ông sư huynh mình thì ổng vừa Thiền tông

[53:00]mà ổng vừa Giáo tông, tức là vừa đi dạy mà vừa tu thiền mà đồng thời cũng kinh sư. Nhưng ông thầy mình ổng tới ba nghề. Rồi còn thầy thì thiền thì rành chứ còn không có mấy kia thì không rành, rồi ông thầy ông sư sư huynh Phước Hạnh mình thì ổng rành về cái tán tụng, bây giờ ổng qua thiền. Mà anh em rất là hòa hợp, vì sao, vì biết rằng thầy rất tôn trọng cái cái Lễ. Tại trong cuộc đời cái gì coi vậy chớ, nội tâm phải có hình thức, nội dung phải có hình thức. Ví dụ nói là bây giờ thầy nói vì thầy kính trọng sư huynh của thầy, thầy kính trọng ổng lắm, nói nói mà gặp ổng đâu thầy cặp cổ thầy kéo kéo đi chơi, có được không?

[53:39]Không, vô lễ. Ừ, vậy cái nội dung đó là nói xạo. Tại vì nếu thầy kính trọng buộc thầy phải bộc lộ ra bên ngoài, gặp ông sư huynh mình phải cúi chào, phải cẩn trọng lời nói, đâu đó phải cẩn thận. Nó phải lộ ra. Và chính cái hình thức lộ ra đó Khổng Tử gọi là Lễ. Đấy, cái hình thức của cái sự Lễ nó quan trọng như thế. Hôm nay thì mình không nói hết đâu, bữa khác thì chúng ta sẽ nói về cái ngũ thường này nhiều cái hay. Ví dụ chữ Nghĩa, trời ơi vĩ đại lắm. Sống mà cho có nghĩa với nhau đó, vĩ đại lắm. Ân nghĩa, rồi nhiều cái nữa. Nhưng hôm nay thì ừ nhân là cái ngày vui là thầy à thầy Minh Lộc, thầy mời mọi người về đây để

[54:24]ổng khoe là ổng mới cất được cái nhà to. À vậy, đại khái vậy. Nên mấy thầy về thì thầy vui, thì chia sẻ một ít về Khổng Tử để ta thấy mình đứng trên cái nhãn quan của đạo Phật mình hiểu các các đạo khác nó rất là sắc bén.

[54:44]Thì trong cái ngày vui vì thầy cũng xây được cái nhà mới, nhưng mà rồi rất là đẹp và rõ ràng chúng ta được may mắn vậy giờ đây mình ngồi đây mình nghe Pháp, ở những quốc gia khác nhiều khi họ bất an lắm, không được như vậy đâu. Như vậy, mưa bão vậy nhưng vừa rồi mấy cơn bão đánh vô miền Tây thấy không? Không xi-nhê. Không xi-nhê, bởi vì sao? Đó, bắt đầu có một bài báo họ nói đó. Bài báo nói tại sao năm nay là ba cơn bão đánh vô miền Nam đều tan vỡ, đều tan hết, không vào được. Phải chăng có cái yếu tố tâm linh? Bài báo họ ghi rõ luôn cái đó luôn, phải chăng có yếu tố tâm linh? Xin thưa, chắc chắn có yếu tố tâm linh.

[55:33]Cái tâm linh thứ nhất á là chính những người dân mình tụng niệm, cầu nguyện rất nhiều. Các chùa đều cầu. Ở miền Tây với Bạc Liêu là kéo ra chỗ Quan Âm Nam Hải cầu quá chừng. Ở trong Sài Gòn mình các thầy đều cầu an hết, Phật tử mình đều cầu và các vị lãnh đạo mình cũng cầu cho dân.

[55:57]Cho nên là bão tan luôn. Các vị cũng rất là tin và rất là thương dân. Thì thôi Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng ta về đây để cùng niềm vui với thầy Minh Lộc nha, người ta có thêm cái cơ sở để tu hành. Và thầy cũng mời các Phật tử mình cứ về đây tu tập với thầy. Nếu nếu mà có cái nhóm nào ở gần đây á thì coi như sắp xếp để đưa về đây tu, chứ chùa to mà không tu rất là uổng nha.