[0:13]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:21]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:34]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:46]Mời quý thầy, quý Phật tử ngồi xuống. Bữa nay mình học một bài rồi ăn Tết vậy ha. Năm nay quý thầy ăn Tết hơi kỹ đó, tới qua rằm tháng Giêng mới học lại ha. Sướng thiệt. Hôm nay chúng ta học bài Quan điểm Phật sự 7, tựa là "Kế hoạch - chương trình". Kế hoạch - chương trình tức là cái gì? Nghĩa là, nghĩa là chương trình và kế hoạch. Chúng ta nói một chút về cái quá khứ, tương lai một chút. Thì nào giờ, chúng ta nghe cái bài kệ trong cái bài kinh Nhất Dạ Hiền Giả là: "Không truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai. Quá khứ đã qua rồi, tương lai lại chưa đến. Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây.
[1:38]Bất động chẳng lung lay, hãy thực hành như thế". Quý thầy có nghe qua chưa?
[1:45]Có tụng luôn rồi ha, vậy là siêu đẳng ha. Và vì cái quan điểm như vậy cho nên thường là người đạo Phật chúng ta sống, nói là người tu hành tinh tấn á thì sống an trú trong từng giây phút của hiện tại. Đó là người biết tu vậy, nghĩa là tâm chúng ta mà khởi động chút xíu hướng về quá khứ, mình buông liền, mình trở lại với hiện tại. Tâm mình vừa khởi động hướng về tương lai, buông liền, trở về với hiện tại. Dần dần mình an trú trong hiện tại, cái khoảng hiện tại chúng ta an trú nó nhỏ dần nhỏ dần nhỏ dần lại cho tới cái chỗ nhỏ nhất là thành công. Chỗ nhỏ nhất đó là gì? Như có một lần giảng ở chỗ Xuyên Đạo, xưa tôi có hỏi câu này.
[2:27]Hỏi nhiều người, mà có mấy người trả lời tôi cũng chưa đồng ý. Và dường như, hình như tôi chưa giảng luôn thì phải ha? Hình như tới giờ vẫn chưa giảng ha? Cái chỗ nhỏ nhất của hiện tại là gì? Nhưng tôi cũng chưa giảng. Và hình như tôi cũng bí nên tôi cũng vĩnh viễn nín luôn, không bao giờ giảng đâu. Quý thầy có thắc mắc thì tự mình tìm. Vì cái quan niệm đó cho nên đa số quý thầy, quý cô chúng ta, nghĩa là người tăng ni hay Phật tử cũng vậy, hiểu đạo rồi cái mình sống an trú trong hiện tại và mình ngại là phải nhìn sâu vào tương lai, nhìn xa vào tương lai, vì nghĩ như vậy là động tâm, là phiền não, là kém tu.
[3:07]Nhưng mà hôm nay chúng ta học cái bài quan điểm Phật sự là Kế hoạch - chương trình, tức là chúng ta học cách mà chúng ta vạch một cái kế hoạch, lên một cái chương trình để chuẩn bị cho những công việc ở trong tương lai. Tức là hôm nay chúng ta học cái bài cái cách để chúng ta nhìn vào tương lai. Thì như vậy nó có trái với đạo lý của đạo Phật là chúng ta chỉ an trú trong hiện tại hay không? Có trái không? Nếu trái thì mình không học. Hễ cái gì trái đạo lý, dứt khoát không làm, chúng ta nhớ như vậy. Suốt đời một người tu hành, cái điều gì trái với đạo lý, dứt khoát không làm. Thì ở đây vậy, không có trái với đạo lý, nhưng mà chỗ nào không trái?
[3:45]Nó không trái ở cái chỗ này: là ở cái động cơ của nó. Khi chúng ta nghĩ đến quá khứ, nghĩ đến tương lai bởi cái động cơ nào, vị kỷ hay vị tha, thì cái trái hay không ở chỗ đó. Vì nếu bởi cái tình cảm vị kỷ mà chúng ta nhìn vào quá khứ hay là tương lai thì lúc đó chúng ta khởi lên một cái tình cảm. Thí dụ như khi mà nhìn vào quá khứ, nếu đó là một quá khứ đẹp thì khởi sinh cái tình cảm gì?
[4:22]Nhớ tiếc, tiếc vì cái giây phút nó đã đi qua rồi, không còn trở lại nữa. Nếu đó là một quá khứ xấu thì mình khởi lên tình cảm gì? Hối hận, muốn trốn chạy, đau khổ, cay đắng, cái gì đó. Thì không biết quý thầy đã có những quá khứ cay đắng, đau đớn như vậy chưa, không biết. Ai có giơ tay lên thử coi. Có rồi. Đó, đó là chúng ta nhìn. Rồi bây giờ cũng vì cái vị kỷ này, chúng ta nhìn tới tương lai thì nó sẽ khởi lên cái tình cảm thường là tình cảm gì?
[5:01]Thường là những cái ước mơ hão huyền, những tham vọng, những ảo vọng, những ảo tưởng, nó không có thực. Mà hay dễ là tham vọng, dễ là tham vọng, những ham muốn. Chính vì cái tình cảm này mà gọi là phiền não hay chướng đạo là do cái động cơ của nó. Bây giờ bởi động cơ vị tha, chúng ta cũng nhìn vào quá khứ hoặc là nhìn vào tương lai thì nó không có khởi lên tình cảm mà nó khởi ra trí tuệ. Khác nhau ở cái chỗ đó. Bởi cái động cơ vị tha, nghĩa là nếu chúng ta tu hành theo Phật pháp, mình tu đúng đường là mình chỉ sống, nguyện sống một đời này cho Phật pháp, cho chúng sinh, không có ước mơ gì cho chính mình cả,
[5:43]thì mình không có ngồi đó không có thời gian mà ngồi vẩn vơ mà nhìn lại quá khứ của mình hay là ước mơ về tương lai của mình, không có. Mỗi cái động tâm của mình nghĩ như vậy là vì Phật pháp mà suy nghĩ, vì chúng sinh mà suy nghĩ. Cho nên ở đây nó không có cái khởi sinh tình cảm mà mình bận cái công việc gì đó, vì lợi ích gì cho chúng sinh, cho Phật pháp đó, mà mới mới động tâm hướng về quá khứ hay động tâm hướng về tương lai, thì đó là trí tuệ. Trí tuệ chỗ nào gọi là trí tuệ? Nếu chúng ta nhìn vào quá khứ thì thấy cái gì ở đó?
[6:17]Thấy gì? Thấy kinh nghiệm, kinh nghiệm. Nghĩa là khi chúng ta nhìn vào quá khứ thì mình lại rút ra được kinh nghiệm. Ví dụ như nếu mà là một quá khứ tốt thì chúng ta sẽ thấy rõ để biết rằng chúng ta sẽ phân tích được từ cái nguyên nhân nào trước đó đã đưa đến một cái thành quả tốt đẹp trong những ngày tháng qua như vậy, chúng ta phân tích để mà áp dụng cho tương lai sắp tới mình sẽ bắt chước giống những điểm như vậy, những điểm như vậy. Mà nếu đó là một quá khứ xấu thì mình cũng tìm ra cái nguyên nhân của sự thất bại để mà tránh vị lai không có bị như vậy nữa. Cho nên cũng nhìn vào quá khứ, cũng nhìn tới tương lai,
[7:00]nhưng mà hai cái động cơ nó khác nhau, cái một cái nó khác nhau liền cái cái hệ quả trong tâm khác nhau liền. Nên vì vị kỷ thì trong tâm mình có tiếc nhớ hoặc là hoang vọng, mơ ước, đợi chờ; còn nếu mà vì vị tha thì nó xuất hiện cái trí tuệ, nhìn để phân tích cái quá khứ để lấy kinh nghiệm chuẩn bị cho tương lai. Rồi đến khi nhìn vào tương lai, với tâm vị tha nhìn vào tương lai thì cái trí tuệ cũng cũng phát khởi. Phát khởi một cái nhìn vào quá khứ thì thấy được kinh nghiệm, còn cái nhìn vào tương lai thì thấy cái gì? Thấy kế hoạch, phải là vạch ra được kế hoạch để làm việc. Đó, như vậy là hôm nay chúng ta là học bài bữa nay, chúng ta học ngay chỗ này.
[7:44]Kìa như vậy muốn học được bài này là chúng ta phải trở lại từ cái nội tâm ban đầu của mình, là nếu mà chúng ta sống với nội tâm vị kỷ thì việc mà động tâm để nhìn vào quá khứ hay nhìn tới tương lai thì chỉ đưa đến phiền muộn, sai lầm và loạn động; mà nếu bởi cái động cơ vị tha, chúng ta nhìn vào quá khứ hay tương lai thì chúng ta xuất hiện trí tuệ. Với quá khứ chúng ta có kinh nghiệm, với tương lai chúng ta bắt đầu vạch ra kế hoạch để mà làm việc. Thì cái khởi điểm nó là chỗ này. Nên đầu tiên trước khi làm mọi chuyện Phật sự, trước khi mà vạch mọi kế hoạch chương trình thì chúng ta xin vui lòng gạn lọc lại nội tâm mình coi nội tâm mình là vị kỷ hay vị tha.
[8:31]Vì nếu mà vị kỷ thì bất cứ làm việc gì cũng là sai lầm hết, sai lầm. Đây là cái chỗ mà chúng ta để ý một việc. Và cái việc mà chúng ta lấy được kinh nghiệm của quá khứ mà vạch một kế hoạch chặt chẽ cho tương lai để làm thành những Phật sự viên mãn, tốt đẹp, có lợi ích cho con người thì thành cái công đức cho cuộc đời của chúng ta. Dù chúng ta không mong ước có công đức nhưng nó là công đức. Một điều chúng ta để ý là thường bởi cái quan niệm mà an trú trong hiện tại, một thời gian rất dài tăng ni chúng ta không có bản lĩnh, nghĩa là mình sống hời hợt, nhìn vấn đề không có sâu. Lát chúng ta sẽ trở lại vấn đề này, nhưng mà đây là một nhược điểm của tăng ni.
[9:15]Và hễ vì chúng ta bị chê trách ở trên nhưng mà chúng ta lầm cái ở dưới cũng giống cái ở trên, nên mình không có khởi tâm nhìn sâu vào tương lai để thấy vấn đề cho rõ, mà thường sống hời hợt, mình hay nói thôi tùy duyên, tới đâu tới. Tới đâu tới nên tăng ni mình không có bản lĩnh, không có khả năng, không có giỏi. Khi mình làm việc gì dễ sơ suất, hời hợt, Chúng ta thấy ở các tôn giáo khác á họ được đào tạo kỹ. Họ làm việc gì chứng dắn, có kế hoạch, lên chương trình đàng hoàng, chứ không có nhắm mắt làm bừa kiểu như mình là tùy duyên, vô quái ngại, Ừ. làm là đụng hố thì cứ lăn thôi ha. Mình thì cũng không được.
[9:57]Nhưng mà bây giờ chúng ta phải đặt lại vấn đề này. Nếu với cái tâm vị tha, chúng ta mong muốn xây dựng, phát huy được Phật pháp, làm lợi ích cho chúng sinh thì phải có kế hoạch rõ ràng. Một điều nữa là khi bước vào làm Phật sự, nó khác với cái chúng ta sống một mình. Mình sống một mình mình á thì mình chỉ cần an trú trong hiện tại để làm chi? Để mình vượt qua được cái chấp ngã, vượt qua mọi cái phiền động của mình. Thì đó là sống cho mình. Nhưng mà một khi chúng ta phải bước vào để làm Phật sự thì trong cái Phật sự đó nó có liên quan đến rất nhiều người, đến chịu ảnh hưởng trong cái việc làm của mình,
[10:36]hoặc là Phật tử, hoặc là tăng ni, đệ tử, vân vân. Tức là liên quan tới rộng rãi trong cái giáo hội, trong cái cộng đồng Phật giáo hoặc là cả với những cái cộng đồng xã hội bên ngoài. Tức là một Phật sự được khởi động thì luôn luôn nó liên quan đến nhiều người khác. Và khi nó liên quan đến nhiều người khác thì nếu cái việc làm đó đưa đến một kết quả tốt đẹp cho mọi người, mọi người liên quan đến công việc đó được nhiều ích lợi thì phước chúng ta thành công và công đức chúng ta tốt, mà cũng có nghĩa là Phật pháp được thêm một bước tiến, dù một bước tiến nhỏ. Nghĩa là việc làm nhỏ tốt đẹp, thành công là Phật pháp tiến
[11:14]thêm được một bước, mà nếu đó là một cái Phật sự lớn, thành công thì Phật pháp tiến thêm được một bước lớn. Mà chúng ta nhớ, hễ nói tới Phật sự đều có liên quan đến nhiều người, không phải một mình mình. Chính vì có liên quan đến cái ích lợi của nhiều người thì chúng ta không được quyền hời hợt. Tức là khi chúng ta vạch một kế hoạch hành động thì kế hoạch phải chu đáo, bảo đảm là những người liên quan đến chúng ta đều được tràn đầy lợi ích. Đó ví dụ như là quý thầy muốn mở một cái lớp học giáo lý thì không có tùy duyên tới đâu tới, chừng nào giáo thọ tới giảng giảng thì thôi, học trò tới học không học thì thôi.
[11:51]Tức là muốn leo rào ra leo lúc nào leo, muốn ăn nào ăn, ngủ ngủ tùy duyên kệ, cho tụi nó tùy duyên, nó tự tại, nó giải thoát gì á, không có được. Phải dứt khoát nghiêm túc, nghĩa là bảo đảm học tăng, học ni tới nơi mình đào tạo là phải thành những nhân tài của đạo Phật. Thì cái đó phải có kế hoạch chi tiết, hoặc là ví dụ mình mở một cái buổi lễ, một cái lễ hội lớn. Cái đề tài về lễ hội chúng ta sẽ nói thêm ở một cái bài khác, hôm nay mình nói sơ sơ. Ví dụ như mình mở một cái lễ hội để làm cử một buổi lễ gì trong đạo Phật thì cái bảo đảm, cái kết quả là gì? Là phải đem lại cái xúc cảm tăng trưởng được tâm đạo cho những người đến dự.
[12:30]Đó là mục tiêu của lễ hội. Tuyệt đối không được nói tới tiền bạc, chấp nhận hao tốn nhưng mà cái thành công ở chỗ là khi mọi người ra về, từ chùa ra về, lòng dâng trào xúc cảm đối với Phật pháp là thành công. Và để được mọi điều ích lợi, khi mà chúng ta vạch kế hoạch để được mọi người tham gia được ích lợi thì kế hoạch đó không được phép hời hợt. Chúng ta phải cạn tâm cạn óc ra mà làm cho được thì cái công đức nó sẽ đền bù lại bằng những cơn thiền định của chúng ta. Đừng tưởng, đừng nghĩ rằng chúng ta hao tâm, kiệt óc, vạch kế hoạch kỹ lưỡng như vậy tức là động tâm, không phải. Chính cái đó phá được chấp ngã của mình,
[13:08]tạo được công đức trong thiền định ngày sau này. Đó là điều quý thầy phải can dạ lên, đừng sợ động tâm. Nếu mình đã vị tha mà khi mình làm công việc, nó đem đến tâm đạo, tăng trưởng được lợi ích cho mọi người thì cái kết quả nó rớt vào trong tâm mình, nó tạo thành kết quả thiền định ở sau này, đừng có sợ chuyện đó. Cho nên việc làm phải chu đáo, phải chi tiết. Một điều nữa là chúng ta để ý thế này. Cái người mà trí tuệ càng lớn thì họ nhìn càng xa vào tương lai và nhìn càng sâu vào những chi tiết nhỏ. Còn cái người mà trí tuệ cạn á, nhìn vấn đề cạn cợt chỉ thấy những nét tổng quát thôi. Đây là điểm khác nhau giữa người trí tuệ thấp và người trí tuệ cao.
[13:53]Cái trí tuệ này á, nó do hai điều: một là do bẩm sinh, hai là do được rèn luyện. Cái bẩm sinh thì thôi mình chịu thua, thì cái người đó họ có cái đâu tiền kiếp rồi, mình chịu thua, nhưng bây giờ mình nói tới vấn đề rèn luyện. Mà nếu chúng ta được rèn luyện lâu ngày, cái đầu óc mình nó sắc bén thì từ từ mình nhìn vấn đề nó xa, xa dần vào tương lai. Thí dụ một công việc vạch ra thì người mình bình thường mình thấy được ba, bốn bước à, thấy những nét đại cương, nét tổng quát. Nhưng mà người có trí tuệ họ nhìn tới thấy được từng chi tiết nhỏ, chi tiết nhỏ, nhìn được lâu, xa dần dần vào những ngày tháng sắp tới.
[14:31]Nên trong cuộc đời này, à có khi chúng ta gặp một vài người nào đó mà phải nói là nếu mình là giỏi, mà cái người kia cũng giỏi, mình nói một vài câu mình biết đây là kỳ phùng địch thủ. Còn thường như chúng ta đó, chúng ta gặp một người mà đầu óc họ phải nói những khối óc vĩ đại á, mình nói chuyện họ, họ cười cười, không nói gì hết, nhưng mà họ đánh giá mình thuộc hàng thấp. Mình nói một câu thôi là họ biết mình trình độ nào liền, cái nhìn của mình trong cuộc đời này sắc bén tới đâu liền. Khi nói một vạch một câu chuyện về vấn đề học hành, vạch câu chuyện làm về vấn đề kinh tế hay vạch câu chuyện là vạch trong hành động một cái chương trình
[15:07]làm việc sắp tới, mình chỉ nói qua ba, bốn câu cái họ biết mình thuộc loại nào rồi. Mình chỉ nói được những nét đại cương thì họ biết ngay cái người này cái trí tuệ thấp, họ cười cười họ không nói ra miệng nhưng biết mình trình độ thấp rồi. Còn cái người mà khi nói chuyện nghĩa là một cái chuyện lớn lao mênh mông thiên địa nhưng mà lôi ra một chi tiết nhỏ nhất không ai nhìn thấy đem ra hỏi thì biết là đụng kỳ phùng địch thủ rồi, tức là khi người này họ nhìn vấn đề nhìn quá chặt chẽ. Đó là cái cái trí tuệ đó. Nhưng mà có một điều là đây là điều mà tôi không biết tại sao, có lẽ là do người Việt Nam mình ít được đào tạo,
[15:44]thường tôi hay gặp những người nhìn có cái nhìn cạn. Thì tôi không biết là tại sao nên đây tôi hơi lo, tôi lo khi mình thấy mình nhìn qua nước ngoài, mình thấy khác nha. Thí dụ các kỹ sư của họ, các chuyên gia, thậm chí những nhà văn, những ký giả của họ thôi, không biết họ đào tạo cái gì mà họ nhìn vấn đề nhìn kỹ, nhìn sâu. Do đó, cái vấn đề gọi là kế hoạch, chương trình này là cái môn học quan trọng. Ở ngoài trường học, ở các môn học ở đại học á thì có môn quản trị hành chánh thì có lẽ họ cũng học cách đặt chương trình. Nhưng mà đa số quần chúng mình ở trong phổ thông thì chưa được học, mà quý thầy tu mình lại càng không được học.
[16:23]Do đó, chúng ta không có thói quen là khi phân tích, triển khai một kế hoạch gì cho sâu, thường là mình chỉ làm cái gì cạn cạn, rồi tới đụng chuyện đâu xoay xở tới đó, nên đó là một cái cái gọi là cái trí tuệ không được rèn luyện, nhìn không có sâu. Cái giỏi, người giỏi là cái người nhìn vấn đề cho sâu. Thí dụ như mình nói một cái buổi lễ ví dụ bây giờ mình đặt cái buổi lễ mà mình đoán là khoảng 500 người tới dự lễ, và 500 người dự lễ thì mình đoán ra được là bao nhiêu phần ăn, à 500 phần ăn ăn trong hai buổi, vân vân phải không? À tổng quát như vậy. Vậy là cần mua bao nhiêu gạo, cần bao nhiêu nhà bếp,
[17:04]mấy người nấu cơm, thì nói như vậy là tổng quát. Thì khi mà mình nói như vậy, cái người kia họ biết mình chưa kỹ, chưa kinh nghiệm, chưa giỏi chăng. Mà vì sao vậy? Vì sao vậy? Là vì đâu phải 500 người tới đúng giờ rồi ăn xong rồi đi về đúng giờ, không có. Sẽ có những người đến sớm hơn, phải không? Ở lại. Rồi khi về cũng phải kéo cái rầm mất tiêu liền, không còn ai trong chùa, mà từ từ lác đác đi về. Có người có chuyện gì đó ở lại phụ chùa thêm vài bữa nữa cũng có. Nên nói 500 người nhưng mà không cùng giờ cùng lúc. Người đến trước, cho nên thành ra nói 500 phần ăn chứ thành ra là 500 mấy, bởi vì sao?
[17:42]Có những người họ sẽ ở lại họ ăn nhiều lần, phải không? Vì họ đến trước công quả và về sau để công quả, như vậy. Hoặc có lý do gì đó, vân vân. Có những người nào đó họ kéo thêm người gì đó ngoài cái dự kiến của mình, nên chính những cái vấn đề lắt nhắt lắt nhắt đó mà mình thấy được á thì đó là mình có kinh nghiệm, có trí tuệ. Chứ còn cứ nêu vấn đề tổng quát giống hệt đều đặn là không phải sắc bén. Cái người cái nhìn sắc bén họ hình dung những chi tiết nhỏ và dự đoán được những cái điều ngoài dự kiến, ngoài những tình huống mà mình không ngờ tới được. Đó là cái bản lĩnh của người mà lập kế hoạch chương trình.
[18:16]Đó là chúng ta nói khái niệm. Giờ mình nói qua về cái ba cách làm việc của cuộc đời. Cái này hôm trước chúng tôi có nói ở trong bài giảng nào quên mất rồi, về cái đế đạo, vương đạo và bá đạo. Hình như trong cái bài Tâm Lý Đạo Đức nào đó phải không? Phải không? Quên mất rồi, trả rồi. Tôi thì tôi cho luôn, tôi không đòi lại, nhưng quý thầy thì luôn luôn trả lại hết, không giữ gì trong lòng mình, hay thiệt. Um cái này là cái khái niệm về khái niệm vua chúa, nhưng sự thật là mình dùng cái từ đó để nói cách làm việc, chứ mình chả nói chuyện vua chúa làm cái gì ở đây, tu hành không có dính líu mà. Nhưng mà vì tiếng Việt Nam không có cái từ để
[18:56]dùng cho nên tôi không biết như thế nào. Thôi bây giờ mình tạm thời nghe cái tiếng Tàu mà nói chuyện vua chúa không, thấy ghê. "Đế" tức là hoàng đế, "vua" "vương" tức là vua, "bá" tức là bá. Thời xưa ở Trung Hoa cái nước rất là lớn, vì mà cái người lãnh tụ tối cao của họ có tính cách biểu trưng tinh thần là hoàng đế. Ví dụ như nhà Chu, đọc hồi Đông Chu Liệt Quốc á, thì lúc đó nhà Chu là thiên tử, rồi coi như là hoàng đế cai trị hết, mà nói cai trị hết trên danh nghĩa thôi chứ thực quyền nó nằm qua mấy ông vua này hết. Vì lúc đó là vua hay có tật là cắt đất phong vương, thấy ai có công cái rồi cắt nguyên cái tỉnh đó,
[19:37]cái tỉnh đó bằng cả nước Việt Nam mình hay lớn hơn, cắt nguyên đất đó cho ổng về đó làm vua, nghĩa là à làm vua xứ Tề, làm vua nước Sở, làm vua nước Yên, làm vua nước Tần, thì đây là cái cấp mà nhỏ hơn hoàng đế, tức là vua. Mà cấp nhỏ hơn vua là bá, nhưng mà chữ bá này có nhiều nghĩa. Có một thời gian á cái nghĩa bá này đó là sếp của mấy ông vua này, mặc dù là không bằng hoàng đế, không phải là hoàng đế, nhưng mà được lãnh đạo, thay mặt hoàng đế lãnh đạo nhiều một khối mấy ông vua này, nhiều các nước chư hầu, thì gọi đó là bá. Như có thời là Tề Hoàn Công á được làm bá chủ, đó. Nhưng mà cái nghĩa bá khác á là bá này nó thấp hơn vương đạo này.
[20:20]Ví dụ trong một quốc gia có nhiều ngành nghề, mà trong cái ngành nghề đó người nào làm sếp trùm hết, lãnh đạo hết thì gọi là bá. Cái câu này chúng ta nghe ở đâu? Trong truyện, trong phim kiếm hiệp, bá chủ... Giới võ lâm. Ra quý thầy giỏi, vậy là có nghiên cứu tốt. Thì như vậy, thực ra cái võ lâm hồi xưa là cái gì bây giờ? Quý thầy có biết không? Toàn là coi phim kiếm hiệp võ lâm không, biết võ lâm hồi đó là cái gì bây giờ không? Xã hội đen bây giờ không hay ho gì đâu. Mình cứ chém giết xì xèo, ngoài luật pháp, nghĩa là tự ý thanh toán, rửa hận người nhau, nghĩa là mối thù truyền từ đời này qua đời kia,
[20:59]mà không không thấy ông lính, ông tráng nào hết. Cho nên phải hiểu cái võ lâm hồi xưa là là xã hội đen. Nhưng mà trong đó nó có nhiều bang hội, nhiều phe nhóm, nhiều môn phái, mà cái người nào đó bằng mọi cách thao túng hoặc là thi tài, họ trở thành lãnh đạo hết các môn phái võ lâm thì gọi là bá chủ võ lâm. Nhưng rồi vẫn phải sợ ông vua bởi vì sống trong nước ông vua. Khi cần, ông vua ổng dắt binh hùng tướng mạnh ổng dẹp sạch sẽ không còn tên nào. Cho nên bá thua vua một chút. Đó là ba cái mức độ mà lãnh đạo trong đất nước theo quan điểm của Trung Hoa ngày xưa. Còn bây giờ thì không có còn như vậy.
[21:33]Tuy nhiên, người ta hay lợi dụng cái này, dùng cái từ này để giải thích về cái cách làm việc. Hôm nay chúng ta cũng mượn để dùng trở lại để giải thích về cách làm việc: Đế đạo là gì? Vương đạo là gì? Làm theo bá đạo là làm theo cách nào? Cái chuyện này hồi xưa tôi đọc từ hồi còn nhỏ quá, bây giờ tôi quên cái tên chính xác đi, nhưng mà tôi kể lại cái cốt chuyện tổng quát thế này. Thì vào thời Trung Hoa ngày xưa đó, có những cái tay bây giờ mình gọi là chính trị học, hồi xưa gọi là những thuyết khách. Những người đó họ giỏi về chính trị, một bụng họ họ đi gõ cửa từng cái cung điện, từng gặp từng cái ông vua, từng cái cung đình để nói về chính
[22:11]trị cho các ông vua nghe về đường lối trị dân, trị nước. Là đối sách về ngoại giao, đó là cái sắp được việc là nhân sự phòng bị như thế nào. Thì có những nhà thuyết khách, bây giờ mình gọi là những nhà chính trị học, những tay quân sư, những tay cố vấn á. Dạ. Thì hồi đó họ mới đi đến từng nơi. Mà ông vua nào mà nghe họ nói xuôi tai, mời họ ở lại thì họ biến thành quân sư liền. Là họ giỏi lắm. Mà nếu ông vua nào không nghe thì cười cười giã lả rồi cho ít tiền rồi muốn đi đâu đi, rồi lặn lội đi bộ qua nước khác rồi gõ cửa nói chuyện nữa. Như vậy. Là những người đó rất có tài. Thì có một lần có một tay thuyết khách đến gặp một ông vua.
[22:47]Thì đầu tiên gặp ông vua, ổng mới giảng về đế đạo thì ông vua ổng ngồi nghe ngáp ngủ. Cho nên ổng mới thấy cái ông này cái ông vua này không có cái tầm cỡ của hoàng đế, cái ổng giảng xuống vương đạo thì ông vua này nghe câu được câu không. Thì ổng thấy ông này có bộ cũng không có được làm một ông vua bình thường, cái quang minh chính đại. Cái ổng giảng xuống bá đạo, nói toàn thủ đoạn nham hiểm không, ông kia sáng mắt lên, khoái chí. Như vậy là ông vua này là có tay bá đạo, chỉ dùng bá đạo. Mà cái tay thuyết khách nào không biết giỏi, giỏi nắm được đế đạo là phải phải trị dân thế nào mới gọi là
[23:20]đế đạo, còn trị dân như thế nào là vương đạo, trị dân thế nào là bá đạo, thì cái ông vua đó thấy cốt, căn cơ của ổng chỉ là bá đạo. Bây giờ mình định nghĩa lại trong cái công việc của đời thường mà không có liên quan gì tới chính trị, trị dân trị nước gì hết. Thì đế đạo nghĩa là gì? Đế đạo nghĩa là chúng ta dùng đạo lý, dùng giáo lý, dùng đạo đức để giáo hóa cho mọi người, để cho mọi người tự giác đứng lên sống đúng, làm đúng. Đó là cái đạo đế là vậy, là thuyết phục, là giáo dục đó, làm cho mọi người tỉnh ngộ, giác ngộ rồi thì họ sẽ sống đúng, làm đúng. Đó là đế đạo. Còn vương đạo là dùng tài năng để tổ chức con người lại,
[24:11]đưa con người vào khuôn phép, vào nền nếp, vào tổ chức, có kỷ luật để cho con người sống đúng, làm đúng, không được làm bậy. Nên nó có mang tính kỷ luật, giới luật là vương đạo. Còn bá đạo là để cho mọi người yên, theo mình và yên ổn không quậy, không phá là dùng thủ đoạn, gạt bên này, đẩy bên kia, giấu giếm bên nọ, thì cái đó gọi là bá đạo. Đó, nghĩa là bá đạo là dùng thủ đoạn. Ba cách. Giờ quý thầy nắm rồi phải không? Trong đạo Phật mình vậy, vào cái thời ban đầu 13 năm đầu khi Đức Phật thành lập Tăng đoàn đó là thời gian đế đạo, là Đức Phật mỗi ngày Ngài thuyết pháp cho các Tỳ kheo nghe rồi buổi sáng các vị đi khất thực, buổi chiều ngồi thiền,
[25:00]chiều tối tập hợp lại nói chuyện đạo lý cho đến khi trời tối quá, đêm không trăng thì chia nhau vào trong cái những ngóng cây, gốc cây, những ngôi nhà trống tọa thiền. Khi nào mệt mỏi thì đi nghỉ. Cuộc đời sống rất thanh bình, thánh thiện, không có tổ chức, không có giới luật luôn. Thời đó chưa có giới luật chúng ta nói rồi phải không? Trong 13 năm đầu đạo Phật không có giới luật. Nghĩa là Đức Phật giảng dạy đạo lý, các vị đó áp dụng tu hành sống đúng, đắc đạo, nhiều vị đắc đạo và tự biết điều nào sai, điều nào đúng để giữ lấy mình, không cần phải có tổ chức. Nên tuy gọi là Tăng đoàn mà trong đó không có hiến chương,
[25:40]là không có phân chia tổ chức từng nhóm, từng chúng, là từng ban trị sự, ban đại diện gì cả. Nghĩa là thời đó chỉ một cộng đồng sống chung với nhau. Sống chung thôi, ngoài ra không còn cái gì khác. Buổi sáng thì đi khất thực, rồi đôi khi có nhường nhịn nhau trong việc mà xách nước, ai mà khỏe, siêng thì đi xuống cái hồ lấy nước lên để vào các cái vò. Rồi ai rảnh rỗi ngoài giờ ngồi thiền thì đi quét cái sân, nhặt cỏ ở trong vườn. Rồi khi có khách tới thì tìm vị nào vị đó đến nói chuyện tiếp khách. Vị nào làm thị giả thì vào lo cho Đức Phật. Đời sống không có tổ chức, mọi người tự giác làm điều đúng.
[26:20]Đó là 13 năm đầu của thời Đức Phật. Cho đến sau 13 năm thì bắt đầu có một số vị xuất gia rất là nhiều và nhiều người tuy nghe được đạo lý nhưng mà không giữ được mình và trong đời sống thực tế không nhận định được điều nào đúng, điều nào sai nên đã có làm nhiều chuyện sai lầm. Lúc đó bắt đầu Đức Phật mới chế giới luật là điều này không được làm, điều kia không được làm. Nghĩa là đi từ đâu tới đâu thì được, đi qua khỏi đâu là sai. Tiếp xúc với ai với thái độ nào thì đúng, tiếp xúc với thái độ nào là sai. Giữ cái gì trong người thì được, giữ cái gì trong người thì sai. Đó là bắt đầu đi vào giới luật là vương đạo.
[26:55]Mang hình thức tổ chức, kỷ luật dần dần, nhưng mà cũng chưa tinh vi lắm. Đó là ngay thời Đức Phật là đã có một thời gian đế đạo và một thời gian sau là vương đạo thì cả hai song song. Trong thời gian có vương đạo vẫn là đế đạo là chính, nghĩa là cũng chủ yếu là chư Tăng nghe đạo lý tự giữ lấy mình và giới luật coi vậy cũng là phụ vì cũng ít ai phạm. Lỡ sơ suất chút xíu quý thầy khác nhắc nhở, sám hối rồi á, nên vẫn chủ yếu là tự giác sống một đời thanh tịnh, thánh thiện. Đó thời Đức Phật. Trong đạo Phật có bá đạo không? Có thủ đoạn không? Có không? Cũng có như thường. Bởi những người không tốt mà họ tu
[27:37]và có những tham vọng ích kỷ đã có những lúc họ dùng tới thủ đoạn. Chúng ta nghe những câu chuyện ví dụ Chúng ta nghe qua câu chuyện thời à truyền Lục Tổ Huệ Năng. Lúc đó là theo câu chuyện Lục Tổ Huệ Năng thì ngài được truyền y bát của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Rồi lúc đó có một số vị thấy không chấp nhận. Không chấp nhận: Trời ơi, cái thằng nó mới công quả nó gõ giã gạo mấy bữa nay mặc áo chẽn mà tự nhiên ôm y bát của Thầy đi mất tiêu rồi, không xứng đáng. Họ theo họ như vậy là quá quá bất công, quá bất công, không có phe. Họ lật đật đâm đầu họ rượt theo để mà giành lấy lại. Thì cái giành mà lấy lại đó thuộc về Họ cầm gươm theo nữa. Cầm gươm theo nữa.
[28:20]Là lúc đó cuối cùng ai gặp được Tổ Huệ Năng? Một vị nào đó tên là Huệ Minh mà cầm gươm nữa. Nghĩa là quyết tâm là dùng võ lực để giành lại được y bát. Thì cái đó mới là thủ đoạn, là bá đạo. Cái đoạn này có ai coi phim Lục Tổ Huệ Năng chưa? Có người coi rồi thì lúc đó sao? Đánh rất là thật là đẹp phải không? Tổ Huệ Năng cũng xuất chiêu, xuất chưởng xì xèo, um sùm, phi môn công lum la vậy. Chúng ta cũng nhớ cái chuyện mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi sang Trung Hoa giáo hóa, đến khi ngài có cái ảnh hưởng lớn, nhiều người theo thì chuyện gì đã xảy ra với ngài? Ngài năm lần bị chuốc thuốc độc. Ai chuốc? Mấy ông thầy tu chứ ai.
[29:01]Cho nên đã có những lúc trong đạo Phật bị lẫn thủ đoạn trong đó, gọi là bá đạo. Chúng ta cũng nhớ lại câu chuyện mà Thánh sư Milarepa Tây Tạng, quý thầy đọc cuốn Con người siêu việt á. Cuốn đó hay lắm ráng tìm đọc. Cũng vậy, khi mà ngài thì có cái khả năng tâm linh bẩm sinh rất là mạnh. Sau khi mà gia đình ngài bị người ta hại thê thảm, ngài mới đi học huyền thuật rồi ngài mới dùng cái khả năng huyền thuật ngài giết nhiều người. Rồi ngài hối hận ngài đi tìm đến đạo Phật, quy y và xin đi tu. Thì vị đạo sư của ngài thấy rằng ngài có căn cơ rất lớn nhưng mà nghiệp nặng nên ổng ổng hành hạ, ổng đày đọa ngài đủ thứ để ngài trả nghiệp.
[29:42]Sau đó mới dạy những cái bí pháp rồi ngài lên núi Hy Mã Lạp Sơn ngài ẩn tu 11 năm trển. Ngài đắc đạo rồi trở ra giáo hóa và uy tín nổi tiếng rất là lớn. Nhiều người đi theo, do vì nhiều người đi theo quá nên người ta mới hại ngài là có một vị tu sĩ thuê một cái cô gái giả làm Phật tử đến ngài cúng ngài món ăn và trong đó bỏ thuốc độc. Mấy lần nhưng mà lần cuối ngài ăn ngài chấp nhận chết. Đến đó chúng ta thấy như vậy là đã có những người tu sĩ là đế đạo không, vương đạo không mà dùng bá đạo để sống để tìm danh, tìm lợi, lừa gạt con người. Đó đây là như vậy. Thì ba cái này là chúng ta thấy như vậy.
[30:25]Là trong ba cái này chúng ta chủ yếu là dùng cái gì?
[30:32]Đúng vậy. Đế đạo phải không? Là khi mình làm việc, cái quan trọng là làm cho mọi người tự giác cùng làm điều đúng với nhau, mà không phải rầy rà, không phải cự nự nhắc nhở nhiều. Đó là cái đẹp của đạo Phật. Nên cái vấn đề giáo hóa rất là quan trọng. Sau này quý thầy lớn lên phải nhớ cái này là cái vai trò chính của mình. Bao nhiêu cái kế hoạch chương trình, bao nhiêu Phật sự đều phải đặt trên cái nền tảng là giáo hóa sớm. Rồi đến khi lòng người cùng nhau làm việc gì đó bắt đầu mới đi vào tổ chức. Chứ đừng có mà không có giáo hóa mà chỉ lo tổ chức mà nghĩ rằng mình phát huy Phật pháp được là một điều sai lầm.
[31:13]Ở đây về điều này chúng ta cũng nhận thấy nè. Mình qua thời gian nhiều thời gian mình cũng nhận xét. Có những giai đoạn mà quý thầy giáo hóa ít mà thích tổ chức nhiều thì rồi rối ren thôi. Mỗi người chia manh chiếu mùng không đoàn kết được, rồi tan rã, chia rẽ lại. Chỉ có giai đoạn nào mà giáo hóa nhiều thì cái tổ chức mới thành công, công việc mới thành công. Và đây là cái kinh nghiệm. Do vậy khi quý thầy lớn lên một chút, bắt đầu mình đi về phải làm Phật sự nơi địa phương mình hoặc đi nơi này nơi kia, hoặc làm việc trong giáo hội, nhớ cái cái giáo hóa là quan trọng nhất suốt cuộc đời của mình.
[31:52]Còn những cái việc mà tổ chức này kia nọ chỉ là việc phụ thôi. Giống như cái đế đạo này là cái nền móng rồi cái tổ chức là cái toà nhà đặt lên trên. Cái nền móng phải thiệt lớn thì cái tổ chức nó mới vững. Như bây giờ vậy, à mình muốn cho cái Phật pháp ở cái vùng quê mình nó thịnh, bắt đầu mình mới tổ chức mình tập họp Phật tử lại mình chia, bây giờ ở đây là chia thành mấy chúng, mỗi chúng có chúng trưởng, chúng phó rồi mỗi ngày bao nhiêu nào phải tập hợp lại kiểm điểm, phê bình là ai phải tu nên là quy định là mỗi ngày phải tụng kinh rồi tập họp ở đâu để tụng kinh, quy định làm những việc từ thiện
[32:27]như thế nào, mình quy định mình tổ chức vậy nọ rồi sẽ bẻ. Tại cái đó làm sao? Cái đó thuộc về vương đạo. Cho nên muốn làm điều đó, đừng làm cái đó sớm, mà cái đế đạo trước là một thời gian dài khi quý thầy về nơi địa phương mình để làm việc, khi mình không còn cái duyên để học đây nữa, thì khi làm việc thì nhớ là phải giáo hóa trước, phải dạy dỗ trước để cho lòng người họ tự giác biết đúng biết sai rồi sau này mình chỉ nhắc nhỏ một cái là mọi người cùng nhau làm việc tốt đẹp liền. Nên đó là cái quan trọng trước. Mà muốn giáo hóa như vậy thì chính bản thân mình phải làm sao? Phải làm sao? Phải cực kỳ lý tưởng, phải sống cực kỳ thanh tịnh cho đúng đạo lý.
[33:12]Vì mình có, nội tâm mình được có thanh lọc, sống hoàn toàn đúng với đạo thì mỗi lời mỗi chữ mình nói ra mới làm lợi ích cho chúng sinh. Còn nếu mà trong tâm mình lẩn khuất một cái gì đó, một cái bóng tối của cái vị kỷ, tham vọng, thì trong bài giảng mình thế nào cũng lòi trong đó, là không làm lợi ích mọi người. Cho nên mình nói là kế hoạch chương trình nè tức là cái vương đạo nè, nhưng mà sự thật nó phải đặt trên nền tảng của đế đạo là cái sự giáo hóa lâu dài. Mà muốn giáo hóa lâu dài thì nội tâm của chúng ta phải rất là thanh tịnh, rất là lý tưởng. Như vừa rồi có cái chuyện vầy, có người báo tôi biết là
[33:50]thế này, là tôi có một vài người Phật tử thân tình. Vài người Phật tử thân tình thì những người Phật tử này nói chung là làm việc đắc lực, giúp đỡ tôi rất là nhiều trong việc Phật sự. Thì có người báo là có người khác từ nơi khác họ đến họ họ dụ người Phật tử này, họ đến họ ân cần mời mọc để lôi kéo cái người Phật tử của tôi về với họ. Thì sau đó họ mới báo tôi biết là bây giờ thầy phải làm sao để mà ngăn cái người Phật tử này lại? Thì tôi mới trả lời thế này, tôi nói rằng: "Thầy nào cũng là thầy, Phật tử là Phật tử chung không có của ai hết trơn. Và trong lòng tôi không có ý giành, lúc nào đối với mọi người tôi vẫn giữ cái lòng thương yêu
[34:31]bình đẳng, và đối xử một cách bình đẳng, đúng đạo lý, không sai đạo lý. Còn nếu bây giờ trong lòng trong lòng thầy mà có khởi động tâm lên để muốn lôi kéo người Phật tử này thì cái đó biến thành cái gì liền? Thủ đoạn liền, trái đạo lý liền. Nhớm nhẹ chút xíu thôi, như vậy mình đã phân biệt à mình chia đây là Phật tử của tui, đây là Phật tử của ông thầy kia, mình phải giữ Phật tử của tui, thì đã biến thành bá đạo thủ đoạn liền. Mà nói trong lòng thầy có một chút thủ đoạn trỏng, sau này thầy đi giảng thế nào cũng tào bậy trong đó, thế nào cũng giảng bậy thôi. Cho nên vì vậy là thầy cứ tiếp tục xử sự với mọi người đúng đạo lý trong cái tình
[35:10]thương yêu bình đẳng, rồi còn tùy duyên người Phật tử đó theo ai thì theo. Nếu đã hết duyên với thầy, cứ theo thầy kia, vì thầy nào cũng là chư Tăng, cũng là Tam Bảo hết, không có phân biệt. Và còn duyên quý mến với thầy thì cứ với thầy." Mà ngay cả những người đệ tử của tôi vậy, những người Phật tử á mà đi chùa này qua chùa kia giúp đỡ chùa này chùa kia, tôi nghe tôi mừng lắm. Tôi nói: "Đúng là đệ tử của thầy." Như có một lần rồi có người đệ tử ở Bà Rịa rồi báo tôi: "Dạ thưa thầy con đi con giúp chùa này, con cúng chùa kia, con phụ chùa nọ." Nói: "Ờ đúng đệ tử của thầy á." Phải vậy đó không có phân biệt.
[35:42]Lúc nào phải giữ chặt chẽ cái đạo lý trong lòng mình thì mình mới có thể giáo hóa lâu dài cho Phật tử. Còn nhiều khi trong cuộc sống cái ích kỷ, cái danh lợi nó lẫn vào tâm mình mình không hay. Đụng mấy cái chuyện này mình nhớm nhẹ mình à tìm biện pháp coi, giờ phải lôi kéo người đó lại cho thầy nọ là bắt đầu mình rơi vào bá đạo liền, thì cái việc mà giáo hóa lâu dài sẽ bị hỏng. Do đó quý thầy nhớ điều này. Trong cái việc mà kế hoạch chương trình này tức là vương đạo đó, tức là cái tài mình tổ chức, bố trí, đặt kế hoạch, lên chương trình nhưng phải đặt trên nền tảng của đế đạo là sự giáo hóa rất lâu dài trong một thời gian qua.
[36:17]Mà muốn giáo hóa lâu dài thì lòng của mình phải, phải rất lý tưởng, rất thanh tịnh. Từng chút, từng chút phải cân nhắc với đạo lý, không được làm sai. Còn cái bá đạo này làm sao? Hỷ? Dứt khoát nghỉ chơi không đụng tới. Dù một chút nhỏ xíu lẫn trong tâm mình hay một cái hành vi nào mà trật chút xíu sai với đạo lý, dứt khoát không làm. Nó thuộc bá đạo là không có đụng luôn. Có một lần tôi nghe kể là có một cái chùa, cái người Phật tử mới hỏi một sư cô cũng hàng lãnh đạo, nói: "Thưa cô trong chùa có bao nhiêu chúng để con tính cúng là mỗi người một cái phần quà vậy đó." Thì sư cô đó mới nói, nói mà nói dư khoảng ba bốn phần, ba bốn phần.
[36:59]Thì cái một người trong chúng nghe vậy mới hỏi: "Ờ thưa sư cô, chùa mình đâu có tới con số đó sao mình nói số đó?" Sư cô mới trả lời: "Thì mình phương tiện. Phương tiện lỡ có khách tới." Nói câu đó. Có thể cái câu đó đó, cái dùng chữ phương tiện là rơi vào bá đạo, trật liền. Mà mình muốn cho Phật tử cúng dư thêm ba bốn phần thì nó không phải là cái có lỗi, nhưng mà do cái tâm mình và do cái cách mình nói một cách minh bạch thì nó không thành lỗi. Còn mà mình ấm a ấm ớ lấy cái chữ phương tiện để biện minh là rơi vào bá đạo liền, rơi vào thủ đoạn liền. Mà mình làm sao mà để đúng đạo lý? Ví dụ thế này, ví dụ như người mình nghĩ à bây giờ thí dụ trong chúng mình 60 người
[37:41]nhưng mà khi Phật tử hỏi thì mình muốn là người ta cúng luôn 65 phần để chi vậy? Thì đề phòng lúc mà khi Phật tử chở quà tới đông thì có mấy vị khách Tăng bất ngờ xuất hiện. Mà bây giờ có mặt khách Tăng đó mà không cúng dường thì cũng cũng kỳ, nó cũng không phải là cái tình đạo với nhau. Nên mới là 10 phương Tăng sum vầy trong một nhà như ruột thịt thôi, mình không có phân biệt. Dù đây là không phân biệt à đây nội chúng mà ông khách tới chơi thôi nghỉ chơi không có. Hễ khách tới thôi mình cũng mời dự chung một cái niềm vui nào đó, cho nên thôi mình nghĩ như vậy thì cái cho nên mình xin luôn 65 phần quà để đề
[38:16]phòng lúc đó bất ngờ có khách Tăng tới thì cúng dường các khách Tăng luôn cho nó vui. Cái ý nghĩ đó là thuộc cái gì đạo? Đế đạo. Vì nó là đạo lý, nó là lòng từ bi, nó là cái tình huynh đệ, tình đạo, nên nó là đế đạo. Mà khi mình nghĩ như vậy rồi thì mình nói thẳng thắn với Phật tử. Mình cứ nói thẳng thắn: "À nói trong chùa thầy có 60 chúng nhưng nếu cúng xin vui lòng cúng cho thầy 65 phần bởi vì thầy đề phòng có khách Tăng tới, mình cúng dường luôn cho vui." Mình nói Phật tử từ chối không? Phật tử mà thỉnh đã cúng được 60 phần rồi thì cũng rồng cũng họ kêu gọi luôn cúng 65 phần không có sao hết.
[38:55]Nhưng mà mình minh bạch, quang minh chính đại. Như vậy nó đúng đạo lý, phải không? Đó là đế đạo. Còn mà có thể cái ý nghĩ mình tốt nhưng mà mình nghĩ không ra cho tới đế đạo, mình mang mang man man gì đó sờ sờ gì đó, nói: "Ờ thôi kệ phương tiện cho dư ít phần cho chắc ăn" rơi vào bá đạo liền, rất là uổng, phải không? Cho nên vậy, cho nên ở đây đó trong cuộc sống trong mọi việc điều hành của công việc quý thầy để ý ba cái chữ này. Vì tôi không có cái từ để dùng trong tiếng Việt nên tôi tạm phải dùng cái đế đạo, vương đạo, bá đạo, cho nên cái từ này nó không có chính xác lắm. Nên mai mốt quý thầy nghĩ ra từ nào báo tôi biết để tôi sửa lại, nha.
[39:31]Giờ tạm thời như vậy, là cái đạo lý dùng đạo lý để gây sự tự giác nè, dùng cái tài tổ chức và kỷ luật để giữ con người, và dùng thủ đoạn. Ba cái. Gọi ba cái tên đế đạo, vương đạo nghe cho nó ly kỳ, hấp dẫn, bí ẩn rồi chơi cho vui. À dĩ nhiên, khi bước vào làm Phật sự, làm vạch kế hoạch chương trình thì mình làm cái vương đạo. Nhưng mà nhớ trước đó phải giáo hóa lâu dài, để cho có những người tốt, những người tự giác thì mới chung tay góp sức với chúng ta cùng làm nên Phật sự. Và như vậy nhớ quý thầy khi ra trường, nếu không đi học nữa thì thôi, à nếu đi học nữa thì thôi, mà nếu không đi học nữa, về làm Phật sự phải nhớ đầu tiên là thuyết pháp trước.
[40:13]Sống một đời cho thật là lý tưởng, thật là đẹp, trong từng cái hành vi, cử chỉ, ý nghĩ của mình phải thật đúng đạo lý, rồi tối ngày lo thuyết pháp. Nhưng đừng nói dài quá ta ngủ. Thì tôi có định với quý thầy trong ban giám hiệu, nhất là thầy thầy thầy thư ký á, là để tổ chức cái lớp mà phương pháp diễn giảng. Nếu quý thầy tổ chức được thì sẽ tổ chức thành hậu cơ bản. Nhưng không biết cái chương trình như thế nào. Nhưng đó là điều tôi ước ao, quý thầy phải biết nữa. Bây giờ chúng ta nói qua về kế hoạch chương trình. Những cái vấn đề của kế hoạch chương trình phải như thế nào, để quý thầy để ý kỹ.
[40:49]Trong cuộc sống này là khi bắt đầu làm việc Phật sự, dù việc lớn việc nhỏ, chúng ta nên vạch cái kế hoạch trước, chứ không có làm đại, không có tùy nghi.
[41:02]Nghĩa là việc lớn thì mình vạch kế hoạch lớn, việc nhỏ mình vạch kế hoạch nhỏ, chứ không có bỏ liều, tập thành cái thói quen đó. Ví dụ nói rằng ngày mai, quý thầy tập thế này, ví dụ ngày mai đi chợ mua một số vật dụng gì cho chùa thì mình cũng tập lấy vở ra mình ghi vài bước vô trong đó đi, tập cho quen, thực tập bây giờ. Tại vì cái việc mà cái môn kế hoạch chương trình này đứng ở ngoài đó, người ta phải học bảy tám chục tiết, mà nếu học kỹ thì vài năm. Nếu để muốn làm một cái mưu sư lỗi lạc, ta phải học cái môn này vài năm. Vạch hết chương trình này và hết chương trình kia cho quen. Ở đây mình chỉ học có một bài trong một giờ rưỡi thì rất là ngắn.
[41:43]Do vậy là cái phần mà thực tập còn lại là quý thầy phải bí mật mà thực hành. Có thể quý thầy bận rộn nhiều công chuyện, phải học, nhưng mà riêng cái môn này nó là bản lĩnh của người lãnh đạo, quý thầy phải thực hành cho kỹ. Cái này môn này nó quan trọng giống như môn diễn giảng á, giống như môn học giáo lý á, tuy nó nhẹ hơn một chút nhưng mà nó là cái bản lĩnh cá nhân trong bí mật của con người. Quý thầy phải tập nó giống như người ta bí mật mà luyện nội công vậy đó, không cho ai biết nhưng mà âm thầm mình tập, rèn luyện cái môn này, cái bản lĩnh, cái khả năng này. Cái khả năng mà vạch kế hoạch.
[42:16]Tức là một việc nhỏ như là đi chợ, mình cũng lấy bút, mình vạch ra là mấy giờ làm việc gì, sẽ tiếp xúc với ai, đến cửa hàng nào. Nếu cửa hàng này không có, đi qua chỗ nào. Mà nếu bất ngờ không có gì hết thì mình sẽ nhờ ai đứng đó canh để mua giùm, vân vân. Những việc nhỏ nhỏ này trong đầu mình đặt ra, chứ đừng tới đó bắt đầu mới đứng tới chợ rồi không có cái lơ ngơ suy nghĩ thì con người đó cạn cợt, không phải là con người có cái tầm vóc lớn để làm việc. Nghĩa là phải liệu hết mọi việc trong đầu mình, cái chuyện nó xảy ra không có ngạc nhiên. Phải làm sao vậy đó, phải làm sao mình sống trên đời này
[42:49]khi mọi chuyện bất ngờ xảy tới người ta nhìn mặt mình thấy tỉnh queo, tại vì mình đã liệu trước hết rồi. Nên mình đã lường trước công việc này nó sẽ có khả năng xảy ra chứ không phải không. Mình tỉnh queo. Nhưng mà nhớ cháy nhà đừng tỉnh queo nha. Chứ đừng nói tôi đã lường trước việc này rồi nó đang cháy tự nhiên được, cái đó phải lo mình chạy mình dập lửa, liền chứ.
[43:11]Trong cái việc mà vạch kế hoạch thì có những yếu tố mình tiên liệu được, kiểm soát được, mà có những yếu tố không tiên liệu được, không kiểm soát được. Ví dụ, ví dụ như có một hôm mình tổ chức một cái giới đàn thì mình dự định là mình tổ chức cho khoảng chừng 300 giới tử thọ Sa-di, Thức-xoa, Tỳ-kheo. Trong tầm tay khả năng mình tổ chức được mà mình thường mình nhắm được là mình mời được bao nhiêu giới sư, ở lại được bao nhiêu ngày, mình nuôi ăn được giới tử trong bao nhiêu ngày. Rồi những chi tiết về chính quyền, về nhân sự công quả, rồi cái địa điểm để tập họp, vân vân, thì những cái điều đó là những cái nằm trong tầm tay kiểm soát được.
[43:56]Rồi ví dụ như là mình có hẳn một số tiền, có hẳn một số tiền, mình biết chắc số tiền mình có và số tiền đó tạm đủ để tổ chức giới đàn. Thì như vậy những vấn đề đó mình gọi là những vấn đề trong tiên liệu được, trong tầm tay, trong kiểm soát. Nhưng có những vấn đề không tiên liệu được, nó vẫn bất ngờ nó xảy ra, là mình phải thấy trước, phải đề phòng trước. Không thấy ví dụ như là bất ngờ con số tới có 20 giới tử tới, mà trong đó là 30 giới sư mà có 20 giới tử tới. Hoặc là mình dự trù là 300 giới tử mà tới 1000 giới tử thì chuyện gì sẽ xảy ra, phải không? Rắc ríu hẳn lên liền. Số tiền chi phí là hoàn toàn là lúng túng hết.
[44:38]Mà bắt giới tử đóng tiền coi vậy chứ không có cái tình. Tôi là tôi không bao giờ tôi thích cái chuyện mà Tăng Ni tới thọ giới hay là tới học mà bắt đóng tiền, tôi không ưa thế nào. Là giáo hội nè, quý thầy tôn túc lớn mà phải bảo bọc, nuôi nấng đàn em chứ không có nói chuyện bắt đóng tiền. Phải cho chứ không đóng tiền. Thì đó là những cái mà vấn đề bất ngờ con số người tới tham dự ngoài tầm kiểm soát vậy mình phải vạch bao nhiêu kế hoạch. Rồi có những cái toàn cái điều không tiên liệu được là trong giới sư thì cái người lớn tuổi hay nhỏ tuổi? Toàn là quý vị tôn túc lớn tuổi, mà lớn tuổi tôn túc thì mình không biết là
[45:12]ổng đang có cái tiền sử về cái bệnh bao tử hay là ung thư, tiểu đường. Đang tới giờ mà lên làm lễ cái ổng đường lên cao cái ổng la làng rồi ổng gục đầu tại chỗ đây, bây giờ ai cấp cứu rồi ai thay thế? Đó những vấn đề không tiên liệu được. Mà khi mà vạch kế hoạch ra là mấy cái đó phải thấy á, phải thấy để chuẩn bị trước. Rồi những cái mà không tiên liệu được nữa: Bất ngờ cái giếng của mình mà xài cho cả mấy trăm con người cạn tắt giếng mất tiêu, ngày đó nó buồn nghỉ chơi tắt giếng. Hoặc là điện thì bữa đó là bên nhà đèn họ đình công chuyện gì đó họ không mở đèn, thì cũng lẽ mà gào thét, gào thét trong đêm đen để mà truyền giới thì cũng không được.
[45:49]Cho nên những có nhiều cái vấn đề mà mình phải liệu ngoài cái dự tính của mình. Đó là những cái mà có thể tiên liệu được và những cái không tiên liệu được. Trong khoa học họ gọi... để mà đề phòng mọi chuyện của cái mờ mờ này, đó. Trừ những người có thần thông. Là những vị mà có thần thông á thì cái mình gọi là mờ thì cái mấy ổng thấy rõ trong bàn tay. Thì thôi mấy vị đó thì thôi mình chào thua. Mà riêng mình chưa có thần thông thì mấy cái mờ, mấy cái mình phải nhìn cho ra, phải dự phòng, phải tiên liệu hết để mà vạch kế hoạch. Như tôi nghe chuyện hồi xưa thầy Minh Phát còn sống, thầy Minh Phát Ấn Quang á, thầy cũng làm nhà bếp,
[46:24]lúc còn Sa-di làm nhà bếp, mà ổng ra lệnh là nấu bao nhiêu cơm là khách tới đúng y luôn. Khách tới bất ngờ, ở các miền, các tỉnh người ta tới là đúng y hết. Họ cũng thuật lại là đặc biệt. Thì nghe đồn vậy không biết có thiệt hay không, mà cũng mong là có thiệt như vậy là những điều tốt, điều vui, ừ. Đó là một điều. Còn một điều nữa là trong việc vạch kế hoạch, mình vạch theo hai cái hướng, hai chiều: chiều ngược và chiều xuôi, hoặc là chiều đi tới và chiều đi lui. Thế nào là chiều đi tới, chiều đi lui? Chiều đi lui là thế này: Tức là mình mình vạch cái mục đích mình ra, mình muốn làm cái gì, mình muốn tổ chức cái buổi lễ nó
[47:00]tầm cỡ nào hay là muốn tổ chức lớp học đó bao nhiêu con người? Mình vạch cái mục đích ra trước, cái mình suy ngược dần dần, mình suy lại dần dần về tới cái khả năng của mình, tới khả năng thực tế của mình mình có bao nhiêu, làm được hay không. Còn cái mà suy luận tới á thì bắt đầu từ cái khả năng thực tế của mình mà mình mình đi tới cái mục đích. Như vậy mục đích nó theo cái tầm cỡ mình nó sẽ lớn nhỏ thế nào. Nhưng ví dụ như là mình mở muốn mở một lớp học tình thương ở trong cái làng quê của mình, mình dòm trong xóm trong làng đó mình thấy có khoảng chừng 50 đứa nó không có học, tức là nó biết chữ lõm bõm.
[47:36]Bây giờ cần được nâng cao lên, bởi vì nếu mà có văn hóa con người ta mới mới mới cuộc đời mới đỡ khổ được. Vậy như vậy cái mục đích của mình là tổ chức một lớp học tình thương 50 em trong làng, đó là mục đích. Bắt đầu mình suy luận ngược lại nha. Với 50 em như vậy thì cái phòng phải rộng bao nhiêu, phải không? Và đóng bao nhiêu bàn ghế, ha? Rồi mấy lớp, chia làm mấy lớp, như vậy phải mời mấy thầy, mấy cô? Đó, mình suy luận ngược lại từ từ mà. Rồi xin Phật tử rồi bao nhiêu sách vở, tập, viết, cái nọ cho mấy đứa 50 em này? Đó là mình suy luận ngược lại. Rồi trong cái việc mà làm như vậy tốn kém bao nhiêu tiền,
[48:17]đụng tới thực tế khả năng chùa là là có sẵn bao nhiêu tiền? Đó, mình suy ngược lại rồi lúc đó mình mới đối chiếu với khả năng của mình. Đó là suy luận suy luận từ mục đích ngược về khả năng. Còn suy luận ngược từ à suy luận tới là từ khả năng. Ví dụ trong chùa mình có mấy chục triệu, bây giờ mình coi mấy chục triệu này thì cất được cái nhà cỡ bao nhiêu, đóng được bao nhiêu bàn, mướn được bao nhiêu thầy, và sẽ như vậy mình sẽ xây dựng lớp tình thương được bao nhiêu em, đó như vậy. Nhưng mà thông thường khi vạch kế hoạch, người ta đi cả hai chiều: Đi ngược rồi đi xuôi, đi ngược đi xuôi, cuối cùng tìm ra được một cái giải pháp tối ưu rồi mình cân nhắc lại.
[48:52]Ví dụ như là mình đặt cái mục đích là mở một lớp học tình thương 50 em thì mình suy luận tường ốc cái nọ bao nhiêu bao nhiêu, tính ra chi phí. Mà khi suy luận đụng tới khả năng của mình thực tế trong chùa thì lúc đó trong chùa mình đang mắc nợ 20 triệu, thôi nghỉ. Nghĩa là khả năng không có. Hoặc là nó ví dụ khả năng trong chùa mình có 20 triệu, mình suy luận từ từ tới mục đích thì như vậy mình chỉ tổ chức được 20 em thôi. Mà trong khi mục đích của mình ban đầu là mình muốn được 50 em trong làng trong xóm. Như vậy nó dao động hết bao nhiêu? Khoảng cách nó bao nhiêu? Mất hết 30, ngoài dự định của mình.
[49:28]Nhưng mà để mất 30 để làm theo khả năng thì nó hơi buồn, tại vì cái lòng của mình lúc nào cũng muốn cho nhiều người được... được điều tốt. Thì trong 30 đó mình ráng kéo này lên, thôi giờ mình ráng tổ chức được 35. Không ôm được hết 50 thì phải ôm được 35 em, còn 15 đứa thì thôi nó hơi đỡ đỡ hơn thì thôi cho nó nghỉ bớt cũng được. Mà 35 em này nó tệ quá, chữ chưa biết rành, chưa biết viết, phải ráng cho nó học, nó đỡ cuộc đời của nó. Thì như vậy nó ngoài khả năng của mình, rồi nắm được rồi, mình sau khi tính toán vạch kế hoạch mình nắm được là mình thiếu mất bao nhiêu, chắc chắn bao nhiêu thì bắt đầu mới đi mới đi...
[50:00]đi xin, bắt đầu đi ra ngoài thị xã Long An mình quen đó, mình quen Phật tử mình xin thêm. Thì lúc đó Phật tử nhớ thấy mấy thầy tới thì đóng cửa lại nói đi vắng phải không? Đó là cái mà hai chiều, hai chiều đi tới đi lui trong cái việc mà vạch khả năng, kế hoạch của mình. Mình suy luận dần dần đi. Cái này quý thầy hiểu không? Hiểu phải không? Cái này nó giống như chứng minh toán hình học vậy đó. Ví dụ ông thầy ổng cho ra bài toán, cái ổng bắt là chứng minh là hình này hình bình hành. Thì nhiều khi mình đi ngược, nếu nó là hình bình hành thì mình suy ngược lại từ từ từ từ lại như nó đụng cái dữ kiện, giả thiết ban đầu, hoặc mình đi đi tới,
[50:34]từ giả thiết ban đầu mình suy ngược từ từ từ từ tới đụng hình bình hành, nhưng mà không ai đi một chiều, phải đi hai chiều, vừa suy luận tới, vừa suy luận từ kết quả ngược lại, cuối cùng nó ráp gặp nhau ở giữa là coi như mình chứng minh bài toán. Thấy người đó la làng chứng minh được rồi, là không phải ấy gặp nhau ở đầu ở cuối mà gặp nhau ở giữa. Đó là cách chứng minh toán hình học. Quý thầy đều chứng minh rồi phải không? Hình học là cũng đau khổ hết rồi phải không? Thì nhớ giải toán hình học vậy, và vạch kế hoạch chương trình cũng vậy, là cũng đi theo hai chiều, chiều tới, chiều lui. Khi mà vạch kế hoạch như vậy á thì nhớ là phải
[51:05]hình dung ra được những điều nhỏ nhặt nhất. Nhớ đây là cái bản lĩnh của con người, giỏi hay không là ở chỗ này. Vạch cái kế hoạch mà tổng quát sơ sơ là biết người này cái trí tuệ cạn, còn vạch cái kế hoạch mà mình để ý tới từng chi tiết nhỏ thì cái người có trí tuệ sâu. Ví dụ như là nói trở lại cái vấn đề mà cái buổi lễ, là khi mà vạch cái kế hoạch buổi lễ á, mình vạch đủ hết rồi, là từ cái số người được bao nhiêu, rồi người phục vụ bao nhiêu, cái nhà ăn nấu cho bao nhiêu người, là hành đường, nhà bếp đầy đủ hết, thì cái đó vẫn là chưa tới những chi tiết nho nhỏ. Cái chi tiết nho nhỏ là mình phải ví dụ có những cái là cái
[51:48]thái độ của người trong chùa với khách Phật tử tới, coi chừng nữa, coi chừng có nhiều người mình mời tới công quả là những người đó là người phá chùa nữa, phá buổi lễ. Như là được thầy mời tới cái kênh mặt lên, mặt ta đây là ngon, ta là người của chùa, khách vô tới kênh mặt hỏi: "Đâu tới? Hả? Có việc gì không? Hả? Có gì cứng không?" Rồi coi chừng người ta ôm đồ người ta cuốn gói người ta đi ra ra xe người ta đón xe người ta về. Thành thử nói những cái chi tiết nho nhỏ phải coi chừng mình bất ngờ mình không lường được cái phá hư buổi lễ. Nói: "Thì con thương thầy thiệt nhưng mà con chịu hết nổi cái thằng
[52:19]cha nào đó mà thầy kêu vô mà đứng mà gác cổng, chịu không nổi." Thành thử khi mà vạch hết kế hoạch rồi, để ý tới những chi tiết không lường được, kêu hết Phật tử công quả lại giáo dục. Mà đây là do cái thời gian dài mình giáo hóa trước, phải không? Trước đó mình đã dạy dỗ Phật tử là phải sống biết thương yêu, nhường nhịn, biết tôn trọng nhau, tập nói với nhau những lời nói khả ái. Thì như vậy đụng những chuyện lớn, như vậy mình có nhiều người để dùng, là có nhiều Phật tử đã thuần thành rồi thì những vị đó, mỗi người một cái nụ cười, à một cái ánh mắt thân thiện làm thành công cho buổi lễ, chứ không phải là bao nhiêu gạo,
[52:52]bao nhiêu cơm, bao nhiêu đường, bao nhiêu tiền mà làm buổi lễ thành công đâu, mà chính cái thái độ, từng nụ cười nho nhỏ của con người với nhau mà làm buổi lễ thành công. Mà ở đây khổ lắm, buổi lễ đông người thế nào có chuyện phức tạp xảy ra. Nhưng mà cái người đứng ra dàn xếp á, coi cái mặt họ có nụ cười hay không, để có đạo lực hay không làm buổi lễ vui. Ví dụ như vừa vừa rồi cái buổi lễ Thành đạo trên núi, bữa đó là ai đứng chặn ngoài cửa mà để sắp xếp cho quý Phật tử đi vô dâng hoa dâng hương? Như có Minh Trí phải không? Có ai nữa? Có An Ngôn không? An Ngôn đứng tuốt ở trong hả? Ừ. Thì tôi ngồi tôi dâng hoa, tôi ngồi ở ngay cái bàn
[53:27]Phật nhưng mà tôi để ý cái nét mặt từng người. Ở đây cũng có thầy Thiện Hòa, có quý sư cô hả, có mấy thầy. Tôi nhìn coi tại vì lúc đó quý Phật tử lúc nào cũng ùa muốn chen vô để mà sớm được dâng hoa cúng Phật, cái tâm quý Phật tử rất là thành, nhưng mà nhiệt tình như vậy nó dễ gây rối loạn, và như vậy buộc quý thầy mình phải xếp từng hàng người lên, từng hàng người lên. Có khi phải cản quý Phật tử đừng lên, có khi phải kéo Phật tử lui lại, thì tôi liếc tôi nhìn gương mặt quý thầy lúc đó coi cản người ta có nụ cười không? Hay là mặt hầm hầm? Hầm hầm rồi là coi như buổi lễ bỏ. Coi như quý Phật tử cũng dâng hoa ra về đó nhưng trong lòng đã bất mãn một chút rồi,
[54:02]và cái cảm xúc đối với đạo bị giảm xuống, tâm đạo bị giảm xuống liền, buổi lễ hư. Mà những chi tiết đó nhiều khi mình không lường kịp. Nhưng mà đây cũng có cái may mắn là nhờ quý thầy ở trong buổi lễ toàn là những người đạo cao đức trọng, tôi thấy là kẻ kéo, lôi Phật tử, cản Phật tử, nhưng lúc nào trên môi cũng nở nụ cười, nên làm tôi yên tâm và tôi nghĩ rằng dù quý Phật tử bị cản, ha, được sắp xếp nhưng mà lòng họ vẫn hoan hỷ, nên họ vẫn nuôi dưỡng được cái tâm cung kính để một lát dâng hoa lên Đức Phật, lòng cái cái cung kính nó không bị dao động. Còn lúc đó chỉ có cần có ông thầy trợn mắt lên cái là cái tâm cung
[54:35]kính Phật nó bay đâu mất, chỉ còn lo hậm hực với ông thầy đó: "Ổng kênh tui, ổng ác với tui." Rồi mất buổi lễ, bỏ. Cho nên đó là những cái chi tiết nhỏ nhất á. Nhưng mà thật ra cái chi tiết đó chính tôi tôi cũng không nhìn không nhìn ra. Tại nhiều việc quá, tại vì cả thời gian trước đó tôi mắc học thi đó nên không lo gì được hết, mà cũng may mắn đó là một chi tiết nằm ngoài dự kiến của tôi. Cái trí tuệ tôi không đủ thấy, nhưng may mắn là nhờ quý thầy có đạo lực nên cũng giúp phần cho buổi lễ thành công. Chúng ta nhớ trong cái kế hoạch mình vạch ra đó, những cái chi tiết nhỏ nhỏ thì đừng để bỏ sót, quan trọng lắm.
[55:07]Nhiều khi mênh mông thiên địa mình lo được hết, mà những cái nhỏ nhỏ nó phá tiêu mất buổi lễ không hay. Rồi ví dụ nha, sau khi mà một cái kế hoạch mình đã vạch ra làm việc, làm xong rồi thì phải tổ chức họp để rút kinh nghiệm lại. Phải có ghi biên bản là trong cái buổi lễ á, hoặc là trong cái vấn đề mình tổ chức đi cứu chuyến đi cứu trợ vừa rồi á, à có những cái gì gọi là khuyết điểm, vạch ra, nguyên nhân tại sao, vạch ra, để lần sau thì mình tránh cái khuyết điểm đó. Ví dụ như mình tổ chức đi cứu trợ, rồi tới nơi, tới chừng phát quà á thì cái người giàu, người khá được phát, mà cái người nghèo không được phát.
[55:47]Mình phải đi tìm nguyên nhân liền. Nguyên nhân là sao? Nguyên nhân là bởi vì mình kết hợp, hợp tác với chính quyền không kỹ. Ở bên hiểu chính quyền, những người mà Mặt trận, họ làm công tác Mặt trận thì họ nắm được danh sách người nghèo kỹ lắm, họ biết người nào nghèo, người nào không. Mình hợp tác trước để mà lên danh sách những người được phát, phát phiếu. Còn ở đây mình nghe lời ai xúi xúi xúi rồi không mình làm đại, mình không có hợp tác với chính quyền, tới chừng phát thì toàn phát những người đi xe Dream lại lãnh quà không à, lúc đó nghe, thì nó thất bại, cho nên cái đó phải kinh nghiệm lại.
[56:17]Là muốn đi cứu trợ mình đã liên lạc trước cho người đi tiền trạm, xuống gặp chính quyền mà nói đàng hoàng và lên danh sách, nói là 300 xin cho 300 phần người nghèo, ví dụ vậy. Nhưng mà cái mà người nghèo nhất á thì coi chừng lại là người sung sướng, bởi vì lần nào ta cúng ta tới cứu trợ đó, người ta cũng lựa người nghèo nhất. Thì cái người mà chưa nghèo nhất thì không ai cho hết trơn, mấy người đó mới thật là đau khổ đó. Mấy người đó chết đói luôn, còn mấy người nghèo nhất được người ta cho hoài. Nên có những cái kỳ, trong cuộc đời kỳ lắm. Ví dụ như mình thấy cái người ăn xin, một cái người tay chân còn lành lặn tới xin mình không cho.
[56:53]Cái người cà nhắc cà nhắc, chân còn có một chân rưỡi mình tới mình cho. Mình nghĩ như vậy là công bằng, phải không? "Ngươi lành lặn ngươi phải đi coi, đi làm việc chứ sao đi xin?" Nhưng mà trong cuộc đời nó éo le kỳ lắm, cái ông mà ổng có nửa một chân rưỡi đó là ổng đã đi xin ăn quen nghề này mấy chục năm và ổng cất nhà lầu ở nhà mình không hay. Còn cái ông mà lành lặn á, mới đang thất nghiệp, đi xin việc làm không ra, mặc dù ổng rất có thiện chí đi làm việc. Bây giờ ổng cần xin vài ngàn ổng ăn đỡ gói cơm rồi đi kiếm việc làm tiếp, mà vì mình nghĩ ổng lành lặn không cho, lát ổng chết đói thiệt.
[57:22]Còn cái ông mà một chân rưỡi á, coi chừng ở nhà có nhà lầu ở nhà. Cuộc đời nó có nhiều cái nó kỳ cục lắm. Mấy cái đó là mấy cái ngoài ngoài dự kiến á, nhưng mình phải lường những cái tình huống như vậy trong việc làm. Thì trở lại là vấn đề mà rút kinh nghiệm quan trọng lắm. Tức là khi mình đặt kế hoạch hết rồi, nhưng mà nó cũng không bao giờ nó sát tới thực tế hoàn toàn, tại vì cái kế hoạch là cái nằm trên lý thuyết, khi đi vào thực tế thì nó có sai sót, thì buộc phải ngồi rút kinh nghiệm lại để để mà nối chặt giữa lý thuyết và thực tế lại. Giống như buổi lễ vừa rồi trong chùa mình cũng có một cái thất bại. Thất bại là sao?
[57:59]Là vì á, tôi tôi có cái dị ứng với việc mà tụng kinh bằng micro. Tại vì nghe chỉ nghe được một giọng à, trong khi bao nhiêu giọng của các cồn hòa lên rất là hay thì không nghe được, nên tôi không thích. Thì tôi mới không cho mà tụng kinh bằng micro, chỉ tụng vài chữ đầu để mà dắt thôi, rồi sau đó khi mọi giọng mọi người đã lên đều rồi thì đừng có tụng bằng micro nữa. Nhưng mà tôi lầm. Tôi lầm vì sao? Vì cái chánh điện chỉ chứa được khoảng chừng bảy tám chục quý thầy, quý cô tập trung đó, còn ở ngoài sân 1.000 Phật tử. Cho nên tiếng mõ bên ngoài cũng không nghe, tiếng tụng dẫn đầu lần lần cũng không nghe,
[58:33]cho nên 500 người mà ngồi gần chánh điện thì tụng theo quý thầy, 500 người ngồi phía sau thì họ tụng riết theo ai làm chủ lễ của 500 người sau không biết. Rồi mà một cái thầy đứng cũng không giải quyết được, tới chừng tôi trên cốc đi xuống tôi mới phát hiện ra là một chủ lễ trong chánh điện, còn chủ lễ không biết đâu ngồi dưới này dắt 500 người sau đi mất luôn. Thế là phải xoay xở kịp thời là để một cái mõ vô, để một cái micro vô cái mõ, cho tiếng mõ nó vang ra loa lớn lên mọi người nghe, rồi buộc quý thầy nằm tụng micro phải tụng lớn lên cho mọi người theo. Lúc đó khắc phục sự cố, nhưng mà lúc đó cũng đã tới cuối cuối bài kinh.
[59:05]Mà đó là điều mà chúng trong chùa không không lường được, nên tùy về sau nên sáng sáng mới khắc phục là phải để một cái mõ ngay để cái micro ngay cái mõ liền, cho mọi người cùng nghe. Đó là những chi tiết nho nhỏ đó, mà giữa lý thuyết và thực tế nó không ăn khớp, rồi sau khi mình làm xong rồi mình mới rút kinh nghiệm cho lần sau nó hoàn thiện hơn. Nên cái việc là phải nhớ là khi mà vạch kế hoạch thì mình phải tham khảo với cái biên bản rút kinh nghiệm của những lần trước để cho nó hoàn thiện. Còn bây giờ ví dụ như Tăng Ni sinh chúng ta đang học trong lớp nè, mình phải rèn luyện cái khả năng vạch kế hoạch chương trình bằng cách là gì?
[59:44]Bằng cách là trong chùa mình thì có nhiều việc, nhưng mà ai vạch kế hoạch? Ai? Hả? Thì đó là quý thầy lớn, phải không? Quý thầy lớn đặt kế hoạch. Nhưng bây giờ mình cũng bí mật vạch kế hoạch luôn. Mỗi người mình sắm cuốn sổ. Ví dụ thầy ổng nói là cái chương trình ngày mai là đổ đan, đổ đan cực lắm, thì ổng mới định là ờ người nào làm cái gì người kia làm cái gì cái gì, thì mình ở trong phòng mình cũng mở sổ ra mình ngồi mình ghi luôn, ngày mai người nào làm cái gì, bao nhiêu người đổ đan, ngập đá lấy sao, trộn nước sao, xi măng làm sao, rồi cơm nước ai hầu, rồi ai phụ tiếp lỡ bữa đồ mình cũng ngồi mình vạch hết trơn á.
[1:00:28]Mình bí mật đừng cho ông thầy biết, không thầy ổng tưởng mình tính bồ tính qua mặt lãnh đạo tui hả, thì ổng buồn, cho nên thôi cứ âm thầm làm. Thì sau khi xong việc rồi mình mới đối chiếu, đối chiếu lại cái kế hoạch mình vạch với cái kế hoạch của quý thầy lớn vạch, coi coi coi như mình thua với thầy lớn ở điểm nào, với thầy lớn kinh nghiệm nhiều thì có những điểm nào quý thầy đã đã chi tiết được còn mình vẫn chưa thấy được chi tiết làm rút kinh nghiệm lần sau làm nữa. Rồi ví dụ như là tổ chức một buổi lễ gì của chùa, ví dụ như lễ là sau này mình sẽ có một buổi lễ khánh thành, thì quý thầy cũng họp chúng lại bàn phải không,
[1:00:59]bàn kế hoạch chương trình thì mình nghe quý thầy bàn bàn nhưng mình cũng bí mật vạch cái kế hoạch riêng của mình, là lễ này mình nghĩa là mình mới chú tiểu mình cũng giao nè, giao cho thầy trụ trì làm chủ lễ, giao cho thầy thư ký nè do ổng đứng làm thư nghĩa là phát ngôn viên ví dụ vậy, phải không? Mình bí mật nghen, đừng cho quý thầy biết. Thì quý thầy tưởng mình tính làm lớn rồi nguy hiểm, thôi cứ giấu, nhưng mà phải tập vạch kế hoạch. Nghĩa là cứ âm thầm mình vạch, rồi những chuyện những chi tiết gì đó vạch ra âm thầm hết, rồi mình coi diễn tiến buổi lễ nó xảy ra thì mình thấy mình đã nhìn thấy hết vấn đề
[1:01:31]chưa, có những cái bất ngờ là trong cái cuốn sổ mà chương trình mình mình đã tiên liệu được hay chưa. Nên đó là cái cái khả năng vạch chương trình khi mình còn làm tăng ni sinh, là những công việc không phải do mình vạch kế hoạch nhưng mình thấy quý thầy lớn làm thì mình cũng bí mật âm thầm làm luôn. Nó thành cuốn sổ lâu ngày, dài tháng, nhiều khi đã qua một vài năm, mình đã quen vạch chương trình rất nhiều cái buổi lễ, nhiều cái việc làm, nhiều cái Phật sự. Rồi mình đã đúc kết, đã rút kinh nghiệm, đã chỉnh sửa rất nhiều lần. Rồi sau này khi mà ra trường đi về mình ở nơi chùa phụ với thầy mình hay là thầy mình giao cho việc gì thì ôi vạch kế
[1:02:09]hoạch nhẹ nhàng lắm, là thấy từng chi tiết nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ hình dung ra được, tiên liệu được, đó là cái bản lĩnh của cái cái người tăng ni trong thời đại mới là vậy. Chứ còn không á, quý thầy mình dở, quý thầy mình cứ tùy thuận chúng duyên vô quái ngại, hiểu không? Sống an trú trong hiện tại rồi không biết nữa, nhìn vấn đề không sâu, không có xa. Bây giờ là phải thay đổi lại, tập như vậy. Rồi trong cái việc mà vạch kế hoạch đó, thì để ý nè, có những cái công việc á liên quan đến ít người, nhưng cũng có những Phật sự liên quan đến đông người. Mà hễ nói tới con người thì cái vấn đề đời sống của con
[1:02:45]người phải phải chú trọng, phải lên kế hoạch kỹ nhất. Đời sống của con người gồm những điều gì? Thứ nhất là? Ăn uống. Thứ hai là? Nghỉ ngơi. Thứ ba là? Y tế, sức khỏe, lỡ bệnh tật trúng gió phải có người giải quyết liền. Thứ tư là? Về vệ sinh, rất quan trọng, cực kỳ quan trọng, không được coi thường. Mà chúng ta nên nhớ trong đạo Phật mình cái vệ sinh là là cái rất coi trọng từ thời Đức Phật á. Chúng ta nhớ có lần ngài La-hầu-la không được ngủ chung với các vị Tỳ-kheo đó, là đã đi tìm đến chỗ nào ngủ? Vào trong nhà vệ sinh của Đức Phật mà ngủ ngon lành bởi vì nhà vệ sinh Đức Phật rất sạch. Nguyên nhân đó là bởi vì Đức Phật xuất thân từ cung đình,
[1:03:32]nên cái đó họ quý phái, Đức Phật rất quý phái. Thứ hai nữa là trí tuệ của một bậc đắc đạo không cho phép dơ bẩn. Cho nên từ ngàn xưa vậy đó, ví dụ mình vào cái nhà dân mình thấy cái nhà vệ sinh luộm thuộm bê bối nhưng vào chùa luôn luôn nhà vệ sinh là sạch. Từ thời xưa tới giờ. Nhưng tới bây giờ thì ngược lại, ngược lại nghĩa là vào chùa thì thiết bị vệ sinh đơn sơ, còn vào nhà người thường thì thiết bị vệ sinh bây giờ cao cấp lắm hơn ở bên ngoài. Mà chùa mình không dám trang bị cao cấp vì sợ Phật tử nói là sang, và nhiều khi gắn máy nước nóng thì sợ người ta gỡ, đó đó. Cho nên là cứ giữ cái thiết bị đơn sơ cũ,
[1:04:11]bây giờ chùa thua bên ngoài, chứ ngày xưa là ở bên ngoài là cái thiết bị vệ sinh không bằng chùa, để ý vấn đề vệ sinh kỹ lắm. Nên ở đây là khi mà nói tới con người thì những vấn đề mà ăn uống nè, nghỉ ngơi, y tế rất quan trọng, mà vệ sinh cực kỳ quan trọng. Vì đó là cái văn minh của đạo Phật từ thời xưa tới bây giờ phải được chú trọng, nhớ cái điều đó. Nên quý thầy vạch kế hoạch đã đời quên vấn đề nhà vệ sinh là tiêu. Tiêu bể hết cái kế hoạch luôn. Mà vì sao vậy? Ví dụ như cái nhà vệ sinh của mình mình chỉ đủ sức giải quyết cho 50 người, nhưng mà lần đó là tới 500 người, thì như vậy 450 người họ phải sao?
[1:04:52]Họ phải giải quyết cái gì đó ở không phải trong nhà vệ sinh. Thì chuyện gì sẽ xảy ra? Cho nên đó là cái mình phải phải để ý, phải để ý, vấn đề đó quan trọng lắm. Mà còn thêm cái này nữa, ví dụ như là khi buổi lễ lớn tới, mình cho dựng dựng một loạt các nhà vệ sinh tạm thời, dựng thêm, nghĩa là ngoài những nhà vệ sinh kiên cố dựng thêm nhà vệ sinh tạm thời, thì phải cắt một số người tình nguyện chăm sóc nhà vệ sinh thường xuyên. Cái này đó, cái người mà rửa ráy chăm sóc nhà vệ sinh á, coi như cái tội rửa nhanh lắm, đây là một sự thật. Ví dụ nào giờ mình có làm những cái tội lỗi gì đó, mà tình nguyện đi chăm sóc nhà vệ sinh,
[1:05:34]dọn dẹp nhà vệ sinh, cái tội đó được sám hối rất nhanh. Mà phải người nào họ hiểu điều đó họ mới tình nguyện là luôn luôn đứng trực nhà vệ sinh. Đứng trực nhà vệ sinh không phải là đứng dòm canh người ra vô, ai vô ai ra, đứng ngoài dòm người ta người ta đi vệ sinh không được, không phải. Mà đứng xa xa thôi, nghĩa là mình thấy là bao nhiêu đợt người đi ra vô thì tự động vô mình dọn dẹp tiếp. Người ta đi vào thì người ta cũng đã là đã dội rửa rồi, nhưng mà không bao giờ kỹ hoàn toàn, thì cái người mà họ đứng trực đó họ vào dọn tổng quát lại lần nữa. Cho nên cứ cứ 10 phút, 15 phút hay nửa tiếng là
[1:06:07]cái người trực vệ sinh này vào dọn một lần. Nên là suốt ngày suốt mấy ngày của buổi lễ vậy thì nhà vệ sinh luôn luôn sạch sẽ. Đó là văn minh của đạo Phật, vấn đề đó nó quan trọng lắm. Mình có thể là ăn nghèo đi một chút, uống dở đi một chút, nhưng mà cái nhà vệ sinh phải thật sạch. Đó. Mà Phật tử ở nhà bình thường cũng vậy, hễ là đệ tử của Đức Phật thì nhà vệ sinh phải thiệt sạch, cho cái nhà mình nó thanh tịnh mà thờ Phật, chứ đừng có bừa bãi lôi thôi. Nhưng mà dặn Phật tử thừa rồi, bây giờ thiết bị vệ sinh cao cấp, sang quá đi. Cho nên bây giờ sợ là sợ chùa. Vấn đề y tế cũng rất là quan trọng, vì nhiều khi mình hay coi thường.
[1:06:46]Cái buổi lễ vừa rồi quý thầy nhớ trong chùa mình, cái may mắn là có một đoàn bác sĩ lên á chăm sóc y tế cho cả ngàn người, đó cũng là cái may mắn, mà thông thường chúng ta luôn luôn nhớ cái điều đó. Nên do yếu tố con người thì vấn đề ăn uống, nghỉ ngơi, sức khỏe, y tế, vệ sinh là quan trọng, phải đặt ra cho đầy đủ. Chứ tới chừng đó bao nhiêu chuyện lớn mình quy định, mà tới cái chuyện nhỏ mình không có tổ chức được. Có những cái buổi lễ trên thế giới vậy, có những buổi lễ, lễ hội mà người ta tập trung cả triệu con người, cả mấy chục ngàn con người trong một quảng trường thì người ta vẫn phải đặt cái nhà vệ sinh ra.
[1:07:21]Phải xây một loạt những nhà vệ sinh tạm rất là đông, rất là nhiều. Bởi vì dự một buổi lễ vậy nó không phải hết là 4 - 5 tiếng đồng hồ phải không? Ít nhất 4 - 5 tiếng. Rồi 4 - 5 tiếng đó đâu phải là ai cũng nhịn được, không phải. Như hồi mà tôi nhớ đọc cái tài liệu trên báo mà Tuyên ngôn Độc lập á, ở quảng trường Ba Đình á, nhớ hồi ngày mà năm 1945 á, là cũng tập hợp được mấy cả trăm ngàn con người đến quảng trường Ba Đình để mà Bác Hồ đọc cái Tuyên ngôn Độc lập gì đó. Thì lúc mà đọc cái chi tiết đó thì cũng thấy là những nhà tổ chức họ cũng họ cũng vạch ra cái vấn đề nhà vệ sinh liền. Bởi vì những vấn đề đó rất tế nhị,
[1:07:58]tuy khó nói mà vô cùng quan trọng, chuyện khó nói đó.
[1:08:04]Rồi một vấn đề nữa trong khi vạch kế hoạch để ý, quý thầy để ý là vấn đề an ninh là liên quan tới cái sự an toàn cơ thể của con người nè, là an toàn về tài sản, tiền bạc của con người, phải có cái vấn đề an ninh. Mà như quý thầy thì khỏe, nhưng mà những chùa ni thì lại khó. Chùa ni là phải nhờ những người cư sĩ nam tốt bụng đến phụ giữ gìn cái vấn đề an ninh. Rồi nếu mà trường hợp mình thiếu người, mình phải nhờ chính quyền địa phương tới phụ coi giúp, là nhờ lực lượng dân phòng, lực lượng công an tới để phụ giúp cái vấn đề an ninh cho buổi lễ, vì sợ những phần tử xấu họ trà trộn họ làm chuyện bậy.
[1:08:41]Mình có những người mà lo an ninh họ giải quyết kịp thời. Nhưng mà an ninh là an ninh nổi, còn an ninh chìm nữa. An ninh nổi là những người mà đeo băng đỏ là những người công an họ đi tới đi lui để họ phụ coi chừng phần tử xấu trà trộn. Thì quý thầy cũng phải đặt thêm vài an ninh chìm, tức là kêu vài Phật tử thân tín tới, mới dặn: "À, bây giờ thầy giao cho con phụ trách vấn đề an ninh, nhưng mà thôi con đừng đeo băng đỏ, thì con cứ làm công việc bình thường, nhưng mà mắt để ý giùm, hễ có phần tử nào nghi ngờ báo liền cho thầy để thầy coi kịp thời". Đó là thêm vấn đề an ninh chìm, đó vậy. Vì đó vấn đề an ninh nó khó lắm.
[1:09:18]Nhiều người á lợi dụng buổi lễ lớn là nghĩ là có tài sản, có tiền bạc nhiều á, trà trộn ăn cắp, ăn trộm này nọ. Cho nên những cái nhỏ nhỏ đó mình phải theo dõi. Một điều nữa khi vạch kế hoạch chúng ta để ý thế này, là đừng bày kế hoạch lớn quá ngoài tầm tay rồi trở thành ảo tưởng, tham vọng, phải "liệu cơm gắp mắm" đó là ông bà mình nói, hoặc là đừng có "vung tay quá trán", đó là những câu mà thành ngữ, tục ngữ ông bà mình nói: "Đừng vung tay quá trán, hãy biết liệu cơm gắp mắm". Mình biết sức mình bao nhiêu, mình sẽ làm được cái Phật sự bao nhiêu. Ví dụ như có người đó duyên với chúng sinh mình chưa nhiều
[1:09:54]lắm, mà quyết tâm tổ chức một cái buổi lễ 2000 người, thì sau khi sắm sửa đủ hết thì lên có 200 người. Đó là cái ngoài mình không liệu được cái duyên của mình đối với chúng sinh, phải không? Mình phải đoán được là cái duyên với chúng sinh bao nhiêu để mà làm cho nó vừa tầm, cho thích hợp. Đó, còn nhiều khi mình nói: "Tôi sẽ tổ chức một buổi lễ nổi bật cho mọi người coi cho biết", thì cái đó là tham vọng, ảo tưởng, rơi vào bá đạo liền. Khi mà vạch kế hoạch á thì chúng ta phải nhớ tỉ mỉ tiến dần theo từng thời điểm, từng công việc và từng con người. Đó là nó có ba cái quan điểm để nhìn cái cái cái cái kế hoạch mình vạch ra.
[1:10:35]Thứ nhất là công việc. Thì cái công việc á nó sẽ biến thiên theo vào cái thời gian nào, thời điểm nào thì công việc nào, và lúc đó ai là làm, nhân sự ai sẽ làm công việc này, công việc này làm vào lúc nào và do ai làm. Rồi bao nhiêu công việc cứ vậy cứ thay đổi, đó là một cái quan điểm. Cái quan điểm thứ hai á là thời gian, là lại mình nhìn từ góc độ thời gian là trong thời gian đó, lúc 9:00 sáng của ngày hôm đó thì là bao nhiêu công việc được làm, và những ai làm trong thời gian đó, trong thời điểm đó. Cái cái cái cái nhìn thứ ba là nhân sự. Nhân sự tức là ai đó, tức là cái người đó thì họ sẽ làm những công việc gì vào những lúc nào.
[1:11:20]Tại vì một người không phải làm một việc đâu. Ví dụ buổi sáng họ làm việc này, nhưng mà tới trưa một chút họ làm việc khác, tới chiều một chút họ làm việc khác, qua tối ngày mai họ làm việc khác. Là con người á thì có bao nhiêu công việc người đó phải làm và làm vào những thời điểm nào? Đây là ba cái góc độ mà khi vạch kế hoạch mình để ý. Đúng không? Vạch theo cái góc độ công việc thì à có bao nhiêu công việc phải làm, mỗi công việc làm thời điểm nào và phân công cho ai. Nếu nhìn theo góc độ thời gian, thì theo tiến trình thời gian á thì lúc là tiến trình thời gian này có khi mình vạch ra theo từng tháng nếu
[1:11:51]công việc lớn, có khi mình vạch ra theo từng tuần, có khi vạch ra theo từng ngày. Mà trong buổi lễ thì vạch ra theo từng phút luôn. Từ mấy phút đó thì làm công việc gì, ai làm; rồi năm phút kế theo đó là công việc gì, ai làm; rồi bảy phút nữa công việc gì, ai làm. Đó, mình vạch kế hoạch từng tỉ mỉ như vậy. Còn về góc độ là con người, thì phân công bao nhiêu con người, buộc con người đó bây giờ xin huynh lấy viết huynh liệt kê hết những công việc của huynh trong ba ngày đó giùm tôi, hay là trong một tháng. Ví dụ như cái chương trình này làm tới một tháng, thì trong một tháng này huynh làm bao nhiêu công
[1:12:23]việc và công việc có làm vào lúc nào? Vạch ra kế hoạch. Đó, buộc mỗi người phải tự phân công lấy cho mình, đặt cái kế hoạch, coi nó ăn khớp lại hết với hai cái kế hoạch trên này hay không. Đó là cái cách mà mình kế hoạch. Quý thầy hiểu không nói đây? Ừm, đó. Đó là cái mình làm việc cho nó khoa học chút. Một điều nữa là khi mà làm việc như vậy đó, thì phải chọn cái người người giám sát, tiếng Anh là supervisor,
[1:12:53]là có những người để theo dõi những người thực hiện. Vì sao vậy? Vì cái người mà khi mình chúi vào công việc rồi á, mình không có nhìn được hết toàn bộ công việc, mình không được nhìn hết. Thì có những người mà giám sát, họ theo dõi, đúng là họ không làm, họ chỉ quan sát thôi thì họ mới phát hiện ra những điều sơ suất, họ nhắc lại kịp thời liền. Nên cái người giám sát rất quan trọng. Thì ở chùa đó, ở chùa tôi bởi vì ít người cho nên tôi dặn một điều là các đệ tử thế này: Tôi dặn hễ mà vào buổi lễ mà thầy thấy người nào mà nhúng tay vô rửa chén hay nấu bếp là thầy phạt quỳ nhang liền, không được làm.
[1:13:27]Mà chỉ được quyền đứng giám sát thôi, phải nhờ Phật tử làm. Tức là những công việc đó đó, phân công mình mời Phật tử, ví dụ giúp giùm cô cái này, giúp giùm thầy cái này. Còn quý thầy đứng lui ra để quan sát, vì cái người quan sát rất quan trọng. Cứ chúi đầu vào làm công việc sẽ không nhìn thấy được hết mọi việc đúng sai. Cho nên phải có những người đứng lui ra. Và đó, cho nên đây thì có khi làm mình phải phân công một số người đứng giám sát, chứ còn mà nếu mà làm công việc mà cứ đâm đầu làm hết là thua đó. Tới chừng làm sai không biết gỡ, không gỡ kịp thời. Phải có người giám sát, phải phân công rõ ràng.
[1:13:58]Yếu tố này cũng quan trọng lắm á chứ không phải thường được. Thì công việc mà mình chuẩn bị sớm chừng nào á thì việc nó thực hiện được chu đáo chừng nấy. Nhớ như vậy. Như như một một cái buổi lễ, một cái buổi lễ như buổi lễ hôm trước á là mình đã nhìn trước từ 2 3 tháng. Có khi việc việc định cất một ngôi chùa là mình đã chuẩn bị trước năm năm. Mà mình chuẩn bị sớm chừng nào thì công việc nó chu đáo, tới đó mình không bị lúng túng. Còn người mà sống hời hợt, đụng chuyện mới bắt đầu xoay xở thì người này cạn cợt và thế nào cũng sơ suất. Cho nên trong cuộc sống phải có trí tuệ là luôn luôn nhìn trước công việc.
[1:14:34]Mà không phải là mơ tưởng tương lai một cách đầy cảm tính, mà ở đây là nhìn vào tương lai với con mắt trí tuệ, biết việc gì cần phải làm và đã âm thầm chuẩn bị dần dần, dần dần, lên kế hoạch từ từ, từ từ. Đó là chúng ta phải có kế hoạch sớm so với cái thời gian để cho công việc nó xảy ra, để thực hiện, là phải sớm trước khi thực hiện. Một điều nữa là khi vạch kế hoạch mình nên tham khảo kinh nghiệm của người khác. Ví dụ như mình muốn vạch kế hoạch buổi lễ thì mình phải đến dự buổi lễ người của nơi nào trước, hoặc là mình muốn đi cứu trợ thì mình phải tham gia đoàn cứu trợ nào đó trước. Hoặc mình muốn vạch kế hoạch về tổ chức một cái giới đàn,
[1:15:12]một cái lớp học tình thương thì mình phải đến mình tham gia với ban tổ chức liền. Mình tham dự lăn lóc phục vụ phụ với họ để học cái kinh nghiệm đó. Rồi sau này khi mình vạch cái kế hoạch cho chùa mình tự thực hiện thì mình đã có được một số kinh nghiệm của người khác. Chứ còn ngồi tự mình làm nhiều khi nó không có chuẩn lắm, đó là khá như vậy. Ngay cả cái thế này là ngay khi trong cái sáng tác, biên soạn, giảng dạy mình cũng phải có kế hoạch giai đoạn. Tôi ví dụ như cái môn Quan Điểm Phật Sự này, Quan Điểm Phật Sự này là là tôi đã hình dung nó 2 năm trước đây. Chứ không phải bây giờ mới tới chừng giảng mới bắt đầu
[1:15:47]soạn bài, không có, 2 năm trước đã chuẩn bị rồi. Ngay cả như lâu lâu tôi hay soạn bài nhạc cũng vậy, là tôi đã nuôi dưỡng ý tưởng nó cũng cả mấy tháng á. Lúc nào rảnh là bắt đầu mới mới bắt đầu viết, viết nốt, viết lời này kia nọ. Là mình hình dung, hoặc là có những cái đề tài, những cuốn sách trong đầu tôi vậy. Thì tôi định khoảng là 2 3 năm nữa thì tôi nghỉ giảng thì tôi sẽ viết những cuốn nào. Trong đầu đã bây giờ đã chuẩn bị về ý tưởng của nó rồi, lần lần, lần lần. Đều như vậy. Cho nên ngay cả những việc đó giảng dạy, biên soạn, sáng tác là cũng phải có cái thời gian chuẩn bị, chứ không phải là đụng đâu làm đó.
[1:16:21]Nó khác với nhà thơ. Nhà thơ đụng đâu hứng cái bắt đầu ngồi viết tuôn tràn ra, tôi tôi chịu thua mấy vụ đó à. Tôi không có đủ mà thiên tài để mà đụng đâu cái là làm làm đó. Mà luôn luôn phải chuẩn bị trước. Ngay cả một bài thơ tôi muốn làm cũng vậy, đều có nuôi dưỡng ý tưởng, không có làm liền. Ừm. Rồi một điều nữa là khi vạch kế hoạch như vậy là nhớ là chúng ta đừng có cứng ngắc, mà phải đặt 2 3 phương án để khi đụng chuyện mình có thể xoay xở được. Giống như báo công an á, khi mà các anh trinh sát mà đi bắt cướp vậy, họ vạch 3 4 phương án. Hễ mà đụng chuyện đó đổi qua phương án 1, đụng chuyện đó biến thành phương án 3,
[1:16:57]đụng chuyện đó biến thành phương án 2 để xoay xở kịp thời mà chuẩn bị trước. Thì khi chúng ta lên kế hoạch hành động cũng vậy, thực hiện cũng vậy, mình cũng phải là liệu trước 2 3 hướng. Những mà khi mà tình huống ngoài dự liệu mình mình phải biết mà xoay xở. Ví dụ như có những cái yếu tố ngoài dự tính, như mình tính là ngày rằm mình tổ chức buổi lễ. Nhưng mà khi mình tính thì tới ngày rằm nó còn tháng nữa. Mà một tháng thì cái đài khí tượng họ không có tiên đoán được, họ chỉ tiên đoán được trước khoảng 2 ngày, 5 ngày. Mà tới ngày đó mưa ngập tràn hết thì mình thua. Nhưng mình phải bất ngờ phải liệu trước,
[1:17:32]nếu trường hợp mưa xuống thì phải làm cái gì, vân vân. Đó là những trường hợp như vậy, 2 3 kế hoạch, 2 3 phương án để mà linh động liền, không có cứng ngắc. Giờ chúng ta nói tới lại cái tùy duyên trong đạo Phật. Hồi sáng tôi có hỏi quý cô câu này. Tôi nói: "Bây giờ, ví dụ như chúng ta muốn cho Phật tử đến chùa mình cho đông, thì mình làm cái gì gọi là đế đạo, làm cái gì gọi là vương đạo, làm cái nào gọi là bá đạo?" Tôi hỏi. Đây quý thầy biết không? Ví dụ muốn Phật tử đến cho đông thì mình làm cái gì là đế đạo? Hử? Thuyết pháp, rồi. Làm cái gì là vương đạo? Sắp xếp tổ chức, rồi. Làm cái gì là bá đạo?
[1:18:17]Là lừa gạt một chuyện gì đó. Mà bá đạo thì nhanh lắm, kết quả nó lẹ lắm. Ví dụ như mình nói là theo đế đạo, mình muốn giàu á phải làm sao? Phải làm phước. Làm phước tức là mệt xỉu, phải không? Phải đi đắp đường, phải bố thí rồi thì sau này quả báo tới mình mới giàu, đó là đế đạo. Còn vương đạo làm sao? Thì phải đi làm, phải buôn thúng bán bưng, phải đi làm ăn thì mình mới có tiền mà sống, đó là vương đạo. Còn bá đạo làm sao? Thì tốn chừng 2 3 tiếng đồng hồ dụ người ta, nói ngon nói ngọt rồi móc người ta hai ba cây rồi trốn đi mất, đó. Nên bá đạo kết quả nó lẹ, nhưng mà nó tội lỗi và làm sao? Và hậu quả không lường được.
[1:18:51]Đó, thì bây giờ cái câu nói là bây giờ mình muốn cho Phật tử tới chùa đông thì làm thế nào là đế đạo, thế nào vương đạo, thế nào là bá đạo, thật ra câu hỏi đó câu hỏi lừa. Quý thầy trả lời là quý thầy bị gạt liền. Vì sao cái sai nó nằm ở đâu? Ngay cái mà muốn Phật tử tới chùa đông, nó đã hàm chứa một cái gì? Tham vọng, sai lầm. Cho nên mình không có ham Phật tử tới chùa đông. Mình chỉ cái điều mình ham là ham cái gì? Ham cho mọi Phật tử hiểu được đạo để sống tốt đẹp thôi, chứ mình không ham gì cho mình hết. Họ tới chùa nào cũng được hết, miễn người Phật tử đó tốt, không cần Phật tử tới chùa mình.
[1:19:27]Phật tử đi chùa nào cũng được nhưng mà mong mọi người đều tốt đẹp. Và một vị thầy chân chính, đúng con đường đế đạo mà giáo hóa đó là muốn Phật tử quên mình đi để thương yêu những người chung quanh của họ. Đó là đúng. Phải trong tâm phải như vậy. Nhanh tôi hay nói, tôi khuyên hoài để tôi tại tôi cũng muốn được đế đạo. Tôi khuyên Phật tử phải coi thầy như củ khoai mà phải thương yêu những người xung quanh mình. Nhưng mà hình như chưa được điều đó, nên tôi cũng còn dở. Tôi chưa có hoàn hảo là vậy. Trong cái việc giáo hóa, người Phật tử vẫn chưa quên tôi, vẫn chưa coi tôi như củ khoai mà vẫn còn nhớ.
[1:20:00]Ví dụ vừa rồi họ còn nhớ ngày sinh của mình thì chứng tỏ là việc giáo hóa của mình chưa có hoàn hảo. Đó là một cái cái dở. Còn này đúng như quý thầy nói đúng á, cái vương đạo là là mình sắp xếp tổ chức để quý Phật tử tới chùa tham dự những việc từ thiện, tham dự thuyết pháp này nọ, đó là vương đạo, cũng là lôi cuốn được Phật tử. Còn bá đạo làm sao? Bá đạo là ban đêm mình thắp cái bóng đèn ở dưới mông mình á, mình ngồi thiền mình bấm nó lên, rồi xong mình cho hai ba người đứng ngoài này đồn ông thầy đó ổng đắc đạo rồi, ổng có thần thông rồi, ổng thành Phật rồi để dụ người ta tới chùa cho đông, thì cái đó bá đạo.
[1:20:36]Thì cái bá đạo đó nó không bền. Nó có thể là lôi kéo người ta tới chùa được nửa năm, mà tới tháng thứ bảy thì công an tới hốt. Không có không có ổn. Bây giờ chúng ta nói về cái tùy duyên trong đạo Phật. Trong đạo Phật, các thiền sư hay nói nhiều đến ý nghĩa "tùy duyên tự tại". Như chúng ta nhớ cái câu kệ của Tú tài Cương Khiết là: "Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại, Niết bàn sinh tử đẳng không hoa", phải không? Là thuận theo cái cái duyên, khi nó thăng trầm, khi nó biến động, tâm mình bất động, không có cảm thấy chướng ngại trong lòng. Đó là cái lối sống của đạo Phật. Thì chúng ta coi chừng, cái câu đó đó đừng có nghĩa là mình sống một cách
[1:21:15]cạn cợt, buông tuồng, không có trách nhiệm, sống an nhàn, thờ ơ. Mình hiểu câu đó không khéo trở thành con người sống vô trách nhiệm đối với Phật pháp và đối với chúng sinh. Và rất nhiều người đã bị lầm câu này. Nghe câu đó xong rồi, thế là "Diệt trừ vọng tưởng trùng tăng bệnh, Xu hướng chân như tổng thị tà", vân vân, có những câu vậy, rồi thôi mình sống một cách an nhàn, sống một cách vô trách nhiệm. Ở đây chúng ta phải nhớ cái gọi là tùy duyên á, là cái là chúng ta bình thản trước những thăng trầm biến động của cuộc đời, lòng không động. Nhưng mà luôn luôn phải sống đầy trách nhiệm với Phật pháp, với chúng sinh, không được hưởng nhàn.
[1:21:53]Hiểu câu đó lầm mình hưởng nhàn liền. Nói ví dụ như khi mình nghèo thì mình ăn mặc đơn giản lại, cái khẩu phần ăn mình giảm bớt một chút, mặc dù mình biết rằng ăn hơi ngon một chút thì nó khỏe để có thể làm việc, nhưng bây giờ hoàn cảnh nghèo, thôi chấp nhận kém sức khỏe một chút, ăn bớt lại một chút, tiêu dùng hà tiện lại một chút vì lúc đó mình đang nghèo. Rồi đến khi lúc mình giàu thì mình ăn uống đỡ hơn một chút, rồi làm việc phước nhiều hơn một chút, tức là theo cái duyên của cuộc đời khi thăng khi trầm mình thuận theo đó mình sống và lòng không có động, không buồn, không tiếc, không ham, đó là tùy thuận chúng duyên.
[1:22:31]Và thậm chí ngày nào đó có người họ tố mình mới giết người, công an lại bắt mà đưa ra đủ chứng cớ mình cãi không được, họ nhốt vô tù, thì dĩ nhiên bổn phận mình mình cũng nói là mình vô tội, mình không biết. Người ta không tin kệ người ta. Người ta bắt vô tù thì thôi cứ phải vô chứ đâu có ra được, thì ở trong đó cứ an nhiên trong đó mà tu, thì đó là tùy thuận chúng duyên. Ở được vài năm người ta phát hiện ra mình bị oan, người ta đem thả thì cũng cám ơn đi về không giận hờn ai hết, mà có khi được người ta đền cho mấy chục triệu trong mấy năm á, về làm vốn lại, sống lại cũng được, không sao hết.
[1:23:04]Đó là cái gọi là tùy thuận chúng duyên, là trong lòng không động dù cái hoàn cảnh bên ngoài khi thuận khi nghịch. Đó là thái độ, chứ không phải là cái câu nói tùy thuận chúng duyên đó để làm cho mình sống một đời sống vô trách nhiệm, chúng ta nhớ điều đó thật kỹ. Tức là sống phải thực tế, làm việc phải có kế hoạch, có chương trình, nhưng mà không phải luôn luôn công việc nào cũng thành công. Tức là có những công việc chúng ta đặt kế hoạch kỹ lưỡng rồi thất bại. Và khi vạch kế hoạch thất bại mình buồn không? Buồn không? Không được buồn, mà cũng không cần phải không được, nó sẽ không bao giờ buồn.
[1:23:40]Vì sao vậy? Bởi vì cái động cơ mà chúng ta vạch kế hoạch hồi nãy đó, động cơ là gì? Vị tha. Chúng ta nhớ nỗi đau khổ chỉ là hậu quả của tâm vị kỷ. Khi tâm mình mà thật sự vị tha thì không bao giờ có đau khổ, dù có thất bại. Nhớ điều đó. Nên đó là cái thước đo đó, cái thước đo là lòng mình còn vị kỷ hay vị tha. Ví dụ mình vạch kế hoạch làm chuyện lớn nhưng rồi nó không thành công mà mình thấy mình có đau khổ thì mình biết rằng trong cái công việc này mình có lẫn cái tham vọng của cá nhân rồi, phải sám hối. Còn nếu khi kế hoạch thất bại mà lòng mình thản nhiên thôi mai mốt có duyên khác làm nữa, thì biết là thực sự trong kế hoạch đó mình không có ích kỷ.
[1:24:22]Đây là cây thước đo nha, quý thầy nhớ điều đó. Rồi một điều nữa là như nãy chúng ta nói đó, Tăng Ni ngày nay phải có trách nhiệm đối với Phật pháp rất lớn, không được sống nhàn nhàn như ngày xưa nữa, phải nỗ lực rất nhiều để phát huy Phật pháp, để đem Phật pháp đến với mọi người. Vì vậy Tăng Ni thời nay phải có bản lĩnh, là phải vừa có cái sống tự tại, an trú trong hiện tại, mà vừa có cái nhìn toàn diện, phong phú trên nhiều lĩnh vực, nghĩa là vừa biết tùy duyên, sống tùy duyên, mà vừa biết làm việc có kế hoạch. Đó là bản lĩnh của Tăng Ni thời nay, chúng ta phải giỏi trên nhiều phương diện. Bởi vì ra với Phật tử gặp mình kêu bằng thầy,
[1:25:01]kêu bằng thầy xưng con, thì mình phải hơn họ hẳn về cái tâm hồn và khả năng, chứ không được chỉ biết tụng vài bài kinh, cạo cái tóc, rồi buộc người ta phải tôn kính mình như thầy nó vô lý. Cái thời đại mới này là người cái sự tôn kính của người khác đối với mình nó phải có cái giá trị thực là ở trên cái đạo đức và trên tài năng của mình, cho nên Tăng Ni thời nay phải giỏi chứ không được coi thường. Rồi một điều cuối cùng chúng ta dặn nhau nữa là mình vạch kế hoạch tối đa, chi tiết, kỹ lưỡng, nhưng có những cái chi tiết mờ mình không đoán được thì mình cố gắng dự phòng chứ không được đi coi bói, nhớ như vậy.
[1:25:44]Tại vì việc đi coi bói là rơi vào mê tín và mình làm cho mình không có bản lĩnh. Hãy tự tin. Có những yếu tố mờ mình không tiên liệu được thì cầu Phật gia hộ, vì vì việc làm mình vị tha, mình không có vị kỷ, nên không được đi coi bói. Ví dụ như bây giờ mình tổ chức một cái việc từ thiện mà thiếu tiền, mà mình đề phòng là chỗ đó sẽ thiếu khoảng bao nhiêu đó, thì chỗ này đừng đi coi bói, "Ông coi giùm coi tôi nhắm tôi có đủ 10 triệu để đắp vô chỗ đó hay không?" Không có. Xong thầy bói nói, "Ờ tới tháng đó thầy sẽ có cái món hoạnh tài lớn do cái người ở rất xa đem về." Mình nghe khoái tưởng chắc Việt kiều,
[1:26:18]rồi, "Thôi thầy cho tôi 500.000đ cái quẻ này vì nó hên quá." Tới tháng đó không thấy ai đưa đồng nào hết, mất 500.000đ. Nên ở đây ví dụ như có những yếu tố mờ mình không tiên liệu được thì mình chỉ chân thành cầu Phật gia hộ thôi. Vậy thôi, mình là đệ tử Phật thì nhờ Phật, không tin thầy bói. Thì đó là hôm nay chúng ta nói với nhau về cái kế hoạch chương trình là một cái bản lĩnh của người tu thời nay khi chúng ta làm Phật sự. Mình phải nhìn trước nhìn sau mọi điều rất là thực tế, kỹ lưỡng, mà song song với cái đó là chúng ta làm mọi việc trên tinh thần đế đạo, vương đạo, là hợp với đạo lý, tổ chức, và không có làm gì cho mình cả.
[1:26:57]Mình sống rất là tùy duyên, sống rất là tự tại, bản thân mình không hề mơ ước, mong muốn điều gì, mà nếu có lắng tâm mà làm, khởi sự làm chỉ toàn vì Phật pháp, vì chúng sinh mà thôi. Nhớ như vậy. Và quan trọng, cái nền tảng của mọi Phật sự là việc thuyết pháp độ sinh, đó là nền tảng, chứ không có phải là cái tài năng, cái giỏi giắn đâu, mà là cái thuyết pháp. Có ai hỏi gì không? Lâu quá không có kiểm tra thiền, bị mắc xây chùa, lúc nào đó êm êm rồi phải kiểm tra lại.
[1:27:34]Thôi nghỉ ha. Nguyện đem công
[1:27:44]đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
[1:28:22]Yêu mấy sao cho vừa, yêu những cánh đồng xanh,
[1:28:32]và yêu con đò ấy dọc ngang xuôi dòng sông đưa đón bao người mong.
[1:28:42]Yêu mãi nơi quê nhà,
[1:28:47]yêu lũy tre làng ta,
[1:28:53]và yêu con diều nhỏ nhẹ bay trên trời cao, tuổi thơ vui xiết bao.
[1:29:03]Yêu mãi ngôi chùa xưa, làn khói hương trầm đưa, bao ơn từ chan chứa.
[1:29:13]Yêu tiếng chuông nhẹ ngân khuya vắng hay ban mai mang lời Phật cho ai.
[1:29:23]Chiều về bao êm ái, nghe tiếng kinh thâm trầm, ngọt ngào ơn Tam Bảo vang mãi đến nơi xa, luôn nhắc ta đạo hạnh chan hòa, lòng từ bi thiết tha.
[1:29:43]Yêu mấy sao cho vừa,
[1:29:48]yêu tiếng chuông thuyền mơ,
[1:29:53]nụ hoa yêu đã nở đời vui hơn lời thơ,
[1:30:05]hồn rộn muôn tiếng tơ.
[1:30:24]Yêu mấy sao cho vừa,
[1:30:29]yêu những cánh đồng xanh, và yêu con đò ấy dọc ngang xuôi dòng sông đưa đón bao người mong. Yêu mãi nơi quê nhà,
[1:30:49]yêu lũy tre làng ta,
[1:30:54]và yêu con diều nhỏ nhẹ bay trên trời cao, tuổi thơ vui xiết bao.
[1:31:04]Yêu mãi ngôi chùa xưa, làn khói hương trầm đưa, bao ơn từ chan chứa.
[1:31:14]Yêu tiếng chuông nhẹ ngân khuya vắng hay ban mai mang lời Phật cho ai.
[1:31:24]Chiều về bao êm ái, nghe tiếng kinh thâm trầm, ngọt ngào ơn Tam Bảo vang mãi đến nơi xa, luôn nhắc ta đạo hạnh chan hòa, lòng từ bi thiết tha. Hòa, lòng từ bi hiền hòa.
[1:41:58]Nam
[1:46:27]Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mời quý thầy, quý Phật tử ngồi xuống.
[1:46:40]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta học bài Quan điểm Phật sự 3, đề tài là: Tăng đoàn, Giáo hội.
[1:46:53]Cái đề đề tài này thì lớn mênh mông, tuy nhiên thì chúng ta chỉ nêu ra một vài cái quan điểm căn bản để chúng ta có khái niệm, cũng giống như là chúng ta có thái độ đối với giáo hội, cũng giống như là sau này ví dụ như quý thầy có duyên làm việc với giáo hội thì mình cũng có một số quan điểm để làm việc cho đúng. Bài này có thể là không phải là bài duy nhất để nói về Tăng đoàn, Giáo hội. Có thể lần khác chúng ta trở lại, mà tuy nhiên chúng ta giới thiệu trước một chút. Thì chữ Tăng đoàn á, thoát thai từ cái chữ
[1:47:31]Sangha ha, chúng ta biết rồi. Mình hay đọc thành chữ gì? Tăng-già, đúng rồi. Tăng-già nghĩa là một đoàn thể của những người xuất gia, đại khái vậy. Có đôi khi người ta phân biệt là dành cho Tỳ-kheo, nhưng mà thôi, mình nói chung hết Tăng Ni luôn. Là người xuất gia đều ở trong cái Tăng đoàn thế này hay là một cái Tăng-già thế này hoặc Sangha thế này. Chỉ có cái theo thời gian, cái từ dùng nó khác đi, qua bên Trung Hoa á, một thời gian sau cái người ta dùng cái chữ Tăng để là ám chỉ cho cho một người thôi, một vị một vị xuất gia nam. Nên là cái ý nghĩa lúc đó là nó dùng với ý nghĩa là số ít, trong khi cái chữ Sangha là thuở ban đầu nó là là số nhiều.
[1:48:19]Thì ở đây, nói chung là môi trường tu nào mà nhất là trong đạo Phật, thì cái tinh thần Sangha, cái ý nghĩa Tăng đoàn đều rất là thiêng liêng, quan trọng. Nhưng mà biến đổi qua nhiều thời đại thì cái tính chất, cái tổ chức, cái hình thức nó dần dần có cái sự cải cách thêm, càng lúc nó càng chặt chẽ hơn. Chớ thuở ban đầu thì Đức Phật với chư Tăng Tỳ-kheo có một cái Tăng đoàn rất là đơn sơ, hồn nhiên, không có cái luật lệ ràng buộc nhiều, vì lúc đó ai cũng có cái tính tự giác rất là cao. Người ta tự biết việc nào đúng việc nào sai để cư xử với nhau, không có gì là phải thành ra cái xung đột đấu tranh hay phải nói nặng nói nhẹ.
[1:49:08]Ví dụ như Đức Phật, Ngài là vị vô thượng, nghĩa là một vị vô thượng Thánh rồi. Rồi các vị Tỳ-kheo thuở ban đầu cũng là những vị Thánh rất là thánh thiện, cho nên các Ngài tự biết đúng biết sai, sống với nhau rất là thanh tịnh, hòa hợp. Một người nói, bao nhiêu người đồng ý, hoặc là tâm người này là tâm người kia đã bắt được, nên đời sống lúc đó đẹp, không cần phải tạo cái gì ràng buộc, mà cái môi trường Tăng-già lúc đó nó thiêng liêng và đẹp lắm. Người ta sống với nhau rất thân ái, rất thấm thía, rất thanh tịnh, phải nói là Tăng-già thuở ban đầu rất đẹp. Thì chúng ta cũng nghe kể lại trong lịch sử của Luật là mãi đến 13 năm
[1:49:48]sau khi thành lập Tăng đoàn Đức Phật mới bắt đầu chế giới luật. Nên giới luật xuất hiện rất là muộn màng, chứ thuở ban đầu không có. Vì sao vậy? Vì không ai phạm giới cả. Nên lúc đó vào tu với Đức Phật, Ngài chỉ kêu là: "Thiện lai Tỳ-kheo" vào cái là cho vào là cạo tóc, đắp y rồi đi xin ăn rồi học Pháp rồi tu tập, rồi đắc quả từ từ. Lúc đó đơn giản, không có gì ràng buộc và cứ Ngài cứ thấy Đức Phật sống làm sao, cứ bắt chước như vậy thôi, cũng không thắc mắc, không thành cái điều luật. Tổ chức thời đó đơn sơ như vậy. Nhưng qua 13 năm thì bắt đầu rắc rối. Rồi chúng ta nghe kể là bắt đầu từ cái giới gọi là giới dâm. Chuyện như thế này:
[1:50:30]Có một vị Tỳ-kheo thì ngài xuất gia cũng được mấy năm, không biết hôm đi về gặp gia đình thì bà vợ bà mới than khóc, bà nói: "Anh đi mà không để lại đứa con nào, nghĩa là mất giống". Bà nói làm sao, lý luận làm sao ổng xiêu lòng ổng ở lại một vài năm để để lại đứa con rồi ổng trở lại ổng đi tu bình thường, như không có chuyện gì xảy ra. Rồi sau này cái mấy người cư sĩ họ mới phát hiện: "Ủa, ổng đi xuất gia sao bây giờ bà ở nhà lại có có con, đẻ ra giống y chang ổng hết trơn, trời ơi!" Cái cái chuyện mới tới tai Đức Phật, cái ngài nói: "Ủa, đi tu gì kỳ vậy?" Thì lúc đó nghĩa là chúng ta thấy á vấn
[1:51:07]đề đó cái giới dâm á là mặc dầu là Phật chưa chế giới, nhưng trong thâm tâm ai cũng biết là đi tu không có được như vậy. Nhưng mà không có nói thành giới, như là cái tự biết thôi. Mặc nhiên mặc nhiên công nhận giới luật, nhưng mà vì mặc nhiên rồi người ta không thèm giữ, buộc bây giờ tới lúc phải minh nhiên là phải nói thành lời, thành quy định. Thì sau khi có sự phản ứng như vậy Đức Phật mới bắt đầu chế giới, là từ đây người tỳ kheo không được nghĩa là phạm giới dâm dục nữa, đó từ đó bắt đầu có giới. Thì có một số vị tỳ kheo cũng ngoan, nghe lời Phật, Phật đã cấm rồi là không phạm. Nhưng mà hễ thấy nữ cư sĩ tới Tinh Xá là nắm tay nắm chân nựng nịu.
[1:51:48]Về cái cái người ta phản đối lên Phật: "Trời ơi, ông tu sao còn..." Về cái Đức Phật mới nói, Phật mới nghĩa là người xuất gia rồi không được đụng tới thân người nữ. Rồi mấy thầy cũng ngoan từ đó thôi không dám đụng thân người nữ nữa, nhưng mà rủ phụ nữ lại ngồi sau bóng lùm mà nói chuyện tâm sự. Thì có người nói: "Ủa, sao trong cái lùm đó có ông thầy với cái cô đó ngồi nói chuyện gì trỏng á?" Đức Phật nói: "Từ đây người xuất gia không được ngồi nói chuyện với người phụ nữ ở chỗ khuất không ai thấy nữa." Là cứ như vậy mà chế giới từ từ, từ từ. Cái nguyên nhân mà thành lập giới nó rất là vô tư như vậy, phải nói vô tư, hồn nhiên. Mình cũng không hiểu sao nữa.
[1:52:23]Nghĩa là đáng lẽ có người mới hỏi Đức Phật là tại sao ngài lập Tăng đoàn ngài không chế ngay giới luật từ đầu, ngài đoán trước những điều người ta sẽ phạm? Thì Đức Phật cũng có một cái lối biện luận, nghe thì cũng có lý nhưng mà mình cứ nghĩ cũng hơi kỳ kỳ. Là giống như cái áo vậy, ngài nói rách rồi mới vá, chưa rách vá cái gì? Nghĩa là chưa phạm lấy gì chế giới, thì mình cũng không biết sao. Chứ còn bình thường thì chúng ta nghĩ là mình phải liệu trước, nhưng mà thôi, thời đó đơn sơ như vậy là cứ đơn sơ như vậy. Cho nên cái Tăng đoàn thời xưa là cái môi trường đẹp, đẹp lắm bởi vì ai cũng tốt sẵn.
[1:53:01]Chỉ có sau này bắt đầu nhận đông người quá thì phức tạp lên trở lại. Có những người tâm ý họ chưa thuần, rồi vào trong đạo cũng gây ra nhiều chuyện phiền phức nên buộc phải có những cái giới luật. Mà nổi bật nhất là ngài Ưu-bà-li. Ngài không biết cái hạnh nguyện gì đời trước á, ổng tối ngày ổng cứ hỏi Phật ba cái chuyện giới luật không, làm mấy người khác phát mệt á. Ngồi cái nói: "Bạch Đức Thế Tôn, ví dụ, bạch Đức Thế Tôn khi một vị tỳ kheo đi vào làng khất thực, ví như người ta mời ăn thì mình phải ăn như thế nào cho đúng pháp?" Cái Đức Phật nói: "À, nếu người ta mời thì phải ăn vậy, ăn vậy." Mấy tỳ kheo nghe phát mệt.
[1:53:37]Mấy ổng hỏi riết cái là tùm lum chuyện. Rồi nói: "Bạch Thế Tôn, ví dụ như khi mình nhè vào nhà một người mà trong đó không có người nam thì mình có được vào hay không?" Đức Phật nói: "Thôi, không có người nam thôi đừng có vào." Cái ổng nói: "Dạ." Nghe vậy là thành cái luật. Mấy thầy kia: "Trời ơi, cứ vậy thì ông cứ làm khổ tui. Đang vô thoải mái, nghe ổng hỏi cái hết thôi không vô được nữa." Mà ngài Ưu-bà-li tối ngày ngài cứ tủng mủng tảng mảng ngài đi hỏi mấy chuyện đó riết. Mà không biết cái hạnh nguyện gì từ đời xưa làm sao á. Nghĩa là thầy cứ, ngài cứ hỏi ba cái chuyện giới luật nó từng chút, từng chút, từng chút cái thành ra nguyên
[1:54:09]một Luật Tạng tinh vi từng chút, từng chút. Ngoài cái 250 giới tỳ kheo mà những cái luật nhỏ nhỏ nhỏ ngài Ưu-bà-li ngài hỏi ra còn rắc rối lắm. Nên sau này người ta cũng không đào sâu nữa, thôi miễn là giữ tâm thanh tịnh, giữ được đạo đức tác phong nào đó vậy là tương đối ổn. Chứ mà nếu như ngài Ưu-bà-li thì thôi mình không nhúc nhích nữa, ngồi đâu ngồi chết trân à, nhúc nhích qua là coi chừng bị. Không biết sao cái hạnh của ngài như vậy. Tuy nhiên, cái đời sống Tăng đoàn nhờ giới luật như vậy nên hòa hợp và đẹp. Rồi chỉ có cái chuyện xảy ra lớn lao, lớn lao đó là hiện tượng của Đề-bà-đạt-đa. Là Đề-bà-đạt-đa thấy cái vinh quang của một Đức Phật
[1:54:49]mà lãnh đạo cả cái Tăng đoàn mà được từ vua quan cho đến Bà-la-môn, cư sĩ gì cũng quý kính hết, nên ông âm thầm có cái tham vọng muốn lãnh đạo Tăng đoàn. Mà đây chúng ta thấy cái tham vọng lãnh đạo này là tham vọng nó tiềm ẩn trong con người dữ dội lắm. Bình thường, rất là nguy hiểm. Cũng chính vì cái tham vọng lãnh đạo này mà trong lịch sử của nhân loại không biết bao nhiêu là máu đổ đầu rơi. Vì vậy, với cái gương của ngài Đề-bà-đạt-đa đi trước á chúng ta nhớ là mình tránh. Tận trong thâm tâm mình chỉ xin làm một người phụ giúp cho quý thầy khác làm. Mình gạn hết trong tâm mình ra cái ước mơ mà làm lãnh tụ, lãnh đạo gì hết.
[1:55:32]Chỉ mong làm chúng để phụ giúp thầy khác. Thì được như vậy mình dễ tu mà mình không mất đạo đức. Còn ngày nào mà mình nghĩ mình giỏi, mình có thể lãnh đạo được, bắt đầu đạo đức đổ vỡ. Cái người tài ít á thì ham cái chức chỉ huy nhỏ nhỏ, mà người thấy mình có tài hơi giỏi giỏi á thì mơ ước tới cái chức chỉ huy cao. Thì cái mơ ước đó là một cái bệnh hoạn mà nó đổ vỡ đạo đức, rất là đáng sợ. Thì trường hợp ngài Đề-bà-đạt-đa vậy, khi mà cái tham vọng lên quá rồi, ông mới tìm cách nghĩa là lãnh đạo Tăng đoàn. Thì ông có đề nghị mấy điều, trong đó ông yêu cầu là Đức Phật quy định chư Tăng phải sống một đời sống khổ hạnh hơn nữa.
[1:56:16]Và ông nói Đức Phật là: "Thôi Thế Tôn đã già rồi, Thế Tôn nên giao quyền lãnh đạo Tăng đoàn lại cho con." Thì dĩ nhiên Đức Phật từ chối cả hai điều yêu cầu của ông. Điều yêu cầu thứ nhất á thì Đức Phật nói là ngài không có ép chư Tăng khổ hạnh vì khổ hạnh không phải là con đường giải thoát. Nhưng mà vào cái thời đó cho đến thời bây giờ, người ta vẫn quan niệm rằng người nào sống khổ hạnh được thì đó là người người thánh thiện. Ví dụ như là nhìn vào một loạt quý thầy như vậy á, ai cũng mặc đồ đẹp, có ông thầy ổng mặc áo rách, vá vai hai ba chỗ, người ta nói: "Ông thầy này sống đời sống sao?" Đơn giản, khổ hạnh, đẹp.
[1:56:58]Mà đâu biết ổng thèm gần chết không có mấy cái áo mới. Nhưng mà cái tâm lý con người. Rồi ví dụ như người ăn ba bữa, nhìn vô thấy một người ăn một bữa một buổi trưa thôi, người ta nể: "Người này tu hành chân chính, không tham ăn." Nên muôn đời từ trước tới bây giờ người ta vẫn quan niệm như vậy. Thấy ai cũng mang hai đôi dép hết, có ông mang có một chiếc à, nói: "Ông này hay, khổ hạnh, đơn giản, đỡ tốn một chiếc."
[1:57:26]Mà từ xưa tới giờ vậy, cho nên ngài Đề-bà-đạt-đa đánh vào cái tâm lý đó mới nói rằng phải thành lập một Tăng đoàn khổ hạnh hơn nữa: ăn chay, không được ăn mặn. Vì lúc đó Đức Phật cho chư Tăng là đi khất thực là ai cho gì ăn nấy, nên lúc đó ăn mặn luôn. Rồi ông Đề-bà-đạt-đa ông mới nói không được, phải cho ăn chay. Mặc áo thì không được nguyên cái tấm vải lành người ta cúng mà mặc, phải đi ra ngoài nghĩa địa lấy vải gì người ta đã bỏ lấy giặt, giũ lại rồi vá, nối lại mà mặc đỡ chứ không được mặc cái vải nguyên. Thì những cái khổ hạnh như vậy làm nhiều người thích. Lúc đó ông kích động được 500 tỳ kheo bỏ chúng đi theo ông.
[1:58:05]Sau khi Đức Phật nghĩa là từ chối cái lời yêu cầu của ông. Cái điều thứ hai mà xin lãnh đạo Tăng đoàn thì Đức Phật cũng từ chối, Đức Phật nói: "Ta có những hàng đại đệ tử rất xuất sắc, ví dụ như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên. Nếu phải nhường quyền lãnh đạo Tăng đoàn thì ta giao cho hai người đó." Cho nên sau khi bị từ chối như vậy thì ông mới kích động, ông nói rỉ tai người này, lý luận người kia mà cũng thành phong trào mạnh, ổng cũng lôi được 500 người. Thì chúng ta thấy con số 500 mà theo lịch sử ghi lại thì không phải nhỏ, thì chứng tỏ rằng cái cuộc vận động gây rối của ông cũng lớn lao lắm. Mà Đức Phật từ bi ngài không có bỏ.
[1:58:42]Cho đến khi mà thấy được ngài sai Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên tới nơi thuyết phục, lý luận, chứng minh, kéo chư Tăng đó trở về với Tăng đoàn trở lại. Còn Đề-bà-đạt-đa thì âm mưu hại Phật riết á cho đến ngày ông chết thì kinh ghi lại rằng tới ngày, giây phút mà ông chết bị đất cuốn xuống đó thì ông mới hối hận. Thì chuyện sử ghi thì mình không biết như thế nào, không biết ông có hối hận hay không, nhưng mà trong thực tế từ xưa đến nay trong sử chúng ta thấy có những người ác họ ác cho tới ngày họ chết, cái ác tâm họ không bao giờ bỏ. Cho nên không biết Đề-bà-đạt-đa là trong trường hợp nào. Thì sau cái lần mà Đề-bà-đạt-đa phá Tăng đoàn như vậy,
[1:59:23]xé Tăng chúng ra, Đức Phật có nói là trong cuộc sống này có năm cái điều ngũ nghịch đại tội cực trọng là: giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm thân Phật chảy máu và phá hòa hợp Tăng, nghĩa là xé Tăng đoàn ra làm hai ba mảnh. Thì cái tội đó Đức Phật nói rằng là đọa địa ngục vô gián. Thì Đức Phật cảnh cáo như vậy, nhưng mà trong suốt mấy ngàn năm lịch sử trôi qua chúng ta thấy rằng cái việc mà có một số vị xé Tăng đoàn ra làm nhiều mảnh vẫn tiếp tục xảy ra đều đều. Cho tới ngày hôm nay vẫn tiếp tục đang còn. Nghĩa là tinh thần hòa hợp rất là ít. Mình ít hòa hợp rồi nhưng mình còn kích động để xé cái Tăng đoàn ra thêm nữa.
[2:00:12]Không có thích hòa hợp, không thích gắn lại. Vì nhiều khi ví dụ như ở trong một cái Tăng đoàn đang có vậy mình không thể nào làm người lãnh đạo được. Còn nếu mình xé ra một Tăng đoàn, xé ra thành một hệ phái mình sẽ trở thành người lãnh đạo được. Vì cái tâm lý á như vậy mà làm thương tổn đến toàn bộ cái Tăng đoàn, cái Giáo hội của đạo Phật và Phật cảnh cáo là cái tội rất là nặng, nặng, rất là nặng. Ở đây chúng ta nói cái chữ Tăng đoàn và Giáo hội, nếu trên cái ngữ nghĩa bình thường thì chữ Tăng đoàn và chữ Giáo hội thì đồng nghĩa, không có gì phải thắc mắc. Tuy nhiên bằng cái trực cảm chúng ta nhìn vào
[2:00:53]từng từ thì chúng ta thấy nó vẫn khác nhau. Tăng đoàn và Giáo hội đều là tập hợp của những người xuất gia theo đạo Phật. Chung là như vậy. Tuy nhiên, mình nhìn vào chữ Tăng đoàn thì mình thấy đó là một cái tổ chức, một tập hợp nó nặng về tự giác, nhẹ về tổ chức, nhẹ về kỷ luật. Còn chữ Giáo hội thì có vẻ quy mô hơn, kỹ lưỡng hơn, có tổ chức chặt chẽ hơn, mới hơn. Quý thầy đồng ý không? Đồng ý không? Đó như vậy, cho nên hai chữ trên ngữ nghĩa đó, ngôn ngữ thì giống nhau, nhưng mà trong bản chất chúng ta vẫn cảm nhận cái ý nghĩa nó hơi khác một chút, hai như vậy. Ở đây Đức Phật rất coi trọng Tăng đoàn.
[2:01:41]Ngài ca ngợi Tăng đoàn lắm, nghĩa là cứ bốn người thì được gọi là một một Tăng. Bốn người được gọi là một Tăng và bốn người có quyền quyết định những vấn đề quan trọng liên quan trong cái tập thể đó. Cứ bốn người sống với nhau là thành một Tăng, một Tăng chúng, một Tăng chúng chính thức, có thể làm phép Yết-ma. Yết-ma là gì?
[2:02:07]Trong Đạo Phật có cái phép gọi là phép Yết-ma. Mình hay gọi là tác pháp Yết-ma. Tác pháp tức là thực hành cái phép Yết-ma, cử cái phép Yết-ma. Có nghĩa là làm một cái nghi thức để biểu quyết lấy ý kiến chung trong những vấn đề quan trọng của đại chúng, của tinh xá, của chùa. Cái chữ Yết-ma chữ Ấn Độ có nghĩa là lấy ý kiến chung. Ví dụ như khi mà nhận một người xuất gia hay cho người thọ giới hay cắt cử một người để làm một việc Phật sự gì đó thì đều phải tác pháp Yết-ma, nghĩa là họp đại chúng Tăng lại, lấy ý kiến biểu quyết hết. Ở đây thì hồi thời Đức Phật á là cái ý kiến mà được lấy là phải thống nhất hoàn toàn, phải đa số tuyệt đối thì cái điều đó mới được
[2:02:58]thành, thế còn có một người không đồng ý là không được. Hồi đó như vậy, không biết làm sao, chứ không giống như bây giờ là lấy theo đa số. Ví dụ như đưa ra biểu quyết thì có một số người đồng ý, số người không đồng ý, bên nào nhiều thì theo ý kiến bên đó, là thiểu số đành phải phục tùng đa số, dù có khi thiểu số đó hợp lý. Chúng ta nhớ nha, chưa chắc đa số là hợp lý, đừng tin đa số là hợp lý. Vì sao vậy? Vì cái điều đúng, cái chân lý nó thường khó thấy, mà cái khó thấy vài người thấy được à. Có khi đa số là hợp lý nhưng có khi thiểu số là hợp lý, cái này mai mốt chúng ta sẽ nói lại. Thì ở đây, khi mà biểu quyết như vậy hồi thời Đức Phật á,
[2:03:44]mấy trăm năm sau Đức Phật cũng còn giữ cái phép Yết-ma kiểu này. Khi hỏi lên là: "Chư Tăng đã họp lại chưa, có hòa hợp không?" "Dạ hòa hợp, đã hòa hợp." "Người chưa thọ đại giới đã ra khỏi chưa?" Nói: "Đã ra khỏi." Nói: "Tăng hôm nay họp lại để làm việc gì?" Nói: "Dạ, Tăng hôm nay họp lại để hỏi ý kiến xem có chấp nhận cho cư sĩ đó vào được làm người xuất gia hay không?" Thì sau khi nói tuyên bố rồi, nói: "Bây giờ phép Yết-ma như vậy, ý kiến như vậy, tác bạch có thành không?" Các vị khác: "Dạ thành." Có vị nói: "Dạ chưa, không thành, tôi không đồng ý." Thế là phải hỏi. Hỏi vị đó: "Vì sao không đồng ý?" Thì phải tranh luận nhau cho ra,
[2:04:20]cho ra cho tới cái lúc nào có khi ý kiến vị đó nó chính xác nó lật ngược lại hết ý kiến của những người kia hết là toàn bộ thống nhất là không cho xuất gia. Hoặc là có khi tranh luận lát cái vị mà không đồng ý cuối cùng đồng ý luôn, nghĩa là phải thống nhất hoàn toàn thì phép Yết-ma này mới thành, tức là mới lấy biểu quyết được. Thời xưa là như vậy, thời xưa là như vậy. Thì sau này chúng ta lúc nào đó khi mà trở lại những vấn đề của chùa, của trụ trì chúng ta sẽ trở lại những vấn đề này kỹ hơn. Hôm rồi chúng ta học bài Chùa chứ sự thật chưa có kỹ, chỉ là quan điểm căn bản. Hôm nay chúng ta học bài Giáo hội cũng là căn
[2:04:56]bản, mai mốt mấy vấn đề này mình trở lại. Thì hồi xưa là như vậy, còn bây giờ thì sao? Bây giờ thì cái phép Yết-ma đó làm có vẻ chỉ có hình thức thôi. Là khi mà chuẩn bị cho người xuất gia thì Tăng chúng cũng cũng họp lại, cũng hỏi phải không? Nhưng mà có ai không đồng ý không? Không, bởi vì sao? Bị hỏi nhỏ nói nhỏ ở dưới hết trơn rồi. Ở dưới thầy nói: "Thầy cho nó xuất gia được không?" Thì thầy chịu thôi chứ gì, rồi cứ rù rì rồi với nhau chịu không chịu cũng đành chịu, rồi rước thầy lên là cho. Tới chừng nêu ra hỏi: "Thành không?" À thì ai cũng thành hết thôi chứ cũng không cự nự gì. Cho nên bây giờ thì cũng làm phép Yết-ma nhưng có vẻ hình
[2:05:33]thức, còn cái việc thỏa thuận nó đã ngầm sẵn ở đâu dưới. Ví dụ mình không ưa nói: "Chú cư sĩ còn hách, còn chảnh thấy mồ, cho xuất gia gì." Còn nhưng mà ông thầy thì ổng thương, ổng thấy: "Này ngó bộ được, thôi cho xuất gia đi con." Thì mình đâu dám cãi. Tới chừng lên tác bạch có thành không? Dạ cũng thành tuốt luốt hết. Nhưng mà chúng ta phải hiểu rằng là Đức Phật chuộng tinh thần dân chủ, tinh thần dân chủ trong Đạo Phật rất là cao, cho nên biểu quyết nhiều vấn đề quan trọng là phải lấy ý kiến của tập thể chư Tăng mà phải ý kiến là phải đa số tuyệt đối luôn, không một người nào phản đối mới được, mới thành.
[2:06:09]Vấn đề là như vậy. Giờ chúng ta nói về những yếu tố cần thiết của một tập thể có tổ chức. Tập thể mà có tổ chức cần hai điều: một á là hệ thống lãnh đạo, cơ cấu lãnh đạo; hai là điều luật hay kỷ luật. Chúng ta nhớ hai điều. Hệ thống lãnh đạo á thì hoặc là người đó là tự làm lãnh đạo do một cái gì đó họ tự làm, hoặc là do người dưới bầu. Còn cái kỷ luật á là do mình tự nguyện chấp nhận, còn mình không có chấp nhận nữa thì mình bỏ đoàn thể để mình ra đi, như vậy. Tuy nhiên nó có hai loại đoàn thể, có hai loại đoàn thể. Có cái đoàn thể đó là mình muốn vào thì mình sẽ vào tự do và khi nào mình không thích là một thành viên trong đoàn thể
[2:07:03]đó nữa, mình tự động bỏ ra, mình xin bỏ ra, nó là tự giác. Có đoàn thể đó mình không có tự giác, mình bị bắt buộc phải nằm ở trong đó, không có cách nào đi ra khỏi được. Ai biết đoàn thể nào? Đoàn thể nào mà khủng khiếp vậy? Hử? Hả? Lớn lên. Hả? Đừng nói đạo Thiên Chúa mất lòng người ta.
[2:07:36]Là quốc gia. Quốc gia là một đoàn thể có hệ thống lãnh đạo và có pháp luật phải không? Và khi mình đã lỡ đầu thai vào cái nước này, tự nhiên mình thành thành viên của quốc gia này, thành công dân quốc gia này và mình không được quyền ra khỏi. Không được quyền, vì nó bắt buộc, quốc gia nào cũng vậy. Bây giờ mình muốn bỏ quốc gia này mình chạy qua quốc gia khác thì mình thành kẻ gì? Nghĩa là kẻ vượt biên trái phép, rồi vào nước kia là mình trở thành kẻ nhập cư trái phép. Thì lúc đó là họ lượm mình được. Thì nếu mà họ mình năn nỉ ỉ ôi mà nếu họ cho mình nghĩa là định cư đó thì mình cũng phải thành công dân nước đó rồi mình phải chịu luật pháp của
[2:08:17]nước đó trở lại, nên mình trở thành thành viên không đi ra khỏi. Còn nếu mà họ không cho mình định cư thì họ đem mình họ giao nộp trở lại cho nhà nước mình thì mình trở thành một kẻ phạm tội và bị bắt ở tù. Cho nên chúng ta mở mắt chào đời là chúng ta trở thành thành viên của một quốc gia, phải chịu cái pháp luật của quốc gia đó không có chối cãi được. Còn có một số những tổ chức khác thì mình tự do vào, tự do ra. Ví dụ, thì vào một cái hội thanh niên hay một cái hội đoàn nghiên cứu cây kiểng hay hội của người già hết răng, ví dụ vậy, thì mình tự do vào, không thích nữa: "Nay tôi có răng rồi, tôi gắn răng rồi tôi đi ra,
[2:08:54]không gia nhập cái hội." Hoặc là một cái hội người đàn ông nể vợ thì lúc đó là mình vô đó than, nghĩa là ngồi mà buồn quá ngồi nói chuyện với nhau cho đỡ buồn, nhưng mà lúc nào đó cảm thấy hết sợ vợ rồi: "Thôi tôi đi ra, không vô nữa." Thì có những cái hội đoàn mình tự do vào, tự do ra. Nhưng mà có loại hội đoàn là bắt buộc phải nằm trong đó. Đạo Phật mình cũng là cũng là một cái cái đoàn thể mà mình tự do vào, tự do ra. Nhưng mà tuy nhiên nó có khổ một cái, khổ một cái là Đạo Phật mình đi vào đi ra nó nó xây xát, nó sứt mẻ nhiều quá. Nghĩa là mình đang có tóc đẹp trai đi vô một cái là không còn miếng
[2:09:31]tóc, đồ nghĩa là y phục phải thay đổi hết trơn, phải thề rồi cái đầu phải ba chấm rồi bị đốt ba chấm đồ nghe nó te tua hết rồi. Mà bây giờ có lúc nào muốn đi ra nữa cái nó cũng tổn thương, nó sứt mẻ đủ thứ hết, cũng khó chịu. Cho nên cũng tự do vào tự do ra chứ không ai bắt buộc, nhưng mình lỡ vào rồi nó kẹt, không ra được. Thôi ráng tu, dù có gì cũng ráng tu, đó. Thành thử phải ráng, quý thầy lỡ tu rồi ráng tu chứ Đạo Phật mà một đoàn thể nhưng mà mình vô ra kỳ lắm. Thôi ráng tu ha, đừng nghỉ. Ở trên cuộc đời này có hai chỗ, hai chỗ là mình không có chịu đoàn thể nào cả, không nằm trong đoàn thể nào hết.
[2:10:09]Một á là mình vào rừng hoang, một hoang đảo giống như Robinson vậy, không một bóng người thì lúc đó có thể tạm thời mình không có một đoàn thể nào hết, cho tới cái ngày một quốc gia nào đó tới chiếm cái đảo đó rồi mình trở thành cái người cũng nằm trong một cái pháp luật của họ, đó là một, tạm thời. Cái thứ hai là ở đâu? Ở đâu? Còn một chỗ không có đoàn thể nữa là ở đâu? Ở đâu? Hồi sáng quý cô trả lời được đó. Hả? Không, nghĩa địa dưới đó vẫn có quy luật của âm phủ. Lên cõi trời vẫn có quy luật cõi trời. Nghĩa là chư thiên tử rất tự do tự tại nhưng vẫn có quy luật của cõi trời, vì cõi trời nào cũng có một vị vua cai quản hết.
[2:10:58]Ở đâu? Niết Bàn. Hồi sáng mới có cô trả lời được. Nên như vậy là chúng ta thấy đó, nghĩa là có hai loại đoàn thể. Và trong đoàn thể thì có hai tính chất, đoàn thể nào cũng vậy. Thì bây giờ những đoàn thể khác thì chúng ta không nói, chúng ta trở lại cái đoàn thể tăng đoàn. Và đoàn thể tăng đoàn cũng phải có cái hệ thống lãnh đạo và và kỷ luật. Khi mà chúng ta đi vào trong tăng đoàn, vào trong giáo hội thì chúng ta tự nguyện chấp nhận cái kỷ luật của tăng đoàn, của giáo hội. Mà kỷ luật đó thì thứ nhất là điều gì? Là hệ thống giới luật của cá nhân tu sĩ, tức là giới tỳ, giới Tỳ-kheo. Cái thứ hai nữa là thêm một số quy định,
[2:11:44]hiến chương của giáo hội mà chúng ta phải phải tuân thủ, là như vậy. Tuy nhiên, đạo Phật là đạo từ bi nên cái hình thức kỷ luật không có rõ ràng, không có mạnh. Ở đạo Phật á, giáo hội đạo Phật, tăng đoàn đạo Phật thì chỉ đòi hỏi sự tự giác cao độ thôi. Chứ còn nếu mình không tự giác thì không có biện pháp chế tài. Đây là cái yếu của đạo Phật, rất yếu. Bên các đạo khác họ nhìn vào đạo Phật mình họ cười, tại họ thấy mình lỏng lẻo không có gì. Nên bây giờ mình đã lỡ mình là một người tu sĩ của Phật giáo rồi thì mình chỉ còn có một cách làm đẹp đạo Phật là mình phải có tinh thần tự giác cao thôi. Chứ còn cái sự bắt buộc của giáo hội đối với mình rất là ít.
[2:12:30]Mà giáo hội cũng không có làm mạnh được, là vì sao vậy? Là vì ví dụ bây giờ có cái ông tăng đó ổng quậy, ổng bê bối, rồi giáo hội tẫn xuất ra, không cho nằm trong giáo hội nữa. Không cho nằm trong giáo hội nữa ổng đi đâu? Đi đâu? Ổng cũng không thèm đi đâu, ổng cứ ở đó, ổng cứ cạo đầu mặc áo và vẫn tiếp tục quậy. Không ai làm gì ổng được. Giáo hội không có trách nhiệm thôi, nhưng bản thân ổng cứ tiếp tục quậy, vẫn sống bê bối. Hỏi công an, công an nói ổng có vi phạm luật pháp quốc gia đâu, nói ổng nhậu, ổng nhậu chớ ổng có giết người, ăn trộm cắp của ai đâu. Nói ổng quan hệ bất chính, thì hai người yêu nhau luật pháp đâu có cấm.
[2:13:09]Đó cũng huề. Thấy giáo hội cấm, giáo hội cấm thì các anh đuổi ra khỏi giáo hội thì thôi. Nghĩa là cái cách nói trớt lơt, loát không ai có trách nhiệm hết, thì người ta vẫn mang hình thức tu sĩ người ta quậy bình thường. Cho nên giáo hội Phật giáo rất là yếu điểm này. Lát nữa chúng ta trở lại cái luật tôn giáo một chút xíu. Thế nên cái việc mà ví dụ như quý thầy thường là quý thầy lớn là chỉ có nhắc nhở thôi, khuyên răn, chứ không có làm mạnh được. Thí làm mạnh cảnh cáo gì đó, giận rồi tẫn xuất thì ổng quậy luôn, rồi càng nguy hiểm. Cho nên để xuất hiện những cái lớp tăng sĩ tự do ngoài giáo hội thì rất là nguy hiểm.
[2:13:50]Cho nên lúc nào cũng phải giữ chư tăng ở trong giáo hội để quản lý mà chỉ khuyên lơn thôi. Nghĩa là cái người tu mà không tự giác rồi giáo hội không có biện pháp. Đó là cái yếu của đạo Phật. Mà tại sao yếu? Chúng ta nói qua cái khác là do hệ thống lãnh đạo đó, do cái cách để tạo thành. Thì hệ thống lãnh đạo của một đoàn thể nào cũng vậy, mà nhất là trong đạo Phật, thì đòi hỏi là người đó phải có tài có đức rất là lớn thì chư tăng ni tự nương theo đó mà tu hành tốt. Đó là điều đương nhiên, chứ còn người lãnh đạo trong đạo Phật cũng không có cái quyền lực gì nhiều nữa. Thí ví dụ bây giờ mình nói vị đó Pháp chủ
[2:14:28]hay vị đó làm chưởng ban, nghĩa là Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Hoằng pháp nằm vời vợi trên cao vậy chớ mà cũng không có quyền hành gì rõ ràng đối với người dưới, không có quyền. Chỉ là biểu tượng thôi. Nên những cái chức vụ trong đạo Phật cũng chỉ là biểu tượng, không có mạnh. Đó là tại sao đạo Phật yếu. Mà nếu may mắn là những vị lãnh đạo đó mà tài đức á, thì tăng ni nhìn vào đó họ bắt chước rồi họ tu hành tốt. Còn nếu những người lãnh đạo mà họ không tốt á, thì tăng ni họ sẽ hư từ từ. Có những địa phương như vậy á, có những địa phương mà người lãnh đạo không tốt á, thì nguyên cái vùng đó tăng ni hư hết trơn từ từ từ hết trơn.
[2:15:06]Tại nói cái ông đó ổng không có tốt gì mà ổng cũng lên tới chức đó thì tôi cũng không cần phải tốt nữa. Có như vậy. Còn ở cái vùng nào mà người lãnh đạo tốt thì tăng ni đều tốt một chút. Nên đây là là hên xui thôi, mình không biết như thế nào. Nhưng mà để có cái hệ thống lãnh đạo á thì cũng cũng hai, ba cách. Đó là cách thế này: hoặc á, ví dụ như là ở trên Trung ương đi, còn xuống đây là dưới tỉnh, dưới huyện. Thì ở tỉnh hoặc á là do Trung ương chỉ định xuống là cái Ban Trị sự tỉnh là sẽ là những vị nào, những vị nào. Có khi tại tỉnh đó, hoặc có khi đưa từ tỉnh khác tới, ví dụ vậy. Hoặc có khi là do ở dưới bầu lên.
[2:15:48]Thì không những trong đạo Phật mà chính quyền ngoài thế gian cũng phải như vậy, là trên tỉnh hoặc là do Trung ương chỉ đạo xuống hoặc là do ở dưới bầu lên. Thì mỗi cái đều có cái hay và cái dở của nó. Đến ngày hôm nay vẫn không giải quyết được hết, không bao giờ có hay hoàn toàn. Nếu mà chính quyền tỉnh hay là Ban Trị sự tỉnh mà do Giáo hội Trung ương chỉ định á thì cái giáo hội rất mạnh. Bởi vì nếu Giáo hội Trung ương chỉ định được thì Giáo hội Trung ương cách chức được, nên tỉnh phải nghe lời Trung ương, phải không? Nếu mà không nghe lời theo Trung ương thì Trung ương cách chức. Cho nên cái hệ thống giáo hội như vậy rất mạnh.
[2:16:23]Rồi tỉnh, nghĩa là chỉ định cái người dưới huyện thì nó chặt chẽ dữ lắm. Giáo hội như vậy rất là mạnh. Nhưng mà người ta sợ giáo hội mạnh như vậy nó độc tài không có dân chủ. Vì vậy người ta chủ trương là cứ bầu, hễ huyện thì tập trung tăng ni huyện lại bầu Ban Đại diện huyện, hễ tỉnh thì tập trung tăng ni tỉnh lại bầu Ban Trị sự tỉnh, như vậy có vẻ dân chủ. Nhưng mà dân chủ sao, Trung ương sao? Yếu. Tiếng nói Trung ương không ai cần nghe, không ai thèm nghe. Muốn làm gì làm, tỉnh muốn làm gì làm, huyện muốn làm gì làm. Trên nói dưới không nghe, là vì do tự bầu. Đó là cái dở của hệ thống mà bầu một cách dân chủ.
[2:17:04]Nước nào cũng bị. Mấy cái nước bên Mỹ, bên Pháp, bên Tây gì cũng bị hết trơn á. Việt Nam mình cũng bị, Việt Nam mình cũng bị nha. Nghĩa là nhiều khi chứ có những cái điều luật của Trung ương đưa xuống cấp tỉnh không chấp hành, tỉnh đưa xuống cấp huyện không chấp hành. Có một thời gian như vậy, rồi sau này hơi củng cố lại một chút, nhưng mà đã có hiện tượng này. Bởi vì ở đâu cấp nào bầu cấp đó cho có vẻ dân chủ, nhưng mà dân chủ rồi thì hệ thống Trung ương xuống sẽ rất là yếu. Thì giáo hội mình cũng bị như vậy. Nên ở đây, bây giờ chúng ta cũng không biết là đi con đường nào tốt, nên mình nêu ra thôi, mình nêu ra rồi mình đành
[2:17:41]dòm nó thôi chứ mình không có biết làm cái gì. Vì đây nó giống như một sự may mắn. Nếu may mắn mà ông tỉnh này đó, hoặc là người bầu lên là ổng tốt, hoặc là Trung ương chỉ định trước xuống mà người tốt á thì tăng ni cả tỉnh nó nhờ, sẽ từ từ tiến lên. Còn nếu mà dân, nghĩa là tăng ni bầu lên ông xấu, có bầu lên xấu không? Có như thường đấy nha, nhiều người bầu vẫn lọt nhằm người xấu. Hoặc là Trung ương chỉ định xuống người xấu, thì coi như hư hết, tan nát hết phía dưới luôn. Nên ở đây cái việc mà được cái người lãnh đạo tốt nó giống như là cái gì may mắn, chứ mình cũng không biết làm sao. Rồi nó có trường hợp là do chính quyền có ý kiến
[2:18:17]góp ý, hay là chỉ định luôn cái người lãnh đạo luôn nữa. À trường hợp này cũng rất là lạ mà từ xưa cũng có, tới nay cũng có nữa, nhưng thời gian sau này thì ít hơn. Chớ hồi thời xưa đó thì nhà nước, vua quan á có khi chỉ định luôn cái chức lãnh đạo chư tăng luôn. Vì thời đó phong kiến, vua làm chủ hết đất nước. Có khi vua chỉ định cái chức Tăng cang, tức là giờ mình kêu là Pháp chủ hay Tăng thống á, là vua chỉ định luôn, không có ai dám cự nự, ho he gì hết. Nghĩa là ông vua ổng kính trọng vị nào, ổng thấy vị này là đạo đức lớn, ổng mời vào cung hoặc làm quốc sư hoặc chỉ định làm Tăng cang quản lý hết
[2:18:56]toàn bộ danh sách của tăng ni trong nước hết. Người tu tu sắp sắp đặt, là vua chỉ định luôn. Bây giờ thì hết vụ đó, giờ giống như nhà nước không xen vô lắm, nhưng mà đôi khi nhà nước cũng có ý kiến. Ví dụ như khi giáo hội cũng muốn bầu vị nào thì nhà nước cũng Ban Tôn giáo cũng vào có ý kiến nên chọn vị này vị kia sẽ ổn định hơn không, thì cũng có. Còn hồi xưa chỉ định luôn á, chỉ định thẳng luôn. Như chúng ta cái câu chuyện Bình Thị Giả là biết á. Chuyện Bình Thị Giả như tôi kể rồi phải không? Phải không? Đúng rồi. Chuyện Bình Thị Giả là lúc mà Bình Thị Giả, nghĩa là đào cái nhục thân của ngài Minh An lên,
[2:19:32]thấy còn nguyên, ổng đốt đốt không cháy. Nghĩa là cái thần thông của ngài dễ sợ vậy, chôn 10 năm rồi mà nhục thân còn nguyên, mặt mày đỏ au, râu tóc vẫn ra, đốt không cháy, 10 năm rồi. Cái ngài mới cầm cây búa, ông Bình Thị Giả ổng chẻ nát ra, rồi chế thêm dầu ăn vô đốt cháy luôn. Rồi trong chúng bất mãn, mới báo lên quan. Ông quan ổng dẫn quân lại chùa, ổng lột y tại chỗ, ổng đuổi ra khỏi chùa, không cho tu nữa. Tức là ngày xưa ông quan có quyền đối với chùa như vậy. Cái thời đó. Thì ổng trốn đi rồi ổng đổi tên là Hoàng Tú Tài, đến đâu ổng không được ai dùng, rồi đến ngã ba đường rồi bị cọp ăn chết luôn.
[2:20:11]Cái chuyện Bình Thị Giả, chút xíu thì chúng ta cũng hiểu là lúc đó là ở mấy ông quan có quyền lớn đối với những cái hoạt động của chùa dữ lắm, với cái giáo hội dữ lắm, chứ không phải không. Bây giờ chúng ta nói về cái mối quan hệ giữa Giáo hội với chính quyền chút. Vào thời Đức Phật thì giữa Tăng đoàn và chính quyền thì có cái thường là có cái mối thân tình. Vì khi Đức Phật đi đến đâu Ngài giáo hóa thì các vị vua hay lần lần rồi cũng quy y theo Phật. Mà vua là đệ tử Phật thì mấy ông quan làm sao? Mấy quan lần lần cũng phải, cũng phải mộ đạo. Cho nên lúc đó có vẻ ổn, chư Tăng chỉ lo tu. Còn về phía an ninh, trật tự,
[2:20:54]chính quyền, luật pháp thì thường là vua quan họ bảo trợ hết. Thậm chí có khi vua quan họ còn cúng dường chư Tăng nữa, nên lúc đó là vua quan là người mộ đạo và bảo vệ đạo. Cho nên không có đặt ra vấn đề gì hết, nghĩa là Giáo hội, Tăng đoàn và chính quyền nó như một vậy, hình ảnh nó rất là đẹp. Chúng ta còn nhớ cái câu chuyện về Angulimala không? Khi vua Ba-tư-nặc mà đi tìm Angulimala tìm không được, vào thăm Đức Phật á, rồi Đức Phật mới hỏi: "Nếu mà Angulimala đã xuất gia tu tốt thì sao?" Vua mới nói: "Thì con sẽ cúng dường tứ sự suốt đời." Rồi vua mới chỉ qua Angulimala ngồi đó, dựng tóc gáy lên hết hồn, một tên cướp khét tiếng mà
[2:21:34]giết người như ngoé mà bây giờ trở thành một vị Tỳ kheo. Nhưng mà ông giữ lời hứa là ông cúng dường. Như vậy thời đó chúng ta thấy là như vậy. Nghĩa là vua rất là mộ đạo và bảo vệ đạo. Chúng ta không có đặt vấn đề chia ra giữa Giáo hội với chính quyền phải xử sự làm sao hết. Bởi vì hai bên tin cậy lẫn nhau, nghĩa là Giáo hội Tăng đoàn tin cậy chính quyền, tin cậy người vua quan là những người mộ đạo ủng hộ đạo cư xử đúng mức, và vua quan cũng tin cậy chư Tăng Tỳ kheo là những người tu hành chân chính, nghĩa là xuất hiện ở đất nước nào thì đem lại cái điều, cái phước lành cho đất nước đó. Cho nên hai bên tin cậy lẫn nhau thì
[2:22:17]cái mối tương quan đó là lý tưởng mà sau này chúng ta ít khi bắt gặp trở lại. Vào thời phong kiến ở Trung Hoa và Việt Nam á, thì nó đi qua thăng trầm, nghĩa là vận mệnh của Tăng đoàn, của Giáo hội thăng trầm qua nhiều cái giai đoạn khác nhau. Có những giai đoạn mà một vị vua mộ đạo thì Ngài sẽ chỉ định những chức này chức kia, sắp xếp hỗ trợ cho chư Tăng. Ví dụ vua Đường Thái Tông vậy, ổng hỗ trợ cho ngài Huyền Trang tổ chức thành một đoàn, một cái ban phiên dịch lớn lao, có cơ sở đầy đủ. Rồi nhiều cái đời vua sau này cũng vậy, đời nhà Tống cũng mộ đạo. Nhà Minh, nhà Thanh thì bớt rồi, bớt nhưng mà họ bị lai, chứ vào thời Đường, thời Tống mọi việc nó đẹp.
[2:23:08]Nhưng mà có những giai đoạn mà ổng vua ổng không thích Đạo Phật, ổng ngược đãi thì có khi ổng ra lệnh là bắt chư Tăng phải hoàn tục, đập phá chùa luôn. Có ba cái đời vua Võ, giờ tôi không có nhớ hết kỹ từng chi tiết, là ra lệnh tiêu diệt Đạo Phật là vì lúc đó vua theo các đạo khác hoặc là thấy mấy cái đạo cứ cãi lẫy nhau phiền phức quá dẹp hết không theo đạo nào hết cho nó gọn, nên lúc đó cấm đạo thì thời gian đó Đạo Phật bị khốn đốn. Nhưng chỉ sau đó một chút rồi phục hưng trở lại, qua đời vua đó thôi. Thì Đạo Phật thường là bị thăng trầm như vậy. Bên Việt Nam cũng vậy. Việt Nam vào thời nhà Lý, nhà Trần
[2:23:49]thì mấy ông vua thiếu điều là mấy ông thầy tu luôn. Họ mộ Đạo Phật không thể tưởng và họ có những sở đắc về tâm linh nữa, họ biết tu. Qua đến đời vua Lê thì bớt một chút, qua đến đời vua Lê thì tất nhiên các đời vua đó trọng đạo Nho hơn, trọng đạo Nho hơn, riêng công thần Nguyễn Trãi là một thiền sư. Nguyễn Trãi thì trước khi ông bị giết thì ông đã bắt đầu tu hành theo Đạo Phật và đã đắc thiền. Chúng ta nhớ một điều này, mà trong sử không ghi hết, là hầu hết các nhà nho đời xưa đều uyên thâm Đạo Phật, uyên thâm Đạo Phật. Nghĩa là mặc dù các ngài vẫn phải học các Luận ngữ của Khổng Tử, là các sách của Chu Tử,
[2:24:32]Mạnh Tử phải học, nhưng mà nho, y, lý, số và tam giáo đều biết hết. Nghĩa là nho là mấy cái sách của Khổng Tử nè, y thuật bắt mạch lý âm dương nè, lý số bói toán tử vi nè, tướng số là rành hết, và tam giáo Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo tổng quát biết hết. Nên một nhà nho ngày xưa biết khá nhiều về các đạo. Bây giờ mình cứ nghe nói nhà nho mình tưởng họ không biết gì, không có, nhà nho nào cũng mộ Đạo Phật hết, họ đều gọi là tam giáo đồng nguyên hết. Nên Nguyễn Trãi vậy, là một nhà nho,
[2:25:07]nhiều người bây giờ họ dựng lại hình ảnh Nguyễn Trãi đơn giản lắm, chỉ một nhà văn, nhà nho, tay yếu chân mềm, không có đâu. Nguyễn Trãi rất giỏi võ luôn. Nghĩa là dầm sương dãi nắng đi đâu đi này đi kia là đi được hết, rất giỏi võ, và rất giỏi thiền. Khi mà xong việc chiến chinh về trí sĩ ở Côn Sơn thì ông tu thiền và đắc thiền, cho tới cái ngày cái nạn xảy ra tới ông phải bị tru di tam tộc. Rồi những đời vua Lê thì chú trọng đạo Nho hơn, rồi lúc đó có một số đạo Nho nổi lên, có một số những quan mà theo đạo Nho cũng nổi lên công kích Đạo Phật, ảnh hưởng Đạo Phật cũng bị giảm sút thời đó. Tuy nhiên lẫn trong dân chúng,
[2:25:47]ở làng mạc này, ở thị tứ kia vẫn còn nhiều vị cao tăng xuất hiện, Đạo Phật thời đó cũng rất là thịnh. Đạo Phật thịnh dài dài thì nó cũng có những cái, đôi khi nó vẫn có những cái tệ nạn nó xuất hiện chứ không phải không, thời nào cũng bị như vậy. Thì vào thời nhà Lê cái tệ nạn nó xuất hiện hơi nhiều, cái thời Lý, thời Trần thì các chùa Đạo Phật tương đối tinh khiết hơn. Vào thời Lê bắt đầu suy tàn dần dần, cho đến cái ngày Đạo Thiên Chúa đặt chân vào, bắt đầu thê thảm. Nên ở đây là vào thời phong kiến là vậy, còn ở Việt Nam mình, thì chúng ta muốn trước khi nói đến giai đoạn này, chúng ta nói vào cái thời ông Diệm, ông Thiệu trước một chút.
[2:26:31]Là vào thời ông Diệm thì ông là một người theo đạo Thiên Chúa giáo, anh ruột của ông là ông Ngô Đình Thục là một giám mục. Dòng dõi ông là Thiên Chúa giáo nhiều đời và là những người Thiên Chúa giáo mà hết sức là phục vụ cho Tòa thánh Vatican và cho nước mẹ Đại Pháp. Dòng dõi tổ tiên của ông là những người mà dắt Pháp đi đánh những lực lượng kháng chiến của nước mình. Và ba ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả từng làm quan lớn trong triều. Và chính ông Ngô Đình Diệm cũng là một bộ lại thượng thư vào thời vua Bảo Đại, rồi ông từ quan để phản đối Pháp chuyện gì đó. Chính vì lúc cái hình ảnh mà ông từ quan làm cho ông trở thành một nhà chí
[2:27:21]sĩ được nhiều người nể nang, trông ngóng, xem ông như một người anh hùng. Thì cái thời cơ đến dần dần thì sau này, lúc đó Mỹ mới phá cái hiệp định Genève. Vì hiệp định Genève là quy định năm 56 là phải tổng tuyển cử trên toàn quốc để Việt Nam thống nhất. Thì chia đôi là chia đôi tạm thời, nhưng mà Mỹ họ không có thực hiện cái cái cuộc bầu cử đó, và họ xây dựng miền Nam thành một tiền đồn để gọi là ngăn chặn cộng sản, cớ là vậy, và họ chọn cái người gọi là lãnh đạo mà họ cho rằng cái người đó quyết tâm chống cộng. Và sau khi sàng qua lọc lại thì họ chọn ông Diệm. Thì ông Diệm thì trước khi mà ổng trở về nước á thì ổng
[2:28:07]là bôn ba ở Pháp, qua Mỹ, qua Pháp, Mỹ để gầy cục với bên Mỹ, gầy cục với Pháp rồi gầy cục với Vatican, để những người đó, bởi vì thế lực của Vatican, của Tòa thánh Vatican rất là mạnh, cái tiếng nói Vatican rất mạnh, nên khi ông đi vận động như vậy là bên nước ngoài đồng ý chọn ông và đưa ông về làm lãnh tụ của Việt Nam. Đầu tiên là làm Thủ tướng dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại trước, rồi sau đó ông mới vận động một cuộc đảo chánh lật đổ Quốc trưởng Bảo Đại, buộc Bảo Đại lưu vong và ông lên làm Tổng thống luôn, nó có như vậy. Tức là ông phản bội lại Bảo Đại. Thì ông trở về làm lãnh đạo đất nước Việt Nam mà không dựa vào
[2:28:46]nhân dân Việt Nam, mà dựa vào thế lực bên ngoài để sau đó ông mới, nghĩa là mong muốn của gia đình ông là biến cái đất nước này thành đất nước Thiên Chúa giáo hết toàn bộ. Thì ổng cái việc mà ổng chống cộng không phải là vì là vì đất nước mình mà vì Vatican, vì Vatican, ông rất trung thành. Loại dần hết những người Đạo Phật ra khỏi chính quyền hết, chỉ giữ đề bạt những người Thiên Chúa giáo dù người đó vô tài, bất đức, tham nhũng gì không cần biết, bao che hết, đưa lần lần vào trong chính quyền và kỳ thị tôn giáo triệt để vào cái thời đó. Thì cái việc mà ổng kỳ thị và ăn hiếp lần lần nó gây bất mãn dần dần trong
[2:29:27]quân đội, và người ta cũng đảo chánh một lần năm 60 mà không thành công. Rồi đến năm 63 thì cái việc mà ổng kỳ thị hiếp đáp chùa chiền nó gây bất mãn quá. Như lúc đó cái luật của tôn giáo là cờ tôn giáo chỉ được treo trong khuôn viên của chùa hay là của đền thờ, nhưng mà đến ngày Giáng sinh á thì chùa Thiên Chúa giáo treo đầy hết tất cả hàng đường phố hết. Thấy vậy, tới cái ngày Phật đản thì bên Đạo Phật cũng treo cờ Phật đản đầy hết đường phố lại, huề, thì họ mới ra lệnh: "Ủa, vậy là vi phạm luật." Cự nự, cự nự thì quý thầy phản đối, phản đối bắt đầu xô xát nhau. Thì vào tháng 8 năm 63 vậy đó, ông Thiếu tá Đặng Sỹ là Tỉnh
[2:30:08]trưởng ngoài Huế vậy cho xe tăng cán lên đoàn biểu tình luôn, cán dày nát, chết luôn tám người, xả súng bắn vào luôn. Thì lúc đó là cái cuộc đấu tranh nó bùng nổ lên. Ở trong Sài Gòn cũng vậy, Sài Gòn là họ vào họ bao vây chùa Xá Lợi, bắt chư Tăng nắm quăng lên xe đem về nhốt mấy trăm người, rồi quăng súng vào trong chùa, quăng đồ lót phụ nữ vào trong chùa, vu oan là mấy thầy kia nọ đem vô bắt làm um sùm hết. Nhưng mà không ngờ là trong quân đội có nhiều người Đạo Phật, nên quân đội bất mãn. Thì có một cái nhân vật vào thời đó, nhân vật này là Đỗ Mậu, ông này là ông tướng. Khi ổng nghỉ hưu là ổng Trung tướng, lúc đó ổng là Thiếu tướng.
[2:30:45]Và sau đảo chánh 63 ông lên làm tới Phó Thủ tướng. Thì ông này là một người đồng chí với Diệm từ thuở còn hàn vi. Ổng thương Diệm lắm, từ thuở ban đầu, ổng lại là Đạo Phật, người Quảng Bình, cùng quê với ông Diệm. Ổng theo, ổng phò ông Diệm suốt, suốt, ông Diệm rất là tin yêu ổng. Khó khăn nhất là cũng là hai người này gắn bó với nhau. Nhưng đến khi mà ông Diệm, ổng đàn áp Đạo Phật quá thì ông Đỗ Mậu cuối cùng phải phản, cuối cùng phải chấm dứt. Và ông là người đứng ra cấu kết quân đội lại để lật đổ ông Diệm. Thì lúc đó cũng nhiều người khác cũng đứng ra cấu kết lại. Và đến ngày mùng 1 tháng 11 năm 63 thì cuộc chính biến xảy
[2:31:27]ra, lật đổ chế độ, và ông Diệm bị giết chết trên xe tăng. Diệm với ông Nhu bị giết chết luôn. Thì lúc đó đó, bên Thiên Chúa giáo họ cũng làm dữ lắm. Khi mà họ thấy người lãnh tụ Thiên Chúa của họ bị lật như vậy, họ oán thù đạo Phật, xô xát giữa đạo Phật và đạo Thiên Chúa cũng xảy ra. Nhưng mà chỉ tiếc có một điều là ông Đỗ Mậu ông viết trong cái cuốn là "Việt Nam máu lửa quê hương tôi", ổng viết chi tiết chính xác lại từng điểm từng điểm của những cái thời điểm á, mà nhà nước mình phải cho in lại, tại vì ổng viết quá chính xác á, nhà nước phải cho in lại cái cuốn này. Nếu có điều kiện quý thầy đọc lại cuốn này cho chi tiết hơn.
[2:32:05]Thì sau cái cuộc mà thành công năm 63 lật đổ được chính quyền ông Diệm rồi, thì quý thầy mình trong Giáo hội lại lãnh đạo rất là dở. Ông Đỗ Mậu ổng phê bình lãnh đạo dở, cho nên nó không có tiến tiến xa hơn được. Cuối cùng xuất hiện lại một chính quyền mới là chính quyền ông Thiệu. Thì ông Đỗ Mậu ổng nói rằng chính quyền ông Thiệu tức là chính quyền ông Diệm mà không cần có ông Diệm. Vì những điều gì ông Diệm làm, ông Thiệu làm lại y chang, cũng loại bỏ hết Phật giáo ra, tìm cách đưa những người Thiên Chúa giáo lên nắm những chức vụ quan trọng trở lại, là những người mà ngày xưa làm với chế độ Diệm,
[2:32:42]bây giờ lôi vô làm lại trong chính quyền ông Thiệu hết, cũng tiếp tục là muốn Công giáo hóa toàn bộ miền Nam Việt Nam trở lại. Nên cái thời đó, cái văn hóa của Thiên Chúa bắt đầu nó xuất hiện một cách như tràn ngập trên cái văn đàn, trên bộ mặt nghệ thuật của Việt Nam mình. Vì hồi nhỏ tôi nhớ điều đó rõ. Tôi nhớ những bài hát mà hát về Chúa là bình thường, một bài nhạc tình vẫn đưa Chúa vào trong, cho nên một người thanh niên còn trẻ không biết Chúa là ai nhưng mà hát một bài nhạc tình thì tự nhiên có hát về Chúa ở trỏng. Ví dụ có cái bài "Năm năm rồi không gặp từ khi em lấy chồng, anh dặm trường mê mải, đời chia những nhánh sông".
[2:33:22]Rồi có cái đoạn gì mà... hoặc là "ngày của em tóc đờ mi gạt xong" gì đó. Rồi cũng nói Chúa là "đội Thánh giá xin làm chiên ngoan", vân vân. Nghĩa là cái cái văn hóa của Thiên Chúa nó tràn ngập hết coi như là bình thường. Họ đang nghĩa là Công giáo hóa Việt Nam từ từ được trên bộ mặt văn hóa. Nhưng mà may mắn vào trong cái thời đó, bên đạo Phật mình cũng xuất hiện những nhân vật lỗi lạc để giữ vững lại cái văn hóa Phật giáo, ví dụ như Đại học Vạn Hạnh thời đó do Thầy Nhất Hạnh, Hòa thượng Minh Châu sáng lập. Xuất hiện rất nhiều nhân vật giỏi, hoặc như Thầy Tuệ Sỹ, Thầy Lê Mạnh Thát cũng là những nhân vật giỏi, viết nhiều tác phẩm gây được ảnh hưởng tốt.
[2:34:01]Hoặc như ông Phạm Công Thiện thì ổng là một tu sĩ Thiên Chúa giáo nhưng mà ổng quá giỏi. Ông đó ổng nói nói năm thứ tiếng. Nghĩa là hồi nhỏ xíu mới mười mấy tuổi ổng viết cái cuốn dày: "Ý thức mới trong văn nghệ triết học". Ổng nói nếu cần ổng chỉ viết về câu chuyện về một củ cà rốt dài một ngàn trang cũng được, chỉ cần nói một cái củ cà rốt thôi, nghĩa là đầu óc ổng tư tưởng phong phú. Ổng là một thầy tu Thiên Chúa giáo nhưng mà sau đó ổng đọc sách tan nát hết, ổng mới phát hiện ra Thiên Chúa giáo sai, ổng bỏ Thiên Chúa giáo ổng qua ổng tu theo đạo Phật. Nên ổng mới viết nhiều cuốn sách mà có lợi cho văn hóa của Phật giáo.
[2:34:36]Bây giờ thì sau đó ổng cũng buồn buồn, cũng cảm thấy có một cái chân lý gì khác cao hơn biết thì ổng không chịu tu nữa. Giờ thì ổng qua bên Pháp ổng ở. Nhưng mà ổng vẫn lâu lâu vẫn viết những cuốn sách về đạo Phật. Lâu lâu như vậy. Hoặc là ông Phạm Thiên Thư viết những bài thơ về đạo Phật cũng hay. Hoặc là những ca sĩ, những nhạc sĩ như Phạm Duy thì cũng làm những bài nhạc rồi ổng cũng đưa hình ảnh đạo Phật vào thường. "Đầu mùa xuân cùng em đi lễ, lễ chùa này vườn nắng tung bay" ha. Đó, vân vân, nghĩa là những hình ảnh nó vào từ từ, có đạo Phật nó xuất hiện lại dần dần. Chớ lúc đó, vào cái thời đó thì
[2:35:12]vì chính quyền là ngược đãi, đàn áp và muốn tiêu diệt đạo Phật, cho nên Giáo hội buộc không có gắn bó được với chính quyền mà phải tách ra độc lập để đấu tranh và tồn tại. Đó, một thời đã thời điểm nó rất đặc biệt. Chớ còn vào những thời trước, thời trước nữa thì chúng ta thấy đa phần là Giáo hội và chính quyền đều có cái tương quan gắn bó, tin cậy với nhau được, vì đạo Phật rất là hiền lành, chính quyền luôn luôn tin cậy. Nhưng chỉ có thời ông Diệm là bị ngược đãi quá đáng, do cái âm mưu nghĩa là tiêu diệt đạo Phật của cái gia đình họ Ngô đó, nên buộc quý thầy phải đấu tranh rất gay gắt. Còn hiện nay như thế nào?
[2:35:54]Hiện nay là sau năm 75 khi giải phóng rồi thì nhà nước cũng để yên cho Giáo hội sinh hoạt. Nhưng mà lúc đó cái thái độ của quý thầy mình thì bất hợp tác với chính quyền, bởi vì còn cái khuynh hướng từ trước đó là độc lập với chính quyền, luôn luôn độc lập, độc lập với chính quyền, không có hợp tác. Và sau khi giải phóng thì mới nghĩ rằng cái chế độ Cộng sản là chế độ vô thần duy vật thì sẽ đàn áp tôn giáo, nên quý thầy mình lúc nào cũng thủ thế, lúc nào cũng thủ thế với nhà nước. Thì nhà nước mới trong một buổi họp, nhà nước kêu gọi thế này, nói: "Bây giờ là đất nước hòa bình, quý thầy họp đại hội Phật
[2:36:30]giáo tốt, không sao hết, chỉ xin quý thầy để giùm mấy câu vô giùm là đoàn kết xây dựng đất nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thêm giùm bốn chữ Xã hội Chủ nghĩa vô giùm, thì chúng ta tin cậy nhau, quý thầy muốn gì cũng được hết." Nhưng mà trong buổi họp đó quý thầy mình không biết làm sao không chịu, không chịu, chẳng những không chịu, đem bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ra đọc luôn. Đọc là ý chống lại đó, có tư tưởng chống lại rất dữ dội. Thấy nhà nước thấy rồi là cái Giáo hội Ấn Quang ngày trước căng thẳng quá, không thể hợp tác được. Thái độ quý thầy dứt quyết liệt, dứt khoát quá, căng thẳng quá, không hợp tác được.
[2:37:08]Mà trong một đất nước mà Giáo hội là một mảng lớn mà không hợp tác với nhau được thì chuyện gì xảy ra? Nguy hiểm về an ninh, phải không? Rất nguy hiểm an ninh. Trong khi đó, cái vận mệnh đất nước như là chỉ mành treo chuông vậy đó. Bên Trung Quốc lúc nào cũng lăm le chiếm, Pol Pot bắt đầu nó đánh phá biên giới phía Tây là buộc nhà nước mới thấy rằng bây giờ phải thành lập lại một Giáo hội khác. Nhà nước mới tổ chức đi vận động thành lập một Giáo hội mới là tập hợp toàn bộ mọi hệ phái vào trong đó luôn. Chứ thời xưa đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chỉ có thống nhất được hai hệ phái là Nam tông, Bắc tông.
[2:37:43]Còn một số các hệ phái khác, họ có Giáo hội riêng, hiến chương riêng hết, ví dụ như Giáo hội Tăng già Khất sĩ: Giáo hội riêng, rồi Giáo hội Thiền Tịnh Đạo Tràng của chùa Phật Bửu Tự ở đường Cao Thắng á cũng làm Giáo hội riêng, có hiến chương riêng, rồi bên Lục Hòa Tăng Cổ Sơn Môn là có Giáo hội riêng, hiến chương riêng hết. Thời đó như là Hòa thượng Huệ Thành là chùa Long Thiền ở tỉnh Đồng Nai, Biên Hòa đó, Hòa thượng là Giáo hội của Cổ Sơn Môn Lục Hòa Tăng riêng, Hòa thượng là Pháp chủ á, thời đó là Pháp chủ của Giáo hội đó đó. Nên lúc bây giờ, sau đó thì nhà nước mới vận động thành lập một Giáo hội Phật
[2:38:17]giáo Việt Nam tập trung mọi hệ phái vào thành một Giáo hội duy nhất. Thì cái điều này có người khen kẻ chê.
[2:38:27]Chê thì nói rằng là như vậy Giáo hội này là Giáo hội quốc doanh do nhà nước thành lập. Nhưng mà cái người khen thì nói rằng đây là một cái Giáo hội lý tưởng chưa bao giờ có trong các đất nước trên thế giới, là nước nào là Giáo hội cũng bị chia sẻ, bị xé ra đấu tranh, nhưng chỉ riêng ở Việt Nam, cũng nhờ cái vận động của nhà nước mà có một Giáo hội đoàn kết được toàn bộ các hệ phái vào trong hết. Nghĩa là những người đệ tử thờ Phật đều ở chung trong một Giáo hội. Thì do cái quyền lực của nhà nước, sự sắp xếp nhà nước nên Giáo hội được thành lập như vậy. Thì ý kiến khen chê là như vậy, tuy nhiên ở đây thì chúng ta thấy thế này:
[2:39:07]là cái việc mà nhà nước có ý kiến để thành lập á, cái chuyện đó nó xưa như trái đất rồi. Thì hồi xưa mấy ông vua cũng vậy nữa, ổng cũng chỉ định chỉ thành lập luôn. Nên điều đó mình nên vượt qua mà chỉ nên nhìn vào cái ưu điểm là Giáo hội hiện nay được một cái ưu điểm rất lớn là tập hợp được hết mọi hệ phái lại. Chứ bên Thái Lan nha, là ông vua là theo đạo Phật, đó là đạo Phật là quốc giáo mà vẫn có hai Giáo hội: một Giáo hội của hoàng gia, một Giáo hội của giới bình dân. Nghĩa là chư Tăng bình dân là một phe riêng nha, rồi chư Tăng mà thuộc hoàng tộc, quý tộc của hoàng gia là một phe riêng, cũng không có đồng lòng với nhau nữa.
[2:39:44]Cho nên bên Thái Lan họ cũng nói là: "Tại sao quý thầy bên đây là hệ phái nào cũng ở chung với nhau được, hay như vậy?" Hay như vậy cũng thực ra cũng là nhờ công lao của nhà nước. Thì nhà nước á, ý của nhà nước là làm như vậy nó được ổn định về Phật giáo một mặt, với được ổn định về an ninh. Nhưng mà là nhà nước làm cũng chưa triệt để, có vài điều còn hở. Còn hở ở chỗ nào?
[2:40:11]Lạ ở chỗ đó, ví dụ như những người công an. Công an thì họ để ý bên giáo hội mà họ chỉ để ý để ý vấn đề an ninh thôi. Vấn đề an ninh. Ví dụ họ coi ngó thì họ coi ngó vấn đề an ninh, là coi trong giáo hội này quý thầy có tu hành chân chính không? Có phản động không? Có lôi kéo quần chúng, có nối kết nước ngoài để làm phản động hay không? Họ chỉ sợ nhiêu đó. Còn quý thầy sinh hoạt sao thì kệ quý thầy, không biết. Có nghĩa là quý thầy tu tốt không tốt công an họ không để ý. Họ nghĩ là chuyện đó là chuyện của quý thầy, không quan tâm, mà họ chỉ để ý vấn đề an ninh thôi. Thì như vậy đó, mình thấy như vậy là thôi họ làm trách nhiệm họ vậy cũng được.
[2:40:51]Thì bổn phận của họ là coi chừng vấn đề an ninh thì họ để ý nhiêu đó cũng được. Mà coi vậy là dở. Thấy thì chặt mà lại lỏng. Lỏng vì sao? Vì chưa có cái luật tôn giáo. Luật tôn giáo mà quan trọng là luật Phật giáo luôn á. Chớ nói là luật tôn giáo không cũng không đủ nữa. Khi mà có luật tôn giáo này đó, buộc cái người công an phải tuân thủ luật tôn giáo này, hành xử cho đúng và như vậy sẽ hỗ trợ được đạo Phật rất là nhiều. Tôi nói ví dụ quy định thế này, ví dụ trong luật tôn giáo quy định về trang phục là trang phục tu sĩ. Tức là ví dụ như trong luật quy định rõ ràng chứ không được nói mơ mơ, không được nói ai muốn mặc gì mặc,
[2:41:32]là người tu sĩ Phật giáo là người có hình thức như thế này: tóc thì tóc thì cạo, là quần áo được mặc trong ba màu: lam, đà và vàng với hình thức như thế này, quy định rõ ràng. Và luật quy định: người nào không phải tu sĩ Phật giáo không được mặc đồ này. Nếu người nào không phải tu sĩ Phật giáo mà mặc bộ đồ như vậy, mang hình thức như vậy thì sẽ bị phạt tù từ ba tháng cho tới ba chục năm. Ví dụ vậy, quy định tùy trường hợp. Hơ không, nó phải có luật rõ ràng như vậy, là người công an họ mới theo luật họ làm. Còn bây giờ ví dụ như nhà nước đưa ra cái nghị định số 69 về tôn giáo thì công an họ không có gì để làm hết trơn á.
[2:42:13]Thì cái nghị định đó giữa ban tôn giáo, mặt trận với Phật giáo làm gì đó làm. Nhưng mà hễ có luật thì công an phải chấp hành luật đó. Như vậy nó tránh được cái tình trạng là tu sĩ giả danh. Bây giờ ví dụ giáo hội mình tới thưa, nói bây giờ cái ông đó ổng tu sĩ giả. Cái ông công an nói bây giờ ổng tu sĩ giả là sao? Tức là sao? Tức là không có giấy, không có giấy giáo hội. Rồi bây giờ bắt làm sao đây? Nói ổng giả, bây giờ lại hỏi cạo đầu, nói: "Tôi nực, tôi cạo đầu, làm gì tôi?" Thì trong luật pháp đưa ra, Hiến pháp đâu có cấm công dân cạo đầu. Rồi nói: "Sao anh mặc đồ thầy chùa?" "Tôi thấy đồ đẹp tôi khoái mặc,
[2:42:45]làm gì tôi?" Thì trong luật đưa ra cũng đâu có cấm người công dân mặc đồ thầy chùa, thì cũng thua luôn. Thì thôi công an cũng về đành chịu, phải không? Nhưng mà nếu ngày nào có luật tôn giáo quy định rõ ràng thì không dám á, không dám mặc đồ nữa. Cho nên bây giờ đến hỏi: "Anh mặc đồ thầy tu, có giấy của giáo hội không?" Trình ra cái giấy giáo hội. Ờ có, không sao. Không có giấy giáo hội là tu sĩ giả, lượm liền, về chất vấn liền. Thì hoặc phạt anh nghĩa là ba tháng tù treo, ba tháng tù ở hay ba năm tù ở thì tùy theo cái tội gì nữa, quy định nữa. Thì nếu có luật nó mạnh như vậy là giáo hội mình sẽ mạnh lên liền.
[2:43:19]Đó là nhờ bên công an họ tuân thủ cái luật này. Đó, là vấn đề mà tu sĩ giả danh sao sao, quy định từng lớp từng lớp, có nhiều cấp tu sĩ thế nào, quy định thế nào thì không có ai mạo nhận được. Thì như vậy bên giáo hội á, quý thầy sẽ yên tâm. Mình không cần phải lo vấn đề kỷ luật nữa, vì ai vi phạm cái đó mình loại ra khỏi giáo hội một cái là công an lượm liền, xử lý liền. Thì như vậy là công an mới thật sự là hỗ trợ cho giáo hội về mặt kỷ luật, về mặt tổ chức. Còn bây giờ đó, công an không hỗ trợ. Là trong nội bộ quý thầy sao tùm lum chuyện thì công an không để ý, họ chỉ để ý về quý thầy có phản động hay không thôi.
[2:43:57]Cho nên tuy coi chặt chẽ mà lại chưa chặt chẽ, nó lại yếu. Nhiều khi công an cứ coi an ninh riết rồi mình phát bực, hơ hơ, nói tôi đàng hoàng, tôi yêu nước, nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là gia đình tôi là gia đình mấy đời có công cách mạng, mà cứ canh cứ vô chùa canh rình rình chi vậy? Nhiều khi mình bực. Trong khi họ thì họ làm cái nhiệm vụ họ phải coi chừng có ai không. Thì thầy tốt rồi nhưng mà bạn thầy biết có tốt không để tôi coi chứ. Nhưng là mình bực. Nhưng mà nếu có cái luật tôn giáo rồi thì không phải vậy nữa, là công an họ sẽ làm mạnh hơn mà mình lại thấy dễ chịu hơn. Là vì bảo vệ được giáo hội.
[2:44:29]Và vì chưa có luật tôn giáo, chưa có luật Phật giáo nên nó là vấn đề dở. Thì có lẽ sau này nhà nước cũng sẽ chuẩn bị để mà thành lập cái luật tôn giáo. Ví dụ như bây giờ một người tu sĩ bị vì vấn đề gì đó giáo hội tẩn xuất ra khỏi giáo hội. Tẩn xuất ra thì lấy giấy lại và báo cho chính quyền sở tại liền người đó không còn là tu sĩ. Thì công an tới liền nói yêu cầu anh không được mặc đồ này nữa, yêu cầu anh để tóc lại, không được cạo tóc nữa. Thì như vậy thì người kia phải tuân thủ thì lúc đó họ không còn mang hình thức tu sĩ nữa. Đó, nó trắng đen rõ ràng là nhờ luật. Vì chưa có luật, thôi đành chịu. Hừm.
[2:45:08]Đó là mình nói cái là bên phía nhà nước mà yểm trợ cho giáo hội là nhờ như vậy. Bây giờ mình nói khía cạnh này một chút, là cái người tu sĩ á trước hết họ là một người công dân của đất nước, phải tuân thủ luật pháp của đất nước đó. Nhưng mà khổ cái là người tu sĩ là một công dân mà không phải công dân thường, ha ha, công dân này không phải thường. Đây là một người công dân mà họ không có lập gia đình, nên họ không phải là một công dân thường tình như mọi người là lớn lên rồi bắt đầu có gia đình, có vợ, có con. Họ không có lập gia đình và đồng thời đây là một người công dân mà lại lãnh đạo tinh thần của nhiều tín đồ.
[2:45:45]Cho nên cái người công dân này hơi kỳ cục hay đặc biệt, nên viên chức nhà nước phải khéo léo mà đối xử một chút. Ví dụ như khi quý thầy mà đến gặp viên chức nhà nước, gặp công an cán bộ thì cán bộ công an phải biết nhã nhặn một chút. Chớ mà vào thời mà sau giải phóng, mấy công an mà gặp quý thầy kêu bằng "anh", "chú" mà, "anh", "chú". Tại họ nghĩ thì cũng là công dân bình đẳng trước pháp luật, với thêm nữa là tôn giáo là mê tín nữa, cho nên nhiều khi là công dân mà công dân hạng thấp nữa. Nhưng mà thời gian sau này thì chúng ta thấy quan điểm nó thay đổi do nhà nước đổi mới, nên cái cái vai trò của tu sĩ cũng như
[2:46:22]cái giá trị của tôn giáo trong xã hội được coi trọng hơn. Bây giờ một người công an hay một người viên chức cán bộ họ gặp một người thầy tu họ biết quý trọng. Tôi nhớ bản thân tôi cũng vậy, tôi hai lần tôi lái xe bị vi phạm luật, hơ hơ, lái xe hơi á, chứ còn xe Honda thì không có chuyện. Lái cái tôi tôi vượt ẩu. Cái ông công an ổng thổi vô thì ổng đứng ổng chào đàng hoàng, ổng kêu "thầy" đàng hoàng. Ổng xin giấy tờ cho coi thì giấy tờ đầy đủ hết. Ổng cằn nhằn một lát rồi ổng cho đi, không có phạt. Có lẽ ổng dòm thấy thầy tu nhưng mình hiểu rằng họ có quý trọng thầy tu. Rồi một lần nữa tôi quẹo chữ U á,
[2:46:57]con đường quẹo chữ U mà nó ngay cái vạch nó cấm, hơ. Hai con đường nó có ngay giữa đường có hai cái vạch là cấm băng qua. Chẳng những tôi không băng qua mà tôi còn quẹo chữ U, quẹo xong lại đúng ngay ông công an đứng đó luôn. Quẹo xong cái lại dừng lại cái thấy ổng đứng đó ổng cười. Ổng chào một cái ổng nói: "Thầy cho coi giấy." Móc giấy, móc giấy ổng nhắc cái ổng cũng cho đi. Thì mình thấy là thời gian sau này rõ ràng là cán bộ nhà nước họ đã có cái nhìn nhận lại cái vai trò của tu sĩ, thì đó là cái điều rất là tốt. Vì người tu sĩ là một công dân mà công dân khác. Ở luật pháp ở các nước á, có một cái tội gọi là tội công xúc tu sĩ.
[2:47:36]Ở Việt Nam mình chưa có luật này, chắc sau này lần lần cũng có. Công xúc tu sĩ nghĩa là sao? Nghĩa là xúc phạm tới người tu. Xúc phạm tới người tu thì nhiều cái lắm, hoặc là nói nặng xúc phạm hoặc là những hình ảnh mà lõa lồ mất thuần phong mỹ tục á cũng gọi là công xúc tu sĩ. Hồi có vẻ có giá trị nhưng sau này có lẽ luật tôn giáo thì đưa ra. Thì đó là cái mình nói với nhà nước là cán bộ nhà nước nên hiểu rằng tu sĩ là một công dân mà hơi đặc biệt, nên phải tế nhị đối xử khéo léo giùm một chút, đừng có mà gặp quý thầy kêu bằng "anh" bằng "chú", kỳ lắm. Đó, vì sao? Vì trước mắt của tín đồ, cái người thầy tu là người đáng kính.
[2:48:17]Nhưng mà nếu người viên chức họ đối xử coi tầm thường thì mất lòng dân chúng. Nó vậy thôi. Bây giờ chúng ta lại trách qua quý thầy, nãy mình nói nhà nước, bây giờ mình nói quý thầy. Nhiều khi quý thầy mình không hiểu hết những vấn đề phức tạp của chính trị nên hay trách nhà nước. Nhưng mà sự thật nếu mình biết thì mình thấy nhiều vấn đề nó khủng khiếp lắm. Nhiều khi quý thầy mình trách nhà nước sao gây khó khăn, mà nếu mình hiểu kỹ thì mình thấy là nó phức tạp á. Ví dụ thế này, đất nước mình á sau 100 năm nô lệ Pháp, Pháp đô hộ, mấy chục năm qua chế độ Diệm - Thiệu, tài sản của Thiên Chúa giáo cực kỳ lớn.
[2:49:01]Họ có rất nhiều đồn điền, họ có nhiều cái cơ sở kinh tế. Khách sạn Caravelle lớn nhất ở Sài Gòn hồi xưa là của Công giáo, và mấy ngàn trường học rải rác trên khắp đất nước này. Nghĩa là hệ thống kinh tế và ảnh hưởng của họ có thể khuynh đảo cả quốc gia. Trong khi đạo Phật mình chỉ lèo tèo có một trăm mấy chục cái trường Bồ Đề. Cái trường Bồ Đề đó nó gắn bên cạnh cái chùa. Thấy cái khuôn viên của chùa mình đây, thì cái quý thầy mình rộng rộng cái mở ra thêm cái trường Bồ Đề kế bên. Đó, thì có nhiêu. Thì sau giải phóng thì cái luật định của xã hội chủ nghĩa là hễ mà y tế và giáo dục thì phải thuộc về nhà nước, phải thuộc về quốc dân hết.
[2:49:39]Cho nên nhà nước đã quốc hữu hóa toàn bộ những ngôi trường học hết, không biết của đạo hay không của đạo, quốc hữu hóa toàn bộ. Trường tư thục cũng bị quốc hữu hóa luôn. Không có đạo cũng quốc hữu hóa, trường của Thiên Chúa giáo quốc hữu hóa, trường Phật giáo quốc hữu hóa hết. Quốc hữu hóa để làm cái gì? Cũng làm trường học tiếp. Thì đó xấu hay tốt? Xấu hay tốt? Tốt chứ có gì đâu. Nhưng mà mấy thầy mình không biết, bắt đầu mới gây rắc rối thế này: bắt đầu mấy thầy mình mới thấy nhà nước giờ đổi mới á, mới nộp đơn đòi lại cái khu trường này. Nói hồi xưa này trường của chùa, bây giờ đòi lại, thì nhà nước không thể trả.
[2:50:14]Tại sao không thể trả? Quý thầy hiểu không? Hiểu không? Đúng. Nếu mà trả cho một chùa này thì trả toàn bộ tất cả của Thiên Chúa giáo lại hết. Thì lúc đó chuyện gì xảy ra? Thiên Chúa giáo mạnh lên cái ào liền. Tại vì cơ sở kinh tế tràn ngập. Thì lúc đó Đạo Phật mình chịu không nổi, thua liền. Quý thầy mình vừa ít có tài tổ chức, mà cơ sở kinh tế nghèo nữa. Thiên Chúa giáo mà họ lấy hết toàn bộ những cái tài sản họ lại hết thì chuyện gì xảy ra? Họ mạnh lên liền. Cho nên quý thầy mình phải hy sinh. Hy sinh, chấp nhận không đòi, chấp nhận quốc hữu hóa hết toàn bộ như vậy. Mình hy sinh rồi mình phát triển đạo mình ở con đường khác, không cần đòi trường.
[2:51:05]Đòi trường đó làm khó nhà nước mà vừa khó khăn nhà nước cũng chính là làm khó khăn cho Đạo Phật, chỉ lợi Thiên Chúa giáo. Những vấn đề an ninh nó nhiều mặt lắm. Cho nên vì vậy mình cứ yên tâm tu là tốt nhất. Đúng như Phật nói hoàn cảnh nào thôi mình cứ lo tu nội tâm thanh tịnh rồi tùy tâm từ bi mình tùy duyên mình mà giáo hóa, vậy mới mà nó đúng đạo. Còn cứ đòi tới cự nự lui, không ngờ là mình mắc một sai lầm lớn mà mình không hay. Rồi bắt đầu sao? Bất mãn, bất mãn rồi cái đòi xé giáo hội ra làm hai. Mới nói là giáo hội này là giáo hội quốc doanh, giáo hội trước kia mới là giáo hội chân chính đại diện cho lịch đại tổ sư.
[2:51:43]Có một lần có tài liệu tôi đọc tôi thấy có vị thầy ổng nói là cái giáo hội hiện nay á là giáo hội quốc doanh, là giáo hội trước kia đó mới là giáo hội mà đại diện cho lịch đại tổ sư. Tôi đọc thì tôi hơi tức cười. Vì sao vậy? Vì quý thầy nghĩ coi ai là người đại diện cho lịch đại tổ sư? Quý thầy nghĩ đi ai?
[2:52:10]Không có ai hết, mà chỉ có những người nào sao? Tu hành chân chính, phải không? Có giới, có định, có tuệ, người đó mới xứng đáng là đại diện lịch đại tổ sư, chứ không phải vì giáo hội này hay giáo hội kia, không có. Nó giống như ngày xưa Đức Phật á, Đức Phật nói: "Không phải vì dòng máu mà Bà La Môn, không phải vì đẹp trai Bà La Môn, không phải vì thuộc nghi thức trì tụng mà là Bà La Môn. Chỉ khi nào tâm hồn người đó có đức hạnh và có trí tuệ người đó Bà La Môn". Đức Phật cũng nói như vậy, thì bây giờ cũng vậy. Cho nên là cái việc mà chúng ta phân biệt cái này cái kia để xé Tăng đoàn, xé giáo hội ra là một phạm lại một sai lầm
[2:52:50]ngày xưa Đức Phật đã cảnh cáo là phá hòa hợp Tăng. Đó, chúng ta để ý cái điều đó như vậy. Rồi có nhiều vấn đề, ví dụ như là vấn đề đất đai. Hồi xưa đó, nghĩa là gần phân nửa đất ở Sài Gòn là đất của người Chà Và, Chà Và mà họ là người Hồi giáo. Họ là những người cho vay và chủ đất, đất họ đầy hết trơn ở Sài Gòn. Mình đến mình cất nhà xong không ngờ là đất của người Hồi giáo không. Rồi sau này ông Diệm ổng mới quốc hữu hóa một số đất của người Chà Và, mà vẫn còn tới chưa hết. Tới thời ông Thiệu vẫn còn đó, vì tôi nhớ hồi nhỏ cứ lâu lâu tự nhiên có một cái ông mặt đen thui lại ổng xòe giấy xòe đồ ra ổng kêu đóng tiền đất cho ổng.
[2:53:36]Tôi thắc mắc hoài, nhưng sau giải phóng rồi mới chấm dứt chuyện này: "Đất là của nhà nước", chấm dứt chuyện đó. Nên hồi mà có lần họp mà Quốc hội mà về soạn gì đó về hiến pháp quốc gia đó, lúc đó ông tôi còn nhớ ông Đỗ Mười ổng là Tổng bí thư, ổng nói soạn luật gì đó thì soạn, ổng yêu cầu Quốc hội khẳng định điều này: "Đất của nhà nước, không có của ai hết". Chi vậy? Thật ra là để tránh cái hậu họa mà của mấy trăm năm chúng ta bị đô hộ. Thì nếu mà không có cứng rắn cái điều luật này mà trả lại từ từ, chúng ta thấy: "Ủa đất này tự nhiên ngày xưa là của ông Mỹ mua nè, trả lại cho ổng. Đất này ngày xưa cái đồn điền này của Pháp nè, trả lại cho ổng", chết tươi liền.
[2:54:15]Là mình mất chủ quyền mình không hay. Cho nên phải xóa hết toàn bộ quá khứ lịch sử làm lại: "Đất là của nhà nước", rồi nhà nước từ từ cấp lại cho dân một cách bình thường từ từ lại. Mình nói là quyền sử dụng đất, thực sự cũng là chủ đất thôi, nhưng mà mình phải làm như vậy để xóa cái quá khứ sở hữu của những người ngoại kiều ở trên đất nước mình. Cho nên nhà nước họ làm là có cái lý do của họ, mình không biết, chứ sự thực về an ninh chính trị phức tạp lắm, quý thầy không hiểu. Nên cái hay nhất của quý thầy mình là hiền lành tu tập. Chuyện gì để người lớn tính. Vậy chứ mà không ai cự nự mà người ta thương.
[2:54:53]Mình cứ tu hành chân chính vậy chứ người ta thương. Rồi trong cái hiền lành chân chính vậy đó, từ từ mình giáo hóa được chúng sinh. Mà mục tiêu của mình là cái gì? Mục tiêu của mình là cái gì? Giáo hóa chúng sinh. Cho nên có cái câu chuyện mà thi được giải thế này. Có một chuyện thi được giải là có cái ông đó ổng đi mua đất, thì ổng đến cái bộ lạc đó. Cái bộ lạc đó thì mới mua, nhưng bộ lạc này ổng nói ở đây thì không có mua trả góp trả giếc gì hết trơn, không không giấy tờ gì hết trơn á. Là anh cứ đem đem số vàng để một đống đây rồi anh đi bộ, buổi sáng đi bộ, trước khi mặt trời lặn thì anh trở về thì những bước chân anh đi tới đâu á thì đất đó thuộc về anh.
[2:55:37]Nhưng mà anh về trước khi, nếu mà mặt trời sụp rồi mà anh chưa về tới là coi như số tiền chúng tôi lấy anh không có miếng đất nào, phải không? Còn anh về trước khi mặt trời mọc thì đất anh đi một vòng bao như vậy nè, anh về lại chỗ này thì coi như đất đó thuộc về anh, đơn giản. Thì ông đó, ông nhà giàu đó sáng ổng bắt đầu ổng lại ổng chất đống tiền xong ổng đi. Ổng đi ổng ráng ổng đi cho nhiều, ổng đi thì mặt trời lên từ từ, nắng, ổng mệt ổng đói, nhưng mà ổng nghĩ là ráng đi cho được nhiều, ổng đi. Tới chiều buông xuống từ từ rồi ổng cũng mệt lả, nhưng mà ổng cũng ráng đi tại vì đi càng nhiều thì càng được.
[2:56:07]Mặt trời từ từ đi xuống dần xuống dần, ổng ráng về, ráng bao thêm rộng rộng rộng sao mà kịp trước khi mặt trời sụp ổng lại gặp ông tù trưởng lại thì coi như vậy. Thì ông tù trưởng mới dẫn nguyên cái thần dân của mình ra đứng chờ và thấy đằng kia ổng đi tới, đằng này họ reo hò, họ nói: "Ráng lên, ráng lên!", tức là họ cũng rất là chân tình, họ cũng muốn cho ổng có nhiều đất. Đó, kêu: "Ráng lên, ráng lên!", thì mặt trời đang chìm từ từ từ từ và ông này cũng đang, nghĩa là ổng ráng tới từ từ, ổng lết từ từ tới vì ổng đuối lắm rồi. Không ăn không uống mà, ráng đi cho nó đỡ mất thời gian, không ăn không uống nguyên một ngày.
[2:56:39]Thì khi mặt trời vừa lặn thì ổng vừa về tới được chỗ đó, nhưng ngay lúc đó ổng chết luôn. Thì câu chuyện ngang đó chưa có gì để nói, câu chuyện này bắt đầu ông tù trưởng mới nói thế này, ổng mới kêu những người thần dân con, dân trong bộ tộc ổng lại làm lễ tưởng niệm rồi bắt đầu mới sai cái mấy người thanh niên khỏe là: "Các con hãy đi đào cho ông này ba thước đất".
[2:57:06]Câu chuyện đó trúng giải liền. Hay không? Nghĩa là cả một đời chúng ta vất vả, chết cần nhiêu? Ba thước đất á.
[2:57:16]Nghĩa là một đời mình đi gom hết cả một tài sản mênh mông như vậy, ngày chết chỉ cần ba thước đất. Quý thầy mình cũng vậy. Mà quý thầy mình bây giờ có ba thước đất không? Không, có cái hũ nhỏ để cái tháp thôi. Không tới nữa. Cho nên là chúng ta không bận tâm mình phải được cái gì, mà điều mình bận tâm là trong một đời tu hành của mình, mình giáo hóa được bao nhiêu người theo Phật pháp. Và mình giáo hóa được bao nhiêu người đã theo Phật pháp rồi thì phát triển mạnh hơn cái tâm đạo của họ. Và mình giáo hóa được bao nhiêu người tâm đạo đã mạnh rồi chứng được từng từng bực thiền định tâm linh. Đó là sự nghiệp một đời của mình.
[2:57:54]Thế còn cuối đời của mình có cái hũ xíu à. Con chuột nhảy qua rớt bể luôn, tan nát không còn gì nữa. Giờ chúng ta nói về cái tinh thần Tăng-già một chút. Chúng ta nhớ thế này: là mỗi Tăng Ni phải ghi nhớ trong tâm mình có một cái giáo hội Phật giáo với cái ý nghĩa rất là thiêng liêng được truyền từ Đức Phật. Chúng ta nhớ điều đó. Hiện nay đó, không ai nhắc mình không để ý. Tại vì giờ mình ở một chùa mình tu thì mình chỉ thấy ông thầy trụ trì mình, phải không? Giáo thọ, huynh đệ mình sống ăn đây. Còn giáo hội là cái gì xa vời. Thì lỗi đó cũng do hai cái. Thứ nhất là chính chúng ta, chúng ta phải ý thức mình là một thành
[2:58:36]viên trong một cộng đồng Tăng-già lớn mênh mông cả thế giới này. Mà bây giờ chưa thế giới được thì hãy là một một cái Tăng-già trong một nước Việt Nam mình cái đã. Và cái Tăng-già đó thiêng liêng, dù có nhiều thương tích. Thương tích là cái gì? Là ví dụ chúng ta có nghe nơi này có một vài vị thầy bê bối, nơi kia vài vị thầy bê bối, nhưng mà vượt qua điều đó thì ý nghĩa Tăng đoàn, giáo hội chúng ta vẫn là cái gì thiêng liêng mà suốt cuộc đời chúng ta nguyện gắn bó và phụng sự. Chúng ta nhớ phải ghi khắc trong tâm mình điều đó. Dù bây giờ mình nhiều khi dòm không thấy giáo hội mình nằm ở đâu hết.
[2:59:15]Chỉ có như thầy thầy thư ký á, thầy Minh Thiền á là thầy mới biết Tăng đoàn, giáo hội là ở đâu tại vì thầy suốt ngày làm việc với giáo hội. Còn nhiều khi Tăng chúng mình không để ý. Nhưng dù chưa thấy nhưng trong tâm mình phải tâm niệm điều đó: suốt một đời phụng sự, gắn bó với giáo hội. Nguyện nghĩa là làm cho tăng thêm cái tình đoàn kết của Tăng đoàn, của giáo hội. Chúng ta nhớ điều đó. Và như vậy chúng ta nguyện cả một đời mình là gắn cái sinh hoạt tu tập của mình hòa theo đường lối chung của giáo hội cũng như mình chân thành góp ý để đóng góp ý kiến để xây dựng giáo hội. Vì dĩ nhiên là giáo hội chưa hoàn chỉnh đâu,
[2:59:53]nó còn qua nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm nữa cứ tiếp tục phải xây dựng hoài, phải đóng góp hoài. Thì mỗi người chúng ta vậy, cứ có gì hay chúng ta kiên nhẫn đóng góp, chứ không làm thành đấu tranh manh động, là chứ kiên nhẫn đóng góp âm thầm, phải không? Thì nếu một ngày nào đó quý thầy có duyên rồi vào làm lãnh đạo giáo hội hoặc là lãnh đạo cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh hay thậm chí là về già quý thầy vào tới Trung ương chẳng hạn thì chúng ta phải nhớ là cái vai trò của một người lãnh đạo giáo hội như thế này: thứ nhất á, mình làm cái chất keo để nối cái sự hòa hợp, đoàn kết trong Tăng Ni lại.
[3:00:37]Làm ví dụ mình thấy chùa này chùa kia có những điều chưa đồng ý, mình hòa giải; hệ phái này hệ phái kia có điều còn khúc mắc với nhau, mình đến mình giải thích. Bởi vì tinh thần của Sangha trong đạo Phật là tinh thần hòa hợp, đó là biểu tượng thiêng liêng của chư Tăng. Vì vậy là nếu làm trong Giáo hội thì chúng ta phải xây dựng cái tình hòa hợp, đoàn kết đó. Ở đây tôi nhớ lại một cái kỷ niệm đau buồn từ thời hồi thời mà tôi mới xuất gia vậy. Thì lúc mới xuất gia, tâm hồn tôi trong trắng, ngây thơ, vô số tội. Mà khi khổ cái vào cái chùa gặp quý thầy chuyên môn nói xấu các vị tôn túc. Mà mình thì mình tin quý thầy, tại nghĩ quý thầy đâu có nói dối.
[3:01:26]Cứ chuyên môn không có ông thầy nào mà không bị mấy ông thầy nói xấu hết. Cho nên quãng đời mà mới xuất gia của tôi, trong lòng tôi tôi không có thần tượng ai hết vì nghe nói xấu tan nát hết. Tôi chỉ còn giữ được thần tượng vài vị là Hòa thượng ở Thanh Từ là thầy tôi, rồi Đức Phật, chư vị A La Hán, chư vị thiền sư đắc đạo. Đó là nhờ giữ được những thần tượng trong lòng mà mình tiếp tục mình tu hành. Thế còn bao nhiêu vị tôn túc khác là bị quý thầy phá tan nát hết trơn. Sau này tôi nghĩ lại, tôi hơi hận cái điều đó. Tôi nghĩ rằng cái người mới xuất gia luôn luôn phải có những tấm gương tốt. Quý thầy phải nêu ra được những tấm gương tốt của chư
[3:02:04]vị tôn túc để cho lớp tăng ni sinh trẻ noi theo. Còn đây quý thầy độc miệng, tôi phải dùng cái chữ độc miệng, chuyên môn nói xấu các vị tôn túc. Thì quý thầy đó bây giờ tan nát hết rồi, quả báo xảy ra ông nào cũng te tua hết rồi. Nhưng mà quý thầy đã phá vỡ không biết bao nhiêu tâm hồn của những người mới tu như tôi. May mắn là tôi còn chút thiện căn gượng đứng lên lại, giữ lại. Chứ còn nếu mà tôi nhẹ dạ nữa thì chắc tôi cũng tan vỡ luôn. Vì nếu trong đời mình mà mình không có người để kính trọng thì chắc chắn là mình sa đọa liền. Trong cuộc đời mình phải có người nào đó để mình kính trọng. Nên ở đây tôi gọi đó là một kỷ niệm đau buồn trong cuộc đời.
[3:02:45]Và vì vậy tôi lên án cái việc mà nói xấu những vị tôn túc. Quý thầy nhớ điều này! Trong cái việc mà tạo sự đoàn kết, hòa hợp của tăng ni, có một điều là chúng ta phải ca ngợi những vị tôn túc, những điểm hay của vị đó. Dĩ nhiên không có ai hoàn toàn, nhưng mà những vị đó còn rất nhiều ưu điểm nếu chúng ta chịu khó tìm ra để ca ngợi. Thì vẫn là cái tấm gương tốt cho tăng ni trẻ. Đừng có độc miệng nói bậy, ha. Đó là một cái ác độc đó, phá hoại đạo Phật bằng cách nói xấu những vị tôn túc. Rồi một điều nữa, ví dụ như quý thầy sau này lớn lên làm lãnh đạo Giáo hội ở cấp nào đó thì phải nhớ mình không phải là quan, mà là tôi tớ của tăng ni.
[3:03:29]Nếu nói theo Bác Hồ là tôi tớ của nhân dân, là tôi tớ của tăng ni. Là làm sao? Nghĩa là đừng bao giờ ngồi ở ngay văn phòng đại diện mà chờ tăng ni mang giấy tờ tới ký rồi ngồi hạch sách: "Thôi, không ký đâu! Qua bữa khác lại ký. Này chưa được, không ký nữa." Không phải vậy! Mà mình phải làm sao? Phải chủ động đi tới từng nơi, coi chùa nào được, nào không được, nào biết để mà giúp đỡ. Bổn phận của người lãnh đạo Giáo hội là giúp đỡ, chứ không phải là hạch sách, làm khó, tưởng mình là ông quan. Tôi dặn trước quý thầy như vậy. Nhớ quý thầy là những người mà tôi rất là thương yêu, vì dù sao cũng là học trò của tôi trong bao nhiêu năm.
[3:04:07]Sau này tôi già, ví dụ tôi nghe quý thầy nào đó làm Giáo hội, người lãnh đạo Giáo hội mà thương yêu tăng ni ở vùng đó, làm mọi điều tốt cho người vùng đó thì tôi, tôi sung sướng, hạnh phúc lắm! Còn nếu mà nghe tin quý thầy hạch sách tăng ni, làm chảnh, làm kênh lên là chắc tôi đau khổ lắm! Phải nhớ điều đó. Nhớ mình phải là người hầu hạ, phục vụ, là người cúi xuống, không bao giờ thấy mình là cao, vậy đó. Rồi cố gắng giữ gìn cái sự hòa hợp, không bao giờ được có cái tư tưởng ly khai, đối lập, chống đối, xé Tăng đoàn, Giáo hội ra, không được! Hiến chương có điều gì chưa có hợp lý thì mình góp ý sửa đổi từ từ trong ôn hòa.
[3:04:51]Nhớ như vậy. Chúng ta nhớ điều này. Cuối cùng thì kinh điển và Giáo hội vẫn chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Còn mặt trăng thật sự là gì? Là sự tu hành nơi tâm hồn của mình. Chính Đức Phật cũng nói mà: "Lời Ta nói chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng." Kinh điển dù rất thiêng liêng, rất đáng tôn thờ vẫn chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng. Giáo hội dù rất thiêng liêng vẫn chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Cho nên đừng chấp giáo hội này, giáo hội kia, mà điều quan trọng là sự tu hành ở trong tâm hồn của mình. Nhớ điều đó. Một ngày nào đó quý thầy nghe ai kích động: "Giáo hội này mới đúng, giáo hội kia mới đúng!", quý thầy nói:
[3:05:39]"Biết ngay là người này đã chấp ngón tay rồi, tưởng là mặt trăng." Phải khuyên người đó liền: "Giáo hội chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, phương tiện thôi." Mặt trăng thật sự là sự tu hành chân chính, là giới định tuệ nơi tâm hồn của từng người chúng ta. Nhớ điều như vậy. Và giáo hội hiện nay chúng ta chưa có một giáo hội Phật giáo trên toàn thế giới, chúng ta chưa có. Có cái Giáo hội Phật giáo Thế giới nhưng mà không có trùm hết. Rồi sau này bên phe xã hội chủ nghĩa thì có một cái gọi là Phật giáo Á châu vì Hòa bình, ABCP, nhưng rồi sau khi khối Liên Xô tan rã thì không thấy cái giáo hội Phật giáo đó hoạt động nữa.
[3:06:18]Còn Giáo hội Phật giáo Thế giới thì chúng ta cũng thấy không mạnh. Thì đây là điều mà chúng ta suy nghĩ. Là nếu sau này có một giáo hội rồi từng cái giáo hội đó liên kết lại để thành một cái Phật giáo thế giới. Tuy nhiên cái Phật giáo thế giới chúng ta nó sẽ không có giống như Vatican. Bởi vì Vatican á là họ ở trên họ họ chỉ xuống, từ nơi Vatican họ sẽ phân bố các thừa sai, các linh mục, các tu viện, các nhà thờ khắp nơi trên thế giới, từ nơi Vatican đẩy ra, cho nên cơ cấu họ rất là chặt chẽ và thống nhất. Còn nếu sau này mình thành lập được một giáo hội Phật giáo thế giới đó, thì do liên kết từ ở dưới lên lại.
[3:07:01]Cho nên không có cái quyền lực chặt chẽ như Vatican. Ở đây nó đòi hỏi sự liên kết tự nguyện nếu sau này có một Giáo hội Phật giáo Thế giới. Mình phải đoán trước là như vậy. Là không có mong đợi có một cái giáo hội chặt chẽ như Vatican. Vì tinh thần đạo Phật là như thế, mình không có bắt buộc. Thứ hai là do hoàn cảnh lịch sử là như thế, chỉ là sự liên kết tự nguyện của mỗi quốc gia lại, nhưng chúng ta mong điều đó. Sau giải phóng có một số thầy di tản qua bên nước ngoài lại cũng duy trì sinh hoạt giáo hội lại. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hải ngoại, Giáo hội Tăng già Khất sĩ thế giới gì nhiều lắm.
[3:07:41]Tuy nhiên, đúng ra đó thì quý thầy tị ở đâu có một cái tăng đoàn như vậy là đúng, tốt. Nhưng đừng chống qua giáo hội khác, đừng ở bên đó không nên chống về Việt Nam. Bởi vì Giáo hội Việt Nam đang ổn định và chư Tăng đang tu hành từ từ. Và cũng không nên xé cái giáo hội, tăng đoàn ra, mà nghĩ đến chuyện liên kết lại. Một ngày nào đó quý thầy ví dụ như Giáo hội Phật giáo bên hải ngoại về với Việt Nam liên kết lại với nhau. Giống như trên tinh thần mà chúng ta nói, liên kết hết giáo hội Phật giáo trên toàn thế giới để trở thành một Giáo hội Phật giáo Thế giới thống nhất, đó là điều lý tưởng nhất, chứ không có chống, không có chống.
[3:08:19]Giờ chúng ta nói qua giá trị của Giáo hội. Mục đích của Giáo hội là gì? Mục đích của Giáo hội, của Tăng đoàn là gì? Hử? Lãnh đạo tăng ni làm chi vậy? Đó, chữ "tu hành" mới là chính. Chúng ta nhớ thế này: Mục đích của Giáo hội, Tăng đoàn là giúp tăng ni tu hành, có được đạo lý chân chính và sự an tịnh trong tâm hồn mỗi người. Nhớ đó là mục đích. Vì hôm trước chúng ta nhớ là cái trong quan điểm Phật sự đầu tiên á, cái mục đích cao cả nhất của Phật sự là gì? Đó, là làm cho chúng sinh được giác ngộ giải thoát, phải không? Thì Giáo hội cũng là một Phật sự thì phải hướng về cái mục đích này, đi trật là sai liền.
[3:09:03]Vì vậy, công việc của Giáo hội, giá trị của Giáo hội, mục tiêu của Giáo hội là giúp cho tăng ni tu hành có được giới, có được định, có được tuệ. Chứ không phải sự có mặt của Giáo hội để bày chuyện ra làm rườm rà, hình thức, làm bận tâm thêm, nhớ như vậy. Nhiều người nhiều khi làm việc Giáo hội quên mất cái mục tiêu này, bày chuyện không à. Bày chuyện nhiều khi họp hành nhiều quá, quy định nhiều quá, thủ tục nhiều quá làm tăng ni mệt. Đó là mình hiểu sai về mục đích của Tăng đoàn. Cho nên phải làm sao gọn nhẹ, mà giúp hỗ trợ cho tăng ni tu hành. Thấy cái chùa đó nhiều khi thấy đường lối tu còn yếu,
[3:09:43]cho người tới hỏi han, cho người tới góp ý, giáo dục, kêu cho đi học, vân vân. Đó là như vậy. Rồi thấy cái chùa đó ví dụ học giỏi mà chưa có nền nếp tu, thì khuyên cái chùa đó phải tăng thêm cái sự tu tập, thiền định, niệm Phật gì đó để mà tăng cái tu hành lên. Nghĩa là Giáo hội là như vậy. Chứ không phải Giáo hội là nơi để mà giải quyết thủ tục hành chánh mà gây rắc rối, làm bận tâm, lễ lạt đồ nhiều, không phải, không phải. Chúng ta nhớ đó là cái mục tiêu chính của Giáo hội như vậy. Nếu mà chúng ta quên là mình đi lạc liền. Làm sao mà khi tăng ni họ nghĩ tới Giáo hội, họ biết ơn. Vì họ thấy là các vị trong Giáo hội quan tâm chăm
[3:10:22]sóc cho đời sống, cho sự tu học của tăng ni. Giúp đỡ, cái gì cũng giúp hết chứ không có làm khó. Mà tăng ni sai thì sửa, góp ý làm như vậy sai, sửa lại, sửa lại cho đúng. Đúng rồi giúp đỡ liền. Đó là những người Giáo hội tốt, làm việc Giáo hội tốt. Quý thầy sau này nhớ. Nhiều khi quý thầy nhiều khi làm lớn tới chừng tôi về già tôi lại xin giấy cự nự không cho là tôi buồn lắm đó nha. Rồi chúng ta nhớ điều này nữa là từ xưa đến nay đó, thì giáo hội vẫn cần một cái sự tương quan với chính quyền, nhưng không phải là một bộ phận của chính quyền. Đây là điều chúng ta phải xác định lại. Là thường thường quan điểm của nhà nước á
[3:11:05]thì nhà nước có thành lập một cái Mặt trận Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc và dưới Mặt trận Tổ quốc này là tập hợp nhiều đoàn thể. Trong đoàn thể này có một mảng là tôn giáo và trong tôn giáo này có Phật giáo. Như là đây là tổ chức thanh niên, đây tổ chức phụ nữ, đây tổ chức là cựu chiến binh, vân vân. Họ có nhiều tổ chức, có tôn giáo và tôn giáo Phật giáo. Thì đây là biểu đồ do nhà nước lập. Nhà nước lập thì kệ nhà nước. Nhưng mà chúng ta phải nhớ mình có cái tương quan gắn bó với mặt trận, với Ban Tôn giáo, với công an, với chính quyền sở tại, vì mình là người công dân, mình là một cái thành phần của xã hội.
[3:11:44]Tuy nhiên, mình nhớ mình không phải là một bộ phận của chính quyền, nhớ điều đó. Nhà nước thì họ sắp vậy để cho họ dễ quản lý là nhìn vào đây họ biết cái cách làm việc, nhưng đó là việc của nhà nước. Còn riêng phần mình thì mình không phải là bộ phận của nhà nước, mà có tương quan nhưng không phải là bộ phận. Sao vậy? Là vì nhà nước á thì lo việc thủ tục quản lý, lãnh đạo quốc gia, còn giáo hội thì lo việc tu hành, hướng dẫn tinh thần cho mọi người, nên hai cái đó khác nhau. Vì vậy là chúng ta có cái vai trò đối với xã hội, nhất là vấn đề từ thiện và giáo dục đạo đức, nhưng chúng ta không dấn sâu vào quyền lực chính trị
[3:12:27]vì chúng ta không phải là chính quyền, khác hẳn, phải khẳng định điều đó. Rồi vấn đề cuối cùng quan trọng nữa là vấn đề cư sĩ tại gia. Người cư sĩ tại gia thì không được xếp vào trong Tăng-già, vì chữ Tăng-già ban đầu chỉ là dành cho người người xuất gia thôi, chứ cư sĩ tại gia không có vai trò ở trong Tăng-già, đó là trên lý thuyết. Nhưng trên thực tế thì sao? Người cư sĩ tại gia rất quan trọng vì đó là những người hộ đạo. Hộ đạo. Và có nhiều người cư sĩ tại gia có trí thức, có hiểu đạo, thuần thành, đã đóng góp rất nhiều công lao cho đạo pháp. Và ví dụ như quý thầy mà có cái điều sai lầm cũng ảnh hưởng tới sự tu hành của cư sĩ,
[3:13:12]dư luận của cư sĩ, tâm tình của cư sĩ rất nhiều. Thì cái vùng đó mà quý thầy bậy bạ, người cư sĩ họ cũng đau khổ. Cho nên cái thái độ, cái tâm tình, cái dư luận, cái nguyện vọng của người cư sĩ phải được trân trọng đối với Tăng đoàn, với giáo hội. Ví dụ như quý thầy ở đây, quý thầy sống bằng cái gì? Kinh tế mình do đâu có? Phật tử phải không? Hồi sáng tôi hỏi Thiên Phước thì Thiên Phước nói: "Dạ, do làm ruộng". Tôi hỏi: "Làm ruộng đủ ăn không?". Dạ, nói: "Dư ăn". Cái tôi tính tính bí rồi, nhưng tôi sực nhớ ra, tôi nói: "Không, đủ ăn mà ăn gạo ăn gạo trắng không à, ăn cơm trắng chứ không có thức ăn.
[3:13:51]Thức ăn cũng do cư sĩ". Thì ở đây quý thầy thành thật ha là đúng là do cư sĩ giúp đỡ, phải không? Cất chùa cũng là tiền của ai? Cư sĩ. Quần áo của ai? Bàn ghế của ai? Cư sĩ không à. Rõ ràng là chúng ta sống nhờ cư sĩ. Cư sĩ là người hộ đạo, nên cái ảnh hưởng cư sĩ đối với giáo hội quan trọng. Vì vậy là mặc dù trên tích... tịch định á thì Tăng-già không phải là bao gồm cả cư sĩ, tuy nhiên là mỗi những quyết định gì quan trọng lớn lao của giáo hội, chúng ta nên tham khảo ý kiến của người cư sĩ. Vậy. Trước khi là mình quyết định hẳn. Có ai hỏi gì thêm không? Có ai thắc mắc gì không? Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[3:14:38]Kính bạch thầy, vừa rồi con có về tịnh xá Ngọc Duyên Dinh thì có một chú tử chú hỏi là chú tụng kinh Pháp Hoa, trong kinh Pháp Hoa Đức Phật dạy là cái đời sau này nếu có người nào mà dùng cái ngón chân của mình rồi nhấn xuống lấy cõi Tam Thiên Đại Thiên quăng qua bên thế giới bên kia cũng dễ hơn là người tụng kinh Pháp Hoa. Hay là những người mà dùng cái bàn tay của mình nắm hư không rồi giục ra khỏi thế giới bên kia cũng vẫn dễ hơn là người đời sau tụng kinh Pháp Hoa. Thì con hẹn đến khi con gặp thầy, xin thầy giải thích. A Di Đà Phật. Tôi có giảng cái này trong 28 cuộn băng Pháp Hoa. Đón nghe.
[3:15:27]Tôi có giảng hết, những cái điều đó tôi có giảng hết. Tại vì kinh Pháp Hoa thường là biểu tượng, là những cái ẩn ý không à. Kinh Pháp Hoa thường nói lý và nói sự. Nên mình hễ mà có một cái phái thì chuyên nghiên cứu kinh Pháp Hoa trên lý, có cái phái chuyên nghiên cứu kinh Pháp Hoa trên sự. Nhưng mà bài giảng của tôi thì cả lý và sự. Có những cái ý nào lý là quan trọng thì tôi giảng chỗ đó lý không. Chỗ ý nào sự quan trọng thì tôi giảng sự không. Có khi là cả hai thì giảng cả lý và sự. Tại vì kinh Pháp Hoa cái ẩn ý khó. Nói rằng trì tụng kinh Pháp Hoa, ở đây là cái ẩn ý làm sự tu hành chân chính, đơn sơ và sâu sắc.
[3:16:12]Đó là tượng trưng cho cái tri kiến Phật, hoặc là nói như là mình tu để tập để mà nhập được Phật tánh, mở mà ra được tri kiến Phật. Thì con đường mà để mở ra được tri kiến Phật á, con đường đó tuy nó đơn sơ thấy như không có gì mà nó sâu sắc, kỹ lưỡng nên cái đó cực kỳ khó. Ví dụ chúng ta làm cái gì cho nó rườm rà dễ thấy á thì dễ mà nhiều khi nó lại rỗng, không có giá trị. Còn làm một cái rất có giá trị mà hình thức bên ngoài nó đơn sơ, trong nội tâm cũng như bên ngoài đơn sơ nhưng mà rất sâu sắc và đưa được tới tột đỉnh giải thoát, cái đó khó. Đó là ý nghĩa gọi là trì kinh Pháp Hoa. Thì có thể là người đó họ có quyền lực, có thần thông,
[3:16:55]nhưng mà chưa chắc họ có cái trí tuệ để thấy được đạo lý từng chút, từng chút. Nhớ như vậy. Cái mà trí tuệ để thấy được đạo lý từng chút, từng chút trong cuộc sống, trong nội tâm, trong giáo lý, trong cuộc đời này nọ, nó khó hơn là tu để có thần thông. Có nhiều người tu có thần thông, nhưng mà nhiều khi vẫn không thấy được đạo lý. Nên có một lần tôi nói mà quý thầy không biết có nhớ không? Tôi nói nhiều khi cái gặp một vị đó tu chứng á, chứng thần thông á, nhưng chưa chắc vị đó giáo hóa đúng. Quý thầy có nhớ câu nói đó không? Là như vậy á. Tại vì cái mà giáo hóa đúng á là đòi hỏi thấy được đạo lý chia
[3:17:36]chẻ trong từng đường tơ kẽ tóc, từng chút từng chút một. Cái đó thuộc về cái trí tuệ rất khó có. Còn cái thần thông, nhiều khi tập mình có cái duyên phước gì đó vẫn đạt được, là như vậy. Nên thời xưa, tại sao cùng chứng A-la-hán hết mà chỉ có ngài Xá Lợi Phất được gọi là trí tuệ đệ nhất là vậy á. Khó vô cùng. Cho nên việc gọi là trì kinh Pháp Hoa là đi con đường của trí tuệ, của đạo lý. Nó như không hình không tướng mà cực kỳ sâu sắc, cái đó rất là khó. Người nhiều khi đạt được thần thông nhưng vẫn không đạt được điều này. Nên kinh Pháp Hoa vậy, nói ẩn ý dữ lắm. Ví dụ như phẩm Phổ Môn vậy, nói niệm Bồ tát Quan Âm thì
[3:18:12]thoát được những tai nạn lửa cháy, nước trôi kia nọ. Thì cái đó nhiều người thì chủ trương là sự, đúng, niệm là có như vậy, nhưng mà không giải thích tại sao. Vì nếu mà chỉ cần niệm Phật thoát tai nạn thì mất nhân quả. Như vậy nhân quả nằm ở đâu? Phải giải thích cho ra. Hoặc có người giải thích theo lý, thì nói niệm Bồ tát Quan Âm là quay trở về với tự tánh của mình, giữ tâm thanh tịnh thì tâm mình không đau khổ, thoát được ngoài cái đau khổ của thế gian, thì đó là giảng theo lý. Nhưng mà nó cả hai, lý và sự, thì phải giải cho ra. An ổn cỡ nào thì thoát được đau khổ, mà niệm Phật làm sao mà thoát được tai nạn, nhân quả nằm ở chỗ nào?
[3:18:48]Phải giải thích cho ra. Thì những điều đó tôi có giảng trong hai mươi mấy cuộn băng Pháp Hoa. Nói vị đó đón nghe. Thôi nghỉ ha. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
[3:19:12]đệ tử và chúng sanh