Transcript: Kinh Pháp Hoa 05 - Phẩm Dược Thảo Dụ

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:32:42

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mời quý phật tử ngồi xuống.

[0:28]Mình nghe tiếp cái phẩm Dược Thảo Dụ.

[0:35]Cái đoạn mà Phật nói rằng như cái hình ảnh mà một đám mây tạo thành mưa rơi khắp cả trời đất, thì cũng vậy, Đức Phật hiện ra ở đời như một vầng mây lớn. Ngài thuyết pháp làm cho người chưa tỏ ngộ thì làm được ngộ, người chưa an thì làm cho được an, người chưa chứng Niết Bàn thì làm cho chứng Niết Bàn. Đoạn này: "Ta là bậc Nhất Thiết Trí, bậc Nhất Thiết Kiến, là bậc tri đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Các ngươi hàng trời, người, A-tu-la đều nên đến đây để mà được nghe pháp." Cái câu này rất là tế nhị. Nếu mà chúng ta không khéo, chúng ta nghĩ rằng câu này nó giống như một sự bộc lộ, phô trương, khoe khoang, phải không?

[1:37]Khi mà một người tự nói về mình. Chúng ta thấy một lần nữa, trên cuộc đời này mọi cái giá trị đều là tương đối. Bất cứ một cái câu nói nào hay hay dở, nó đều có cái mặt tốt cũng như mặt xấu của nó, tùy cái trường hợp mà thành. Cũng như một người bình thường ví dụ như là chúng tôi, mà tự nhiên tôi đứng lên tôi nói: "Tôi là người đắc đạo và mọi người nên đến đây nghe tôi thuyết pháp", thì cái câu nói đó nó có lợi cho mọi người không? Có không? Có không? Không, phải không? Bởi vì Phật tử nghe xong đánh giá: "Ông thầy này khoe khoang, mà bây giờ mình hay dùng cái từ là nổ đó. Ông thầy như vậy là ổng không có đạo đức.

[2:30]Tại vì người có đạo đức phải là người kín đáo, giấu giếm, chỉ để cho những người chung quanh họ tự nhận xét về mình. Mình hay mình dở thì người chung quanh họ tự biết, còn bản thân mình thì mình chỉ nên tìm cái dở của mình mà khắc phục mãi mãi, thì đó là người tu chân thật, chứ không thể người tu tuyên bố rằng mình là người rất cao siêu." Như vậy, khi một người mà tuyên bố rằng mình là một người rất cao siêu thì người đó có vẻ khiếm khuyết về mặt đạo đức, phải không? Nhưng ở đây, Đức Phật lại xác định về mình rất mạnh. Thì như vậy, Đức Phật có cái lỗi của một người mà khoe khoang chưa đủ đạo đức không?

[3:20]Nói nhỏ miệng coi, phải không? Đức Phật có mắc lỗi đúng y vậy không? Đúng không? Chúng ta thấy mọi giá trị đều tương đối là như vậy đó. Cái mà nó đúng ở chỗ này, chưa chắc nó đúng ở chỗ khác. Cũng một câu nói đó, nhưng mà nếu tôi nói thì tôi là một người chưa đủ đạo đức, nhưng nếu Đức Phật nói thì là một điều có lợi cho chúng sinh. Tại sao vậy? Bởi vì sao? Bởi vì tôi chưa có hết được cái ngã chấp. Tôi là người còn ngã mạn, còn tự cao, thì tôi nói cái câu đó đó là nó xuất phát từ cái gì? Từ cái tự cao của mình, phải không? Từ cái khoe khoang của mình, nên câu nói đó đem ra nó không có lợi cho ai hết.

[4:14]Còn Đức Phật, Ngài không còn ngã chấp, không còn tự cao. Ngài nói lên câu đó đó, Ngài muốn chi? Muốn cho người khác củng cố được cái hướng đi, cái niềm tin. Vì sao như vậy? Vì khi mà mình là một người đệ tử mà mình biết ông thầy của mình rất giỏi, mình tin được ông thầy mình rất giỏi, thì mình có tu hành lơ đãng được không? Không, phải không? Tự nhiên nó có một cái sự thôi thúc khiến mình cứ tiến tới, tiến tới mãi. Cho nên cái lòng tin đối với một bậc đạo sư là điều rất quan trọng cho người tu hành. Vì vậy, Đức Phật khẳng định cái chỗ đến, cái chỗ chứng của mình là một điều làm lợi ích cho chúng sinh.

[5:05]Nên cái câu này nó tế nhị. Quý Phật tử đi đến chỗ nào cũng vậy, nghe một ông thầy nào mà ổng nói cái chỗ chứng của ổng thì mình khoan kết luận đây là ông thầy khoe khoang, hay là ông thầy này ổng ổng muốn củng cố cái niềm tin cho mình, đừng có kết luận vội, mà tùy xem coi ông này đã hết ngã chấp hay chưa. Nếu cái ông thầy đó hết ngã chấp, thì điều mà ổng nói cái chỗ chứng của ổng á là điều ổng muốn cho mình củng cố niềm tin và mình cố gắng đi theo ổng để tu. Còn nếu mình thấy ông thầy này còn ngã chấp, thì ổng nói cái chỗ chứng của ổng thì ông này mắc cái bệnh khoe khoang. Cho nên ở đây, Đức Phật khi nói tới phẩm Dược Thảo Dụ

[5:53]là Đức Phật muốn khẳng định, muốn củng cố cái niềm tin của của các đệ tử. Chỗ này chúng ta để ý như vậy. Rồi khi vô số nghìn muôn chúng sinh đến chỗ Đức Phật để nghe pháp, lúc đó Đức Như Lai xem xét các căn tánh, cái người thông lợi hay là người ngu độn, người tinh tấn hay giải đãi, rồi sức họ nghe được chỗ nào, cỡ nào để mà nói pháp. Đây là cái chỗ khéo.

[6:25]Rồi các chúng sinh này nghe pháp rồi hiện đời được an ổn, đời sau sanh về được chỗ lành, do thọ hưởng được niềm vui, được nghe pháp, được tu hành mà lìa khỏi các chướng ngại, rồi lần lần theo sức mình mà chấp nhận được để tiến sâu vào đạo dần dần. Đó là lợi ích của một người được nghe pháp. Thì cái chỗ này nó có hai cái ý nghĩa trong đoạn này. Đoạn thứ nhất là người thuyết pháp phải biết cái trình độ, cái căn tánh của người nghe để mà nói cho cho thích hợp. Với cái người mà họ có trí tuệ sâu xa thì mình nói cái giáo pháp vi diệu, họ nghe họ thích, họ tiến vào. Nhưng với những người căn tánh còn mới mẻ quá thì sao?

[7:12]Thì mình phải nói những pháp nó vừa chừng, thích hợp. Có những người họ đến với đạo lâu mà kỳ thực vẫn còn mê tín, hiểu không sâu thì cũng đừng mà nói pháp quá cao. Có những người mới đến với đạo nhưng mà thật ra sao? Họ có cái trí tuệ thì mình vẫn có thể nhanh chóng đưa cho họ tiến sâu vào đạo được. Nên đây là cái cái khả năng của người thuyết pháp, đòi hỏi người thuyết pháp phải có cái trực giác ứng được với cái tâm của người nghe. Chỗ này khó lắm. Ví dụ như sau này một kiếp nào đó hay kiếp này, quý Phật tử tự nhiên chết qua đời sau cái tu hành làm giảng sư, ví dụ như mấy cụ đó, nhờ cái công đức tu hành

[7:59]mình qua đời sau được làm tăng, được làm giảng sư. Khi mình ngồi mà mình thuyết pháp á, thì xem cái người ngồi nghe cái tâm của mình ứng với tâm họ để biết cái trình độ của họ cỡ nào mà nói pháp, nói cho thích hợp. Nhưng mà điều nó khó thế này: khó là giữa cái chúng hội đông như thế này, cái căn tánh sai biệt, người thuyết pháp không có dễ dàng. Mình nói từng người thì dễ, nói từng người trao đổi, mình biết trình độ của họ mà mình nói pháp thích hợp. Nhưng khi nói pháp nơi đông người, nói quá cao thì chỉ một vài người hiểu, mà nói quá thấp thì những người khác lại chán. Cho nên nói vừa chừng, vừa chừng,

[8:38]chung chung, chung chung theo cái trình độ của của chúng hội, như vậy. Cho nên quý Phật tử khi mà nghe chúng tôi giảng cái bộ kinh Pháp Hoa này thì đừng nghĩ rằng đã nghe hết cái ý nghĩa của bộ kinh. Phải không? Vì sao? Vì chúng tôi không dám nói nói quá cao. Không dám nói quá cao, nói vừa chừng. Chỉ có những người nào có tu hành, có nghiên cứu, có thắc mắc đến hỏi riêng á, thì tùy theo trình độ của người đó, chúng tôi sẽ sẽ giải thích thêm ha, còn ở đây thì mình chấp nhận nghe vừa chừng.

[9:15]Có một đoạn thế này: "Như đám mây rưới nước một vị, nhưng mà trong cái khu rừng đó mỗi loại cây sinh trưởng khác nhau, có cây thì phát triển lớn lên thành cổ thụ, có những cây cũng chỉ trở thành cây cỏ mãi mãi." Cũng vậy, Đức Như Lai chỉ nói một tướng một vị, nghĩa là tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng tịch diệt rốt ráo đến bậc Nhất Thiết Chủng Trí. Có chúng sinh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì, đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức không thể nào tính kể được, tự mình không biết được công đức đó. Ở đây nó có hai ý nghĩa. Thứ nhất á là Phật nói vô biên pháp nhưng pháp nó chỉ có một một vị, là vị gì?

[10:03]Vị giải thoát, cô đó nói đúng. Ở nơi cái vị giải thoát này, Đức Phật có phân ra làm Tiểu thừa, Đại thừa không? Có không? Có không? Không phải không? Bởi vì đây là bộ kinh Pháp Hoa là kinh Đại thừa mà Phật xác định Phật chỉ nói một vị giải thoát. Còn những bộ kinh nguyên thủy mà mình gọi là Tiểu thừa đó, Phật cũng xác định Ngài chỉ nói một vị, vị giải thoát. Cho nên ở cái điểm này, các Phật tử từ đây về sau đừng có phân biệt Phật giáo Tiểu thừa, Đại thừa nha, làm cho Phật giáo bị chia rẽ. Tại vì mình không hiểu thôi mình mới chia làm đôi, làm ba. Chứ nếu mình hiểu như mình đã tụng kinh Pháp Hoa,

[10:45]mình hiểu được thì đại dương chỉ có một vị một vị mặn thì giáo lý của Như Lai chỉ có một vị là là giải thoát. Cái giải thoát này chúng ta thấy nó thâm sâu lắm. Như một người tu hành nói cao, nói thấp gì đó mình không biết. Hôm nào mình đến gặp một vị thầy nào đó, nói là tu cao lắm, mình không biết. Thì quý Phật tử không cần đánh giá cái vị thầy đó là có thần thông, rồi nhìn biết quá khứ, vị lai, mình đến mình hỏi chuyện làm ăn ổng trả lời đúng, là không cần để ý cái đó. Mà chỉ để ý ổng có làm sao? Có cái tính chất của giải thoát hay không, có bớt cái phiền não, vọng động hay không. Đó, đó là cái giá trị của của đạo Phật, dù là Tiểu thừa hay Đại thừa.

[11:34]Còn nói cái năng lực của một người đó, có khả năng mà có thần thông, biết quá khứ, vị lai, chuyện này, chuyện kia đó, coi vậy chớ nó không phải là cái gốc. Không phải là cái nền tảng chân thật của đạo Phật. Mà nền tảng chân thật của đạo Phật nó nằm nơi cái tâm hồn bình yên, giải thoát, thanh thản, nhẹ nhàng. Đó là cái cái căn bản của đạo Phật. Cho nên quý Phật tử cũng vậy, mình đến với chùa tu hành, mỗi tháng mình thọ Bát Quan Trai, mình được nghe giảng thì mình đánh giá cái sự tiến bộ của mình nằm ở chỗ nào?

[12:12]Nó không phải nằm ở chỗ là hôm nay mình thuộc được cái bộ kinh Di Đà, mai tôi thuộc chú Đại Bi, mốt tôi thuộc được nửa bộ Pháp Hoa, vân vân. Không phải đánh giá chỗ đó, mà đánh giá ở cái chỗ cái tâm mình nó đã từ từ được giải thoát, nhẹ nhàng hay hay chưa. Bởi cái đoạn này nói nè: "Có chúng sinh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì, đọc tụng đúng như lời dạy mà tu hành, đúng như lời dạy mà tu hành." Nên cái quan trọng của người tu theo đạo Phật, cũng như một người tu theo kinh Pháp Hoa là đúng như lời dạy mà tu hành. Cái chỗ này nhắc nhở Phật tử chúng ta điều gì? Có người á tu theo Pháp Hoa cho rằng tu là cái gì?

[12:59]Tức là tụng Pháp Hoa thật nhiều, gọi là gọi là công phu tu hành, phải không? Ở đây có ai như vậy không? Có nhiều nơi như vậy đó, cứ nói rằng: "Tôi tụng được 30 bộ", người kia: "Tôi tụng được 40 bộ", nói rằng công phu của tôi là nhiều. Nhưng ở đây Đức Phật nói "đúng như lời mà tu hành". Chính cái tu hành trong đời sống hằng ngày của mình đó là cái giá trị để đánh giá cái sự tu của mình, chứ không phải là mình tụng rất nhiều kinh điển, không phải là mình có thể nói lại cho người khác nghe rất hay, không phải. Mà chính cái là mình áp dụng trong đời sống. Ví dụ như khi mình ở chùa như vậy, khi mình bước khỏi cổng chùa,

[13:42]mình về nhà sống trong đời sống tại gia cư sĩ, bao nhiêu điều phải lo toan, bao nhiêu điều mình phải đối phó, phải tranh đấu. Mà trong những cái điều kiện khó khăn, khắt khe đó, mà tâm mình vẫn làm sao? Vẫn cố gắng giữ được cái cái đạo đức, giữ được cái tinh thần giải thoát mà kinh Pháp Hoa nói, thì đó là "đúng như lời mà tu hành" thì được cái công đức mà tự mình không biết hết được. "Vì sao? Vì chỉ có Như Lai là biết chủng tướng, thể tánh của chúng sinh đó, nhớ việc gì, nghĩ điều gì, tu việc gì, nhớ thế nào, nghĩ thế nào, tu thế nào, dùng pháp gì để nhớ, dùng pháp gì để nghĩ, dùng pháp gì để tu, dùng pháp gì được

[14:25]pháp gì." Cái đoạn này Đức Phật nói thế này, nghĩa là với một người đó, ví dụ như họ nặng về tham lam thì phải dạy cho họ nhớ tưởng đến cái giáo pháp của sự xả bỏ. Và dùng cái pháp đó để cho họ xóa cái tham lam, đi vào đạo. Một người hay sân thì dạy cái pháp của lòng từ bi, của sự trầm tĩnh, nhờ cái pháp đó đưa họ họ vào đạo.

[14:55]"Chúng sinh ở nơi các bậc, chỉ Đức Như Lai thấy đó đúng như thật rõ ràng, không có ngăn ngại. Như cây cối lùm rừng, các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng, trung, hạ của nó." Có cái đoạn thế này: "Đức Như Lai biết pháp một tướng một vị, đó là tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo, Niết Bàn thường tịch diệt. Phật biết như thế rồi, xem xét tâm ưa muốn của chúng sinh mà dìu dắt, cho nên chẳng vội vì chúng sinh mà nói Nhất Thiết Chủng Trí." Chỗ này là sao? Tức là Đức Phật củng cố cái giải thoát trước, củng cố cái đạo đức trước, cái thiền định, cái giải thoát trước chứ không có nói cái Nhất Thiết Chủng Trí.

[15:38]Hôm trước có ai nhớ Nhất Thiết Chủng Trí không? Giảng rồi. Có ai nhớ không? Như vậy là hai cái lỗ tai mình rất là thông á ha. Mình nghe bên đây nó bay qua đi mất luôn chứ nó không có rớt lại ở giữa. Nhất Thiết Chủng Trí là tất cả trí, biết rất nhiều, biết rất nhiều loại, phải không? Đó, rất nhiều loại. Thì thôi không giảng lại, nếu ai muốn hiểu thì nghe lại nha, đến thầy trụ trì hỏi lại cái băng hôm trước, nghe Nhất Thiết Chủng Trí là cái gì, nên nay không có lặp lại. Nó là khía cạnh tích cực của sự giải thoát. Thường á chúng ta đến với đạo Phật nói đạo Phật chỉ nói giải thoát, tịch diệt, hư vô, giống như đạo Phật là một đạo tiêu cực.

[16:25]Nhưng Đức Phật chấp nhận, cứ cho họ hiểu như vậy trước. Chỉ khi nào họ đạt được cái giải thoát, cái tịch diệt, cái hư vô đó, họ mới thấy cái vĩ đại của nó, cái khía cạnh tích cực của nó. Từ nơi đó mà nó phát sinh ra vô số cái trí tuệ, vô số công hạnh, vô số thần thông. Đây là cái chỗ này mà Đức Phật không nói vội, nên là không vì chúng sinh mà vội vàng nói cái Nhất Thiết Chủng Trí. Chỗ này nó ứng với cái thời đại của chúng ta là khi một người đến học đạo, nếu mà nghe cái giáo lý cao quá dễ đưa đến cái chỗ chỗ ngạo mạn. Người đó cứ tiếp tục đào sâu trong lý luận, rồi đem lại nói nơi này, nói nơi kia

[17:09]rồi không có thực hành, trở thành cái tự cao, ngã mạn. Mình có cái sở đắc, cho rằng mình đã giỏi giáo lý mà không chịu thực hành vào nội tâm. Đây là chỗ dở của người mà lý luận nhiều. "Khi đó, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói rằng: Pháp Vương phá các cõi," Câu này nó hơi khó nghĩa, nên giải thích một chút. "Pháp Vương phá các cõi", Pháp Vương là ai? Pháp Vương là ai? Hả? Là Phật. Pháp Vương tức là Phật, tức là vị vua trong giáo pháp.

[17:47]"Phá các cõi", phá các cõi không phải là Đức Phật đi đập cho tan tành hết các cõi, mà Đức Phật đã phá xong cái sự ràng buộc của các cõi, nên cái chữ phá các cõi này có nghĩa là có nghĩa là giải thoát, nha. Ví dụ như mình nói phá nhà thì không phải hiểu như mình là mình đập cái nhà mình cho tan tành, mà hiểu cái chữ phá ở đây có nghĩa là mình thoát khỏi sự ràng buộc của cái cái nhà, nghĩa là mình đi tu. Chứ đừng có nói: "Tôi phá được nhà" là thôi tôi lấy búa tôi đập được cái nhà. Nên Đức Phật, Pháp Vương phá các cõi là người đã thoát khỏi sự ràng buộc của các cõi.

[18:31]Là Khi mà Đức Phật nói pháp này, kẻ không trí nghi ngờ thời không còn chủng tử.

[18:41]Cái người mà không có trí tuệ, nghe pháp của Phật mà không tin, có cái nghi ngờ, thì không còn cái nhân duyên nữa. Cái điều này thì nó đương nhiên thôi. Còn nếu mà mình nghe giáo pháp của Phật, mình phát sinh được cái niềm tin, mình hiểu được và mình chấp nhận được, thì mình tức là mình có cái nhân duyên để từ đây và những kiếp về sau mình tiến tu thêm, phải không? Còn người không hiểu được rồi đâm ra nghi ngờ, bài xích, thì người đó mất cái duyên đối với đối với Phật pháp.

[19:15]Cái đoạn, "Thí như vừng mây lớn nổi lên trong thế gian, che trùm khắp tất cả, mây trí tuệ chứa nhuần, chớp nhoáng sáng chói lòa, tiếng sấm xa vang động, khiến mọi loài vui đẹp. Nhật quang bị che khuất, trên mặt đất mát mẻ, mây mù sa bổ gần như có thể nắm được." Đây là một hình ảnh hùng vĩ, giàu tính nghệ thuật. Đức Phật nói Ngài xuất hiện cách bình đẳng, đem lại lợi ích tất cả chúng sinh, Ngài không có phân biệt. Nhưng mà chúng sinh thì sai khác, mà lòng Ngài đối với chúng sinh chỉ có một lòng thương yêu mà thôi. Thì giống như hình ảnh mà một cơn mưa lớn nổi lên tung rải khắp cả trời đất. Và đoạn kinh này thì rất là đẹp đẽ, hình ảnh hùng vĩ, giàu tính nghệ thuật.

[20:08]Nay mình nói phớt phớt qua. "Tất cả các giống cây: hạng thượng, trung và hạ, tùy theo tánh lớn nhỏ đều được sinh trưởng cả. Gốc, thân, nhánh và lá, trổ bông trái sắc vàng, một trận mưa rưới đến, cây cỏ đều thấm mướt, theo thể tướng của nó, tính loại chia lớn nhỏ, nước đượm nhuần vẫn một mà đều được sum sê. Đức Phật cũng như vậy, hiện ra nơi trong đời, ví như vừng mây lớn." Thì chúng ta thấy là ai cũng nghe chung một Phật pháp, nhưng mà sự phát triển khác nhau. Người thì thích tụng kinh nhiều, phải không, cho rằng tụng kinh là mình tu hành, nên sau này thích. Người lại thích ngồi thiền nhiều, cho rằng mình đi vào sự an

[20:55]định của nội tâm, đó là cái con đường cốt lõi để tu hành. Người tự nhiên nghe Phật pháp xong, tự nhiên phát tâm bố thí. Thích làm cho có tiền đem giúp nơi này nơi kia, thấy những người nghèo khổ mình cho, thấy chùa nghèo mình giúp, thấy viện mồ côi, trại dưỡng lão hay đồng bào bị tai nạn, vân vân, mình đi giúp đỡ. Tự nhiên cũng một Phật pháp, mình nghe đều hết nhưng mỗi người khởi một cái sở thích phát triển theo một cái hướng của mình, đó. Người thì lại thích thuyết pháp. Sau khi nghe pháp được, hiểu rồi, thích nói lại cho người khác nghe. Người thích đi hành hương, là mình đi lang thang qua chùa này chùa kia để cúng dường, để tìm hiểu thêm.

[21:39]Người thích cất chùa để cho người khác được chỗ tu. Người thích ẩn tu thôi, tu một mình mình trước cái đã, phải không? Chúng ta thấy cũng một cái giáo pháp của Phật, nhưng mà mỗi người nghe nó phát triển ra những cái nhánh khác nhau. Thì những cái điều đó có gì trở ngại không? Có không? Có không? Không, phải không? Nó đều làm cho đạo Phật trở nên nên phong phú, đa dạng và có lợi cho cuộc đời. Tuy nhiên, chúng ta phải biết nó có một cái gốc. Dù chúng ta chia ra nhiều cái sở thích, nhiều cái nhánh, nhiều cái cách tu khác nhau, nhưng chúng ta phải biết một cái gốc chính để làm chi? Để không có lạc mất đạo Phật. Đó là cái gì?

[22:24]Là là cái tâm chứng, phải không? Là cái sự chứng ngộ của tâm linh. Đó là cái gốc. Ví dụ như một người thích tụng kinh nhiều, cũng nên phải biết rằng mình tụng kinh là phương tiện, một ngày nào đó phải đi đến chỗ chứng ngộ tâm linh. Nhưng một người thích bố thí nhiều thì phải hiểu rằng mình bố thí vừa tạo phước, vừa tập buông xả cái ngã sở của mình để một ngày nào đó mình đi đến được cái sự chứng ngộ của của tâm linh. Rồi một người đi hành hương cũng vậy. Nếu mình đi lang thang từ chùa này sang chùa kia để tìm hiểu, để cúng dường là vừa tạo công đức, vừa học hỏi để một ngày nào đó mình đạt được sự chứng ngộ của của tâm linh, đó.

[23:13]Như vậy đi hành hương có phải mình đi chơi không? Có phải không?

[23:23]Rồi, người được gặp Phật pháp một cách trực tiếp hoặc là gián tiếp nữa. Trực tiếp là sao, mà gián tiếp là sao? Trực tiếp là cái người từ thời mà Đức Phật đản sinh ở Ấn Độ đó, người đó có duyên gặp Đức Phật. Gọi là gặp được trực tiếp, có duyên trực tiếp với Phật. Rồi có người không có duyên đó mà chỉ sau này gặp lại Phật pháp qua trung gian những thế hệ về sau, những Hòa thượng, những bậc tôn túc giáo hóa, những đệ tử Đức Phật đó mới đi giáo hóa nước này nước kia, lan qua tới Trung Hoa, rồi lan qua về Việt Nam. Một kiếp nào đó ví dụ như mình sinh ở Tây Tạng, cái mình gặp Phật pháp tại đó rồi mình đầu thai qua Trung

[24:01]Hoa, mình tiếp tục tu theo các chùa ở Trung Hoa. Bây giờ mình đầu thai qua Việt Nam, mình lại tiếp tục về chùa Từ Tân mình mình tu tiếp. Đó. Kiếp sau đây mình nhớ hỏi Thầy trụ trì ổng đầu thai ở đâu, cái mình đi theo tu nữa, ví dụ vậy. Cho nên mình gặp Phật pháp không phải là trực tiếp hoàn toàn, có khi gián tiếp. Nhưng đối với Phật tử, cái người mà trực tiếp gặp Phật để hiểu Phật pháp với cái người gián tiếp gặp Phật pháp khác nhau chỗ nào? Đố ai biết? Đâu, quý Phật tử đoán thử đi.

[24:41]Đức Phật nói người khác, người khác nói lại mình nghe. Dạ. Tôi cứ nói chứ.

[24:52]Sớm giác ngộ hơn? Có lẽ đúng. Có nghĩa là người gặp Phật trực tiếp á, dễ được sự giác ngộ hơn. Mà đố Phật tử tại sao?

[25:06]Ngồi suy nghĩ. Có ai bao giờ nằm mơ thấy Phật chưa? Cũng có người thấy rồi, phải không? Để tưởng tượng như mình gặp Đức Phật trong đời sống. Thì quý Phật tử muốn hiểu á, ví dụ một người trực tiếp được gặp Phật từ thời Đức Phật còn tại thế đó, thì mình tu mình dễ ngộ đạo hơn. Mình muốn biết tại sao như vậy đó, thì bây giờ quý Phật tử tưởng tượng như là khi mình đang sống đây, Đức Phật đang ngồi trong Chánh điện á, Đức Phật sống thật đó, đang ngồi thiền ở đó, một lát Đức Phật đi xuống thuyết pháp mình nghe, ví dụ vậy. Tưởng tượng, mình sẽ thấy cái lòng mình... Không phải giải thoát. Không phải.

[25:51]Để cho quý Phật tử trầm ngâm một vài phút đi, tại đây là điều quan trọng lắm, rất là hay.

[26:01]Dạ. Tùy nơi tâm mình. Nhưng mà gặp được Đức Phật trực tiếp á, nó có tác động mạnh mẽ nơi mình như thế nào? Và cái tác động mạnh mẽ đó nằm ở chỗ nào? Đây là muốn hỏi Phật tử. Người nào mà hồi xưa có gặp Phật trực tiếp có thể trả lời được câu này. Dạ. Tâm tịnh tâm, thanh...

[26:28]Tâm mình với tâm Phật gặp nhau, trời ơi ghê vậy hả? Dữ vậy hả? Dạ, mình muốn đi theo Phật khi mình thấy được sự giác ngộ của Phật. Cô nói nó gần gần tới nhưng mà nó chưa rõ. Thôi để nói luôn cho Phật tử nghe. Hồi nãy không biết đây có ai gặp Phật chưa? Nhưng mà nó như thế này: Nếu mà mình gặp Đức Phật trực tiếp á, mình không bao giờ có thể sống một cách bình thường được nữa. Bởi vì sao? Vì nhân cách của Đức Phật quá vĩ đại, trí tuệ của Đức Phật quá vĩ đại. Đó là Ngài xuất hiện á, nếu mà Ngài ở trước mặt mình á, mình mới thấy từ nơi Ngài nó toát ra một cái sự bình an vô hạn, nó lan lan lan đến khắp cả cây cỏ.

[27:16]Từ một ngón tay của Ngài cất lên để xuống, nó đều toát ra sự giải thoát, bình an. Từ ánh mắt Ngài nhìn, nó đều là sự giải thoát thanh tịnh và từ bi vô hạn. Đứng trước Đức Phật, Đức Phật nhìn mình, mình không thể đứng đó được nữa, mình phải quỳ cái liền, cái chân mình phải rớt xuống đất cái bịch liền, cái đầu mình phải cúi xuống liền. Đó là nó thúc đẩy trong lòng mình một sự tôn kính vô hạn, một sự tôn kính vô hạn. Cái sự tôn kính đó nó mạnh mẽ như trái tim mình muốn vỡ tung ra được. Tôi nói điều này không ngoa. Nếu mà quý Phật tử được gặp Đức Phật á, nghĩa là xuất hiện giữa cuộc đời đó, cái hào quang, cái trí tuệ, cái bình an, cái nhân cách vĩ đại vô hạn của Đức Phật

[27:58]tạo nên trong lòng mình một sự kính trọng vô biên, vô hạn không thể tưởng tượng. Đó là trái tim mình lúc đó là nó như thắt lại, như nổ tung ra, như rướm máu bởi cái sự kính trọng đối với Đức Phật á. Và mình không thể nào mà mình tiếp tục sống một cách bình thường, dễ dãi, giải đãi được nữa. Khi mà chứng kiến Đức Phật rồi là mình phải phát tâm vĩ đại để tu. Cho nên những người Ấn Độ thời Đức Phật, họ đều có cái duyên lớn là khi chứng kiến hình ảnh Đức Phật, khởi lên lòng tôn kính vô biên, vô hạn. Do cái lòng tôn kính Đức Phật quá đáng nên kiếp đó, những kiếp sau, kiếp đó, những kiếp sau lần lần họ đều là những người

[28:35]tu rất đắc lực do cái phước, cái sự thúc đẩy mãnh liệt trong tâm họ. Họ không tu một cách bình thường được, không tu một cách bình thường như mình được nữa. Mình bây giờ thôi tháng Bát quan trai hai ngày cũng được. Tối siêng, khỏe khỏe tụng kinh một thời cũng tốt. Lâu lâu chắt mót ít tiền đi cúng chùa đâu đó cũng có có công, ví dụ vậy. Mình nghĩ như vậy là cũng qua ngày, nhưng mà nếu mình được gặp Đức Phật, mình không nghĩ như vậy nữa. Từng giờ, từng phút trong cuộc sống, lúc nào mình cũng lo nhiếp tâm tu hành, nhiếp tâm tu hành để đạt cho bằng được cái kết quả. Vì sao? Vì cái hình ảnh của Đức Phật nó rực rỡ,

[29:10]rực rỡ trước mắt mình, trước cuộc đời, giữa mọi người. Nó thành một nguồn cảm ứng vô biên vậy đó. Quý Phật tử thử tưởng tượng xem. Nhất là những Phật tử nào thử nhớ lại đây, biết đâu một kiếp nào có gặp Phật trực tiếp, sẽ nhớ lại trong cái kiếp đó cái lòng tôn kính của mình đối với Phật là vô hạn, vô biên, không thể tưởng tượng được.

[29:32]Thì dù gặp trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta đều có duyên với Phật pháp vì sao? Vì dù Đức Phật đã nhập Niết bàn nhưng mà cái tâm của Ngài vẫn trùm khắp đối với chúng sinh. Cho nên đến giờ phút này, mỗi khi chúng ta hướng về Ngài lễ bái, chúng ta niệm Phật, tưởng đến Ngài, vẫn luôn luôn được Ngài âm thầm... âm thầm gia hộ, điều đó. Chứ đừng nghĩ rằng Đức Phật nhập Niết bàn là đã hết, Ngài vẫn âm thầm gia hộ cho chúng ta từng ngày, từng giờ trong cái sự tu hành của mình.

[30:09]Tới một đoạn này: "Ta xem tất cả chúng sinh đều với lòng bình đẳng, không có lòng bỉ thử, đây kia cùng với tâm yêu ghét." Nghĩa là Ngài nói giống như một trận mưa trên trời rơi xuống á, không có phân biệt là dồn bên đây mưa nhiều, đây ít một chút, kia nhiều một chút, đây ít một chút, không có. Cứ trút ào ào ào ào xuống vậy đó, nước đồng đều, nhưng mà nhận được nước nhiều, ít là tùy cái cây. Cây đó phát triển nhanh hay chậm là tùy cái... cái cây. Thì Đức Phật cũng vậy, Ngài nói lòng thương yêu của Ngài đối với chúng sinh là bình đẳng. Một lát sau chúng ta sẽ thấy cái sự bình đẳng của Ngài vĩ đại lắm.

[30:52]Là Ngài không có cái phân biệt. Thường thường á, chúng ta đó chưa có được cái tâm như Phật, cho nên cái lòng chúng ta đối với mọi người có cái... cái phân biệt. Phân biệt là ví dụ sao? Ví dụ trước mặt mọi người ngồi ở đây nè, thì tôi sẽ chú ý ai? Ví dụ tôi là người chưa có đạt đạo, không có giải thoát, vậy trong những người ngồi ở đây tôi sẽ chú ý ai nhất?

[31:21]Trong những người tôi nhìn qua nhìn lại cái tôi chú ý ông cụ này nhất, tại tôi thấy ông rất là đẹp trai, mặc dầu già cả, có vài cái răng sún, nhưng mái tóc bạc, đẹp lão, người tu hành cái tự nhiên nó cuốn hút cái sự chú ý của tôi vào đó, đó, làm cho tôi tôi rất là thích. Như vậy là cái tâm tôi nó không có... không có bình đẳng. Mà tại sao vậy? Tại sao mà tôi bị ông cụ này chú ý mà không bị cái người khác chú ý? Tại sao? Vì hai lý do. Hai lý do. Lý do thứ nhất á là cái người có phước á, tự nhiên họ cuốn hút cái sự chú ý của mọi người vào họ. Quý Phật tử để ý không? Mình gặp một người có phước á, tự nhiên nơi họ nó toát

[32:03]ra một cái gì làm mình chú ý họ nhiều hơn người khác. Còn một người không có phước á, ví dụ người ăn mày nghèo khổ, thì cái tướng tá với cái mặt họ nó cũng làm sao? Nó cũng tầm thường, nó yếu ớt cái gì đó làm cho mình không chú ý. Cho nên, thứ nhất là do cái phước sai biệt của chúng sinh, cái người có phước nhiều á, họ cuốn hút cái sự chú ý của mình nhiều hơn, còn cái người ít phước á thì họ ít có thu hút cái sự chú ý của mình. Đó là lý do tại chúng sinh mà tôi chú ý người này nhiều, người này ít chứ không phải là tại tôi, phải không? Nhưng cái thứ hai là tại tôi nè, là tại vì cái đạo lực của tôi chưa vững, cho nên tôi mới bị kéo qua một... một bên.

[32:45]Chứ nếu cái tâm tôi nó vững rồi, nó thanh tịnh rồi, thì người này phước nhiều, người kia phước ít, tâm tôi có bị kéo qua bên đây không? Đứng lại chỗ này, nhìn khắp cả mọi người cũng như... nhìn cụ này, nhìn cụ ông này cũng giống như nhìn cụ... cụ bà này. Nhìn cái người mà ngồi co chân cũng giống như người ngồi... ngồi xếp chân, đúng không? Nhìn người đầu bạc cũng giống như nhìn người đầu... đầu đen. Sáng vậy thôi, phải không? Đó là nếu tâm tôi vững, còn cái đạo lực tôi chưa vững cái bắt đầu tôi lựa người tôi nhìn á, thấy ai có vẻ đặc biệt cái tôi... tôi chú ý một chút, đó. Còn Đức Phật, Ngài nói Ngài không có cái bỉ thử phân

[33:22]biệt, lòng Ngài đối với mọi người bình đẳng. Rồi để chúng ta thêm một đoạn này, chúng ta mới thấy cái bình đẳng của Đức Phật, cái lòng từ bi của Đức Phật vĩ đại. "Như mưa khắp thấm nhuần: là người sang người hèn, người ở trên cao hay người ở dưới thấp, người giữ giới hay người là phá giới, người có oai nghi đầy đủ hay người oai nghi không đầy đủ, người có được chánh kiến, hiểu được chân lý lẽ phải hay người tà kiến hiểu tầm bậy tầm bạ, cái người thông minh lanh lợi hay người ngu đần dốt nát. Tất cả đối với Phật, Phật đều thương yêu như nhau." Đây là chỗ mà khó ai làm được, ngoài Đức Phật khó ai làm được, phải không?

[34:10]Tại vì ví dụ như mình nói là cái người sang người hèn thì hồi nãy mình phân tích rồi, phải không? Người làm cán bộ với người mà làm dân thường thì thôi nãy mình cũng phân tích rồi đi. Nhưng mà rồi cái người giữ giới hay phá giới? Ví dụ mình nghe nói cái người Phật tử đó ổng giữ được giới, năm giới đầy đủ, thì mình quý trọng là đúng. Rồi nghe cái ông phá giới, tự nhiên uống rượu bê tha, ổng tùm lum chuyện, cái mình sao mình coi... Thường mình ghét. Cái chỗ này cái tâm mình khác với Đức Phật. Đức Phật thấy người giữ giới Phật thương, thấy người phá giới Phật cũng thương. Do thương mới độ được, còn mình ghét không...

[34:49]mình mình tránh. Rồi cái người chánh kiến tà kiến nè, thích gần cái người sao? Họ hiểu biết, mình nói chuyện họ cũng dễ chịu. Còn người tà kiến mê tín bậy bạ á, thôi mình cũng không thể thương được, đó. Người ngu khôn á, người khôn á mình thích gần gũi, người ngu thôi mình cũng... cũng tránh, đó. Nó là mấy lý do: thứ nhất là mình chưa vững nên mình không dám gần những người... người không tốt. Và thứ hai nữa, lòng thương yêu của mình chưa thể lớn lao như là Đức Phật.

[35:24]Ngay cả người ngáp hay không ngáp mình vẫn thương yêu bình đẳng vậy.

[35:31]"Ta không chút tham đắm, cũng không có hạn ngại, thường vì tất cả chúng sinh mà bình đẳng nói pháp, như khi vì một người, lúc đông người cũng vậy."

[35:45]Ở chỗ này là Đức Phật nói làm sao? Ngài thương tất cả chúng sinh, Ngài siêng năng làm lợi ích cho chúng sinh, nhưng mà lòng Ngài bình thản không tham đắm, nghĩa là làm được việc cũng không mừng, không có hăm hở nhào tới thêm nữa, mà có không làm được cũng bình thản mà thôi, phải không? Còn mình sao? Ví dụ mình làm được cái gì thành công, mình hăm hở làm nữa, phải không? Thất bại cái mình chán, mình chê. Câu này nó hay thấy trong cuộc đời cũng vậy. Ví dụ một người mình phấn đấu trong cuộc đời mình làm ăn, cái tự nhiên mình phát tài, mình giàu lên, cái lúc đó mình sao? Làm nữa, đầu tư nữa, mình có phước,

[36:26]mình giỏi, mình ráng làm cho giàu thêm, giàu thêm. Đó là cái thành công làm mình tham đắm. Ví dụ mình làm cái thất bại, là vốn liếng mất hết vân vân, cái mình sao? Mình buồn bã, chán nản, nói thôi cuộc đời này nó vô thường không có gì, thôi đi tu là tốt nhất, này kia nọ đúng không? Đòi đi tu. Là thực ra mình cái đó nó là do cái buồn chán từ sự thất bại. Còn cái người bình thản nó khác. Vì nói vào trong đạo cũng vậy, nghĩa là mình khi mình tu hành được nhiều tiến bộ, tự nhiên mình thấy tâm mình thanh tịnh, giới hạnh mình nghiêm trang, đạo đức mình tăng trưởng, phước đức mình làm được nhiều hơn vân vân, cái bắt đầu người ta khen ngợi, quý mến, cái mình sao?

[37:12]Mình thích, mình làm... làm nữa. Nhưng mà do mình thích, mình làm nữa cái bắt đầu hôm nào đó mình bị vấp, có người công kích, chê bai, rồi cái mình nói làm sao? Nói làm sao? Hồi đó là mình chán đời mình vô đạo, bây giờ mình chán đạo mình đi đâu? Mọi người tự trả lời. Rồi: "Vì tất cả chúng sinh mà bình đẳng nói pháp, một người cũng vậy, đông người cũng vậy", là lúc nào Ngài cũng lòng thương yêu bình đẳng, chứ không phải một người mình thôi không có nói gì, mà đông người mình mới nói nó thích thú hơn, không phải. Tuy nhiên cái ý nghĩa của nói pháp là vậy: Phật nói pháp là để cho mình hiểu và mình...

[38:02]mình thực hành, phải không, mình tu. Và cái việc chỉ con đường đi là việc của Đức Phật, còn đi hay không là việc của... của mình, phải không? Chứ Phật không có đi giùm mình được, Phật không đi giùm mình được. Phật chỉ con đường và Phật âm thầm gia hộ, nhưng mà cái người đi hay không là mình, không thể là Đức Phật. Cho nên trong đạo Phật cũng vậy, đôi lúc chúng ta gặp chuyện này, gặp chuyện kia, chúng ta có cầu xin Đức Phật gia hộ, Điều đó không có sai. Những lúc quá khó khăn, nó vượt khỏi cái cái tầm với của mình, cái sức của mình thì mình có nhờ Phật gia hộ thêm, điều đó không có sai, Đức Phật sẵn sàng gia hộ.

[38:48]Tuy nhiên, cái nỗ lực chính qua những cái lúc quá khó khăn đó rồi thì cái nỗ lực tu hành chính là của mình, phải không? Chứ không thể là cầu nguyện Phật cho con được giải giải thoát là điều sai lầm. Phật không thể ban một cái phép gì cho mình giải thoát. Phật không thể ban một cái phép gì làm cho mình từ một người tham lam trở thành người hết tham lam, từ một người sân hận thành hết sân hận được hết. Không bao giờ Phật làm được điều đó, chỉ có chính mình tự làm lấy, tự mình tự làm lấy mà thôi để vượt lên, vượt lên, tự mình đi cái con đường mà Đức Phật đã chỉ. Có một lần là tôi xem ở cuốn sách nói về các tôn giáo lớn

[39:26]trên thế giới, thì cuốn sách đó viết về đạo Ấn Độ. Cái tư tưởng là luân hồi, giải thoát á cũng đã được nói tới các tôn giáo khác của Ấn Độ, không riêng đạo Phật. Rồi trong cái bài viết có nói rằng những người tín đồ của đạo Ấn Độ đó, đạo Ấn Độ giáo thường quỳ bên bờ sông Hằng mà cầu nguyện rằng: "Xin cho con không còn tái sinh ở đời sau nữa." Không còn tái sinh đời sau thì tức là gì? Tức là giải thoát rồi phải không, không luân hồi. Nhưng mà cái câu cầu xin đó nó hợp lý không? Hợp lý không? Không, phải không? Vì không có ai cho mình được điều đó, chỉ có chính mình nỗ lực rất vất vả qua nhiều kiếp mới có thể thành tựu được,

[40:12]mà phải đi đúng đường nha, phải đi đúng đường, chứ không thể là đi sai đường được nữa. Chúng ta cách Phật đã xa, chúng ta dễ bị đi sai đường là cái thứ nhất. Cái thứ hai là chúng ta không nỗ lực mà chúng ta cứ nghĩ tu một kiếp là xong. Không phải đâu, tu hành qua rất nhiều kiếp. Người hiểu đạo rồi thì cái thời gian năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp không quan trọng, không quan trọng. Người hiểu đạo sâu sắc rồi đó mới biết rằng cái nghiệp mình tích lũy từ quá khứ nếu ngang đây mình biết tu đó thì cái nghiệp đó vẫn còn kéo dài vài chục kiếp tới nữa chứ chưa có hết. Nói là ngang đây biết tu rồi nha, vậy mà cái trớn của cái nghiệp nó vẫn còn đẩy

[40:51]tới, thêm thúc đẩy mình hai ba chục kiếp nữa, chứ không phải mình biết tu rồi cái nghiệp từ xa xưa tới đây nó dừng lại liền, không có. Đó là nhân quả. Nhưng rồi từ cái kiếp này mà mình biết tu đó, mình tạo cái công hạnh rất là mạnh đó, nó lắp vào lắp vào, thì trong khi mà cái trớn của hai ba chục kiếp phiền não tới á nó vừa hết cái nó thì cái công đức tu hành của cái ngày hôm nay nó cũng bắt đầu nó xuất hiện của hai ba chục kiếp sau luôn, thì lúc đó mình cái đạo vận mình mới hanh thông được. Cho nên quý Phật tử thấy một người mà xuất hiện ở đời họ tinh tấn tu hành, rồi họ đắc được cái tâm linh

[41:30]cao siêu, đừng nghĩ rằng họ mới tu hai ba kiếp. Đừng nghĩ. Cái chuyện đó nhiều khi nó xuất phát hai ba chục kiếp rồi mới có đến ngày hôm nay, chứ không phải dễ. Nhưng mà cái người hiểu đạo á thì có xem thời gian là quan trọng không? Không xem thời gian là quan trọng, mà xem cái hành động của mình mới là quan trọng. Mình làm được cái gì để xóa bớt cái ảnh hưởng của quá khứ và tạo cái công đức cho vị lai, điều đó mới là điều quan trọng, chứ cái thời gian không quan trọng. Ví dụ như một vị ngồi nghe pháp mà có thể mà nhập định được vậy thì một tiếng rưỡi trôi qua không quan trọng. Ở đây nè: "Tất cả hàng chúng sinh được nghe pháp của ta,

[42:18]tùy sức mình mà thọ nhận, trụ ở nơi các bậc khác nhau, hoặc là ở cõi Trời hoặc ở cõi Người, hoặc làm Chuyển Luân Thánh Vương hoặc làm Trời Đế Thích, Trời Phạm Vương hoặc làm các vị vua, đó là cây cỏ thuốc nhỏ." Dễ sợ chưa? Mình đây quý Phật tử mà muốn làm chủ tịch huyện cũng khó nè, mà đây nói là làm vua mà còn là cái cây cỏ thuốc nhỏ, cái căn cơ thấp. Mà làm tới trên Trời Đế Thích á, Phật nói là căn cơ nhỏ.

[42:48]Cho nên đối với Phật á, cái địa vị ở thế gian là cái gì nó hết sức phù phiếm, hư ảo, tầm thường, không đáng kể, phải không? Cỏ thuốc nhỏ mà. Phải không? Mà cái giá trị cao đối với Đức Phật là cái khác, lát mình nói từ từ. Thì như vậy một ngày nào đó mà mình trúng số được hai mươi lăm triệu độc đắc vé Long An, Đồng Nai gì đó thì cái đó là lớn hay nhỏ? Lớn hay nhỏ? Cho nên thôi cũng đừng có, đừng có mừng, phải không? Bởi vì làm vua mà Phật còn nói là cây cỏ thuốc nhỏ, thì mình trúng hai mươi lăm triệu độc đắc thì nó còn rất rất là nhỏ nữa. Cho nên thôi đừng có, đừng có quá xem là quan trọng, phải không?

[43:40]Rồi "hay chứng được Niết Bàn", Phật nói cái đó là hàng vừa, đắc đạo rồi đó. "Hoặc cầu Phật Thế Tôn là ta sẽ được thành Phật, tu hành tinh tấn định là cỏ thuốc bậc thượng." Tức là người phải đạt được tới cái gì? Tới cái viên mãn của cái làm lợi ích cho chúng sinh, tự mình thành tựu và làm sao để lại cái lợi ích cho chúng sinh mãi mãi, thì đó mới là cái cây cỏ bậc thượng, là cái tâm nguyện người đó lớn, chứ không phải đi tìm cái lợi ích riêng cho mình. Chúng ta tu theo đạo Phật, chúng ta hiểu điều này cho kỹ một chút. Như một ngày nào đó mình tụng kinh, lúc nào đó mình ngồi thiền thì vì ai? Vì ai? Vì chúng sinh. Câu đó đúng đó.

[44:31]Ví dụ như mình tụng kinh, mình ngồi thiền, nhiếp tâm cho thanh tịnh, mình đừng có nghĩ trong cái đầu mình là nhờ ngồi thiền tâm thanh tịnh này mình sẽ được đắc đạo, được giải thoát, chết được Phật rước như thế nọ, đừng nghĩ như vậy. Mà nghĩ khi mình tu tâm thanh tịnh này để mình có cái kinh nghiệm tu hành mà hướng dẫn lại cho cho người sau này, đó là người mà cỏ thuốc bậc bậc thượng. Chỉ cần có chút tâm đó thôi, tự nhiên mình trở thành một con người ở vị trí trên, còn một người mà chỉ lo cho mình thì là người thấp. Quý Phật tử, ngày hôm nay mình ngồi nghe pháp, đừng có nghĩ là tôi già rồi thôi ráng tu để cho kiếp sau yên ổn,

[45:12]chết cho nó nhẹ nhàng, cứ nghĩ tới tui với mình không thì đó là cỏ thuốc bậc thấp. Mà bậc này nghi đào dưới đất mới tìm thấy chứ không phải mọc là là xoà trên đất nữa, cũng vậy nữa. Bậc này bậc củ chứ không phải là bậc bậc cỏ ở trên nữa. Cứ nghĩ tới mình không thì bậc này bậc dưới củ đâu ở dưới. "Chuyên tâm nơi Phật, lại có hàng Phật tử chuyên tâm nơi Phật đạo, thường thực hành từ bi, tự biết mình làm Phật, quyết định không còn nghi, đó gọi là cây nhỏ." Là được hạng cây mà cây nhỏ vì sao? Vì có lòng từ bi rồi, nghĩa là đã thành tựu, đã có tiến bộ. Cái tự biết mình làm Phật, quyết định không còn nghi đó là cái gì, đố ai biết?

[46:01]Tự biết mình làm Phật, quyết định không còn nghi ngờ nữa, nghĩa là sao?

[46:09]Không đơn giản đâu. Cái người đó mà trong tâm á biết chắc mình sẽ đắc đạo, không nghi ngờ, là cái người đó làm sao rồi?

[46:24]Người đó đã chứng được một phần rồi, tâm đã chứng được một phần rồi. Nhớ điều đó nha, chứ không phải là ai cũng muốn nói ôi tôi quyết định thành Phật không nghi nữa, đó là lời nói suông. Còn mà đúng thật sự mà quyết định không còn nghi như kinh Phật nói là người đã chứng một phần rồi, nên họ biết chắc cái con đường họ đi tới luôn, không có trở ngại nữa, chỉ còn thời gian, nên người đó không nghi ngờ. Chứ còn bây giờ như mình vậy đó mà nói mình không nghi ngờ mình quyết sẽ thành Phật, mình dám không? Dám không? Không dám đâu.

[47:00]"Hoặc an trụ thần thông, chuyển bất thối pháp luân, độ vô lượng muôn ức trăm nghìn loài chúng sinh, Bồ Tát hạnh như thế, đó gọi là cây lớn." Tức là cái người này cái tâm chứng đã thành tựu và đang trên con đường làm lợi ích vô lượng chúng sinh ở các cõi. Những vị đó như là ai? Như là ai? Như các vị Bồ Tát mà mình thờ đó. Đó là những vị đó đó. Những vị đó cái tâm linh rất là là vĩ đại và các ngài hiện thân vào các cõi để cứu độ chúng sinh. Đó là tại sao mà mình niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm mà được linh hiển á, được có cái linh nghiệm, thì đó là những vị mà Phật gọi là cây lớn, cây cổ thụ, cây đại thụ trong Phật giáo.

[47:47]Ở đây quý Phật tử niệm Quan Âm thấy linh không? Có không? Đó, chúng ta thấy những vị Bồ Tát á, tâm của các ngài là phủ trùm vô hạn, vô lượng. Người ở bên Mỹ niệm cũng phát ứng nghiệm, mà nửa vòng trái đất ở Việt Nam niệm cũng có có linh nghiệm. Mà không phải là chỉ cầu nguyện không đâu, không phải là chỉ cầu nguyện không. Đôi khi các ngài ra thần thông luôn mà mình không biết á, các ngài dùng thần thông luôn mình không biết. Như là trong kinh Phổ Môn nói đó: "Khi cần phải hiện thân người nào để độ, ngài hiện thân đó." Mà mình không biết đâu, bởi vì nếu mình biết thì không còn là Bồ Tát nữa. Bồ Tát xuất hiện với mình mình không biết, đến với mình mình không biết.

[48:28]Đôi khi mình trên đường xa mệt nhọc, mình gặp một người bộ hành cho mình miếng nước, nói một câu chuyện vui, tự nhiên làm cho mình phấn chấn, tinh tấn mình đi tới nữa, có khi người đó là hiện thân Bồ Tát mình không hay, như chuyện ngài Hư Vân Hòa thượng. Khi ngài tu hành, cái sức định của ngài rất là vững. Ngài mới phát tâm lễ Ngũ Đài Sơn là lễ Bồ Tát Văn Thù á. Mà ngài đi hành hương về Ngũ Đài Sơn để lễ Bồ Tát Văn Thù mà ngài đi, tức là ba bước lạy một lạy, đi ba bước ngài sụp xuống lạy một lạy, ba bước ngài sụp lạy một lạy để đi dần tới Ngũ Đài Sơn. Mà ngày xưa đường xá đâu có đường tráng nhựa đồ như mình,

[49:08]chỉ là những con đường mòn heo hút, lau lách á, qua sông qua suối là như vậy. Mà ngài đi không biết bao nhiêu nghìn dặm đường, đi lần lần. Và tới lúc ngài đi gặp mùa đông tuyết phủ, không có gì ăn, đường xá là bị tuyết lấp hết không còn đường. Và trong lúc kiệt sức, ngài quỵ xuống. Thì lúc đó, có một người thanh niên mới đến đỡ ngài dậy, đem ngài vào trong nhà, cho ngài ăn uống, giúp ngài được cái sức khỏe cho tới khi qua cái mùa tuyết ngài đi tiếp. Khi ngài đến Ngũ Đài Sơn, ngài lễ Bồ Tát Văn Thù. Thì lúc đó ngài mới biết được, lúc mà ngài lễ đó thì Bồ Tát mới hiện cái thần thông ra cho thấy ngài mới biết rằng

[49:54]cái người thanh niên mà đã dìu dắt mình trên đường đi là Bồ Tát Văn Thù. Lúc đó ngài không biết. Như trong cái chuyện mà Ngộ Đạt quốc sư khi bị cái mụn nhọt mặt người tìm đến cái núi núi mà giữa hai cây tùng, nhớ không? Gặp cái vị Bồ Tát hiện ra cả lâu đài, cung điện để chữa cho ngài. Mà không ngờ là trước đó cái vị Bồ Tát đó giả làm một ông một thầy tu mà bị cùi lở để cho ngài chăm sóc. Ngài chăm sóc ngài mới có cái phước. Rồi sau này Bồ Tát mới cứu ngài được. Nghĩa là vị sư đó bị cùi lở loét mà ngài chăm sóc rất là tận tình. Bởi vì ngài Ngộ Đạt là một bậc chân tu mà, ngài không có nề hà. Đến khi do quả báo ngài bị cái mụn nhọt mặt người,

[50:40]đến đó thì chính tôn giả hiện thành lâu đài, cung điện nuôi dưỡng ngài và chữa ngài hết. Khi ngài hết bệnh xong, ngài quay lại nhìn, toàn bộ ngôi chùa viện biến mất trong hư không, không còn nữa. Thì trong cuộc đời chúng ta như vậy, hễ lòng thành mình nhiều chừng nào thì sự cảm ứng đối với chư Phật nhiều chừng đó. Và ngài đến với mình từ trong cái tâm niệm, từ trong tâm hồn của mình, từ trong đời sống của mình. Và đôi khi một người bạn thân của mình nói cho mình một cái câu nào đó để gỡ cho mình một cái chỗ bế tắc thì không phải là cái người bạn thân đó, chính người đó nói đâu, mà chính sự thúc đẩy,

[51:19]sự gia hộ của chư Phật khiến cho người đó bật lên câu nói để làm cho mình thêm sức mạnh trong cuộc đời, trong cái đường đường đạo. Đó. Cho nên cái gọi là cái cây lớn, người mà đến với tất cả chúng sinh. Nhưng mà những điều này khi mà mình nghe tới phẩm Phổ Môn thì sẽ nói lại kỹ hơn. Phật chỉ bình đẳng nói như nước mưa một vị, theo căn tánh chúng sinh mà hưởng thọ không đồng, như những cỏ cây kia được đượm nhuần đều khác.

[51:53]Là tại sao cũng một cái nước mưa mà cây phát triển khác? Cũng sao tại sao Phật pháp, cùng một Phật pháp, cùng nghe một Phật pháp mà kết quả khác nhau? Vì sao? Vì gì? Căn tánh nghĩa là là cái công đức mình khác nhau và cái ý thích mình khác nhau. Từ trước khi mình gặp Phật pháp, mình đã có một cái số khuynh hướng, phải không, của riêng mình, mình đã có cái trí tuệ của riêng mình, nên cùng nghe một cái câu nói tự nhiên mình hiểu khác nhau hết trơn. Như thấy cười lắm, tôi có gặp một cái chú đó, chú đó nói: "Thầy cho con một lời khuyên về đạo." Thì tôi chỉ khuyên là: "Hãy biết rõ cái tâm của mình." Thì nói một câu cái, ít bữa sau chú xin đi tu mất.

[52:42]Hỏi: "Ủa, sao hiểu kỳ vậy?" Thì tôi nói rất là bình thường thôi. Nói biết tâm bởi vì ai muốn tu thì phải biết cái tâm mình, phải không? Mà tâm mình có động hay không động mình biết, có tham hay không tham mình biết cho rõ để mình vượt qua. Thì dù là người xuất gia hay người cư sĩ thì cũng phải phải thực hành cái pháp đó. Cho nên tôi nói câu đó rất là vô tư là cứ biết tâm mình đi, là đó là pháp môn tu. Chú nghe làm sao cái chú hiểu thành có nghĩa phải đi tu mới là đúng, cái chú đi tu mất tiêu. Nó nó là vậy đó. Cho nên Đức Phật ngài cũng nói một vị, mỗi người nghe cái xong cái lật đật đem tiền đi cúng chùa, cúng hồi hết trơn.

[53:21]Người nghe xong cái lật đật ngồi thiền, người nghe xong lật đật cất chùa, người nghe xong cái lật đật trốn vô rừng tu mất. Cũng một lời nói Đức Phật, nhưng cái khuynh hướng nó tiềm tàng trong lòng mình cái nó phát triển đi. Rồi qua đây nữa: Nếu các vị Bồ Tát trí tuệ rất vững bền, rõ suốt cả ba cõi, cầu được thừa tối thượng, đó gọi là cây nhỏ mà được thêm lớn tốt. Trong Phật pháp không cố định là không phải hễ căn cơ nhỏ thì nhỏ mãi, nhớ như vậy. Ở đây có nói rằng căn cơ nhỏ có thể chuyển thành căn cơ căn cơ lớn. Khi một người từ chưa biết đạo, nghe Phật pháp biết đạo, biết đạo một cách thấp thôi, đó gọi là cây cỏ, cây cỏ nhỏ.

[54:08]Nhưng mà biết đạo rồi cái học thêm mãi, học thêm mãi, hiểu thêm, phát những nguyện lớn hơn thì từ căn cơ nhỏ bỗng trở thành căn cơ căn cơ lớn. Như ngày xưa mình nhờ đâu mà mình biết đạo Phật? Mình nhờ đâu biết đạo Phật? Nhờ ở nhà ba mình ổng chết, thấy không có ông thầy chùa tụng kinh coi buồn. Cái kiếm chùa nào đó mời quý thầy về tụng kinh, thấy thầy ổng cũng chu đáo, tận tình ổng tụng kinh, đổ mồ hôi nhễ nhại rồi ổng siêng năng, thấy cũng tội nghiệp. Cái thôi thương ổng, cái tới lui chùa, cái lần lần nghe ổng dụ cái quy y. Quy y rồi cái lâu lâu cái đi tụng kinh, rồi nghe pháp, đọc kinh rồi lần lần cái thôi đi Bát quan trai.

[54:53]Đó là mình nghĩ là mình biết đạo Phật do cái tình cảm mà thôi, đơn giản vậy thôi, gọi là căn cơ căn cơ nhỏ. Nhưng mà khi mình đi Bát quan trai riết cái mình nghe giảng riết, cái từ từ mình nghĩ thôi, cuộc đời cái ta của mình có gì là quan trọng mà để mình đi tìm những cái mục đích cho chính mình? Có đáng gì để mình đi tìm sự giàu sang, địa vị cho chính mình, phải không? Có đáng gì. Ngay cả cái việc tu mà để gọi là đắc đạo thành Phật có là cái gì đáng cho chính mình đâu. Mà cái cao cả là cái gì? Đi tìm cho cho chúng sinh, phải không? Đó. Cái từ cái bắt đầu đến với chùa vì tình cảm, tu riết tu riết bắt đầu mình hiểu rằng cuộc sống của

[55:36]chúng ta ngày hôm nay là nên sống vì mọi người. Từng giờ phút tu hành ngày hôm nay là nên tu vì tất cả chúng sinh. Như vậy từ cái căn cơ thấp nó thành cái căn cơ căn cơ lớn. Ở đây đã chuyển xong chưa? Nãy giờ nghe chuyển xong chưa? Chuyển xong chưa? Mà còn nghi quá à. Lại có vị trụ thiền, được sức thần thông lớn, nghe nói các pháp không, lòng rất sanh vui mừng, phóng vô số hào quang độ các loài chúng sinh, đó gọi là cây lớn mà lớn thêm lên nữa. Nghe nói các pháp không mà lòng lại sanh vui mừng là sao lạ vậy? Các pháp không thì tại sao? Cái gì cũng không có, có mà không có. Cái điều này rất là lạ nha.

[56:30]Ví dụ như là quý Phật tử thấy cái chậu bông này là có hay không? Có, phải không? Nhưng mà nếu giải thích một lát mà nghe nó thành ra không có thì mình nói nó làm sao? Ngụy biện, kỳ cục. Đạo Phật kỳ lạ, phủ nhận sự hiện hữu của tất cả, phải không? Nhưng bỗng nhiên một người có cái trí tuệ, họ hiểu được, họ thấy cái sự hiện diện của tất cả chỉ là tương đối thôi. Tất cả chỉ là tương đối. Nhìn sâu vào tất cả chỉ là tương đối thôi. Cái tương đối gọi là hư dối, là rỗng không. Họ nghe họ hiểu được, họ chấp nhận được thì người đó Phật gọi là căn cơ lớn. Cái chỗ này khó hiểu lắm, tại vì sao? Vì cái chấp trong lòng mình rất là sâu nặng, mình nói cái gì nó cũng có thực hết,

[57:14]mà khi mình nghe nói tất cả đều tương đối, mình cảm thấy nó hơi hơi lo sợ. Tất cả tương đối là sao? Ví dụ như cái gì? Ví dụ cái nhà mình ở là nó nó tương đối hay là nó tuyệt đối? Tương đối, phải không? Tương đối là vì sao? Vì thứ nhất á là sự thành lập của nó là do nhiều cái điều kiện gom góp mới có, chứ không phải là tự nó mà có sẵn ngay từ đầu, nên cái sự hình thành của nó đã là tương đối, phải không? Rồi sự tồn tại của nó tương đối hay tuyệt đối? Tương đối, ít bữa nhà nước quy hoạch rồi đập. Nói vậy là bình thường, phải không? Tương đối. Rồi cái giá trị để ở của nó là tương đối hay tuyệt đối?

[58:02]Tương đối thôi, là vì sao? Vì ví dụ khi mà mình dùng để ở đó thì mình thấy cái nhà nó có lợi ích. Nhưng mà đến lúc một cái người nào họ mua cái nhà đó mà họ muốn nó làm thành một cái garage, một cái xưởng lớn thì họ thấy cái nhà này nó trở thành vô vô ích. Hoặc là người muốn ở đây làm cái sân trống chứ không nên có cái nhà thì họ thấy cái sự hiện diện cái nhà là cái khó chịu. Đó. Cho nên chúng ta thấy bất cứ một cái vật gì trên đời cái sự hình thành của nó đã là tương đối, phải không? Cái sự tồn tại nó cũng tương đối. Cái giá trị của nó cũng tương đối. Bây giờ đố quý Phật tử cơm dùng để gì? Cơm dùng để để ăn.

[58:45]Và cái giá trị để ăn của cơm là tuyệt đối hay tương đối? Sao tương đối? Không có cơm là đói chết chứ sao tương đối? Tương đối chỗ nào?

[58:59]Nó như thế này nè, chúng ta thấy á mọi cái giá trị đều tương đối là như thế này. Cơm là đúng là để ăn cho no phải không? Khi mình đói thì cái giá trị của bát cơm là dùng để ăn cho cho no. Nhưng mà khi mình đã ăn no rồi, người ta đưa bát cơm kêu ăn nữa thì lúc đó làm sao? Mình thấy sung sướng không? Giờ đầu cầm roi một bên, không ăn là đánh, thì lúc đó làm sao? Chắc chịu đòn chứ không ăn. Tại vì ăn khổ hơn là chịu đòn, phải không? Lúc mà mình đã quá no rồi không thể ăn. Như vậy, cũng là cái bát cơm mà có lúc á thì nó có giá trị để ăn, mà có lúc á thì cái giá trị của nó là một sự sự hình phạt, phải không?

[59:40]Nó cũng là bát cơm thôi. Với một người nghèo khổ đó, cái bát cơm là cái quý giá, nhưng với người giàu có dư thừa cái bát cơm nó trở thành cái gì giá trị không nhiều. Rồi như cái quần áo chúng ta để mặc là có giá trị tuyệt đối không? Những lúc á như là đối tiếp trước mặt mọi người, nhất trời lạnh mình cần cần mặc, nhưng cũng có những lúc mình không cần mặc. Ví dụ như là một chiếc xe là để để mình di chuyển, phải không? Nhưng mà giá trị nó có tuyệt đối không? Lúc nào mình cũng di chuyển hết thì có nước mình khóc à. Phải không? Có những lúc không có giá trị di chuyển, cho nên mọi vật trên đời, mọi sự việc, mọi sự vật trên đời giá trị nó là tương đối.

[1:00:25]Mà mình nhìn càng sâu, càng sâu, càng sâu vào mình thấy nó thấm thía và nó thâm thúy. Nên ở đây những bậc có trí tuệ mà nghe cái lý không đó, cái lý tương đối của vạn vật họ vui mừng, họ hiểu được, họ chấp nhận được và lòng họ ngay đó bình thản, an vui liền, không còn bám víu mọi cái giá trị gì của cuộc đời nữa. Đó là người hiểu được cái lý không. Ngay như ngày hôm nay quý phật tử có làm chủ được một cái tài sản lớn, là ví dụ như mình có một căn nhà lầu nhiều tầng, trong tủ mình có nhiều vàng bạc, vân vân, lòng mình có ham vui không, có mừng rỡ, tự cao không? Khi mình hiểu được cái lý tương đối đó, có mừng vui, tự cao vì nó không?

[1:01:04]Không phải không? Vì biết tất cả đều tương đối. Rồi lỡ một ngày nào đó những cái điều đó nó không còn với mình nữa, nó mất, mình có buồn không? Không, vì mình hiểu cái bản chất nó là là tương đối. Mình sẽ không buồn, chỉ có khóc năm ba ngày không ăn cơm gì đó chút đỉnh thôi. Và Đức Phật nói cái phẩm Dược Thảo Dụ này cũng là như vậy đó, tất cả Phật điển qua là giáo pháp Phật một vị nhưng mà sự phát triển sai khác. Bây giờ mình nghe qua phẩm Thọ Ký. Bây giờ Đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, mới bảo đại chúng rằng, "Ông Ma-ha Ca-diếp, đệ tử của ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các Đức Thế Tôn, cúng dường, cung kính, tôn trọng,

[1:01:48]ngợi khen, nói vô lượng đại pháp của các Đức Phật, và ở nơi thân cuối cùng được thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn." Hôm nay mình giảng về mười cái hiệu này. Các phật tử đã nghe mình giảng về mười hiệu của Phật chưa? Chưa hả? Ở đây phẩm thọ ký đầu, phẩm thọ ký thì ngài Ma-ha Ca-diếp được thọ ký trước nhất. Nhưng mà trước ngài là ai được thọ ký rồi? Hả? Phải, trong kinh Pháp Hoa nè. Ngài? Tụng kinh hoài mà quên tuốt luốt hết trơn hả? Ngài Xá-lợi-phất. Đầu kinh là ngài được gọi là Hoa Quang Như Lai đó, nhớ không?

[1:02:45]Nên ngài được thọ ký trước, thì tượng trưng cho cái gì? Ngài Xá-lợi-phất tượng trưng cho gì? Trí tuệ. Trí tuệ. Thì như vậy đến Phật pháp cái người dễ thành tựu nhất là người có có trí tuệ. Người có trí tuệ họ biết con đường đi, họ sẽ đi được sớm, nên người đó được thọ ký trước. Thứ hai là ngài Ma-ha Ca-diếp. Ngài Ma-ha Ca-diếp là tượng trưng cho cái hạnh gì? Ai biết? Ai biết?

[1:03:17]Ngài tượng trưng cho đời sống tột cùng của sự đơn giản. Ngài Ma-ha Ca-diếp ngài sống đơn giản. Ngài không bao giờ mặc những cái tấm y mà có vẻ mới, tốt. Ngài ra những cái đống rác ngài lựa những cái vải mà người ta đã bỏ rồi về ngài giặt lại, ngài may, ngài nối lại ngài mặc. Còn ngày thường chỉ ở nơi những cái gò mả, những cái chòi tranh đi lang thang chứ ngài không ở nơi sang nhã. Mà thường ngài thích ở rừng, ở núi. Ngài lên những cái hang động, leo đồi, leo núi, rồi ngài ngồi thiền ở trên đó. Đời sống của ngài đơn giản. Và ngài chủ trương là ngài đi tìm cái người nghèo ngài khất thực. Tại ngài nói người nghèo là người thiếu phước,

[1:04:00]nên ngài đi xin những người đó người đó cúng dường ngài thì họ được phước, đời sau họ thoát cái thân nghèo khổ. Thế là ngài cứ kiếm. Đi mà thấy cái người giàu cái ngài lảng lảng ngài đi luôn, nhưng thấy cái người nghèo ngài cứ lì lì đứng xin hoài. Mà người đó cho ngài một miếng thì phước vô lượng, tại cúng nhằm bậc A-la-hán. Có một lần ngài thấy cái ông đó người cùi. Cùi thì dĩ nhiên trong cuộc đời này người ta đã xô đẩy, chà đạp rồi, người đó không còn gì để sống, chỉ nhờ ăn xin sống đắp đổi, chứ không có gần gũi ai được nữa. Ngài đưa cái bát trước mặt ngài xin. Lúc đó là ông đó ổng sắp sửa ổng ăn cơm,

[1:04:36]ngài đến lúc ổng sắp sửa ổng ăn cơm ngài xin đúng miếng cơm ổng ăn đó. Ổng run run cái tay ổng nó lở lói đó, thì cái vi khuẩn cùi cái nó ăn nó gần rụng hết mấy ngón tay. Khi mà ổng lấy cái bát cơm của ổng sớt qua cái bát của ngài Ca-diếp, thì một cái ngón tay của ổng rớt luôn vô cái bát của ngài. Ngài bình thản ngài nhận hết cái cơm đó rồi ngài đi đến chỗ khác á, không ai thấy, ngài mới lấy cái muỗng ngài múc cái ngón tay ngài đổ đi, ngài ngồi ăn tỉnh. Đó là cái công hạnh ngài Ca-diếp mà còn truyền lại. Cái công hạnh mà ngài sống một đời đơn giản đến tận cùng và tâm của ngài ngài thương yêu những người nghèo khổ, những người bất hạnh trên cuộc đời này.

[1:05:18]Nên ngài Ma-ha Ca-diếp là ngài tượng trưng cho điều đó. Một là đời sống đơn giản, hai là cái tâm bi tột cùng, cái tâm mà thương xót những người bất hạnh á là ngài tột cùng như vậy. Khác với ngài Tu-bồ-đề, ngài Tu-bồ-đề đi kiếm người giàu khất thực. Hỏi, "Sao vậy?" Nói, "Người nghèo họ đã nghèo mình xin họ tội nghiệp, thôi mình kiếm người giàu họ dư dư rồi mình xin đỡ tội." Hai ngài đều có hai cái lý do khác nhau mà cũng hợp lý phải không? Cũng hợp lý. Cho nên ở đây thì ngài Ca-diếp sau khi trình được cái phẩm Tín Giải, được Đức Phật chấp nhận, thọ ký sẽ thành Phật. Hiệu là Quang Minh Như Lai, ở đây mình giải thích mười cái hiệu.

[1:05:57]Để coi thời giờ. Cái Như Lai á, cái chữ "Như Lai" có nghĩa là một người hoàn toàn tự tại. Trong cái tự tại đó vẫn làm được những điều lợi ích cho chúng sinh. Chữ "Như Lai" nghĩa là như vậy. Cho nên sau này quý phật tử mà nghe cái chữ "Như Lai" hiểu như vậy không? Người đó đã hoàn toàn bất động, tự tại nhưng cái bất động, tự tại đó vẫn tràn đầy cái ích lợi cho chúng sinh. Nghĩa là vẫn có thể thuyết pháp, giáo hóa, làm việc này việc kia, tổ chức tăng đoàn rồi mọi việc hết cho chúng sinh. Đó là gọi là Như Lai. Nên quý phật tử cũng vậy. Nếu mà quý phật tử lo toan mọi chuyện trong cuộc đời mà lòng mình vẫn an nhiên, tự tại, bất động thì mình cũng được một

[1:06:42]phần một phần như Như Lai, ha, một phần Như Lai. Còn mà nếu mà mình lo toan việc này việc kia mà mình không tự tại thì mình như gì? Như gì?

[1:06:59]"Ứng Cúng" là gì? Ứng Cúng nghĩa là xứng đáng để nhận sự cúng dường. Xứng đáng nhận sự cúng dường. Tại sao đến địa vị Phật mới được gọi là xứng đáng để nhận sự cúng dường? Chúng ta để ý chỗ này rất là khó. Một người khác á trong đời sống mọi người, chúng ta làm lụng mọi việc rất là vất vả, rất là cực khổ vất vả bằng mồ hôi nước mắt của mình, thì mình đem cái của cải, tài sản mà mình làm được bằng mồ hôi nước mắt mình đem mình cúng dường cho một vị tu hành với tất cả lòng kính trọng. Phải không? Nó không giống như mình đem cái tiền mình mà mình cho người khác, bố thí người khác, mà ở đây mình cúng dường nó hàm cái nghĩa một sự

[1:07:44]tôn trọng tràn đầy trong cái món vật phẩm mà mình đem cúng dường. Cái tài vật mà đem cúng dường á nó nhẹ hay nó nặng? Nhẹ hay nặng? Nặng khủng khiếp. Cũng cái vật phẩm, ví dụ như mình nói là 20 ký gạo mình đem lại đằng hàng xóm mình cho một người nghèo khổ thì 20 ký gạo đó chỉ là 20 ký gạo mà thôi. Một kiếp sau mình có được phước á thì nó có thể trở thành 200 ký gạo, nó có thể trở thành 200 ký gạo, nhưng mà nói như vậy thôi. Còn khi mình cũng 20 ký gạo đó mình đem đến cho một người tu hành mà nhất là người chân tu, người tu hành chân chính, mình dâng lên cúng với cái lòng hết sức là kính trọng thì cái 20 ký đó nó còn là 20 ký không?

[1:08:34]Bởi vì nó gói cái sự kính trọng ở trong đó, nó biến thành 2.000 ký đó. Đây là tôi nói thật. Nên đó là lý do tại sao mà chúng ta mang tài vật cho một người có đạo đức, đem dâng lên người đạo đức với lòng kính trọng thì được phước rất lớn là vậy đó. Bởi vì cái tâm mình nó gắn ở trong đó, cái sự kính trọng nó gói trong cái tài vật đó, nó làm cho cái tài vật cái giá trị nó tăng lên nhiều ngàn lần. Và như vậy cái người mà nhận cái tài vật đó thì cái sức họ cỡ nào họ mới gánh nổi? Ví dụ như tôi, tôi dở thì ai cho tôi 20 ký gạo mà đừng có kính trọng á thì tôi gánh nổi, vì tôi thuộc loại gầy ốm. Tôi ráng tôi gánh gánh chở ra xe rồi đem về núi ăn được cũng đỡ khổ.

[1:09:20]Nhưng mà một người cho tôi 20 ký gạo với một lòng rất là kính trọng, tôi vác lên vai vác không nổi, chở xe bể bánh luôn, vì nó nặng nề lắm mà cái đức tôi không đủ tôi nhận không xứng đáng, không xứng đáng. Cái đức không đủ, không nhận được. Cho nên cái giá trị tài vật coi như nhẹ, mà cái giá trị của sự kính trọng, cái tâm ở trong đó mới là quan trọng. Làm cho cái phước của người cúng rất lớn, mà nó đòi hỏi cái đức của người được cúng phải rất... rất lớn. Và ở đây, Đức Phật nói chỉ đến một người nào hoàn toàn giải thoát, cái lòng từ bi đã vô hạn, trí tuệ vô biên, một cái người công lao, công ơn đối với chúng sinh là vô

[1:10:02]hạn thì người đó mới đủ sức nhận sự cúng dường của tất cả chúng sinh, từ cõi người cho đến cõi cõi trời. Mới gọi là Ứng Cúng, xứng đáng để nhận sự cúng dường. Bởi vì cái đạo đức của người này là là hoàn toàn trọn vẹn, không còn một tì vết gì nữa. Còn như tôi, ví dụ như tôi tu hành dở thì tôi nhận cái sự cúng dường của một vài người Phật tử quen biết với mức độ kính trọng vừa phải thì xứng đáng thôi. Nhưng với một người nào họ kính trọng tôi quá mức thì tôi trở thành không xứng đáng nữa. Và đừng nói chuyện tới như thần linh hay là cõi trời cúng dường thì hoàn toàn không có chuyện đó. Còn Ứng Cúng là xứng đáng nhận sự cúng dường của từ cầm thú đến con người,

[1:10:50]đến các vị quỷ thần, đến các vị cõi trời, đến các vị vua cõi trời, thì chỉ có Đức Phật mới là người người xứng đáng nhận sự cúng dường đó. Nghĩa là có tài vật và có sự kính trọng gói ở trong đó. Khó như vậy, cho nên tới cái chữ mà xứng đáng cúng dường mà phải tới Đức Phật mới nhận được là vậy. Cái hiệu thứ hai là Chánh Biến Tri. Chánh là đúng, biến là cùng khắp, tri là biết. Là một bậc biết khắp tất cả mọi điều trong vũ trụ mà biết một cách chính xác, biết một cách chính xác. Đây là Đấng Chánh Biến Tri. Nên cái hiệu của Phật hàm cái nghĩa rất là siêu việt. Nhưng Đức Phật là một vị giải thoát, nhưng cái giải thoát tịch diệt hư vô này không phải

[1:11:38]là không còn gì nữa, mà chính từ nơi cái tâm Niết Bàn giải thoát đó, Phật trở thành một vị Chánh Biến Tri, biết khắp tất cả mọi điều trong vũ trụ một cách chính xác. Mà biết cái gì? Biết những điều cụ thể và biết những điều trừu tượng. Cụ thể là gì và trừu tượng là gì? Cụ thể là như thế này. Ví dụ như là biết ở thế giới này, trái đất này như thế như thế, có con người sinh sống như vậy, và biết xa xôi trong vũ trụ này có những thế giới khác cũng có những sinh vật sinh sống như vậy, phát triển nền văn minh như vậy, vân vân. Có những thế giới có người giác ngộ, có Đức Phật, có những thế giới không có người giác ngộ, vân vân.

[1:12:23]Đó là biết những điều cụ thể. Còn biết những điều trừu tượng là gì? Là biết những cái quy luật vô hình chi phối trong vũ trụ này. Ví dụ như biết luật nhân quả nghiệp báo âm thầm âm thầm nhưng mà chi phối tất cả mọi chúng sinh trong vũ trụ, không sót một người nào hết, không sót một ý niệm nhỏ của một người nào hết. Ngay như quý Phật tử đó là một ngày hôm trước mình là một người tham lam, ngày hôm nay mình giác ngộ, mình dám buông cái thân mạng mình để cứu người khác, chỉ khởi một cái ý thôi, thì đã có nhân quả rồi. Người đó đã có cái đức rồi, tự nhiên xuất hiện cái đức độ trong tâm hồn mình liền.

[1:13:00]Lạ lùng vậy đó. Chưa cần làm, chỉ trong lòng mình tự nhiên mình khởi một cái niệm: "Nếu tôi chết để làm lợi ích cho người khác, tôi chấp nhận", chỉ khởi cái niệm đó thôi, thì đã có nhân quả rồi, công đức đã ghi vào trong tâm hồn mình, ghi vào trong luật nhân quả nghiệp báo rồi. Hiện bây giờ đó, hình như là các bệnh viện có kêu gọi là con người ta đó có thể ghi tên mà khi chết đó là bố thí lại cái mô đó, những bộ phận cơ thể cho người khác cần cấy ghép đó, có nghe không? Dạ có nghe ha? Hình như đang kêu gọi, phải không? Đang kêu gọi. Thì người nào mà cảm thấy những cái bộ phận mình còn tốt thì mình cứ đăng ký, lỡ biết đâu mình chết rồi còn dùng được thì

[1:13:40]người ta mổ ra người ta lấy đem cho người khác. Dám không? Ghê quá hả? Đó cũng là một sự hy sinh. Hôm vừa rồi, thì có một người Phật tử lên tìm tôi mà tìm cho bằng được. Tại lúc đó là tôi đang muốn lánh, không có tiếp khách. Mệt, thì người đó quyết tìm tôi cho bằng được, thì khi tôi cho gặp thì người mới nói rằng: "Thưa thầy, nghe tin mà người ta kêu gọi là nên dâng các bộ phận khi mình sau khi chết thì con có ông thầy tử vi ổng nói con nửa bị bắn chết nên con nghĩ thôi đồ con chắc cũng còn zin nên có gì con con ký tên. Nhưng trước khi con ký cúng thì con lên hỏi ý kiến thầy là điều đó có nên làm hay không?

[1:14:19]Đối với đạo có cái gì đó trục trặc hay không? Khi mình chết mà bộ phận mình mất rồi không biết mình có đầu thai hay không, ví dụ vậy?". Tôi mới trả lời rằng: "Trong vô lượng kiếp á, Đức Phật á người ta cần gì Ngài cho nấy. Cần mắt Ngài móc mắt cho, còn muốn ăn Ngài lóc thịt Ngài cho, cần đầu cắt cho luôn. Mình là người Phật tử, tấm gương của Đức Phật trong nhiều đời để sờ sờ trước mắt thì có gì mình không làm được. Nên ký cho, đó là điều thầy rất hoan nghênh". Thế là người kia hoan hỉ, vui vẻ. Mong ngày mai xuống núi rồi đi về ký tên để mà cho. Lỡ chết bất cứ nơi nào thì cái hình đó nằm khắp tất cả bệnh viện hết.

[1:14:58]Đem vô bệnh viện người ta thấy cái người này là có đăng ký rồi đó, ký tên rồi là người không cần hỏi thân nhân nữa, người ta mổ ra người ta lấy bộ phận liền để dùng liền. Ở đây có ai đăng ký thì cứ đăng, nhưng mà đừng nói tôi xúi nha. Mình thấy bên Tây phương á họ không theo đạo Phật, họ không có một đấng giáo chủ mà có cái tấm gương từng bố thí cả thân mạng cho chúng sinh, mà nhiều khi họ còn dám đăng ký để cho bộ phận, phải không, bộ phận cơ thể. Huống hồ mình là Phật tử, mình lại còn có tấm gương của một vị giáo chủ vĩ đại đã từng làm nhiều việc mà ngày xưa thời đó là chưa có cấy ghép á, móc cho đại chứ không có cấy ghép gì đàng hoàng,

[1:15:39]mà Phật còn dám cho, huống hồ bây giờ là cái y học tiến bộ, phải không? Mình cứ mạnh dạn đăng ký cho. Còn tôi thì tôi không dám đăng ký cho, biết sao không? Lỡ có người đang mập mạnh, móc bộ phận tôi gắn qua cái họ ốm luôn như tôi. Nên cái Chánh Biến Tri là vậy. Từ cái sự giải thoát này, Đức Phật biết khắp tất cả, chứ không phải là ngu si, không phải sự giải thoát là ngu si, mà là trí tuệ siêu việt. Thứ hai là Minh Hạnh Túc.

[1:16:11]Cái chữ Minh Hạnh Túc này không chính xác lắm, đúng ra là Lưỡng Túc. Tôi sửa lại Minh Hạnh Túc này thành cái chữ Lưỡng Túc một chút, nó mới đúng ý nghĩa hơn. Phật được xưng là Đấng Lưỡng Túc Tôn có nghĩa là hai cái điều đầy đủ. Hai điều gì đầy đủ? Một là trí tuệ và hai là hai là phước đức. Trí tuệ và phước đức, hai điều này đầy đủ. Phước và huệ đó, phước và huệ. Mà chúng ta nhớ nè, hai cái đó nó bổ sung cho nhau. Như một người mà có trí tuệ đối với đạo thì người đó có biết luật nhân quả không? Biết không? Biết không? Phải biết, phải không? Và khi một người biết luật nhân quả thì người đó sẽ siêng năng tạo tạo phước.

[1:17:01]Tức là mãi mãi kiếp này và những kiếp khác luôn luôn làm lợi ích cho cho chúng sinh. Đó. Như vậy, một cái người hiểu biết, có trí tuệ trong đạo sẽ là người siêng tạo siêng tạo phước. Và như vậy, cái trí tuệ của mình ít thì mình tạo phước ít, trí tuệ mình nhiều thì mình sẽ tạo phước nhiều, đó. Và ở đây Đức Phật, hai cái điều đó là là vô hạn, vô hạn. Từ trong vô lượng kiếp luân hồi, cái trí của Ngài đã rất là đặc biệt nên Ngài luôn luôn làm lợi ích cho chúng sinh, mà cái chữ Lưỡng Túc Tôn, cái phước vô hạn đầy đủ của Ngài đó có nghĩa là từ trong vô lượng kiếp, kiếp này sang kiếp kia, Ngài chỉ sống vì tất cả mọi người mà không sống gì cho Ngài hết.

[1:17:55]Ở một kiếp thì Ngài hiện thân làm con khỉ để mà gieo duyên với bầy khỉ, cứu bầy khỉ, độ bầy khỉ đó, được tăng trưởng phước đức. Ở một kiếp khác, Ngài làm người, Ngài làm ông thầy dạy nghề để dạy cho những cái thanh niên biết nghề nghiệp trong xã hội rồi sau đó dạy đạo đức cho họ. Ở một kiếp khác, Ngài làm một vị đạo sĩ ở trên núi tu hành để mà dạy đạo cho những người muốn tu hành. Rồi có những cái lúc mà Ngài làm vua để mà giữ gìn trật tự cho cái xã hội và giáo hóa dân chúng biết đạo đức, lễ nghĩa. Rồi có những lúc mà Ngài phải hy sinh cả cái mạng sống của mình cho chúng sinh. Như trong cái truyện kể, có một lần cha mẹ Ngài là vua,

[1:18:48]Ngài là con, bị giặc đánh, cha mẹ Ngài mới dắt Ngài đi trốn trong một cái đường hầm, rồi không có lối ra, không ra được, đói. Thế là Ngài tự lấy dao Ngài tự sát liền và Ngài nói rằng Ngài chết Ngài chỉ mong là cha mẹ Ngài phải ăn thịt Ngài để sống mà tiếp tục, thế là Ngài tự sát liền. Nên là người mà luôn luôn sẵn sàng hy sinh thân mạng mình cho những người khác, cho những người khác suốt cả cuộc đời của mình, tức là luôn luôn sống để làm lợi ích cho người khác, lợi đức cho người khác, mà không phải là một kiếp, từ kiếp này qua kiếp kia qua kiếp kia mãi, cái người như vậy, cái phước đó gọi là mình không gọi là,

[1:19:30]trong kinh không gọi là vô hạn mà gọi là đầy đủ, dùng chữ khiêm tốn là đầy đủ. Đến nỗi rằng, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát mới nói rằng: Ta xem trong tam thiên đại thiên thế giới này không có một chỗ nào mà không phải là chỗ mà Đức Thế Tôn đã xả bỏ thân mạng vì chúng sinh. Đó, ngài Phổ Hiền Bồ Tát ca ngợi Đức Phật như vậy đó. Nghĩa là Ngài sinh vào trong cõi trời và trong cõi người, hết thế giới này qua thế giới kia, bất cứ ở thế giới nào Ngài cũng chỉ vì chúng sinh mà sống. Ngài không tiếc thân mạng của mình nữa. Ví dụ chúng ta nghe kể một câu chuyện là có một người nhảy xuống sông cứu một em bé bị nước cuốn trôi.

[1:20:15]Do cứu em bé đó, đẩy được em bé đó vào bờ rồi người đó chết đuối, mình nghe câu chuyện đó mình cảm động không? Cảm động, quá cảm động. Và ở phương Tây người ta gọi những người đó là hero, là anh hùng, anh hùng của xã hội, người ta ca ngợi, người ta tán thán lên báo, chỉ một hành động mà gây một cái sự xúc động. Đó là mình nghe kể, chứ nếu mình chứng kiến trong đời thật của mình, ví dụ ở gần làng xóm mình có một người xông vào cái đám cháy, chấp nhận bị bỏng cháy tèm lem hết để mang được một em bé, nghĩa là bọc nó ôm vào người, cho lửa táp trúng mình chứ đừng có trúng cái đứa bé đó để chạy ra ngoài cứu được em bé đó,

[1:20:55]thì mình coi cái người đó, cái tâm của người đó như thế nào? Mình hết sức kính trọng nữa. Chạy băng qua đám lửa mà cuốn chặt đứa bé vào lòng để cho nó đừng có cháy, thà chịu bỏng chứ không để cho đứa bé bị bỏng. Tâm hồn như vậy quá tốt. Thì mình cứ nghĩ nhân lên vô lượng lần như vậy là Đức Phật luôn luôn hy sinh vì chúng sinh. Nên đó gọi là đấng mà phước trí vô hạn, gọi là Minh Hạnh Túc hay gọi là Lưỡng Túc, cả hai phước và huệ đều viên mãn, đều hoàn toàn là như vậy.

[1:21:33]Thiện Thệ, thệ này tức là lời thệ nguyện. Thiện là lành, có lợi ích. Thiện Thệ tức là một cái đấng từ vô lượng kiếp luôn luôn phát cái đại nguyện thành tựu được đạo quả vô thượng để giáo hóa chúng sinh, như là một cái sự định hướng cho mình. Thật ra mỗi người trong chúng ta khi đến với Phật pháp tu hành, chúng ta đều có cái mơ ước, có những cái bổn nguyện của mình, phải không? Như có người mong ước kiếp sau được sao? Được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Có người mong là kiếp sau thì con sẽ là một người rất giàu có để con làm hạnh bố thí. Có người mơ ước kiếp sau con sẽ được làm người tu sĩ xuất gia, tu hành chân chính rồi thuyết pháp độ sanh.

[1:22:23]Đó là những cái bổn nguyện của mình đều tốt thôi. Nhưng mà chữ Thiện Thệ của Đức Phật nghĩa là thế này: trong mỗi đời mỗi đời Ngài đều có những cái nguyện lớn, hoàn chỉnh những cái công hạnh mình còn thiếu, hoàn chỉnh những công hạnh mình còn thiếu, mà cái nguyện cuối cùng là sự giác ngộ trọn vẹn để giáo hóa chúng sinh. Đó là cái bổn nguyện cuối cùng tận cùng. Nhưng trên con đường đi đến cái bổn nguyện cuối cùng đó, Ngài luôn luôn phát ra nhiều cái lời nguyện trong mỗi kiếp để hoàn thành một cái công hạnh gì đó. Ví dụ như là Ngài nhìn thấy ở một cái làng mạc đó người ta sống hoang dã sơ khai, Ngài phát nguyện Ngài sẽ độ cái làng này.

[1:23:07]Đó là một cái nguyện nhỏ trong một kiếp nào đó. Rồi có khi Ngài nhìn thấy cái đạo đức của xã hội suy đồi, Ngài mới phát nguyện kiếp sau làm vua để mà làm hưng khởi lại cái đạo đức của xã hội. Đó, nghĩa là trong bao nhiêu kiếp, hết kiếp này tới kiếp kia, những cái nguyện của Ngài luôn luôn thay đổi luôn luôn thay đổi, rất nhiều cái bổn nguyện như vậy để mà cho nó tròn cái công hạnh của Ngài trong nhiều kiếp. Và cái hạnh lớn nhất, chủ yếu nhất, rốt ráo nhất cuối cùng là vẫn sao? Vẫn đạt được sự giác ngộ tối thượng làm Phật mà làm lợi ích chúng sinh mãi mãi, đó là nguyện cuối cùng. Nên cái chữ Thiện Thệ là hàm cái ý là người khéo

[1:23:50]luôn luôn phát thành những lời nguyện để cho tròn cái công hạnh của mình trong vô lượng kiếp. Nên quý Phật tử nhớ điều này mà bắt chước Phật. Ví dụ như trong kiếp này mình thấy mình cần phát những lời nguyện nào thì mình cứ phát, qua những kiếp sau mình sẽ phát những lời nguyện khác nữa để cho tròn thêm những công hạnh nào nữa, cứ như vậy, cứ như vậy mà phát mãi. Ta gọi là người khéo có những lời thệ nguyện vĩ đại lớn lao để hoàn thành cái công hạnh của mình.

[1:24:23]Hết giờ rồi. Bữa nay sức khỏe còn mà giờ thì hết.

[1:24:31]Nhờ kỳ rồi mà quý Phật tử lên chùa thăm á cái bữa nay khỏe lắm. Thôi thì mình hẹn lần sau ha.

[1:24:41]Thôi xoa chân đi rồi đứng lên rồi mình hồi hướng.

[1:24:48]Thôi cứ từ từ đứng lên, đứng lên tê chân nó té cái ạch xuống là khổ. Nguyện đem công đức này

[1:25:03]hướng về khắp tất cả

[1:25:10]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.

[1:25:43]Cúi đầu lạy Phật mười phương, xin thương tế độ quê hương Lạc Hồng. Chúng con máu chảy một dòng, thương nhau như nước Biển Đông dạt dào.

[1:26:04]Non sông dựng bằng núi cao, tổ tiên khí phách biết bao anh hùng. Nhiều phen ngập ngập khốn cùng nhưng rồi hào kiệt chung lòng đứng lên, giữ gìn xã tắc vững bền, dựng xây bờ cõi đắp nền văn minh.

[1:26:33]Ngàn xưa chùa miếu hiện lên, dưới chân tĩnh kính lòng thành bay xa. Phật từ như một người cha chở che dân tộc hiền hòa yên vui.

[1:26:53]Chúng con triệu triệu con người, một lòng theo Phật đắp bồi quê hương.

[1:27:02]Trái tim Phật là tình thương, ngàn lời Phật dạy là đường thăng hoa.

[1:27:11]Niềm tin nhân quả sâu xa, gieo gì gặt nấy thật là công minh.

[1:27:20]Mỗi dòng họ, mỗi gia đình dạy rằng con cháu phúc lành gắng xây. Cuộc đời như thoáng mây bay nhưng điều phúc thiện phải đầy dựng no. Tôn kính

[1:27:49]Phật, yêu nước non nên mình gắn nguyền sắt son chẳng sờn.

[1:28:00]Dù kẻ kém hoặc người hơn, làm sao qua được tình thân đồng bào.

[1:28:10]Dù Nam, Trung, Bắc nơi nào, nghìn xuôi vạn ngược máu đào Việt Nam. Bao người viễn xứ lâu năm, quê cha đất tổ chẳng làm sao quên. Nguyện lòng mong sẽ đắp bền, quê hương gìn giữ cội hiền Hồng Mông.

[1:28:38]Nay con dâng cả tấm lòng, cúi xin chư Phật đoái trông độ trì. Trên đường thế giới cùng đi, Việt Nam sẽ sáng như vì sao mai.

[1:29:01]Trước là đạo đức cho người, ai ai cũng biết sống đời vị tha. Anh tài xuất hiện như hoa, trong mùa xuân mới

[1:29:17]vang ca thái bình.

[1:29:23]Những người vì lợi bán mình, biết hồi tâm để vẹn toàn non sông. Ngoại bang dòm... Thương nhau cũng hồi tâm để không còn hại nhau. Bao năm xương trắng máu đào, giờ đây ai cũng khát khao an bình. Đừng ai gây cuộc đảo binh, trẻ thơ côi cút, gia đình ly tan.

[1:30:34]Chúng con thành kính nguyện cầu người dân đất Việt thương nhau thật lòng, xóa đi nghiệp cũ cha ông, sóng dâng biển hải đau lòng biết bao. Thấm nhuần tình nghĩa đồng bào, vượt qua thù hận ngày nào chưa nguôi.