Transcript: Thiền Là Tương Lai Của Nhân Loại

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:36:27

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[1:57]Kính thưa các vị đại biểu, kính thưa các vị khách quý, kính thưa các bác hội viên, được sự nhất trí cao của Ban lãnh đạo UNESCO, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Thiền thành phố Hải Phòng, với sự ngưỡng mộ của các bác hội viên đã nhã ý trân trọng kính mời Thượng toạ Thích Chân Quang, giảng sư Hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, hôm nay về Hải Phòng chúng ta nói chuyện về thiền và sức khoẻ. Thưa các vị, Thượng toạ Thích Chân Quang là nhà tu hành nổi tiếng, rất có uy tín với Hội Phật giáo trong cả nước. Thượng toạ đã đi các tỉnh miền Nam, miền Bắc nói chuyện, mỗi lần Thượng toạ đến nói chuyện đều để lại những ấn tượng tốt đẹp và bổ ích cho mọi người.

[2:57]Thưa các vị, về dự nghe nói chuyện hôm nay, tôi xin trân trọng giới thiệu: Tiến sĩ Lã Trọng Long - Chủ tịch Liên các câu lạc bộ khoa học kỹ thuật thành phố;

[3:15]ông Nguyễn Nghiêm - Chủ tịch UNESCO thành phố;

[3:22]Kỹ sư Lê Ngọc Diệp - Giám đốc Sở Điện;

[3:30]ông Đỗ Gia Phách - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố;

[3:38]các ban chủ nhiệm của Văn hoá thể thao UNESCO và ban chủ nhiệm của Câu lạc bộ Thiền các giới Phật giáo, đề nghị hoan hô;

[3:50]toàn thể các bác hội viên của bốn câu lạc bộ UNESCO và thành phố Hải Phòng về dự.

[4:00]Để tiếp tục vào chương trình buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin trân trọng kính mời bác Đinh Chương - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thiền lên nói lời một đôi lời và mời Thượng toạ lên nói chuyện, đề nghị hoan hô.

[4:21]Thưa các vị khách mời, thưa toàn thể hội viên Hiệp hội UNESCO Hải Phòng và đại biểu các tổ chức thành viên của hiệp hội. Theo yêu cầu và nguyện vọng của tất cả hội viên, vừa qua lãnh đạo Hiệp hội UNESCO Hải Phòng và các câu lạc bộ thành viên đã gửi thư tới Thượng toạ Thích Chân Quang, trụ trì chùa Phật Quang thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên núi Dinh, giảng sư thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, mời Người ra thăm thành phố Hải Phòng và nói chuyện với toàn thể hội viên UNESCO Hải Phòng.

[4:58]Sau khi giấy mời Thượng toạ Thích Chân Quang được chuyển đi, ban tổ chức tiếp đón và tổ chức buổi nói chuyện được thành lập, đồng thời thông báo tới toàn thể hội viên. Một không khí sôi nổi, phấn khởi và hồi hộp chờ đón vị khách quý đã diễn ra từng ngày, từng giờ trong các hội viên. Cái giờ phút mong chờ đó đã đến. Trước sự có mặt của đông đảo hội viên của các tổ chức thành viên thuộc Hiệp hội UNESCO Hải Phòng và các vị khách mời, tôi xin trân trọng giới thiệu Thượng toạ Thích Chân Quang lên nói chuyện với chúng ta về vấn đề "Thiền định với sự sống và sức khoẻ con người", xin kính mời Thượng toạ!

[6:12]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa quý vị khách quý, các cấp chính quyền, các cấp lãnh đạo, các hiệp hội dưỡng sinh, UNESCO, người cao tuổi, kinh dịch và kính thưa quý đồng bào Phật tử của thành phố Hải Phòng. Hôm nay thật là một cái duyên lành tốt đẹp để cho chúng tôi được cái vinh dự về đây mà trao đổi một vài vấn đề liên quan đến thiền và sức khoẻ.

[6:48]Kính thưa quý vị, hôm nay chúng ta xin phép được trao đổi với nhau đề tài nho nhỏ là "Thiền như là tương lai của nhân loại", cái ý nghĩa như vậy. Chúng ta biết con người là một sự tổng hoà của ba điều. Thứ nhất là thể chất, thứ hai là trí tuệ, thứ ba là tâm linh. Tại sao chúng ta tách cái trí tuệ và cái tâm linh ra khỏi nhau? Vì cái ý nghĩa nó cũng có nhiều cái sai khác, mặc dù có vẻ như hai vấn đề đó đều thuộc về tinh thần, cũng như tại sao ta không đặt vấn đề tình cảm ở đây, nhưng cái vấn đề cũng là một vấn đề phụ thuộc mà ta muốn nói vấn đề chính mà thôi. Nên con người là một tổng hoà của ba yếu tố:

[7:45]thể chất, trí tuệ và tâm linh. Vào những buổi bình minh của nhân loại, trên thế giới con người ta không xuất hiện cùng một lúc với nhau. Ờ có khi ở vùng đất châu Á, một tộc người xuất hiện, rồi lác đác cả năm trăm nghìn năm sau, một vài trăm nghìn năm sau hay một triệu năm sau, tự nhiên ở châu Phi xuất hiện một vài tộc người. Rồi có thể vài chục ngàn năm sau, ở châu Âu lại xuất hiện một vài tộc người. Nên cái sự xuất hiện của loài người trên Trái Đất nó không có đồng nhau, có những cái nguồn gốc rất là khác nhau. Mặc dù nếu xét theo gen thì đều là con người, nhưng thời gian xuất hiện không giống nhau,

[8:33]tính chất không giống nhau, số lượng không giống nhau. Nên do đó, ở buổi bình minh con người ta, các gen di truyền có cái sự đa dạng, khác biệt rất là rõ ràng. Chỉ sau này, khi mà các phương tiện kỹ thuật đã vượt lên cao để nối con người lại với nhau thì con người mới có sự pha trộn các loài giống, các gen di truyền dần dần như là ngày hôm nay ta thấy. Và chính vì ở buổi ban đầu, con người ta xuất hiện từ nhiều cái tộc khác nhau mang những cái gen di truyền phong phú khác nhau nên con người đã không bị đồng huyết về gen. Do đó con người phát triển khoẻ mạnh cho đến ngày hôm nay. Nếu ta tin theo một vài cái truyền thuyết về sự xuất hiện của con người

[9:29]ban đầu chỉ có một người hoặc ban đầu chỉ có hai người rồi mà sinh ra cả thế giới này thì một điều chắc chắn là ta biết nếu theo di truyền học, con người sẽ bị đồng huyết và cái giống loài người sẽ bị thoái hoá và chết sạch chứ không có tồn tại mà mấy triệu năm như vậy. Do đó, điều này ta cũng không cần phải chứng minh một cách thần bí, chỉ cần nhìn bằng con mắt khoa học, ta phải công nhận với nhau là con người thuở ban đầu đã xuất hiện với nhiều tộc người khác nhau, nhiều gen di truyền khác biệt nhau, nên làm thành cái sự phong phú, khoẻ mạnh, phát triển của ngày hôm nay. Và những cái tộc người xuất hiện lác đác trên khắp thế giới đó,

[10:19]rải rác lần lượt như thế, bắt đầu họ mới phát triển để thành những cái quốc gia, những cái lãnh địa, những quốc gia dần dần. Và ở đây có một cái điều rất là lạ, rất là lạ, là có những cái tộc ngay buổi ban đầu họ có một cái trí tuệ, một cái năng lực đặc biệt để họ có thể quản lý được những cái vùng đất cực kỳ lớn. Ví dụ như là người Việt Nam và Trung Hoa. Tại vì nếu xét theo mà lịch sử, thì người Việt Nam và Trung Hoa vốn là anh em, từ cái thời vua Đế Minh sinh ra Đế Nghi và sinh ra Kinh Dương Vương, rồi lúc đó tách ra làm hai nước chia cho hai người, người anh người em. Lúc đó nước Việt Nam ta lớn bằng phân nửa nước của Trung Hoa.

[11:09]Thì vào cái thời đó cái tộc của người châu Á mà nói nói thẳng ra là của người Trung Hoa và Việt Nam, không hiểu tại sao mà lúc đó khoa học kỹ thuật dường như không có điều gì hết. Mà ta cũng không biết là đã chế ra được cái bánh xe ngựa tròn tròn để mà lăn đi trên các nẻo đường hay chưa nữa. Mà tại sao vào thời đó, các tổ tiên ta đã có cái năng lực quản lý khủng khiếp, quản lý được một đất nước mênh mông mà đến ngày nay với phương tiện khoa học ngày này ta vẫn còn sợ hãi, chứ đừng nói là người xưa, vậy mà ngày xưa họ đã quản lý một đất nước thênh thang khủng khiếp như vậy. Nên cái năng lực gì?

[11:45]Rồi cũng có những cái tộc người mà mãi qua cả hơn một triệu năm tồn tại, họ cũng vẫn tiếp tục chỉ là những bộ tộc thôi. Tụ tập quanh các thung lũng có một dòng suối để trồng trọt sơ sài, để săn bắt. Và sống đến ngày hôm nay là nếu ta đi tìm ngược lại nguồn gốc họ, họ cũng tồn tại lâu nhưng không bao giờ phát triển và không có năng lực để quản lý những cái vùng đất lớn, cũng như không có năng lực để đồng hóa các bộ tộc khác thành một cái quốc gia cho riêng mình. Một cái gì đó đã làm cho họ yếu kém. Một cái lập trình nào từ ban đầu ở trong não họ, trong tâm linh và trong trí tuệ của họ làm cho sự phát triển của họ rất là hạn chế.

[12:26]Và cũng có những tộc người họ có cái trí tuệ, có cái thông minh, ngay từ buổi ban đầu họ đã năng nổ, họ khỏe mạnh, thông minh, họ phát triển nhiều về kỹ thuật và đến ngày hôm nay dường như cả thế giới phải chịu ơn họ về những phát minh sáng chế trong cho cái sự văn minh của loài người. Nên ở đây ta có thể tạm tạm chia cái buổi đầu nhân loại xuất hiện thành ra ba cái khuynh hướng, ba cái hạng tộc người phát triển theo ba cái tính chất mà ta vừa kể ra là con người là một tổng hòa của thể chất, trí tuệ và tâm linh. Ta tạm thời là chia nhân loại vào buổi đó cũng phát triển theo ba cái khuynh hướng đó.

[13:11]Tức là có những cái tộc người phát triển dựa trên cái sức mạnh của thể chất. Tức là họ họ phải tập chạy, chạy nhanh hơn thú rừng để rượt bắt được thú rừng. Họ phải có khả năng cầm cục đá mà chọi cho được con thú mà bắt được con thú đó. Lần lần kỹ năng họ rèn luyện nhanh hơn, họ có thể bắn được mũi tên chính xác mà săn bắt. Và những cái tộc này chiến đấu với tộc kia để giành đất và giành nguồn nước cũng đầy cái đẫm máu. Máu cũng đã đổ rất nhiều. Là có một loại tộc người mà phát triển, tồn tại dựa vào cái thể chất của mình, là sức mạnh của cơ bắp. Rồi có cái tộc người phát triển dựa vào cái trí tuệ.

[13:56]Là từ cái buổi đầu, họ đã có cái khuynh hướng cái thiên hướng đó, họ đã biết chế cái này chế cái kia, họ có thể chế một cái rìu, một cái cuốc, một cái dao mà họ cứ mày mò và vui thích điều đó. Cái đầu óc họ cứ phát triển mãi tạo thành cái nền khoa học kỹ thuật của cái tộc người của họ, mà điển hình là Âu châu. Con người đó họ cao lớn, khỏe mạnh. Gương mặt họ ta cũng có thể gọi là đẹp bởi vì mũi họ cao, da họ trắng, tóc họ xoăn, vân vân. Cái thiên hướng của họ là đi mạnh về cái trí tuệ, về kỹ thuật, về khoa học. Nên dần dần họ có nhiều phương tiện trong tay để mở rộng cái phạm vi kiểm soát của họ đối với đất đai và trong đời sống.

[14:42]Cái ý nghĩa kỹ thuật á, ta có thể hiểu cái triết lý nho nhỏ thế này. Chúng ta ví dụ là bây giờ một người chúng ta, chúng ta tốn là 5.000 calo để chúng ta đi bộ, thì chúng ta có thể gọi là đi bộ 5 cây số, ví dụ vậy. Rồi bây giờ chúng ta chế ra chiếc xe đạp, chúng ta cũng tốn chỉ 5.000 calo thôi, nhưng ta sẽ đi được 20 cây số. Và so sánh hai sự kiện đó, chúng ta rút ra được một cái triết lý: cùng tiêu tốn một năng lượng giống nhau, nhưng ai sử dụng được một cái kỹ thuật hiệu quả hơn thì sẽ đạt được cái kết quả gấp bội lần. Chúng ta đồng ý với nhau phải không? Nó rõ ràng như vậy. Chính vì như vậy mà các nước ngày hôm nay thi đua đi

[15:28]tìm những kỹ thuật mới, đi tìm những kỹ thuật mới. Và kỹ thuật của nhân loại ngày hôm nay không còn là cái cơ khí để thay thế cơ bắp nữa, mà bắt đầu đi vào cái computer, vi tính, chip vi mạch để thay thế cái suy nghĩ của con người. Thì cũng như vậy, ta tốn một giờ đồng hồ với 2.000 calo để chúng ta giải một bài toán. Thì bây giờ ta dùng một một giờ với 2.000 calo năng lượng cho cái máy vi tính thì không phải giải một bài toán nữa, mà ta giải một tỷ bài toán. Cái hiệu quả nó lớn hơn rất nhiều vì có những cái kỹ thuật, có những con chip vi mạch ở trong đó là cả một bộ tích hợp của bao nhiêu cả mấy triệu triệu linh kiện nằm trong một cái thẻ chút xíu vậy thôi.

[16:16]Cái tộc người mà đại diện là Âu châu ấy, họ đã phát triển đi theo cái hướng của trí tuệ nên họ thành tựu được kỹ thuật, khoa học và nền văn minh ngày hôm nay làm choáng ngợp cả nhân loại, làm cho nhân loại cứ nghĩ rằng cứ phải đi khoa học kỹ thuật mới gọi là văn minh. Và bây giờ ta nói tộc người thứ ba là tộc người bỗng nhiên có cái thiên hướng tâm linh, có thiên hướng tâm linh. Cái thiên hướng tâm linh đó, cái logic của họ có những đoạn, có những khoảng mờ, có những khoảng mờ mà ngày hôm nay khoa học cứ phải do dự không biết phải chấp nhận làm sao. Nói ví dụ một cái như hệ thống huyệt đạo trên cơ thể

[16:57]là bây giờ thì không máy móc nào mà có thể biết được cái huyệt nằm đâu á, và chỉ theo cái sự hướng dẫn của đông y ngày xưa người ta đưa máy dò vào thấy đèn sáng lên, biết đó có cái huyệt quan trọng. Và khi châm cái mũi kim vào nó có tác dụng lên cơ thể mà không biết tại sao. Tại sao, dựa vào những nguyên lý nào mà người xưa đã biết, không biết nữa. Hoặc là cái hệ thống kinh dịch, hoặc là hệ thống kinh dịch là ta có tám quẻ Bát quái chồng lên, phát triển lũy thừa lên thành 64 quẻ Dịch. 64 quẻ Dịch mà gồm sáu cái vạch: nội quái ba vạch, ngoại quái ba vạch. Rồi người ta dùng một cái thủ thuật để bốc quẻ một cách ngẫu

[17:41]nhiên, là có yếu tố hên xui á, bốc quẻ một cách ngẫu nhiên. Rồi sau đó lấy ra được một quẻ Dịch. Hoặc là ví dụ như là nói là Phong Thiên Tiểu Súc hoặc là Thiên Thủy Tụng, vân vân. Ngẫu nhiên rút ra một cái quẻ như vậy, rồi người ta nhìn cái quẻ đó người ta luận, người ta có thể biết được vận mệnh, có thể dự đoán được tương lai. Mà ngày hôm nay ở Trung Hoa người ta viết hẳn ra những cuốn sách gọi là dự đoán học. Thì ban đầu á là một cái yếu tố ngẫu nhiên do bốc quẻ là ngẫu nhiên, đi vào một cái yếu tố rất mờ, nhưng mà khi lấy được cái quẻ rồi thì người ta luận rất là chặt chẽ. Cái luận nhưng mà gọi là cái chặt chẽ chứ nó

[18:22]cũng không chặt chẽ như toán học hoàn toàn. Nó vẫn có những yếu tố thuộc về trực giác, thuộc về tâm linh để rồi người ta có thể đoán được cái sự tình sẽ xảy ra. Và quẻ Dịch đó ngoài cái việc đoán cái sự tình xảy ra còn cho ta một lời khuyên nên xử sự như thế nào là hợp lý nhất. Ví dụ như có một người đến hỏi một ông thầy, ông thầy ổng rút ra được cái quẻ là Sơn Địa Bác. Sơn Địa Bác là ở trên nó có một vạch liền, năm cái vạch ở dưới còn lại đều là vạch đứt. Thì ông thầy ổng luận rằng: cái vận may của anh, cái điều lành của anh nó sắp sửa chấm dứt, nghĩa là anh sắp sửa đi vào một sự thất bại rất là nặng.

[19:02]Nghĩa là những cái điều, những cái vận hên của anh, cái lộc của anh hết rồi, sắp sửa hết. Giờ anh còn đứng đây trước mặt tôi chỉ là vấn đề của thời gian, sau đó anh không còn giữ vị trí này nữa, anh không còn may mắn nữa, có thể anh vào tù. Đó có thể như vậy, cái quẻ luận như vậy. Nhưng cái quẻ Dịch cũng cho ta một cái lời cảnh báo là chỉ bởi vì thời gian qua anh quá kiêu ngạo, do cái vạch liền nó nằm ở trên đỉnh, tức là người này chỉ biết mình mà không biết ai. Như vậy do kiêu ngạo, ngày hôm nay anh đã hết phước á. Bây giờ anh muốn chuyển cái số này, chuyển cái nghiệp này, anh phải đổi thành quẻ Dịch Địa Lôi Phục.

[19:39]Tức là năm vạch trên là đứt dưới cái vạch cuối cùng là vạch liền, nghĩa là anh phải sống coi mình như đất, anh phải ở dưới chân người ta, anh nghĩ mình là cát bụi là cỏ rác á, thì anh kềm lại được cái sự đổ vỡ sắp tới, cái cái một cái đại họa sắp tới với anh. Như vậy cái quẻ Dịch cũng vậy, nghĩa là khi mà bốc ra rồi thì họ cho biết cái tương lai, họ cho biết cái nguyên nhân của tương lai và họ cho một lời khuyên để ta chuyển cái xấu thành tốt. Nhưng mà những cái lý luận như vậy nó vẫn mờ, nếu so với khoa học nó vẫn mờ, ta gọi là tư duy mờ hay fuzzy logic á, chứ nó không phải là một logic chặt chẽ như toán học, như khoa học.

[20:20]Và đó là một cái mảng văn minh của cái tộc người Á châu, điển hình là Việt Nam và Trung Hoa. Hoặc là Ấn Độ cũng vậy, từ vào cái thời đó người Ấn Độ họ đã có cái khoa chiêm tinh, nhìn đất nhìn trời để biết về cái vận mệnh của một quốc gia, hay là nhìn tướng người biết con người và họ có những cái lối tập, lối tập ngày xưa họ gọi là khổ hạnh, hay là yoke, hay yogi, yoga, ngày nay ta gọi hẳn là yoga luôn, nghĩa là những cái lối tập rất là cực khổ: vặn người, uốn tay, uốn chân, rồi là đứng một chân, rồi nằm bất động, co một chân, vân vân... nghĩa là đủ cái tư thế mà ta nhìn vào ta sẽ thấy rất là kỳ quái.

[20:59]Nhưng mà họ tin rằng khi mà họ chiến thắng được cơ thể như vậy, họ khắc phục được tinh thần họ như vậy thì họ có cái thần thông, họ có thần lực và họ và nếu đi sâu hơn họ có thể giải thoát. Ngày xưa chính Đức Phật của chúng ta cũng bị lầm cái chỗ này, ban đầu mà Ngài cũng tu khổ hạnh hết sáu năm vì Ngài cũng tin vào cái lý thuyết là khi mà con người khắc phục được, chiến thắng được cơ thể bằng cái sức mạnh tinh thần họ sẽ giải thoát. Lúc Đức Phật cũng đã bị lầm hết sáu năm, rồi sau đó Ngài mới bỏ, Ngài thấy nó không phải. Đó thì ta thấy cái mảng từ Ấn Độ đi qua tới Việt Nam, Trung Hoa là một tộc người mà phát triển thiên về tâm linh.

[21:42]Dĩ nhiên con người ta cũng phải có thể chất để cày ruộng, sinh sống, người ta cũng phải có một ít đầu óc khoa học kỹ thuật để chế ra cái món này, chế ra món kia, nhưng mà cái giá trị cao mà người ta chú trọng đến vẫn thiên về cái tâm linh. Nên ba cái loại người, ba cái tộc người đó ở trong buổi bình minh của nhân loại đã được quy định. Mà ta thấy điều này: ngoại trừ Nga, một đất nước mênh mông mà tuyết đồng không mông quạnh người ta không biết, riêng cái mảng là Trung Hoa, Việt Nam kéo qua Ấn Độ là những tộc người mà phát triển theo cái tâm linh thì họ quản lý được những cái vùng đất rất là lớn.

[22:22]Đất nước cái lục địa Ấn Độ rất lớn, à cái lục địa Trung Hoa, Việt Nam nói chung lại rất là lớn, còn vì sao bây giờ Việt Nam ta còn nhỏ lại thì nó là thuộc một cái một cái sự kiện của lịch sử mà chúng tôi có trình bày trong cái bài giảng là Nhớ Cội Nguồn. Nên nếu quý vị có điều kiện, có thời gian, xin tham khảo bài đó để biết tại sao đất nước của ta là phân nửa Trung Hoa bây giờ còn nhỏ như thế này, đó chỉ là một sự kiện thuộc về tình cảm. À nhưng mà từ ngày xưa, ta vẫn xem rằng Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ là đi thiên về tâm linh và có năng lực quản lý những vùng đất rất là lớn. Nó ba cái tộc người của thời thời xưa.

[23:07]Và ngày hôm nay cái các đất nước của Tây phương họ phát triển khoa học kỹ thuật lớn lên thì nói: ai có cái đầu óc có thể chế được máy móc thì người đó sẽ xâm chiếm được thế giới. Và đúng như vậy, họ chế ra tàu sắt, họ chế ra súng đại bác và họ đi chiếm vô số các nước thuộc địa, nên một thời gian cho đến ngày hôm nay thì cái nền văn minh của cái tộc người thiên về khoa học kỹ thuật vẫn đang chiếm ưu thế trên thế giới. Và những cái tộc người, những khuynh hướng, những tín ngưỡng, những hoạt động thiên về tâm linh vẫn đang ở trong cái thời kỳ mà người ta do dự, ngần ngại, e ấp, chứ chưa có cái táo bạo giống

[23:50]như cái Câu lạc bộ Thiền của UNESCO Hải Phòng này. Chúng khi chúng ta xác nhận ta lập ra một cái cái Câu lạc bộ Thiền ở nơi cái UNESCO Hải Phòng này là trong tâm chúng ta đã xác định đây là chân lý, đây là lẽ phải, phải không thưa bác Đinh Xương? Ta tin điều đó ta mới dám làm điều này. Mà cái điều này nó có ý nghĩa như thế nào? Nó có ý nghĩa như thế nào? Nó có ý nghĩa là, xin thưa, ta đón đầu cái văn minh của nhân loại, vì chắc chắn một ngày nào đó nhân loại phải đi theo con đường thiền. Sau một thời gian dài trong trong buổi sơ khai người ta đã lấy cái sức mạnh cơ bắp làm chỗ dựa, rồi qua một thời gian tức là bao nhiêu thế kỷ

[24:37]người ta lấy cái cái trí tuệ khôn ngoan làm chỗ dựa, nhưng tương lai sắp tới, ta không biết bao lâu, con người phải đi vào cái hướng tâm linh. Và một trong những cái người mà biết đi tiên phong đón đầu nhân loại đó là Câu lạc bộ Thiền của UNESCO Hải Phòng.

[25:04]Ở đây, khi mà con người ta có thể gần nhau nhờ những cái phương tiện khoa học kỹ thuật, có máy bay người ta đến thăm nhau nhanh hơn, xe cộ người ta di chuyển lẹ hơn, những hệ thống viễn thông đến mạng lưới Internet kết nối con người nhanh hơn, thế giới như nhỏ lại. Và nhỏ lại, gần nhau thì ta rơi vào một cái hội chứng, hội chứng mà ông bà ta nói thế này: ở xa thì mỏi chân, ở gần thì mỏi miệng. Là sao? Tức là ở xa mình nhớ nhau, cho nên mình đi thăm nhau mỏi chân, nhưng ở gần thì sao mỏi miệng? Cãi lộn. Cãi lộn. Con người là như vậy, con người là kỳ khôi như vậy. À xa nhau thì nhớ, mà gần nhau thì cự, không biết tại sao?

[25:55]Và ngày hôm nay, thế giới ngày xưa xa nhau, thế giới ngày xưa xa nhau cho nên mỏi mỏi chân, nên là gặp nhau tình hữu nghị thắm thiết. Nhưng bây giờ gần nhau quá rồi, nhấc điện thoại lên là ở cuối trời cùng đất nói chuyện, mở màn hình lên nhìn thấy nhau trực tiếp liền, thì gần nhau quá rồi thì nó bắt đầu nó tới cái lúc mỏi miệng. Nhưng mà cái mỏi miệng của nhân loại đây nó không phải là chỉ mỏi cái miệng thôi, mà là sự cạnh tranh khốc liệt về kinh tế, chính trị, quân sự và uy thế. Thế giới bắt đầu là đi vào sự cạnh tranh khốc liệt, nó không còn cái mỏi miệng như mình với người hàng xóm cãi cãi nhau nữa, bắt đầu cạnh tranh sống chết,

[26:34]bên ngoài cứ phải giả bộ cười tươi với nhau nhưng bên trong giết đâu được giết liền. Thế giới như vậy. Mà bây giờ người ta cạnh tranh với nhau bắt đầu bằng cái gì? Bắt đầu bằng cách làm kinh tế, làm những cái tập đoàn kinh tế. Cái tập đoàn nào kinh tế lớn mạnh thì người ta sẽ có tiền, người ta sẽ xây dựng được cái bộ máy chính trị, bộ máy quân sự, bộ máy khoa học kỹ thuật lại tiếp tục lớn mạnh thêm nữa, cho nên cứ ban đầu là cứ kinh tế. Nên ta thấy những cái tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia bắt đầu thành lập từ từ từ từ, và chính những tập đoàn kinh tế đa quốc gia, xuyên quốc gia đó sau này sẽ quyết định vận mệnh của thế giới.

[27:14]Rồi nếu ai không đủ sức cạnh tranh trong cái cuộc chơi khốc liệt này thì người đó sẽ bị thua cuộc, sẽ bị khống chế, sẽ trở thành kẻ nô lệ, một kẻ nô lệ mặc đồ đẹp. Thế giới là như vậy. Nhưng nhưng rồi nhưng rồi cả những kẻ chiến thắng và chiến bại của thế giới đều bắt đầu mệt mỏi. Trong cái cuộc sống mà một cơn sóng thần nổi lên ập một cái, chết mấy trăm ngàn người, một cái đất chuồi tuột xuống một cái, cả một làng biến mất, rồi một cơn bệnh dịch khởi lên thổi qua một cái là rụng hết bao nhiêu sinh mạng, người ta mới thấy cuộc sống này mong manh. Cái triết lý mà người ta sống nào giờ là mạnh được yếu thua,

[27:56]ai khôn thì là kẻ chiến thắng, ai ngu là kẻ chiến bại, bắt đầu nó không còn đúng nữa, nó không còn đúng nữa vì ngày xưa người ta cứ tưởng người giàu có, quyền lực, vinh quang là hạnh phúc, người ta cứ tưởng như vậy. Nhưng mà sau những giây phút mà chiến đấu mệt mỏi, vất vả để tìm cái quyền lực và tiền bạc, người ta mới phát hiện hạnh phúc không phải ở chỗ đó, hạnh phúc nằm ở chỗ khác. Và có những nhà tư tưởng họ kể một câu chuyện thế này: nói có một cái ông nhà giàu ổng ra bờ biển chơi, ổng gặp một cái ông ngư dân à ngồi câu cá trên cái cục đá. Ổng nhìn ông ngư dân ổng nói, "Anh câu như vầy là không biết đời nào anh khá được."

[28:38]Cái ông ngư dân mới hỏi là, "Vậy anh khuyên tôi phải làm sao?" "Anh phải cải tiến kỹ thuật, anh phải có một cái lưỡi câu mà anh câu được nhiều con cá, bắt được nhiều con cá chứ một lưỡi anh ngồi mấy tiếng đồng hồ anh câu được con là anh sống không nổi mình anh, sao anh nuôi con anh nó thể học đại học, nó tiến lên được. Anh phải có một cái lưỡi câu tung xuống là lấy một lần là phải trăm, rồi anh mới có cái tiền dư, cái số dư đó anh mới đóng cái tàu. Anh đi ra khơi anh đánh cái lưới xuống, anh bắt được bao nhiêu con cá nên chở cả tấn cá vào anh bán." Và như vậy rồi ông kia nói là, "Nếu như vậy rồi tôi làm gì nếu mà sau khi sắm tàu đánh

[29:11]cá giàu tôi làm gì nữa?" "Thì anh giàu rồi anh mới phát triển thành một đội đánh cá." À khi có một đội đánh cá rồi, rồi ông kia nói, "Rồi tôi làm gì nữa?" "Rồi lúc đó, anh có thể là anh mở một cái công ty, anh xây dựng một cái tòa nhà biệt thự lớn, anh điều khiển các nhân viên à và lúc đó..." rồi ông kia mới hỏi, "Rồi rồi tôi làm gì nữa?" "Lúc đó anh có thể anh đi chơi, anh ra bờ biển, anh có thể ngồi thong thả anh câu cá thoải mái." Nói, "Ủa thì tôi đang làm đây nè. Mắc mớ gì bắt làm chi cho cực rồi cuối cùng tôi cũng anh cũng kêu tôi ngồi đây câu cá, thì nãy giờ tôi ngồi đây câu cá có gì đâu mà mắc công

[29:43]với anh tốn mấy chục năm." Thì cái câu chuyện nó nghe vui. Nhưng mà rồi cuối cùng ta mới thấy là con người ta đi một vòng cho đã đời, cái hạnh phúc nó không phải ở kia. Mà hạnh phúc là cái gì? Bây giờ người ta mới phát hiện hạnh phúc là một cái khác, chính là sự bình an của tâm hồn, chính là sự bình an của tâm hồn. Và cái sự bình an của tâm hồn này, nếu có có những người may mắn do một cái duyên lành gì đó, bỗng nhiên ta được ai đó dạy, hoặc ta được Đức Phật dạy, hoặc ta được một thiện tri thức dạy, ta đã xác định ngay từ đầu là hạnh phúc chính là sự bình an của tâm hồn thì ta may mắn ta nhắm vào đi đó ta đi luôn,

[30:26]xách cần câu ra ngồi câu luôn, không cần đi làm đội thương thuyền đánh cá gì nữa là ta có hạnh phúc. Nhưng nếu mà ta không may mắn, ta cứ đi theo thói thường, ta phải làm giàu, ta phải kinh doanh, ta phải chiến đấu, ta phải cạnh tranh khốc liệt, ta phải để lại rất nhiều kẻ thù, ta phải để lại đằng sau lưng ta rất nhiều đau khổ để ta được hạnh phúc thì cuối cùng ta cũng chợt hiểu một điều mà cái người may hơn ta họ hiểu ngay từ buổi đầu của cuộc đời họ là hạnh phúc chính là sự bình an của tâm hồn. Chúng tôi hồi nhỏ, chúng tôi học với một ông thầy giáo, ổng dạy Anh văn năm lớp 9 đó thì nhìn cái tướng ông này ổng có vẻ ổng

[31:05]đẹp trai mà có vẻ ổng ăn chơi, chắc bồ ổng cũng nhiều, thấy ổng bồ hào hoa. Ổng ngồi cái ổng ổng dạy Anh văn ổng dạy lâu lâu ổng lại buồn tình ổng tâm sự với học trò. Ổng nói câu này không biết lúc đó ổng buồn tình ổng thất vọng ai không hiểu, ổng vô lớp bữa đó ổng dạy ổng buồn buồn thì ổng quay xuống học trò ổng nói một câu: "Một phút hoan lạc để nghìn đời nuối tiếc." Rồi ổng ổng đi qua đi lại cái ổng quay lại ổng nói một câu nữa: "Hạnh phúc thực sự chính là sự bình an của tâm hồn." Rồi bắt đầu ổng dạy. Thì mấy đứa bạn trong lớp dường như quên mất liền, không biết sao chúng tôi chắc cũng có duyên tu hành,

[31:40]nhớ hai câu đó suốt đời không bao giờ quên. Chẳng bao giờ ổng lặp lại nhưng vĩnh viễn mình không bao giờ quên nữa. Và về nhà chúng tôi viết hai câu đó lại trên vở của mình. Và cũng không biết tại sao viết, đến khi này sau này lớn lên, gặp được Phật pháp rồi mới biết rằng cái điều mà ông thầy của mình ổng tới 50 tuổi ổng tìm ra thì mình được ổng dạy năm mình mới mười mấy tuổi. Và từ đó nó thành cái định hướng lờ mờ lờ mờ để cho ngày hôm nay khi hiệp Phật pháp rồi, mình đem trọn cuộc đời mình đi theo. Chúng tôi cũng xin tâm sự một chút vậy. Hồi nhỏ, chúng tôi lớn lên một chút, chúng tôi là người sống cũng có lý tưởng.

[32:15]Chúng tôi đặt cho mình cái câu hỏi thế này: "Con người ta sinh ra lớn lên để làm gì?" Thì chúng tôi tự trả lời: "Con người ta sống để tìm hạnh phúc." Cái câu trả lời này được chứ ha, cũng có lý. Tự nhiên câu hỏi thứ hai khởi lên: "Vậy mình sẽ tìm hạnh phúc cho mình hay cho mọi người?" Thì cái câu trả lời tiếp theo: "Thôi, phải sống để tìm hạnh phúc cho mọi người." Rồi sau đó chúng tôi mất 3 năm để đi tìm thế nào là hạnh phúc, đi tìm hiểu thế nào là hạnh phúc. Chúng tôi cũng đã thử nghiệm, nghiên cứu qua nhiều lĩnh vực, đủ thứ mặt hết, từ cái khoa học, kỹ thuật, kinh tế, chính trị đủ mạng hết trơn.

[32:50]Cho đến một ngày chúng tôi gặp Phật pháp, chúng tôi được dạy rằng: "Lòng tham con người là vô đáy. Bây giờ ta có cho con người một Trái Đất, con người vẫn đòi thêm Mặt Trăng." Lòng tham con người Cho nên, chỉ cho con người ta cái đạo đức và sự bình an thì người ta vĩnh viễn hạnh phúc. Vĩnh viễn hạnh phúc bởi vì người ta sẽ sống biết kềm chế, làm cho mọi người chung quanh họ được hạnh phúc nên họ được hạnh phúc. Cái công thức chỉ là như vậy: vì ta đem được hạnh phúc cho người chung quanh ta nên ta sẽ được hạnh phúc, công thức chỉ nằm nhiêu đó thôi. Nhưng mà cái gọi là sự bình an của tâm hồn nghe nói đơn giản như một ông già cứ ngồi câu từng

[33:31]con cá mà sự thật không đơn giản chút nào hết. Muốn được cái sự bình an của tâm hồn đó, ta lại phải vất vả và vất vả không kém gì cái người mà bước ra thương trường cạnh tranh khốc liệt với bao nhiêu đối thủ. À, tuy chỉ có điều là nó lặng lẽ hơn, nó cao thượng hơn mà thôi, chứ cái vất vả đi tìm sự bình an của tâm hồn là không hề dễ dàng. Ví dụ như ở đây ta có cái câu lạc bộ thiền thì như vậy chắc hẳn rằng bao nhiêu thời gian qua là quý vị cũng đã khổ công thực tập, phải không? Nhưng mà ngày hôm nay quý Phật tử, quý quý vị đã xác định mình tâm hồn mình đã được bình an chưa? Được chưa? Chưa, đó là câu rất thật.

[34:17]Mặc dầu ta có cái niềm tin gì sâu thẳm á là con đường ta lựa chọn đã đúng rồi, mà không phải đúng đâu, nó siêu đúng nữa, bởi vì nó đón đầu cái tương lai của nhân loại. Nhưng mà để đạt được kết quả bình an, ta chưa hề. Bởi vì sao? Bởi vì đây là vấn đề không nhỏ. Một ngày nào đó mà ta đạt được sự bình an của tâm hồn thì ta không ngờ, ta không ngờ nó không chỉ là sự bình an của tâm hồn mà nó là cái gì? Nó là cái gì? Chúng tôi muốn kể lại một cái câu chuyện thiền ngắn ngắn. Lúc đó có một à thiền sinh đến hỏi đạo một thiền sư.

[35:01]Ông thiền sư ổng ổng trả lời một cái câu thích hợp nhưng người thiền sinh không hiểu. Cái ông thiền sinh đó mới đi qua một thiền sư khác, nói: "Dạ con đến cái vị đó, con hỏi câu đó vị đó đã trả lời như thế mà con không hiểu." Cái ông thiền sư thứ hai mới nói: "Ồ! Ngươi chỉ xin có một viên ngọc mà thiền sư Ngưỡng Sơn đã trút hết cả giỏ cho ngươi." Nói câu này cái ông thiền sinh bừng ngộ liền, giác ngộ liền, trở thành một thiền sư. Tức là ổng chỉ hỏi một câu để tìm một cái đạo lý thì ông kia cũng trả lời một câu, nhưng mà ông thiền sư thứ hai nói rằng ổng cho hết nghề rồi, cho hết cả giỏ. Thì cái thiền này cũng vậy.

[35:44]Ta cứ nghĩ ta đi tìm sự bình an của tâm hồn, cho tâm hồn ta bình an, giải tỏa những stress, những căng thẳng trong cuộc sống này, rồi cơ thể ta cũng nhờ vậy khỏe hơn một chút, ta chỉ đạt đặt cái mục tiêu đơn giản thế thôi. Nhưng mà không ngờ, hễ ta được một viên ngọc rồi là ta được nguyên một cái giỏ ngọc, một đống ngọc luôn. Hễ tâm hồn vừa bình an một cái rồi, tất cả mọi điều khác mở ra luôn. Trí tuệ siêu việt ta mở ra luôn. Sự cao thượng của ta, đạo đức của ta mở tung ra hết luôn. Ta thành một con người mới, con người mới mà bao nhiêu năm nay các nhà khoa học vẫn đi tìm. Ví dụ nếu nói theo thuyết tiến hóa của Darwin thì khỉ thành người, phải không?

[36:23]Thì con người mấy triệu năm nay phải thành con người khác hơn chứ? Nếu mà nếu có cái quy luật tiến hóa như vậy thì khỉ đã thành người thì người phải tì thành một cái loài giống cao hơn nữa, nhưng mà thành không? Không. Trong khi các nhà khoa học cứ trông chờ, trông chờ riết rồi cái họ lại tiếp tục áp dụng cái thuyết Darwin, à cái thuật đột biến gen vậy họ mới lấy bên Mỹ vậy có một tổ chức bí mật, họ mới lấy các gen của những nhà khoa học mà đoạt giải Nobel đó, họ mới cấy vào trứng của những người phụ nữ mà họ cho rằng là thông minh, à tháo vát, giỏi giắn, tạo ra những đứa con. Nhiều đứa con đã được sinh ra mà không được công bố.

[37:03]Và sau 40 - 50 năm, chương trình đó dẹp tiệm, tiếng miền Nam gọi là dẹp tiệm á, phá sản. Vì sao vậy? Vì những đứa con mà được kết hợp bởi cái gen của các nhà đạt giải Nobel và các cô gái thông minh á, đứa nào cũng ngu hết trơn. Trừ một đứa chỉ số thông minh tới 180 là khá cao, nhưng mà sống ngông ngông nghênh nghênh chả có định hướng gì hết trơn, một người duy nhất, còn nhiêu đều ngu. Thế người ta không hiểu, không hiểu bí quyết nằm chỗ nào tạo nên những con người phi thường cho nhân loại. Thì rõ ràng con người không hề tiến hóa. Bây giờ ta can thiệp bằng gen cũng không có kết quả. Như vậy con người phi thường nằm ở đâu? Xin trả lời:

[37:41]con người phi thường sẽ xuất hiện từ câu lạc bộ thiền của UNESCO Hải Phòng.

[37:52]Tại sao? Tại sao ta dám nói rằng khi tâm hồn ta được bình yên thì ta thành con người mới? Cái câu trả lời như thế này: Các nhà khoa học công nhận rằng ta chỉ mới sử dụng được 5% bộ não của mình mà thôi. Nghĩa là còn một khối 95% bộ não ta không sử dụng được và bao nhiêu tiềm năng bí mật nằm ở trong đó. Và các nhà ngoại cảm, những người mà có thể nhìn xuyên qua vật thể, những người có thể nhìn thấy cõi âm, có thể tìm được mộ liệt sĩ là họ có xài thêm một cái não nào đó. Các nhà khoa học tin như vậy. Tin như vậy mà không biết tạ làm sao để khai thác được những phần não còn lại? Thì xin thưa, cái chìa khóa nằm ở nơi thiền.

[38:36]Tại sao?

[38:40]Chúng ta hãy tưởng tượng đây là một cái bộ óc của con người, bộ óc con người một cái khối như thế này. Thì cái vỏ bên ngoài này gọi là vỏ não. Hiện nay chúng ta sẽ sử dụng cái vỏ não này thôi. Nơi cái vỏ não này có những cái vùng ta tư duy, những vùng sáng tạo, có những vùng tình cảm, và có những vùng chịu trách nhiệm ngón tay, ngón chân, lưng, cái bụng, cái đầu gối. Nghĩa là toàn bộ cái thân phía dưới nó đều có một cái vị trí nằm ở trên cái vỏ não này. Ví dụ ta kích, ta lấy cái kim ta châm vào một cái vùng não mà chịu trách nhiệm của bàn tay, ta sẽ thấy bàn tay mình bắt đầu nhúc nhích nhúc nhích liền, như là ta điều khiển.

[39:20]Ví dụ ta châm vào cái vùng não mà chịu trách nhiệm cái bàn chân, ta sẽ thấy bàn chân mình bắt đầu ngo ngoạy ngo ngoạy liền. Nên nên cái vỏ não như vậy, và chỉ có vỏ não thôi, và nơi cái hoạt động vỏ não bên ngoài này các nhà khoa học gọi là 5% của bộ óc được sử dụng. Và ta vẫn tiếp tục là những con người bình thường như thế này. Nếu ta thực tập được thiền định, mà thực tập thiền định là gì? Tức là làm cho những suy nghĩ dừng lại, cái vùng hoạt động của vỏ não này dừng lại, thì chuyện gì xảy ra? Ta cứ tưởng là ta ngu hả, không suy nghĩ là ngu? Không phải. Khi mà cái vùng vỏ não này nó dừng lại thì những

[40:00]cái vùng lõi bên trong não nó sống dậy. Bí mật nhiêu đó, công thức chỉ nằm nhiêu đó. Nhưng không có nghĩa là toàn bộ cái lõi não nó sống dậy, nó chỉ một lớp sâu hơn nó sống dậy thôi. Tức là cái vỏ bên ngoài khi mà nó dừng cái suy nghĩ, khi ta ngồi thiền mà tâm thanh tịnh, mọi tư tưởng lắng hết, thì cái lớp não sâu hơn khoảng một centimet nó sẽ sống dậy. Bên trong sâu hơn vỏ não một chút nó sống dậy. Còn khi nào mà ta được nhập định siêu đẳng như các vị A-la-hán á, thì toàn bộ cái nó dừng lại hết mà chỉ còn một cái điểm não cuối cùng bên trong để nó trở thành toàn thể vũ trụ thôi. Cái lõi não bên trong sâu nhất là nơi cái điểm mà làm cho

[40:41]ta trở thành tuyệt đối như là vũ trụ, nhưng mà chỉ có những vị A-la-hán và Phật mới làm sống dậy cái vùng đó. Còn chúng ta chỉ dừng được một phần vỏ não thì cái lớp não sâu hơn một chút nó sống dậy, ta bắt đầu thành người phi thường. Tự nhiên mình liếc nhìn một con người cái, mình phát hiện ra con người này tính tình như thế nào, phước đức của họ, nghiệp của họ, nhược điểm của họ chỗ nào, ưu điểm của họ chỗ nào, tương lai họ sẽ ra sao. Chỉ một vùng não sâu hơn thôi, chút nữa. Rồi nghĩa là ta biết được nhiều điều mà trước đây ta không biết. Bây giờ ta định nghĩa thế nào là người thông minh và người kém thông minh.

[41:17]Định nghĩa chỗ này chút xíu ha, cũng ăn thua cái lớp não á. Cái người mà kém thông minh á là chỉ có cái vùng rất cạn bên ngoài vỏ não hoạt động, làm cho người đó sống và sống cảm tính, sống theo bản năng. Còn cái người thông minh á, cái độ mà sâu hơn, cái lớp não sâu hơn một chút nó hoạt động, nó sống dậy, cho nên làm người đó họ suy luận, họ sáng tạo được, họ nhìn ra vấn đề từ trước khi mà kết quả được công bố. Có những người học sinh, mà xin thưa là chúng tôi nghĩ rằng nhiều người ngồi đây cũng được như vậy, lúc ngày xưa khi ta còn đang học cấp hai, cấp ba, ông thầy ổng ra một bài toán chưa cần giải, ta đoán kết quả được rồi,

[42:00]và ta cứ tập trung giải đi ra cái kết quả ta đoán đó, không đi lạc qua hướng khác. Có đúng không? Có nhiều người đã được như vậy phải không? Có không ạ? Có. Thì cái mà tự nhiên đưa ra bài toán chưa giải chưa gì hết trơn mà ta đã mơ hồ nhìn thấy kết quả nó nằm ở hướng nào để ta tập trung đi theo hướng đó để không đi lạc và mất thời gian, cái đó vẫn là một lớp não sâu hơn cái vỏ não một chút. Đó là nên cái người thông minh tức là người mà cái não hoạt động có bề dày hơn hơn là những người kém thông minh. Người kém thông minh là cái cái mỏ cái vỏ rất cạn hoạt động, còn người thông minh thì cái lớp nó sâu hơn.

[42:35]Còn cái bậc mà đạt được thiền định, lớp bên ngoài nó tắt luôn và cái lớp sâu hơn nó sống dậy. Ta dùng chữ sống dậy chứ ta không dùng chữ hoạt động. Bởi vì lúc đó khi tâm định rồi nó không có hoạt động lăng xăng mà nó chỉ còn cái sống dậy, sức sáng tạo vô tận, cái biết thật là sâu sắc. Nên ở đây là ta sẽ thử nghiệm rồi ta sẽ thấy. Ví dụ bây giờ mấy vị lớn tuổi, ta bắt đầu quên, quên trước quên sau, hoặc là khả năng mà suy luận phán đoán, học tập ta nó giảm hẳn á, nha bạn, bởi vì bộ não ta đã lão hoá, một số tế bào não đã chết. Nhưng nếu ta tập thiền, ta tập thiền đúng phương pháp, tâm ta thanh tịnh, cái lớp não sâu bên trong nó sống

[43:18]dậy, ta giỏi còn hơn ngày xưa lúc còn trẻ luôn. Nó như vậy. Hoặc là những con cái của ta ở nhà cũng vậy, thấy nó học bình thường, ta hướng dẫn cho nó ngồi thiền, tâm nó thanh tịnh được rồi, nó sẽ đạt thành tích xuất sắc liền. Và đây là điều mà chúng tôi trải nghiệm trong bản thân mình chứ chúng tôi không có nói mò đâu. Lúc chúng tôi còn trẻ cũng vậy. Cho nên cái thiền, cái cơ chế của thiền mà làm người ta thông minh hơn chỉ bởi vì làm cho vỏ não bên ngoài nó tạm lắng yên, nó đánh thức cái phần não sâu hơn một chút, làm ta thông minh hơn. Nhưng nếu nó lại lắng yên hơn nữa, cái vùng não sâu hơn sâu hơn nữa thức dậy,

[43:59]thì bắt đầu nó không còn là thông minh nữa mà bắt đầu gọi là những khả năng siêu nhiên xuất hiện, ta gọi là những nhà siêu cảm hay ngoại cảm. Bây giờ nói những nhà siêu cảm hay ngoại cảm, ta cũng phân biệt làm hai loại: một loại do tập luyện và một loại do một cái nhân duyên vô tình nào đó. Ví dụ có một cái cô đó bị chó cắn, hổng chết, tự nhiên một cái vùng não sâu hơn sống dậy, bắt đầu cô nhìn thấy người âm, nói chuyện được với người âm, nhìn xuyên qua mặt đất được. Thì cái đó không phải do tập luyện, nhưng mà một cái nhân duyên ở kiếp trước, tự nhiên cái vùng não ngay cái vùng đó nó sâu, mà nó chỉ một vùng thôi chứ nó không có toàn bộ bộ não như là cái người tập luyện.

[44:37]Cái người mà tập luyện á, toàn bộ cái bộ não họ sâu đều vào trong. Còn cái người mà vô tình á, nó chỉ một vùng nào á nó sâu vô trong, những vùng khác nó vẫn cạn, là vậy. Thì cái đó là cái người ngoại cảm vô tình. Còn người ngoại cảm mà do tập luyện thì vùng não nó sâu đều vô trong nên nó phát triển đồng bộ hơn. Nên ta có những nhà ngoại cảm siêu nhiên là chỉ bởi vì cái vùng não sâu hơn hoạt động, nó nó sức nó sống dậy, sống dậy. Nên ở đây khi mà ta tập thiền mà nếu đúng phương pháp, cái vùng vỏ não ta yên lặng, thì ngoài cái lợi ích mà là tâm hồn ta được bình an, ta được hạnh phúc, ta thanh thản, ta thênh thang, đạo đức ta phát triển tốt,

[45:17]lòng thương người ta lớn lao hơn, ta còn thêm một lợi ích vô cùng lạ đó là có những khả năng siêu nhiên xuất hiện. Nên ở đây nếu một ngày nào đó thế giới họ hiểu được điều này, họ sẽ bắt buộc tất cả học sinh trong trường học phải tập thiền, bắt buộc. Điều đó không xa đâu. Mà ngày nay nhen nhóm các nước trên thế giới thấy hết rồi. Các nhà lãnh đạo của các quốc gia đều được nghe báo cáo hết rồi về vấn đề này rồi, nhưng mà họ ngần ngại mà họ không đưa vào nhà trường, chỉ có một ít nơi đưa vào thôi. Chỉ bởi vì sao? Chỉ bởi vì là họ chưa có một giáo trình chuẩn, chuẩn mực về cái phương pháp thiền. Cái đầu này ông kia ổng dạy thiền kiểu đó, đầu khác ông khác ổng dạy thiền

[46:01]kiểu đó, không biết đường đâu mà tập, sợ tập lung tung lên nó điên lên. Đó là vấn đề có thật. Cho nên họ dè dặt dè dặt, mặc dù họ biết rằng chính con đường thiền này làm cho loài người phát triển vượt lên thành một loài người mới. Cho nên thiền chính là tương lai của nhân loại, nhưng vấn đề còn lại là vấn đề phương pháp cho cho đúng thôi, ừm. Hồi xưa á, nếu mà gọi là một trẻ em đi học đến nhà ông thầy đồ trong làng để ổng dạy học, thì cứ bò dài ra mà viết chữ thôi. Học kinh thư, kinh thi, kinh lễ, học sử, học văn, học câu đối, câu phú, cứ học viết văn cho giỏi rồi làm ông thầy đồ được. Nhưng mà để đậu tới tiến sĩ, trạng nguyên thì người đó phải

[46:46]có cái lý luận về chính sự, về kinh tế, về quân sự. Thời xưa như vậy, chứ không phải là ta đừng có tưởng mấy ông trạng nguyên hồi xưa chỉ giỏi chữ nghĩa nha, không có đâu. Nếu mà chỉ giỏi chữ nghĩa không bao giờ được đậu trạng nguyên. Tại vì cái bài văn mà của các tiến sĩ mà thi á, cuối cùng là ông vua chấm. Ông vua mới quyết định người nào đậu trạng nguyên, mà ông vua không bao giờ ổng chấm theo chữ nghĩa văn hay, không bao giờ chấm là à cái câu văn này tả cái cây, tả non sông hay quá, không có đâu. Cái bài văn để đậu trạng nguyên là bài văn viết về chính sự, nói thẳng là viết về chính trị. Cho nên đầu óc ông trạng nguyên là cái đầu óc của một lãnh tụ, cái thời đó như vậy.

[47:25]Nhưng mà tuy nhiên ở ban đầu đi học á thì đứa bé nó chỉ được học chữ à. Sau này rồi cái hệ thống giáo dục lớn lên, người ta mới biết là học chữ mà không có vận động thể chất thì đứa bé nó nó ngu liền, nên phải chạy ra cho nó tập thể dục giữa giờ. Mà tương lai này không phải tập thể dục giữa giờ nữa mà tập thêm cái gì nữa? Thiền nữa. Tương lai các trường học sẽ phải tập thêm thiền. Chỉ có điều là ta chưa có một cái một cái phương pháp thực hành thiền định mà chuẩn nhất cho thế giới đi theo, nên các quốc gia cứ dè dặt dè dặt. Phải không, đầu này thì nghe đạo Phật, mà đạo Phật tám vạn bốn ngàn pháp môn môn, không biết đường đâu mà lấy.

[48:09]Gặp qua bên đạo Ấn Độ thì ổng bắt tập yoga, gặp qua ông Trung Hoa ổng bắt luyện khí công, vân vân, đi về Phi Châu mấy ổng bắt luyện bùa. Nên nghĩa là thế giới không biết đường đâu, nên vẫn đang chờ đợi. Hiện nay trên thế giới á ở đâu cũng thi đua dạy thiền á, vì thiền lúc này giống như cái mốt vậy á. Nghĩa là con người ta sống mà có tri thức một chút, có tiền bạc một chút xíu, bắt đầu ai cũng phải nghiên cứu thiền. Tự hỏi tới mà không biết thiền có vẻ người này hơi hơi lạc hậu. Lúc này như vậy, quý vị có thấy điều đó không ta? Đi đây đi kia nói chuyện nhau mà ông này coi bộ ổng chưa biết gì về thiền hết, coi bộ hơi ngờ ngợ ổng à,

[48:47]có vẻ ổng hơi lạc con người không được văn minh tri thức lắm. Tại con người tri thức hiện nay từ cả Đông phương qua tới Tây phương là nói chuyện internet, khoa học kỹ thuật, tên lửa thế giới, bàn ngoại giao chính trị quân sự, rồi cuối cùng phải biết thiền một chút. Không biết thiền là hơi lạc hậu à. Nhưng khắp nơi thi đua nhau dạy thiền trên thế giới, khắp nơi thi đua. Và những người thực hành theo á có người bắt đầu có kết quả, tâm bắt đầu được yên tĩnh, thấy được hạnh phúc của cuộc sống, thấy đạo đức mình được cải thiện. Nhưng có người cũng không kết quả, tu hoài cũng chẳng có gì hết. Rồi mà có người chẳng những không kết quả mà điên

[49:23]luôn, rối loạn nhân cách luôn, bắt đầu ngồi nói lải nhải lải nhải, rối loạn nhân cách luôn. Chính vì có những cái phản tác dụng khủng khiếp như vậy gọi là điên, mà điên rồi chữa cực lắm vì bộ não hư rồi khó chữa. Nghĩa là phổi hư mình còn chữa được, tim hư còn mổ thay được, não hư rồi chịu thua. Rất là khó phục hồi, vì chính vì mà họ tu sai họ vất cả một đời họ luôn, từ lúc mà họ điên rồi tới cuối đời hết xài luôn. Nên người ta sợ, sợ. Nên ở đây chúng ta sẽ biết là tại sao mà có hiện tượng tu điên hoặc là tu không có kết quả.

[50:02]Đức Phật đã dạy Thiền rất là kỹ lưỡng, mà Ngài dạy Thiền Ngài không có nói rằng chỉ tu theo Ngài là tu Thiền, mà phải tu theo Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo tức là tám điều để tu lận, mới gọi là hoàn hảo của một cái con người tu tập, chứ không phải là chỉ Thiền không. Và Thiền chỉ là một nhánh, cũng nói được, nó là một đỉnh cao thôi, một cái đỉnh cao của sự tu tập. Mà ta biết rằng không có cái đỉnh nào mà không có cái, không có cái, cái nền, phải không? Muốn có cái đỉnh cao mà đỉnh muốn thật cao thì cái nền phải càng to, càng lớn. Cho nên vì vậy, Bát Chánh Đạo tức là tạo thành cái nền rất lớn để trên đó ta đặt cái đỉnh cao thiền định.

[50:50]Bát Chánh Đạo thì hôm nay ta không có thời gian để nói, ta chỉ trích ra một chút xíu thôi là cái Chánh Nghiệp, là một đời sống cao thượng, chân chính, hiền lành, thánh thiện, vị tha.

[51:03]Và như vậy, nếu ta nói tới Thiền thì ta không được quyền chỉ nói đến những giờ phút mà ta ngồi kiết già lặng lẽ, bất động, mà ta phải nói tới cái gì nữa? Ta phải nói tới gì nữa? Ta phải nói tới cuộc sống, cuộc sống.

[51:25]Một người nào mà có đời sống hiền lành, chân chính, thánh thiện, vị tha thì người đó đang có một cái nền rất lớn của Thiền. Và chỉ cần người đó bắt chân lên ngồi nữa thôi là người đó sẽ lên được, được đỉnh, lên được đỉnh. Ở đây á, vào cái thời trước đây có những vị họ không tu theo đạo Phật mà họ chỉ tu theo đạo Nho thôi, họ chỉ tu theo đạo Nho. Và cái đặc điểm của đạo Nho á là đâu ra đó, dứt khoát, cương quyết, mạnh mẽ, thẳng thắn, cương trực và sống cho đúng. Về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín ha, là giữ cái lễ độ, người trên người dưới, đâu luân thường đạo lý là kỹ lưỡng, sống nhân ái với con người, sống có tín nghĩa với bạn bè, vân vân.

[52:12]Họ chỉ sống vậy thôi, không ngờ họ đạt được cái nền của Thiền. Những người đó nếu may mắn mà gặp được Thiền họ vào Định rất dễ dàng. Hoặc nếu họ không may mắn gặp được Thiền, cái ngày họ chết rất yên lành, họ vẫn báo trước ngày chết như thường. Rất nhiều nhà Nho sống một đời đạm bạc, quân tử, chân chính báo trước con cháu: "10 ngày nữa cha đi nha con", gọi các con về, đúng 10 ngày nữa nằm chết liền, bình thản, thanh thản ra đi, chỉ bởi vì ổng đã có cái nền của Thiền bằng một đời sống tốt đẹp. Cái đất Hải Phòng của ta á có duyên với một vị thánh anh hùng của ta là ai?

[52:54]Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Vương, phải không? Là lúc mà kháng chiến chống quân Nguyên, Ngài đã lặn lội giẫm khắp cái bước chân Ngài ở đây để lập những trận thế mà đánh tan các đạo quân địch. Thì Hưng Đạo Vương á, thứ nhất ông là người mộ đạo, mộ đạo Phật. Thứ hai, ông là con người cực kỳ đạo đức, sống chân chính, quân tử, không có tiểu nhân. Nên lúc cha ông dặn ông là phải chiếm ngôi, làm vua để giành lại cái, rửa cái mối thù mà ngày xưa mà Trần Thủ Độ đã ép, ép ép Trần Liễu á, phải chăng? Mà không cho Trần Liễu lên vua mà giao cho Trần Cảnh á, à thì bắt Trần Hưng Đạo phải rửa mối hận đó, Trần Hưng Đạo có làm không? Không làm.

[53:37]Vì nước là trên hết, quyền lợi hay danh vị cá nhân là điều bỏ đi, là cỏ rác, nên một đời ông cống hiến, giữ gìn đất nước và lui lại sống đạm bạc. Lúc về già ông nỗ lực thiền định rất là tinh tấn và đắc được những quả Thiền rất là tốt. Cho nên nơi hình ảnh của Trần Hưng Đạo ta thấy ông có ba điều: Một là một con người quân tử đại độ, đại lượng khi ông phản đối, không vâng lời cha để giành ngôi vua, trả thù. Một con người đại lượng. Thứ hai là một anh hùng của dân tộc vì đã lãnh đạo nhân dân thắng Mông Cổ ba lần, nhất thế giới thời đó. Và cái thứ ba là hình ảnh của một người đệ tử Phật thuần hậu, chân chính, tinh tấn tu tập thiền định.

[54:20]Chính vì ba cái đặc tính cao cả, quý giá này mà ta thờ Ngài là một vị, một vị Thánh của dân tộc ta luôn. Đất nước ta có vài vị Thánh à. Ta tôn xưng có vài vị à. Dạ, anh hùng thì nhiều, nhưng mà để gọi là Thánh chỉ có Thánh Gióng là một huyền thoại, thứ hai là Trần Hưng Đạo, và thời cận đại ta có, ta có Hồ Chí Minh. Một con người sống vậy cũng thiền định, cũng nhân nghĩa, bác ái, cũng đạm bạc, đơn giản, cũng khí phách, đầy công lao với đất nước, đời sống đạo đức, liêm khiết, vân vân. Nghĩa là đất nước mình nếu mà nói mà trong cái lĩnh vực mà chính trị quyền lực thì chỉ ba người ấy được xưng làm Thánh thôi.

[55:04]Thì ở đây vậy, ta thấy những vị đó họ đều giống nhau ở chỗ là có cái nền của một cái đời sống cực kỳ tốt đẹp. Ông Sơn Tùng, nhà văn Sơn Tùng chắc quý vị có biết không? Ổng chuyên viết về Bác Hồ. Ổng nói ổng còn giữ một cái hình của Bác Hồ mà ngày hôm nay ổng vẫn chưa công bố. Cái hình đó do ông Vũ Kỳ chụp là lúc đó buổi sớm tinh mơ, mọi người chưa dậy, Bác Hồ lặng lẽ ra cái dòng suối, leo lên cục đá, nước thì chảy xung quanh, Bác Hồ ngồi bất động ngồi thiền. Cho đến khi sáng sớm mọi người đi ra rồi mới thấy, ông Vũ Kỳ mới bấm được một tấm đó. Và ông Sơn Tùng có những thời điểm nhạy cảm ông không công bố,

[55:41]nhưng bây giờ sức khỏe ổng kém, ổng nói rằng ổng sẽ công bố cái bức hình đó. Thưa thầy, có phải Bác Hồ ngồi thiền ạ? Vâng. Tại hôm nọ con có đặt thư gửi vào cho thầy bức tranh Bác Hồ ngồi thiền ở Pác Bó ạ. Dạ. Chúng ta thấy đó, cái hình ảnh của Bác Hồ với Trần Hưng Đạo giống giống nhau như vậy. Vừa có cái gì nó siêu thoát, tu tập, mà vừa có cái nặng lòng vì dân vì nước, mà thực sự có tài để làm nên chuyện cho đất nước. Chứ vì dân vì nước thì chắc cũng nhiều lắm á, chúng ta ngồi đây ai cũng vì dân vì nước á, nhưng mà để có cái tài để làm nên chuyện cho đất nước thì không phải nhiều. Nên ở đây chúng ta trở lại là Đức Phật nói:

[56:16]"Muốn tu tập thiền định, ta phải có một đời sống hết sức là, là thánh thiện, chân chính." Vì vậy, cái nền của Thiền là đời sống chân chính, thánh thiện và đạo đức. Trong cái đạo đức đó, ta nhớ một điều nữa là sự khiêm tốn, kín đáo. Một cái người tu tập thiền mà đi đâu cũng khoe rằng: "Tôi tu thiền, tôi tu thiền" thì người đó tu không tiến bộ và có thể bị điên. Vì vi phạm một điều rất là lớn là sự khoe khoang, không khiêm tốn. Cho nên ta lập cái câu lạc bộ Thiền rất là tốt, nhưng mà chỉ mong rằng những hội viên của ta hết sức là khiêm tốn. Mặc dù ta đang làm công việc có thể đón đầu thế giới đó, đón đầu cái nền văn minh của nhân loại,

[56:56]sau này nhân loại phải tu thiền mà ta đã bắt đầu, ta đi đầu, nhưng vì cái đạo đức của sự khiêm tốn, ta vẫn không xem mình là, là quan trọng. Giống như trong cái quẻ Dịch là Địa Lôi Phục. Địa Lôi Phục là mọi sự sẽ bắt đầu tốt đẹp khi mà cái vạch liền nằm sát ở dưới đáy á. Ta xem mình như là cát bụi, như là cỏ rác, ai giẫm lên mình cũng, cũng được hết á. Nếu mà sống được như vậy là sống đúng cái quẻ Địa Lôi Phục và mọi điều tốt đẹp sẽ bắt đầu. Chữ Phục là bắt đầu tốt đẹp trở lại. Thì đó là cái nền tảng, nếu không có cái điều này rồi ta sẽ không tu thiền được. Rồi sau cái đời sống thánh thiện đó ta mới nói đến cái kỹ thuật về Thiền.

[57:40]Đức Phật đưa ra rất nhiều cái phương pháp để tu thiền. Sau này chư Tổ cũng bổ sung, sáng tạo thêm nhiều cái phương pháp tu thiền mới. Tuy nhiên, phương pháp nào thì phương pháp, Phật vẫn ca ngợi cái phương pháp theo dõi hơi thở là số một. Đức Phật rất nhiều bài kinh Ngài nói đi nói lại là cái một phương pháp niệm hơi thở ra, niệm hơi thở vào đem đến lợi ích rất là lớn lao cho người tu tập. Đức Phật nói đi nói lại rất nhiều lần. Vì vậy, sau khi mà thực hành chính bản thân mình cũng như nghiên cứu nhiều kinh điển của Phật thì chúng tôi cũng chủ trương là đi theo con đường của Phật dạy là sử dụng cái phương pháp quán niệm hơi thở là chính, là chính.

[58:24]Mặc dù chúng tôi cũng biết các phương pháp khác hết, vì mình tu hành trong đạo Phật mình cũng phải biết hết. Nhưng mà rồi vẫn thấy rõ rằng không có phương pháp nào ưu việt bằng cái phương pháp quán niệm hơi thở, niệm hơi thở ra, niệm hơi thở vào. Nhưng mà muốn theo dõi hơi thở thì chúng ta phải biết, ha. Trong cái khẩu quyết tu thiền chúng ta định nghĩa: "Thiền là điều phục tâm." Đó định nghĩa, bây giờ ai hỏi: "Thiền là gì?", ta trả lời một câu gọn: "Thiền là điều phục tâm", làm chủ tâm. Trả lời gọn không sợ sai. Đi đâu có ai hỏi: "Tu thiền là tu cái gì?", nói: "Dạ, là điều phục tâm." Trả lời một câu không bao giờ trật.

[59:04]Nhưng mà muốn điều phục tâm thì phải điều hòa hơi thở. Đó là cái phương pháp á, là muốn nhiếp được tâm ta phải nhiếp được hơi thở mình, phải điều hòa được hơi thở. Nhưng muốn điều hòa hơi thở thì phải sao? Phải điều hòa được thân, điều được thân, ngồi đúng tư thế, sử dụng đúng tất cả mọi phương pháp, và sống một đời thánh thiện. Như vậy có hai yếu tố làm cái nền trong việc tu tập thiền định là sống một đời chân chính, thánh thiện và điều thân trong cái kỹ thuật Thiền. Thì thứ nhất là cái tư thế ngồi phải là ngồi đúng tiêu chuẩn kiết già. Ở đây chắc chúng ta cũng biết rồi phải không? Chúng ta cũng biết rồi, nhưng mà chúng tôi cũng xin được

[59:45]phép điểm sơ qua một chút nha, điểm sơ một chút. Mời thầy Thiện Hỏa đi lên đi. Trước mặt ta là Thầy Thiện Hòa. Thầy là chúng trưởng Định Tăng của chùa Phật Quang. Dạ, cũng là một con người để... rầm rầm. Thì thay chúng tôi xử lý nhiều việc của chùa, vì chúng tôi cũng rất là bận. Chúng ta ngồi kiết già như là Phật dạy. Chúng ta sẽ vắt chân, vắt chân trái lên trước, vắt chân trái lên trên đùi phải, rồi tới bắt chân phải lên, lên đùi trái. Ta xếp hai cái bàn tay lại, tay phải bàn tay phải để dưới, bàn tay trái để trên, hai cái cùi chỏ ta sẽ khuỳnh ra xa hông chứ không có được ép sát hông. Mắt mở rõ nhìn xuống, miệng ngậm sát môi, lưỡi đưa lên chân răng trên,

[1:00:31]hai vai xuôi đều, lưng thẳng, thì đây là cái tư thế ngồi. Tư thế ngồi là một trong những phương pháp điều thân, chúng ta phải nhớ những điều này cho kỹ. Rồi, khi ngồi như vậy ta không cần lót cái gì mông hết trơn á, cứ ngồi phẳng trên một mặt phẳng như vậy. Khi ngồi trên một mặt phẳng như vậy ta sẽ khó giữ cái lưng thẳng, chính vì khó giữ cái lưng thẳng nên ta phải lúc nào ráng giữ cái lưng thẳng, mà chính cái ráng giữ cái lưng thẳng đó đầu ta mạnh lên liền, sức mạnh tinh thần ta mạnh lên liền. Còn ta kê cái gối ta ngồi cho dễ thẳng lưng, cái đầu mình bị yếu đi, bạc nhược đi. Nên cứ ngồi như vậy.

[1:01:06]Thì khi mà ngồi như vậy rồi bắt đầu cái kỹ thuật mà vận động bên trong đó là ta có hai điều là ta buông lỏng, giữ mềm mại nhưng không cho nhúc nhích. À, cái trung đạo ở chỗ này là không cho nhúc nhích mà lại mềm mại. Chớ thường ví dụ người ta muốn giữ cái gì không cho nhúc nhích ta phải gồng cho cứng phải không? Nhưng không ngờ không được, giữ không nhúc nhích mà lại mềm mại thì cái cái kỹ thuật của ngồi như vậy, giữ thân mềm mại mà không cho nhúc nhích. Tập như vậy một vài tháng, tập như vậy là một vài tháng gọi là điều thân căn bản ban đầu. Rồi một điều nữa, Đức Phật mới phát hiện ra rằng từng cái tế bào của ta nó đòi hỏi cái sự sống mãnh liệt,

[1:01:49]nó làm thành cái bản năng chấp thân và chấp ngã, nên Đức Phật buộc ta phải quán cái thân này vô thường. Quán cái thân vô thường nghĩa là sao? Ta ngồi đó, ta tự biết cái thân này nó sẽ một ngày nào nó sẽ, sẽ, sẽ lên đường. Nhưng mà ta nghĩ rằng à cái thân này ngày nào nó sẽ chết là ta biết thân vô thường là không được. Phật không chưa đồng ý, chưa chịu. Phật buộc ta phải nhìn cái thân mình nó chết rồi nó sẽ như thế nào? Xình. Xình rồi sao? Xẹp. Xẹp rồi sao? Khô. Khô rồi sao? Mục. Mục rồi sao? Rã. Rã hết rồi nhưng mà còn cái gì? Xương. Và phải thấy cái xương đó cho tới cái ngày nó làm sao? Mục thành bụi, gió thổi bay mất luôn.

[1:02:39]Đó là Phật buộc ta thấy cái thân mình phải thấy cho tới cái chỗ đó. Hồi xưa vì lúc mà chúng tôi bắt đầu vào tu, nghiên cứu kinh điển, đọc tới cái chỗ đó tôi cứ ngạc nhiên hoài. Nói chết là hết rồi mà Phật bắt chi mà sau cái chết phải quán quá kỹ như vậy. Đến khi mà mình tu nên không không có chịu quán, lúc đó đọc cho biết thôi, chứ không có chịu quán là cái thân mình nó sẽ vô thường tới cái độ mà xương nó tan thành bột nó bay luôn. Lúc đó không chịu, thầy nghĩ là Phật nói dư. Nên cứ lặng lẽ là mình điều phục tâm. Khi mà điều phục tâm đến một lúc mới chợt nhận ra rằng là thẳm sâu trong tâm mình cái chấp thân rất khủng khiếp.

[1:03:14]Cái chấp thân nó nằm sau khi chết vẫn chấp. Tức là cái người chết mà ta chôn họ ở đâu họ sẽ xem đó là cái nhà, họ ở đó hoài. Do đó, tại sao trong nghĩa địa nhiều ma? Bởi vì cái xác ở đâu hồn theo đó ở đó. Nên nghĩa địa đầy ma, là vì vậy thôi. Là cái cái chấp thân con người khủng khiếp, dù còn cái xương vẫn thấy nó là ta. Cái chấp nó thẳm sâu thẳm sâu như vậy, không buông được. Mà khi chúng tôi tu một thời gian dài rồi mới phát hiện cái chấp của mình nó khủng khiếp, lúc mới lật đật quay trở lại kinh Phật mà phải quán thân này là vô thường, sẽ xình, sẽ tan, tro thành bụi bay mất luôn. Phải quán như vậy bắt đầu mới thấy yên tâm được,

[1:03:54]trong thẳm sâu mình mới yên tâm được. Lúc mới nể Phật, mới thấy là đúng là trí tuệ của Phật không ai qua được. Phật đã nói đừng cãi, đừng cãi vô ích lắm. Phật đã nói từng lời từng chữ là vì lợi ích chúng sinh, còn ta tưởng là ta giỏi hơn Phật, ta sửa đi hay là ta bỏ bớt là ta sai lầm nặng á. Là như vậy, giai đoạn đầu điều thân ta ngồi đúng tư thế, giữ thân mềm mại mà bất động, rồi bắt đầu quán thân vô thường mà quán cho tới khi cái xương nó thành bụi bay mất luôn. Tương lai nó như vậy chứ hiện tại thì chưa, nhưng biết nó sẽ như thế, không còn con đường nào khác. À. Rồi bắt đầu mới tới hơi thở.

[1:04:30]Tới cái hơi thở này là chỗ tinh yếu nhất, quan trọng nhất, xin mọi người lắng lòng nghe kỹ. Chỗ này mà nói chuyện là mất phước rồi nha. Mình hiểu cho rõ để tu cho đúng và hướng dẫn người khác. Lúc nào ta cũng thấy rõ cái thân này, biết rõ toàn thân để giữ thân mềm mại bất động. Vọng tưởng nó khởi lên, cái nó làm ta quên cái thân. Trong kinh gọi là hiện tại bị bỏ quên. Hiện tại là gì? Hiện tại là lúc ta đang ngồi phải không? Ta đang ngồi đây, ta đang nhìn cái thân này, nhưng mà ý nghĩ, vọng tưởng chợt nó khởi lên, nó kéo ta đi về quá khứ, mơ ước tương lai, hoặc là nhớ chuyện đâu đâu. Ta quên mất ta đang ngồi đây, ta quên mất cái thân ta đang quán đây, đang giữ đây.

[1:05:10]Lúc đó làm sao mà quay lại được? Làm sao quay lại để tu tiếp? Mặc dù ngồi đó chứ ngồi suy nghĩ tùm lum hết trơn, đâu có tu gì đâu. Vậy làm sao ta quay lại được? Đâu có nhớ đâu mà quay lại, quên. Nhưng mà tại sao ta nhớ để ta quay lại tu tiếp? Tại sao? Cái mốc nằm chỗ này: chính đời sống thánh thiện chân chính của ta. Chính trong đời sống ta luôn luôn giữ điều thiện rất kỹ, không làm điều xấu, điều ác. Đây là cái phước á. Trong đời sống ta đã giúp đỡ rất nhiều người được an lạc, được hạnh phúc. Chính cái phước bí mật của cả suốt một đời sống đó, nó mới làm thành một cái trí nhớ nhắc ta quay lại.

[1:05:49]Vọng tưởng vừa khởi lên, nhớ người yêu cũ, quay lại liền, bỏ. Vọng tưởng vừa khởi lên, nhớ chuyện làm ra tiền ra bạc, bỏ, quay lại. Chính mà một cái phước ngấm ngầm tự nhiên tạo thành một cái cái nhớ, cái gọi là trong đạo Phật gọi là chánh niệm, giúp ta quay lại với công phu. Còn chỗ này bó tay nha, không có một cái tài nào để làm được điều này hết. Ta thông minh gấp trăm ngàn lần, ta siêu bác học tới cỡ nào cũng vậy, mà khi mà ngồi thiền mà vọng tưởng nó khởi lên rồi thì cái trí thông minh vứt đi, không dùng được. Chỉ có cái phước, cái phúc, cái mà ta đã đối xử tốt với con người, cái đó mới giúp ta nhớ quay lại với công phu của ta.

[1:06:30]Hoặc là mấy các vị tu hành cũng vậy, nhiều khi chuyên tâm niệm Phật, nhiều khi cứ ngồi niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật mà quên một cái mất rồi là mất câu niệm Phật luôn, không biết mình đang ngồi đâu nữa. Có không? Có. Nhưng mà cái gì làm ta quay lại với câu niệm Phật, ta chuyên tâm với câu niệm Phật? Xưa, thưa chính cái phúc ta, chính cái đời sống ta đối xử tốt đẹp với con người giúp cho ta quay lại an trú trong từng chữ của câu niệm Phật. Thì đây cũng vậy, cái gốc chính mà cái nền mà phước nãy giờ ta nói một đời sống chân chính thánh thiện á, giúp cho ta quay lại với công phu của mình.

[1:07:06]Lúc đó lúc nào ta cũng nhìn thấy cái thân này, lúc nào cũng biết rõ toàn thân, cả cái thân đang mềm mại, đang bất động này. Rồi chuyện gì xảy ra nữa? Bắt đầu đây cái cái key đây, cái chìa khóa nằm chỗ này. Bao nhiêu cái nền, bây giờ bắt đầu tới cái điểm mấu chốt nhất để ta đi sâu vào thiền là chỗ này, xin lắng nghe. Ta sẽ thấy nơi cái thân này có hơi thở ra, hơi thở vào. Đúng không? Đúng. Tự nhiên nó phải thở. Mà hơi thở nó có cái đặc điểm như thế này, khi ta quên nó thì nó thở tự động. Hơi thở nó có cái vùng ở trong não á, mà hơi thở nó nằm ở hai hệ thống thần kinh: một là thần kinh ý thức và thần kinh vô thức.

[1:07:56]Hơi thở được điều khiển bởi hai hệ thống thần kinh, một là ý thức, hai là vô thức. Nếu ta không nhớ tới hơi thở thì lập tức cái thần kinh vô thức nó điều khiển hơi thở liền, nó tự động thở ra, thở vào nên nãy giờ ta vẫn sống, vẫn sống tốt đẹp, sống vui, sống khỏe. Có ai nhớ hơi thở nãy giờ không? Mắc nghe không đâu nhớ, nhưng mà có nín thở không? Không. Nín thở là nãy giờ mình sao rồi? Mình đã cáo phó phân ưu tùm lum hết trơn rồi phải không? Đó, vì không cáo phó phân ưu với ai hết nên nãy giờ biết rằng ta vẫn thở. Vậy cái gì điều khiển hơi thở? Thần kinh vô thức. Nhưng mà lạ một cái khi bắt đầu ta nhìn lại hơi thở thì sao?

[1:08:32]Thần kinh ý thức nó khởi lên, nó điều khiển hơi thở. Bắt đầu nó điều khiển là lúc đó ta sẽ thấy ta đang cố ý thở, ta đang cố ý thở. Như vậy cái vấn đề hơi thở là khi ta bắt đầu nhìn lại hơi thở thì ta cũng cố ý thở, ta cố ý thở vào, ta cố ý thở ra. Đây là cái chỗ sai mà rất nhiều người tu thiền bị sai. Khi ta đến ta gặp một vị thiền tu thiền dạy ta là, "Xin ngài dạy cho tôi cách tu thiền." Cái vị đó sẽ nói ta thế này, "À hãy thở êm, thở chậm, thở sâu." Đúng không? Ta có nghe chưa? Ta có nghe cái người nào khuyên ta như vậy không? Có phải không? Vô số sách đều dạy là à hễ thở là thở sâu, thở chậm, thở êm.

[1:09:22]Xin thưa, sai hết. Sai với lời Phật dạy hết. Mặc dầu nếu ta được cái hơi thở sâu, thở chậm, thở êm là ta có kết quả tốt. Nhưng mà nếu ta cố ý thở sâu, thở chậm, thở êm, ta sai lời Phật dạy. Phật không bao giờ bắt ta cố ý thở. Phật chỉ bắt ta biết mà thôi. Cái mấu chốt, cái key, cái chìa khóa nằm ở chỗ này. Chỗ này rất là khó, rất là tinh tế, nhưng là một cánh cửa hẹp để ta đi vào thiền định. Đức Phật dạy rất rõ: Hơi thở vào, biết hơi thở vào. Hơi thở ra, biết hơi thở ra. Hơi thở vào dài, biết hơi thở vào dài. Hơi thở ra dài, biết hơi thở ra dài. Hơi thở vào ngắn, biết hơi thở vào ngắn. Hơi thở ra ngắn, biết hơi thở ra ngắn.

[1:10:13]Như vậy Đức Phật có kêu ta phải thở cho dài không? Vì hơi thở ta có khi dài, có khi ngắn mà ta chỉ chỉ? Biết mà thôi. Không hề điều khiển theo ý của mình muốn. Cho nên có một người nói: "Dạ, tôi thở là một hơi như vậy được 20 giây". Tầm bậy. Phật không có dạy kiểu đó. Phật chỉ dạy biết mà thôi. Vì hơi thở ta nó sẽ theo cái tâm ta, tâm ta yên á thì tự nhiên thở dài, êm, tâm ta loạn nó thở mạnh, nó thở ngắn. Và ta chỉ biết mà thôi, không được điều khiển. Nhưng mà nó có cái khó, hễ ta biết, ta lại muốn điều khiển. Nên cái chỗ này là chỗ phải hết sức thông minh, hết sức tinh tế. Là khi ta ngồi ta biết toàn thân,

[1:10:57]ta thấy hơi thở ra, hơi thở vào, lập tức nó có một cái thần kinh ý thức nó khởi lên nó muốn điều khiển. Ta phải ngăn nó lại liền, không điều khiển. Chỉ thanh thản nhìn cái thân mình, nhìn cái thân mình đang thở ra, nhìn thân mình đang thở vào, biết mà không cố ý điều khiển theo ý muốn của mình. Cái mấu chốt vấn đề nằm nhiêu đây thôi. Nếu ai làm được, người đó đã lách qua được cái cửa của của thiền, của phương pháp thiền. Chuẩn nhất mà đúng lời Phật dạy nhất. Chúng ta hãy nhớ cái điều này. Cho nên có nhiều khi á, người trong cái tiếng Anh á, họ dạy là phải control the breath, tức là phải kiểm soát hơi thở, nhưng chữ control nó nó gồm tới hai nghĩa lận.

[1:11:38]Chữ control là vừa watch mà vừa là run, vừa operate, tức là vừa theo dõi mà vừa điều khiển. Cho nên cái người mà họ học cái bản văn của tiếng Anh về thiền á, họ đọc cái chữ control thì họ cứ tưởng là họ phải vừa theo dõi mà vừa điều khiển theo ý muốn mình. Sai lời Phật dạy. Phật chỉ dạy ta watch, theo dõi mà thôi. Biết thôi, không có operate, không có run, không có điều khiển hơi thở. Đây là cái mấu chốt. Mà muốn tập được cái này ta phải thông minh chút nha, cũng hơi tinh tế một chút. Nên cái người nào mà trong đời sống của ta á, ta đối xử với con người tế nhị, sâu sắc, cẩn thận, lúc nào cũng muốn làm đẹp lòng

[1:12:19]người, cẩn thận từng chữ không muốn làm phật lòng ai, thì người đó họ sẽ khi đi vào hơi thở họ sẽ tinh tế, biết hơi thở mà không điều khiển. Còn cái người nào mà trong đời sống thô bạo, nói bừa nói bãi, ai buồn thì buồn thây kệ, thì người đó khi đi vào hơi thở sẽ không có cái tinh tế để chỉ biết, người đó sẽ điều khiển, người đó sẽ thở

[1:12:43]họ sẽ điều khiển theo ý mình một cách thô bạo. Nên chỉ những người thông minh, chỉ những người đạo đức mới có thể đi vào cánh cửa hẹp, cái chìa khóa, cái key này, tức là biết hơi thở mà không điều khiển hơi thở. Đây là cái mấu chốt rất quan trọng, xin mọi người hãy ghi nhớ thật kỹ giùm nha. Ta trở lại vấn đề vọng tưởng. Tại vì cái người tu thiền á, hỏi: "Thiền là gì?", là thiền là điều phục tâm, ta định nghĩa gọn. Mà tâm là gì? Tâm ta có nhiều thứ trong đó có cái vọng tưởng. Vọng tưởng là những suy nghĩ, nó cứ nghĩ hoài, ta suy nghĩ hoài, phải không? Có những suy nghĩ ta không muốn mà nó vẫn nghĩ, đúng không?

[1:13:23]Có ai dừng được suy nghĩ cái rẹt liền không? Không. Như vậy cái vọng tưởng là ngoài tầm tay kiểm soát của ta, nên ta mới vất vả tu thiền để kiểm soát nó lại. Nó ngoài tầm tay của ta. Vọng tưởng ở đâu ra mà nó ngoài tầm tay ta? Ví dụ bây giờ ta có nhiều cái muốn ta làm được: ta muốn ngồi ta ngồi, ta muốn đi ta đi, ta muốn đứng ta đứng, nhưng mà tâm ta, ta muốn đừng suy nghĩ, không được, nó vẫn suy nghĩ. Mà tâm ta chỉ có một phần, ví dụ như một người họ phải làm việc, làm bài toán, họ muốn suy nghĩ về bài toán thì lúc đó được. Nhưng mà có những người bệnh họ không tập trung được, đang giải bài toán bỗng nhiên nghĩ chuyện khác,

[1:14:00]đi mất luôn, nó đứng lên không không làm được. Cái đó gọi là người mất tập trung hay là người bị stress, hay là người bị suy nhược thần kinh. Đó là tình trạng mà ta không thể tập trung vào một vấn đề mà ta đang làm được, mà thời đại ngày nay rất nhiều người bị bệnh đó, bị bệnh đó rất là sớm. Bệnh đó nó có nhiều nguyên nhân lắm, hôm nào có duyên thì ta nói thêm, tại bệnh đó nó liên quan tới cả đời sống, cả cái đời sống à tính dục, đời sống vợ chồng luôn, chứ không chỉ là những đời sống đạo đức không đâu, nó liên quan nhiều vấn đề. Thì bây giờ, cái vọng tưởng á nó khởi lên nó kéo ta đi mất, ừ nên ta không thể nhiếp tâm trong hơi thở được, đó là một.

[1:14:39]Hoặc là cái vọng tưởng khởi lên làm cho ta trong cuộc sống ta không tập trung làm việc thanh thản được, đó là hai.

[1:14:48]Thì ở đây nó có hai loại ý nghĩ: một là ý nghĩ mà vẩn vơ từ ở đâu nó kéo tới, nó kéo hoài; một là ý nghĩ chủ động, là khi ta muốn làm việc gì ta suy nghĩ về vấn đề đó, thì là ý nghĩ do ta chủ động tạo ra. Nhưng mà có những cái ta không muốn nghĩ tới mà nó cứ tự động nó khởi lên hoài, thì ta hay gọi đó là vọng tưởng. Thì ta tu thiền là để chiến đấu với nó đó. Chiến đấu với nó là khi ta không muốn suy nghĩ nữa, nó phải tắt, nó phải dừng, đó là cái mục tiêu của ta. Nhưng trong kinh Phật còn có một chữ nữa là chữ tầm tứ. Chữ tầm tứ, chữ tầm tứ cũng là một dạng suy nghĩ, một dạng suy nghĩ mà cái người nhập được định rồi,

[1:15:31]nhập được sơ thiền rồi, vọng tưởng tắt rồi, nhưng tầm tứ vẫn còn. Phải là người nhập được tới nhị thiền thì cái tầm tứ nó mới tắt luôn. Vậy tầm tứ là gì? Tầm tứ nếu mà nói trong công phu, trong công phu tu tập á, là những cái ý nghĩ về chính công phu. Cái suy nghĩ đó nó vừa vọng tưởng, vừa tầm tứ á. Còn khi mà nhập được vào sơ thiền, nó tắt cái vọng tưởng rồi, chúng ta vẫn man man man man còn những ý nghĩ về chính cái sự tu hành của mình, đó gọi là tầm tứ. Cái tầm tứ này á, nó có cái hay là làm cho ta xoay quanh cái sự tu hành của mình, nhưng nó có một cái dở là nó vẫn làm ta tâm ta còn động, và nó làm ta phát sinh những kiến giải,

[1:16:17]những lý luận để rồi ta đem ra ta nổ với mọi người. Ta hay đem khoe, gặp mọi người mà ta hay nói chuyện đạo một cách say sưa là ta cũng đang bị tầm tứ chi phối á. Nên ta thích nói chuyện đạo, không ngờ vẫn là một cái ảnh hưởng của tầm tứ, tức là những suy nghĩ về chính việc tu hành. Nên thấy người nào gặp ta hay nói say sưa về chuyện đạo thì ta coi chừng người này đang còn bị tầm tứ á. Nhưng làm sao biết là không bị tầm tứ? Nói chuyện đạo mà không bị tầm tứ? Là ta cứ nhìn trong đời sống á, họ sống thanh thản và ít muốn nói gì, ít muốn nói gì. Và khi nào cần nói thì nói những điều có lợi ích cho người và không khoe khoang

[1:16:57]về mình thì người đó tương đối thoát được tầm tứ, kiểm soát được tầm tứ. Còn cái người thích nói về sự tu hành là cái tốt, mà trong cái thích nói về sự tu hành cho mọi người nghe đó vẫn có một chút khoe khoang về mình thì người này vẫn còn bị chi phối bởi tầm tứ, nên khó thể nhập định sâu được. Nên ở đây cái vọng tưởng là những ý nghĩ tào lao ngoài đạo, nhưng mà những cái suy nghĩ về chính cái sự tu hành vẫn là một cái vừa hay vừa dở mà đến nhị thiền ta mới chấm dứt được. Đây là một khái niệm thôi, còn rất là lâu xa ta mới có thể đạt được. Ở đây, ta không có cái tài khéo nào để ta thắng được vọng tưởng khi

[1:17:40]mà nó tới quên, chúng ta nhắc trở lại, là chính cái phước của ta, cái phúc của ta mới giúp ta nhắc ta kéo ta trở lại công phu tu hành, mà không phải ngồi đó rồi mà đầu óc đi đâu mất tiêu. Ngồi đó, ta quay lại nhớ công phu của mình thường xuyên là chính vì trong đời sống của ta sống rất là tốt đẹp, rất là đạo đức. Vì vậy, cái phúc vẫn là cái nền của tu tập thiền định. Do đó, mỗi ngày ta phải lạy Phật thường xuyên, ta phải kính trọng những người đáng kính, ta phải thương yêu tất cả chúng sinh, ta phải tránh các điều ác, ta phải siêng làm các việc lành. Đó là tiêu chuẩn. Trước hết là kính Phật, kính các bậc Thánh.

[1:18:24]Thứ hai là thương yêu muôn loài. Thứ ba, tránh các điều ác. Thứ tư, làm các việc lành. Nhớ giùm nhiêu đó, bốn điều. Nhưng mà làm bốn điều này phải dày, phải lâu, phải có chất lượng, có chất lượng. Có chất lượng nghĩa là sao? Là khi ta lạy Phật, ta phải lạy với tất cả lòng tôn kính thiết tha chứ không phải lạy hời hợt trên hình thức. Lạy mà ta xúc động, ta đặt hết niềm tin, tình thương yêu, sự kính trọng ta lên Phật, quên hết mọi điều thế gian. Khi nào mà lạy Phật ta nghĩ vì Phật ta chết được ta chết liền không sợ, thì lúc đó tốt, phải thiết tha như vậy. Chúng tôi cũng vậy, nhiều khi công việc bận,

[1:19:08]đôi khi không lạy Phật được, những lúc mà thắp nhang quỳ lạy Phật hạnh phúc. Lúc đó thấy trên đời mọi chuyện đều vô nghĩa, chỉ có giờ phút mà quỳ dưới chân Phật là hạnh phúc à. Nên chúng tôi mới xúc động mà viết cái bài nhạc á: Hạnh phúc như là khi con quỳ bên chân Người. Quý Phật tử đã nghe quý vị đã nghe bài đó chưa kìa? Có, có người nghe người không. Hạnh phúc như là khi con quỳ bên chân Người. Đời sống bao khổ đau, biết tìm đâu tiếng cười. Từng bước chân lầm than trong mê mờ u tối.

[1:19:46]Hạnh phúc như soi sáng lúc quay về bên Người. Nó đại khái như vậy. Là ta lạy Phật cũng phải có chất lượng, với tất cả lòng thiết tha vậy. Rồi cái thứ hai là ta thương yêu con người cũng vậy, không phải là chỉ nói miệng hay là chỉ nghĩ sơ sơ, mà ta cũng vậy, ta quỳ trước Phật, ta thiết tha, nói: "Con lạy Phật, con nguyện đời đời mãi mãi về sau con thương yêu tất cả chúng sinh". Cứ nói đi nói lại mỗi ngày, nói nhiều lần. Rồi khi ta mở cửa ta bước ra, ta nhìn dòng người đi qua lại trên đường, mọi người chả biết ta là ai, chả biết ta là thằng nào, nhưng ta vẫn đang nói trong lòng: "Xin nguyện thương yêu tất cả những người này".

[1:20:32]Cứ như vậy, lặp đi lặp lại như vậy, thì chừng ba năm trở lên bắt đầu lòng từ bi manh nha xuất hiện trong lòng ta. Ta sống với con người ta thương yêu thật sự, ta thương yêu người thật sự. Ta thấy một cái người già nua lụm cụm đi qua đường mặc manh áo vá, ta quặn đau. Ta không muốn ai khổ trên đời này hết. Ta thấy một người này nạt nộ một người kia, ta quặn đau. Ta không muốn ai làm khổ ai hết. Ta thấy một đứa bé đáng lẽ giờ này được cắp sách đến trường bây giờ phải cầm từng xấp vé số đi mời từng người, lòng ta xót xa. Ta không muốn ai phải sống mà khổ như thế. Lòng mình chỉ còn một cái là niềm hạnh phúc của mọi người đó là lẽ sống của ta.

[1:21:15]Phải sống như vậy, phải thương yêu con người thật sự như vậy, sâu đậm như vậy. Và thứ ba là tránh các điều ác á, thì lúc đó có những điều xấu ta phải cương quyết khước từ, cương quyết khước từ. Cái ý chí mà khước từ điều ác cũng là một bản lĩnh rất là lớn và làm thành một cái công đức rất là lớn cho đời ta. Và thứ tư là siêng làm các việc lành vậy, giúp ai được điều gì ta ráng giúp. Nhặt giùm một cái khăn bị rớt, trả lại cái món đồ mà họ đã đánh rơi, trông chừng giùm cái nhà của hàng xóm khi ta biết họ đã đi vội vàng vì công việc mà họ không có gửi ai được thì ta vẫn để ý nhìn xem giùm cho họ, vân vân.

[1:21:54]Nghĩa là chút chút chút chút, giúp ai được cái gì ta ráng giúp, tích lũy nó thành cả một cái đời. Còn những người mà có quyền có chức thì có nhiều cơ hội để giúp giúp dân hơn. Một quyết định của mình là biết bao nhiêu người được hạnh phúc. Ví dụ như quyết định là mở một con đường vùng đó là biết bao nhiêu người được lợi ích, nên mấy người mà có chức có quyền dễ làm phước hơn người nghèo. Nhưng mà ai cũng vậy, dù ta đứng trên cương vị nào thì ta cũng phải ráng thương yêu và giúp cho con người, tránh đi những điều xấu. Thì chính cái phước mà ta tích lũy được suốt cả cuộc đời đó mới đi vào trong tâm ta trở lại để thành những giờ phút ta

[1:22:29]ngồi thiền lặng lẽ, thanh tịnh, ta tìm được sự bình an, ta tìm được cái hạnh phúc mà không gì so sánh được. Có một người Phật tử vậy, cũng theo chúng tôi tu mà ham vui coi bóng đá rồi đi nhạc đi nhảy đầm tùm lum, la riết à. Lần đó nói không nghe lời Thầy, Thầy từ luôn, cái lật đật bắt đầu ngồi thiền, rồi không biết sao ngồi sao cũng hên, bắt đầu tâm thanh tịnh mới nói là: "Con đã tìm thấy được hạnh phúc". Là đúng rồi. Bởi vì khi mà tâm ta được bình an, thanh thản thì hạnh phúc vô vàn nó phát sinh ra, một điều mà không một niềm vui thế gian nào so sánh được. Chúng ta hãy tin chắc điều đó. Nào giờ ta có nhiều hạnh phúc rồi đấy.

[1:23:13]Ta thương yêu và được thương yêu, ta có khi giàu sang, khi trúng số, khi mua được chiếc xe mới, khi lên một cái chức, vân vân, con ta thi đậu, vân vân. Những hạnh phúc lắm rồi đó, nhưng mà nếu tâm ta nhiếp được vào thiền định rồi, ta mới biết không hạnh phúc thế gian nào so sánh được cả. Và lúc đó ta muốn là tất cả thế giới này ai cũng phải biết ngồi thiền để có được cái hạnh phúc, có được hạnh phúc đơn sơ, bình dị mà vô cùng vĩ đại, vô cùng vĩ đại. Tuy nhiên, nếu ta được thanh tịnh rồi, ta cẩn thận vài điều, vì lúc đó cái năng lực trong tâm ta nó phát sinh, rồi những cái nghiệp trong tâm ta nó

[1:23:54]phát sinh sẽ tạo ra thành những cái ảo tưởng, những cái ảo giác. Nhiều khi ta ngồi đó ta thấy hào quang, ta thấy Phật, thấy thần thánh, vân vân, đó là những điều huyền hoặc và nguy hiểm, điều huyền hoặc và nguy hiểm. Do đó, ta phải đến những cái người nào có kinh nghiệm, những bậc thầy có kinh nghiệm, hỏi cho kỹ lưỡng từng bước từng bước, chớ đừng có đừng bao giờ chấp nhận một cái điều gì lạ khi ta tu tập mà nó xuất hiện, không khéo có thể bị bị điên, là như vậy. Cái mục tiêu cuối cùng để ta vào thiền, ta tu tập thiền định là đi tới cái chỗ nào?

[1:24:32]Mục tiêu cuối cùng là để ta đạt được vô ngã, vô ngã. Tất cả chúng ta ai nấy đều có một cái bản ngã, ta thấy ta có một cái ta thật. Và khi ta vào định được thì bản ngã đó mỏng dần mất dần, mỏng dần mất dần, cùng với những năng lực phi thường xuất hiện dần xuất hiện dần thì bản ngã ta cũng nhỏ dần nhỏ dần, mà đến đạt được như Đức Phật và các vị A-la-hán thì bản ngã biến mất, các ngài đạt được trạng thái gọi là vô ngã. Nơi cái vô ngã này các ngài trở thấy mình trở thành tất cả chúng sinh nên thương yêu chúng sinh vô hạn. Nơi cái vô ngã này ngài trở thành toàn thể vũ trụ nên ngài biết tất cả mọi điều của vũ trụ, của tam giới.

[1:25:13]Ngày xưa Đức Phật đã nói những điều mà ngày hôm nay khoa học mới bắt đầu tìm thấy. Như ngày đó Đức Phật đã nói về vô số thế giới trong vũ trụ này rồi, trong khi nhân loại chỉ nhìn lên thấy bầu trời, nhìn xuống thấy mặt đất không biết gì nữa, mà Đức Phật đã nói tới vô số thế giới, vô số thế giới, và ở những thế giới kia cũng có những chư Phật giác ngộ như thế. Cái vũ trụ quan của Đạo Phật là vô cùng chính xác và vĩ đại cách đây hơn mấy ngàn năm. Bởi vì khi một người đã đạt được vô ngã, người đó trở thành tất cả chúng sinh, tất cả vũ trụ và đạt được hai điều tuyệt đối là lòng từ bi tuyệt đối và trí tuệ tuyệt đối.

[1:25:49]Còn có những số người họ tu tập thiền, tâm họ được vào định nhưng mà chưa đạt được vô ngã, lúc đó họ thấy tâm họ rất phi thường và họ đặt tên cho cái tâm đó là chân ngã, linh ngã, thần ngã, hay thánh ngã, nhưng vẫn còn? Vẫn còn? Vẫn còn bản ngã. Chỉ có Đức Phật mà thôi thì mới vượt qua hết những cái ngã đó để đi tới cái vô ngã hoàn toàn, mở ra một tôn giáo mới cho thế giới, là như vậy, ừ. Và khi mà chúng ta tu tập thiền định như vậy, chúng ta để ý một điều nữa là cái quy luật về sự phân bố lực trong cơ thể của ta, đây nó thuộc về y lý, nhưng mà người tu thiền cũng phải biết, là sự phân bố lực trong cơ thể ta.

[1:26:35]Nếu lực mà nó chạy lên trên, đầu ta sẽ căng thẳng và loạn động, sức khỏe ta sẽ suy yếu, tim sẽ yếu và tăng-xông sẽ lên, tiểu đường sẽ xuất hiện. Nếu lực nó lắng xuống dưới, từ dưới bụng rốn trở xuống dưới chân, đầu ta rỗng, thì cơ thể ta sẽ khỏe mạnh, ít có bệnh tật. Nguyên tắc đó. Nguyên tắc này nó đúng với cái quẻ Dịch. Ta có hai cái quẻ Dịch ngược nhau là Thiên Địa Bĩ là ba cái vạch liền ở trên, ba cái vạch đứt ở dưới, tức là lực nó chạy lên trên, thì quẻ đó người xưa gọi là bĩ, là bế tắc. Mọi chuyện sẽ bế tắc. Nghĩa là ai bói Dịch mà bốc ra cái quẻ Thiên Địa Bĩ là việc làm sẽ thất bại, công việc đi tới trước mắt hư hết.

[1:27:18]Và ngược cái quẻ Bĩ đó là quẻ Địa Thiên Thái, tức là ở trên là ba cái vạch đứt, ở dưới là ba vạch liền, tức là ở trên không có lực, trên trống, mà lực nằm ở dưới. Thì sẽ được người xưa gọi là thái, thái tức là hanh thông, tốt đẹp mọi điều. Thì phân bố lực trong người ta cũng vậy, lực mà nó lắng từ rốn xuống tới chân, người ta thanh thản, khỏe mạnh, đầu óc tỉnh táo, sáng suốt, không bị tăng-xông, huyết áp, tiểu đường. Và tại sao mà ta bị lực chạy lên? Vào thuở ta mới lọt lòng mẹ, lực ta nằm ở dưới hết, tại vì cuống rốn của ta nối với cái ruột của mẹ. Cho nên khi ta lọt lòng mẹ, bắt đầu tai ta mở ra để nghe

[1:27:58]tiếng, mắt ta mở ra để nhìn thấy cuộc đời, não ta suy nghĩ, toàn là những cái vận động phía trên não không, nên lực nó bị kéo chạy lên dần, chạy lên dần. Cho nên cái người nào lớn tuổi rồi, lực cũng chạy lên cho tới khi mà nó chạy lên hoàn toàn thì ta chết, bệnh phát sinh rồi chết liền. Và cái nguyên tắc để làm ta kéo dài cái tuổi thọ, kéo dài cái tuổi trẻ, chậm cái lão hóa là cố gắng ép lực nó nằm ở dưới lại, kéo xuống lực dưới lại. Là ta bớt suy nghĩ cũng là một cách mà để bớt kéo lực lên trên. Ta thở bụng cũng là để kéo lực xuống dưới, vân vân, là những cái phương pháp, nhiều phương pháp của khí công để mà làm cho ta giữ lực

[1:28:38]phía dưới, đừng cho nó chạy vội lên, đều là cái cách để giữ sức khỏe của ta. Chúng tôi xin giới thiệu một cái phương pháp khí công là khí công miên pháp. Cái phương pháp này tập hơi mệt hơn một chút, nhưng mà giữ lực rất là chắc ở phía dưới. Có những vị 86 tuổi bị tiểu đường mà tập cái này thử đi thử lại máu hết đường liền. Và không phải một vị đó, nhiều người cũng đã hết tiểu đường. Có những người bị tai biến não tập cái này trong ba ngày hết tai biến não liền. Rất là hay, nên hôm nay chúng tôi xin xin được mạn phép giới thiệu. Cái phương pháp khí công miên pháp như thế này: là gọi là thụt dầu á, nhưng mà thụt dầu này gọi là khí công.

[1:29:16]Ta sẽ đứng chân rộng hơn vai, chân rộng hơn vai, không buộc là hai bàn chân phải song song nên nó hơi thoải mái. Ta sẽ chống hai tay lên lên eo. Cái này là ta sẽ thụt dầu, tức là ta nhúng lên nhúng xuống nhưng mà tuyệt đối xương sống không được nhúc nhích trơn. Xương sống phải luôn luôn thẳng góc với mặt đất. Cái này là một cái yếu chỉ quan trọng nhất. Nếu cái này không được là hư hết, sẽ không đắc khí, là khí nó không có trụ phía dưới được, nó sẽ bốc lên trên hết, rất là nguy hiểm. Cho nên cái này là cái xương sống lúc nào cũng thẳng băng. Đó, và ta sẽ rùng người lên xuống theo đúng hơi thở. Hơi thở nó như thế này:

[1:29:53]là khi mà rùng người xuống là hít vào, xuống tới sát rồi nín thở đứng lên. Đứng lên rồi, xong rồi bắt đầu mới thở ra nhẹ nhàng, đếm một. Lúc đó xem cái tim mình, tim mình nó khỏe bình thường rồi bắt đầu tập cái thứ hai. Là rùng người xuống, hít vào. Vào xong rồi, nín thở đứng lên. Trong suốt quá trình đứng lên là nín thở. Đứng lên rồi bắt đầu mới thở ra, đếm hai, phải đếm số chính xác nha, không đếm số chính xác là hư ạ. Và xem nhịp tim mình bình thường, tập cái kế tiếp. Và như vậy mỗi sáng ta phải tập ít nhất 50 cái rồi mới được ăn sáng. Còn người nào mà khỏe, ham thích rồi tập hai ba trăm cái là bình thường.

[1:30:36]Trước khi ngủ ta có thể tập hai ba chục cái rồi ngủ cho nó ngon, cho nó sâu. Và bây giờ ta sẽ thấy bắt đầu. Xin mời nha, hít vào, xuống. Xuống rồi, nín thở đứng lên. Thở ra, nhẹ nhàng đếm một. Đó, bắt đầu xem cái tim của mình, thấy nó thoải mái hoàn toàn rồi bắt đầu tiếp tục. Hít vào, xuống. Nín thở đứng lên. Thở ra, đếm hai. Chính xác. Rồi lặp lại nha, hít vào, xuống. Nín thở đứng lên. Thở ra, đếm ba. Dễ không ạ? Dễ không? Nó khó là giữ lưng á. Quý vị thấy là quý thầy, quý cô, Phật tử này giữ lưng rất kỹ không? Lưng nè, không có nhúc nhích, nhúc nhích là sai nha. Đó, cứ tập đi, mọi người cứ tập đi, cứ tập đi.

[1:31:28]Cứ vậy, cứ xuống là ta hít vào, rồi xuống tới xong rồi cái ta lại nín thở đứng lên. Đứng lên rồi mới thở ra nhẹ nhàng, xem nhịp tim mình bình thường, đếm số miệng. Nhớ cái lưng á, cái lưng lúc nào cũng vậy, chứ không được nhúc nhích, nhúc nhích nhẹ nhẹ là sai. Về nhà mà mọi người ta tập tập trung với nhau, cái người này tập người kia xem giùm, người này tập người kia xem giùm. Như vậy á để cho kiểm soát cái lưng mình có bị nhúc nhích hay không. Như vậy. Rồi thôi cảm ơn các diễn viên, người mẫu.

[1:32:04]Nhớ nha. Ta tập rồi ta tập cho các con ta tập luôn. Bởi vì sao? Bởi vì tập cái này tự nhiên nó làm mạnh bộ não, nó phục hồi và rất là thông minh, học giỏi lên hẳn liền. Nên bắt các con mình tập mà nếu mà buổi sáng không tập 50 cái đủ, không cho ăn sáng. Chịu không chịu thôi ráng chịu. À thưa kính thưa các quý vị khách quý, kính thưa các cán bộ viên chức, kính thưa các bác trong ban lãnh đạo của các câu lạc bộ, kính thưa các đồng bào Phật tử hôm nay đã dành thời gian quý báu về đây nghe chúng tôi trao đổi về cái ý nghĩa của thiền và sức khỏe với cái đề tài là: "Thiền như là cái tương lai của nhân loại."

[1:32:50]Thì trong cái thời gian ngắn ngủi chúng ta có duyên với nhau, dĩ nhiên chúng ta sẽ không nói hết được mọi vấn đề của cái đề tài thiền vốn rất là là lớn lao như thế này. Nhưng mà dù sao chúng ta đã có dịp để trao đổi với nhau như vậy. Xin kính chúc tất cả quý vị được nhiều phúc lành, cuộc sống được nhiều may mắn, được nhiều sức khỏe, làm được nhiều công đức lành và nhất là ta tu tập phát triển cái câu lạc bộ thiền này để làm cái điển hình, làm gương cho bao nhiêu tỉnh thành phố khác phải bắt chước học tập theo. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.