Transcript: Đối Chiếu Giữa Tứ Thiền Và Tứ Quả

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:31:29

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Quý thầy với Phật tử ngồi xuống nha.

[0:34]Nay chúng ta học bài hơi khó: Đối chiếu giữa Tứ thiền và Tứ quả. Đây là những vấn đề hết sức là trừu tượng. Hồi sáng giảng bên Ni, giảng xong cái Tứ thiền, vừa nói: "Bây giờ chúng ta học qua Tứ quả", mấy cô than trời hết trơn. Đòi nghỉ ngơi giải lao rồi. Mấy cô thay phiên nhau lên hát cho tôi nghe. Lát mấy thầy cũng phải hát nữa nghe chưa.

[1:02]Bài này nó hơi rắc rối, trừu tượng. Lát chúng ta sẽ nghe thầy Đức Hoàng hát vọng cổ, ha.

[1:15]Tứ thiền là bốn mức nhập định theo tiêu chuẩn của của đạo Phật.

[1:25]Trước Phật thì chúng ta không có biết là các ngoại đạo có xác lập được bốn mức thiền hay không, nhưng mà những cái mức định như Vô sở hữu xứ định, Phi tưởng phi phi tưởng định thì những cái tên gọi đã có từ trước Đức Phật, Đức Phật sử dụng lại. Nhiều cái tên nghe hơi tức cười, ví dụ Phi tưởng phi phi tưởng, cái lý luận đó của ngoại đạo, nhưng mà Đức Phật sử dụng lại. Nên mình nghe cái tựa nghe kỳ kỳ. Còn thiền, bốn mức thiền coi như là cái chuẩn á của Phật giáo á. Thì chúng ta thấy là trong bàng bạc suốt tất cả các kinh điển của Phật, Phật cứ nhắc tới nhắc lui về Tứ thiền hoài, nghĩa là người tu phải nắm rõ được cái đường đi,

[2:08]cái khả năng xuất nhập một cách tự tại về Tứ thiền: nhập Sơ thiền, xuất Sơ thiền; nhập Nhị thiền, xuất Nhị thiền; nhập Tam thiền, xuất Tam thiền, vân vân. Và lần cuối cùng, rồi khi mà Phật nhập Niết bàn, thì Phật cũng để lại một cái lời dạy vô ngôn về Tứ thiền. Thì lần đó là Đức Phật đã báo trước ba tháng là Ngài sẽ nhập Niết bàn. Và cái ngày cuối cùng cũng đã đến. Lúc đó Phật mới du hành cùng với chư Tăng đi về một cái vùng thôn quê hẻo lánh tên là Kusinara, là một nơi mà Đức Phật chưa từng chưa từng tới. Mặc dù dân ở đó có nhiều người đã quy y với Phật, nhưng mà Phật thì chưa về đó giáo hóa.

[2:53]Chỉ đến cái ngày cuối cùng, thì chư Tăng nhẩm tính đã đúng cái kỳ hạn ba tháng để Phật nhập Niết bàn, thì Đức Phật dẫn đoàn chư Tăng đi du hành vượt qua nhiều nơi. Ngài đi một cách vội vã, ghé từng nơi giáo hóa vài điểm rồi lại lên đường. Cứ đi mãi cho đến vào một ngày buổi chiều Ngài đến Kusinara. Ngài đi luôn vào cái rừng sala. Ở giữa rừng sala đó thì Đức Phật có vẻ mệt mỏi vì cái cơn bệnh, nhưng mà Ngài cũng thuyết giảng lần cuối đối với chư Tăng, và chư Tăng biết đó là những giờ phút cuối cùng. Những vị A-la-hán thì có vẻ bình thản, bất động, nhưng mà những vị chưa chứng A-la-hán thì đều ngậm ngùi, khóc, biết cái giây phút đó cuối cùng đã đến.

[3:41]Thì sau khi Phật hỏi là còn ai thắc mắc gì nữa không, thì lúc đó ngài Anuruddha quan sát tâm của đại chúng thấy không còn ai thắc mắc mới trả lời: "Bạch Thế Tôn, chúng Tăng Tỳ-kheo ở đây đã thanh tịnh, không còn ai thắc mắc gì nữa." Đức Phật nói lời cuối cùng rồi Ngài mới sai trải trải vải, miếng vải lót, Ngài nằm xuống, đầu quay về phía phía Bắc, mặt quay về hướng hướng Tây hả? Nằm nghiêng bên phải thì quay hướng Tây. Và nằm im. Lúc mà Ngài nằm im thì đại chúng mới không biết là Phật ở trong trạng thái gì, tại Ngài không nói gì hết. Lúc đó tôn giả Anuruddha, là A-nậu-lâu-đà, bằng cái thiên nhãn của mình mới quan sát được cái tâm

[4:29]định của Phật như thế nào mà công bố lên cho đại chúng biết. Ngài mới nói là: "Thưa đại chúng, Thế Tôn vừa nhập Sơ thiền. Thưa đại chúng, Thế Tôn vừa xuất Sơ thiền nhập Nhị thiền. Thưa đại chúng, Thế Tôn vừa xuất Nhị thiền nhập Tam thiền. Thế Tôn vừa xuất Tam thiền nhập Tứ thiền. Thế Tôn xuất Tứ thiền, nhập Tam thiền, rồi xuất Tam thiền nhập Nhị thiền, xuất Nhị thiền nhập Sơ thiền, xuất Sơ thiền nhập Nhị thiền, xuất Nhị thiền nhập Tam thiền, ngang Tam thiền Thế Tôn nhập Niết bàn." Phải không? Lúc đó, coi là trên đất rúng động theo sáu cách mà kinh Phật nói. Rồi bầu trời bừng sáng, nhạc trời vang lừng,

[5:07]những cây sala trổ hoa trái mùa để cúng dường Phật, mùi thơm bát ngát cả cái khu rừng sala đó. Và do cái tiếng động đặc biệt lớn lao trong cái khu rừng cây sala đó nên dân làng mới biết là có sự cố và kéo về đó. Rồi chúng ta kinh điển diễn tả tiếp là sau đó cái tang lễ được tiến hành rất là lớn. Thì ở đây chúng ta thấy thế này: Tại sao Phật phải đi qua từng mức nhập định tới lui như vậy, cứ nhập xuất nhập xuất nhiều lần như vậy? Là Ngài muốn điều gì? Muốn gửi gắm điều gì? Đó là cái giáo lý cuối cùng của Phật, giáo lý tối hậu của Phật, giáo lý tối thượng của Phật, giáo lý cốt tủy của đạo Phật. Nghĩa là một người đệ tử Phật tu làm sao phải xuất nhập một cách

[5:54]tự tại các tầng bậc thiền định từ Sơ thiền tới Tứ thiền.

[6:01]Chúng ta tu làm sao phải được như vậy. Ngày hôm nay ít có người đạt được chỉ bởi vì chúng ta không tập trung, không có đường đi chuẩn, chúng ta không tập trung, không dồn hết nội lực. Chúng ta không có một bậc đạo sư để vạch đường chỉ lối. Nên là cái hiệu quả tu hành của chúng ta ngày nay không có lớn. Nhưng mà chỉ vì lòng thương tưởng đến tôn kính Đức Phật, thương tưởng đến Phật pháp, thương tưởng chúng sinh, chúng ta phải tái lập lại những cái gì gọi là cao quý của đạo Phật, những cái gì lời dạy tối hậu thiêng liêng của Đức Phật. Đó chính là cái khả năng thực hành xuất nhập một cách tự tại Tứ thiền, bốn mức độ thiền định.

[6:43]Chúng ta phải nguyện lòng ráng suốt cuộc đời này phải làm cho được. Có thể chúng ta không đạt hết nổi Tứ thiền, nhưng cũng phải được một mức nào đó. Bởi vì sao? Bởi vì dù một mức nào đó cũng đủ xác lập trong lòng chúng ta một lý tưởng cháy bỏng khiến cho từ đây cái lý tưởng trong tim chúng ta sẽ lan truyền đến khắp tất cả mọi người chung quanh mình là chính nhờ công phu thiền định. Nên quý thầy cố gắng. Quý thầy cố gắng, quý Phật tử cũng hết sức cố gắng. Mình là đệ tử của Phật, phải ráng. Nhưng bên cạnh về cái tiêu chuẩn kỳ lạ, đặc biệt của bốn mức thiền, Phật cũng lập ra bốn thánh quả giải thoát,

[7:20]cũng là từ Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả. Và người chứng một phần trong Tứ thánh quả này cũng được xem như là thánh. Xem như người thánh, không còn là người phàm nữa. Có cái tính cách của thánh, có cái nhân phẩm cao quý của thánh và hứa hẹn một cái sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, chắc chắn. Tứ thiền nha, Phật không hứa hẹn sự giải thoát, nhưng Tứ quả thì Phật ấn chứng sẽ giải thoát. Đây là hai cái khác nhau. Nhưng mà không có một mối liên quan rõ ràng giữa Tứ thiền và Tứ quả. Người chứng Sơ thiền không phải chứng Sơ quả, người chứng Nhị thiền không phải chứng Nhị quả. À đây là rất là lạ. Nhưng mà người chứng Tứ thiền thì sao?

[8:02]Thì thêm cái Tam minh nữa là chứng luôn Tứ quả, A-la-hán luôn. À đây, tới đỉnh cao á thì gặp nhau, nhưng mà khúc dưới thì hai cái bên Tứ thiền bên Tứ quả không có ăn khớp, không ăn khớp nhau. Rồi hôm nay chúng ta phân tích để chúng ta thấy mà sau này có ai hỏi mình, mình biết rất rõ, mình trả lời một cách xác quyết: Điểm nào là điểm dao động, điểm nào là điểm tương đồng giữa bên Tứ thiền và Tứ quả, biết chắc chắn, không nghi ngờ. Ai hỏi mình trả lời được và mình cũng biết con đường đi của cuộc đời mình sẽ đi về cái hướng như thế, biết rõ luôn.

[8:38]Bây giờ chúng ta nói về Tứ Thiền trước. Ừ. Tứ Thiền, tức là bốn mức độ nhập định, được chia ra là Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền. Bốn mức thiền này nó đều có cái trạng thái là nhập và xuất khi chúng ta muốn an trú, chứ không phải là một trạng thái thường xuyên, chúng ta nhớ điều này. Ví dụ như có ai khoe rằng "Tâm tôi là không xuất không nhập, thường xuyên vắng lặng thanh tịnh" thì mình biết ngay người này chưa từng nhập được Sơ Thiền, biết ngay liền. À vì sao vậy? Là bởi vì chỉ có ở trạng thái Chánh Niệm Tỉnh Giác thì người này thường xuyên thanh tịnh, đồng ý. Chưa. Còn hễ mà đã một lần nhập Sơ Thiền rồi thì có nhập có xuất, bắt đầu từ Sơ Thiền.

[9:24]Có nhập hẳn hoi, sau khi ngồi bất động, nhiếp tâm mà tâm lọt vào cảnh giới đó, nó một trạng thái, một thế giới khác và tự động không còn giữ gìn nữa. Còn trước Sơ Thiền, dù chúng ta chứng được Chánh Niệm Tỉnh Giác, chúng ta vẫn phải có một cái khéo giữ giữ, an trú giữ gìn nắm cái đó á, chứ còn không nó vuột, không nó vẫn bị mất. Còn riêng khi mà lọt vào Sơ Thiền rồi thì tự động luôn, không có mất, nó tự động giữ mình trong định luôn, mà khi muốn đi ra là phải thoát ra, phải tác ý kéo ra, nên có nhập có xuất nó khác như vậy. Cho nên cái mà nói "tôi, thiền của tôi là không nhập không xuất" biết ngay người này còn rất cạn, chưa vào Sơ Thiền.

[10:05]Vào Sơ Thiền có nhập có xuất, nhớ như vậy. Thì bốn mức thiền này chỉ thực hiện được trong tư thế bất động, chứ còn thân còn nhúc nhích thì chưa bao giờ vào nhập thiền được. Đó là tiêu chuẩn bắt buộc, nhớ như vậy. Đó là lý do tại sao mà sau khi chúng ta chứng được Chánh Niệm Tỉnh Giác, chúng ta phải phá trừ năm triền cái, mà quan trọng là có triền cái là gì? Triền cái gì? Trạo cử, làm cho thân cứng như khúc gỗ luôn, nhớ, sau đó mới nhập được Sơ Thiền. Đó, đó là tiêu chuẩn bắt buộc như vậy. Còn có những người trường hợp ví dụ như họ nhập Nhị Thiền thật sự nhưng mà họ đang đi. Họ nhập Nhị Thiền bất động thật sự sâu rất sâu,

[10:46]nhưng rồi họ đi và chúng ta thấy họ đi như người máy luôn. Mình nhìn vào họ không còn biết trời đất chung quanh và có thể đi luôn bảy ngày không ngừng, không mệt, không đói không ăn gì hết. Thì đó cũng không phải là nhập định, mà đó gọi là khởi thần thông. Tại vì thần thông nghĩa là gì? Thần thông nghĩa là vừa định mà vừa hành động. Chứ còn nếu chỉ nhập định không á thì phải ngồi một chỗ hay đứng một chỗ. Đứng một chỗ cũng nhập định. Ngày xưa bên Hy Lạp có một triết gia nổi tiếng là Socrates. Socrates là mở là một ông tổ triết học của Tây phương. Ông này cái triết học cũng gần với đạo Phật. Người ta cũng kính phục ổng lắm, chỉ có điều sau này là bên

[11:25]khi La Mã, cái Thiên Chúa giáo, Kitô giáo của La Mã nổi lên, họ mới tiêu diệt hết cái nền văn minh Hy Lạp đi, chứ trước đó nền văn minh Hy Lạp rất là lớn, cũng rất là thông thái. Thì triết gia Socrates ông có cái đặc biệt là ông có khả năng nhập định đứng. Nghĩa là bình thường khi tiếp xúc mọi người, ông nói chuyện, ông gợi ý để đánh thức mọi người về trí tuệ. Ông có bà vợ rất là dữ, tối ngày ăn hiếp ổng, mà ổng sống rất tự tại. Cuối cùng thì ông bị người ta chuốc thuốc độc chết vì ông đã làm cuộc cách mạng lớn trong cái nhà tư tưởng đương thời, giữa một cái xã hội ai cũng cố chấp, ai cũng sai lầm, ông thắp lên ánh sáng là ông bị ghét, rồi bị chuốc thuốc độc chết.

[12:06]Nhưng mà có một lần, chuyện kể lại là ổng đang đi ngoài phố, bỗng nhiên tâm ổng lắng trong yên ổn, ổng đứng tại chỗ, ổng nhắm mắt, ổng bất động luôn một ngày một đêm. Qua hôm sau ổng xả thiền ổng đi tiếp về nhà. Có câu chuyện còn ghi lại. Cái trình độ xưa cũng dữ dội.

[12:25]Bây giờ chúng ta nói về Sơ Thiền. À chúng ta phải xác định điều này nữa là bốn mức thiền này chúng ta dựa vào đâu để nói?

[12:35]Dựa vào đâu để nói? Dựa vào? Dựa vào? Lời Phật dạy, mà tiêu biểu nhất là trong bộ kinh Trường Bộ kinh, bài kinh Sa Môn Quả. Quý thầy ghi vô, sau này tự phải đọc trực tiếp bài đó. Đó là bài kinh Sa Môn Quả trong Trường Bộ kinh, Dīgha Nikāya, nhớ rõ ràng như vậy. Tại vì trong nhiều kinh điển Đức Phật đều nói về Tứ Thiền, nhưng chỉ cái bài kinh Sa Môn Quả Đức Phật diễn tả về Tứ Thiền chi tiết nhất. Ừ. Thì cái bài kinh Sa Môn Quả này có một cái nhân duyên rất là lý thú là lúc đó Đức Phật ở trong cái gần thành Vương Xá, cái vương quốc Ma-kiệt-đà, lúc đó vua A-xà-thế đã giết cha và lên nắm quyền làm vua.

[13:22]Thì hôm đó vào một buổi chiều tối cũng đêm trăng, thì không biết tại sao có cái tiệc gì đó, không phải là một buổi nghị triều mà có nhiều quan ở lại chơi với vua A-xà-thế, mà vua lúc nào cũng mặt cũng buồn thảm. Thì có một đại thần mới lên tiếng hỏi vua là có chuyện gì mà đại vương không vui lâu nay? Vua A-xà-thế mới thú thật là: "Ta phạm tội giết cha, lòng ta hối hận không nguôi. Ừ, ta không biết cách nào, ai trên đời này có thể làm cho ta hết được cái nỗi buồn này?" Thì lúc đó các quan đại thần thi nhau giới thiệu những bậc thầy của mình vào thời đó. Và chúng ta mới thấy vào thời đó sáu vị lục sư ngoại đạo cũng gây được

[14:09]ảnh hưởng rất lớn vào trong triều đình chứ không phải là không. Tức là có nhiều đệ tử của các ông ngoại đạo đó làm quan lớn, nghĩa là thân cận một bên của vua chứ không phải là đơn giản. Thì có nhiều người giới thiệu thì vua A-xà-thế đều trả lời là: "Ta cũng đã gặp những vị đó hết. Những vị đó chỉ là những kẻ ngụy biện, luồn lách như con lươn và không giải quyết được vấn đề gì, không làm ta nguôi được cái nỗi buồn này." Thì cuối cùng vị bác sĩ ngự y của vua A-xà-thế tên là tên là Kỳ-bà, Jīvaka mới giới thiệu về về Phật, thì vua A-xà-thế nói: "Ta có nghe tiếng tôn giả Gotama. Thôi, hôm nay ta hãy đến." Và vì đó trong đêm trăng như

[14:56]vậy rồi thắng voi, thắng ngựa đồ cái lên đường đi về cái cái khu rừng mà Đức Phật đang ở, cái khu tịnh xá. Cái khi đi được vào được nửa đường, bất ngờ vua A-xà-thế rút gươm dí vào cổ Kỳ-bà nói là: "Khanh có âm mưu hại ta không? Khanh có âm mưu đưa trẫm vào chỗ chết hay không?" Cái Kỳ-bà mới nói: "Tâu đại vương, trong đời hạ thần chỉ có hai người mà hạ thần phục vụ và tôn quý là đại vương và Thế Tôn Gotama, ngoài ra không còn ai. Là một lòng một dạ của hạ thần là phục vụ cho đại vương và tôn thờ Sa-môn Gotama." Cái bấn gươm mới dí vào cổ Kỳ-bà, vua A-xà-thế mới nói: "Tại sao ngươi nói ở đây có cả ngàn Tỳ-kheo

[15:41]mà ta đã vào đến đây rồi mà không có một tiếng động? Có phải đây là ngươi phục kích ta không? Ngươi tổ chức phục kích ta?" Cái Kỳ-bà mới nói: "Tâu đại vương, chỉ bởi vì giờ này các Tỳ-kheo đang ngồi thiền bất động." Cái vua A-xà-thế mới ngẫm nghĩ, rút gươm lại, để gươm kéo lại, mới nói: "Nếu mà thật sự như vậy thì đây là một hội chúng thanh tịnh và thánh thiện." Thì vua nghĩa là mấy ngàn người mà không có tiếng động, thì vua mới tra gươm vào vỏ đi tiếp. Thì câu chuyện chúng ta đọc kinh chúng ta sẽ thấy, nhưng mà dựa vào bài kinh đó chúng ta hiểu được Tứ Thiền, chứ không phải là chúng ta chứng nổi Tứ Thiền, vì Tứ Thiền khủng khiếp vĩ đại lắm.

[16:19]Bây giờ cái mức thiền đầu tiên là Sơ Thiền.

[16:27]Trong cái Sơ Thiền buộc chúng ta trước đó phải chứng được Chánh Niệm Tỉnh Giác và phá được năm triền cái. Phá được năm triền cái chúng ta học rồi. Giờ nó lọt vào giống như nó nhập vào lọt vào cái trạng thái đặc biệt làm chúng ta thanh tịnh được cái định mà không cần phải dụng công nữa. Cái trạng thái này nó tương đương với bức tranh thứ sáu trong mười bức tranh chăn trâu của Thiền tông. Vì tôi không chắc là sẽ giảng được mười bức tranh chăn trâu để đối chiếu, hôm nay tôi nhắc sơ. Những bài trước kia, trước kia tôi có vài lần tôi tôi giảng về mười bức tranh. Cho nên thì trong cái Sơ Thiền đó, Đức Phật có định nghĩa về tâm là "ly dục sinh hỷ".

[17:16]Còn tầm còn tứ.

[17:22]Về thân thì nó như thế này: chúng ta nhớ khi mà phá xong năm triền cái, phá được triền cái trạo cử thì thân lúc đó như thế nào? Thân nó như sao? Cứng như khúc gỗ, đúng. Thân cứng như khúc gỗ là lúc mới phá năm triền cái. Khi vào sơ thiền thì bắt đầu thân mềm ra như nước xà bông. Mềm như... mềm như... mềm... nước xà bông. Bây giờ có cái sữa tắm á, mình ví dụ luôn, mình dùng chữ mới đi cho nó... Không biết làm sao khi mà đọc cái bài kinh đó, chúng ta mới thấy là ngày xưa cái nền văn minh Ấn Độ cũng cao lắm nha. Tại vì Đức Phật Ngài là một Thái tử nên được mọi người hầu hạ, thì khi Ngài tắm là có cái người hầu tắm.

[18:06]Và thời đó không biết sao là nó có một loại bột tắm. Người ta có cái bồn tắm và cái người mà lo cái việc phục vụ tắm cho Thái tử á, người ta sẽ đem cái bột đó, người ta đổ trộn với nước và khoắng, khoắng một lát thì cái nước đó bắt đầu trở nên nó sền sệt, nó vừa thơm, nó vừa có khả năng tẩy trùng, mà nó... nó... nó sền sệt y như sữa tắm bây giờ, đại khái là như vậy đó. Thì Đức Phật mới... nó rất giống sữa tắm bây giờ, không biết xưa Ấn Độ sao có. Thì khi mà Đức Phật mới nói rằng lúc đó hành giả thấy thân mình như là... là nước mềm ra như là cái nước mà nó sền sệt như vậy, mềm mềm sền sệt nhưng mà nó thanh khiết và nó... nó...

[18:47]nó thơm tho là vậy. Thì chỉ có khác là ví dụ như nếu mà nước, sữa đó thì cái mình để một khối vậy thì chuyện gì xảy ra? Nó sẽ đổ xuống tràn ra dưới đất phải không? Nhưng mà riêng là cái người ngồi thiền tự nhiên thấy thân mình như một đống nước, nước... nước sữa tắm mà nó không có đổ xuống thôi, nhưng một khối cứ nằm lung linh lung linh ở đó, là cái trạng thái cái thân nó mềm ra, nó thanh khiết, nó thơm tho như vậy. Mà còn tâm á thì ly dục sinh hỷ, còn tầm còn tứ. Ly dục tức là lìa hết mọi mọi tham muốn. Tham muốn có mấy loại?

[19:31]Là tham muốn về vật chất nè, danh vọng, quyền lợi, ăn uống,

[19:42]ham ngủ thôi cũng được. À nhưng mà một cái nữa, còn một cái nữa là là gì? Ái dục, đúng, ái dục, dâm dục, tham dục là ly dục. Thì khi mà lọt vào cái định này rồi, những cái dục đó tan, không có nữa. Và khi mà nó có một cái lạ nữa là nó có cái tâm lý thế này mà chỉ có người chứng nó mới biết: khi cái dục này mất thì cái toàn thân xuất hiện niềm vui một cách kỳ lạ. À chúng ta không biết, chúng ta cứ tưởng là thỏa mãn những cái dục này thì có vui, và như vậy chúng ta chìm trong luân hồi. Còn nó có một trạng thái ngược lại là bỏ hết cái dục này lại xuất hiện niềm vui. À và đây là con đường của sự giải thoát, à lạ như vậy.

[20:29]Cái niềm vui này á nó tràn ngập hết cả thân và tâm, và tự trong cái thọ nó bừng lên niềm vui mà không cần cái điều kiện bên ngoài. Mà đặc biệt là lìa hết những cái cái dục. Mà muốn lìa cái dục này, thật ra vọng tưởng phải dường như tan biến hết. Đó là không có vọng tưởng, mà không có vọng tưởng rất sâu kìa thì nó mới tan hết cái dục. Chứ còn mà không vọng tưởng mà cạn cạn, cái dục nó cũng không bứng được, bởi vì cái dục nó nằm khá sâu. Thí dụ nếu tâm của ta là một cái khoảng như thế này, thì mình chỉ cạn được cái cái vọng tưởng phía trên này, thì cái dục nó vẫn còn nằm ở phía dưới lửng lửng như này.

[21:04]Cho nên phải lắng được cái định, mà cái định nó vào sâu bứt qua khỏi cái lớp dục đó thì lớp dục đó mới tan, mà mới ly được dục. Mà ly được dục rồi thì tự nhiên nó bừng lên cái niềm vui tràn ngập cả toàn thân. Nên ai mà ngồi thiền mà cảm thấy toàn thân mình con thấy con thấy vui vui, tức là gần được sơ thiền chứ chưa được. Vì nó vào định một khúc thì nó vui vui, tự nhiên toàn thân nó an lạc, nó sung sướng, nhưng mà phải sâu nữa kìa nó mới bứt được cái ly dục này thì mới sinh được hỷ, theo nguyên tắc. Nhưng mà vẫn còn tầm còn tứ, tức là còn cái ý niệm. Cái ý niệm đó là cái ý niệm mình nghĩ về cái công phu của mình,

[21:39]mình nghĩ về sự thành tựu của mình, mà mình không tự biết nha. Cái người đang nhập sơ thiền rất thanh tịnh, không còn tham dục, tâm bừng lên niềm vui, người đó không bao giờ biết rằng mình còn tầm còn tứ, tưởng mình rất thanh tịnh. Ai mới biết rằng vị đó còn tầm còn tứ? Chỉ Phật mới biết, nhớ như vậy. Cho nên sau này có nhiều người tu cũng đạt được cảnh giới này rồi cứ tưởng mình là hoàn toàn thanh tịnh là bởi vì không có thầy nhắc nhở, chứ nếu có một vị thầy họ sáng mắt họ nhắc thì biết người này chỉ mới sơ thiền. Ngày xưa có Phật, nên Phật nói: "Ông được sơ thiền, ông còn tầm còn tứ." Thì người đó mới tin là mình còn tầm còn tứ,

[22:22]chứ còn đang trong sơ thiền không biết mình có tầm có tứ, cứ tưởng mình rất định. Đó, đó là cái cái tính chất của sơ thiền. Mà chính vì chính vì là còn tầm còn tứ cho nên nó xuất hiện một cái tâm tự hào. Đó, nó xuất hiện cái tâm tự hào. Cho nên cái người chứng sơ thiền á, mặc dầu là không còn tham dục, nhưng mà tự hào lại mạnh lên là do cái ý niệm này còn. Ý niệm tầm tứ còn nên tâm tự hào rất là mạnh. Và đây cũng là cái nhược điểm về đạo đức của sơ thiền. Nên cái người sơ thiền mà nếu không có người khuyến tấn nhắc nhở, cái tâm tự hào này có thể phá tan đời tu của họ, mặc dầu định họ rất là sâu.

[23:00]Vào được sơ thiền không phải dễ, định rất là sâu.

[23:05]Chính vì cái còn cái ý niệm, cái tầm tứ đó nên cái kiến giải trong đầu họ tồn tại, nên họ gặp ai họ thích nói về đạo lý, đôi khi cũng thích tranh cãi hơn thua, và đôi khi họ thích nói về thiền ngữ, mặc dầu họ hiểu thiền ngữ rất kỹ. Nghĩa là đọc sách những câu nói bí hiểm của các thiền sư họ hiểu gần hết, họ nói được hết, ừ như vậy. Nhưng mà nó cũng còn bị cái cái ý niệm, cái tự hào. Giờ chúng ta nói qua nhị thiền.

[23:35]Nhị thiền thì Phật diễn tả là: định sanh hỷ lạc,

[23:43]hết tầm tứ luôn.

[23:47]Lúc đó cái thân, có nghĩa là so với cái cứng ngắc khúc gỗ mà chuyển qua mềm là mềm rồi phải không? Nhưng mà chưa, còn còn mềm nữa. Mềm hơn cái sữa tắm là cái gì? Nước, đúng, nước tinh khiết á, nước tinh khiết. Là về cái thân á, Đức Phật diễn tả là nó giống như một cái hồ nước, thân của cái vị tỳ-kheo đó, vị hành giả đó giống như một hồ nước trong mát, mà từ dưới đáy hồ nước đó nó có một cái mạch nước ngầm nó cứ tuôn nước lên mãi, và trên trời cứ mưa xuống đổ thêm vào cái hồ đó mãi, mà hồ nước đó không bao giờ tràn một giọt ra ngoài. Đó là người đó thấy thân mình hân hoan, sung sướng, sung mãn, tràn đầy, có cái gì nó cứ thêm thêm

[24:32]tuôn trào, cái năng lực gì á nó cứ tuôn trào thêm trong thân mình mà không bao giờ thoát đi ra ngoài một miếng nào hết. Đó, mà thân thì lỏng như nước, mà tự bên trong đó nó có một cái nguồn năng lực nó cứ sinh lực nó cứ tuôn trào, nó phát sinh phát sinh hoài, giống như là dưới đáy hồ có mạch nước tuôn thêm, trên trời mưa xuống tuôn thêm mà không tràn nước nào ra ngoài. Nên cảnh giới này rất là đặc biệt về thân. Còn về tâm thì định sanh hỷ lạc, tức là trước đây đó cái định rất là sâu qua khỏi cái tham dục thì mới sinh được niềm vui, mà tới nhị thiền thì hết luôn. Chúng ta nhớ cơ cấu năm uẩn:

[25:14]sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cái người mà nhập sơ thiền á, ngang khúc này thanh tịnh. Từ cái tưởng trở lên là tắt, thanh tịnh, cho nên họ diệt luôn cái dục và toàn thọ uẩn bừng lên niềm vui. À nhưng mà hành uẩn còn. À chính vì hành uẩn còn cho nên cái ý niệm còn, tầm tứ, những ý niệm bí mật bên trong còn, tại vì ý niệm bí mật nó nằm trong hành uẩn. Cho nên trong cái hành uẩn của họ nó cứ có những ý niệm, có những kiến giải cứ hoạt động, có những cái sáng tạo, có những cái suy luận thầm thầm kín kín mà chúng ta không thấy được. Chúng ta nhớ nha, chúng ta chỉ thấy được tâm mình từ tưởng uẩn trở ra,

[25:57]còn bắt đầu vào hành uẩn nó thuộc về vô thức, mình không tự biết được. Chính vì vậy, khi một tỳ-kheo mà nhập được sơ thiền còn tầm còn tứ, của hành uẩn hoạt động người đó không biết, cứ tưởng mình thanh tịnh. Nhưng đến khi mà nhập được nhị thiền, vào định sanh hỷ lạc, hết tầm hết tứ thì cái hành uẩn này mới yên. Hết tầm hết tứ thì cái hành uẩn này nó mới yên, tức là cái ý niệm về cái công phu của mình mất luôn, thì cái người đó hết tự hào. Trong Thiền tông gọi là không còn tâm sở đắc. Không còn tâm sở đắc và họ rất hiền lành. Thì cái người này đó, họ sống điềm đạm, hiền lành, không khoe khoang, ít nói,

[26:37]thanh tịnh, không có hơn thua nữa, đây thực sự hiền lành và rất là cao cả. À một cái người như vậy á một cái người mà đã tới cái định sinh hỷ lạc hết tầm hết tứ, nghĩa là thanh tịnh được hành uẩn, thì người này là chắc chắn đi tới giải thoát. Cái con đường đó nó không có xa nữa và chắc chắn đi tới giải thoát. Mà trí tuệ rất là sắc. Cái người đó họ nhìn liếc cái gì biết liền. Tới đạo lý là mình mới nói nửa câu họ biết rồi. À mình mới mở miệng họ muốn biết mình muốn cái gì. Và họ nhìn công việc nhìn cuộc đời biết hết, chỉ có điều không thèm nói thôi, chứ biết hết. Cái người mà nhập Nhị thiền rất là sáng.

[27:20]Và đối với sinh tử họ bắt đầu họ tự tại. Họ ngồi thiền được rất lâu mà khi chết á họ biết trước giờ chết và lặng lẽ chờ cái chết tới một cách rất là bình an, cái người mà chứng Nhị thiền. Nếu mà họ đừng bị tà kiến thì đường giải thoát là viên mãn. Đừng bị tà kiến. Chúng ta sẽ ngạc nhiên, chúng thấy ủa, nghĩa là thanh tịnh tới được hành ấm rồi mà tại sao bị tà kiến? À chúng ta sẽ thắc mắc. Sự thật cái tà kiến nó khủng khiếp lắm. Tới Phật mới hết hiểu sai mọi điều, còn dưới Phật là ai cũng có thể có một cái hiểu sai. Mà có khi cái hiểu sai đó không phải tại chúng ta mà do giáo lý để lại. Trong giáo lý của thầy tổ để lại có một cái sai nào đó

[28:06]mà chúng ta rớt vào trong tâm mà mình không hay thì vẫn là một tà kiến phá hoại chúng ta, phá hoại. Tà kiến vì nó làm cho mình tự cao mình tự mãn. Ví dụ mình thấy tâm mình bằng tâm Phật, không cần lạy Phật bên ngoài, bởi vì trong tâm này có Phật, vân vân. Những cái đó là những tà kiến chết người, giết hại cuộc đời tu của mình nhiều kiếp sau. Rồi cái người ví dụ chứng được Nhị thiền rồi nhưng mà lọt cái tà kiến cứ thấy rằng tâm mình bằng tâm Phật. Đó là sự kiêu mạn. Thì họ có thể là họ hưởng được cái phước đó 3 400 năm rồi rớt trở lại làm người tầm thường vì cái tà kiến đó. Và tới ngày nào mà hết cái tà kiến đó,

[28:45]tới chừng nào mà mình trước Phật mình chỉ thấy mình là hạt bụi thôi, không có dám nói mà tâm mình bằng tâm Phật nữa thì mới hết cái tội đó. Còn cứ mở miệng mà tâm mình bằng tâm Phật thì còn thoái đọa. Mà cái tà kiến này không phải do mình, do ai dạy cho mình đó rồi mình dính mình dính. Nên Phật nói câu rất hay, đừng có tin ai hết. Thấy ai nói gì cũng phải xét lại hết là vậy đó. Đừng tưởng là giáo lý để lại là đúng à, đừng tưởng sách vở để lại là đúng, đừng tưởng thầy tổ nói là đúng, không có. Mình học trong trường vì mình là trường trung cấp, cho nên mình có quyền hoài nghi nhưng về nhà đừng nói ông thầy ổng chửi mình chết.

[29:23]Về về chùa về chùa mình mình mở miệng mình nói ông thầy ổng chửi, tại ông thầy tổ mình có cái tông phái. Qua những bài sau chúng ta sẽ học một số tông phái phân tích. Học để biết, đừng có về chùa mà giảng cho ông thầy mình, thầy bổn sư ổng lấy vác cây mà ổng ổng đập. Nhưng mà vì mình ở trường thì mình được khách quan hơn, mình nghiên cứu thẳng thắn ra hết, phanh phui hết không sợ. Nhưng về nhà thì làm ơn nín giùm.

[29:50]Bây giờ chúng ta nói mới tới Tam thiền.

[29:56]Tam thiền thì Phật diễn tả là xả niệm lạc trú. Còn cái thân á thì Phật diễn tả này Phật diễn tả thế này, giống như một cái bông hoa sen mà mọc từ dưới bùn đi lên, mà đang đi nửa chừng á thì khắp cái hoa sen đều là nước tràn ngập, thì cũng vậy, toàn thân vị tỳ kheo đó ngập tràn cái niềm vui, không có chỗ nào là không có niềm vui. Nghe câu này mình rất là khó hiểu nhưng mà sự thật là thế này, là ở những cái trạng thái trên á thì thân mình là cứng như khúc gỗ nè, thân mình như đống nước xà bông nè, thân mình như là một cái hồ nước là lớn ra rồi. Nhưng mà qua tới Tam thiền á thì thân mình cái niềm vui nơi thân nó tràn ngập hết ra bên ngoài luôn.

[30:46]Nó giống như không khí. Sự thật là lúc này nó mềm hơn nước và nó thành không khí à. Cho nên cái niềm vui nó không còn giới hạn nơi thân nữa ở những cái thiền trước mà nó tràn ngập cả cái không gian, cả cái trời đất cùng vui với mình, mà mình chính là cái trời đất đó, đang tràn ngập niềm vui đó. Đây là cái cảm giác về thân của một người nhập Tam thiền. Nghĩa là nó mềm từ từ, cứng rồi tới mềm như sữa rồi tới nước, mềm luôn tới không khí. Và khi tới không khí rồi thì nó không còn giới hạn ở nơi thân nữa, mà lúc đó cả trời đất cùng vui với ta, ta chính là trời đất, trời đất chính là ta đều tràn ngập cái niềm hạnh phúc vi diệu là vậy.

[31:24]Và cái xả niệm lạc trú, xả niệm là bỏ được bỏ được bỏ được niệm. Mà niệm ở đây chính là hành uẩn. Bởi vì hành uẩn mới là cái tâm niệm có hoạt động. Nghe cái này. Cho nên ngang Tam thiền thì cái vị tỳ kheo này à vượt khỏi vượt khỏi hành uẩn, chỉ còn thức uẩn thôi.

[31:50]Bây giờ xả niệm là bỏ được cái hành uẩn, mà hành uẩn là một cái hang ổ của bản ngã, hang ổ của các bản năng. À ví dụ như là chúng ta lúc nào cũng muốn sống, đó gọi là bản năng sinh tồn. Chúng ta lúc nào cũng muốn sướng, đó là bản năng hưởng thụ. Những bản năng đó đều nằm trong hành uẩn và chi phối tất cả mọi cái suy nghĩ, hành động của ta. Nên cái người mà đã vượt qua khỏi hành uẩn rồi thì những bản năng đó biến mất. Đối với họ sống chết không quan trọng, sống chết không quan trọng, nên mất cái bản năng sinh tồn. Chúng ta thấy thế này, ví dụ như báo công an, chúng ta đọc báo công an chúng ta thấy là những tên tử tội

[32:34]à mà giết người không gớm tay nhưng mà khi đem ra pháp trường thì chuyện gì xảy ra? Sao? Sợ hãi, run rẩy phải không? Xanh mét. Và nhiều khi là không kiềm chế được bài tiết. À mặc dầu lúc mà làm anh chị đó thì nghĩa là hùm hùm hổ hổ, vì sao vậy? Bởi vì chỉ có ba hạng người bình thường trong cuộc đời chỉ có ba hạng người mà bình an trước cái chết.

[33:04]Hạng người thứ nhất là anh hùng, anh hùng vì dân vì nước. Cái tâm vị tha quá lớn cho nên họ hy sinh chết vì dân vì nước mà không sợ. Thứ hai là những người sống một đời rất đạo đức, thanh thản. Họ đã sống một đời quá xứng đáng rồi nên khi nghe nói tới cái chết, không sợ. Và hạng người thứ ba là hạng người những vị thánh đã đắc định, những vị thánh đã đắc định.

[33:34]Chỉ có ba hạng người này trước cái chết không run sợ. Còn cái tên mà tử tội thì tên đó có phải là anh hùng vì dân vì nước không? Tên đó có phải là người sống một đời đạo đức không? Tên đó có đắc định không? Vì không nằm trong ba tiêu chuẩn này cho nên khi đem ra pháp trường để bắn thì người đó phải phải run rẩy, lo sợ do bản năng sinh tồn trong đây còn rất là mạnh. Nên ai cũng ham sống sợ chết. Khi lôi ra bắn ai cũng run lẩy bẩy hết, rất là sợ. Cái người mà nhập Tam thiền thì trở thành một vị thánh siêu phàm giữa cuộc đời, không còn là người thường nữa. Cái người như vậy họ có thần thông. Họ có thể đi xuyên được qua tường, họ có thể bay lên cao được,

[34:17]có thể thậm chí có thể kêu mưa gọi gió, có thể chữa bệnh từ xa. À

[34:27]nhiều chuyện nhiều chuyện. Thần thông của Tam thiền thì rất là lớn lao. Ừ. Thêm đặc điểm nữa nè là chúng ta thấy những cái thần kinh giác quan, ví dụ như khi chúng ta nghe thì do thần kinh thính giác, thấy là do thần kinh thị giác, rồi có thần kinh của khứu giác, xúc giác, vị giác, vân vân ở trên não á ở trên não á làm cho chúng ta nghe thấy. Ví dụ như mình còn con mắt, ngoài cảnh vẫn còn mà thần kinh thị giác đã hư thì mình vẫn không thấy. Đó là bị mù từ trong não á. Phải có thần kinh thị giác thì mới nghe được. Thì riêng cái người mà nhập Tam thiền dừng được hành uẩn thì những cái thần kinh đó tắt luôn, tắt luôn.

[35:10]Nghĩa là khi họ ngồi thiền thì không một tiếng động nào lọt được vào trong tâm họ. Ví dụ khi một người mà nhập được Sơ thiền á thì ở bên ngoài có tiếng động vẫn nghe mà không quan tâm. Tại vì cái định nơi mình nó an lạc quá, cho nên ví dụ có tiếng mà không để ý không biết tiếng gì. Hoặc có thể là người ta đang nói thiệt lớn, mình biết là có người nói mà không biết người ta nói cái gì vì không quan tâm nữa, không hướng tâm nữa. Còn mà nhập định mà tới Nhị thiền á thì những tiếng bên ngoài chỉ còn nghe văng vẳng, tiếng sấm tiếng chớp hay là ánh sáng bừng lên hay là cái tiếng ồn ào có nghe văng vẳng.

[35:48]Nhưng mà khi tới Tam thiền rồi thì cắt đứt hoàn toàn, chấm dứt hoàn toàn, không còn một cái tiếng động nhỏ nào lọt vào trong tâm nữa, không nghe. Mà ngày xưa ngoại đạo họ cũng nhập được cái này. Thì trong một bài kinh có kể chuyện là một đệ tử của cái phái Ni Kiền Tử kể rằng là: Bậc đạo sư của tôi ngồi thiền bên vệ đường một một đoàn xe bò 500 cỗ xe đi ngang, lốc cốc ồn ào đủ thứ chuyện mà bậc đạo sư của tôi vẫn không nghe, là ông này đã nhập được Tam thiền. Cái ông nên chúng ta thấy những cái đạo sĩ thời đó mặc dù là không phải đạo Phật nhưng mà cái sức định của họ cũng rất là lớn. Nên cũng nhiều người tin họ lắm bởi vì họ có cái dụng công có kết quả thật sự.

[36:29]Mà chỉ vào cái thời đó Đức Phật mình là nhất thôi, chứng được A-la-hán thật sự thôi, chứ còn mà những vị kia không có giải thoát được mặc dầu định họ cũng rất là sâu chứ không phải là không. May là Đức Phật xuất sắc quá cho nên giữ được cái Chánh pháp cho loài người, chứ nếu mà không có Đức Phật thì mấy cái ông mà đạo sư đó ổng nhất cái kiểu đó là truyền một cái tà kiến vào trong thế gian này không biết đời nào mới gỡ ra được, vậy. Thì cái Tam thiền là tắt được những cái thần kinh giác quan hết, cho nên chúng ta không có nghe gì ở bên ngoài. Thì ở đây, khi mà cái người mà nhập Tam thiền á họ làm chủ được sống chết.

[37:09]Nơi Nhị thiền á thì họ bình thản chờ cái chết tới, biết trước và chờ cái chết tới. Còn nơi Tam thiền á thì họ muốn chết lúc nào họ chết lúc đó. Muốn chết đứng thì chết đứng, muốn chết ngồi chết ngồi, muốn chết chổng ngược chân thì chổng ngược chân chết. Là hoàn toàn tự tại, có thần thông trong cái chết của mình. Hủy diệt sự sống của mình đi qua chỗ khác, không sao hết, rất là tự tại. Và nhiều cái thần thông khác cũng rất là đặc biệt. Tuy nhiên là nếu vào thời Đức Phật thì Ngài cấm tuyệt sử dụng thần thông trong giai đoạn này thì mới có thể chứng được Tứ thiền để giải thoát. Còn nếu chứng được Tam thiền mà sử dụng thần thông

[37:48]thì bản ngã bùng phát lên trở lại, cho nên cản đường không đi tới Tứ thiền được. Vì sao vậy? Vì muốn sử dụng thần thông, chúng ta phải khởi ý muốn. Chính cái ý muốn thầm kín đó thúc đẩy bản ngã củng cố, phát triển trở lại. Ví dụ thế này, ví dụ như là ví dụ một người có thần thông, cái họ muốn cái bàn này nhấc lên giữa hư không, thì tâm họ, thứ nhất là họ có cái định, và họ trải cái tâm họ trở thành cái bàn, tâm họ với cái bàn là một, và phải có cái ý muốn là hãy nhấc lên giữa hư không là tự nhiên cái bàn nó lơ lửng lên liền. Phải có cái ý muốn, ý muốn. Là vừa dùng cái định của mình để trong cái định đó mình trở thành đồng

[38:30]nhất với sự vật, sự việc, với mọi người, rồi thêm cái ý muốn nữa là điều khiển được cái sự vật, nó tạo ra những trường hợp lạ lùng. Ví dụ như là mình muốn thôi miên, mình muốn điều khiển người khác, mình muốn điều khiển người khác là ví dụ mình muốn cái người đó tự nhiên chạy ra ngoài giữa đường đứng múa một bài nghĩa là Ấn Độ, cái múa bài Ấn Độ thì thì cái người này họ trong cái định của họ, họ dùng cái tâm họ họ nhập vào tâm kia, họ thấy họ chính là người kia và họ tác cái ý muốn vào cái tâm người kia, cái người kia không làm chủ được tay chân, thế là bước ra ngoài đường đứng là múa rồi không biết tại sao mà chạy vô lại mà tự nhiên hổ thẹn,

[39:14]mắc cỡ mà không biết sao, là thế là nó phải có ý muốn mới tạo được thần thông. Và chính vì cái ý muốn đó mà bản ngã được được giữ gìn, được phát triển, rồi cản đường đi tới giải thoát. Cho nên là không được sử dụng thần thông. Và đồng thời là cũng coi chừng tà kiến. À, lúc này tà kiến vẫn không hết. Nên nếu mà vị đó có cái tà kiến, bởi vì tà kiến nó nằm trong ký ức á, mà ký ức nó nằm của Thức uẩn, cho nên là không hết, định vẫn không hết được cái cái tà kiến. Vì trong cái Thức uẩn á nó có cái ký ức nó chứa trỏng. Là trong cái ký ức này nó chứa đủ thứ khuynh hướng mình đã nhận được, đủ thứ giáo lý mình đã nhận được,

[39:58]nên người đó nhập định rất sâu, nhưng mà những gì đã tiếp nhận trong cuộc đời chưa, không bao giờ quên, vì nằm trong ký ức mà ký ức thuộc Thức uẩn. Cho nên nếu có cái tà kiến mình đã chấp nhận nằm trong đây rồi thì công đức vẫn bị mất. Cái tà kiến là gì? Có thể rằng nghĩ rằng mình bằng Phật, thấy mình quá tự tại, thấy mình nghĩa là muốn bay là bay được, muốn đi xuyên vách tường là đi xuyên được, mà thời này thì không còn Phật để ấn chứng nữa. Vì nếu còn Phật thì Phật nói liền. Phật nói rằng: "Ông nhập được Tam thiền, có thể là chứng được tam quả." Thấy không? Phật nói nhiêu đó, khi mình biết rằng mình chưa tới đâu, nên ráng tu nữa.

[40:34]Nhưng mà thời này không có Phật, mình chứng được ngang Tam thiền cái mình thấy mình là sao? Nhất. Có một người bên Mỹ chưa có gì được hết vẫn nói rằng bằng, bằng Phật, tự xưng là Vô Thượng Sư. Là không không hề có thần thông, rồi xúm ở phía dưới đồn đại thôi, cũng tôn xưng lên làm giáo chủ được, huống hồ nếu có một người mà thực sự mà chứng được Tam thiền thì chắc chắn nghĩ rằng mình là Phật. Và cái tà kiến đó sẽ phá hủy người đó ở mấy ngàn năm sau. Cái người đó có thể sau khi chết, an trú một nơi nào đó hưởng cái phước trong mấy ngàn năm, rồi khi rớt trở lại làm người cũng sẽ trở thành một người tầm thường lại.

[41:16]Là do cái tà kiến cứ tưởng mình bằng Phật. Trong cái đó, trong cái luật của đạo Phật gọi là lỗi tăng thượng mạn, là hiểu lầm tưởng rằng mình đã quá cao. Là khi mà chúng ta thọ giới Tỳ-kheo, ai thọ giới Tỳ-kheo rồi, chúng ta học trong luật Tứ Phần thì sẽ phân tích cái lỗi này gọi là lỗi tăng thượng mạn. Tức là mình hiểu lầm thôi, không phải là mình cố ý. Vì trong cái giới Tỳ-kheo có cái giới là vọng ngữ, là giới dối xưng mình đã chứng, chứng Thánh. Vọng ngữ thường thường thì không phải phạm đại giới nha, chừng nào mà dối xưng mình chứng Thánh mới phạm đại giới. Nhưng mà có những người xưng mình chứng Thánh

[41:56]mà không phạm đại giới bởi vì tưởng lầm, hiểu rằng à tưởng mình như vậy chứ không cố ý. Còn cái người mà biết mình không phải chứng mà nói mình chứng thì người đó tức khắc phạm đại giới Ba-la-di. Còn mà cái người không biết, thấy mình cũng chứng ngon lành rồi nên nói thì người đó không phạm đại giới nhưng bị lỗi tăng thượng mạn. Thì một cái vị mà chứng Tam thiền, vượt khỏi Hành uẩn này, có thần thông tự tại, bởi vì vào cái thời không có Phật nên tưởng mình bằng Phật. Thì chính cái tưởng đó là lỗi tăng thượng mạn nên không sao, nhưng mà hưởng phước vài ngàn năm rồi lui sụt trở lại là một người tầm thường.

[42:35]Đó, cái nhược điểm của Tam thiền chỉ là như vậy. Bây giờ chúng ta nói qua tới Tứ thiền.

[42:44]Tứ thiền thì Đức Phật diễn tả về tâm á là

[42:50]xả niệm thanh tịnh, à hai chữ xả niệm giống nhau, nhưng mà ý nghĩa khác nhau. Còn về thân á thì Đức Phật diễn tả thế này, giống như một người ngồi mà có lấy một chiếc vải trắng trùm lên trên thì khắp thân không chỗ nào mà không sáng suốt. Vậy hiểu cái thân lúc đó là trạng thái gì?

[43:15]Nè, chúng ta để ý nha, ha? Thân từ cứng như khúc gỗ, bắt đầu mềm như là sữa tắm mà một vài bữa nữa sẽ có người cho xài chơi. Rồi lỏng hơn nữa thành ra nước, lỏng hơn nữa thành không khí. Bây giờ lỏng hơn không khí nữa là cái gì? Mình không biết. Không biết. Cũng giống như chỗ này sẽ làm cho mình phân vân nha, là ví dụ bây giờ thế này, là khi mà mình chứng Sơ thiền mình thanh tịnh, chứng Nhị thiền là mình thanh tịnh được Hành uẩn, chứng Tam thiền mình thanh tịnh tới Thức uẩn, chứng Tứ thiền mình ra khỏi Thức uẩn luôn. Vậy đi về đâu hỡi em, chỗ này? Ha? Cũng giống như là hết không khí luôn, là cái gì? Không biết.

[44:03]Cũng giống như ví dụ như là mình đi theo một dòng nước, đầu tiên là mình đi từ một cái cái lạch, ha, rạch nhỏ, rồi đi theo cái lạch một lát mình gặp tới một con con suối, hết con suối mình gặp một con, con sông, con sông. Cái có người nói hết con sông, ủa không biết đi đâu, nhưng mà có phải hết không? Không, mà đã trở thành biển, đó cũng vậy. Hết con sông rồi chính là biển, cũng giống như là vượt hết tâm thức rồi chính là cái gì đó vĩ đại lắm, không đơn giản. Thì ở đây cũng vậy, khi mà nơi cái thân á, nơi Tam thiền thì thân như không khí tràn ngập, niềm vui tràn ngập cả trời đất, mà khi qua tới Tứ thiền thì thân đã trở thành

[44:51]khối ánh sáng. Lúc đó hành giả tự thấy thân mình như một khối ánh sáng, từ cái ngón tay, ngón chân, từ một cái lỗ chân lông đều ngập tràn sự sáng suốt trí tuệ. Và cả trời đất là như vậy, nhưng mà coi chừng, chúng ta nói câu này đừng có hiểu lầm nó khác với cái người ngồi thiền mà bừng phát hào quang bên ngoài nhìn thấy được là khác nha. Cái mà bên ngoài nhìn thấy được cái hào quang của mình thì cái đó không phải là Tứ thiền, mà đó là một cái thần thông nửa chừng ở đâu á, Tam thiền, Nhị thiền, Sơ thiền nó phát đại ra, chứ không phải là là Tứ thiền. Tứ thiền người không phát hào quang, mắt người bên ngoài nhìn vào không thấy,

[45:30]mà chỉ có tự nơi chính người đó cảm nhận được thân mình như là một khối ánh sáng, tất cả đều sáng suốt, tất cả đều thuần tịnh, tinh khiết, từ một lỗ chân lông nhỏ cũng đều là trí tuệ, cũng đều là sáng suốt, là cái thân của Tứ thiền. Còn cái tâm của Tứ thiền là xả niệm thanh tịnh, cái chữ niệm ở đây á là tâm thức tối, tối hậu hoàn toàn thoát khỏi Thức uẩn luôn, ra khỏi tâm thức luôn. Khi ra khỏi tâm thức hết toàn bộ thì chúng ta biết điều này: Bản ngã là chứa trong tâm của mình, phải không? Bản ngã nằm trong tâm. Khi hết tâm rồi thì hết hết bản ngã, đó là nguyên tắc. Bởi vì tâm còn thì bản ngã còn, tâm hết thì bản ngã hết.

[46:17]Cho nên tu mà khi mà đến Tứ thiền thoát hết tâm thức thì mới thật sự là thoát hết bản ngã. Đó, cái nguyên tắc là như vậy. Mà khi thoát hết tâm thức rồi thì nó trở thành gặp cái biển Niết-bàn. Lúc đó là Niết-bàn tuyệt đối, mà còn cái tâm của Tứ thiền là xả niệm thanh tịnh, cái chữ niệm ở đây á là tâm thức tối, tối hậu hoàn toàn thoát khỏi Thức uẩn luôn, ra khỏi tâm thức luôn. Khi ra khỏi tâm thức hết toàn bộ thì chúng ta biết điều này: Bản ngã là chứa trong tâm của mình, phải không? Bản ngã nằm trong tâm. Khi hết tâm rồi thì hết hết bản ngã, đó là nguyên tắc. Bởi vì tâm còn thì bản ngã còn, tâm hết thì bản ngã hết.

[47:05]Cho nên tu mà khi mà đến Tứ thiền thoát hết tâm thức thì mới thật sự là thoát hết bản ngã. Đó, cái nguyên tắc là như vậy. Mà khi thoát hết tâm thức rồi thì nó trở thành gặp cái biển Niết-bàn. Lúc đó là Niết-bàn tuyệt đối, mà không của riêng ai nữa. Nghĩa là còn tâm, còn bản ngã thì chúng ta còn một cái gì đó riêng của mình. Khi hết tâm, hết bản ngã, chúng ta ra được cái cảnh giới gì đó, muốn đặt tên gì đó đặt, nhưng mà cái đó xin thông báo không còn của riêng mình nữa. Cũng giống như khi mà từ nơi con lạch còn riêng của mình, con suối cũng riêng của mình, con sông của mình, nhưng mà ra tới biển không còn của mình nữa, thì cũng vậy.

[47:47]Khi mà tới chỗ Niết-bàn tuyệt đối, không có riêng, không có riêng ai hết. Đây là chúng ta phải hiểu. Nơi Niết-bàn này mười phương chư Phật chung đồng, mười phương chư Phật là một Phật. Còn khi xuất bỏ cái cảnh giới này lui trở lại thì là riêng của mình. Nhớ. Nên có các vị khi trong nhập định mà nhập sâu tới Diệt tận định của Niết-bàn, các vị đó trở thành mười phương chư Phật. Nhưng khi xuất định ra, trở lại đời sống bình thường, các vị đó vẫn là riêng mình. Nhớ, nó khác nhau.

[48:17]Thì khi mà chứng tới Tứ thiền rồi thì tự nhiên, cái này là một điều bắt buộc không cần phải tác ý, là hành giả phải trải qua kinh nghiệm Tam minh. Nó bắt buộc thôi, tâm mình tự động nó đưa tới chứ nó không có mình không cần biết.

[48:37]Thì đầu tiên là tự nhiên mình nhớ lại những kiếp của mình trước. Cái diễn tiến ảnh tự nhiên, không không cần biết. Cái người mà đầu tiên, lần đầu tiên mà nhập Tứ thiền rồi đó thì bỗng nhiên người đó phải trải qua Tam minh. Chỉ có sau này, khi mà người đó đã chứng A La Hán rồi mà muốn nhập định thì không cần phải trải qua Tam minh nữa nếu không muốn. Còn bình thường là lần đầu tiên mà nhập Tứ thiền đều phải trải qua cái kinh nghiệm Tam minh này. Đầu tiên là người đó nhớ lại những kiếp trước của mình mà nhớ ngay trong kiếp này trước. Ví dụ bây giờ chúng ta còn nhớ cái năm một tuổi mình làm gì không? Có ai nhớ không?

[49:12]Có không? Hai tuổi còn nhớ không? Ba? Nhớ mang máng, nếu ai gợi có nhớ. Bốn? Thấy không? Nhiều khi mình năm tuổi nhiều khi cũng còn quên nữa chứ đừng nói. Thì một tuổi không ai nhớ, nhưng mà cái người mà bắt đầu chứng Túc mạng minh á là nhớ lại á. Nhớ ngược ngược ngược lại từ năm một tuổi mình lẩm đẩm bò qua bò lại thế nào, ham ăn té giường xuống thế nào, rồi á hoặc là hồi nhỏ mà lúc ai cũng quên cái mình chui vào hốc bàn mình nằm nằm một chỗ y như con mèo như thế nào, nhớ lại hết. Rồi nhớ lại lúc mới sinh ra, mình còn đỏ hỏn, cái trạng thái như thế nào, ba mẹ bồng thế nào, rồi nhớ ngược lại lúc trong thai mẹ luôn, nằm trong đó bao thời gian nhớ lại luôn.

[49:53]Lúc đó mình không có ý thức vì cái não chưa hoàn thành, nhưng mà khi chứng được Túc mạng minh mình nhớ lại trạng thái đó luôn. Nhớ lại lúc mà mình không biết gì hết luôn, vẫn nhớ nha. Rồi ngược ra khỏi bào thai trước đó, trước khi nhập thai mẹ mình đang ở trạng thái nào, ở đâu nhớ luôn. Rồi nhớ lại trước đó, kiếp trước đó mình là ông già lúc nào cũng cằn nhằn cữ nhữ ai, nhớ luôn. Khó tánh làm sao, gặp ai cũng rầy cũng rà, nhớ lại hết. Rồi lúc đó những kiếp đó mình đã làm những hành nghiệp gì, cha mẹ là ai, tên họ là gì vân vân, sống tạo những cái nghiệp thiện ác thế nào nhớ hết. Rồi nhớ lui dần lui dần về vô lượng kiếp,

[50:29]lui dần lui dần, cho tới đầu mút của luân hồi luôn. Mà có một cái là cái đầu mút luân hồi là gì thì không nói được. Lúc đó biết mà không thể nói được, chỉ có Phật với A La Hán mới biết mà thôi, mà biết rồi cũng nín luôn. Nhưng chỉ có một cái điều là thế này. Ví dụ bây giờ chúng ta không phải là một người chứng được Túc mạng minh nên mình không có nhớ được hết cái vô lượng kiếp của mình. Tuy nhiên, nếu mà mình mình tưởng tượng thôi, tưởng tượng như một vị A La Hán mà nhớ được vô lượng kiếp sinh tử của mình, thấy khi mình làm vua, uy quyền tột đỉnh, khi thì bị đọa làm một người ăn mày tầm thường, rồi trong cái lúc mà nghèo khổ lại cố gắng

[51:15]làm phước, đời sau lại lên làm ông quan, rồi ổng làm quan có hưởng thụ ráng làm phước mai mốt làm ông tể tướng, rồi ông tể tướng rồi cái hưởng thụ mà làm một vài việc sai cái rớt xuống làm người bình thường lại. Bắt đầu mình cảm giác cái gì? Khi mà hiểu được mình thấy nhiều kiếp vậy, khi thì thăng lên thiệt cao, khi thì xuống thiệt thấp, cứ thăng trầm hết kiếp này tới kiếp kia hoài mà cái sức mạnh của luân hồi cứ đẩy mình hoài. Mà khi nào biết làm phước thì hưởng, hưởng xong rồi xuống đọa lại, khi làm tội thì lại đọa, cứ lên xuống hoài thì chúng ta sẽ thấy cái cảm giác gì xuất hiện? Mình sẽ thấy làm sao?

[51:48]Thấy? Chán, đúng. Dùng chữ đó là đúng chính xác, sẽ thấy chán. Nghĩa là khi mình nghiệm ra được cái luân hồi như vậy, thấy con người ta vậy cứ cái sức mạnh của luân hồi tái sinh cứ thúc đẩy chúng ta cứ tái sinh, tạo nghiệp, khi hưởng, khi đọa, khi hưởng, khi đọa, thấy nản, nản, cứ tái sinh hoài, nản. Mà khi hiểu được tới đó là chúng ta bắt đầu hiểu được Phật pháp Tiểu thừa là như vậy. Còn cái người mà chưa nghiệm được cái luân hồi thì người đó chưa hiểu Phật pháp, chưa hiểu ý nghĩa của sự giải thoát. Phải khi nào chúng ta nghiệm được cái luân hồi như thế mà thấy chán là bắt đầu hiểu được Phật pháp và đó là Phật pháp Tiểu thừa.

[52:31]Như có một lần có một cái cô Phật tử gửi thư cho tôi hỏi: "Thưa thầy, giải thoát là gì và giải thoát đi đâu, con không biết", mặc dù là cô đó là Phật tử. Thì mình không trả lời dài dòng. Tôi chỉ nói là: "Chừng nào mà con nghiệm về luân hồi cho thấm thì con sẽ thấy, con sẽ hiểu ý nghĩa lớn lao của cái sự giải thoát trong đạo Phật." Tôi chỉ nói ít thôi. Nhưng mà ở đây khi mình nói với nhau như vậy, thì đầu tiên khi nào mà thấy được mà xuất hiện được cái chán là chúng ta bắt đầu bước vào Phật pháp và đó là Phật pháp Tiểu thừa. Và khi mình nghiệm thêm nữa và mình thấy mình đang chán như vậy thì những chúng sinh khác thì sao?

[53:11]Cũng cũng thật là đáng thương, cũng mệt mỏi, cũng trôi lăn trong luân hồi giống như vậy. Mà lúc đó mình có cái lòng thương và cũng muốn cho ai cũng vậy, tất cả chúng sinh cũng như mình đều được đều được giải thoát thì lúc đó chúng ta hiểu được Phật pháp Đại thừa, nhớ.

[53:35]Phân biệt chưa? Tiểu thừa, Đại thừa là như vậy. Nhắc lại: nghĩa là khi mà chúng ta suy nghiệm luân hồi cho đến cái mức độ mà mình cảm thấy chán ngán luân hồi và bắt đầu muốn giải thoát, lúc đó là chúng ta hiểu được Phật pháp Tiểu thừa. Rồi khi nào mà suy nghiệm như vậy và thấy thân phận của tất cả chúng sinh cũng đều mệt mỏi, đáng chán như vậy và chúng ta khởi trong tâm mong ước cho ai cũng được giải thoát hết thì đó là chúng ta hiểu được Phật pháp Đại thừa. Rồi, dễ hiểu không? Đó, Tiểu thừa mà Đại thừa là như vậy, nhưng đều cũng phải trên cái căn bản là suy nghiệm được cái luân hồi là vô tận, là chán nản,

[54:11]là mệt mỏi, dù có vinh quang hay là hèn kém gì cũng là đáng chán, đáng chán hết. Tại quý thầy mình mình có cái là vì mình không nhớ được tiền kiếp nên mình ráng mà sống, chớ mà nhớ được những kiếp xưa rồi, thấy sống chết không quan trọng, thấy chán. Đời không chán? Rồi chỉ vì mình có cái hạnh nguyện Đại thừa rồi sống giờ nào thì mình ráng lo cho Phật pháp, lo cho chúng sinh giờ đó thôi, chớ sự thực không ham muốn, không ham muốn. Cũng không mong làm cái phước này là để cho tôi có phước, không có, mà chỉ vì hạnh nguyện Đại thừa ráng làm bao nhiêu điều khó làm để mà làm lợi mọi người. Vậy thôi, vì hạnh nguyện Đại thừa,

[54:51]chứ trong tâm không còn mong muốn có công đức hay hưởng phước gì nữa hết. Chán lắm, chán thật sự.

[54:59]Thì cái vị mà nhớ được vô lượng kiếp của mình á thì thành tựu được Túc mạng minh. Nhưng mà trong vô lượng kiếp đó có phải là mình sống một mình không? Sống với ai? Sống với ai? Vô số chúng sinh, phải không? Khi mình làm cha người này, khi mình làm con người kia, khi mình làm hàng xóm người nọ, khi làm chồng, làm vợ, ôi tá lả chuyện trong đời, nên gieo duyên gieo nghiệp với chúng sinh rất là nhiều. Và tự động sau khi hoàn thành Túc mạng minh thì bắt đầu bước qua Thiên nhãn minh. Đó là tự nhiên, không cần phải tác ý. Bỗng nhiên chuyển qua Thiên nhãn minh là chúng ta quan sát cái nhân duyên của vô số chúng sinh mà có liên quan tới mình.

[55:45]Bởi vì trong vô lượng kiếp mình gieo duyên với rất nhiều, kiếp này có thể chưa gặp lại, nhưng mà khi mình nhớ lại, mình biết: "À, kiếp đó có một người đó có ân nghĩa với ta như thế, bây giờ người đó ở đâu?", nhìn thấy liền. Hoặc là cái người bên cạnh mình gieo bao nhiêu duyên với mình từ nhiều kiếp, thì bây giờ khi mình nhớ lại cái mình thấy rõ hết những cái duyên với mình và mình cũng quan sát là người đó từ đâu đến, đi về đâu luôn. Nên khi quan sát giùm cho chúng sinh thì gọi là Thiên nhãn minh, và thấy rõ luôn là chúng sinh lưu chuyển từ cái thế giới này sang thế giới kia, từ kiếp này sang kiếp kia dựa vào cái nghiệp duyên thiện ác.

[56:25]Nghĩa là người làm điều thiện thì sinh về nơi sung sướng, người làm điều ác thì sinh về nơi khổ sở. Thì cái mà thấy chúng sinh lưu chuyển khắp ba cõi sáu đường như vậy, Đức Phật nói ví như một người đứng trên cái lầu cao ở ngã tư đường nhìn chúng sinh qua lại và thấy rất là rõ. Thì Đức Phật cũng vậy, trong cái định của mình, Ngài thấy chúng sinh lưu chuyển nơi này qua nơi kia theo nghiệp duyên thiện ác thấy rất là rõ, muốn thấy ai là thấy hết. Mà chính là vì từ cái Túc mạng minh thấy mình, rồi mới thấy những người liên quan tới mình, tự nhiên biến thành Thiên nhãn minh, đó như vậy. Và thêm một cái minh cuối cùng nữa, lúc đó tự nhiên thấy luôn là Lậu tận minh.

[57:06]Khi mà nhìn thấy cái luân hồi của mình và của chúng sinh thấy quá nhiều rồi thì mới phát hiện ra một điều, bản chất của thế gian là đau khổ, đúng. Và khi mà thấy bản chất của thế gian là đau khổ thì biết luôn nguyên nhân của đau khổ chính là chính là vô minh, là chấp ngã, là ích kỷ, là là tham ái, vân vân, những cái điều đó là biết luôn. Và cũng khi mà cũng chứng như vậy được thì biết cái chỗ mà không còn đau khổ nữa là là Niết bàn tịch diệt, biết luôn. Đó mới thật sự là bến bờ an vui hạnh phúc, không còn trầm luân, không còn đau khổ. Và lập tức cũng biết luôn cái con đường để đi đến Niết bàn chính là chính là Bát chánh đạo. Bát chánh đạo chứ không phải thiền.

[58:01]Thiền là một của Bát chánh đạo thôi, Bát chánh đạo mới là toàn bộ con đường, nhớ nha. Bát chánh đạo từ cái Chánh kiến, Chánh tư duy này nọ mới là toàn bộ con đường, chớ mà thiền chỉ là một nhánh thôi. Cho nên ai hỏi: "Tu làm sao để giải thoát?", mình trả lời: "Thiền", thì người này trả lời phiến diện, khiếm khuyết. Phải trả lời đầy đủ: "Bát chánh đạo" mới là đầy đủ. Học tới đó chưa? Rồi mà, quên? Quên rồi, ừ.

[58:31]Thì khi mà thành tựu được Tam minh như vậy thì chúng ta thấy là vị này đã trở thành gì? Một vị A La Hán. Do đó chúng ta thấy thế này: Tứ thiền cộng với Tam minh thì bằng? Đúng, bằng tứ quả, Đệ tứ quả A La Hán.

[58:57]Giờ chúng ta học qua tứ quả, thì quả thứ nhất là sơ quả Tu-đà-hoàn. Sơ quả Tu-đà-hoàn, chữ Tu-đà-hoàn là

[59:08]Sotapatti, nghĩa là nhập lưu á.

[59:12]Sơ quả Tu-đà-hoàn.

[59:17]Chữ Sotapatti tức là vào dòng á, vào dòng nghĩa là vào dòng thánh á. Từ đây cái người này được xếp vào hạng thánh, ý như vậy. Sơ thiền không được coi là thánh nha, mà sơ quả mới chính thức là thánh. Mà để đạt được cái tiêu chuẩn thánh này, thì Đức Phật bảo là phải phá được ba cái kiết sử. Tôi có đem theo cái đĩa 10 kiết sử tặng cho quý thầy, tại vì khóa trước cũng giảng cái bài 10 kiết sử trong bộ Nikaya. Cho nên kỳ này không có nói, nhưng mà sẽ tặng cái đĩa lại để quý thầy mở nghe. Cái lạ là thế này: nơi Tứ thiền á thì chúng ta lấy theo tiêu chuẩn là mức độ nhập định sâu hay cạn, còn cái tứ quả đó, đi theo cái tiêu chuẩn là đạo đức nhiều hay ít.

[59:59]Hễ đạo đức càng nhiều thì cái quả thánh càng cao. Đạo đức chưa bằng nhiều thì quả thánh thấp. Nhưng mà một bên theo tiêu chuẩn nhập định sâu cạn, một bên theo tiêu chuẩn đạo đức. Rất là lạ, hai con đường khác hẳn nhau. Hôm nay chúng ta đối chiếu bởi vì nó vẫn có sự liên quan. Vì sao? Bởi vì muốn có đạo đức thì cũng phải có có thiền định. À và muốn có thiền định thì cũng phải có đạo đức, nên nó có cái tương quan là như vậy. Nhưng mà nó lại không có tiêu chuẩn luôn luôn là ngang bằng, không phải sơ quả là sơ thiền, không phải nhị quả là nhị thiền. Mà tam quả thì bắt buộc phải chứng tam thiền, nhưng mà chứng tam thiền thì chưa chắc là tam quả, à ngộ như vậy.

[1:00:41]Đây là điều lạ. Thì sơ quả Sotapatti này đó phải phá được ba cái kiết sử. Thứ nhất là thân kiến, thân kiến nghĩa là gì? Thân kiến nghĩa là ích kỷ. Cái người mà chứng sơ quả Tu-đà-hoàn người đó không bao giờ ích kỷ nữa, chỉ sống một đời vì người khác mà thôi. Đời sống rất là vị tha, người đó là sơ quả. Cái thứ hai nữa là phá được cái giới cấm thủ. Giới cấm thủ nghĩa là cố chấp. Cố chấp là gì? Cố chấp là mình chấp vào những cái lề thói cũ, những quy luật, những cái hình thức gì đó. Thật ra, con người ta lập ra những lề thói, người ta lập ra cái quy luật, người ta lập ra hình thức là mục đích đưa đến cái cao đẹp.

[1:01:23]Nhưng đôi khi mình chấp vào cái đó cái mình lại mất cái cao đẹp, lạ như vậy. Thì cái người mà chứng Tu-đà-hoàn là họ vượt qua được cái cố chấp đó, họ sống cái gì đúng với cái mục đích. Nhưng mà cái đó chỉ là phương tiện, hoặc là những quy luật cũng vậy, những cái thói quen, những cái tập quán ngàn xưa để lại cũng vậy, nhưng mà đừng bao giờ coi nó quá quan trọng, vì mục đích chính vẫn là gì? Vẫn là cái hạnh phúc của cuộc đời, vẫn là niềm vui, vẫn là đạo đức, vẫn là sự tu hành giải thoát, chứ đừng vì những cái quy định, những quy luật mà làm mà làm đi ngược lại cái hạnh phúc. Ví dụ nơi sáu pháp Lục hòa cũng vậy.

[1:02:02]Trong đó nó có cái gọi là lợi hòa đồng quân, nghĩa là gì? Là có cái tài vật gì cũng đem chia đều. À thì nguyên tắc nghe như vậy thì đẹp, đó là nguyên tắc, nhưng mà khi đụng chuyện thực sự thì coi chừng cái chia cho đều lại là lại là không có đẹp nữa. Ví dụ, ví dụ như bây giờ trong chúng có cái người họ làm cực, bữa đó vì công việc họ nhận cái trách nhiệm họ là làm ruộng, cái quần áo họ rách nhiều hơn cái người không đi làm ruộng. Thì bây giờ cứ đợi khi nào mà có đợt chia vải thì mới chia cho người một bộ, một bộ, bộ thì cái người mà chuyên làm ruộng sẽ làm sao? Không đủ quần áo để mặc, đúng không?

[1:02:38]Cho nên cái đó lợi hòa đồng quân lại sai. Lúc đó phải ưu tiên cho cái người họ đi làm ruộng đồ họ rách nhiều hơn. Hoặc là cái người bệnh, người bệnh thì bình thường cơm bình thường họ ăn không được, lúc đó họ cần ăn cháo và phải cần uống sữa thêm. Nhưng mà lúc đó nói không, lợi hòa đồng quân đợi khi nào chia sữa rồi người một muỗng một muỗng một muỗng đều hết thì như vậy người bệnh không phục sức được. Lúc đó phải ưu tiên người bệnh chứ không được nói tới lợi hòa đồng quân. Chúng ta nhớ, đó là cái cố chấp á. Quy luật là để giúp cho mình sống tốt nhưng mà nếu chấp quy luật là nhiều khi mình lại sống không tốt.

[1:03:10]Thì cái người mà chứng Tu-đà-hoàn là họ vượt qua cái đó rất là dễ. Họ nhìn là nhìn tới mục tiêu, chứ không ngừng ngang ở quy luật, ở tập quán, ở hình thức, ở lề thói. Đó là cái hay. Và cái thứ ba, kiết sử thứ ba là nghi, tức là người Tu-đà-hoàn họ phá được cái nghi, nghĩa là cái người đó họ xác lập được cái lập trường lý tưởng giải thoát, đối với Phật được lòng tin kính tuyệt đối luôn, không còn bao giờ có một chút gì mà vơi cạn. Còn nếu mình đối với Phật mình lạy Phật mà lòng tôn kính không tuyệt đối nghĩa là mình chưa chứng Tu-đà-hoàn. Cho nên như vậy mình muốn biết mình đã là một vị thánh sơ quả hay chưa thì để ý mình có ba điều hay không.

[1:03:49]Thứ nhất, còn ích kỷ không? Còn không? Dạ có. Thứ hai là mình còn cố chấp, còn không? Dạ có. Thứ ba là tôn kính Phật tuyệt đối, được chưa? Được. Nếu chưa có ba cái đó thì mình chưa phải Tu-đà-hoàn. Còn nếu ai tu đến ngày nào mà được ba điều đó thì mình biết là mình đã là Tu-đà-hoàn. Mình có quyền mình in một cái danh thiếp, mình ghi đó tỳ-kheo Thích Minh Lợi đã chứng sơ quả Tu-đà-hoàn. Vậy ví dụ vậy ha. An Lợi hả? An Lợi hả? Đại khái.

[1:04:28]Thì thế này, thật ra mà để mà đừng có ích kỷ á thì tâm phải làm sao? Tâm cũng phải rất là thanh tịnh, là phải đạt được cái mức độ thiền nào đó mới được không còn ích kỷ. Cũng giống như là cũng đạt được cái định ở mức độ nào đó tâm mới không còn cố chấp. Cũng giống như là phải đạt được cái mức định nào đó thì mình mới thấy rõ ràng con đường Phật pháp là tuyệt đối đúng, không còn con đường thứ hai nào nữa, là xác định được, tiêu diệt cái nghi luôn, xác định lập trường và lý tưởng vững vàng. Thì phải có cái định, nhưng mà định ở mức độ nào thì Phật lại không nói. À Phật không nói, mà chỉ nói như vậy thôi: phá được ba kiết sử đó.

[1:05:09]Cho nên ở đây chúng ta biết thế này: là cái người mà chứng sơ quả có thể là người đó mới được chánh niệm tỉnh giác, nhưng vẫn có thể trong tâm người đó đã là sơ quả. Có khi người đó được sơ thiền, và có khi người đó được nhị thiền, chứ không cố định, không cố định hễ là sơ quả phải là sơ thiền. Cái mức thiền có dao động, có khi mới là chánh niệm tỉnh giác thôi mà Phật cũng ấn chứng người đó được sơ quả, có khi người đó mới sơ thiền, có khi người đó tới nhị thiền. Cho nên là cái mức độ thiền nó dao động, nhưng mà thánh quả là như vậy, chứ không có nhất định nha. Không phải hễ sơ này sơ kia, nhị này nhị kia, mà dao động.

[1:05:51]Còn qua bên nhị quả, đó là Sakadagami, thì cái

[1:05:58]quý vị cái Saka này đó, cái ngữ âm cái cái cái tiếp ngữ đầu ngữ Saka này, Sakim này nghĩa là một, một lần. Còn cái Agami này là đến, cho nên là Sakadagami này mình dịch là Tư-đà-hàm á, có nghĩa là đến một lần nữa, nhất lai. Thì cái người này là còn đến một lần tái sinh vào cõi người rồi sẽ chứng A-la-hán. Nó khác với cái người sơ quả vào dòng, nhưng mà Phật không hứa hẹn là còn đến với trần gian này mấy lần. Ở nơi cái kinh tạng Pali phía Nam tông, thì trong kinh bản nói rất rõ, cái người mà chứng sơ quả đó, thì cái người đó vĩnh viễn không bao giờ đọa ác đạo. Cái người đó chắc chắn sẽ có ngày được giải

[1:06:44]thoát, nhưng không hứa hẹn là ngày nào. Là ví dụ người đó có thể tạo một cái lỗi lầm gì đó và nặng hay nhẹ không biết nhưng không bao giờ bị đọa địa ngục, không bao giờ bị đọa súc sinh hay ngạ quỷ. Người đó có thể chịu quả báo nhưng mà chỉ ở cõi người, rồi từ nơi cõi người cái người đó sẽ tạo những công đức để chuộc lại lầm lỗi của mình mà thôi, đó là người chứng được sơ quả. Và không biết là 10 kiếp, 5 kiếp, 50 kiếp, 100 kiếp nhưng mà sẽ có đến ngày chứng được giải thoát khi người nào đã chứng được sơ quả, mà không nói. Còn kinh tạng Bắc tông á thì lại dịch là thất lai, đến bảy lần. Trên kinh tạng Bắc tông lại không chính xác,

[1:07:23]không đúng với nguyên bản, là nói rằng người chứng sơ quả còn đầu thai lại đây bảy lần rồi sẽ được giải thoát. Cái điều đó không đúng, không đúng, trong thực tế không đúng. Cho nên kinh tạng Pali đúng hơn là không hứa hẹn chính xác mấy kiếp trở lại đây, chỉ nói là sẽ có ngày thôi, không biết mấy kiếp. Nhưng mà riêng cái nhị quả Sakadagami này thì Phật hứa chắc là còn một lần. Người đó sẽ đầu thai lại cõi người một lần. Có thể trước khi đến cõi người người đó an trú cõi trời rất lâu, mấy ngàn năm, rồi một lần nào đó cái sinh xuống cõi người một lần rồi để tu hành rồi chứng được giải thoát là nhị quả Sakadagami này.

[1:07:58]Thì cái về kiết sử á thì cái người đó làm mỏng nhạt hai cái, à cái này là cái cái sơ quả nè: thân kiến nè, giới cấm thủ,

[1:08:12]và nghi. Còn cái Nhị quả thì làm cho mỏng nhạt tham và sân. Ờ đây là rất là lạ nha. Làm mỏng nhạt thôi chứ bứng không hết nổi. Mà Nhị quả Tư đà hàm là một bước tiến vượt bực. Từ Sơ quả không hứa hẹn ngày giải thoát, cho đến Nhị quả là hứa hẹn còn một lần, tức là mình thấy một bước tiến rất lớn. Vậy mà ở qua bên cái phá kiết sử hai kiết sử tham sân phá không hết nổi, chỉ là mỏng nhạt thôi. Thì chúng ta thấy chúng ta nhớ lại trong cái lúc mà phá năm triền cái là chúng ta nhớ mình đã phá xong cái gì rồi? Tham và tham và sân phá rồi phải không? Vậy mà tại sao tới Nhị quả tham và sân vẫn chưa phá được?

[1:08:55]Nên chúng ta hiểu rằng cái tham và sân ở trong các triền cái coi vậy chứ nó nhẹ. Nhưng mà qua tới tham và sân kiết sử á, cái đó mới là cái gốc rất là nặng. Mà Nhị quả chứng Đệ nhị Thánh quả rồi, Tư đà hàm rồi, vẫn không phá hết nổi tham và sân, mà chỉ là làm mỏng nhạt tham và sân. Trong kinh ghi rõ nha. Nhớ chứng Nhị quả Tư đà hàm là làm mỏng nhạt tham và sân. Cái gọi là làm mỏng nhạt tham và sân có nghĩa là người đó sống một đời rất hiền lành, thanh tịnh. Chúng ta nhìn người đó suốt một đời không bao giờ thấy người đó có tham, không bao giờ thấy người đó có sân. Và chính bản thân người đó cũng thấy rằng trong

[1:09:38]tâm mình không còn tham, không còn sân. Như vậy ai biết người đó còn tham còn sân? Chỉ có Phật thôi. Đây là điều rất là đặc biệt. Chúng ta thấy những cái điều mà chi ly chi tiết như vậy không một tôn giáo nào nói được á, chỉ Đạo Phật mới có. Đó là mình không bao giờ nhìn thấy người đó còn tham sân, chính bản thân người đó xét trong tâm mình không thấy có tham sân, vậy mà chỉ có Phật mới nói rằng vẫn còn tham sân ít ở trong á. Chính vì vẫn còn tham sân ít cho nên người đó còn phải trở lại một lần. Một lần đến rồi mới chứng được. Chỉ Đạo Phật mới có những vấn đề chi ly như thế này, không một tôn giáo nào trên thế giới có được.

[1:10:19]Vừa rồi tôi mới nhận được một bức thư của một sư cô ngoài Nha Trang. Sư cô đó kể lại rằng có một đoàn các linh mục, các ma sơ, các giáo dân tới chùa của sư cô để xin lỗi. Là họ đại diện cho Thiên Chúa giáo, họ xin lỗi Phật giáo vì những điều sai lầm họ đã làm gây nên cho Phật giáo. Ừm ví dụ như khi họ về đây, họ đến đất nước này, họ đã chửi mắng Phật kêu là thằng Thích Ca. Trong kinh cầu nguyện của họ có ở trỏng á. Ừ hằng đêm chửi Phật. Và họ đã dẹp bỏ bàn thờ tổ tiên của con chiên họ và nhiều khi họ đã cướp đất chùa để xây nhà thờ. Ví dụ cái nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn là ngày xưa là cái nền chùa.

[1:11:02]Hoặc là cái nhà thờ La Vang ở ngoài Quảng Trị ngày xưa là một cái chùa. Ờ họ xin lỗi điều đó. Và họ nói rằng là ờ ngày nay họ đại diện Thiên Chúa, họ đến xin lỗi chùa và bởi vì tất cả chúng ta đều là con của của Chúa. Phật cũng chỉ là một vị thánh cũng là con của Chúa, nên ngày hôm nay chúng ta phải thương nhau. Sư cô nghe cũng nghe cũng nổi sùng lên. Cho nên là mình chuẩn bị tinh thần ví dụ một ngày nào đó mà có các cha cũng đến Thiền Khánh mà đến xin lỗi thì mình phải thủ trước cái gì? Thủ trước cái gì? Nói gì đó thì được, nhưng mà hễ nói tới câu đó thì sao? Mình xuất chiêu liền, nói. Kêu vậy.

[1:11:50]Ok.

[1:11:55]Giờ tới cái Tam quả Anagami.

[1:12:04]Anagami này mình dịch là A na hàm. Thường thường trong cái tiếng Pali cái gì chữ "a" đầu tiên có nghĩa là không. À agami này là đến, không đến nghĩa là bất lai, không trở lại nữa. Cái người khi mà người chứng Tam quả này thì cái đặc biệt là khi họ chết là họ sinh về cõi trời Sắc Cứu Cánh, không bao giờ tái sinh lại cõi người nữa và ở trên cõi trời Sắc Cứu Cánh đó họ sẽ chứng được A-la-hán giải thoát luôn. Ừ. Thì ở nơi Tam quả Anagami này thì tham sân họ diệt sạch. Tham sân diệt sạch, không còn một vết dấu vết nữa và bắt buộc họ phải chứng được tam thiền. Cái người chứng được tam thiền thì chưa chắc chứng được Tam

[1:12:50]quả Anagami, à Anagami, nhưng mà người chứng Tam quả Anagami thì bắt buộc phải chứng tam thiền, nhớ như vậy. Đây là điều lạ. Nó không có nó chỉ một chiều chứ không có định lý nghịch, định lý thuận thôi. Nghĩa là ai chứng Tam quả Anagami thì thiền định cũng phải chứng được tam thiền. Nhưng mà người chứng được tam thiền thì chưa chắc chứng được Anagami, nhớ như vậy. Thì tham sân họ diệt sạch, chính vì cái nhân duyên của chúng ta đối với trần gian này á là do tham và sân. Ít tham và sân á thì trở lại một lần, hết tham và sân thì không trở lại nữa. Thì họ ở trên cõi trời Sắc Cứu Cánh, thì các tầng trời có nhiều tầng

[1:13:34]mà cõi trời Dục giới là cõi trời đó vẫn còn có thương yêu, có luyến ái. Rồi lên tới cõi trời Sắc giới thì cõi trời đó chỉ sống bằng lòng từ bi và thiền định, rất cao thượng, không có luyến ái riêng tư. Nhưng mà đỉnh cao của cõi trời Sắc giới gọi là cõi trời Sắc Cứu Cánh, cõi đó dành cho những vị Tam quả Anagami về an trú. Ở đó một thời gian rất dài, không biết mấy nghìn năm, mấy chục nghìn năm, rồi vị đó chứng A-la-hán tại đó. Cõi đó rất là thanh tịnh. Chúng ta phải hiểu thế này: cõi trời cực kỳ hạnh phúc, luôn luôn là hạnh phúc, luôn luôn là thanh tịnh, luôn luôn là cao thượng. Nha, chứ đừng tưởng cõi trời là khô khan, cõi trời rất là hạnh phúc.

[1:14:15]Cái Tam quả như vậy. Cho nên vì chứng là Tam quả cũng là chứng được tam thiền và không còn trở lại trần gian nên vị thánh này rất là vĩ đại, rất là phi phàm, rất là phi phàm. Đạo đức của những vị đó là tuyệt vời.

[1:14:35]Nhưng còn năm điều mà Phật chê, còn năm cái điều mà Phật chê là chưa hoàn thiện đạo đức. Thứ nhất là sắc ái.

[1:14:47]Thứ hai là vô sắc ái.

[1:14:51]Thứ ba là phóng dật. Thứ tư là mạn, tức là kiêu mạn á, và thứ năm là vô minh. Còn năm kiết sử cuối cùng này trong tâm của một vị A na hàm. Mà chính vì còn năm cái điều chưa hoàn hảo này mà vị đó không được giải thoát. Sắc ái nghĩa là gì?

[1:15:13]Ai đoán thử coi, sắc ái nghĩa là gì?

[1:15:20]Đừng có nói là ái sắc dục nha, chứng tới A na hàm là chấm dứt chuyện đó rồi, không có. Sắc ái này tức là ưa thích cõi trời Sắc giới. Vì sao vậy? Bởi vì cõi trời đó quá hạnh phúc á. Vì chúng ta sống ở cõi người mình thấy bình thường, chứ nếu mình đầu thai mình sinh lên cõi trời, chúng ta sẽ tưởng đây là bến bờ, đây là quê hương, đây là cứu cánh. Vì sao vậy? Trên đó con người quá thanh tịnh, mọi chuyện quá hạnh phúc, muốn gì được nấy, quá an ổn. Chúng ta ưa thích liền. Tưởng đó là quê hương, là bờ bến cuối cùng, là cái chỗ an trú cuối cùng, là quê cha đất tổ thật sự của mình. Giống như ở trên trái đất này người Việt Nam mình

[1:15:59]thích cái nước nào coi như thiên đường? Cứ nói Mỹ là thiên đường này kia đó, rồi ưa thích, nó là Phật la là chết đó. Qua bên ở hồi nào đụng cái rút súng bắn cái đùng một cái. Tại bên nó vũ khí sử dụng dễ dàng. Những người những cái bang mà ở gần miền nam Mexico á, người Việt Nam mình chết hoài. Tại vì người Việt Nam mình yếu á. Nhiều khi mình mở cửa hàng bán lẻ á đang loay hoay lấy tiền nó lấy búa đập đầu cái lấy tiền lấy. Nhiều khi vì 100 đô nó giết một mạng người rất là dễ dàng. Cái xứ đó sợ. Những người quen mình cũng chết hoài, nghe tin báo về chết hoài. Thì ở trên đó cái vị mà A na hàm họ sống ở cõi trời không à.

[1:16:37]Và họ thấy cõi trời quá tuyệt vời nên có một chút tâm ưa thích bị Phật quở. Đây chính là điều chưa hoàn hảo của một vị A na hàm. Mà có một vị thì họ nhập vào cái cõi Vô sắc, họ thấy đó còn hạnh phúc hơn nữa. Cõi Vô sắc nghĩa là gì? Nghĩa là cái cõi mà chư thiên không có hình thể, chỉ có cái tâm trùm luôn cả tam thiên đại thiên thế giới á. Và vị đó cứ tưởng Vô sắc này chính là Niết bàn tuyệt đối. Đúng là cái này nếu không phải Phật không ai biết hết. Chỉ có Phật mới biết đó vẫn là một loại cõi trời, mặc dù không còn hình thể chỉ còn cái tâm phủ trùm. Đa số chúng ta sẽ tưởng đó là cõi trời là Niết bàn tuyệt

[1:17:18]đối, chỉ Phật mới biết đó vẫn còn là luân hồi. Thì cái vị nào mà an trú trong cõi trời Vô sắc này thì sẽ an trú cả triệu năm á.

[1:17:29]An trú cả triệu năm cho đến khi mà hết phước cõi trời mới rớt lại, đầu thai xuống làm người lại. Thì chính vì cái tâm ưa thích cái cõi trời này bị Phật quở, cho nên gọi là vẫn còn cái luyến ái trần gian, nó không giải thoát được. Một cái dở thứ ba của một vị Anaham là phóng dật. Phóng dật nghĩa là gì? Lười biếng, không nỗ lực. Nhưng mà sự thật là cái vị đó họ tinh tấn lắm. Trước khi mà chứng được Anaham là họ tinh tấn hết mình mới chứng được. Vậy mà bị Phật quở bởi vì sao? Bởi vì họ hài lòng với... với các cõi mà họ đang an trú là cõi Sắc giới hay là Vô sắc giới, họ an trú trong đó, họ có cái hài lòng.

[1:18:08]Chính vì có cái hài lòng nên không nỗ lực để tiến thêm. Và không nỗ lực tiến thêm đó bị Phật quở. Nên họ thường như vậy đó, không có ai khuyến khích, họ phải an trú trong mấy cõi này cả mấy ngàn năm, mấy chục ngàn năm, cả triệu năm à, rồi mới chứng tiếp A-la-hán. Còn nếu mà không bị cái phóng dật này thì chỉ cần nhiều khi một vài trăm năm là họ lại chứng A-la-hán tiếp. Nên cái phóng dật là do cái hài lòng với cái cõi mà mình được an trú là bị Phật chê. Mình nói ví dụ đi, ví dụ như mình là người con trong gia đình nghèo khổ, tìm miếng ăn miếng uống vất vả, bỗng một hôm có một người đi chiếc xe hơi bóng lộn lại, đậu trước cửa nhà, bước vô, đi tìm, nói: "Xin cho gặp...

[1:18:50]ông thầy... vô chùa Thiên Khánh..." Ví dụ như mình nghèo quá rồi mình cũng đi tu đi, vô chùa mình cũng đang học Trung cấp, phải không? Bữa đói, bữa no rồi bữa có tàu hũ ăn, bữa không có tàu hũ ăn, ví dụ vậy, áo vá lên vá xuống. Tự nhiên một hôm cái hai ông bà sang trọng đậu cái xe cái kịch trước Thiên Khánh, bước vô, là: "Xin cho gặp thầy Đức Hoàng", ví dụ vậy. Cái dắt thầy Đức Hoàng ra, nói: "Ôm con! Trời ơi, thì ra là bị lưu lạc đâu con mà bây giờ hai ông bà là tỷ phú, tỷ tỷ tỷ tỷ phú đi tìm con mình." Không ngờ con mình đi vô Thiên Khánh tu, bưng con về nhà liền, không cho đi tu nữa. Về, lúc đó mình cũng tính về thăm cho biết thôi,

[1:19:24]về nhưng mà không ngờ cái căn nhà nó lớn quá, cái villa nó lộng lẫy quá, bước vô nhà mình không dám bước, vì gạch nó đẹp quá! Vô cái... vô buồng tắm muốn ở trỏng hoài tại nó đẹp quá, ví dụ vậy. Thì cái gọi là mình choáng ngợp trước một cái chỗ ở lạ lùng, mới như đó thì cái tâm đó gọi là tâm ái, Phật chê. Ví dụ có trường hợp đó xảy ra thì mình cũng tới thiệt, tới thăm rồi lặng lẽ: "Bần đạo xin cáo từ để về Thiên Khánh lại." Thì người đó là không bị cái sắc ái, vô sắc ái này người đó Phật khen, là Phật khen. "Hai thí chủ hãy ở lại an vui, thỉnh thoảng bần đạo sẽ tới thăm", ví dụ vậy thì không sao.

[1:19:59]Còn ở đó cái rụng rời, đi đâu cũng ngắm hết trơn là Phật chê. Chính vì hài lòng cho nên mình... mình phóng dật, mình không có cái cố gắng tiếp. Rồi cái thứ tư mà Phật chê nữa là người ta bị cái mạn. Mạn tức là thấy mình hơn chúng sinh. Đây là cái điểm khác nhau giữa Anaham và A-la-hán là vậy á. Một vị Anaham á có thương chúng sinh nhưng vẫn thấy mình hơn chúng sinh. Còn vị A-la-hán á, cái Tứ quả A-la-hán

[1:20:32]á, A-la-hán ta thì vị này á thương chúng sinh vì thấy mình và chúng sinh là một. Khác nhau giữa Anaham và A-la-hán. Nên vì thương chúng sinh mà vẫn thấy mình là hơn chúng sinh, thành ra còn cái lỗi mạn mà Phật chê. Chúng ta thấy đạo Phật vĩ đại chưa? Khủng khiếp. Không một tôn giáo nào bằng đạo Phật. Bởi vì đạo Phật thật sự được lập ra bởi một bậc Đạo sư tuyệt đối, tuyệt vời, là thầy của trời và người là như vậy. Không một tôn giáo nào nói được những điều như thế này. Chúng ta may mắn được là đệ tử Phật. Cho nên dù sống chết, kiếp này và vô lượng kiếp khác là nguyện mãi mãi đi theo con đường của Phật.

[1:21:12]Không bao giờ có một vị giáo chủ nào nói được những điều tinh vi, sâu sắc và đáng quý như thế này. Đó, chính vì cái mạn này bị Phật chê. Ví dụ một vị Anaham thấy chúng sinh đau khổ thì tâm vị đó nhập vào tâm chúng sinh, biết được cái nỗi đau khổ của chúng sinh, chia sẻ nỗi đau khổ chúng sinh, thương yêu, muốn giúp đỡ. Được hết, nhưng vẫn còn cái là thấy mình hơn chúng sinh. Còn một vị A-la-hán mà thấy một người đau khổ là vị đó liền trở thành một với vị đó, hiểu được nỗi đau khổ đó như là chính mình đau khổ, không thấy hai. Vì vậy mà vị A-la-hán không bị cái mạn này, hoàn toàn tuyệt vời.

[1:21:52]Cái cuối cùng là vô minh. Vô minh là cái gì? Không ai biết. Không ai biết, chỉ có người chứng A-la-hán mới biết vô minh là gì, vì họ vượt qua rồi họ mới biết, còn chưa vượt qua vô minh thì không thể biết được vô minh là gì. Cho nên Phật nói vô minh, bây giờ mình cũng lặp lại là vô minh. Vô minh ra làm sao? Thua, để đó, chừng nào chứng đạo thì biết, vậy thôi.

[1:22:19]Thật ra ngay cả bản ngã mình là gì mình cũng không biết. Chính vì vậy mình mới bị bản ngã lừa. Có nhiều người tâm rất là định, cứ tưởng mình là hoàn toàn thanh tịnh là sai, bên trong bản ngã vẫn còn, chỉ có cái mình không thấy bản ngã được, nên cứ tưởng là hết thôi. Vô minh cũng vậy, mình không thấy rồi mình tưởng hết, nhưng sự thật còn nguyên. Những cái mà vượt qua được vô minh phải đúng là Phật mới thấy nổi. Khi một vị A-la-hán thì chúng ta nói qua Tứ quả A-la-hán là cái quả cuối cùng, mình nói nhiều lời không hết được cái thánh quả A-la-hán, dù mình có ca ngợi suốt cuộc đời cũng không hết được cái cao siêu vi diệu của thánh quả A-la-hán.

[1:22:57]Chúng ta chỉ nói một điểm thôi. Vì bản ngã không còn nên vị đó trở thành toàn thể vũ trụ. Vì trở thành toàn thể vũ trụ nên vị đó biết tất cả mọi chuyện của vũ trụ khi muốn biết, nên thành tựu được đại trí tuệ.

[1:23:13]Cũng vậy, vì bản ngã không còn nên vị đó trở thành toàn thể chúng sinh. Vì trở thành toàn thể chúng sinh nên vị đó thương yêu tất cả chúng sinh và thành tựu tâm đại... đại bi. Nói chút xíu, chứ còn vô số điều vô số điều tuyệt vời của một vị A-la-hán mà mình không đủ trí tuệ để hiểu hết cũng như không đủ ngôn ngữ để ca ngợi hết một thánh quả của A-la-hán như vậy. Bây giờ hết thời gian, nhưng mà chúng ta phải nói về năm mức định một chút xíu, phải bắt buộc phải biết, nói cái này. Học bài này mệt không? Học bài này mệt không? Vậy là quý thầy có sức khỏe, hồi sáng mấy cô học bài này mấy cô than trời.

[1:23:57]Bài mệt quá, tập trung căng thẳng. Chúng ta nghe nói năm mức định. Cái mức định thứ nhất là Không vô biên xứ định.

[1:24:07]Không vô biên xứ định là cái mức định này tương đương với... với Sơ thiền nha. Nhưng mà hai cái dụng công khác nhau, thì khi mình dụng công thế này là chúng ta an trú trong hơi thở, chúng ta biết rõ toàn thân, bám giữ nơi thân thì chúng ta thành tựu được Sơ thiền. Cho nên dễ nhiếp tâm, bởi vì chúng ta có hơi thở để nắm, có cái thân để an trú nên nhiếp tâm dễ và thành tựu Sơ thiền. Còn mà tu tập vào cái Không định á thì mình không an trú đâu hết, nghĩa là tâm vô trú thì tâm nó bung ra cả hư không luôn, thấy trống rỗng hết, rất là thênh thang thì chứng Không vô biên xứ định, hai cái đó khác nhau.

[1:24:47]Mức định thì bằng nhau, nhưng mà nắm giữ hơi thở, lúc nào cũng biết toàn thân thì gọi là thành tựu Sơ thiền, mà không an trú đâu hết, không an trú tâm, không an trú thân, không an trú hơi thở, tâm nó bung ra rộng rãi cả đất trời thì gọi là Không vô biên xứ định, đó. Mức định thứ hai là Thức vô biên xứ định.

[1:25:09]Thức vô biên xứ định này thì tương đương với Nhị thiền, tương đương với Nhị thiền. Thì cũng như vậy, nghĩa là khi chúng ta nắm vững hơi thở, biết rõ toàn thân, chúng ta thành tựu Nhị thiền, còn chúng ta vô trú, không trụ vào đâu hết thì cái tâm bung ra trùm khắp, nhưng mà đặc biệt là cả đất trời bây giờ là cái biết. Lúc đó thấy cái biết nó tràn ngập hết cả trời đất, cái mây này cũng biết, gió này cũng biết, cây cũng biết, đá cũng biết nữa, cái nhà cũng biết nữa, đồng ruộng cũng biết nữa, thấy cái biết trùm khắp thì nó thành tựu là Thức vô biên xứ định, nó sâu hơn, nhưng mà có cái dụng nó phát ra.

[1:25:46]Và một cái định kế tiếp: Vô sở hữu xứ định. Vô sở hữu xứ định này thì tương đương với cái phần đầu của Tam thiền. Tam thiền được chia làm hai phần: một phần đầu và phần sau, phần cạn, phần sâu. Thì phần cạn này là tương đương với Vô sở hữu xứ định, tức là cũng vậy, khi mình tiếp tục nắm hơi thở, an trú nơi thân thì thành tựu Tam thiền, còn nếu mình không trú vào đâu hết, tâm bung ra hết thì thành tựu được cái tam định này, Vô sở hữu xứ định, lúc đó mình thấy cả trời đất không có gì hết. À lúc đó ví dụ như người ta nói: "Ở trong trời đất này có nhà, có cửa, có mây, có gió", thì cái người an trú trong

[1:26:26]định này không có vật gì hết, hoàn toàn không có gì nữa, thấy như không một vật, vô nhất vật, là cái người chứng được Vô sở hữu xứ định, nhưng mà họ trót chứng cái định này rồi tai không còn nghe nữa, mắt không còn thấy nữa, chính vì không nghe không thấy gì hết nên họ có cảm giác không một vật gì nữa, nó bằng với Tam thiền. Cái định thứ tư là Phi tưởng

[1:26:49]phi phi tưởng, ba chữ phi tất cả, xứ định.

[1:26:57]Cái tên này là tên hồi trước Đức Phật, tức là do ngoại đạo đặt rồi Đức Phật sử dụng tiếp, chứ Đức Phật không có đặt cái tên kỳ cục vậy. Phi tưởng nghĩa là gì?

[1:27:08]Không có tâm tưởng, không có tâm. Không có tâm tức là không có cái biết á. Phi phi tưởng tức là gì? Không phải không có tâm tức là... tức là có, phải không? Không không phải không tức là có cái biết. Ví dụ như là ai hỏi mình chứ: "Cái bánh bao tôi để trên bàn, huynh có ăn không?" Mình trả lời: "Không phải là tôi không có ăn." Tức là làm sao? Nuốt sạch sẽ không còn ngừng... chừa miếng nào, đó vậy đó. Nghĩa là không phải không tức là có. Thì cái tới cái định này đó là nó quá thanh tịnh, cho nên là mình thấy đúng là còn cái biết, bởi vì thấy còn thanh tịnh, thấy thênh thang, không phải là phàm phu tầm thường, không phải cây đá,

[1:27:53]nhưng mà nó quá thanh tịnh giống như không còn cái biết luôn nữa. Nó như là biết mà như là không còn biết. Cái chỗ mà nó rất là sâu thì nên gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, thì đây là bằng cái phần cuối của Tam thiền, bằng cái phần cuối của Tam thiền, quá thanh tịnh. Và cái cuối cùng là Diệt tận định.

[1:28:17]Hay còn gọi là Diệt Thọ Tưởng Định.

[1:28:24]Tứ Thiền, nhưng mà thật ra không tương đương Tứ Thiền. Bởi vì sao? Bởi vì Diệt Tận Định là phải chứng luôn tam minh. Diệt Tận Định chính là Niết bàn tại thế. Tức là cái người đó còn sống mà nhập Diệt Tận Định, tức là nhập vào trong Niết bàn, vui chơi trong Niết bàn á. Cái này một vị A-la-hán mới nhập được, chứ người chưa chứng A-la-hán thì không nhập được Diệt Tận Định. Mà khi nhập Diệt Tận Định thì vị đó an trú trong Niết bàn tuyệt đối dù là đang còn sống. Và trong Niết bàn tuyệt đối đó, vị đó trở thành rung động với mười phương chư Phật luôn, rất là vĩ đại. Mà đặc biệt của cái định này là cái thân vị đó bất hoại, không ai có thể xâm phạm được.

[1:29:03]Lửa không đốt cháy mà dao không thể cắt đứt. Trong kinh Phật vẫn kể những câu chuyện về những vị nhập Diệt Tận Định. Có lần những người thợ rừng họ đi vào rừng, họ làm việc họ thấy một vị Tỳ kheo cứ ngồi hoài một chỗ hai ba ngày, họ cứ tưởng là vị này đã chết. Nên theo cái nghi thức Ấn Độ thời đó, họ mới chất củi lại họ đốt, để như là hỏa táng rồi họ đi về. Vài hôm sau họ thấy cái ông đó áo cà sa cháy nhem nhem nhuốc nhuốc đi đi ăn xin ngoài chợ, đi khất thực ngoài chợ, họ nói: "Ủa, bữa mới đốt ổng mà, sao nay ổng đi?" Họ sợ. Thì ra là vị đó không phải chết mà vị đó đang đang nhập Diệt Tận Định, nên lửa không đốt được.

[1:29:42]Lúc đó có lấy búa tạ đập cũng không vô, lấy dao cắt không đứt. Đặc biệt của cái Diệt Tận Định. Thì hôm nay chúng ta học cái bài là đối chiếu giữa Tứ Thiền và Tứ Quả, trong đó chúng ta cũng nói tới năm cái mức mức định tương đương. Bài học hôm nay thì không phải dễ, rất là khó. Nhưng mà câu hỏi thì rất là dễ. Câu hỏi bài làm thì sợ quý thầy phân tích cái này mệt cho nên làm câu dễ hơn. Câu hỏi: "Nếu có ai nói rằng tu theo đạo Phật là thụ động thì phải trả lời làm sao?" Đó, câu hỏi dễ. Dễ không? Dạ. Khó hả?

[1:30:24]Về bài làm á, thì xin thành thật chia buồn mà nói bên tăng làm yếu hơn bên ni. Bên ni mấy cô làm giỏi, làm viết dày lắm. Quý thầy ráng lên nha. Học hết môn này mình học qua tới Hoằng pháp. Còn ai mà làm thiếu bài thì trưởng lớp nhắc làm cho đủ hết nha, đừng để sót một nào, để báo lên trên ban giám hiệu để quý thầy kiểm tra và lập sổ cho đầy đủ.

[1:30:54]Chúng ta nghỉ ha.

[1:30:58]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả

[1:31:12]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.