Transcript: Văn Tư Tu 3

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:27:09

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thưa quý thầy, quý Phật tử. Hôm nay chúng ta gặp nhau để trao đổi bài thứ ba trong cái loạt bài Văn Tư Tu, cũng là kết thúc luôn cái cái cái cái bài nói chuyện về đề tài này trong mùa hạ năm nay. Kỳ hôm trước thì chúng ta đã nói qua Văn và Tư là những cái chuẩn bị, thì hôm nay chúng ta nói về ý nghĩa của chữ Tu.

[0:40]Thật ra cái chữ tu thì nghĩa nó bị biến đổi qua nhiều thời đại, cũng như là qua nhiều cái lĩnh vực khác nhau. Ở mỗi thời đại hay mỗi cái lĩnh vực, cái chữ tu nó bị thành cái nghĩa khác. Vì cái chữ tu á, nguyên nghĩa của nó á thì có nghĩa là sửa, sửa, thay đổi lại, sửa lại, chỉnh lại. Nên chúng ta có cái chữ như tu chỉnh hay tu chính, như tu lý. Những cái đó đều là thay đổi sửa. Nếu mà ở trong cái cái máy móc á, ta gọi là tu chỉnh. Ở trong luật pháp cũng gọi là tu chính, như tu chính hiến pháp là sửa. Rồi khi một người mà đến với đạo để thực hành tu tập thì người ta cũng dùng cái chữ tu, nhưng mà nghĩa chúng ta thấy bắt đầu nó khác rồi.

[1:35]Thì nếu mà hỏi tu là gì, thì đa số là các vị học giả, ngay cả ngay cả quý thầy chúng ta cũng vậy, cũng đều định nghĩa rằng tu nghĩa là sửa, là chúng ta lấy đúng theo cái nghĩa của cái từ gốc ngày xưa mà làm thành cái cái cái cái ý nghĩa. Nhưng mà thật sự đó, chúng ta sẽ thấy trong thâm tâm mỗi người với cái nghĩa của chữ tu nó bị biến đổi rồi. Thường thôi bây giờ thì chúng ta cũng đành, cũng đành nói tu là sửa. Vì tôi nhớ, hồi tôi còn ở trong chúng thì tôi cũng là người tương đối lanh lợi, nhiều khi huynh đệ bàn chuyện đạo với nhau thì mình cũng là người nói chuyện lưu loát, có thể giãi bày, chia sẻ giáo lý với huynh đệ hay với các Phật tử.

[2:30]Ngay từ khi mà tôi vừa mới vào chùa làm điệu này, là đã bắt đầu giảng giải cho mấy chú người Phật tử nho nhỏ rồi, rồi mấy Phật tử lớn về gặp trao đổi đạo lý thì mình cũng cũng vững vàng lắm, thì nghĩ như vậy là chắc mình cũng biết tu rồi. Nhưng có một lần, một lần á, lúc bây giờ tôi cũng thọ tỳ-kheo cũng một thời gian lâu rồi, chợt một hôm cái thầy tôi hỏi mấy huynh đệ, tu là gì? Cái tự nhiên lúc đó tôi thấy không có câu để trả lời. Tại làm giờ là đạo lý thì mình hiểu mênh mông, mà mình cũng thực hành đủ thứ hết trơn, ngày nào cũng thực hành công phu, ngồi thiền, tụng kinh, bái sám gì cũng làm đủ thứ.

[3:11]Nhưng tới chừng hỏi tu là gì, trả lời cho thật gọn lại cái mình không biết đường trả lời. Nên tôi thấy cái buồn cười như vậy, rồi vị thầy tôi mới mới mới mới chọc chúng tôi mà dường như thầy tôi ám chỉ tôi nhiều hơn. Thầy thầy tôi nói, trời ơi, cả ngày nói đạo lý rồi lanh lợi, bây giờ hỏi tu gì cái không trả lời được. Thì mấy huynh đệ kia thì không có ai quê, chắc có mình tôi quê, vì ngay lúc đó thì tôi lại không nói được cho nó gọn gẽ. Mà đúng là sau này cho tới ngày hôm nay, khi tôi trao đổi với quý thầy về cái đề tài này thì tôi mới thấy cái chữ tu đúng là không dễ trả lời, nên hồi đó lúng túng cũng phải thôi, vì nó khó.

[3:52]Nếu mình nói theo cái nghĩa chữ sửa thì mình phải hiểu rằng tu là sửa, nhưng mà sửa con người mình, sửa cái tính cách của mình. Vì chúng ta đang là một cái tính cách phàm phu thì chúng ta sửa lại thành cái tính cách của một bậc thánh. Mà sửa này thì cũng hơi khó. Từ một phàm phu sửa lại cho thành thánh, khó. Hoặc là cái tính cách của chúng ta đang là sự ràng buộc, mà bây giờ chúng ta sửa lại thành cái tính cách giải thoát, cũng hơi khó. Nên cái cái chữ sửa cũng chúng ta định nghĩa như vậy cũng là được, nghĩa là chúng ta thay đổi. Như vậy chữ tu có nghĩa là thay đổi con người mình từ một con người tầm thường, ràng buộc,

[4:39]đạo đức kém, ích kỷ, vân vân, bây giờ sửa lại thành con người tốt hơn, thánh thiện hơn, đạo đức hơn và cuối cùng là đạt được cái mục tiêu giác ngộ, giải thoát. Đó, đó là cái cái ý nghĩa chữ tu một cách căn bản như vậy. Chúng ta có quyền trả lời như vậy không sai, nghĩa là không sai với nghĩa đạo, cũng không sai với cái nghĩa của từ vựng. Tuy nhiên, nếu chúng ta vượt qua cái ngôn ngữ, cái từ vựng, chúng ta cứ nhìn vào cái chữ tu, tự cái chữ tu thôi mà chúng ta cảm nhận thôi, chứ đừng có theo từ vựng nữa thì chúng ta thấy chữ tu có cái nghĩa khác hẳn luôn, không còn phải là sửa nữa, không phải là sửa.

[5:22]Thí dụ như nói cái cô đó đi tu, thì mình không có nghe cái câu này mình không có cảm nhận là cái cô đó đã đi để sửa, đâu phải. Phải không? Không phải đi sửa. Nhưng mà cô đó đi vào một cái đời sống gì đó linh thiêng, bước vào cái đời sống thi linh thiêng, từ bỏ thế gian này, vào một thế giới mà người thường làm không được. Đó là cái cái suy nghĩ chúng ta đó. Hoặc là mình nghe một cái người cư sĩ nè, nói ông đó nay ổng phát tâm tu rồi, thì mình không hiểu là ổng mình không nghĩ là ổng sửa như cái nghĩa từ vựng nữa, mà mình nghĩ rằng ông đang thực hiện một cái đời sống tâm linh, thiêng liêng, thần bí theo cái tôn giáo gì của ông đó.

[6:04]Nên chữ tu nó nó khác rồi. Bây giờ như quý thầy mình vậy, nói là thầy tu hoặc là thầy đó đang tu, thì chữ tu này chúng ta không có lấy cái từ vựng để hiểu là sửa nữa, mà tức là đang thực hành một cái điều gì cao quý, chứ không còn sửa nữa. Nên ở đây cái chữ tu mà theo cái cái hiểu, cái cảm nhận của mỗi chúng ta trong ngày hôm nay thì có nghĩa là thực hiện một cái đời sống tâm linh, thiêng liêng, thần thánh. Nên cái chữ tu nó nó nó khác với cái nguyên nghĩa ban đầu của nó. Và đó là cái cái tính cách của ngôn ngữ. Cái ngôn ngữ gốc nó có một nghĩa, nhưng theo thời gian nó sẽ bị biến đổi. Nó luôn luôn là như vậy.

[6:50]Và đây là chỗ mà cũng là một kinh nghiệm cho quý thầy sau này quý thầy đi giảng giải để ý chuyện này về trong ngôn ngữ, đừng có bám theo cái nghĩa của từ vựng, vì theo thời đại nghĩa thay đổi mất rồi. Mình phải có khả năng hiểu cái nghĩa đó theo cái cảm nhận của tâm của mình và của mọi người, chứ không có không có nên bám theo từ vựng. Mình bám theo từ vựng một cách máy móc nó sẽ không có sát với cái cuộc sống thực tế, cũng không có lay động được tâm hồn của người khác. Như có một lần, có một lần tôi tôi giảng về đề tài đạo đức thì có ông thầy khi ông làm bài, thì tôi có cái tật mà tôi tôi dạy cho tăng

[7:32]ni tôi buộc phải làm bài, cư sĩ thì thôi, nhưng mà tăng ni buộc phải làm bài. Thì có một thầy ổng định nghĩa chữ đạo đức, ổng tách chữ đạo là cái gì, rồi chữ đức ra gì ghép hai chữ đạo đức lại thành cái gì. Thì khi mà tôi trả bài lại, tôi không chấp nhận điều đó. Tôi nói định nghĩa một cái từ, hiểu một cái từ, hiểu trực tiếp cái ý nghĩa của từ đó theo mình cảm nhận, chứ không được mà phân tích từ vựng như vậy, phân tích ra nó sai. Vì chữ đạo nghĩa khác mà đạo đức ghép lại thành nghĩa khác liền, không còn dính gì với cái chữ đạo đó hết. Đây là cái ý nghĩa của ngôn ngữ trong Phật giáo mà trong cuộc sống cũng vậy.

[8:09]Cho nên chúng ta thấy mình khó dịch cái chữ tu ra tiếng nước ngoài. Như khi mà tôi học tiếng Anh thì có nhiều khi tôi dịch những cái bài về Phật pháp, thì khi mà đụng tới chữ tu cái là tôi lúng túng liền, vì không có chữ để dịch, mỗi cái nó có nghĩa khác nhau hết. Như bây giờ nói đi tu, thì người tiếng Anh họ dùng chữ là renounce, renounce the world, là từ bỏ thế giới. Nếu dịch sát nghĩa là từ bỏ cuộc sống, từ bỏ thế giới, để họ dịch cho cái chữ đi tu. Hoặc là có người khác dịch là become a monk, là trở thành thầy tu, trở thành giáo sĩ. Cái chữ đi tu nó không có nghĩa, không có nghĩa là mình dịch chữ đi rồi cái chữ tu ghép lại, không có.

[8:53]Nghĩa là họ dịch nghĩa đó. Rồi mình nói ví dụ như nói là tu sĩ thì hoàn toàn không có dính gì mấy chữ kia mà lại dịch nghĩa là monk, là một thầy một một một người đi vào một cái dòng, một cái order, một cái nề nếp, một cái tu viện, nó khác liền. Còn ví dụ như nói tu tập thì nó lại không còn dính dáng gì mấy chữ nãy nữa. Nó có nghĩa là tiếng Anh nó sẽ dịch là practice a doctrine, là thực hành một giáo lý, người ta gọi là tu tập, dịch như vậy. Chứ không có cái chữ tu như là chữ Trung Hoa hoặc là chữ Việt Nam. Cái chữ tu đó ám chỉ cái cái gì của tôn giáo thì mình ghép đủ thứ vô với chữ tu là mình hiểu ngay nó là ý nghĩa tôn giáo,

[9:33]còn tiếng Anh nó không có, mỗi câu mỗi chữ khác khác hết, họ dịch khác hết. Rồi bây giờ nói là tu thiền thì nó không có cái chữ gì hồi nãy từ bỏ thế giới gì nữa mà lại là practice meditation, là thực hành sự trầm tư sâu lắng, nó khác liền, phải không? Nên bây giờ nói nói nói nhiều cũng vậy, thì chúng ta bây giờ chúng ta định nghĩa cái chữ tu một cách khiêm tốn thôi, Là mình không có lấy theo chữ sửa vì chữ sửa theo theo từ vựng nó cũng không sát nghĩa mà mình nói rằng theo cái cảm nhận con người là thực hiện một đời sống linh thiêng thần thánh thì nó quá cao xa. Nên bây giờ mình ở đây chúng ta quy ước với nhau,

[10:14]nghĩa là từ ngày hôm nay chúng ta quy ước với nhau lại cái chữ tu trong đạo Phật có nghĩa là thực hành lời Phật dạy cho gọn, nghĩa là thực hành lời Phật dạy, vừa có nghĩa khiêm tốn mà vừa dễ có thể sau này dịch ra tiếng nước ngoài. Sau này ví dụ quý thầy lớn lên học tiếng Anh giỏi đi giảng pháp rồi nói chuyện với người nước ngoài, thì khi người ta đụng tới chữ tu cái mình dịch ra được là thực hiện lời Phật dạy, thực hành lời Phật dạy. Vì vậy nó sẽ không có nó không có có sai với cái cảm nhận mà người nước ngoài cũng dễ hiểu. Bây giờ thì tu là cái gì? Chúng ta phải làm gì để gọi là tu? Thì chúng ta vẫn lấy căn bản theo như lời Phật

[10:58]dạy để chúng ta hiểu là tu trên tam nghiệp: thân, khẩu, ý. Cái chữ thân, khẩu, ý một lần nữa mình phải định nghĩa lại nữa. Những cái từ ngày xưa bây giờ chúng ta phải bắt đầu thay đổi lại cho nó hợp với thời đại. Tôi nói điều vòng vo này là để quý thầy nhất là quý thầy mà trẻ còn lớn lên làm giảng sư đó, nhớ đừng có đi theo cái từ vựng cổ nhiều quá. Thân là gì? Thân là gì? Thân là thân thể hả? Không phải. Mình dịch tu trên thân phải không ạ? Thân tức là hành vi, hành động của mình, hành vi. Khẩu là cái miệng thì không phải là là cái miệng mà tu trên lời nói, trên ngôn ngữ thì chữ viết cũng được coi là ngôn ngữ. Được.

[11:43]Cho nên phải mở rộng ra. Chứ nếu mà nói là tu nơi thân, miệng thì khi nào nói mới là có vấn đề, còn khi viết không thành à? Nên nó bị hạn chế đi. Do đó mình nói là trên hành vi, trên trên ngôn ngữ vì ngôn ngữ có thể là hoặc là mình dùng lời nói phát biểu trực tiếp với miệng hoặc là mình dùng chữ viết cũng gọi là ngôn ngữ. Và thứ ba là thân, khẩu, ý. Ý thì là cái gì? Là tâm ý, là tư tưởng phải không, thì nó dễ hiểu. Đó, là chúng ta cũng tu trên ba cái nghiệp căn bản đó, đúng thôi. Vấn đề mà tu tập trên ý nghĩ thì chúng ta đã nói với nhau lần trước nơi bài Tư. Tuy nhiên bài Tư là chúng ta thấy thế này:

[12:27]tuy là chúng ta nói nhiều về cái tâm, cái ý để chuẩn bị cho việc thực hành tu tập thật sự nhưng mà nó vẫn chưa phải là tu hoàn toàn. Nghĩa là cái việc mà chúng ta chuẩn bị cái tư tưởng để tạo thành một cái tâm hồn tràn đầy Phật pháp cũng đã gọi là tu. Chúng ta có nói với nhau như vậy. Tuy nhiên nó vẫn không đầy đủ, chưa thực sự gọi là tu. Vì cái tu trên ý, tức là tu trên tâm, trên tư tưởng sự thực nó đòi hỏi công phu cũng ghê gớm lắm, chứ không có không có đơn giản. Bây giờ chúng ta thấy ví dụ như khi người người tu tu tập về về tâm niệm, về ý tưởng, về tư tưởng thì dĩ nhiên là chúng ta phải huân tập những tâm niệm tốt đẹp, cao cả, thiêng liêng vào trong tâm mình.

[13:16]Đó căn bản định nghĩa là vậy. Những cái đó là cái thầm kín ở bên trong, chứ bên ngoài không có hiện ra, không ai biết. Nói không hiện ra không ai biết là nói với cái phàm phu thôi, chứ một người mà họ có cái chiều sâu tâm linh mình không giấu họ được, không giấu họ được. Bây giờ ví dụ bên ngoài mình có giả vờ hay là tươi cười, hiền lành nhưng mà nội tâm mình xấu ác thì họ nhìn thoáng một cái họ biết liền, không giấu ai được hết. Nên cái quan trọng vậy, chúng ta cứ cứ thật lòng mà tu tập, thật lòng mà thấy lỗi của mình. Vậy đó mà lần lần nó tốt đẹp, chứ chúng ta đừng có nghĩ rằng cái tâm của mình

[13:55]cái bên trong không ai biết rồi mình muốn làm gì làm, không đơn giản. Như vừa rồi ở Sài Gòn đang xử cái vụ án Epco - Minh Phụng là cái nhóm người, cái nhóm đông, bảy mươi mấy bị cáo, trong đó có sáu người bị tử hình, bao nhiêu người bị chung thân, nhiều năm gì đó. Thì lúc đó tôi đang ở trên trên lầu, tôi nghe cái tiếng vang vang về đường phố như tiếng ai nói vậy. Tôi đi xuống tôi xem thì mới mới thấy là họ đang tuyên án cái vụ án. Thì ở khúc cuối rồi nhưng tôi cũng cũng đứng lại tôi xem chút thì nhìn qua các bị cáo tôi đều thấy có một điểm như thế này: thứ nhất là tướng ông nào cũng tướng giàu.

[14:37]Những ông mà cấp lớn, những ông mà bị án nặng đó, từ tử hình, chung thân 20 năm, 18 năm á, ông nào tướng cũng giàu. Nhưng đều có một điểm giống nhau là ánh mắt ai cũng xấu. Ánh mắt ai cũng đều chứa đựng cái nội tâm xấu. Chỉ trừ một người trong đó có ánh mắt không xấu thôi, nhưng rồi bị làm thiệt hại nặng quá rồi cũng bị tử hình. Chứ còn hầu hết vậy, tướng thì giàu mà tâm không tốt nên cuối cùng thì kết thúc không có hậu trong cuộc đời này. Cho nên mình đừng tưởng cái tướng giàu rồi mình ỷ y, tại vì cái tướng đó là cái nhân quả của kiếp trước. Kiếp trước những người này chắc họ cũng có làm cái gì được việc nên

[15:13]bây giờ cũng giàu một thời gian, nhưng tâm không tốt nên cái kết thúc của cái phước nó không có hậu, không có hậu chút nào. Đây là điểm mà chúng ta cảnh giác là vậy. Nên rõ ràng là muốn cho có hậu, chúng ta phải sửa cái tâm mình thật kỹ trước. Thì có thể bây giờ chúng ta là một người chưa có gì đặc biệt, người ví dụ như trí tuệ mình cũng còn kém, là phước mình không nhiều, không có gì vẻ vang, vinh quang, nhưng mà cứ kiên nhẫn, kiên nhẫn huân tập những điều thật tốt trong tâm mình thì sẽ có một cái kết thúc có hậu. Chứ còn những người dù khởi đầu là một sự giàu sang tốt đẹp mà tâm không tốt rồi sẽ là một cái kết thúc không có hậu. Cái tâm là vậy.

[15:56]Và chúng ta cũng thấy cái tâm coi vậy chứ khó lắm, vì không ai thấy, không ai kiểm soát giùm mình, chỉ tự mình biết lấy mình. Nên ở đây phải là một người thật tâm tu tập dữ lắm mới có thể sửa được tâm mình. Có một điều vậy, như tôi thấy có những người làm việc Phật pháp dữ lắm, rất là nhiệt tình mà mình thấy người đó làm việc Phật pháp giống như là còn hơn cả thầy tu, nhưng chỉ có cái điều duy nhất là không chịu tu thôi. Tôi gặp những người như vậy. Nghĩa là người cư sĩ làm việc Phật pháp còn hơn cả thầy tu nhưng chỉ có cái không chịu tu thôi. Mà không chịu tu là ở chỗ nào? Là ở chỗ không bao giờ chịu tìm lỗi của mình, chỉ có nhiêu đó.

[16:42]Vậy đó, đó là cái để chuẩn bị cho sau này một cái kết thúc không có hậu, không có cái hậu đẹp, rất nguy hiểm. Nên cái chúng ta nói cái tu tâm, cái khởi đầu vẫn là cái thấy lỗi của mình. Cái đó khó thực hiện. Vì cái mà thấy lỗi của mình nó đòi hỏi là mình không được tự cao, không được cho mình giỏi và phải rất chân thật thì mới dám nhận lỗi mình, tự trong tâm mình nhận đó là lỗi của mình. Còn nếu mình không có cái cái khiêm hạ, mình không có cái chân thật, tự trong thâm tâm mình mình cứ bênh mình mãi. Hễ chuyện gì xảy ra cái mình ngồi suy tới nghĩ lui một lát cái mình thấy lỗi thiên hạ, chứ chuyện này không phải lỗi của mình,

[17:24]tự mình bênh lấy mình và đó là cái nguyên nhân của mọi sự đổ vỡ về sau. Ở đây cái người biết tu thì nói là người đệ tử Phật nói chung chứ thực sự cái này phải là quý thầy, phải là quý thầy là cái người phải giỏi vấn đề này, giỏi cái vấn đề thấy lỗi mình. Người cư sĩ là vì đa duyên ràng buộc, đủ thứ chuyện chi phối thì có khi họ không thấy lỗi của mình mình không trách, nhưng mà một người thầy tu dâng cả cuộc đời cho đạo mà lỗi mình không thấy được thì thì đáng trách. Nó có một cái điều nữa là lỗi sẽ nối tiếp lỗi. Cái khuynh hướng của lỗi là như vậy đó. Cái khuynh hướng của lỗi lầm là cái lỗi lầm này nó làm nối tiếp cái lỗi kia.

[18:07]Đơn giản, chúng ta đã từng nghe câu chuyện ngụ ngôn thế này: là có người nói bây giờ trong ba điều, ngươi phải chọn một. Một là ngươi phải giết người, hai là ngươi phải làm chuyện loạn luân, ba là ngươi phải uống rượu cho say. Ba cái chọn một. Thì ông kia ổng mới thấy thôi uống rượu cho say nó đỡ tội hơn, nhưng không ngờ khi uống rượu say rồi những điều xấu còn lại ổng làm hết. Đó là một câu chuyện ngụ ngôn nào hồi xưa mình nghe kể lại trong Phật pháp, quý thầy có nghe rồi chứ? Có nghe câu chuyện đó chưa? Câu chuyện đó có lẽ là không có thật, chỉ là một chuyện có tính cách ngụ ngôn thôi. Nhưng ở đây cho chúng ta một bài học là lỗi lầm nối tiếp lỗi lầm.

[18:43]Nếu chúng ta đã làm điều lỗi rồi thì chúng ta dễ từ đó làm tiếp cái lỗi khác, làm tiếp cái lỗi khác. Thí dụ một lần mình lỡ tham tiền người ta. Ví dụ bây giờ mình thấy có cái số tiền của ai rớt rồi mình không trả lại. Cái đó là thấy lỗi rồi. Rồi cái mình đi mình sắm đồ, sắm hết. Thì sau này bắt đầu cái chuyện vỡ lở ra, bắt đầu có người hô hoán lên họ rớt số tiền ở chỗ đó có ông thầy đó ổng đi ngang rồi, không tìm thấy nữa, chắc ổng lượm chứ không ai hết. Thì mình sao? Lỗi lầm nối tiếp là mình phải nói dối. Không, tôi không có thấy. Tôi không có gì hết. Vậy chớ tiền đâu mà mà mà mà thầy mua sắm đồ?

[19:20]Nói dạ có cái bà già bên Nga bả gặp xong bả cho tui. Rồi bà già nào ở đâu? Không biết. Tức là lỗi lầm nối tiếp lỗi lầm. Bắt đầu sau đó rồi bắt đầu mình phải sống một đời cái này cái kia cái thái độ nó khác. Nghĩa là chúng ta thấy hễ làm được một lỗi rồi nó nối tiếp lỗi này lỗi kia. Còn nếu mà ngay cái lỗi ban đầu mình chấp nhận mình chặn lại, mình xóa nó, mình sám hối thì lỗi sẽ không nối tiếp lỗi nữa. Ví dụ bây giờ mình nhặt tiền, lúc đó mình lỡ dở thì mình xài. Tới chừng người ta hô hoán lên mình hối hận mình công nhận: "À hôm đó tôi có nhận lỡ xài" thì ngay đó lỗi dừng lại liền. Nhưng mà để chặn được cái lỗi đó là cả một sự can đảm phi thường.

[20:00]Cả một sự can đảm phi thường, không có dễ. Tại không ai dám công khai nhận cái điều xấu mình trước mọi người. Mà muốn chặn cái lỗi lại là phải chịu cái tình trạng như vậy. Đây là điều khó. Nên cái tu trong tâm đầu tiên là phải thấy được lỗi mình. Nên đây là cái bản lĩnh, trí tuệ, sự chân thành và sự khiêm tốn. Những điều này mà có được rồi thì mình mới thấy lỗi mình, mà đó là khởi điểm của việc tu tập. Chúng ta muốn trồng những cái cây kiểng, cây hoa, những cây quý, chúng ta phải phát cái khu đất cho sạch trước rồi mới đặt lên đó những cây quý. Giống như vậy, cái mảnh đất tâm chúng ta vậy, bao nhiêu là cỏ dại, bao nhiêu là gai góc,

[20:37]mình phải phát, phải chặt cho sạch rồi mới đặt vào đó những cái cây của từ bi, của đạo đức, của vị tha, của bao dung, của nhẫn nhục, của bình đẳng, vân vân mới có thể được. Mà cái việc mà chặt đốn những cái cây cỏ dại, những cây gai góc trong cái trong mảnh đất tâm hồn của mình, nó đau đớn lắm, đau đớn chứ không phải là dễ. Là chính mình phải thấy đó là lỗi. Đó là nỗi đau, chứ thường mình quen bênh mình. Bây giờ phải tự tự mắng mình, tự cho mình đó là lỗi, cái đó khó làm được. Nhưng mà ai làm được điều đó thì là người biết tu và người dũng cảm. Những cái chuyện xảy ra lặt vặt cứ nhận lỗi hết về mình, đó là cái người dũng cảm để biết tu.

[21:21]Ngoài ra cái biết lỗi đó chúng ta còn có ba cái tâm hạnh căn bản. Ba cái tâm hạnh căn bản này thì chúng tôi nói đi nói lại rất nhiều lần trong những bài giảng khác. Thì nếu mà một người tu tập mà thiếu ba tâm hạnh căn bản này thì đời tu không đi tới đâu hết. Kiếp này kiếp sau không có gì lợi ích hết, nó khập khiễng, không tới đâu hết. Thứ nhất là lòng tôn kính Phật, thứ hai là lòng từ bi thương yêu chúng sinh, thứ ba là tâm khiêm hạ. Nếu mà người tu ba điều này không huân tập cho sâu, cho dày, cho vững chắc thì thế nào cũng có ngày gãy à, hoặc không đi tới đâu, công đức không tăng trưởng tới vô

[21:58]biên vô lượng được, không làm một người tu xứng đáng được. Nên ba cái tâm hạnh này phải thật là huân tập sâu dày, không thể tưởng được. Như mình nói rằng cái tâm lễ Phật là cái điều trong tâm. Khi mình tôn kính Phật, khi lễ Phật, niệm Phật cũng là cái tu về cái tâm, về ý. Nhưng mà mình khởi cái lòng tôn kính Phật đó như thế nào để gọi là một cái công phu thuần thục của một người đệ tử Phật, nhất là một người xuất gia thì đây không phải là điều dễ. Chứ mình nói kính Phật, kính Phật thì ai cũng có thể kính được, mà cái kính Phật của chúng ta nó có tính thụ động theo cái ảnh hưởng ở bên ngoài. Tôi nói cái chữ mà thụ động theo ảnh hưởng bên ngoài nghĩa là gì?

[22:40]Nghĩa là một ngày nào đó chúng ta nghe kể một chuyện gì của Đức Phật, chuyện gì cao siêu, một giáo lý cao siêu của Đức Phật, lòng chúng ta khâm phục. Nghĩa là lúc nghe câu chuyện người khác kể, người khác gợi ý, lôi cuốn thì chúng ta mới khởi lên được cái tôn kính, nên cái tôn kính đó gọi là rất thụ động. Rồi lâu ngày chầy tháng không ai kể gì thêm, từ từ nó mai một, quên, phai lạt đi. Đó là cái lòng tôn kính thụ động nên nó không vững, nguy hiểm vô cùng. Có nhiều khi vậy, ừ như quý thầy ở chùa, như mới vào xuất gia thì mình ham thích đọc kinh điển, sách vở. Nhờ đọc kinh điển sách vở nên mình thấy được những cái điều

[23:25]phi thường của Đức Phật rồi mình khởi tâm tôn kính Phật. Nên cái người xuất gia buổi đầu cái tâm mãnh, là do lòng tôn kính Phật mạnh chừng nào thì cái sự phát tâm tu hành nó mạnh chừng nấy. Nhưng mà qua nhiều năm quá mấy bài đó đọc hoài cũng chán à, rồi rồi cái ông thầy mình thì ổng cũng cho ngày nào cũng tụng kinh thì nghĩ rằng ngày nào mình cũng có đọc cái kinh được rồi, nhưng mà đọc riết cũng nhàm, nó lờn. Nên cái lòng tôn kính nó từ từ nó chìm dần theo năm tháng, mà lòng tôn kính Phật giảm rồi thì cái sự tu tập nó lại yếu từ từ, yếu từ từ thì đó là sự nguy hiểm. Nên đó là lý do tại sao mà nói rằng cái cái sơ tâm

[24:05]rất là mạnh, nhưng mà những năm về sau đó cái tâm tu hành của mình nó sẽ yếu đi là vì cái lý do cái lòng tôn kính Phật mình không được phát khởi. Mà vì sao không được phát khởi? Bởi vì không ai khởi giùm mình, không ai nhắc nhở, không ai dạy bảo, không ai nói về cái sự vĩ đại của Đức Phật cho mình nghe, và mình khởi một cách thụ động, bị lệ thuộc vào bên ngoài. Nên ở đây cái người tu không được phép mà để cho cái lòng tôn kính Phật khởi lên một cách thụ động, mà phải chủ động khởi được tâm tôn kính Phật. Nghĩa là ở buổi đầu ở buổi đầu chúng ta thấy được sự vĩ đại của Đức Phật rồi, nhờ xem kinh, nhờ nghe giảng, đọc sách thấy được Đức Phật là vĩ đại

[24:47]rồi, thì sau đó suốt cuộc đời còn lại chúng ta phải siêng lạy Phật, mà mỗi ngày mà lạy Phật là phải khởi tâm tôn kính thiết tha. Thì cái tâm tôn kính thiết tha mỗi khi mình lạy Phật là cái tâm chủ động do mình khởi, không cần phải người khác nhắc nhở, lôi kéo nữa, không phải thụ động nữa mà là chủ động. Thì nếu mà tự mình mỗi ngày mình lạy Phật, khởi cái tâm tôn kính thiết tha lên, nó sẽ huân tập từ từ, huân tập từ từ ngày này qua ngày kia. Nó thành một cái Phật gọi là căn cứ địa, là cỗ xe, là chỗ dựa, là nó thành cái vững chắc. Thì lúc đó sau này lâu năm ngày tháng dù mình không đọc kinh sách nữa thì

[25:28]lòng tôn kính Phật nó nó vẫn sâu đậm, vẫn đầy, vẫn tràn, vẫn mạnh. Và ngày nào lòng tôn kính Phật còn mạnh thì mình biết rằng cái sự tu hành của mình sẽ còn sẽ còn vững vàng, không có sợ lui, không sợ thối. Ha. Chúng ta thấy cái việc mà tu trong cái lòng tôn kính Phật không phải dễ. Nhưng ở đây, khi nào thì chúng ta thấy rằng cái tâm tôn kính Phật của mình nó nó vững nó đủ để chúng ta yên tâm? Thật ra nó có cái ngưỡng của nó, có cái ngưỡng. Ví dụ như ở đây nó mơ hồ mình không thấy đâu, đây là việc trong tâm, nhưng mà sự thật nó có một cái ngưỡng. Ai vượt qua cái ngưỡng của lòng tôn kính Phật đó rồi

[26:08]thì người đó suốt đời làm thầy tu xứng đáng luôn. Còn người nào mà lòng tôn kính Phật chưa vượt qua được cái ngưỡng đó, người đó coi chừng. Coi chừng hoàn tục, công đức có thể là mong manh, không chắc ăn, và đời sau cũng không lấy gì làm bảo đảm. Nên nó có một cái ngưỡng. Cái ngưỡng ở trong vô hình đó, ở ngoài nhìn không biết đâu, nhưng mà người tự tu mới biết được là mình lúc nào đó mình vượt qua được cái ngưỡng đó hay chưa thì lúc đó tự biết rằng từ đây không bao giờ thối tâm đối với đạo. Nhưng cái ngưỡng nó như thế nào? Cái chỗ này là cái chỗ mà khó nói. Tuy nhiên là chúng ta cũng có thể trao đổi với nhau để quý thầy nhìn lại tâm mình đã

[26:52]vượt qua được cái ngưỡng đó hay chưa đối với lòng tôn kính Phật. Chứ thường chúng ta theo nghi thức của chùa mình, mỗi ngày mình đều lạy Phật hết, nhưng mà lạy Phật theo nghi thức một cách rất hời hợt, mà nhiều khi lạy với cái tâm trạng là cầu phước. Lạy với tâm trạng sám hối thì còn tạm được, vì cái sám hối là nhận lỗi thì tương đối là còn có cái ý đạo trong đó, chứ còn lạy Phật mà với cái tâm cầu phước thì thì tệ ghê lắm. Như ngay cái luật nhân quả cũng vậy, luật nhân quả là một sự công bình tuyệt đối, vậy mà ai làm bất cứ điều phước gì với cái tâm cầu phước sẽ có ngày mang họa. Vì cái tâm cầu phước thật là nguy hiểm,

[27:33]khi khác thì chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này là cái tâm cầu phước nguy hiểm như thế nào. Thì quý thầy mình cũng vậy, khi mà mỗi ngày mình đều lạy Phật, nhưng mà thực sự cái tâm mình khởi nhiều khi không chính xác. Mình không khởi tâm tôn kính Phật theo từng cái lạy thiết tha đó, mà hoặc là chỉ khởi tâm sám hối hoặc khởi tâm cầu phước. Sám hối thì còn chấp nhận được, vì dựa vào cái công đức lễ Phật mà để thấy lỗi mình thì rất là tốt. Còn mà lạy Phật để cầu phước cái gì thì đúng là thấy họa. Sau này phước tới rồi họa cũng tới luôn, do cái tác tâm không chân chính. Còn lúc mà mình lạy Phật mà lòng mình

[28:13]tự khởi lên cái sự tôn kính, đó mới là cái phát tâm đúng. Nhưng mà cái khởi cái tâm tôn kính đó tích lũy hết ngày này qua ngày kia cho đến cái ngày nó vượt qua cái ngưỡng luôn. Vượt qua cái ngưỡng này như thế nào thì mỗi người phải tự nhận biết, nhưng mà nó chỉ có vài cái dấu hiệu để chúng ta nhận biết là đến lúc nào đó cái lòng tôn kính Phật tha thiết đến cái độ mà rồi mình cảm thấy rằng cuộc đời của mình vô lượng kiếp đều thuộc về Phật, không còn là của mình nữa. Và ngay bây giờ nếu cần làm điều gì vì Phật mà phải chết liền, mình chấp nhận chết liền, không sợ nữa. Dù rằng cái chết đó đau đớn, dù là phải bị thiêu,

[28:55]bị đốt, bị đâm, bị chém đau đớn, mà nếu cái việc đó có ý nghĩa vì Phật, chết liền không sợ nữa. Tới chừng nào cái ý nghĩ đó nó xuất hiện trong tâm mình một cách mạnh mẽ, đó là người đó có thể qua được cái ngưỡng đó, đến được cái ngưỡng đó. Dĩ nhiên là lòng tôn kính Phật mà cho đến vô biên vô lượng đến tuyệt đối thì phải huân tập hết kiếp này sang kiếp kia, không phải dễ, nhưng nó là cái công phu căn bản. Người mà được cái tâm tôn kính Phật đến tuyệt đối, không còn nghi ngờ nữa, dù chưa gì tu hành gì nhiều, có thể gọi người đó vào được sơ quả Tu-đà-hoàn, không còn bao giờ thối chuyển trên Phật pháp nữa.

[29:30]Cái đặc điểm của sơ quả Tu-đà-hoàn là chỗ này, là không biết người đó trở lại thế gian bao nhiêu lần, trên cái tạng A-hàm thì nói rằng thất lai, trở lại cuộc đời này bảy lần, nhưng mà trong Nikaya không có nói bảy lần, chỉ nói là qua nhiều lần luân hồi, cuối cùng sẽ được giải thoát, quả vị A-la-hán. Mà Nikaya nói đúng hơn, đúng hơn A-hàm. Sự thật là có nhiều người chứng Tu-đà-hoàn rồi trở lại đây rất là lâu, không phải bảy lần, rất nhiều lần, nhưng mà họ chứng Tu-đà-hoàn rồi. Thì ở đây là cái người Tu-đà-hoàn dứt khoát không bao giờ đọa vào ba đường ác, dù là súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ là dứt khoát không.

[30:12]Họ có thể trở lại cõi trời và cõi người thôi. Ở cõi người có khi họ là một người khốn khổ, có, nhưng một điều chắc chắn rằng một điều chắc chắn không đọa ác đạo và chắc chắn rằng sẽ có ngày họ chứng đạo hoàn toàn. Đó là cái đặc tính của Tu-đà-hoàn, mà đặc tính đó cái nhân của nó là gì? Một lúc nào đó họ đã khởi đủ tâm tôn kính Phật tới cái ngưỡng, đạt được sự tôn kính Phật đến tuyệt đối, không còn nghi ngờ, thiết tha mạnh mẽ mà có thể dám xả bỏ thân mạng mình vì Phật pháp. Thì nếu một ngày nào mà trong tâm quý thầy thấy mình có cái tư tưởng đó xuất hiện một cách mãnh liệt thì biết rằng mình đã tới cái ngưỡng của lòng tôn kính Phật,

[30:52]mà huân tập điều này cũng không phải là một ngày, hai ngày mà được. Đó là cái tu trên ý, tu trong tâm. Cái hình tướng là lạy Phật, nhưng mà cái tâm là tôn kính Phật. Đây gọi là tu trong ba nghiệp mà tu trong tâm tưởng. Thì chúng ta thấy thế này, khi mà cái lòng tôn kính Phật của mình trong lúc lạy Phật mà nó mạnh được như vậy rồi, chúng ta sẽ thấy trong đời sống của mình không có lúc nào rời Phật hết. Nghĩa là dù đi đứng nằm ngồi, những lúc bận rộn hoặc gì là không có rời Phật. Làm bất cứ việc gì thì mình đều có hướng về Phật, hướng về Phật như một sự sự gia hộ chứ không bao giờ nghĩ rằng cái đó là cái tài của mình.

[31:35]Làm việc gì như vậy cũng đều nương vào Phật lực che chở, gia hộ chứ không nghĩ rằng cái đó là cái tài của mình. Ở đây nó có một cái điều nữa là cái điều vi diệu chỗ này.

[31:50]Ví dụ như cái người một người đệ tử Phật, nhất là người xuất gia chuẩn bị làm một việc gì quan trọng trong Phật pháp, lòng thiết tha cầu nguyện chư Phật gia hộ, rồi việc đó làm được. Khi mà làm được rồi thì được mọi người khen ngợi, thì đó là nhân quả mà. Thì mình làm được việc thì người bên ngoài họ ngưỡng mộ, họ tán thán. Thì cái người này sẽ không nhận cái sự ngưỡng mộ, tán thán đó, sẽ không tự hào vì vì mình vì cái thành công của mình. Vì sao? Vì trước khi làm, họ họ đã cầu nguyện sự gia hộ của chư Phật. Thì khi làm xong rồi thì cái thành công đó họ cũng cúng dường lên chư Phật chứ không có giữ lại. Đây là cái khó.

[32:34]Còn nếu mà chúng ta nhờ phước đời trước, không biết như thế nào, mình thành công được một việc, nhiều việc, rồi bao nhiêu người quay lại ngưỡng mộ mình, mình sẽ không chịu nổi một điều là sự tự hào. Sự tự hào quật mình chết liền. Người mà trong tâm mình cái tự hào nó khởi lên thì mình không còn gì nữa hết. Nó như dông như bão ở trong, mình tiêu cuộc đời mình luôn. Đây là cái khó. Tự hào mà khởi lên rồi thì mọi điều phiền não từ từ xuất hiện hết. Nghĩa là những tâm sân, ích kỷ, tham ái, đủ thứ phiền não khởi lên theo cái tự hào đó hết. Đây là điều khó. Mà giữ cho được cái tâm không tự hào khi thành

[33:12]công là điều khó hơn bắc thang lên trời. Cái gì coi chứ, cuối cùng rồi cái gì cũng dễ vượt qua, mà có cái tự hào khi thành công lớn là điều khó vượt qua. Ví dụ bây giờ quý thầy vậy, mình là một người ở trong chúng, ví dụ mình còn trẻ nè, mình còn là người trong chúng bình thường, không có gì để nói, đơn giản. Không có gì để tự hào. Nhưng một ngày nào đó, quý thầy có thể đi làm giảng sư, rồi đi giảng, nhiều người họ hâm mộ. Đi tới đâu cũng nghe người ta khen ngợi, lúc đó chịu không nổi. Lúc đó tâm tự hào quật mình chết liền. Nếu mình không chuẩn bị được cái tâm mình từ ban đầu. Nghĩa là từ ban đầu cái việc làm của mình là mình đã nghĩ đây là cái tài của tôi,

[33:54]thì cái khi mà thành công người ta hâm mộ, mình chết liền vì cái tâm tự hào. Còn nếu ban đầu mình làm bất cứ việc gì, mình đều nương vào ánh sáng của Phật, thì khi mà thành công tới, mình dửng dưng như không à. Thoảng như mây như gió, vì sao? Vì việc đó việc của Phật. Phật gia hộ, mình chỉ là công cụ. Cho nên, trước cái sự ngưỡng mộ, khâm phục của bao nhiêu người, bình thản như mây gió, thì mới tránh bị đọa. Tôi nói trong đây vì tôi nghi ngờ trong đây sau này sẽ có một người rất là giỏi, có thể đi giảng rồi được. Tôi nói trước, ai sau này đi giảng nhớ. Trong đây có một người có thể sau này được việc.

[34:33]Nhưng mà chưa hiểu cái nguyên tắc của sự khiêm tốn này, cái lòng tôn kính Phật này thì rất là nguy hiểm. Một điều nữa, chúng ta thấy Phật thì vô hình vô tướng, không thấy Phật. Bởi vì con người tôn kính Phật cũng không thấy chuyện gì xảy ra, hoặc là cái người nhục mạ mạ lị Phật pháp cũng không thấy chuyện gì xảy ra. Nhưng mà coi vậy mà cái sự vi diệu là phủ trùm cho đến từng hạt bụi nhỏ. Tuy là vô hình vô tướng nhưng mà có cảm thì có ứng. Cái cảm nó mạnh chừng nào thì cái ứng nó vi diệu, lớn lao chừng nấy. Đây là cái cái cái chỗ mà người Phật tử, người đệ tử Phật phải thấy như vậy. Mà cái chỗ này nó không phải là cái niềm tin suông.

[35:21]Mà đây là cái trực cảm của trí tuệ. Chỉ có người có trí tuệ mới nhận ra được cái chỗ này. Là thấy Phật đúng là vô hình vô tướng à. Mình chỉ dựa vào cái hình tượng Phật để lễ lạy là nhờ đó nhắc mình nhớ Phật. Chứ sự thật là đúng là Phật mênh mông, không hình không tướng, không thấy đâu hết. Nhưng mà cái sức mạnh, cái sự vi diệu, cái sự gia hộ thì đúng là không cùng không tận. Nên người nào mà có lòng tôn kính Phật mạnh thì luôn luôn được cái sự gia hộ của chư Phật. Mà chúng ta không biết cái vị tổ nào ngày xưa đã đặt cái câu mà xướng quán tưởng: "Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghì".

[36:07]Năng lễ là là mình, sở lễ là Phật. Tức là cái người lạy Phật và Đức Phật, cả hai bên cái tánh là rỗng không, tánh không tịch, nhưng cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Cái cảm ứng giữa Phật và mình khi mình lạy Phật như vậy thì không thể nghĩ bàn được. Thì không biết hồi ngày xưa vị tổ nào cũng cảm nhận cái đạo lý sâu sắc này đã viết lên cái bài tán, mỗi khi chúng ta tụng kinh đều phải tụng chỗ đó hết. Nhưng mà chúng ta hiểu không không sâu thôi. Đúng là cái chỗ đó, thân mình là giả dối hư vô nè, Đức Phật thì không hình không tướng không thấy đâu nè. Nhưng mà có cảm thì có ứng. Đó. Thì cái chỗ mà lòng tôn kính Phật này, chúng ta cái khởi điểm của sự tu hành.

[36:49]Cái thứ hai đây là cái tu trong tâm. Kế đến là lòng thương yêu chúng sinh là phải huân tập cả một đời. Nó là cái tu trong tâm mà suốt đời phải tu. Dù một ngày nào đó à quý thầy từ khi mình làm điệu, đến ngày mình làm hòa thượng, đến cái ngày mà mình có con có cháu đầy đàn đầy đống, rồi tới cái ngày mình chuẩn bị xuống lỗ, mình ra đi thì lúc đó cũng không bao giờ được quên. Quên cái tu mà tu tập từ tâm thương yêu chúng sinh. Dù già và đi lom khom, ngày đó vẫn phải tiếp tục tập thương yêu chúng sinh. Vì cái từ bi là cái vô biên vô lượng, huân tập không có được mà gián đoạn hay làm một ít rồi cho là đủ.

[37:35]Và cái cái tu tập từ tâm á là cái là mình khởi lên lòng thương yêu chúng sinh thường xuyên trong đời sống, trong những lúc ngồi thiền, mà phải huân làm sao nó thành bản chất của mình trong của một người đệ tử Phật, nhất là người tu sĩ. Nó phải thành một bản chất tự nhiên của một người tu sĩ. Chứ nhiều người cứ nghe nói tới tu là giữ tâm cho thanh tịnh, nhất là nghe tu thiền à, nói khởi một niệm là động, khởi một niệm là đi vào sinh diệt, cứ lúc nào cũng lo giữ tâm cho thanh tịnh, đâu có ngờ rằng nếu có phước đời trước để mình thanh tịnh thì đó là một cái định khô khan. Cái định đó không phải của Phật pháp.

[38:12]Bên ngoài dòm coi thong dong tự tại, nhưng mà không phải Phật pháp. Tại vì cái định ở trong đạo Phật phải là định mà tràn đầy lòng thương yêu chúng sinh. Cho nên bây giờ chúng ta có khởi tâm, khởi tức là động. Chúng ta có khởi tâm quán từ bi thương yêu chúng sinh, cái động đó là cái động của Phật pháp. Chính cái động đó làm cho chúng ta được cái định sau này. Nên đạo Phật không phải là hư vô, không phải là cái tâm khô khan như cây đá đâu. Nhưng mà trong cái tâm đó tràn đầy lòng thương yêu chúng sinh cũng như lòng tôn kính Phật. Cái định này nó nhiều loại. Ở đây thì chúng ta không có thì giờ, cũng không phải là cái chuyên đề để

[38:52]mình nói về thiền định, nhưng mà chúng ta cũng cũng trao đổi vài điểm. Định coi vậy chứ có nhiều loại lắm. Như con người á mà họ tâm họ vào định á, mình đến gần họ, lòng mình an liền. Khi mình đến gần họ thấy tự nhiên có một cái cái an ổn, cái cảm mến. Mình nhìn vô mình cảm nhận được. Tức là định mà nó ảnh hưởng được cái người đến gần mình. Mà có những cái người họ có định, cái định nó sâu lắm, họ có thể chết lúc nào chết, nhập định được lâu ngày lâu giờ, nhưng mình đến gần mình không biết. Mình đến gần họ, mình thấy như bao nhiêu những người khác, thấy bình thường như những người khác. Hai ba cái loại định.

[39:35]Thì trong đây chúng ta thấy cái loại định nào chúng ta thích hơn? Cái loại định nào mình thấy là hay? Thầy Thiện Hòa, theo thầy nghĩ? - Dạ, con bạch thầy. Theo con thấy thì người tu phải huân tập cái sự định ở trạng thái thấy thương yêu chúng sinh.

[39:57]Thầy chưa trả lời đúng với câu hỏi tôi lắm, nhưng mà thầy thầy thầy chọn đúng cái. Có nghĩa thế này: Trong cái định á mà người khác họ đến gần mình họ bị ảnh hưởng liền. Họ có thể không hiểu gì về mình á, nhưng họ đến gần mình một cái tự nhiên tâm họ thấy thong dong an ra liền. Và có cái sợ, cái giữ ý, cái cẩn thận liền. Thì đó, cái định đó cần thiết. Thì nhiều khi mình không có chưa nói giáo hóa một lời nào á, chỉ lặng lẽ ngồi đó, người ta đến gần nhìn một cái, mình chỉ nhìn người ta một cái người ta dè dặt giữ tâm cẩn thận liền. Thì người tu đạo Phật phải có cái định như vậy. Còn một loại định mà người ta đến gần không thấy.

[40:37]Có thể là cái người đó họ chứng cái định rồi họ biết cái người đó hết trơn, họ biết cái người đến gần họ là ai như thế nào biết hết. Nhưng còn cái người kia thì không biết cái người chứng định, không biết, nhìn không thấy, thấy họ bình thường phàm phu như mọi người. Mà tại sao có hai cái loại định như thế? Là vì cái ban đầu một người có tu tập từ bi và một người không có tu tập từ bi. Cái người mà có tu tập từ bi rồi đó, khi họ vào định rồi họ ảnh hưởng đến người chung quanh liền. Cái ánh mắt họ nhìn người chung quanh cái người chung quanh bị ảnh hưởng liền, thấy như mình tự nhiên phải nhắc mình lại.

[41:09]Còn cái người mà không có tu tập từ bi, dù có định á, mình đến gần ta không biết không ảnh hưởng gì hết. Nên cái định mà thiếu từ bi coi vậy sẽ không có lợi cho chúng sinh. Và cái cái tu tập từ bi cũng vậy, là mình phải huân cho đến vô biên vô lượng chứ không phải là ít ỏi mà đủ đâu. Nhưng mà mình tập như thế nào? Dĩ nhiên là có ba cái, thường thường chúng ta phân biệt ba cách để tập tâm từ bi. Một là lúc ngồi thiền, là khi chúng ta ngồi thiền, chúng ta tưởng tượng chan rải lòng thương yêu đến khắp tất cả chúng sinh, đó là nguyên tắc. Mà nếu mình lắng tâm sâu chút nữa, mình từ từ đi vào các cõi,

[41:47]mình nghĩ đến đối tượng là loài người trên thế giới, nghĩ đến loài súc sinh trên thế giới, những cái vong linh vất vưởng, chúng sinh trong địa ngục, vân vân, nghĩa là mình đi sâu vào các cõi để mình rải tâm từ bi hết chứ không riêng là chỉ cõi người. Đó là lúc mình tu tập, lúc mình lạy Phật hay lúc mình ngồi thiền quán như vậy. Rồi cái thứ hai, là mỗi khi mình đối tiếp, ứng xử với ai thì đều khởi tâm từ bi đến với họ. Khi bình thường thì thôi mình không nói, mình đang loay hoay làm cái gì đó không biết, nhưng mà chợt có người đến họ chào thầy, ngẩng đầu lên nhìn là tâm từ bi phải khởi lên với người đó liền một cái, phải khởi tâm thương người đó liền một cái.

[42:24]Đó là cái nghĩa là khởi tâm từ bi khi đối tiếp, khi ứng xử. Đó. Và cái thứ ba, cái thứ ba là ví dụ như nhìn mọi người bàng quan, họ không có chú ý gì tới mình hết, hoặc giống như đi trên đường ngược xuôi qua lại, hay là mình đến một cái đám đông nào đó thì chẳng ai biết mình là ai hết, nhưng mà lúc đó đôi mắt mình nhìn được bao nhiêu người trước mắt thì phải tự nhắc nhủ khởi tâm mình thương yêu những người như vậy. Đó là ba cái cách, ba cái lúc để mà khởi tâm từ bi, tu tập cái tâm đó. Mà hễ từ thì phải có bi. Từ là thương yêu mà bi là thương xót. Thương xót là thương xót đời người ta trong cái cảnh khổ đó.

[43:03]Nếu mình không có lòng từ thì không có lòng bi, hễ mình không có thương yêu con người thì mình sẽ không xót xa khi thấy con người đau khổ, đó là nguyên tắc. Và ở đây muốn biết mình đã có lòng từ chưa thì cứ xem mình đã có lòng bi chưa. Chớ cái lòng từ hình như nó không có hình tướng, không có thấy. Lòng từ không có hình tướng, không thấy, nhưng lòng bi thì nó động lên nó thấy liền. Ví dụ trong đời sống mà một lúc nào đó mình nhìn thấy một chúng sinh đau khổ, ví dụ một người nào đó họ trong cảnh tật nguyền, đau khổ gì đó, cái lòng xót xa mình khởi lên mạnh mẽ là lúc đó lòng từ mình nhiều rồi đó.

[43:40]Mà cái mạnh mẽ tới mức mình chịu không nổi là lòng từ mình nhiều. Đừng có sợ động. Có nhiều người nói tu mà sợ động, giữ tâm như cây đá, người đó điếc Phật pháp rồi, Phật pháp không phải như vậy. Phật pháp chính là những cái động cao cả, mà lòng xót xa khi thấy chúng sinh đau khổ là một cái động cao cả. Thì chính cái bi, tức là lòng xót xa đối với chúng sinh đó, là cái sức mạnh cũng như là công đức trong tâm để chúng ta tu suốt đời này qua những đời khác. Còn người mà không có lòng bi, là không động tâm trước nỗi khổ của người khác, là người đó cái việc tu đang thất bại, thất bại. Nên có khi mà chúng ta trong đời sống mình cứ kiểm điểm lại

[44:21]cuộc đời tu hành của mình, những điều đó rồi mình sẽ thấy.

[44:31]Cái mà cái điều mà hay quên, cũng ở đây là cái kinh nghiệm của tôi, những lúc mà mới tu tập từ bi tôi cũng bị cái này. Ví dụ khi ngồi thiền thì mình quán từ bi được, tại vì nó là thời khóa đều đặn, tới ngày đó bắt chân lên ngồi thì nhớ liền, nhưng mà nhiều khi đi trên đường rồi nhìn chúng sinh cái mình quên, quên khởi từ bi. Đó cũng là một cái cái nhược điểm. Ở đây tôi lấy cái dở của tôi, tôi cũng nhắc nhở quý thầy, quý Phật tử này, là thường trong đời sống bận rộn, lo toan, mà hễ mắt mà chạm thấy chúng sinh là khởi lòng thương yêu liền, phải nhớ điều đó. Mà nếu nó thường xuyên chừng nào thì có nghĩa là cái công

[45:10]hạnh của mình nó đã được tích lũy nhiều chừng nấy. Cái thứ ba là cái tâm khiêm hạ cũng vậy, là ba cái tâm căn bản đó là phải huân tập cả đời cũng vậy. Tâm khiêm hạ thì thôi, nó vi diệu và rất là hay. Thì những cái đề tài này tôi đã nói đi nói lại rất nhiều lần trong những cái bài giảng khác nên hôm nay không có nói nhiều, nhưng mà chỉ nhắc lại rằng đó là một điều hết sức quan trọng. Bây giờ chúng ta nói qua về tu tập thiền định một chút vì nó là cái công phu quan trọng của người xuất gia. Thiền định á là tu tập cả ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Về cái thân á thì chúng ta thấy ở trong khi mình ngồi thiền á

[45:51]mình làm chủ, giữ thân bất động, đó là tu tập trên cái thân. Và trong đời sống thì mình kiểm soát được cái cử động của thân thể. Cái người mà tu thiền mà đúng á, mình nhìn thấy họ cái tư thế họ đẹp, như họ ngồi, họ đi, đứng, đi tới lui mình nhìn thấy thong dong thanh thoát vì họ luôn luôn ý thức biết rõ được toàn thân. Khi mà công phu họ thuần rồi họ không cần cố ý biết toàn thân đâu, nhưng mà cái biết của nó, tự động nó khắp thân, làm cái gì họ cũng biết toàn thân của họ hết. Rồi bây giờ có một lúc nào đó vắng người, không có ai hết, mình lén mình rình qua cái cửa, ví dụ mình biết trong phòng đó có cái ông thầy tu

[46:30]đó ổng tu tốt, coi nghe nói ổng cũng tinh tấn, mình coi tinh tấn hay không mình biết, thấy ổng ở trong phòng một mình mình mình mình rình mình cạy cửa mình dòm vô mình thử biết, ở trong phòng một mình ổng vẫn giữ cái tư thế đẹp như thường. Đó là cái cái làm chủ được thân thể của mình, đó là cái tu trên thân. Và tu trên miệng của cái người tu thiền là gì?

[46:57]Là sự trầm lặng, ít nói. Tại lúc ngồi thiền mình có nói gì được không? Đâu ai cho nói, phải không? Cứ ngồi cái im lặng không nói gì hết. Và khi mà mình im lặng không nói trong thiền định thì trong đời sống nó cũng như vậy. Nghĩa là trong đời sống mình chỉ nói những điều đáng nói, còn những điều không đáng nói thì thì không nói, chứ không phải lúc nào miệng cũng lớp ba lớp bốt. Nên cái người mà tỉ như tu thiền mà mình thấy trong đời sống vẫn còn nói nhiều thì cũng phải nghi ngờ. Chứ thường thường trong đời sống họ im lặng, ít nói. Như tôi cứ nói suốt ngày như vậy là biết cái người tu không có tiến,

[47:36]không có tới đâu, ngồi lớp ba lớp bốt nói hoài sáng giờ. Và tu về tâm. Tâm là mình vào sâu trong định dần dần để cuối cùng đến được cái đích vô ngã như nãy nói. Đó, đó là người tu thiền làm một cái luôn cả ba nghiệp đầy đủ. Chúng ta nhớ lại. Nhưng mà dĩ nhiên thiền thì quan trọng là cái tâm hơn, mình nói thân hay là nói khẩu thì cũng chỉ là cái cái cái hình thức thôi, chứ cái quan trọng của thiền vẫn là tu trong tâm. Và cái đích của thiền tức là đạt đến cái vô ngã tuyệt đối. Chúng ta phải xác định lại chỗ này, xác định lại cái mục đích thật sự của thiền định là đạt đến vô ngã. Chứ còn nhiều nơi đưa ra những mục đích này mục

[48:21]đích kia thì phải cẩn thận, phải cẩn thận. Chúng ta nhớ điều này nữa, là các phương pháp chỉ là phương tiện.

[48:31]Chúng ta sẽ thấy cái này, có cái điều vô lý mà làm đạo Phật chia rẽ lãng nhách, là cùng hướng đến mục tiêu giác ngộ giải thoát, nhưng mà ví dụ ông thầy này ổng dạy pháp môn này, ông thầy kia ổng dạy pháp môn kia, hai bên chống nhau, bên nào cũng nói mình đúng. Thật ra là chỉ có một cái đích chung thôi, nên vì chấp pháp môn mà rồi làm cho Phật pháp chia rẽ là một điều hết sức là đáng tiếc. Cái nhìn của mình quá cạn, phải biết cái khởi điểm là công đức và cái đích cuối cùng là vô ngã. Chỉ như vậy mà đi, còn phương pháp nào cũng chỉ có tính cách tạm thời và hỗ trợ. Mỗi phương pháp nó có lợi mặt này và không có lợi mặt khác,

[49:12]không có pháp môn nào đúng hoàn toàn hết trơn, không có pháp môn nào đầy đủ mọi ưu điểm, cho nên không bao giờ được chấp pháp môn. Mà nếu một người tu tập đúng á, mình có quyền xoay xở, uyển chuyển qua lại các pháp môn. Mà trong một cái bài về thiền quán chúng tôi có hướng dẫn cho quý thầy ở dưới trường cơ bản Long An, thì đúng là quý thầy áp dụng cái cái dụng công linh động rất là hiệu quả. Như đang tu cái phương pháp này bỗng nhiên bị trở ngại, xoay xở qua phương pháp khác cái tâm nó thông, tu tiếp được liền. Miễn ngoan làm sao cho tâm mình được yên chứ không phải là là chấp cái pháp môn. Pháp môn không phải là cái đích để chấp,

[49:51]mà mục đích là cái tâm thanh tịnh đi tới vô ngã. Cho nên ví dụ như mình gặp người dạy niệm Phật cũng tốt, người cứu hơi thở cũng tốt, nhưng mà giữ một cái là trật. Ông thầy nào mà chỉ dạy một pháp môn là biết ông thầy đó không giỏi, mà người đó làm chia rẽ Phật pháp. Trong thời gian sắp tới, những vị Tăng sĩ, những Tăng Ni mà tu hành phải biết thực hành tất cả mọi pháp môn và phải biết xoay xở, uyển chuyển, linh động mọi pháp môn. Nên sau này khi mình dạy đạo cho người khác, ai thực hành pháp môn gì mình cũng dạy được hết, mình cũng đều có kinh nghiệm hết vì mình đã thực hành hết rồi. Và mình thấy là các pháp môn nó hỗ trợ qua lại cho nhau đầy đủ.

[50:33]Lúc đó mình mới thấy là đây là một một lẽ phải, một chân lý. Nó vừa làm cho đạo Phật đoàn kết lại không chia rẽ nữa, mà nó làm cho việc dụng công tu tập của một người được hiệu quả hơn. Chứ còn cứ chấp một pháp môn, nói bên kia là tôi tu theo cái gì là thân giác, bên kia tôi tu theo Tứ Niệm Xứ, bên nọ tôi tu theo quán bất tịnh, bên kia tôi tu hơi thở, vân vân, rồi cứ tranh cãi cái này hơn cái kia kém, thật là một điều thiệt thòi cho Phật pháp. Mình không dám nói nặng nữa, nói nặng nữa sợ mang tội, mình chỉ nói là thiệt thòi cho Phật pháp thôi, thiệt thòi cho người học. Nên từ đây về sau là Tăng Ni phải giỏi mọi pháp môn hết.

[51:13]Rồi chúng ta thấy mọi pháp môn nó hỗ trợ cho tâm mình hết, đó là vậy đó. Bây giờ chúng ta nói đến cái việc mà tu tập ngôn ngữ.

[51:22]Ngôn ngữ là phương tiện để con người thiết lập cái liên lạc với nhau. Ở cái cõi người chúng ta đó, chúng ta chưa thể mà mình nhìn nhau cái mình biết được ý nghĩ của nhau liền như ở cõi trời. Ở cõi trời thì họ nhìn nhau họ biết ý nghĩ nhau liền nên khỏi cần phải nói nhiều. Mà nhiều khi không cần nhìn nữa, ví dụ cái vị thiên tử này ở cách xa cái vị thiên tử kia là bao nhiêu sỏi xa, nhưng mà họ hướng tâm về nhau họ hiểu nhau liền. Đó là cái sự mà thông đạt, cái sự truyền đạt cái tư tưởng của họ nó đơn giản và hiệu quả. Nhưng ở cõi người mình thì phải thông qua ngôn ngữ. Ngôn ngữ là lời nói hoặc là chữ viết, chữ viết cũng là lời nói thôi.

[52:01]Dĩ nhiên cái định nghĩa về ngôn ngữ thì không phải là bài giảng ngày hôm nay. Trong một bài giảng ở một nơi khác, lần khác thì chúng tôi sẽ giảng về ngôn ngữ là gì. Nhưng mà ở đây thì chúng ta nói cái ngôn ngữ để tu thôi.

[52:16]Thì ngôn ngữ là phương tiện để con người thiết lập cái liên lạc với nhau. Mình cùng quy ước ví dụ cái này, mình nhìn cái này cái mình gọi là, ở đây mình công nhận với nhau dùng chữ tên là hoa. Người kia cũng gọi à đồng ý đó là chữ, hễ mình nói tới hoa là biết Ở cõi trời á thì dùng tâm với tâm, còn ở người câm thì dùng cái gì? Người câm thì dùng phương tiện gì để để liên lạc với nhau? Điệu bộ phải không? Cái ngôn ngữ của người câm gì đó hay sao? Điệu bộ. Đó, đó cũng là một loại ngôn ngữ. Thì đối với tu sĩ của đạo Phật, ngôn ngữ để dùng làm cái gì? Ngôn ngữ để dùng làm cái gì? Giáo hóa. Đúng rồi, đúng rồi, để giáo hóa.

[53:07]Nhiệm vụ chính của người tu sĩ dùng ngôn ngữ là để giáo hóa. Thì cái trên căn bản ngôn ngữ cũng là để giao tiếp, nhưng mà mục đích chính là để giáo hóa. Mục đích chính là để giáo hóa, chỗ này chúng ta phải suy nghĩ, phải cân nhắc nha. Nghĩa là làm sao? Nghĩa là trong đời sống bình thường, dù là trong đời sống bình thường, dù là không phải trên bục giảng, thì mỗi lời mình nói ra phải làm tăng trưởng được cái đạo đức của người khác, tăng trưởng được đạo lý nơi người khác. Đó, phải làm sao mà sử dụng được ngôn ngữ nhuần nhuyễn như vậy đó. Nghĩa là ngoài những lúc mà cái công chuyện bình thường ở chùa

[53:46]thì không nói, nhưng mà bất cứ có một kẽ hở nào, một cơ hội nào, thì luôn luôn lời nói mình nói ra là đạo lý, là đạo lý. Nhìn cái gì cũng thấy đạo lý và nói thành đạo lý được hết. Cái người tu mà tới trí tuệ là như vậy đó. Ở đây, tới cái mức độ đó là chúng ta mới thấy cái câu nói ở trong kinh là tất cả pháp đều là Phật pháp là vậy đó. Cái người mà tu có trí tuệ, nhìn đâu cũng thấy Phật pháp để nói được hết trơn. Ví dụ bây giờ thấy người ta vác cây ra trồng kia, cũng có thể thấy được có cái đạo lý trong cái việc làm đó. Thấy một người đi lại múc nước, cũng thấy có cái đạo lý để nói được trong cái việc làm đó.

[54:25]Nghĩa là mọi người chung quanh nhúc nhích một cái là mình nhìn thấy có đạo lý trong đó liền, để nói chuyện, để trao đổi, để góp ý với nhau liền. Đó là cái trí tuệ. Vì sao? Chính bản thân mình mình tu quá kỹ, tu từ từng cái tâm niệm nhỏ, mình tu trong từng cái hành vi nhỏ, nên nơi mình Phật pháp nó tràn đầy hết. Thì bây giờ mình nhìn ra thế gian, người ta xuôi ngược, buôn bán, làm ăn đủ thứ chuyện trên đời, nhưng mình nhìn vô mình mình thấy cái nào đúng, cái nào sai, có thể dùng đạo lý để giảng giải mọi vấn đề được hết. Cho nên cái người tu mà tu tốt rồi đó, mở miệng nói ra thấy cái gì cũng đụng về cái phần đạo lý.

[54:59]Đó. Chúng ta thấy cái mà việc gọi là dùng lời nói để giáo hóa nó quan trọng trong cái nhiệm vụ của người tu sĩ là sao? Là đây là cái thiên chức của người tu sĩ á. Ở xã hội là đủ thứ ngành nghề, đủ thứ kiến thức, nhưng mà tất cả đều phải dựa lên trên đạo đức. Mà thật ra cái cái đường lối để dạy đạo đức thì xã hội không có nhiều, mà chính cái người của tôn giáo phải đảm nhận cái việc đó, là dạy đạo đức cho xã hội. Người tu phải như vậy và chính người tu là những người chuyên đi dạy về đạo đức, người ta mới gọi mình là thầy. Chớ nếu người tu mà không dạy được đạo đức cho người khác thì mình không xứng đáng được gọi là thầy.

[55:46]Nên người tu phải biết và phải giỏi về dạy đạo đức cho mọi người. Xã hội chỉ tốt khi người ta tự giác, tự giác làm điều tốt. Mà muốn cho người ta tự giác làm điều tốt thì phải nhờ giáo dục, chớ nếu không có giáo dục thì không ai tự giác hết. Pháp luật chỉ là sự ràng buộc gì đó thôi. Đợi người ta làm trật, làm sai rồi mới sửa, mới phạt, vô ích. Ví dụ như vừa rồi là có một cái chuyện bên Mỹ, ở cái tỉnh thành phố Alabama ở bang Georgia, có một người đàn ông, không biết ổng thất bại trong cái việc mua bán chứng khoán gì đó, ở nhà ổng đập chết vợ và hai con ổng, sau đó ổng cầm súng ổng đến cái văn phòng

[56:24]cái office building, tức là cái văn phòng chính phủ, ổng bắn chết chín người trong đó. Thì bây giờ sau đó mình đem luật pháp ra xử ổng, được, ổng tự tử luôn, mất tiêu rồi. Bây giờ cái mất mát, cái chết của 12 người đó lấy gì đền bù? Luật pháp không đền bù được. Nhưng mà nếu trước đó ai dạy dỗ ổng đạo đức, ai dạy ổng nhân quả, ai dạy ổng tu thiền để kiểm soát tâm ổng thì ổng không có làm chuyện đó, không có cầm súng giết người đến thế. Nên chúng ta thấy cái giáo dục nó hay như vậy, nó chặn được cái lỗi lầm ngay từ ban đầu. Còn cái pháp luật đợi xảy ra rồi mới xử lý, không xử lý được. Bây giờ ví dụ ổng còn sống,

[56:58]bị bắt, có tử hình, chết một mạng ổng không đổi được 12 người. Đó là cái cái thiếu sót của pháp luật. Pháp luật không đủ giải quyết vấn đề mà giáo dục mới quan trọng. Mà việc làm giáo dục đó là việc làm của tu sĩ. Nên nếu người tu sĩ suốt một đời tu của mình mà coi lại mình chưa dạy được ai nhiều về đạo đức thì coi chừng nha, coi chừng bảo đảm chết đi làm cái gì không bảo đảm, không bảo đảm. Nên người tu vậy, tới khi giờ khi mà mình chết, phải phải tính sổ lại là trong một đời mình đã dạy được bao nhiêu người có đạo đức. Đó, đó là cái cái sự nghiệp của người tu. Chúng ta thấy được cái này rồi.

[57:37]Dĩ nhiên là muốn có lời nói tốt thì tâm phải làm sao? Tâm phải tốt, phải không? Chớ tâm mà không tốt thì lời nói không có tốt. Mà ngược lại, lời nói tốt cũng làm tâm tốt. Đó. Tất cả đều hỗ tương chớ không có một chiều. Ví dụ cái người nghĩ điều thiện thì thường nói ra điều thiện. Mà ngược lại, cái người mà cố gắng nói điều thiện cũng giống như là tự nhắc mình phải làm điều thiện. Nên ráng giữ lời nói cho đàng hoàng một chút rồi từ từ tâm mình cũng đàng hoàng. Còn mình cứ ăn nói bừa bãi, riết tâm mình cũng bừa bãi theo à. Người chưa xấu mà bắt chước người ta ăn nói bừa bãi riết rồi tâm mình bừa bãi, xấu theo.

[58:15]Ở đây là mình để ý những đứa trẻ thì thấy. Nhiều khi nó ban đầu đàng hoàng, nó theo cái đám bạn nói năng bậy bạ thì tâm nó, nó nói tâm nó không có xấu, nó nói bậy miệng nó vậy, tâm nó không xấu, đúng thiệt, tâm nó không xấu, nhưng miệng nó bậy riết tâm bậy theo. Đó, đây hỗ tương qua lại giữa cái tâm và cái miệng. Cho nên người tu mình phải tập nói những điều đúng đắn, đàng hoàng, chân thật, hợp đạo lý và có uy tín á, giữ lời hứa là vậy. Một điều chúng ta phải tránh á, người tu phải tránh là đừng có nói những điều bỡn cợt, vô nghĩa. Thì thiệt có lẽ là ở đây vì lúc này mình thời gian sau này thì mình thấy bớt cái chuyện đó,

[58:55]chớ có một cái thời gian vậy, có người tu, có nhiều quý thầy nhiều khi tập họp lại cái bữa cúng trai đàn, ngồi nói chuyện có những điều bỡn cợt, vô nghĩa mà nhiều khi có những cái nghĩa không có tốt trong đó nữa. Xưa xưa, bây giờ thì quý thầy bây giờ thì dường như cũng có có tiến bộ hơn nhiều thoái, thấy cái chuyện nó bớt rồi. Nhưng mà ở đây vì theo oai nghi, theo luật thì mình cũng phải nhắc là không được hí luận. Cái chữ hí luận có nghĩa là nói bỡn cợt, vô nghĩa. Nên nói mà nói đùa vô nghĩa là không có được nói. Có thể là mình khôi hài được, có thể nói vui được, nhưng cái vui đó nó phải đàng hoàng, chớ cái vui đó không được làm mình mất tư cách.

[59:37]Mình khôi hài cho vui được nhưng đừng để làm mình mất tư cách. Còn cái lời nói khôi hài mà trong diễn giảng thì đó là một đề tài khác. Sau này thì thì tôi mới nói về những đề tài khác, nó phải khác. Ở đây thế này, để muốn biết rằng cái lời nói mình đúng hay không á, thường thường khi mình nói ra mình không biết mình nói trật nói bậy gì đâu, nhưng mà người ngoài họ nhìn vô họ đánh giá thiệt. Mà nhất là những người khắt khe chừng nào thì đánh giá hay chừng đó. Ví dụ như bản thân tôi cũng bị đánh giá dữ lắm. Nhiều khi tôi giảng tôi cũng cũng pha trò. Có đôi khi cũng pha trò cho mọi người vui. Cũng tùy cái đối tượng.

[1:00:14]Có những đối tượng chúng tôi giảng thì chúng tôi chúng tôi nghiêm nghiêm túc. Nhưng mà có những đối tượng giảng chúng tôi hay pha trò cho nó vui trong cái buổi giảng. Rồi cái băng giảng mà dành cho đối tượng mà để vui đó bắt đầu lọt qua nhầm cái đối tượng khác, lọt qua mấy cái cụ già khó tánh. Nghe cái băng đó: "Thầy ở đâu mà giảng mà cứ giỡn hoài." Đó, nhiều khi tôi cũng bị phê bình chớ không phải không. Nhưng mà vì thật ra mình tùy đối tượng, mà nói cho một người thì sau này thành ra băng đi lan rồi cái đối tượng nó không còn đúng nữa. Như ví dụ như là nói chuyện với quý thầy thế rồi sau này nhiều khi cư

[1:00:49]sĩ họ cũng lấy băng họ nghe, không biết có lợi hay không có lợi. Rồi có khi nói cái bài đó mình giảng cho cư sĩ rồi có khi quý thầy, quý cô cũng lấy bài đó để tham khảo, cho nên nó không có nhất thiết đối tượng mà nhiều khi tôi hay pha trò cũng bị phê bình. Thì ở đây thế này, là bây giờ mình chưa nói đến chuyện mình lên bục giảng, mình chỉ nói trong đời sống thì mình thỉnh thoảng mình đứng ra ngoài khỏi con người mình để mình đánh giá lại cái lời nói của mình một chút. Ví dụ như mình nãy giờ mình nói huyên thuyên một hơi, cái mình nghĩ coi bây giờ nếu người ngoài họ nghe như vậy họ đánh giá đúng hay không?

[1:01:23]Cứ làm vài lần rồi từ từ cái nó bắt đầu mình hiểu được mình. Chính ngày xưa tôi cũng tu như vậy á. Ngày xưa khi mà tôi tôi vào chùa tôi tu vậy, nhiều khi có chuyện gì đó nói xong rồi, bị bị cũng bị phê bình vài lần rồi tôi mới giật mình. Giật mình sau đó mỗi khi nói cái điều gì cái tôi lại đứng ra khỏi con người mình, tôi đánh giá lại, tôi nghĩ mình là người khách quan nhìn lại cái điều mình vừa nói nãy có đúng hay không. Thì mới đầu thấy nó sai lung tung hết. Nhưng nhờ vậy sửa từ từ, sửa từ từ. Bây giờ thì hết sai rồi mà nó trật.

[1:01:53]Và một điều nữa chúng ta phải tu tập trong cái ngôn ngữ nữa là như quý thầy đó phải tập viết lách.

[1:02:02]Là khi rảnh rỗi, đừng có đừng có lười, quý thầy trẻ, chịu khó mình lấy bài vở ra tập viết, người ta cho đề tài thì càng tốt, còn nếu không mình phải lấy bài ra mình tự làm. Trong đời sống mình thấy, mình viết ha. Nhớ đạo lý là từ trong đời sống mà ra, chứ đừng có mở vở, mở sách ra. Vở sách mình chỉ tham khảo bước đầu, sau đó mình quan sát, tu tập trong đời sống rồi viết lại. Nhớ chân lý là vậy, đạo lý là như vậy. Như vừa rồi cách đây khoảng hai, à mới hôm qua, có một cô cư sĩ cổ ở bên nước ngoài về, cổ đến thăm tôi, cổ hỏi tôi thế này, cổ nói: "Thưa thầy, các bạn của con nghe băng giảng của thầy, thì đều đều hỏi nhau thế này:

[1:02:47]là thầy thầy còn trẻ..." Tôi nói: "Không, xin lỗi, tôi già rồi, bốn mấy rồi." "...mà trong bài giảng thầy quá nhiều dữ kiện, quá nhiều vấn đề, vì thầy nghiên cứu kinh điển nhiều lắm hay sao mà như vậy?" Thì tôi nói: "Không có đâu, tôi là người ít có may mắn được học lắm. Ít có may mắn được học, tôi chỉ được ở trong chúng học vài năm rồi bị đuổi mất tiêu rồi, cho nên không có học. Mà bài học của tôi là ở trong đời sống, trong đời sống. Chứ bây giờ nói cái vốn liếng chữ Nho để đi vào kinh điển thì tôi quên dần, quên dần hết. Nhưng mà cái điều tôi học nhiều là trong đời sống. Ví dụ mình học được đạo lý căn bản rồi mình ráng tu.

[1:03:24]Khi mình trong đời sống, tự nhiên mình nhìn ra tùm lum vấn đề hết, nhìn đủ thứ chuyện hết. Ví dụ thấy một cái người đó lầm lỗi cái mình rút ra được một đạo lý giữ lại trong người liền, hoặc mình vừa lỡ vấp ngã một cái gì, cái mình rút ra được đạo lý để mình có thể giúp cho người khác đừng bị như vậy nữa. Cứ vậy, cứ vậy trong đời sống đó, quan sát trong đời sống mà học, rồi cứ tu trong đời sống của chính mình, lấy nó mà học. Chứ không có phải là chỉ ghi trong sách vở. Và đây, tôi muốn nhắc quý thầy viết lách là vậy đó. Quý thầy nào có khả năng ráng, dù chưa có khả năng cũng ráng tập, vì một ngày nào đó mình vẫn phải giảng dạy cho

[1:04:01]chúng sinh, chứ không thể là làm thinh được. Mà muốn giảng dạy phải tập viết lách trước. Mà tập viết lách là toàn những đề tài mà mình quan sát trong cuộc sống. Ví dụ bây giờ trong huynh đệ công quả với nhau, cái mình thấy sao hay có cái đụng chạm, tại sao hay gây gổ, rồi có những điều hay gay gắt gỏng với nhau, đó là cái gì? Mình tư duy, rồi mình đã vượt qua điều đó như thế nào. Qua hai, ba tuần sau cái mình có một vài cái suy tư về nó, rồi thực hành cũng có một vài chút kết quả, cái tối tối chong đèn ngồi viết lại. Viết lại là đời sống hòa hợp của tu sĩ, có thể ban đầu viết được một trang, hết ý, viết nữa nặn không ra.

[1:04:39]Nhưng rồi mình ráng tu tập nữa. Mai mốt cái một hôm nào đó cái mình thấy, ví dụ một người cư sĩ họ đến chùa để họ cúng dường, tự nhiên mình nhìn mình cảm nhận được cái thái độ của họ, rồi bỗng nhiên mình suy nghĩ khi người ta đến cúng dường, người ta làm phước thì cái tâm nên như thế nào là đúng. Tự nhiên mình có cái suy nghĩ, hay tối ngồi chong đèn viết về đề tài đó, lần này viết được hai trang. Cứ như vậy. Cho nên thực sự chúng ta thấy là những cái đề tài đạo lý chúng ta viết nó là mới, luôn luôn mới. Từ cái sự suy nghĩ độc lập của mình dựa vào cái giáo lý căn bản của Đức Phật, rồi áp dụng đối diện trong đời sống

[1:05:13]và cộng với lý luận của mình để mình thành một bài viết. Lớn lên mười năm sau, mình nhìn lại những bài viết ban đầu thì dĩ nhiên là thấy mắc cười. Nhưng mà vẫn cứ tập. Nhưng mà nhờ viết lách thì sau này mình mới giảng hay được. Đây là như vậy đó. Muốn giảng hay phải tập viết, vì lúc mình viết á, mình đặt câu, chấm phẩy kỹ lưỡng, chủ từ, đối từ, túc từ ở đâu, đặt câu trước, câu sau, mệnh đề chính, mệnh đề phụ mình phân tích kỹ, rồi khi ngồi lên giảng, trong cái văn nói nó vẫn đỡ lầm lỗi, câu văn nó vẫn vẫn suôn sẻ, vẫn lưu loát được. Đó là cái tu tập trên ngôn ngữ đó. Để sau này mà mình thuyết pháp độ sinh được.

[1:05:50]Cái tu tập trên lời nói nữa là tụng lại lời Phật dạy, tức là tụng kinh đó, nhưng mà đừng có tụng dài quá. Tụng với lòng thành kính để nhắc lại lời Phật dạy, nhưng dĩ nhiên trong thời đại này thì chúng ta không cần tụng dài nữa. Ngày xưa thì cần tụng dài vì để ghi nhớ kinh điển, lúc đó không có sách, không có vở, chỉ bằng ký ức thôi, nên nếu ai mà không tụng kinh để giữ lại lời Phật dạy là mang tội nặng á. Còn bây giờ thì kinh sách in quá chừng rồi, chỉ một người quên thì không sao, cứ việc lật kinh ra đọc. Ở đây chúng ta tụng lại lời Phật dạy chỉ có tính tượng trưng thôi. Tượng trưng là cảm nhớ ơn Đức Phật.

[1:06:25]Những lời vàng, lời ngọc của Phật ngày xưa nói, bây giờ mình nhắc lại để mình tôn kính Phật, đừng tụng dài quá mất thì giờ. Một điều nữa chúng ta tu tập trên cái ngôn ngữ, lời nói nữa là đừng có chê bai, chỉ trích, dễ gây oán thù lắm. Thế giới này mà rối tung lên là do cái người này chê người kia một tiếng, người kia chê... Quý thầy để ý tôi nói có đúng không? Rắc rối là do cái người này chỉ trích, chê qua chê lại một chút à. Mới đầu chưa không có chuyện gì xảy ra, nhưng mà người ta nhạy cảm với cái điều chê bai lắm, như bản thân mình cũng vậy. Ví dụ như mình vào chùa, mình làm việc, mình công quả, mình ráng làm tốt, tự nhiên có cái người họ thích

[1:07:04]nghĩ xấu về mình, cái họ nói một câu bậy bạ, họ nói một câu rõ ràng là không đúng. Nói vặt lông, nói mày đặt chạy điểm mà lòng mình không có cái đó, cái chỉ nói một câu chê bai thôi là mình bắt đầu mình cảm thấy mình với người đó hết duyên, xa lánh. Nên cái lời nói một chút thôi là từ từ cắt duyên. Rồi nếu lúc đó mình không giữ được tâm mình, mình cũng nói lại một câu, rồi mình với người đó hết duyên luôn, nó không hay. Đó, chỉ chê qua một chút, chê lại một chút, từ từ đổ vỡ hết. Trong cư sĩ, Phật tử cũng vậy, phải khéo giữ cái miệng của mình. Cái miệng của mình mà làm Phật pháp đổ vỡ là vậy đó.

[1:07:38]Thấy người ta làm gì không vừa ý, chê một tiếng rồi là xong chuyện. Cho nên điều phải cẩn thận dữ lắm, không được chê ai hết, không được chỉ trích, mình không có cái quyền đó. Chỉ khi nào đủ lòng thương yêu, đủ đức độ mới có thể nói gì đó để góp ý với nhau, chứ còn bình thường cứ chê sau lưng hay chỉ trích cái này cái kia làm tan vỡ hết. Chỗ này là chỗ khéo giữ, mà thường là không có giữ được. Không giữ được, đa phần không giữ được điều này. Khó giữ lắm, người ta thích chê bai. Cái bệnh mà thích chê bai nó thành cái bệnh trầm kha, bệnh nặng quá, bệnh hơi khó chữa trong Phật pháp. Tôi nói điều này là hơi có tính cách báo động, vì tôi chứng kiến nhiều quá rồi.

[1:08:20]Khi quý thầy mắc cái bệnh kỳ lạ, mở miệng là chê nhau. Chùa này đụng tới chê chùa kia một tiếng. Nhiều người quý thầy còn trẻ mà dám đụng tới các vị hòa thượng, tôn túc luôn. Các vị hòa thượng, tôn túc nhiều khi công đức các ngài rất là lớn, mình trẻ mới tu được bao nhiêu năm mà dám phê bình, nhận định quý thầy thế này thế kia, phước tiêu tan hết, rồi làm Phật giáo chia rẽ nữa. Có một thời gian tôi ở một cái chùa đó, trong đó quý thầy hễ nói chuyện mở miệng là chê đầu này đầu kia, mà tôi nghĩ rằng cái phước của tôi bị tổn cũng là do thời gian ở cái chùa đó. Khi người ta chê mình tin liền à, cái mình bớt tôn kính với những vị tôn túc mà nào giờ mình rất là tôn kính.

[1:09:00]Chỉ không khéo người ta nói xấu cái làm mình giảm cái sự tôn kính vị đó liền. Và tôi nghĩ chính là từ cái chùa mà hay chê đó tôi bị giảm phước dữ dội, nên tôi cầu mong sau này đừng có ai nói xấu ai nữa, để cho chúng sinh đừng có nghe điều xấu nữa. Chứ nói xấu là thế giới này nó đổ vỡ quá nhiều, Phật pháp cũng vậy nữa. Tôi nói nó rất là khẩn thiết, rất là kêu gọi, quý thầy ráng giữ và khuyên người khác. Ví dụ có nghe người này chê người kia, mình mình khuyên họ chặn lại, nó tạo thành cái khẩu nghiệp, đổ vỡ cho sự tu hành của mình, mà làm cho Phật pháp chia rẽ nữa. Và một cái điều chỉ nên nói là mình cố gắng nói điều tốt của người khác.

[1:09:40]Ví dụ họ làm điều tốt, mình không cần khen trước mặt, mình khen một vòng sau lưng rồi cũng tới tai người kia. Tới tai người ta, họ vui, lần sau gặp mình, tự nhiên họ tay bắt mặt mừng là mình biết cái lời khen mình tới tai họ rồi đó, họ gặp mình họ vui. Nhờ cái lời khen mà tự nhiên đạo Phật đoàn kết lại. Nếu cái chê nó làm cho Phật pháp chia rẽ, thì cái lời khen làm cho Phật pháp đoàn kết lại. Cho nên vì vậy, chúng ta đừng có hà tiện cái lời khen. Mà không nên chê, mà phải nên rộng rãi cái lời khen. Mà muốn rộng rãi cái lời khen phải làm sao? Thì phải dễ nhìn thấy cái ưu điểm của người khác. Ví dụ mình nhìn một người, mình nhìn soi mói nhìn một lát cho ra cái hay người khác

[1:10:21]để khen, chứ mình có cái tật mình nhìn ngó ngó, tự nhiên thấy người ta dở tùm lum. Đó là cái bệnh. Bây giờ tập lại, dù là mình nhìn ví dụ cái người đó ngoại hình không đẹp đi, có thể là là là mặt thì đen, mắt thì nhìn không được ngay, rồi

[1:10:39]vân vân, cái gì gì đó, nhưng mà mình ráng nhìn lát để mình tìm cái hay, cái tốt của người đó, rồi mình cũng có thể có cái điều gì để mình khen. Khi mình nói chuyện thế mình cũng có thể dễ chịu, đó mình tập nhìn cái ưu điểm người khác để khen. Bây giờ chúng ta nói qua về hành vi, sự tu tập trên hành vi. Trên hành vi thì nhiều, quá nhiều vấn đề đi, nên mình chỉ nói tổng quát thôi chứ không nói hết nổi. Thì thứ nhất là việc giữ giới của thân. Giữ giới của thân có ba cái giới quan trọng là những gì? Dâm, sát, đạo. Với Tỳ-kheo thì chữ dâm nói trước. Sa-di thì mình nói sát, đạo, dâm, còn Tỳ-kheo là phải nói là dâm, sát, đạo.

[1:11:17]Đó là cái giữ giới trước. Thì cái giữ giới này thì chúng tôi đã nói trong cái đề tài về giới luật, hôm nay cũng không có nói nhiều. Vì đề tài này nói với tu sĩ thuần, mà tu sĩ đông quá nên không có nói. Rồi bây giờ chúng ta nói qua những vấn đề khác là cái sống vị tha. Sống vị tha là một cái việc tu tập về thân. Bây giờ lúc mình ở trong chúng đi, mình vào tu thì tập cái đời sống vị tha, mà mình làm gì để sống vị tha trong chúng khi mình còn mới nhỏ, mới vào chùa? Là có cái tâm niệm này là công quả cúng dường đại chúng. Tại vì tôi nhớ có lần lúc mà tôi mới vào chùa xuất gia thì có một ông sư huynh ổng khuyên tôi câu đó.

[1:11:57]Có lẽ nhờ lời ổng khuyên mà tôi nghĩ tôi cũng có được cái hạnh, một chút cái hạnh ban đầu. Ổng khuyên tôi là: "Chú xuất gia vào chùa, chú ráng có cái tâm niệm là công quả để cúng dường đại chúng." Ổng nói có một câu đó thôi. Thì nhờ nhiêu đó thôi mà tôi ráng tôi làm. Mà khi mình ráng làm việc cho chúng, làm việc này làm việc kia không có tiếc, đúng là tự nhiên tâm nó sáng ra, tự nhiên cái việc tu tập mình tiến bộ à, bỗng nhiên cái trí tuệ mình minh mẫn hẳn lên hà, ngộ ghê á. Còn cái người mà cứ rù rù rù rù mà làm biếng mà sợ, trốn việc, trí tuệ từ từ nó tàn lụi đi. Còn mình có cái tâm lo cho đại chúng, lo cho chùa, cái trí từ từ nó sáng ra.

[1:12:36]Nhưng mà phải làm á, lo đừng có lo không, lo phải thực hành. Khi thì mình chạy ra mình coi vườn, khi chạy vô coi chánh điện, à khi thì làm việc hương đăng, khi thì nấu bếp, nghĩa là việc gì mình cũng nghĩ là mình cúng dường đại chúng bằng cái công sức trước. Nhất là thường cái người mới xuất gia là thường là trẻ, là sức khỏe còn thì cũng cố gắng, dĩ nhiên là đừng có quá sức. Tuy nhiên là cũng phải biết công quả để cúng dường đại chúng như vậy, ừ. Rồi một cái điều nữa là khi mình tu tu lâu một chút nữa thì bắt đầu mình có tài sản, có tiền bạc á. Đúng cái giới thì không được giữ tiền, đúng giới là người giữ tiền.

[1:13:14]Nhưng mà do cái sự thay đổi của thời đại nên lần lần mấy người thầy tu cũng có giữ tiền. Bây giờ thì cũng có một số chùa nghiêm khắc không cho giữ tiền. Ví dụ như ừm thí dụ như chùa của chúng tôi đi, chùa chúng tôi là không cho chúng giữ tiền. Thì tiền là giữ trong tiền quỹ hết, ai có tiền phải nộp hết. Nhưng rồi nghèo giàu cùng sống chung với nhau với số tiền quỹ đó. Nên người nào bệnh hoạn hay cần cái gì là chùa hết sức lo lắng. Nhưng mà không ai được giữ tiền riêng, vì giữ tiền riêng nguy hiểm. Người tu mà giữ tiền riêng nó sẽ thành cái riêng tư ích kỷ từ từ, khó vượt qua. Mà tôi thấy điều đó rõ cho nên tôi nghiêm khắc,

[1:13:53]chúng của tôi là dứt khoát không có chuyện giữ tiền riêng. Vì tôi thấy cái bệnh nè, thầy tu ở trong chúng mà giữ tiền riêng là từ từ ích kỷ với nhau, sống ở chung một đơn vậy chứ cái người này thủ thế với người kia hết trơn á, nó mất cái cao đẹp đó. Chứ ngày xưa mà Đức Phật không cho giữ tiền cũng là cái rất là hay. Bây giờ nếu mà các chùa mà nếu giữ được điều đó trở lại thì rất là tốt, rất là tốt cho Phật pháp. Nhưng mà có cái thế này, nếu mà không cho chúng giữ tiền riêng á, thì người trụ trì phải rất là thương chúng, hễ chúng cần cái gì là phải chi liền, không được tiếc tiền. Chớ tôi cũng gặp một cái chùa không cho chúng giữ tiền,

[1:14:26]nhưng mà cái người trụ trì giữ tiền thì không có chi cho chúng gì hết, chúng cần cái gì không có cho, mà không cho họ giữ tiền nên từ từ họ cũng lén giữ lại hết trơn á. Đây là cái thất bại. Không giữ tiền là một cái hạnh rất là quý của người tu, nhưng đòi hỏi cái người lãnh đạo trong chùa phải rất là thương chúng. Còn cái chùa mà tôi nói thất bại là vì cái người trụ trì không thương chúng, nên việc giữ tiền không có thành công. Chính bản thân tôi đã từng ở cái chùa như vậy tôi biết. Cái lệnh cấm đưa ra là không được cho giữ tiền, thì tôi cũng tuân thủ tôi nộp hết tiền vô. Nhưng một thời gian sau bắt đầu trong huynh đệ xảy ra chuyện này

[1:15:03]chuyện kia, bệnh hoạn này nọ, thì ở trên không chi tiền. Thế là tôi phải lén tôi ra ngoài đi mượn tiền cho huynh đệ chữa bệnh. Rồi từ đó, tôi thề, hứa với Phật: "Cho con giữ tiền lại." Rồi tôi lén bí mật ai cúng dường nhiêu bỏ túi hết. Để gì? Để lo cho huynh đệ xung quanh, khỏi mất công xin, vì xin cực quá. Xin là xin vất vả lắm, nên thành ra cái họ vi phạm. Do tôi rút cái kinh nghiệm đó nên sau này khi tôi có đệ tử, không cho giữ tiền, nhưng mà rất lo cho chúng, cần lo là tới nơi tới chốn. Để họ hiểu rằng cái tình thương yêu và cái chỗ dựa cuộc đời họ là nơi cái chùa, họ không còn nghĩ ra ngoài nữa.

[1:15:39]Tức là người đệ tử không còn nhờ Phật tử nữa. Cái người xuất gia trong chùa hoàn toàn dựa vào thầy mình, tin tưởng vào thầy mình, đem cuộc đời cho thầy mình, được. Chứ không còn thiếu thốn quá ước gì có Phật tử tới cúng mình để mua cái này mua cái kia, là tâm hướng ngoại. Cái này rất là nguy hiểm. Còn bây giờ không cần nghĩ tới Phật tử, chỉ nghĩ tới ông thầy mình thôi. Vì ông thầy mình thương mình như cha như mẹ rồi, không còn phải lo nữa. Đó, nên muốn giữ được cái mà không giữ tiền là phải là người trụ trì phải thương chúng. Mà thêm cái điều nữa là trong trường hợp ví dụ quý thầy lớn lên hoặc là quý thầy là trụ trì, hoặc quý thầy là chúng mà trong cái

[1:16:15]ngôi chùa còn cho phép giữ tiền, đặt vấn đề là còn cho phép giữ tiền, thì phải biết cúng dường, bố thí, không bỏng sẻn. Dĩ nhiên là phải đúng pháp chứ không phải cho bừa bãi, nhưng mà không được bỏng sẻn. Vì nếu mà có tiền mà trong tâm mình bỏng sẻn là mình đang đi ngược lại cái cái cái cuộc đời tu hành của mình. Người tu giữ tiền rồi mà bỏng sẻn là hết xài, người đó không còn là người tu nữa. Thì người tu làm gì làm chớ là phải coi tiền bạc là vô nghĩa rồi, mà lòng thương yêu rộng lượng đối với con người là phải không có giới hạn. Ví dụ trong túi mình mình có 100.000đ đi, mình định là để dành được 150.000đ

[1:16:55]thì mình đi mua một cái máy nho nhỏ để nghe pháp. Thì việc đúng, mới để dành được có 100, chưa ai cúng được 50 thì thấy có cái người huynh đệ mình ổng bị cái xe đạp ổng đi học hư mất cái bánh xe, ổng không có tiền, phải lấy 100 cho liền, chứ không có được mà không được làm ngơ. Nói: "Tại tôi chưa mua được cái máy. Giờ tôi mua được cái máy rồi tôi để dành thêm nữa rồi mua bánh xe cho huynh." Không có chuyện đó. Phải hy sinh cho người khác trước. Người tu là phải như vậy thôi. Một chút bỏng sẻn như một hột bụi mà còn tồn tại trong tâm mình là phải nghĩ ngày đó mình chưa xứng đáng làm thầy tu. Thầy tu là phải hết sức là rộng rãi về tiền bạc,

[1:17:31]không có nghĩ cái đồng tiền nào của mình hết trơn á. Bây giờ chẳng như ví dụ, thôi bây giờ tôi hơi khoe bản thân chút đi, vì tôi cũng nhờ học cái tấm gương của những vị thánh nên tôi cũng lập cái nguyện là không có giữ tiền trong túi. Hễ tiền ai cho thì cũng mừng thiệt, thấy tiền thì cũng ham, tại tôi cũng có cái máu ham tiền. Ai cho bỏ túi, nhưng mà người khác cần đưa hết trơn liền. Nhiều khi chưa biết cái số tiền người ta cho mình nhiêu nữa. Có một sư cô lại đưa một cái bao thơ phong sóc cho tôi, bỏ trong túi tôi không biết nhiêu nữa. Sư cô đó ra cái có ông thầy khác vô, cái tôi móc tôi đưa ông thầy đó luôn.

[1:18:04]Và hai người đi ra vô xong tôi không còn đồng nào hết trơn á, huề. Sống vậy mà mình thấy vui, không có lệ thuộc tiền bạc mà cũng không có đói. Coi vậy chớ lòng mình sống rộng rãi rồi không có đói bao giờ hết. Trên những năm tháng mà nhiều khi tôi lang thang cực khổ vậy, cũng không bao giờ hết tiền, cũng có cái ngộ, không bao giờ hết tiền. Rồi cái hành vi về thân là thường là chúng ta tích lũy thiện nghiệp. Mình tránh những điều sai là trong giới, nhưng mình tích lũy thiện nghiệp bằng những cái công đức là ví dụ như mình trồng cây gây rừng, đó là một cái thiện nghiệp. Như mình nghe cái vụ mà lũ tàn phá là do rừng,

[1:18:37]lũ mà tàn phá xóm làng, con người là do rừng bị tàn phá. Nên bây giờ người thầy tu mình phải biết phát động vấn đề trồng rừng, mình phải đi đầu trong vấn đề đó. Chứ để người khác đi đầu mình đi theo là người tu mình hơi dở rồi đó. Rồi việc cất chùa cũng là cái Phật sự, nhưng mà cẩn thận lại, chúng ta cất chùa cho nó có ý nghĩa, chứ đừng có thi đua nhau cất chùa lớn, Phật đẹp mà vì cái động lực cá nhân hơn thua thì cất chùa đó sai, ngôi chùa đó không bao lâu nó sập. Những ngôi chùa mà nó tồn tại mấy ngàn năm, mấy trăm năm là do cái động lực cất của cái người mà xây chùa họ có một cái tâm tốt, họ vì cái gì của Phật pháp

[1:19:11]họ cất á, cái ngôi chùa tồn tại lâu lắm, mấy trăm năm. Còn cái người nào mà họ khởi tâm cất cái chùa vì cái động lực không tốt, mình coi vậy chứ mình cứ để ý năm, sáu chục năm thì cũng sập mất rồi. Không có gì hết trơn. Cho nên vấn đề cất chùa là phải đúng việc, đúng lúc, có cái động lực tốt rồi hãy cất, đừng có ham. Nó vô số Phật sự mà chúng ta phải bàn với nhau, nhưng mà chúng ta không có thời giờ, cũng không nằm trong phạm vi. Thì tôi có dự định sau này chúng tôi sẽ giảng một cái chương cơ bản vấn đề gọi là quan điểm của Phật sự là bao nhiêu Phật sự mình đem ra mình bàn lại hết từng điểm, từng điểm lại.

[1:19:46]Thì đó là cái chương trình nằm ở chỗ khác, hôm nay chúng ta chỉ nói với nhau sơ sơ là cái việc mà tu tập về thân á thì trong đó là làm những điều Phật sự cũng gọi là tu tập về thân. Bây giờ có một cái tu tập về thân nữa chúng ta phải đề cập đó là oai nghi. Oai nghi. Oai nghi là những cử động của thân thể. Thường là người ta nói trong trong kinh nói tới bốn oai nghi là đứng đi, đứng, nằm, ngồi, là chúng ta thể hiện nó được cái tư cách đứng đắn, chân chính của người tu. Nên bây giờ mình không biết cái tâm người tu có tốt hay không tốt, mà thấy coi như là ổng hễ nói chuyện la bài hãi, đi thì chân thấp chân cao chạy ào ào ào,

[1:20:24]đánh đàng xa ào ào ào, nhặng bữa này, nằm ngủ thì gác chân lên trên bàn, mình thấy không tin liền. Không biết ổng tu ổng có chứng thánh gì không biết, chứ dòm nhiêu đó là thôi. Thôi, từ đây mãi mãi không thấy nhau, không dám tin, phải không? Cho nên cái người tu làm gì làm chớ vẫn phải giữ cái tư cách cho đàng hoàng, đứng đắn. Không biết trong tâm mình sao ai biết, nhưng mà cái tư cách bên ngoài phải đứng đắn, phải nghiêm trang, thong dong, ung dung.

[1:20:53]Nghĩa là trong những lúc mà gấp rút, dù mình có chạy nhưng mà người ta nhìn vào người ta vẫn thấy mình đang làm chủ cái thân. Ví dụ bây giờ cháy nhà, mình cũng phải chạy rồi xách nước đi tát. Nhưng mà nhìn vô cái người có tu nó khác liền. Cái người mà không có tu đó, vừa chạy vừa la rồi hì hà hục mất bình tĩnh, còn người có tu họ vẫn chạy, vẫn xách nước tưới, mà trong đó họ vẫn đang làm chủ cái cử chỉ của họ. Đó là cái oai nghi. Nên thong thả, ung dung, nghiêm trang, đó là cái cái tư cách của người tu. Hễ trong cử động là chúng ta nhớ được ung dung mà nghiêm trang. Còn nếu trong cái tư thế bất động, ví dụ như đứng đứng yên một chỗ,

[1:21:29]hay ngồi ngồi yên một chỗ, hay nằm nằm yên một chỗ thì luôn luôn đẹp đẽ. Cái này cái lạ lắm, cái này cái đẹp nó như thế nào thì mình không diễn tả được. Nhưng mà hễ cái người mà họ cái tâm họ tốt á, toát ra bên ngoài cái tư cách mình mà đi đứng nằm ngồi luôn luôn nó đẹp, không bao giờ xấu hết. Đây là cái lạ lắm mà nếu ai tinh ý nhìn vô biết, nên mình không cần nhìn cái người đó trong tâm họ tu sao, chỉ nhìn thoáng người ta đi ngang qua là biết người này tu tới đâu. Chỉ nhìn qua người đó ví dụ như đang đứng cuốc đất, nhìn cũng biết họ tu tới đâu. Vì lạ lắm, cái người mà tâm họ thanh thản, họ tốt rồi cái oai nghi họ đẹp lắm, đẹp lắm.

[1:22:10]Như có cái ông thầy ổng nói: "Nhìn cái người đó ở trong định, nhiều khi thấy đi cầu cũng đẹp." Mà nói như vậy không ngoa đâu, đúng như vậy đó. Dù trong cái chỗ không có người, trong chỗ không có người, họ vẫn đẹp như thường, tư cách vẫn đẹp vì tự họ kiểm soát lấy họ, chứ không phải làm dáng, không phải ờ ở chỗ đông người, trông đông người tôi phải làm ra ngồi nghiêm trang đạo mạo rồi còn không có ai bắt đầu quậy, không phải. Lúc có người hay không người, lúc nào cũng tự kiểm soát lấy thân mình. Nên mình nhìn họ mình thấy gì, ngồi đứng đi chuẩn mực, đều đẹp đẽ, ngồi ví như dựa, đứng nghiêng hay nằm hay xếp cái gì đều đẹp đẽ hết.

[1:22:50]Vì họ mà xấu một chút xíu cái họ tự biết sai lầm liền, do cái tỉnh giác toàn thân lúc nào cũng kiểm soát được thân. Đó, cái oai nghi như vậy. Rồi cái nhìn ngó phải trầm tĩnh. Đó là cái oai nghi, cái tu tập của người tu về thân. Chớ không cho phép người tu mà đi mắt nhìn ngó láo liên là không được, mà con mắt thì nó dễ động lắm. Thường ấy thì ừm người phải tâm tĩnh lắm thì con mắt nó mới yên tĩnh được, chứ còn bình thường con mắt chúng ta dễ động. Như tôi vậy đó, khi giảng cái nhìn qua nhìn lại, dòm là biết nội tâm hổng ra gì hết trơn. Rồi cuối cùng chúng ta nói về cái ý nghĩa của cái tu này. Chúng ta tu ba nghiệp thân khẩu ý

[1:23:31]để làm sao để là thực hiện một đời sống tràn đầy đạo đức. Chúng ta phải nâng cái tỷ lệ đạo đức của người tu lên thực sự. Hiện nay là tỷ lệ đạo đức của người tu, ví dụ như mình nói là 1/10, tức là 10 người tu có một người có đạo đức à. Tôi nói điều này không biết có cao quá không, sợ còn thấp hơn nữa. Nhưng mình cứ nâng lên từ từ, ráng nâng lên làm sao từ đây 5 năm sau thì hễ 10 người tu thì được bốn người đạo đức, 5 năm sau 10 người tu thì bảy người, rồi dần dần 10 người tu thì ít ra được chín người đạo đức. Mình không dám nói là 10 người xuất gia là 10 người đạo đức hết, nhưng mà con số đó phải cao. Con số đó phải cao là do gì?

[1:24:08]Do chúng ta tu thật sự và chúng ta sửa đổi tâm hồn mình, chúng ta thực hiện cái đời sống thánh thiện th- thiêng liêng, chúng ta thực hành lời Phật dạy một cách nghiêm túc nơi ba cái nghiệp thân khẩu ý. Từng người từng người chúng ta đều nỗ lực tu tập như vậy thì cái tỉ lệ mà đạo đức trong cái giới xuất gia sẽ tăng lên dần dần. Và đó là cái phước của Phật pháp và đó là chỗ dựa cho chúng sinh. Vì chỗ dựa của Phật tử là ở đâu? Là nơi Tăng Ni. Nơi Tăng Ni, nên nếu mà Tăng Ni đông người có đạo đức thì Phật tử có chỗ nương tựa. Này tôi mà nghe ở đâu có Phật tử khen ông thầy nào tôi mừng ghê lắm, rồi tôi biết ông thầy đó chắc chắn phải tốt Phật tử mới khen.

[1:24:50]Cũng có thể họ khen chưa chính xác lắm nhưng mà tổng quát, tương đối là ông thầy đó đã tốt rồi. Là mà mình thấy trong Phật pháp có thêm được một ông thầy tốt thật là điều đáng mừng. Là mình thấy như vậy là nơi cái xóm đó có ông thầy tốt rồi đó. Mai mốt tới mình gặp Phật tử nghe khen bên kia, ờ rồi thêm ông bên đây tốt nữa là được rồi, rất mừng rồi đó. Mình làm sao cuối cùng để rồi Phật tử nghe là hễ nhìn thấy thầy tu là tin tưởng liền, vì biết chắc ông thầy tu nào đa phần ông nào cũng đạo đức hết. Ngày nào mà được như vậy đó, mới là cái hạnh phúc, mới là cái đại diễm phúc của Phật pháp cho chúng sinh.

[1:25:24]Mà trách nhiệm này là thuộc về chúng ta, từng người từng người xuất gia, phải làm cho đạo đức nơi mình tràn đầy hết, rồi làm lan tỏa qua các quý thầy khác.

[1:25:35]Chúng ta bước ra đường, chúng ta thấy mọi người xuôi ngược trên cuộc đời này, nhưng mà phải hiểu chừng nào còn có cái người mà chưa tin nhân quả thì ngày đó mình không được ở không, ngày đó người đệ tử Phật chưa có hết trách nhiệm. Phải làm sao cho tất cả mọi người trên thế gian này đều tin nhân quả. Đó. Rồi cuối cùng cái mục tiêu mà chúng ta tu là để làm gì? Là văn tư tu để làm gì? Nhớ là cuối cùng đạt được cái đức vô ngã. Vô ngã là cái sức mạnh để thương yêu chúng sinh. Vì nếu chúng ta ngã chấp còn, cái lòng thương yêu chúng sinh nó còn bị giới hạn. Nên chúng ta nói về ba đề tài văn, tư, tu, cuối cùng phải đạt được cái vô ngã.

[1:26:17]Dù chúng ta có được cái định gì đó thì được, mà cái ngã chấp vẫn lén lút tồn tại thì chưa có hết đâu. Đừng bao giờ ca ngợi cái tâm chứng của mình là Phật tánh nếu mà bên trong nó còn cái ngã chấp nó kèm theo. Chúng ta phải đạt được vô ngã, chúng ta mới đủ lòng thương yêu chúng sinh đến vô biên vô lượng được. Hôm nay chúng ta có duyên trong mùa hạ này, tuy chùa thì ít, vắng nhưng mà thôi cũng là cái duyên với nhau, cũng cầu chúc cho quý thầy qua được 3 tháng hạ an cư, tăng trưởng được công đức tu hành, rồi pháp thể được khinh an, về lại nơi trú xứ làm được nhiều Phật sự, đem lại lợi ích cho chúng sinh.

[1:26:57]Và hi vọng rằng chúng ta còn duyên trao đổi thêm Phật pháp với nhau trong những năm tháng về sau nữa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.