Transcript: Bước Đầu Tọa Thiền

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:58:07

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:37]Kính lạy Đấng Vô Thượng, Người là cánh hoa sen nơi biển đời nhân thế.

[0:48]Người là nguồn thương yêu bao dung khắp muôn loài,

[0:59]là mặt trời ban mai đem ánh sáng cho đời, dựng lại niềm tin sâu nơi tăm tối u sầu.

[1:24]Quỳ lạy Bậc Chánh Giác, mây tỏa khắp trời người,

[1:35]lòng từ bi bao la, che lành chung bốn loài.

[1:49]Người là một đại dương mà con như giọt nước.

[2:00]Người là ngọn cao sơn mà con như hạt bụi.

[2:14]Con xin đảnh lễ Người với trọn lòng khiêm hạ, quy y và tôn kính.

[2:30]Xin đem trọn cuộc đời đi theo bước chân Người,

[2:41]xa lìa bờ u minh, tìm về nơi giác ngộ.

[2:52]Xin theo trái tim Người để trải lòng thương yêu, bao dung khắp muôn loài.

[3:10]Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.

[3:18]Nam Mô Thích Ca

[3:28]Mâu Ni Phật.

[3:37]Bước đầu vào thiền. Phần một. Đức Phật tôn quý của chúng ta đã thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sau nhiều ngày tháng tọa thiền dưới cội cây bồ đề.

[3:52]Đến hôm nay, chúng ta vẫn tôn thờ Ngài với hình tượng tọa thiền lắng sâu trong chánh định. Trong đạo Phật có nhiều phương pháp tu tập, nhiều giai đoạn tu tập, nhưng thiền định vẫn là đỉnh cao, vẫn là cốt lõi.

[4:09]Vì vậy, người đến với đạo Phật trước sau gì rồi cũng phải thực hành thiền định mới có thể đạt được những lợi ích sâu xa từ nguồn chân lý vi diệu của Phật Đà.

[4:26]Tâm của mỗi chúng ta là một mớ ý niệm hỗn độn quay cuồng với nhau, quấn chặt với nhau dường như không thể tách rời hay dừng lại.

[4:38]Trong mớ hỗn độn quay cuồng đó, tâm ta hình thành một cảm giác chấp ngã mãnh liệt. Ai cũng thấy mình là trung tâm của vũ trụ, khác với mọi người, mọi vật bên ngoài.

[4:52]Từ cái chấp ngã dữ dội này, chúng ta phát triển dần tham lam, hơn thua, ganh ghét, đố kỵ, luyến ái, ích kỷ, hung bạo.

[5:03]Nhờ thiền định, tâm chúng ta được an tĩnh dần dần, mớ tâm thức hỗn độn đó được tháo gỡ, hóa giải dần dần, và đỉnh cao cuối cùng của thiền định là toàn bộ chấp ngã được diệt trừ, vô minh chấm dứt, hành giả đạt được kết quả giải thoát giác ngộ như Phật đã tuyên bố.

[5:29]Ý nghĩa của sự chấm dứt chấp ngã, vô ngã thật là vĩ đại.

[5:35]Những vị thánh như Đức Phật, các vị A La Hán sau khi đã không còn chấp ngã, lập tức trở thành toàn thể vũ trụ, toàn thể chúng sinh.

[5:47]Vì trở thành toàn thể vũ trụ nên các Ngài có trí tuệ biết rõ mọi điều trong vũ trụ.

[5:55]Vì trở thành toàn thể chúng sinh nên các Ngài có từ bi thương yêu tất cả chúng sinh.

[6:02]Trí tuệ và từ bi của Đức Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán là tuyệt đối.

[6:12]Chính vì thánh tính cao cả đó mà Đức Phật được tôn xưng là Thầy của cả cõi trời lẫn cõi người.

[6:21]Những vị vua của các tầng trời vẫn phải đến cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.

[6:28]Trong đạo Phật không chấp nhận khái niệm có một Thượng đế tạo ra tất cả trời đất muôn loài.

[6:36]Vũ trụ, đất trời, muôn loài đều do nhiều nhân duyên tạo thành: vừa ngẫu nhiên, vừa tất nhiên; vừa khách quan, vừa chủ quan.

[6:49]Nếu có một đấng tối cao tạo ra tất cả, không lẽ vị đó đã tạo ra đau khổ, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh và cả tội lỗi của con người?

[7:00]Nếu có một đấng tối cao, không lẽ vị đó đã tạo ra các loài ăn thịt xâu xé lẫn nhau?

[7:08]Nếu có một đấng tối cao, không lẽ vị đó đã tạo ra loài người không tin tưởng Thượng đế đến nỗi phải nhờ các nhà truyền giáo vất vả kêu gọi để con người ráng tin Thượng đế?

[7:22]Vì thế, không có Thượng đế vì vô lý.

[7:28]Nhưng trong đạo Phật có khái niệm vua các cõi trời. Cao hơn cõi người vật lý này còn có nhiều cõi trời dành cho những chúng sinh có nhiều phước và rất thánh thiện để sinh sống.

[7:42]Họ sống vô cùng hạnh phúc, xứng đáng theo phước lành mà họ đã gây tạo từ quá khứ.

[7:50]Mỗi cõi có một vị vua cai quản. Vị vua này phước lớn vô cùng, gần như có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Tuy nhiên, dù phước gần như vô hạn, các vị vua trời vẫn hiểu rằng thánh tính của Phật là tuyệt đối, vượt hơn mọi chúng sinh nào trong khắp pháp giới vũ trụ. Do đó, thỉnh thoảng các vị đã ghé đến thăm viếng, đảnh lễ Đức Phật khi Phật còn tại thế.

[8:22]Ở đây, chúng ta ca ngợi giá trị cao cả của một tâm hồn vô ngã đã đưa con người đến đỉnh cao của sự thánh thiện như thế. Và dĩ nhiên, chúng ta cũng ca ngợi con đường thiền định là con đường chủ yếu, quan trọng để con người giải phóng khỏi chấp ngã ngàn đời như thế.

[8:43]Điểm chủ yếu của thiền định là đưa tâm vào an định, không suy nghĩ, không vọng tưởng, nhưng vẫn tỉnh táo, tỉnh giác. Tuy nhiên, ai đã thực hành đều thấy rõ là không dễ đưa tâm vào an định. Vọng tưởng sẽ chập chờn, lẩn lút, phá quấy mãi. Người không đủ kiên nhẫn sẽ phải bỏ cuộc giữa đường. Phần hai.

[9:14]Từ thời Đức Phật, chính Phật cũng đưa ra nhiều phương pháp thiền định, nhưng tất cả phương pháp của Phật đều có tính nhất quán và liên hệ chặt chẽ với nhau.

[9:26]Theo thời gian, nhiều vị tổ sư, đại sư cũng giới thiệu thêm một số phương pháp khác.

[9:34]Mỗi người đến với thiền định cũng có năng khiếu khác nhau. Có người thích hợp với phương pháp này, có người thích hợp với phương pháp khác.

[9:46]Có người dễ nhiếp tâm vào định, có người khó nhiếp tâm vào định.

[9:52]Mỗi phương pháp cũng có ưu khuyết điểm riêng của mình. Có phương pháp thích hợp cho người căn cơ cao, có phương pháp thích hợp cho người căn cơ thấp. Có phương pháp ít bị phản ứng phụ, nhưng cũng có phương pháp làm phát sinh phản ứng phụ.

[10:12]Sử dụng một phương pháp tu thiền cũng giống như dùng thuốc, có thể có phản ứng phụ chứ chẳng phải không.

[10:21]Chính vì vậy mà người hướng dẫn tu tập thiền định phải nắm vững nhiều mặt của thiền định để tránh cho thiền sinh bị sai lầm hoặc tổn hại.

[10:33]Ngay cả người tu thiền định có kết quả cũng chưa hẳn đã là người đủ sức hướng dẫn người khác vì chưa biết hết mọi ngóc ngách hiểm trở của con đường thiền định phức tạp này, do vị này chỉ đi con đường của mình nên dễ chủ quan cứ cho con đường của mình là tối ưu.

[10:55]Chính vì vậy mà chúng tôi hết sức cẩn thận khi chọn phương pháp cho chùa mình. Dựa trên kinh điển Nikaya nguyên thủy, trên Thiền tông Trung Hoa - Việt Nam, trên kinh nghiệm nhỏ bé của mình, chúng tôi quyết định đi con đường thấp nhất, căn bản nhất để có lợi cho nhiều người nhất, vì chúng tôi nghĩ số người căn cơ thấp như chúng tôi có lẽ chiếm đa số hơn số người căn cơ cao.

[11:26]Tuy nhiên, thiền định là giai đoạn cao của sự tu tập trong Phật giáo, hay nói hơi cường điệu, thiền định là đỉnh cao của sự tu tập.

[11:38]Nhưng hễ nói đỉnh cao, tức là đã ngầm nói đến những giai đoạn thấp hơn, căn bản hơn. Và người khôn ngoan trên đời luôn luôn là người biết tạo dựng cái nền tảng thật vững chắc, thật rộng lớn, để có thể đặt trên đó một công trình vĩ đại lâu dài về sau.

[11:57]Vì vậy, trước khi đi sâu vào phương pháp tu tập cụ thể, chúng ta hãy nhắc nhau về việc tạo dựng căn bản của thiền định trước đã. Có ba nền tảng của thiền:

[12:11]Một, đạo đức sâu thẳm trong nội tâm.

[12:17]Trước khi tâm có thể vào định, chúng ta phải thanh lọc tâm mình đến chỗ thuần thiện hoặc chúng ta phải vừa tu tập thiền định, vừa trau dồi đạo đức của mình đến chỗ hoàn hảo.

[12:31]Từng phần tâm lý đạo đức như: lòng từ bi, tâm khiêm hạ, nhẫn nhục, nhu hòa, vị tha, can đảm, tùy hỷ, biết ơn, vân vân phải được huân tập thấm nhuần một cách sâu sắc.

[12:47]Vì đạo đức là căn bản quan trọng của thiền định, nên ai muốn tiến xa trên con đường thiền, phải chịu khó tu sửa đạo đức thật kỹ càng. Thước đo của thiền định là sự cư xử với mọi người chung quanh. Chúng ta phải tập sống hòa ái với mọi người, khoan dung với mọi người, chứ không được xa lánh mọi người.

[13:14]Người tu sĩ phải có thời gian dài sống tốt đẹp với đại chúng trước khi muốn tìm nơi vắng vẻ để nỗ lực thiền định.

[13:23]Chính trong tương quan với mọi người mà chúng ta có điều kiện để tu sửa đạo đức nơi chính mình.

[13:32]Những lúc đến giờ ngồi thiền thì ta ngồi, nhưng trong đời sống hằng ngày phải cố gắng sống tốt đẹp, hòa ái với mọi người một cách chân thành, sâu sắc.

[13:44]Những khi chứng kiến sự thành công của người, ta phải tập khởi tâm vui mừng, hoan hỷ. Những khi chứng kiến sự thất bại, đau khổ của người, ta phải tập khởi tâm xót xa, chia sẻ. Những khi ta có được chút thành công, phải tập giữ tâm khiêm hạ, không cho mình là hơn người.

[14:05]Vô số những tế hạnh, những đạo đức nho nhỏ trong cuộc sống mà chúng ta phải xây dựng, phải củng cố, phải tạo thành cho tâm hồn mình trước khi và trong khi thực hành thiền định.

[14:21]Hai, công đức dồi dào.

[14:26]Có người hay cho rằng thiền là phương pháp dụng công để tâm vào định, không ngờ rằng mức độ định đạt được trong tâm lại liên quan rất nhiều đến công đức.

[14:39]Công đức là tất cả những điều ta làm được cho tha nhân, cho chúng sinh, mà khiến chúng sinh được bớt khổ, thêm vui, được tăng trưởng đạo tâm để tiến dần đến giải thoát.

[14:54]Chữ công trong công đức hàm ý đây là sự cực nhọc, vất vả để thành tựu phước đức. Không thể có công đức nếu chúng ta không vất vả về công lao, không thiệt thòi về sở hữu. Không thể giúp đỡ tha nhân với sự thanh nhàn, dễ dãi, chúng ta phải bận tâm, phải hao tốn, phải mất công nếu chúng ta muốn làm lợi ích cho chúng sinh.

[15:20]Cộng lại tất cả những niềm vui mà ta đã làm được cho chúng sinh, sau đó đem nhân lên vài lần, thì đó sẽ là sự an vui trong tâm chúng ta trong thiền định.

[15:33]Vì vậy, một hành giả tu tập thiền định sẽ phải luôn luôn là người đem an vui cho mọi người trong suốt cuộc sống.

[15:44]Bên cạnh quá trình nỗ lực thực hành các phương pháp tu tập thiền định, hành giả phải siêng năng tạo nhiều phước lành lớn lao, và chính phước lành lớn lao đó sẽ tạo thành kết quả tốt đẹp trong thiền định.

[15:59]Một số người cho rằng muốn có một nội tâm thanh tịnh thì phải tránh duyên, phải quay lưng với cuộc đời. Thật ra, muốn có một nội tâm thanh tịnh, chúng ta phải đối xử tốt với cuộc đời, phải thể hiện được đạo lý trong cuộc đời, chứ không phải thờ ơ với cuộc đời.

[16:22]Một công đức cực kỳ quan trọng khác, đó là công đức lễ kính Phật. Theo luật nhân quả nghiệp báo, có kính thầy mới được làm thầy, vì vậy chúng ta có tôn kính Đức Phật, chúng ta mới có thể thành tựu một số đức tính của Phật, chúng ta mới tăng trưởng đạo hạnh, tiến sâu vào thiền định.

[16:45]Hành giả tu tập thiền định phải sắp xếp thời gian lễ Phật đều đặn mỗi ngày, và lễ với tất cả lòng tôn kính tha thiết của mình.

[16:55]Công đức lễ kính Phật sẽ giữ gìn sự tu hành của chúng ta lâu dài từ kiếp này sang kiếp khác, giữ gìn nhân cách chúng ta ổn định từ đời này qua đời khác.

[17:08]Ngoài ra khi lễ Phật, chúng ta còn phát nhiều lời nguyện để định hướng cho sự tu hành của mình trong vô lượng kiếp về sau. Chúng ta có thể phát nguyện rằng:

[17:22]Xin cho con đủ lòng thương yêu tất cả chúng sinh trong ba cõi sáu đường. Xin cho muôn loài biết thương yêu lẫn nhau. Xin cho con giữ được tâm khiêm hạ, biết tôn trọng mọi người, tự thấy mình như cát bụi, cỏ rác.

[17:42]Xin cho con giữ vững sự tinh tấn không dừng nghỉ, đến lúc thành tựu đạo quả viên mãn, để con mãi mãi hóa độ chúng sinh về với Phật đạo.

[17:56]Ba, khí công.

[18:01]Nền tảng thứ ba của thiền định là khí công. Khí công là phương pháp tập luyện với mục đích tạo thành sức mạnh tiềm tàng bên trong cơ thể.

[18:14]Khí công đưa đến sự tích chứa sức mạnh lắng xuống vùng bụng dưới, đan điền, và như vậy khiến cho phần trên đầu trở nên thanh thản, nhẹ nhàng và mạnh mẽ.

[18:27]Đây là điều độc đáo của y học Đông phương: một cơ thể ổn định phải có lực lắng xuống dưới và rỗng ở trên.

[18:37]Đó là nguyên tắc của khí công, là một sự hỗ trợ lớn cho công phu thiền định.

[18:45]Tuy nhiên hiện nay, có rất nhiều phương pháp luyện tập khí công tùy theo dòng phái võ thuật.

[18:53]Có những phương pháp dễ gây nguy hiểm dù hiệu quả lớn, và có những phương pháp ít nguy hiểm dù hiệu quả thấp.

[19:04]Chúng ta không cần phải đi quá sâu vào các phương pháp đó, chỉ sử dụng một phần nhỏ căn bản để tạo tiềm lực bên dưới, nhằm hỗ trợ cho việc tu tập thiền định mà thôi.

[19:18]Ở đây chúng tôi giới thiệu bốn thế khí công căn bản, ít phức tạp, xem như là bốn thế tập thể dục, nhưng lại có tác dụng tạo tiềm lực cho công phu thiền định.

[19:31]Thế thứ nhất gọi là chuyển Nhâm Đốc. Hành giả đứng thẳng, hai chân dang ra vừa ngang vai,

[19:41]bắt đầu thở song song với việc cúi gập người xuống, hai tay buông thẳng xuống đất theo cái đầu đang cúi xuống. Xong bắt đầu hít vào, song song với việc đứng thẳng lên và ngả người ra sau, để cho lưng uốn cong ra sau như động tác uốn dẻo.

[20:03]Lúc ngả người ra sau là lúc đang giữ hơi, nín thở. Đó là một lần. Lặp lại bằng cách thở ra cùng lúc với việc cúi gập người xuống. Tốc độ của động tác thì thong thả, phù hợp với hơi thở.

[20:20]Thế thứ hai gọi là tích nội lực. Hành giả chống hai tay ngang hông, dang hai chân ra vừa ngang vai, bắt đầu thở ra và thả người rơi nhẹ nhàng xuống, trong khi giữ cho lưng vẫn thẳng, hai chân giữ tấn vững chắc.

[20:39]Tư thế giống như ngồi xổm xuống, nhưng thật ra mông vẫn chưa rơi xuống hết, vẫn kềm lại một chút. Bắt đầu hít đầy hơi, phình bụng ra, rồi từ từ đứng dậy, vừa giữ hơi ở bụng. Lúc đứng dậy phải giữ lưng vẫn thẳng đứng, không bị chồm tới trước.

[21:00]Khi đứng thẳng rồi, còn nhón chân thẳng thêm và thắt hậu môn lại, sau đó mới thở ra và gieo mình rơi xuống như cũ. Đây là thế quan trọng nhất để tích lũy nội lực.

[21:18]Thế thứ ba gọi là Hòa Khí. Hành giả đứng giang hai chân vừa ngang vai, hơi chùng thấp một chút. Bắt đầu hít hơi vào song song với việc bắt đầu quay hai cánh tay từ dưới lên từ sau lưng.

[21:36]Khi hai tay lên đến đỉnh đầu thì bắt đầu thở ra, và tay cũng đang quay xuống phía trước mặt. Khi hai tay xuống dưới thấp nhất thì lại bắt đầu hít vào và hai tay lại quay lên trên. Cần để ý là khi hai tay đang quay lên, đang hít vào, hai bàn tay rũ hết xuống.

[21:57]Còn khi hai tay chuyển quay xuống, đang thở ra thì hai bàn tay lại uốn lên. Thế này làm khí huyết lưu thông, kinh huyệt khai thông.

[22:11]Thế thứ tư gọi là Luyện Thần.

[22:16]Hành giả đứng trung bình tấn, hai chân giang vừa vai thấp xuống, ai đứng càng thấp càng tốt, chỉ sợ đứng thấp quá thì không đứng lâu được.

[22:28]Hai bàn tay để ngửa ngang hông. Hành giả bắt đầu hít vào đầy bụng dưới rồi nín giữ hơi lại. Trong thời gian giữ hơi như thế, hai bàn tay bắt đầu quay đối xứng với nhau, cùng mặt phẳng thẳng góc với hông. Hai bàn tay giữ cho mở, thẳng và phẳng.

[22:50]Mặt phẳng để cho hai bàn tay quay thì vuông góc với trục lưng và cắt tại eo hông.

[22:58]Vòng tròn quay của mỗi bàn tay có đường kính khoảng bốn tấc. Bàn tay trái quay theo chiều kim đồng hồ, bàn tay phải quay ngược chiều kim đồng hồ.

[23:11]Khi quay tưởng tượng như trên hai bàn tay có hai cục lửa nóng hổi.

[23:18]Quay khoảng ba hoặc bốn vòng thì rút tay về để ở hông và thở ra.

[23:25]Khi hít vào nín thở và bắt đầu quay lại.

[23:30]Chỉ khi nín thở mới được quay, còn khi đang hít vào hoặc thở ra thì tay để yên ở hông.

[23:38]Thế này làm tinh thần mạnh lên, nhưng phải có các thế trước hỗ trợ. Nếu không có các thế trước thì tập thế thứ tư dễ bị stress. Phần ba:

[23:57]Phương pháp tọa thiền.

[24:01]Điều thân. Nên tập thiền ở nơi yên tĩnh, vắng vẻ, không người nhìn thấy, vì nếu ngồi thiền bị nhìn thấy thì chúng ta bị tổn phước, khó tu tiến về sau.

[24:16]Chỗ ngồi là một mặt phẳng như mặt nền, mặt giường, có lót một tấm vải, tấm nệm mỏng gọi là tọa cụ, không kê một cái gối nơi mông.

[24:29]Phải giữ cho từ mông đến đầu gối là một mặt phẳng liên tục. Nếu kê gối thì từ mông đến gối không còn phẳng nữa.

[24:40]Tránh ngồi chỗ có gió lùa, nhất là lùa sau lưng làm dễ bệnh.

[24:49]Trước khi ngồi thiền nên lễ Phật cầu sự gia hộ, vì thiền định là cả một quá trình phức tạp, tinh vi mà cá nhân mỗi người không thể tự đảm đương hết được.

[25:05]Chính sự gia hộ âm thầm của chư Phật sẽ hỗ trợ hành giả qua những giai đoạn khó khăn.

[25:14]Không ai được kiêu mạn tự cho mình sẽ nắm vững mọi điều, dù rất nỗ lực chúng ta vẫn khiêm hạ nép mình trong sự thương yêu và gia hộ của chư Phật.

[25:28]Nên mặc quần áo rộng thoáng, nới dây lưng quần. Trong phòng ánh sáng vừa phải, không bị gió lùa.

[25:39]Nên ngồi với tư thế kiết già hơn là bán già, vì lâu dài về sau tư thế kiết già giữ tâm yên ổn, vững chắc hơn.

[25:50]Thân được khóa chặt sẽ giúp cho tâm được ổn định. Ngồi, chân trái vắt lên đùi chân phải trước, sau đó bắt chân phải vắt chéo lên đùi trái.

[26:05]Có những người chân còn cứng, chưa thể bắt chân lên dễ dàng thì phải tập luyện bằng cách xoa nắn, bẻ uốn trước khi bắt lên.

[26:16]Lúc mới bắt lên kiết già thường đầu gối bên phải sẽ hơi bị nhích lên một chút, không sát xuống tọa cụ liền, nhưng ngồi lâu thì sẽ sát xuống.

[26:31]Có những người quen bắt chân phải lên trước, bắt chân trái lên sau, chúng ta cũng chưa nghe có sự thống kê về tai hại gì xảy ra cả.

[26:47]Khi đã ổn định tư thế, hành giả chắp tay niệm Phật, phát nguyện cầu gia hộ rồi để hai tay xuống.

[26:57]Thường thì bàn tay phải để ở dưới, bàn tay trái để ở trên.

[27:03]Giữ lưng thẳng, nhưng đừng ưỡn quá sẽ làm căng thẳng đầu.

[27:09]Đừng để lưng chùng cong sẽ làm yếu đuối tinh thần.

[27:15]Giữ hai vai xuôi đều, ngang bằng.

[27:19]Giữ mắt mở rõ nhìn xuống.

[27:23]Giai đoạn đầu tuyệt đối không được nhắm mắt vì sẽ gây mê mờ. Giai đoạn đầu là giai đoạn tích lũy sự tỉnh giác cao độ trước khi vào định, vì vậy hành giả phải mở mắt.

[27:39]Sau này tâm đã tỉnh giác cao độ và yên tĩnh thì mới được nhắm mắt.

[27:46]Mắt mở nhìn xuống một chỗ ổn định, nháy mắt bình thường, mặc dù tự nhiên sẽ ít nháy.

[27:55]Tuy nhìn một chỗ nào đó phía trước nhưng hành giả không chú ý đến chỗ đó, vì tâm hành giả bận lo dụng công bên trong.

[28:07]Mỗi lần tập như vậy phải tập ít nhất 30 phút, đừng kém hơn, càng về sau thì tăng lên dần dần.

[28:20]Dưới đây là những nguyên tắc vàng cho công phu điều thân của thiền. Thứ nhất:

[28:30]Biết rõ toàn thân.

[28:33]Hành giả nhẹ nhàng biết rõ khắp thân thể của mình, từ mình mẩy, chân tay, biết cùng một lúc khắp thân chứ không phải biết rõ từng bộ phận dần dần.

[28:49]Nên biết nhiều ở phía dưới hơn là biết trên đầu.

[28:56]Công phu biết rõ toàn thân này phải gìn giữ suốt đời, dù hành giả đã bước sang những giai đoạn khác. Thứ hai: Giữ thân ngồi đúng tư thế và đẹp.

[29:13]Trong khi biết rõ toàn thân, hành giả kết hợp kiểm soát thân đúng tư thế, giữ lưng luôn luôn thẳng, hai vai xuôi đều, đầu không bị nghiêng, hai cánh tay hơi khuỳnh ra xa eo, không để hai tay ép sát hông. Thứ ba:

[29:34]Giữ thân mềm mại và bất động. Trong khi biết rõ toàn thân, hành giả khéo léo giữ thân mềm mại, không một thớ thịt nào bị gồng cứng, không một ngón tay ngón chân nào bị gồng cứng, bộ phận nào cũng thư giãn nhẹ nhàng, không căng thẳng.

[29:54]Tuy nhiên, hành giả cũng giữ cho không một thớ thịt nào, không một ngón tay ngón chân nào bị nhúc nhích. Vừa mềm mại vừa bất động là tiêu chuẩn quan trọng trong việc điều thân.

[30:12]Trong giai đoạn đầu tu tập thiền định, chúng ta chỉ nên tu tập điều thân mà thôi, không nên thực hành qua những phương pháp khác vội.

[30:24]Giai đoạn tu tập điều thân như vậy có khi kéo dài ba, bốn tháng, điều thân càng kỹ chừng nào thì sau này dễ nhiếp tâm chừng nấy.

[30:35]Ở giai đoạn điều thân, chúng ta không có ý diệt trừ vọng tưởng.

[30:42]Mỗi khi có vọng tưởng khởi lên, chúng ta quay lại biết rõ toàn thân, điều chỉnh thân đúng tư thế, giữ thân mềm mại, bất động là tự nhiên vọng tưởng sẽ tắt.

[30:55]Khi chúng ta quên, khi bị thất niệm, vọng tưởng dẫn chúng ta đi theo. Nhưng khi sực tỉnh, có lại chánh niệm, chúng ta chỉ cần tác ý điều thân đúng ba bước là tự nhiên vọng tưởng mất.

[31:13]Nhưng cái mấu chốt của vấn đề lại nằm ở chỗ: Tại sao chúng ta bị quên, không còn nhớ để giữ chặt công phu điều thân liên tục? Rồi tại sao chúng ta lại sực tỉnh để lật đật tác ý điều thân trở lại? Xin thưa: Chính phước đã chi phối sự tỉnh giác của chúng ta, chính đạo đức đã chi phối sự tỉnh giác của chúng ta, chính tiềm lực khí công đã chi phối sự tỉnh giác của chúng ta.

[31:44]Như trước đã nói, thiền định được đặt trên ba nền tảng quan trọng: Công đức, đạo đức và khí công.

[31:54]Nếu ba cái căn bản này vững vàng, chúng ta dễ có sự tỉnh giác thường xuyên để thoát khỏi vọng tưởng, biết rõ vọng tưởng, tách ra khỏi vọng tưởng và hóa giải vọng tưởng.

[32:12]Thật ra công phu biết rõ toàn thân lâu dài cũng làm tăng sức tỉnh giác rất nhiều để chuẩn bị cho tâm vào định.

[32:22]Trong công phu thiền định, sức tỉnh giác là điều cực kỳ quan trọng, là bước ban đầu phải đạt được trước khi thành tựu sức định.

[32:33]Nếu chưa thành tựu sức tỉnh giác, chúng ta không thể vào chánh định. Có một vài người khi ngồi thiền, dù chưa có tỉnh giác nhiều, vẫn được tâm lắng yên. Cái tâm yên lắng mà chưa có tỉnh giác nhiều sẽ không tiến xa trên chánh định và dễ bị ảo tưởng về sau.

[32:58]Điều tâm.

[33:02]Sang giai đoạn kế này, sau khi tâm có sức tỉnh giác rồi, chúng ta sẽ xuất hiện hai sự dụng công cùng lúc: hơi thở và tâm.

[33:13]Nhưng chúng ta sẽ trình bày lần lượt, vì không thể nói hai cái cùng lúc. Trước hết, chúng ta đi vào phép quán của tâm, làm nhân cho sự giác ngộ về sau.

[33:29]Thứ nhất, trong khi đang biết rõ toàn thân, chúng ta thỉnh thoảng nhắc thầm trong tâm: thân này là vô thường, tâm này là vô ngã.

[33:44]Ý nghĩa của thân vô thường, tâm vô ngã là điều chúng ta đã thấm nhuần, hiểu rõ, nên lúc ngồi thiền không cần phân tích lại, chỉ thỉnh thoảng nhắc thầm mà thôi. Chúng ta đã hiểu rằng thân này rồi sẽ chết, sẽ vùi sâu dưới lòng đất lạnh.

[34:03]Sau khi chết, thân này sẽ sình trương, mục rã, giòi bọ đục khoét. Lâu ngày thịt sẽ phân hủy, xương sẽ tan thành bột tro lẫn vào đất. Thân không tồn tại mãi, đó là chân lý muôn đời. Vì thế, tuy còn sống phải sử dụng thân này, chúng ta không tôn thờ cái thân sẽ bị mục nát này,

[34:28]mà biết xem thân này như một công cụ tạm thời để tu và để làm những điều ích lợi cho tha nhân.

[34:38]Chúng ta hiểu rằng tâm này chỉ là một mớ ý niệm hỗn độn. Mớ ý niệm hỗn độn đó quay cuồng và bện chặt đến nỗi giống như có một cái bản ngã trung tâm ở trong.

[34:52]Nhưng thật sự không hề có một bản ngã nào nằm sâu bên trong cả. Khi nào tất cả ý niệm dừng lại, cái ảo giác về ngã cũng tan biến theo.

[35:04]Vì vậy, bây giờ tuy chúng ta nhìn, nghe, biết, suy nghĩ, vân vân, nhưng bên trong sâu không hề có một cái bản ngã trung tâm nào cả.

[35:19]Chúng ta hiểu thân vô thường, tâm vô ngã kỹ lưỡng, thấm nhuần.

[35:26]Chúng ta suy nghiệm về thân vô thường, tâm vô ngã đến thấu đáo. Và khi thiền định thì chỉ khẽ nhắc thầm thỉnh thoảng mà thôi, chứ không suy nghĩ, quán sát nhiều.

[35:42]Những lần nhắc thầm như thế là ta gieo nhân giác ngộ về sau. Giác ngộ là trí tuệ, nên đòi hỏi một cái nhân của trí tuệ.

[35:53]Và ý niệm về thân vô thường, tâm vô ngã là trí tuệ cần và đủ cho sự giác ngộ như thế.

[36:03]Hãy nhớ, ý niệm về thân và tâm như thế là cần và đủ, đừng nghe ai xúi quán thêm nhiều thứ rắc rối khác.

[36:15]Tâm lý con người luôn thích bày thêm chuyện, có khi cái bày thêm đó là hay, nhưng cũng có khi cái bày thêm đó là bậy, chúng ta phải cảnh giác.

[36:28]Biết rõ về tâm.

[36:32]Sức tỉnh giác của tâm phát triển mạnh một cách tự nhiên không dằn ép, hành giả sẽ có khả năng biết rõ nội tâm của mình một cách rõ ràng, sâu sắc.

[36:44]Đó là khả năng kiểm soát tâm của người tu thiền.

[36:49]Người có khả năng kiểm soát tâm cao độ sẽ phát hiện thấy vọng tưởng từ khi vọng tưởng còn trong thầm kín, do đó vọng tưởng sẽ tắt luôn dù chưa phát khởi rõ ràng.

[37:03]Người kém hơn một chút thì cũng nhanh chóng thấy được vọng tưởng ngay khi vọng tưởng mới khởi lên để rồi hóa giải lập tức, buông bỏ lập tức.

[37:14]Nhìn sâu vào nơi xuất phát vọng tưởng, ta thấy mầm mống vọng tưởng bắt đầu từ vùng não phía sau óc, nơi tiếp giáp giữa đại não và tiểu não.

[37:27]Đó cũng là vùng bắt đầu của ngôn ngữ, nơi đó ý niệm được chuyển thành ngôn ngữ để phát ra ý thức.

[37:36]Nếu ta thấy được vọng tưởng từ khi mới nhốm nhẹ ở đó, vọng tưởng sẽ tắt ngay, và như vậy tâm sẽ khá yên lắng.

[37:48]Đây cũng là bức tranh chăn trâu thứ năm của Thiền tông, vẽ hình đứa bé mục đồng dắt con trâu chỉ có cái đầu.

[37:56]Hình không vẽ toàn thân trâu, ý nói vọng tưởng không còn trọn vẹn nữa, đã bị dập tắt ngay từ đầu.

[38:06]Những người kém hơn vẫn có thể thường xuyên kiểm soát tâm mình để hóa giải kịp thời, dù vọng tưởng hiện ra hơi rõ.

[38:16]Nhờ sức tỉnh giác, hành giả luôn luôn thấy được nội tâm của mình, đó là điểm quan trọng của chánh niệm tỉnh giác.

[38:26]Nhờ luôn luôn kiểm soát được nội tâm của mình, hành giả bắt đầu củng cố đạo đức rất sâu.

[38:34]Những tâm niệm bất thiện như giận hờn, ganh ghét, đố kỵ, hơn thua, ích kỷ, tham lam, chia rẽ, kiêu mạn, vân vân, bị đánh giá, phê phán nhanh chóng và bị tiêu diệt luôn.

[38:47]Chúng ta đánh giá mức độ chánh niệm tỉnh giác của một người thông qua đạo đức của người đó. Đạo đức càng cao có nghĩa là chánh niệm càng vững. Người tu thiền chân chính là người đã huân tập đạo đức từ buổi đầu, nhưng đến khi thành tựu chánh niệm tỉnh giác thì đạo đức đó còn thăng tiến nhiều lần nữa.

[39:10]Nếu người nào tu thiền mà không phát triển đạo đức thì có nghĩa là đường lối người đó chưa chuẩn, cần phải xem xét lại.

[39:22]Tuy nhiên, nếu hành giả cứ mãi lo để ý trên đầu để kiểm soát vọng tưởng thì tiềm lực sẽ chạy lên trên làm mất quân bình cơ thể.

[39:34]Chúng ta phải nhớ nguyên tắc vàng là: lực lắng xuống dưới, phần trên đầu phải rỗng.

[39:41]Việc cứ mãi lo để ý trên đầu sẽ làm lực chạy lên trên, lâu ngày dẫn đến nhiều tai hại khác.

[39:50]Vì thế, dù cần phải kiểm soát tâm, nghĩa là để ý bộ não, chúng ta vẫn phải không quên biết rõ toàn thân, nhất là vùng bụng dưới, đan điền và hai chân, để cho tiềm lực của cơ thể vẫn lắng xuống dưới.

[40:09]Chánh niệm trong đời sống.

[40:13]Đang nói chuyện ngồi thiền, chúng ta phải tạm nói qua chánh niệm trong đời sống vì có liên quan mật thiết.

[40:22]Trong kinh điển Nikaya, Đức Phật dạy rằng với chánh niệm tỉnh giác, một Tỳ-kheo khi đi biết đi, khi đứng biết đứng, khi ngồi nằm biết ngồi nằm, khi ăn uống nhai nuốt, khi đắp y mang bát đều biết rõ ràng.

[40:39]Thật vậy, từ khi hành giả thành tựu chánh niệm tỉnh giác, mọi hành động của cơ thể đều được biết rõ, đều được kiểm soát rõ. Nên oai nghi, tư cách, phong thái của người tu thiền trở nên đĩnh đạc, đàng hoàng.

[40:58]Tuy nhiên, cũng có người hiểu lầm đoạn kinh trên, cho rằng hành giả phải cố ý theo dõi chặt chẽ mọi cử chỉ của mình. Sự cố ý như thế sẽ làm tâm căng thẳng, mệt mỏi.

[41:13]Ở đây, hành giả chỉ lo biết nội tâm và biết toàn thân một cách nhẹ nhàng, rồi tự nhiên mọi hành vi cử chỉ đều được biết rõ, được kiểm soát rõ.

[41:27]Cái biết mọi cử chỉ đó rất nhẹ nhàng, tự nhiên, không căng thẳng, cố ý. Người tu đến giai đoạn này, dù ở trong phòng một mình, dù ở nơi vắng vẻ, vẫn giữ oai nghi, tư thế đẹp đẽ, nghiêm trang.

[41:45]Mỗi cánh tay, bàn chân đều được sắp xếp đúng chỗ thích hợp, không dư thừa, cẩu thả.

[41:53]Ngay cả khi phải tiếp chuyện với người khác, hành giả vẫn thường xuyên biết rõ thân và tâm của mình dù bên ngoài miệng vẫn đang nói năng gì đó.

[42:04]Cái hay của người tu thiền là nhờ có an trú pháp tu bên trong, nên không bị ngoại cảnh lôi cuốn, tâm được thanh thản, bình an.

[42:20]Bạch Thầy, tại sao sự dụng công của thiền không đơn giản mà lại có vẻ phức tạp dần như vậy?

[42:29]Chúng ta hãy nghĩ lại quá trình tập đi xe đạp, và sẽ hiểu tương tự.

[42:36]Ban đầu mới tập đi xe đạp, chúng ta chỉ lo giữ thăng bằng để không bị té. Về sau khi đã giữ thăng bằng được rồi, thì chúng ta lại tập thêm cách điều khiển nhanh chậm cho khéo. Kế đến là biết cua quẹo, dùng thắng phanh cho nhuần nhuyễn. Được rồi, lại tập để ý đúng luật đi đường, tập thích ứng với tình trạng hòa chung với các xe khác trên đường công cộng. Xong rồi, lại có khi vừa đi vừa nói chuyện với người ngồi đằng sau, hoặc có thể giơ tay chào người quen gặp bất ngờ trên đường.

[43:15]Có khi vừa đi vừa hát, hoặc lẩm nhẩm học bài thi tiếng Anh sắp tới, vân vân. Thiền cũng vậy, càng về sau càng phức tạp hơn, nhưng thật ra lại giúp tâm an định hơn, dễ chịu hơn.

[43:32]Hơi thở.

[43:37]Hơi thở là vấn đề rất quan trọng của thiền định. Không thể tu thiền mà không biết vấn đề hơi thở. Không nắm vững hơi thở, chúng ta không thể tiến xa vào định được.

[43:51]Tuy nhiên, hơi thở có nhiều loại, nhiều cách, nhiều giai đoạn, buộc chúng ta phải thấu đáo tường tận để không bị trở ngại về sau.

[44:01]Thứ nhất, hơi thở bụng. Hơi thở bụng là hơi thở căn bản của khí công, và như vậy, nó cũng là hơi thở căn bản của thiền định.

[44:16]Thay vì chỉ hít hơi đầy ngực một cách hời hợt, vô ý thức, hành giả sẽ hít hơi đầy bụng một cách có ý thức rõ ràng,

[44:27]nhưng vẫn phải nhẹ nhàng, không dằn ép. Sẽ có người thắc mắc là theo khoa học, hơi thở chỉ đi vào hai buồng phổi, làm gì có chuyện hơi thở xuống tới bụng.

[44:41]Nếu thấy hơi thở xuống bụng thì chỉ là tưởng tượng mà thôi.

[44:48]Thật ra theo y học Đông phương, tồn tại hai loại khí: Một là khí trời để thở bình thường, hai là nguyên khí, là loại khí mịn hơn, theo tâm và theo hơi thở để lưu chuyển trong cơ thể.

[45:05]Người luyện khí công thuần thục sẽ thấy nguyên khí là điều rất thật, không phải chuyện tưởng tượng, vì từ nguyên khí này người ta có thể làm nhiều chuyện phi thường. Để tập hơi thở bụng, hành giả thực hành như sau: Hít vào nhẹ nhàng cùng lúc phình bụng ra, thở ra nhẹ nhàng cùng lúc hóp bụng lại.

[45:31]Phình hay hóp bụng khe khẽ ít ít thôi, không nhiều quá. Hơi thở chỉ đi phớt phớt ngoài da, không đi sâu trong xương thịt, không được tác ý kéo hơi thở xuống sâu phía dưới vì sẽ làm bế tắc, hoang ngại, khó chịu. Chỉ để hơi thở tràn đầy ra phía trước, phình ra phía trước.

[45:54]Khi hơi thở đã tràn đầy nơi vùng đan điền rồi thì hơi thở sẽ tự nhiên tràn xuống dưới mà hành giả không cần phải cố ý kéo xuống.

[46:06]Ban đầu hành giả tập thở bụng đơn giản như vậy, đừng đòi thêm cái gì rắc rối khác.

[46:14]Cứ việc hít vào thì phình bụng ra, thở ra thì hóp bụng lại, nhẹ nhàng, thong thả.

[46:22]Cái biết của tâm để ý nhiều hơn tại vùng bụng dưới, tự nhiên hơi thở cũng theo xuống dưới. Đừng tác ý kéo hơi thở xuống, chỉ cần biết ở đâu là hơi thở sẽ đi theo đó, biết ở dưới bụng, hơi thở sẽ chạy tới bụng.

[46:44]Hơi thở của thiền.

[46:48]Sau một thời gian vài tháng tập hơi thở bụng thuần thục, thấy thông suốt, dễ chịu, hành giả bắt đầu chính thức chuyển qua hơi thở của thiền.

[47:00]Chúng ta phân biệt ba loại hơi thở:

[47:05]Hơi thở của tưởng ấm, hơi thở của hành ấm, và hơi thở của thức ấm.

[47:16]Hơi thở của tưởng ấm nghĩa là khi thở có thêm sự tưởng tượng, ví dụ như có người tưởng tượng hơi thở nóng, hơi thở lạnh, hơi thở đi ngoài da, hơi thở tràn khắp cơ thể, hơi thở đi vòng cơ thể theo vòng chu thiên thẳng đứng từ trước ra sau.

[47:38]Hơi thở của hành ấm là hơi thở có tác ý điều khiển, ví dụ có người chủ động điều khiển hơi thở đi xuống, điều khiển hơi thở dài, điều khiển hơi thở ngắn, điều khiển hơi thở mạnh, điều khiển hơi thở yếu, vân vân.

[47:56]Hơi thở của thức ấm là hơi thở không có tưởng tượng, không có điều khiển, chỉ có nhẹ nhàng biết rõ mà thôi.

[48:07]Hãy nhớ rằng, dù ta không cố ý thở, cơ thể ta vẫn tự thở, kẻo không nó chết. Cơ thể luôn luôn tự phải thở dù ta không để ý đến việc thở.

[48:21]Ở đây, ta lặng lẽ biết rõ hơi thở mà không hề điều khiển hơi thở.

[48:27]Có khi hơi thở dài, có khi hơi thở ngắn, có khi hơi thở chậm, có khi hơi thở nhanh, có khi hơi thở mạnh, có khi hơi thở yếu, ta chỉ biết mà không can thiệp.

[48:43]Hơi thở chưa đều là do bên trong tâm sâu kín còn động. Nhờ hơi thở của thức ấm mà bên trong sẽ bớt động và tự nhiên hơi thở sẽ đều dần.

[48:58]Dấu hiệu của một hơi thở thuần thục là chậm và ít. Hơi thở không đi nhanh là chậm, luồng hơi thở không lớn là ít. Hơi thở chậm và ít làm cho tâm được chuyển hóa rất tốt, ngược lại hơi thở nhanh và nhiều sẽ làm cho tâm loạn động.

[49:19]Hơi thở của tưởng ấm và hơi thở của hành ấm tuy có thể giúp nhiếp tâm ban đầu, nhưng nuôi dưỡng bản ngã và không đưa vào định sâu.

[49:31]Người dùng hai loại hơi thở này lâu ngày vẫn còn nổi sân và kiêu mạn, vì bản ngã không dứt trừ được.

[49:40]Chỉ có hơi thở của thức ấm mới là hơi thở thực sự của thiền, giúp làm nhẹ bản ngã và đưa vào định sâu dần về sau.

[49:51]Với hơi thở này, hành giả dễ thoát khỏi các phiền não bất thiện vì bản ngã được hóa giải tốt hơn.

[50:01]Nhưng hãy nhớ một điều quan trọng, dù đang để ý hơi thở, hành giả vẫn phải biết rõ toàn thân và vẫn biết nhiều hơn ở phía dưới, vì cái biết rõ toàn thân vô cùng quan trọng, vô cùng lợi ích.

[50:18]Đó là công phu mà ta phải giữ gìn suốt đời tu tập.

[50:27]Không riêng gì biết rõ toàn thân, song song với việc theo dõi hơi thở, hành giả phải đồng thời kiểm soát vọng tưởng,

[50:37]lại thỉnh thoảng vẫn phải nhắc chừng: Thân này vô thường, tâm này vô ngã.

[50:49]Bạch Thầy, khi nào thì hành giả mới bắt đầu nhắm mắt được?

[50:56]Sau một thời gian tu tập, hành giả tự thấy tâm khá yên tĩnh, rất tỉnh giác, thử nhắm mắt vẫn thấy tâm rỗng rang, sáng tỏ, không bị mê mờ,

[51:09]lúc đó hành giả có thể bắt đầu nhắm mắt để ngồi thiền được rồi, nhưng phải cẩn thận. Có khi tâm chưa đủ tỉnh giác mà hành giả đã vội nhắm mắt thì rất tai hại, vì sẽ không thành tựu sức tỉnh giác đủ cần thiết cho quá trình thiền định về sau.

[51:30]Hơi thở cao cấp. Sau một thời gian dài thuần thục hơi thở của thức ấm, hành giả có thể tiến lên hơi thở cao cấp hơn của thiền. Đây cũng là hơi thở ba thì mà ta vẫn hay nghe nói, tuy nhiên có vài điểm khác nho nhỏ.

[51:51]Hơi thở này có thêm thời gian dừng, giữ hơi thở sau khi hít vào.

[51:59]Khi hơi thở vào, hơi thở ra thì vẫn giống như hơi thở thức ấm, nghĩa là chỉ biết chứ không điều khiển.

[52:09]Nhưng lúc hơi thở vào đầy thì ta dừng lại, giữ hơi thở lại khoảng 5 giây, sau đó thả cho hơi thở tự nhiên đi ra nhẹ nhàng.

[52:21]Lúc dừng hơi thở là lúc phải biết rõ toàn thân cho kỹ, nhắc lại, đây là điểm quan trọng,

[52:29]lúc dừng hơi thở phải biết rõ toàn thân kỹ càng. Sức mạnh tâm linh từ đây mà phát sinh, sự tỉnh giác vi diệu từ đây mà hình thành.

[52:42]Hành giả không được hấp tấp thực hành hơi thở cao cấp vội vã vì có thể gặp biến chứng như căng thẳng, mệt tim, vân vân. Chỉ khi nào rất thuần thục hơi thở thức ấm mới chuyển qua hơi thở ba thì cao cấp này. Nếu thấy khó chịu thì phải lui lại hơi thở thức ấm như cũ.

[53:06]Tuy nhiên, dù ở giai đoạn nào, hành giả vẫn phải thỉnh thoảng nhắc thầm: Thân này là vô thường, tâm này là vô ngã, vì đó là chánh nhân để giác ngộ về sau.

[53:27]Phần 4: Một số trạng thái thường gặp.

[53:35]Hành giả sẽ hay gặp một số trạng thái khi thực hành thiền định nếu dụng công sai lầm, và cũng sẽ gặp một số trạng thái khác nếu dụng công chính xác, tiến bộ.

[53:50]Căng thẳng đầu. Nguyên nhân là do dằn ép, muốn vào định một cách vội vã khi chưa đủ công đức và chưa đủ sự thuần thục dụng công các bước đi cần thiết.

[54:07]Khi dằn ép như thế, hành giả giống như đang gồng bộ não của mình. Gồng bộ não làm cho lực chảy lên rất lẹ và phá vỡ cấu trúc về nguyên tắc lực của cơ thể là ở dưới phải đầy, ở trên phải rỗng.

[54:25]Nếu xuất hiện trạng thái này, hành giả phải nhanh chóng buông bỏ sự dằn ép. Một nguyên nhân khác nữa là có thể hành giả đã lỡ khoe khoang sự tu hành của mình cho nhiều người biết, hoặc một nguyên nhân còn nguy hiểm hơn là hành giả khởi tâm kiêu mạn, tự cho mình là cao siêu, là hơn người, là gần với thánh vị.

[54:51]Nguyên nhân kiêu mạn thì có thể làm cho hành giả bị điên luôn, chứ không phải chỉ căng thẳng sơ sơ.

[55:02]Ngứa như có con gì bò trên mặt.

[55:08]Giai đoạn đầu, hành giả có thể bị cảm giác ngứa như có mấy con gì bò, cắn trên mặt. Đó là dị ứng thần kinh da mặt ban đầu khi có sự dụng công muốn cho tâm yên tịnh đảo ngược lại thói quen loạn động từ trước.

[55:26]Ai bắt đầu tọa thiền cũng đều có cảm giác này, nhưng đừng gãi, không lâu sẽ hết.

[55:37]Mồ hôi ra nhiều. Giai đoạn đầu, tiềm lực chưa lắng xuống dưới, hành giả còn cố gắng nên đầu còn vận động khiến cho lực chảy lên và mồ hôi đổ ra nhiều.

[55:51]Sau này công phu ổn định, mồ hôi sẽ ít ra, nhất là khi có định thì mồ hôi càng ít ra hơn nữa.

[56:00]Thấy thân mình lớn ra. Đó là do trong tâm, hay rõ hơn là do trong não còn dằn ép.

[56:10]Có khi hành giả thấy thân mình lớn ra, có khi thấy thân mình nhỏ lại, có khi thấy thân mình nặng trịch, có khi thấy thân mình nhẹ lâng lâng, có khi thấy thân mình dao động, lắc lư, vân vân. Tất cả đều do có dằn ép đánh nhau với vọng tưởng. Riêng trường hợp thấy thân mình nhẹ lâng lâng thì có hai loại: một là do còn vọng tưởng và dằn ép, hai là do bắt đầu vào định.

[56:39]Khi bắt đầu vào định, hành giả cũng thấy thân mình nhẹ nhàng, nhưng cái cảm giác nhẹ nhàng khi tâm vào định khác rất xa so với cái cảm giác nhẹ lâng lâng khi dằn ép.

[56:53]Hành giả phải nhanh chóng chấm dứt sự dằn ép và có khi phải lắc người vài cái để xua tan những ảo giác kể trên, vì để lâu có khi bị điên luôn.

[57:08]Cứng thân, mất thân. Có người ngồi thiền thấy thân như cứng lại giống khúc gỗ. Đó là do tâm có yên nên diệu dụng trong vô thức phát ra khiến thân có cảm giác cứng lại.

[57:25]Cảm giác đó nhiều thì thân cũng khỏe hơn, nhưng đừng chấp, chấp lâu cũng thành bệnh. Có người ngồi thiền thấy thân như không còn, không biết ở đâu. Đó cũng là do tâm có yên, vô thức phát ra cảm giác lạ kỳ như vậy. Cảm giác đó cũng làm tăng trưởng đạo đức hơn. Có người ngồi thiền thấy thân như lơ lửng ở trên không, mặc dù thật sự thân vẫn ở dưới sàn. Đó cũng là do tâm có yên nên vô thức phát ra ảo giác. Đừng chấp để vô thức không đưa ra ảo giác nữa.

[58:05]Thấy ánh sáng dịu dàng ở phía trước.

[58:10]Có khi ngồi thiền tâm được yên, hành giả thấy như có một vầng ánh sáng ở trên đầu hay ở trước mắt hay ở giữa hai lông mày.

[58:19]Đó là do tâm bắt đầu có yên lắng, nhưng trong tâm sâu vẫn còn hơi dằn một chút. Hành giả không nên thích thú mà cứ chiêm ngưỡng hào quang đó hoài sẽ gây thành bệnh về sau.

[58:34]Nên lắng tâm nhẹ nhàng với tác ý tắt ánh sáng đó. Cái sáng của tâm thanh tịnh thì rỗng rang, không màu sắc, không hình ảnh, chứ không phải loại ánh sáng có màu sắc hay hình ảnh.

[58:50]Nghe tiếng nói lạ bên tai. Có khi đang ngồi thiền, hành giả nghe tiếng ai nói bên tai. Lúc đó hành giả đã mở một cửa cho các vong linh siêu hình đến tiếp cận.

[59:06]Có người không bị nguy hiểm từ sự tiếp cận đó, vẫn sống và hoạt động bình thường,

[59:14]nhưng phần lớn nhiều người bị xáo trộn tâm trí, rối loạn tâm thần.

[59:21]Vì thế, hay nhất là đừng để tiếng nói tồn tại, hãy dứt khoát gạt bỏ, không chấp nhận.

[59:30]Hành giả phải lễ Phật sám hối, giữ gìn sự tu hành kín đáo không khoe khoang.

[59:37]Tận trong thâm tâm cũng không được cho mình hay, giỏi.

[59:43]Dù không nói ra, nhưng âm thầm tự nghĩ mình hay cũng bị tổn phước nặng nề.

[59:52]Hơi nóng. Khi ngồi thiền mà thân hình tỏa ra hơi nóng đều khắp, thấy khoan khoái, dễ chịu là tốt.

[1:00:04]Nhất là hơi nóng xuất hiện ở hai lòng bàn chân, hai lòng bàn tay thì rất tốt.

[1:00:12]Nhưng nếu hơi nóng bốc lên trên làm nóng đầu, làm hai lòng bàn chân lạnh thì rất dở.

[1:00:20]Đó là chân âm, tiềm lực không còn giữ được nữa, đang thoát lên trên, mất gốc sẽ làm bệnh và làm căng thẳng não bộ.

[1:00:31]Nếu bị như vậy, hành giả phải để tâm nhiều hơn ở phía dưới bụng, phải tập thế khí công thứ hai, tích nội lực, thường xuyên hơn.

[1:00:46]Hôn trầm.

[1:00:50]Có người khi ngồi thiền bị hôn trầm, buồn ngủ, không còn tỉnh táo dụng công nữa, thậm chí người bị gục lên gục xuống.

[1:01:01]Hôn trầm có hai nguyên nhân: một là do thiếu ngủ, bây giờ ngồi thiền buồn ngủ,

[1:01:12]trường hợp này nên ngủ một chút cho tỉnh táo rồi hãy ngồi trở lại;

[1:01:18]hai là không phải thiếu ngủ nhưng do nghiệp nên hôn trầm,

[1:01:24]trường hợp này cần phải quyết tâm vượt qua, chiến đấu với cơn buồn ngủ. Hành giả phải lễ Phật sám hối, phải đứng dậy đi kinh hành, phải mở mắt rõ, phải ăn uống có chừng mực, bớt ăn ngọt, phải kiểm soát tâm thường xuyên trong đời sống hằng ngày.

[1:01:46]Suốt ngày miên man vọng tưởng cũng gây hôn trầm lúc ngồi thiền.

[1:01:53]Một thái độ lười biếng, ít chịu siêng năng công quả cũng gây hôn trầm.

[1:02:02]Ngồi thiền đau chân.

[1:02:06]Ai ngồi lâu thì cũng bị đau chân. Ban đầu thì tê chân rất khó chịu, nhúc nhích càng tê hơn.

[1:02:17]Cứ ráng ngồi yên thì sẽ qua cơn tê để rồi đến cơn đau.

[1:02:24]Đau chân phải, là chân bắt lên sau thì còn chịu đựng được, sẽ hết,

[1:02:31]nhưng đau tới chân trái, là chân bắt lên trước thì đau rất gắt và rất lâu. Nếu quá sức đau thì nên xả thiền nghỉ ngơi, vì chịu đựng quá đáng làm tăng bản ngã, tăng phiền não.

[1:02:48]Nếu còn sức chịu đựng thì nên ráng chịu đau ngồi thêm để bớt nghiệp.

[1:02:55]Nếu hành giả có thể nhiếp được tâm làm cơn đau không chi phối nhiều thì cứ tiếp tục lo nhiếp tâm, không cần phải làm gì thêm.

[1:03:08]Nếu hành giả đau không thể nhiếp tâm được mà vẫn muốn ngồi thêm thì nên để tâm nhẹ nhàng tại chỗ đau, để tại đó mà không kềm chế, không phản kháng, chỉ để tâm tại đó, sống tại đó, biết cái đau tại đó mà thôi.

[1:03:28]Như vậy cũng giúp chịu đựng cơn đau thêm một thời gian. Đừng dùng dầu nóng xoa các khớp vì sẽ bị khô khớp về sau.

[1:03:40]Chỉ nên dùng rượu xoa bóp thuốc bắc của những người tập võ sẽ tốt hơn.

[1:03:50]Hơi thở dài, hơi thở dừng.

[1:03:55]Có khi hành giả thấy hơi thở dài thật dài, hít vào mà không thấy thở ra, đó là do tâm có yên lắng. Cứ quan sát biết rõ hơn một chút nữa, và trong thâm sâu đừng ráng hít vào quá.

[1:04:12]Trường hợp thấy hơi thở như dừng lại không thở nữa, đó là do tâm có yên lắng, nhưng trong thâm sâu không muốn thở. Phải tác ý cho hơi thở xuất hiện lại vì chưa phải lúc dừng hơi thở thật sự.

[1:04:33]Vọng tưởng nhiều.

[1:04:38]Có người ngồi thiền bị vọng tưởng nhiều quá, đến nỗi muốn bỏ tu vì không thấy an lạc gì cả.

[1:04:46]Biết ngồi thiền đã là có nhân lành từ đời trước rồi, còn vọng tưởng là do nghiệp lực thử thách, không nên nản chí.

[1:04:57]Ráng tạo phước, tập khí công, lễ Phật, rồi lâu ngày sự an lạc cũng đến.

[1:05:05]Người tu hành có khó khăn trở ngại, sẽ là người có nhiều kinh nghiệm hướng dẫn người sau.

[1:05:14]Ngày xưa thời Đức Phật, có vị suốt 26 năm không hề được an lạc,

[1:05:20]vậy mà cuối cùng bất ngờ chứng đạo quả rất nhanh. Sự khổ cực chiến đấu với nội tâm của mình là công đức lớn được thần thánh yêu mến.

[1:05:34]Có người ngồi thiền bị vọng tưởng không kiềm chế được, hành giả có thể niệm Phật sám hối một lúc, rồi trở lại dụng công như cũ sẽ đỡ hơn.

[1:05:46]Hoặc hành giả quán từ bi một lúc, rồi trở lại dụng công như cũ sẽ khá hơn.

[1:05:57]Tiến thoái bất thường.

[1:06:01]Có người ngồi thiền được tăng tiến rõ rệt, tâm lắng yên an lạc sáng tỏ,

[1:06:09]nhưng thời gian sau bị mất, không còn trạng thái đặc biệt như thế nữa.

[1:06:16]Ai tu thiền cũng thường gặp tình trạng tiến thoái bất thường như thế. Đó là do phước chưa dày, lại thêm tâm có khởi tự hào bí mật khi thấy mình được tăng tiến như thế.

[1:06:32]Phải có phước rất dày và phải cẩn thận giữ tâm không kiêu mạn, tự hào mới có thể tiến ổn định.

[1:06:42]Nếu có bị tiến thoái như thế, hành giả hãy bình tĩnh kiên nhẫn không hoang mang dao động,

[1:06:50]mà cứ phải tinh tấn tu tiếp, nhất là biết mình phước mỏng để ráng tạo phước thêm.

[1:07:03]Ngộ đạo.

[1:07:07]Ngộ đạo là giây phút bất ngờ, tâm hành giả thay đổi qua một trạng thái rộng rang hơn, sáng suốt hơn, thanh tịnh hơn.

[1:07:18]Sự thay đổi này mỗi người mỗi khác. Có người được chuyển biến rất lớn để trở thành một vị thánh thực sự. Có người được chuyển biến nhỏ nhưng cũng làm có thêm niềm tin và phấn khởi để tiến bước.

[1:07:36]Trong trạng thái nội tâm mới mẻ đó, hành giả thấy ra được nhiều điều mà trước đây mình chưa từng biết, chưa từng thấy, chỉ nghe qua sách vở kinh điển.

[1:07:48]Bây giờ những điều đó hiện hữu thật sự nơi tâm mình.

[1:07:54]Vì vậy người ngộ đạo khá sắc bén, lanh lợi,

[1:07:59]có thể nói năng, hỏi đáp, sáng tạo nhiều điều lý thú độc đáo.

[1:08:05]Tuy nhiên, hành giả dù có ngộ cũng phải cảnh giác rằng bản ngã chưa hết.

[1:08:13]Nếu chấp rằng mình là thánh, sở ngộ của mình là cao siêu vân vân, thì phước sẽ tổn giảm.

[1:08:22]Nếu phước bị tổn giảm thì hoặc kiếp này sẽ bị mất trạng thái đó, hoặc kiếp sau trở lại làm người bình thường.

[1:08:31]Phải tới A-la-hán, đủ tam minh lục thông thì bản ngã mới hoàn toàn biến mất.

[1:08:42]Kết quả.

[1:08:46]Trong kinh điển của Phật có nói đến bốn trình độ tăng tiến của thiền định và bốn thánh vị.

[1:08:56]Vào thời Đức Phật, kết quả tu tập của các đệ tử do chính Phật xác nhận

[1:09:03]là đang ở vị trí nào theo tiêu chuẩn bốn mức thiền và bốn thánh vị.

[1:09:10]Sau này không còn Phật, nhiều vị tự đánh giá kết quả tu hành của mình một cách chủ quan, cứ cho mình đã chứng rất cao, dù sự thật không phải vậy.

[1:09:25]Để tránh tình trạng đó, ngày nay chúng ta phải cẩn thận tối đa khi tự đánh giá kết quả của mình.

[1:09:34]Dựa vào các tiêu chuẩn mà Phật đề ra, chúng ta lập ra các mức độ về thiền như sau:

[1:09:45]Chánh niệm tỉnh giác:

[1:09:50]Ở mức độ này, tâm rỗng rang sáng tỏ, vọng tưởng vừa mới chớm khởi chưa hình thành, từ phía sau não là bị phát hiện và cũng tắt luôn.

[1:10:03]Trong suốt đời sống, hành giả lúc nào cũng tỉnh giác thường xuyên, đạo đức hoàn thiện dần.

[1:10:11]Nhưng dù sao hành giả vẫn còn phải cố gắng giữ gìn chứ chưa dám coi thường, dù sự dụng công nhẹ nhàng hơn trước rất nhiều. Mức thiền thứ nhất:

[1:10:26]Sơ thiền. Phật dạy là: "Ly dục sinh hỷ, hữu tầm hữu tứ",

[1:10:36]nghĩa là trong thâm sâu, hành giả vẫn còn ý niệm về đạo lý, nhưng lòng đã thanh thản vượt qua các ham muốn tầm thường của thế gian.

[1:10:49]Hành giả không còn cần phải cố gắng dụng công nữa, mà tâm tự động ở trong định thường xuyên.

[1:10:58]Trong tâm hành giả thường có niềm vui mừng tự nhiên bởi tâm yên lắng đến nỗi vượt qua ham muốn. Mức thiền thứ hai:

[1:11:11]Nhị thiền. Phật dạy là: "Định sinh hỷ lạc, vô tầm vô tứ, nhất tâm nội tĩnh",

[1:11:22]nghĩa là đến đây, tâm hành giả hoàn toàn tắt vọng tưởng từ trong sâu kín.

[1:11:29]Niềm an vui tràn đầy, tâm như thênh thang cả đất trời.

[1:11:36]Đa số người tu thiền đến đây cứ tưởng mình xong rồi.

[1:11:42]Thật ra đây chỉ là mức thiền thứ hai.

[1:11:47]Tuy nhiên, ngang mức độ này, tâm hành giả cũng siêu việt lắm rồi, có một số thần thông vừa phải, kiến giải đạo lý tung hoành ngang dọc, tự tại vô cùng.

[1:12:02]Có người tu cả đời cũng chưa chứng được mức thiền này. Mức thiền thứ ba: Tam thiền. Phật dạy là: "Ly hỷ trú xả, xả niệm lạc trú",

[1:12:21]nghĩa là cái cảm giác vui mừng không còn, chỉ còn cái an vui rất vi tế sâu xa.

[1:12:29]Đến đây hành giả đã vào sâu được vùng tâm vô thức bí mật, còn từ trước chỉ đứng ở ngoài ý thức.

[1:12:40]Những hoạt động phức tạp bí mật của vô thức được khám phá nên mọi ảo tưởng, mê tín, tà kiến, sai lầm đều tan vỡ.

[1:12:51]Hành giả bước luôn vào thế giới tâm linh siêu hình, hiểu được ngoài thế giới vật lý này, còn tồn tại thế giới của siêu nhiên, có sự hiện hữu của vô số chúng sinh trong đó.

[1:13:06]Có những cõi giới đày đọa như địa ngục, ngạ quỷ,

[1:13:12]và cũng có những cõi trời vinh quang, hạnh phúc, mức độ thần thông cao hơn của Nhị thiền.

[1:13:20]Tâm hành giả phủ trùm không gian bao la, vượt thời gian vô tận. Mức thiền thứ tư:

[1:13:31]Tứ thiền. Phật dạy là: "Không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh",

[1:13:41]nghĩa là hành giả đã thoát hẳn tâm thức cá nhân.

[1:13:46]Trí tuệ phát minh, thấy rõ Tứ diệu đế.

[1:13:51]Chấm dứt bản ngã vô minh, thành tựu tam minh lục thông, chứng quả A-la-hán.

[1:13:59]Chúng ta theo lời Phật dạy để tự cảnh giác mình, đừng vội cho là cao siêu khi tu có kết quả phần nào.

[1:14:10]Những mức thiền trên đây rất vĩ đại mà chúng ta phải gắng nỗ lực tinh tấn để thành tựu,

[1:14:17]nhằm có kinh nghiệm giúp đỡ những người đi sau, cũng nhằm duy trì được giá trị của Phật pháp.

[1:14:26]Đức Phật từ một con người trở thành một vị thánh siêu tuyệt vượt cả vũ trụ, để lại một hệ thống giáo lý cao cả cho nhân loại.

[1:14:39]Chúng ta nguyện lòng tu hành nối tiếp bước chân Người, đem ánh sáng chân lý cho thế gian thoát đau thương mê lầm và trở thành cõi thiên đường hạnh phúc.

[1:14:54]Bạch thầy, có quan niệm cho rằng cái tâm an lạc mà mình đạt được khi tu tập chính là chân tâm có sẵn nơi mình.

[1:15:04]Giống như có sẵn tấm gương bị bụi bám dơ, bây giờ chỉ việc lau chùi tức là tu hành thì gương sáng trở lại.

[1:15:16]Ngày xưa Đức Phật không nói như thế. Muốn tâm được an lạc, chúng ta phải tu tập rất siêng cần, thì cái tâm loạn động kia sẽ dần trở nên định tĩnh.

[1:15:31]Nếu nói tâm an lạc là có sẵn thì cái tâm đó không đủ sức tự giữ cho mình đừng bị bụi bám.

[1:15:40]Bây giờ có lau, biết đâu mai kia bụi bám lại rồi phải lau lại.

[1:15:48]Nếu nói tấm gương có sẵn thì trong tâm có ba thứ.

[1:15:53]Một là tấm gương, hai là bụi bám, ba là người lau.

[1:16:03]Trong ba thứ đó thì cả bụi và tấm gương đều không quan trọng, chỉ có người lau là có giá trị.

[1:16:13]Vì chỉ nhờ người lau mà gương mới hết bụi, chứ còn tấm gương kia dù ta có ca ngợi muôn ngàn lời cũng không tự làm gì được cho mình.

[1:16:27]Hơn nữa, người tự cho mình có sẵn cái cao siêu bên trong dễ là người ngông nghênh, tự đại coi thường thiên hạ và sẽ bị tổn phước nặng nề.

[1:16:39]Chúng ta nên theo lời Phật dạy là hướng về mục tiêu vô ngã sẽ tránh được lỗi lầm hơn.

[1:16:48]Ngay cả khi tâm đạt được thanh tịnh, thù diệu, sáng suốt, vẫn phải tự nhắc mình là bản ngã chưa hết, lỗi lầm chưa sạch, để đừng chủ quan, tự mãn.

[1:17:03]Trên bước đường tu tập thiền định, chúng ta sẽ còn đối mặt với vô số trạng thái lạ lùng mới mẻ khác.

[1:17:12]Hoặc là chúng ta sẽ tự mình có trí tuệ nhận định từng trường hợp là hay, dở, đúng, sai.

[1:17:21]Hoặc chúng ta phải thưa hỏi một vị có trình độ và kinh nghiệm đi trước.

[1:17:29]Nhưng gặp ai để hỏi lại tùy thuộc vào phước của chúng ta.

[1:17:36]Nếu có phước, chúng ta sẽ gặp được chân sư, thiện tri thức giúp ta vững bước đi tới.

[1:17:45]Nếu vô phước, chúng ta sẽ gặp người trả lời không chuẩn xác và khiến ta lạc lối luôn.

[1:17:56]Vì vậy, chúng ta phải biết khiêm tốn cầu nguyện chư Phật gia hộ ta gặp được chân sư để đường tu mình không bị lạc lối.

[1:18:09]Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nơi tu thiền, rất nhiều nơi dạy thiền,

[1:18:16]nhưng không phải nơi nào cũng chuẩn mực, chính xác.

[1:18:22]Chúng ta không dám phê bình ai hay, ai dở.

[1:18:28]Chúng ta chỉ thiết tha cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho ta gặp được chân sư,

[1:18:35]chứ tự ta không thể biết ai là chân sư đúng nghĩa, ai chưa đủ trí tuệ để làm thầy.

[1:18:43]Ngay cả những vị tu có thần thông cũng chưa chắc là người dạy thiền chuẩn mực. Vì vị ấy cũng chỉ có kinh nghiệm theo con đường của mình, chứ không thể có cái nhìn thấu suốt qua các căn cơ khác, các phương pháp khác.

[1:19:02]Chỉ có Phật là bậc Toàn tri Toàn giác mới thấu suốt mọi điều, mọi căn cơ.

[1:19:16]Giám thiền.

[1:19:21]Giai đoạn đầu tu thiền, chúng ta rất cần người theo dõi để giúp chỉnh sửa tư thế cũng như các việc khác.

[1:19:31]Nhất là những pháp hội ngồi thiền tập thể đông người thì vai trò người giám thiền lại càng quan trọng.

[1:19:42]Giám thiền phải là người tinh tế, sâu sắc để nhanh chóng phát hiện những cái sai của thiền sinh mà uốn nắn kịp thời.

[1:19:54]Nếu nhìn thiền sinh ngồi chưa đẹp thì chắc chắn có sai ở đâu đó. Giám thiền phải tìm ra để sửa lại.

[1:20:04]Thường thì ai sai cái gì sẽ lặp lại cái sai đó nhiều lần.

[1:20:12]Vì vậy, nếu đã sửa một lần rồi thì giám thiền phải để ý sửa lại, chứ không phải chỉ một lần là hết.

[1:20:22]Đa phần thiền sinh hay bị chùng lưng cong xuống,

[1:20:29]hai vai lệch,

[1:20:33]đầu ngẩng lên hay cúi xuống quá,

[1:20:39]hai tay khép vào sát hông quá,

[1:20:45]hai bàn tay như muốn nắm lại,

[1:20:52]mắt bị nhìn đi chỗ này chỗ kia,

[1:20:58]môi không khép chặt,

[1:21:04]đầu hơi bị quay qua bên một chút,

[1:21:10]thân hơi bị quay qua bên một chút,

[1:21:17]người nghiêng đổ qua bên một chút, vân vân. Đó là những cái sai ở hình thức, còn những cái sai ở trong tâm thì khó nhận biết hơn.

[1:21:31]Ví dụ như thiền sinh đang dằn ép căng thẳng, cần được nhắc nhở buông xả nhẹ nhàng.

[1:21:40]Thiền sinh đang dao động vọng tưởng, cần được cảnh tỉnh bằng cái chạm nhẹ trên vai.

[1:21:50]Thiền sinh đang mê mờ, tâm thức sắp rơi vào hôn trầm, cần được đánh thức bằng cái chạm mạnh trên vai.

[1:22:01]Thiền sinh đang có định nhưng không còn giữ cái biết rõ toàn thân, cần được nhắc khẽ bên tai.

[1:22:12]Giám thiền phải là người có kinh nghiệm tu tập, đã từng trải qua các sai lầm, nên bây giờ biết giúp huynh đệ vượt qua.

[1:22:25]Trường hợp không có giám thiền giỏi thì các huynh đệ thay phiên nhau làm giám thiền cũng được.

[1:22:33]Giúp huynh đệ tu hành tốt thì ta cũng có phước để tiến tu về sau.

[1:22:44]Xả thiền.

[1:22:48]Ngồi thiền lâu rồi phải đến lúc xả. Tùy theo khả năng của mỗi người mà thời gian để xả thiền sẽ khác nhau.

[1:23:00]Lúc đầu tập ngồi điều thân, chúng ta phải ráng ngồi cho được 30 phút là tối thiểu.

[1:23:08]Còn về sau, tùy theo sức khỏe và sức định mà ta tăng thời gian lên dần dần, không hạn chế.

[1:23:19]Những vị A La Hán có thể nhập định suốt nhiều ngày, đó là tấm gương mà ta phải tán thán, ca ngợi.

[1:23:29]Nên tránh trường hợp xả thiền quá sớm khi mà ta còn có sức để ngồi thêm.

[1:23:35]Vì như vậy là không rèn luyện được ý chí và nhiều kiếp sau sẽ bị quả báo tu hành chậm tiến.

[1:23:44]Cũng tránh luôn trường hợp ráng quá sức để ngồi cho thật lâu khi mà ta dù không còn an lạc vì quá đau chân.

[1:23:57]Ráng quá sức như thế là lạm dụng ý chí, sẽ làm kích động bản ngã,

[1:24:04]khiến cho những phiền não khác như kiêu mạn, nóng nảy, vân vân, sẽ phát khởi trở lại.

[1:24:14]Khi xả thiền, trước hết ta khởi tâm cầu cho tất cả chúng sinh đều biết tu hành để thoát chấp ngã vô minh.

[1:24:26]Sau đó, ta bắt đầu chuyển động nhẹ phần đầu như xoay qua, xoay lại,

[1:24:35]ngẩng lên, cúi xuống năm mười lần.

[1:24:40]Kế đó, ta chuyển động phần vai như xoay tròn hai vai nhè nhẹ mười lần.

[1:24:50]Rồi ta chuyển động phần eo bằng cách xoay cả thân người qua lại năm mười lần.

[1:25:01]Rồi ta bóp bóp hai bàn tay, đưa lên xoa cho nóng mặt, nóng hai vành tai, xoa gáy cổ,

[1:25:12]xoa dần xuống vai, ngực, lưng, bụng, cánh tay.

[1:25:24]Cuối cùng là kéo chân nhẹ ra để xoa chân. Xoa chân kỹ thì lần sau ngồi bớt đau.

[1:25:35]Sau đó, ngồi yên thư thái một chút rồi hãy đứng dậy đi kinh hành.

[1:25:43]Kinh hành. Kinh hành khác với thiền hành. Thiền hành là chú ý dụng công kỹ lúc đi thay cho việc ngồi thiền.

[1:25:55]Còn kinh hành là thực hiện việc chuyển tiếp giữa cái tịnh của lúc ngồi thiền với cái động của đời sống bình thường.

[1:26:06]Có khi ta đi kinh hành một lát rồi vào ngồi thiền, hoặc ta ngồi thiền rồi đi kinh hành.

[1:26:15]Khi đi kinh hành, ta vẫn kiểm soát thân tâm nhẹ nhàng như lúc ngồi thiền.

[1:26:23]Từng bước chân đặt lên đất tự nhiên được biết rõ ràng.

[1:26:28]Mắt hơi nhìn xuống phía trước một khoảng thích hợp.

[1:26:34]Hai tay buông thả tự nhiên, nhẹ nhàng.

[1:26:41]Nên đi nơi không ồn náo, gần cây cỏ thiên nhiên,

[1:26:48]hoặc lối đi dài, hoặc lối đi vòng quanh, hoặc lối đi ngắn thì đi tới đi lui cũng được.

[1:26:58]Nhờ đi kinh hành, ta sẽ quen giữ tâm trong đời sống.

[1:27:04]Khi bước ra cuộc sống giao tiếp rộn ràng, ta vẫn có thể khéo léo âm thầm kiểm soát tâm mình chứ không vọng động theo trần cảnh.

[1:27:18]Ngoài việc đi kinh hành, ta có thể chạy bộ thể dục cũng rất tốt cho sức khỏe, nhất là chạy vào buổi sáng sớm.

[1:27:31]Thiền định với thế giới hôm nay.

[1:27:38]Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thay đổi cách sống của con người trên khắp thế giới.

[1:27:47]Con người có thể giao tiếp liên lạc với nhau nhanh chóng trên khắp thế giới. Trái Đất nhỏ bé hơn, các nền văn hóa cọ xát, thử thách nhau dữ dội hơn.

[1:28:03]Phong cách làm việc con người cũng tất bật hơn, vội vã hơn và vì thế con người cũng căng thẳng hơn.

[1:28:14]Cái gì cũng hơn, cho nên bây giờ việc làm từ thiện cũng quy mô hơn,

[1:28:22]và sự tàn bạo cũng kinh khủng hơn.

[1:28:27]Chiến tranh, vũ khí, khủng bố phát triển ở mức độ đông đảo, mạnh mẽ hơn.

[1:28:35]Con người tiện nghi hơn, nhưng cũng đau khổ hơn vì sự ác độc được chắp cánh bay xa hơn.

[1:28:47]Chính vì sự tiến bộ ồ ạt của khoa học kỹ thuật mà chúng ta phải nhanh chóng phát triển đạo đức cho nhân loại

[1:28:57]để hạn chế sự lạm dụng khoa học cho những mục tiêu ác độc.

[1:29:03]Chính vì đời sống căng thẳng, mệt mỏi và đau khổ hơn

[1:29:09]mà chúng ta phải nhanh chóng cung cấp thiền định cho nhân loại để giữ gìn tâm hồn con người được an vui, hạnh phúc.

[1:29:23]Giữa một thế giới đang sôi lên vì kỹ thuật, lợi nhuận, tranh giành, căng thẳng, khổ đau,

[1:29:32]thì chúng ta càng phải có bổn phận kêu gọi mọi người quay về với thiền định tĩnh tâm.

[1:29:42]Ấn Độ đã đi trước nhân loại bằng cách đem thiền định vào trong nhà tù để giúp chuyển hóa phạm nhân.

[1:29:54]Trung Hoa vẫn tự hào với cái phương pháp khí công của mình rất gần với thiền định.

[1:30:05]Thiền định sẽ giải phóng con người khỏi những phiền muộn tầm thường của thế gian, sẽ thăng hoa con người lên một giá trị cao quý hơn là thân phận của một sinh vật bị trộn lẫn giữa thần thánh và súc vật.

[1:30:23]Thiền định sẽ hàn gắn con người lại gần với nhau bởi tình thương yêu sau biết bao nhiêu thế kỷ con người xa nhau vì hận thù, ganh ghét.

[1:30:36]Thiền định sẽ tưới vào Trái Đất này đầy những nụ cười hạnh phúc trên gương mặt các cụ già, và sự rạng rỡ hân hoan trên gương mặt của em thơ.

[1:30:49]Mỗi con người sẽ là một bông hoa tô thắm vườn hoa của nhân loại, vì thiền định sẽ cho họ một trái tim sáng tỏ như ánh sáng mặt trời.

[1:31:16]Nam Mô A Di Đà Phật.

[1:31:51]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch chư tôn thiền đức Tăng Ni.

[1:32:04]Kính thưa toàn thể

[1:32:08]quý Phật tử hiện diện. Hôm nay, à hôm nay chúng ta có duyên lành cùng gặp nhau

[1:32:26]tại chùa Phật Quang tham dự khóa tu thiền.

[1:32:33]Hẳn rằng đây là cái duyên

[1:32:41]tốt đẹp và rất hân hạnh cho tất cả chúng ta.

[1:32:51]Bởi vì cái cuộc đời này không có gì mà vui bằng khi chúng ta có được cái duyên, mà duyên này là đưa chúng ta đến chỗ an lạc, giải thoát. Thì trong các phương pháp tu tập của đạo Phật

[1:33:21]thì pháp môn rất là nhiều,

[1:33:26]nhưng mà mục đích là cũng để làm thế nào

[1:33:33]cho tâm thức của chúng ta được thanh tịnh.

[1:33:40]Cái chính là tu tâm, là tu tập về tâm.

[1:33:48]Tất cả những... Hình thức mà ở trong đạo Phật giảng dạy, hướng dẫn các Phật tử tu hành như là

[1:34:05]tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, làm các điều lành, điều thiện, ngồi thiền, vân vân, thì tất cả những cái phương thức ấy đều để đưa đến mục đích là thanh lọc tâm, làm cho tâm được thanh tịnh, làm cho

[1:34:36]con người của mình được trở nên hoàn thiện.

[1:34:45]Và chúng ta thấy việc tu tâm

[1:34:51]rất dễ mà cũng rất khó.

[1:34:56]Ở cổng thôn,

[1:35:00]tôi ngồi ở sân và nhìn thấy ở trên sân có rất nhiều lá, lá vàng.

[1:35:10]Rồi quý thầy đi quét rác.

[1:35:15]Quý thầy quét hết lá vàng. Và một sau khi quét xong rồi mọi người đều nghỉ thì sân bắt đầu có lại trở lại, tức là lá vàng tiếp tục rụng.

[1:35:33]Thì tôi sực nhớ là con đường tu tập mắt của mình cũng tương tự như việc quét lá vàng, quét rác ở trong sân.

[1:35:50]Lá rụng đầy sân cũng như là

[1:35:55]tâm của mình có rất nhiều phiền não, nhiều tâm ô nhiễm.

[1:36:04]Mình quét đi thì cái sân nó được sạch sẽ. Khi mình tu tập thì cái tâm của mình nó được thanh lọc, được thanh tịnh, nó hết đi cái phiền não. Nhưng mà xong rồi thì lá tiếp tục rụng và sân tiếp tục dơ.

[1:36:30]Cái tâm tu tập của mình khi mình đang tu thì tương đối nó ổn định, mà nghỉ tu thì tâm nó trở lại, có những ô nhiễm tiếp tục khởi lên.

[1:36:46]Và ngoài sân thì ngày nào cũng phải quét. Muốn sạch được cái sân thì phải quét nhiều đợt ở trong ngày, chứ không phải chỉ quét buổi sáng sớm.

[1:37:01]Buổi sáng quét, buổi chiều quét, nếu muốn sạch hơn nữa thì các thầy quét buổi đêm. Và chúng ta cũng vậy, muốn cho mình có được tâm thanh tịnh,

[1:37:15]không có tâm ô nhiễm, thì mình phải tu tập thường xuyên, phải quét thường xuyên ở trong cái tâm thức của mình. Chỉ cần quý vị nghỉ tu đi một bữa, nghỉ quét đi một ngày là cái tâm của mình tức khắc xáo trộn, dao động và ô nhiễm khởi lên.

[1:37:41]Kinh nghiệm tu tập cho thấy rằng nếu không duy trì được cái sự tinh tấn, cái sự liên tục thì cái tâm của mình nó rất khó để mà trở nên thuần thục, nhu nhuyến để đưa đến chỗ dễ sử dụng.

[1:38:01]Cho nên, cái yếu tố tinh tấn, nỗ lực tu tập thường xuyên là điều quan trọng chứ không phải là mình năng nổ, nhiệt tình, mạnh mẽ nhưng mà có giai đoạn, có từng chặng thì kết quả đôi khi rất cao nhưng mà nó cũng trở lại trạng thái rất thấp.

[1:38:34]Cho nên ở trong con người của mình đôi khi chúng ta quán sát cái tâm và chúng ta thấy mình có hai cái trạng thái dễ thấy đó là mình quá thánh thiện, và rồi mình thấy mình cũng quá ô nhiễm. Cái ô nhiễm và cái thánh thiện nó cứ đan nhau ở trong tâm của mình. Cho nên, sự tu tập là tu tập tâm và sự tu tập tâm nó phải được liên tục, phải được thường xuyên tỉnh giác để mà

[1:39:16]quét sạch những cái ô nhiễm của tâm lý.

[1:39:21]Và không có một phương pháp nào mà hiệu quả để mà thanh lọc tâm bằng phương pháp thiền định hay còn gọi là thiền quán. Bởi vì tụng kinh, lạy Phật, làm các công đức thì dĩ nhiên là cần để mà hỗ trợ cho công phu tu tập tâm. Nhưng mà cái chính để mà tu tập tâm phải là thiền định, thiền quán. Bởi vì chính khi mình thiền định, mình thiền quán thì cái tâm của mình nó được ổn định, được củng cố, được tập trung,

[1:40:08]trí tuệ của mình nó trở nên sắc bén và mình có thể nhận ra được những tâm ô nhiễm, nhận ra được những cái xao động ở trong nội tâm của mình. Thông thường chúng ta chỉ ngồi thiền, chúng ta chỉ tập tu, tịnh tâm khi mà chúng ta ngồi thôi. Nhưng mà khi mình hết ngồi, mình đi, đứng, nằm, ngồi, làm các công việc và đối mặt với nhiều đối tượng, sự kiện khác nhau trong cuộc sống bình thường thì chúng ta lại cảnh giác. Thì như vậy hiệu quả nó sẽ không cao. Cũng như cái bàn của chúng ta, cái bàn học của chúng ta ở trong phòng mà nếu như quý vị không lau thường xuyên, chỉ cần để qua đi một buổi sáng hay một ngày

[1:41:14]thì cái bàn nó dơ tức khắc, bụi nó sẽ bám vào liền.

[1:41:22]Thành thử mình phải quét, phải lau, phải chùi, phải tiếp xúc thường xuyên với sự biến động, sự diễn tiến của tâm thức thì mình mới có thể

[1:41:39]đạt được cái tâm an tịnh một cách vững vàng. Nếu còn không á thì thường thường mình tu à bước tới được ba bước thì bước lùi bốn bước. Và nhiều khi chúng ta cứ tu hoài, cũng lâu rồi, nhưng mà cũng à vẫn thấy rằng mình không tiến bộ.

[1:42:05]Mình đi tham dự nhiều khóa tu, mình cũng dành thời gian để ngồi thiền, nhưng mà sự tiến bộ về mặt thanh lọc tâm thức nó không cao, không nhiều. Và thậm chí có nhiều người ngày ban đầu thì rất là tinh tấn, nhưng mà cuối cùng thì không còn tham dự khóa tu nữa là bởi vì người đó đã bỏ quên cái tâm thức của mình, không có quán sát, không có thường xuyên tu tập, lau chùi cái tâm.

[1:42:42]Ở trong kinh Đức Phật có sử dụng một hình ảnh để mà ví dụ

[1:42:49]cho việc tu tập thường xuyên là cần thiết.

[1:42:55]Đức Phật ví dụ có cái bát bằng đồng là dơ bẩn, xấu xí.

[1:43:05]Nhưng mà ngày nào cũng được à đem ra để ở nơi cái chỗ sáng sủa, được lau chùi thường xuyên. Thì cái bát ấy, từ cái chỗ dơ, chỗ xấu thì bây giờ dần dần nó càng ngày nó càng sáng, nó càng đẹp.

[1:43:28]Cũng vậy, cái tâm của mình vốn ô nhiễm, vốn là nghiệp chướng nặng nề, mình sống có xu hướng

[1:43:42]đi xuống, xu hướng bản năng, hơn là xu hướng đi lên, hướng thượng. Nhưng khi mình bắt đầu học tu, và mình tu tập thường xuyên, cũng giống như mình lau chùi cái bát dơ thường xuyên, thì bắt đầu mình còn yếu, còn dở, nhưng dần dần mình sáng và mình ổn định dần dần cái tâm của mình. Và càng ngày thì cái trí tuệ nó bắt đầu phát triển, bắt đầu sáng ra.

[1:44:19]Giống như cái bàn ấy, là có một cái bàn ban đầu rất là sáng, đẹp, mới, sạch sẽ. Người ta đem để vào trong một cái góc trong chùa thì cái bàn ban đầu nó rất là sáng, đẹp nhưng mà dần dần thì nó trở nên xấu, biến sắc, bụi bám đầy, và không sử dụng được.

[1:44:51]Có những người có thiện căn, được có nhân duyên gần gũi với thầy, gần gũi với bạn tu, gần gũi với môi trường của Phật pháp. Nhưng mà ỷ lại, do gần gũi thầy, gần gũi Phật pháp rồi tự mãn, mình ỷ lại, mình không tu. Mình tưởng rằng mình đã tốt rồi, mình không cần phải nỗ lực tu tập hằng ngày.

[1:45:30]Thì lâu ngày, cái tâm của mình nó trở nên ô nhiễm, càng ngày càng tồi. Và có nhiều người đi chùa, làm Phật sự mà càng làm thì càng đau khổ, càng gần chùa, càng gần thầy thì càng tối tăm. Thì đó là vì mình không chịu tu tập thường xuyên cái tâm của mình. Cho nên quý vị đừng có tưởng rằng là mình tốt rồi thì không cần tu nữa. Người nào dở thì mới tu, còn người nào giỏi rồi thì nghỉ tu. Cái người dở là cần phải tu thường xuyên và người giỏi cũng cần phải tu thường xuyên. Bởi vì không có cái gì mà bất an, mà khó nắm bắt bằng cái tâm thức của chúng ta. Chúng ta quá nhiều đời nhiều kiếp, tích lũy vô minh, phiền não, nghiệp chướng,

[1:46:31]và chúng ta sinh ra cõi đời này, mình đeo mang một cái nghiệp gì rất nặng nề. Và cái đời sống bản năng của động vật nó vẫn còn ấn tượng sâu sắc, cho nên những cái biến động, những rung động của tâm thức rất là phức tạp, rất là vi tế. Khi mà chúng chúng ta chưa đạt được cái giải thoát viên mãn thì mình không thể coi thường, lơ là trong việc tu học được.

[1:47:05]Ở trong các quả vị thánh, Đức Phật còn chia làm hai loại: một là vị thánh hữu học và hai là vị thánh vô học. Vị thánh hữu học tức là những cái quả vị thánh từ mới ban đầu cho đến quả vị A-la-hán: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, đến quả vị đó trở lui thì gọi là vị thánh hữu học. Hữu học tức là còn phải nỗ lực, tinh tấn để tu tập, để đoạn trừ những cái phiền não của tâm. Còn vị thánh vô học tức là vị thánh A-la-hán là đã đạt được đoạn trừ tất cả các lậu hoặc, cho nên gọi là vô học, tức là không còn gì để học, không còn gì để làm, người đó không cần phải nỗ lực tinh tấn gì cả. Còn nếu chưa phải là A-la-hán

[1:48:13]thì tất cả chúng ta đều phải thường xuyên nỗ lực, tinh tiến để mà tu, để mà sửa soạn cái tâm thức của mình, luôn luôn quán chiếu, luôn luôn soi sáng để thấy được những cái biến động vi tế của tâm thức để mà chuyển hóa cái tâm ô nhiễm càng ngày càng bớt đi và cái tâm thanh tịnh giải thoát càng ngày càng phát triển. Thì như vậy là chúng ta kiến tạo cho đời sống của mình một cái đời sống thanh tịnh và an lạc.

[1:49:02]Chúng tôi mong rằng tất cả các Phật tử có cái nhân duyên tốt

[1:49:13]với pháp môn tu tập thiền và có nhân duyên tốt gặp được thầy hay, bạn giỏi thì quý vị

[1:49:27]hãy tận dụng cái duyên may ấy để mà củng cố

[1:49:34]cái con đường tu tập của mình, biến những điều kiện thuận lợi, may mắn ấy trở thành kết quả tốt đẹp cho đời sống của mình trong hiện tại, trong tương lai, cho mình, cho người, và cho mọi loài chúng sinh đều được an định. Chúng tôi nguyện cầu Tam bảo luôn luôn gia hộ cho toàn thể chư tôn đức và quý Phật tử luôn đạt được sự thành công tốt đẹp trên con đường tu tập, nhất là tu tập Thiền quán. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:50:25]Xin mời quý vị chắp tay hồi hướng.

[1:50:35]Nguyện đem công đức này

[1:50:52]hướng về khắp tất

[1:50:58]cả, đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.

[1:51:41]I was happy to be invited by the Venerable Thông Huống to his beautiful monastery.

[1:51:53]As a volunteer for Living Values, an education program, I work in both Vietnam and Cambodia.

[1:52:07]This place is a wonderful retreat from the busy city. It's like a sanctuary. In our busy, stressful lives, meditation, as is practiced here, can help prevent stress and tension.

[1:52:27]Nowadays, doctors in the West are recommending that patients practice meditation to relieve the symptoms of many different types of diseases such as heart disease and hypertension, as well as insomnia and depression, etc.

[1:52:47]In this way, the practice of meditation, which originated in the East, is spreading throughout the world, and is bringing benefits to large numbers of people, many of whom cannot find relief through conventional medicines.

[1:53:09]The monks here teach that just a little time spent in meditation every day can bring enormous benefit to us, both mentally and physically. I myself experienced the benefits of Raja Yoga meditation by practicing every day.

[1:53:36]I feel when people experience the peace that has been created here, they will want to learn meditation to take back and use in their busy lives so that they can bring peace into their homes, and their family can also benefit.

[1:54:28]Kính bạch Thầy, khoảng thời gian sau này, chính bản thân chúng con...

[1:54:35]chính bản thân chúng con là tinh tấn trong vấn đề ngồi thiền, thời gian ngồi cũng có thể kéo dài thêm khoảng độ hai ba chục phút nữa. Nhưng tự nhiên trong công tác Phật sự thì con tự cảm thấy rằng con bị nóng nảy trong vấn đề công tác Phật sự. Xin kính bạch Thầy giãi bày giùm cho con rõ. Dạ. Tại mình tăng giờ á! Trong cái tăng giờ, cái kiêu mạn nó xuất hiện bí mật lên liền. Đó, cái mình thấy mình tu ngon hơn chút cái nó le lói, nó thầm kín lắm. Mình không nhận ra được, rồi cái cái kiêu mạn đó nó đưa qua đời sống cái mình nó hiện cái nóng nảy lên. Nên mình biết liền, biết: à, đây là do mình có tự hào bí mật, thì...

[1:55:18]thì lúc đó mình lạy Phật sám hối, mình phát nguyện là xin Phật gia hộ cho con giữ gìn tâm con để con không còn thấy mình không còn có kiêu mạn, không tự hào. Dù con tu tiến đến đâu vẫn so với chư Thánh, chư Phật chỉ là cát bụi. Xin cho con nguyện là mọi người huynh đệ khác, mọi Phật tử khác, mọi chúng sinh khác tu tiến còn hơn con nữa. Phát nguyện như vậy, nhờ vậy nó mới tiêu tan cái tâm tự hào bí mật, và lúc đó trong đời sống mình mới bình thản, hoan hỷ trở lại. Như vậy thôi.

[1:55:57]Mô Phật bạch Thầy, con ngồi thiền à buổi chiều thì con không thấy gì, mà khuya khoảng độ 4 giờ 3 rưỡi con ngồi thiền, con thấy sao con cứ đi trên núi với đi trên cảnh, bay trên cảnh không? Con nói thôi chắc có lẽ là mình đua theo cảnh, cái xóa... xóa đi xong rồi, con lại ngồi trở lại con cũng thấy cứ đi trên núi, đi bay trên cảnh không, con... Mô Phật.

[1:56:23]Coi chừng kiếp trước làm tiên không? Không, Thầy không nói đùa, Thầy nói nghiêm chỉnh á. Có những người tiền kiếp nghĩa là họ là những thiên nữ, những tiên nữ, thì họ thường hay bay vân du theo mây theo gió. Cho nên cái cái cái cảm giác đó còn chưa có hết. Rồi bây giờ ngồi thiền cái ảo giác nó trở lại. Thì dĩ nhiên nó là một ảo giác nó báo cái điều gì của quá khứ, nhưng bây giờ nó vẫn là một cái động. Cho nên vì vậy mình quyết tâm vượt qua. Cái quyết tâm vượt qua là mình có cái ý không chấp nhận cái ảo giác này, ha. Mình cố gắng mình mở mắt ra, mình lay người để cho nó chấm dứt đi để ngồi lại.

[1:57:05]Bởi vì đúng của cái định là tâm rỗng rang, không hình, không sắc, không tướng. Mặc dù nó sáng, mình biết là tâm đang rất sáng, nhưng không có màu sắc gì hết mới là đúng. Thành thử cái dấu hiệu của sư cô thấy á nó là một ảo ảnh. Nhưng ảo ảnh này nó không phải là do vọng tưởng, không phải do tưởng tượng, mà do dấu hiệu của tiền kiếp. Nhưng mà dù là dấu hiệu tiền kiếp, vẫn phải buông hết, chứ không có nuôi dưỡng nữa. Mà mình phải có cái quyết tâm rằng không có tò mò để đi theo. Thấy: ờ ngộ ha, để coi coi tới đâu. Cái mình để coi coi tới đâu á là nuôi dưỡng nó tồn tại cái ảo giác trong tâm hoài, không buông được.

[1:57:41]Nên phải biết điều đó, quyết tâm hiện lên buông bỏ liền. Mà nó không tắt là xả thiền liền, chứ không có ngồi tiếp mà để cái ảo giác nó xảy ra hoài. Xả thiền đi kinh hành vô ngồi lại để cho nó tắt cái ảo giác đó luôn, chứ không nó hại, nó phá tâm mình. Đúng.