[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:36]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:48]Mời quý Phật tử an tọa ngồi xuống. Hôm nay thì tôi không có dạy theo bài kinh mà dạy cái đề tài là 10 kiết sử. 10 kiết sử này hôm trước chúng ta nghe Phật nói trong bài kinh ví dụ Con Rắn, phải không? Phải không? Nay chúng ta học lại 10 kiết sử. 10 kiết sử mà mình chỉ nói trong một tiếng rưỡi thì nó không có hết ý. Cho nên vì vậy, chúng ta cũng nói vắn tắt chứ không có nhiều và để cái phần suy tư sâu sắc thêm dành cho chư Ni. Cho nên còn chúng ta nói thì nói những cái những cái điểm căn bản thôi.
[1:34]Thì chúng ta thấy thế này, cũng nhiều người hay đặt cái vấn đề là trong đạo Phật chia ra bốn mức thiền định rồi cũng chia ra bốn thánh quả. Như vậy, cái sự liên quan giữa các cái tầng bậc thiền định như thế và bốn cái cái cái trình độ bốn cái quả thánh là như thế nào? Có phải là hễ Sơ thiền thì tức là Sơ quả hay chăng? Có phải là Nhị thiền cũng tức là Nhị quả hay chăng? Thì ở đây cái câu trả lời là không phải. Vì thiền định được định nghĩa, được khẳng định theo một cái hướng khác và thánh quả là được xác định theo một cái hướng khác, đánh giá theo một cái hướng khác. Thường á thì chúng ta thấy trong các bài kinh rất rõ ràng là thiền
[2:27]định được đánh giá trên những trạng thái thanh tịnh của tâm. Nghĩa là khi mà tâm định ở mức độ nào thì được đánh giá là lớp thiền thứ mấy. Lớp thiền thứ nhất là Sơ thiền thì chúng ta có cái trạng thái là gì? Trạng thái là lìa hết những cái tâm bất thiện, lìa hết những cái tâm tham dục, rồi còn một ít cái tâm vi tế, rồi cái hỷ lạc xuất hiện rất mạnh thì đó là Sơ thiền. Đó là định nghĩa. Còn đến Nhị thiền thì chúng ta nghe Phật xác nhận là cái tâm vi tế cũng chấm dứt luôn, nghĩa là tâm hoàn toàn ở trong định. Rồi thì chính cái định đó nó làm phát sinh cái hỷ lạc. Đó đây là trạng thái thứ hai thì nghe Phật nói
[3:22]tổng quát chứ chúng ta cũng không biết được. Nghĩa là những trạng thái của cái mức độ định như vậy thì chỉ có người ở trong định với nhau mới có thể biết được, còn người ở bên ngoài không biết được. Đã thuộc về trạng thái của tâm rồi thì ngôn ngữ không diễn tả được. Cho nên chúng ta thấy trong đạo Phật có cái tình trạng là ông thầy dạy một đường mà đệ tử hiểu một nẻo là vì như vậy. Là ông thầy ổng nhìn vào tâm ổng, ổng thấy những cái trạng thái đó ổng mới diễn tả ra để dạy thì người đệ tử hiểu cái ngôn ngữ đó theo cái trạng thái của tâm mình, cái hiểu lạc qua nghĩa khác. Nên những gì của tâm đều luôn luôn trừu tượng, nó không có
[4:07]không có thể được ngôn ngữ chuyển tải hoàn toàn. Nói theo cái ngôn từ triết học, tức là ngôn ngữ không có trung thành với những trạng thái của tâm. Nếu mình nói theo cái cái cái từ nguyên của triết học, đấy, không có trung thành. Thì như vậy bốn cái mức thiền định chúng ta nghe nói thì cũng nghe mà thôi, chứ khó thể nào mà biết rõ được trừ phi là chính chúng ta nỗ lực thực hành, rồi tâm mình từng bước vào trong định, mình mới đối chiếu cái trạng thái của tâm mình như vậy với lời kinh Phật dạy có ăn khớp hay không. Mà nhiều khi vẫn vẫn tưởng lầm là ăn khớp nữa. Có khi chúng ta đạt được cái định nó không sâu lắm
[4:52]nhưng mà chúng ta cứ tưởng là à đúng Sơ thiền rồi, đúng Nhị thiền rồi thì đó cũng rất là nguy hiểm. Chúng ta sẽ bị cái tổn phước rất là nặng, nên khó lắm. Vào thời Đức Phật á thì yên tâm hơn vì ai chứng ở mức nào Đức Phật nói là chắc ăn, nó không có trật. Nhưng mà sau thời Đức Phật trở đi thì cái trình độ tâm chứng hay bị lạm nhận, nghĩa là có vị chứng được Nhị thiền mà cứ tưởng mình là đã đã đạt được cái trạng thái chứng ngộ bằng với Phật. Đó có nhiều trường hợp như vậy, nó gây ra sự hiểu lầm và làm cho đạo Phật bị cạn đi dần dần, cạn đi dần dần. Đó. Cho nên là chúng ta mong rằng đời này hết nối tiếp đời kia
[5:39]là trong đạo Phật có nhiều vị tu chứng thật sự để cho không còn có ai hiểu lầm về các từng mức tâm linh, thiền định. Nghĩa là người chứng tới mức độ nào thì nó thật sự là như vậy chứ không có hiểu lầm. Có nhiều người cũng vậy, nhiều khi mới đạt được trạng thái chánh niệm tỉnh giác, chưa được Sơ thiền mà cứ tưởng mình là đã bằng Phật, bằng tổ nữa, nên rất là nguy hiểm, làm cho đạo Phật bị cạn dần cạn dần. Còn thánh quả thì lại được đánh giá trên mức độ gì? Ai nhớ? Sơ quả, Nhị quả nó, Sơ quả Tu-đà-hoàn, Nhị quả Tư-đà-hàm, Tam quả A-na-hàm, Tứ quả là A-la-hán được đánh giá theo mức độ nào?
[6:24]Theo mức độ phá trừ kiết sử. Nhớ không? Mấy cái này phải nắm cho chắc nha, đây những điều quan trọng đó. Vì chúng ta học Nikaya là mấy cái này phải nắm cho thật là chuẩn, thật căn bản, không có được sai, không được quên. Nghĩa là từ đây cho tới suốt cuộc đời, những cái tiêu chuẩn như thế này không được sai, không được quên. Rồi nữa ví dụ như quý cô đi thi cao cấp hay gì, những cái này phải thật chặt. Chẳng những là biết được tiếng Việt mà phải viết luôn tiếng Pali cho người ta ớn luôn. Dù mình không biết chữ đó nghĩa gì hết, cứ viết đại đi. Tứ thánh quả thì được đánh giá trên mức độ phá trừ kiết sử,
[7:00]nghĩa là phá được cái kiết sử nào thì sẽ chứng được cái quả nào như vậy. Thì việc mà đoạn trừ các kiết sử á thì chúng ta nói theo danh từ bây giờ, nghĩa là sự thăng tiến của đạo đức. Đó là ngôn từ bây giờ. Ví dụ như trong thiền định thì được đánh giá theo mức độ thanh tịnh của tâm thì đó là chúng ta nói theo ngôn từ bây giờ. Còn nếu theo ngôn từ ngày xưa thì theo cái trạng thái mà của tầm, của tứ, của hỷ, của lạc thì nghe mình khó hiểu, nhưng mình nói cho gọn lại là theo mức độ thanh tịnh của tâm mà mình chứng được cái lớp nào của thiền định. Còn thánh quả thì lại đánh giá theo mức độ thăng tiến của đạo đức.
[7:44]Đó, rất là lạ. Hai cái khác nhau, hai con đường đi khác nhau hẳn. Cái phá trừ kiết sử mình dùng cái từ vậy, nhiều khi bây giờ mình khó hiểu, nên mình nói đó là sự thăng tiến của đạo đức là chứng thánh quả. Cho nên một vị thánh nói gì không biết, nhưng phải là một người có đạo đức tràn đầy. Đó là cái căn bản, nền tảng không khác. Nên có những người mà khi chúng ta nghe nói họ hiểu biết thế này, chứng ngộ thế kia, nhập định thế nọ, đừng bao giờ xem họ đã là thánh nếu chúng ta chưa biết chắc là họ có được một cái đạo đức vững chắc, viên mãn, ổn định. Đó. Vì cái thánh vị được đánh giá trên sự tiến bộ của đạo đức
[8:31]chứ không có đánh giá trên cái mức độ của thiền định. Hai con đường khác nhau hẳn hoi nha, khác nhau hẳn hoi. Nhiều khi chúng ta hơi lấy làm lạ, chúng ta nói tại sao mà thiền định tăng tăng trưởng mà đạo đức không tăng trưởng? Thì chúng ta càng hiểu thì càng mới thấy Phật là hay. Vì ngày xưa tôi cũng thắc mắc điều đó. Rồi tôi cũng vừa tu tập rồi vừa nghiên cứu kinh điển rồi mới thấy đúng là Phật không nói điều gì sai. Phật nói quá chuẩn rồi, chỉ có mình hiểu không hết. Hồi đó tôi hay do cái kinh nghiệm bản thân, do sự quan sát thì tôi cũng hay nói với mọi người là ở trong những giai đoạn đầu, nói đầu chứ nó gần hết luôn
[9:12]á, cả một đoạn đường rất dài thì thiền định và đạo đức không gặp nhau. Thiền định và đạo đức chưa là duy nhất. Tôi nói điều đó mà tôi cũng không có hiểu tại sao lắm. Tại vì tôi quan sát tôi thấy có những người mà họ chứng thiền định thật sự rất là giỏi, có được cái tuệ do thiền định đem lại, rõ ràng như vậy. Có thể nói thiền ngữ chớp nhoáng, có thể có trực giác biết được chuyện quá khứ vị lai. Tức là những cái kết quả đó gọi là tuệ, tuệ đó rõ ràng do thiền định đem lại. Nhưng trong cuộc sống tôi vẫn thấy người này không có đạo đức. Tôi ngạc nhiên. Nói sao kỳ vậy ta? Tại sao có thiền định, có tuệ như vậy rồi mà không có đạo đức?
[9:56]Tôi không hiểu. Nhưng còn bản thân tôi thì do cái duyên của cá nhân mình thì tôi chỉ cứ chú ý về đạo đức để tu dưỡng thôi. Mặc dầu thì cũng theo cái đường lối tu tập của chùa, rồi cũng phải ngồi thiền, cũng phải nghiên cứu sách vở, thiền ngữ, vân vân. Đại khái là mình cũng phải đi như vậy. Nhưng riêng bản thân tôi, tôi cứ hay chú ý đến cái đạo đức, những cái lỗi nhỏ trong tâm, những lỗi lớn trong tâm, thế này thế kia, mình tự mình nghiên cứu. Rồi khi quan sát như vậy tôi mới thấy là không hiểu tại sao giữa thiền định và đạo đức không không gặp nhau. Không phải là một người bắt đầu bắt chân ngồi thiền ấy có đạo đức.
[10:34]Không hiểu tại sao. Thì cái thắc mắc nó mãi đến sau này khi mà tôi nghiên cứu sâu vào Nikaya rồi cũng do nhiều người hỏi tôi, thì tôi mới thấy là ngày xưa Đức Phật cũng đã cũng đã đánh giá như vậy, cũng đã xác lập như vậy. Bằng cớ là ngài lập ra cái Tứ thiền và Tứ quả khác nhau. Tứ thiền thì theo mức độ thanh tịnh của tâm, còn Tứ quả là theo cái mức độ thăng tiến của đạo đức, hai cái đó khác nhau hẳn luôn. Cho nên hôm trước khi mà chúng ta học Nikaya này, chúng ta học cái môn tâm lý đạo đức thì nó là cái nhân để chúng ta chứng thánh quả. Song song cái đó, chùa cũng dạy chúng ta thiền định, đó là thăng tiến.
[11:18]Thiền định và đạo đức thì mới thật sự là cái quả thánh của đạo Phật. Có một bài kinh, để sau này chắc từ từ mình học lại mình nhớ chứ bây giờ tôi cũng quên, tôi quên là hình như không biết phải trong Tương Ưng hay trong trong Trung Bộ gì á. Hồi đó thì tôi có dẫn ra nhưng mà giờ tôi quên, tôi có dẫn trong cuốn Luận về Nhân quả, thì Phật có nói là: Chỉ ở trong đạo Phật mới có bốn thánh quả, còn ở ngoại đạo, dù chứng thiền định gì thì chứng, không bao giờ có bốn thánh quả. Hồi đó tôi ngạc nhiên lắm, nhưng vì mình lòng tin Phật, tin Phật không nói sai nên mình chỉ tin chấp nhận mà không lý giải tại sao được.
[11:58]Sau này thì tôi mới biết là vì sao vậy, là vì ở trong đạo Phật á có cái tầng mức thiền định rồi, nhưng bên cạnh đó Phật quy định ra cái mức độ phá trừ kiết sử là mức độ đạo đức. Chính cái đạo đức đi song song với thiền định thì người đó mới chứng được thánh quả. Còn bên ngoại đạo, họ lập ra các tầng mức thiền định, các phương pháp luyện tập để đạt được cái hiệu quả của thiền định mà không nói tới việc phá trừ kiết sử, không nói tới việc thăng tiến đạo đức, cho nên dù họ có chứng được thiền định vẫn không chứng được thánh quả. Phật khẳng định cái điều đó mạnh mẽ lắm trong một bài kinh như vậy, hình như trong Tương Ưng.
[12:37]Nên chúng ta thấy nó quan trọng, do đó chúng ta hôm nay nói với nhau về mười kiết sử là như vậy, là để chúng ta cái con đường mình đi, đi đúng đạo Phật có thể chứng được thánh quả, chứ còn không khéo mình chỉ chấp thiền định là đủ, coi chừng mình trở thành giống như ngoại đạo. Kiết sử là gì? Dĩ nhiên kiết sử thuộc về những điều bất thiện, những điều không có đạo đức. Chữ "kiết" có nghĩa là cột trói, chữ "sử" là sai sử. Thì nghĩa là cái gì ở trong tâm mình á nó cột trói tâm hồn mình và nó sai sử thân khẩu ý mình làm những điều không đúng, không tốt. Đó, đại khái mình định nghĩa một cách sơ sài, căn bản, dở dở như vậy.
[13:19]Còn chừng nào ai giỏi thì mình có định nghĩa hay hơn. Nghĩa là khi mà làm bài này thì quý cô sẽ cho lại một cái định nghĩa kiết sử hay hơn, thấy không? Chứ còn giáo thọ định nghĩa vậy hơi hơi cạn. Chê nhưng mà thôi đừng nói nghe, đừng nói cho ai biết. Bây giờ chúng ta đi qua từng điểm. Cái kiết sử thứ nhất là thân kiến, thứ hai là gì? Nghi. Thứ ba là giới cấm thủ. Rồi thứ tư là tham, thứ năm là sân. Nhiều khi cái đầu tôi nó cũng hơi, nó hai ba hộc gì nó cũng bị ở trỏng. Rồi sắc ái, phải không? Vô sắc ái. Rồi gì nữa? Phóng dật, có nơi gọi là trạo cử, kiêu mạn, vô minh cuối cùng. Mười kiết sử. Đây là những cái từ ngày xưa, những từ ngày xưa nên bây giờ mà chúng
[14:20]ta mà học theo nguyên từ như vậy chúng ta không hiểu hết, nên chúng ta phải chuyển nó thành cái ngôn từ của ngày nay cho dễ hiểu. Thì để tôi tôi chuyển luôn. Cái thân kiến này bây giờ mình gọi là ích kỷ. Cái nghi này khó ghê, nghi này nó khó, nó nhiều nghĩa quá, khó: không đủ lòng tin nè, không có lập trường nè, người hay hoài nghi hay do dự, người đa nghi, người không có lập trường, không có xác tín, không vững lập trường. Đại khái là như vậy đi, chứ nó cũng không hết ý, mình dịch cái này cũng không hết ý lắm nhưng mà thôi để từ từ. Còn giới cấm thủ thì bây giờ mình gọi là cố chấp. Tham, tham này nó có cái hai nghĩa lắm.
[15:04]Tại vì ngày xưa nói chữ đơn giản là tham chứ có hai nghĩa: một là tham lam vật chất, hai là tham dục. Mà ở đây dường như nhắm về tham dục nhiều hơn, tham thì mình để thêm chữ dục nữa. Còn chữ sân này là nóng nảy thì thì nó nhiều nghĩa như là mình bực bội, khó chịu, mình nóng, mình căm hờn, phẫn nộ, tàn nhẫn, dã man, ác độc gì đó. Sắc ái là sự đắm luyến cái phước ở cõi trời. Vô sắc ái là đắm luyến cái phước của cái định, cái cái trạng thái của định. Phóng dật là làm biếng. Kiêu mạn là kiêu mạn. Vô minh là vô minh. Có ai hỏi gì không? Xong rồi đó. Giờ chúng ta nói về thân kiến trước. Thân kiến tức là ích kỷ.
[15:51]Từ cái ích kỷ này sinh ra bao nhiêu cái phiền não bất thiện khác, đâu ai kể ra giùm đi? Bây giờ ai kể được? Vì mình nhìn vào cái tâm mình cũng giống như mình quan sát mọi người thì mình thấy rằng cái từ cái tâm ích kỷ này nó phát sinh ra bao nhiêu điều bất thiện, cái hệ quả kế đó. Ai? Ai trả lời? Mỗi lần hỏi cái lơ hết trơn, kỳ quá. Ai từ bi trả lời đi. Mắt kiếng này chắc học giỏi nè. - Mô Phật, con thưa Thầy! Ừm, từ ích kỷ sanh ra tham ái và tham dục. - Phải quan sát tâm mình mấy cái đó. Mình học qua ba chục bài tâm lý đạo đức rồi, mấy cái này phải nắm thật vững, không có nghi ngờ. Trong cái đường tu mấy cái này phải nắm thật vững.
[16:42]Mắt kiếng không được, thôi không mắt kiếng. - Thưa Thầy, từ ích kỷ sanh ra mình không muốn giúp đỡ ai, chỉ lo cho mình. - Nghe buồn quá! Hôm trước mình học rồi, từ ích kỷ nó sẽ sinh ra như là cái ác độc, tham lam nè, hơn thua, ganh ghét, đố kỵ, đó, từ những cái đó đó. Mà những cái bài đó thì mình nói hết rồi phải không? Cái bài tham lam mình nói chưa kìa? Nhiều khi trong ba chục bài đạo đức chứ mình chưa học tới bài tham lam. Tham ái nó khác, tham lam vật chất nó khác, muốn nhiều cho mình nó khác. Nên thấy không, thấy mấy ba chục bài đạo đức chứ chưa có hết đâu, chưa đâu đủ đâu là đâu đâu. Sau này quý cô ráng giảng thêm ba chục bài nữa nghe không?
[17:28]Ráng, khi mà nữa làm giáo thọ giảng thêm ba chục bài nữa. Thì từ cái ích kỷ thì mình mới có cái tâm hơn thua, mình chỉ muốn mình hơn thôi, không muốn ai hơn hết. Thấy người khác mà được khen là giỏi, mình khó chịu vì mình chỉ muốn mình giỏi hơn thôi. Thì cái đó là nguyên nhân mà gây chia rẽ, hận thù, đấu tranh với nhau cũng từ cái ích kỷ này. Nên cái ích kỷ này là căn bản lắm. Đầu tiên là chấp ngã, chấp ngã nó sinh ra ích kỷ, rồi ích kỷ nó sinh ra vô số cái phiền não sai lầm khác. Cho nên nếu chúng ta cứ nhắm ngay cái ích kỷ mà chúng ta khống chế được thì rất nhiều cái tâm xấu nó rớt hết trơn.
[18:06]Như có lần có người hỏi tôi chứ nói: "Thưa Thầy, con thấy mấy Thầy còn hay phân biệt đệ tử chùa mình, đệ tử chùa kia. Hễ thí như thấy đệ tử chùa này mà bỏ qua chùa kia mấy Thầy khó chịu." Tôi không biết có hay không, tại thường thường tôi nghĩ quý Thầy chắc không có chuyện đó. Rồi cái người Phật tử mới hỏi tôi: "Thưa Thầy, ví dụ bây giờ Phật tử của Thầy mà bỏ Thầy đi theo Thầy khác thì Thầy nghĩ làm sao?" Cái tôi trả lời: "Thì theo Thầy nào cũng là theo đạo Phật thôi, mắc mớ gì đâu buồn. Thì cũng tốt thôi, chỉ sợ bỏ Thầy mà đi theo cái ông hàng xóm thì mới kỳ chứ bỏ Thầy đi theo ông Thầy khác thì cũng là theo
[18:37]đạo Phật thôi, có sao đâu." Cái nghe vậy họ cười, họ vui. Mà sự thật tôi phải cắn răng tôi trả lời như vậy, mặc dù trong lòng đau khổ vô cùng. Tại vì mình lỡ dạy môn đạo đức nên mình phải trả lời vậy. Mà mình trả lời như vậy là dựa vào cái quan điểm không có ích kỷ. Chứ còn nếu mình ích kỷ, mình mình sẽ sẽ muốn à ai là Phật tử của mình, đệ tử của mình, cái tâm đó nó nguy hiểm lắm. Những cái điều này sau này tôi sẽ nói thêm trong cái quan điểm về Phật sự. Bây giờ thì tạm thời như vậy. Nên cái mà tranh giành với nhau, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau đó cũng là một loại từ ích kỷ mà ra. Như thấy người khác họ nổi, mình chịu không được cái mình cũng muốn
[19:15]mình nổi lên, mình có ảnh hưởng nhiều người, đó là cái cái ích kỷ. Cái này là quan điểm Phật sự mình nói sơ sơ một chút. Ví dụ như mình thấy có một người nổi tiếng nè, cái mình khó chịu, mình muốn công kích người đó để mình giành mình nổi lên thì đúng là đạo Phật tan nát hết trơn. Mà cái hay nhất là gì? Hay nhất ví dụ thấy người đó nổi lên mà mình thấy người đó cũng đúng luôn không phải tà, cứ ủng hộ. Ủng hộ người đó xong, rồi từ từ tới phiên mình nổi luôn. Mà nói nhân quả, nhiều khi còn nổi hơn cái người đó nữa, vì cái nhân quả à. Mà tôi thấy rõ ràng vậy đó, tôi thấy trước mắt nhiều chuyện như vậy.
[19:52]Còn hễ chống cái tự nhiên làm cho đạo Phật bị phân hóa, bị chia rẽ, người ta nhìn bên ngoài người ta thấy đạo Phật yếu mà cũng là do cái tâm ích kỷ đó. Nên ừm đây là cái điều nó khó lắm. Cái tâm ích kỷ đó ví dụ như trong tâm mình có cái ích kỷ trong đó thì à hôm nay mình nghe giảng cái ích kỷ là cái nguy hiểm. Nhưng mà mình nghe giảng 1000 lần thì mình mới mẻ được 1/3 nó thôi. Nguy hiểm như vậy, nó nặng như vậy chứ không phải dễ. Cho nên hôm nay chúng ta nói với nhau rằng cái kiết sử đầu tiên mà một vị Tu-đà-hoàn phải phá được là lòng ích kỷ, nghĩa là người này phải sống một đời vị tha. Nói như vậy, nhưng nói 1000 lần nữa thì trong tâm mình cái ích kỷ nó mẻ 1/3,
[20:37]1000 lần á, chứ còn nghe một lần thì chưa nhúc nhích chưa nhúc nhích. Nghĩa là một lát sau khi xong buổi học mình xuống mình vẫn tiếp tục tỵ hiềm, tiếp tục giận hờn, tiếp tục ganh ghét, tiếp tục giành ăn, tiếp tục hứt ngáy nhau, hít hứt hé nhau. Ừ nghĩa là đủ chuyện vẫn còn nguyên. Rồi khi kêu lên rầy, rầy rồi cái quay lại đứa nào méc? Nghĩa là vẫn không thấy lỗi mà vẫn tiếp tục giận hờn thì tất cả đều do cái cái thân kiến này, cái ích kỷ này mà ra hết. Khó lắm, không phải dễ. Tôi nói, tôi nói thật Chỉnh sửa một cái một cái kiết sử trong đây là chuyện thiên nan vạn nan. Vì tôi làm thầy rồi tôi biết điều này.
[21:18]Tôi dạy dỗ đệ tử cực khổ quá tôi biết á. Nên có những cái kiết sử gọi là những phiền não không phá nổi. Nhiều khi tôi thất bại luôn, chứ không phải dễ. Còn có những người nhiều khi chỉ nghe băng thôi là lòng mở ra hết liền. Chỉ nghe băng giảng rồi lòng mở ra, thương yêu được mọi người, sống buông xả được, vị tha được thì người này không phải mới tu một đời. Cái người này tu nhiều kiếp rồi. Là do kiếp này không ai nhắc, quên thôi, nghe nhắc là sống lại liền, đạo đức trở lại liền. Còn có những người nghe nhắc cả trăm lần không nhúc nhích chỉ một cái lỗi nào đó thôi. Nó không phải dễ đâu, không phải dễ.
[21:54]Vì vậy mà cái người tu Phật á phải nhắm tới cái tâm vị tha là cái đầu tiên. Phải sống một đời hoàn toàn vị tha vì người khác. Đây là cái căn bản mà chúng ta thấy được nơi một vị chứng thánh quả. Nó làm gì làm không biết, mình chưa đánh giá hết mà thấy người đó sống một đời chỉ vì mọi người thì chắc chắn người này đã chứng Tu-đà-hoàn. Nếu mà kiếp này chưa có xuất hiện cái trạng thái tâm linh thì cái quả Tu-đà-hoàn này đã nằm ở kiếp trước rồi. Đó là điều chắc chắn. Cho nên vì tôi không có là thầy bói mà tôi chỉ dựa vào kinh Phật thôi là tôi có thể bói được nhiều điều cũng hay lắm, vì dựa vào giáo lý thật kỹ.
[22:34]Thí dụ nhìn một người Phật tử, chỉ là người Phật tử thôi không xuất gia mà nhìn vô thấy người này sống thật là vị tha thì đời này chưa tu gì được hết trơn á nhưng tôi biết người này đã chứng Tu-đà-hoàn ở một kiếp nào rồi, nên cái vị tha nó mang được tới kiếp này, vì người Tu-đà-hoàn là phải chấm dứt được cái vị kỷ. Vì vậy chúng ta hiểu điều đó rồi chúng ta phải sống một đời hết sức là vị tha. Vị tha trong ba điều: tu, trong học, mà trong làm công quả. Làm lợi ích chúng sinh đó tạo công đức đó cũng vị tha. Nghĩa là khi mình ngồi tu mình ngồi thiền thì mình phải nghĩ vì chúng sinh mà ngồi chứ không được là vì mình mà ngồi.
[23:14]Khi ngồi học như thế này, không được nghĩ là vì mình mà học cho mình có kiến thức cho mình có bằng cấp không được, mà phải nghĩ là vì chúng sinh mà học. Khi ngồi trong lớp mà nhắm mắt ngủ thì cũng phải vì chúng sinh mà ngủ, nghe không? Nhớ.
[23:31]Rồi sau này khi mình bước ra mình làm việc Phật pháp, mình giáo hóa thì cũng không được vì danh vì lợi mà phải vì lợi ích của Phật pháp của chúng sinh, chứ không được vì mình. Nhớ như vậy. Nên trong ba cái tu, học và làm việc Phật pháp đều vì chúng sinh, đều vị tha hết. Còn nếu mình không biết thì ba cái đó đều vị kỷ hết. Hễ ngồi tu là cho mình đắc đạo, học là cho mình giỏi, và làm việc thì để cho mình có phước. Cũng ba cái việc bên ngoài làm giống nhau hết. Nhưng một người bên trong là vị kỷ, một người bên trong là vị tha. Rồi có người phân nửa vị tha, phân nửa vị kỷ. Nghĩa là khi tu thì thấy là tu cho mình, khi ra làm giáo hóa thì là vì chúng
[24:11]sinh, nghĩa là trong đó chia đôi ra một bên vị kỷ, một bên vị tha. Thì cũng không được luôn. Như có lần có ông thầy cũng vậy, ông a con người tôi thấy ông tốt, đạo đức, giỏi hơn tôi nhiều lắm. Nhưng ông tâm sự với tôi, ông mới nói ông ông khiêm tốn ông xưng con nữa, ông nói thưa thầy, con ơ con rất là ham tu nên thường hay nhập thất. À nhưng mà rồi lại thấy Phật tử tội nghiệp nên lại bước ra để mà giảng dạy. Mà khi ra giảng dạy Phật tử như vậy rồi lại muốn tu, con cứ bị giằng co giữa hai cái đó, giữa cái tu và cái làm việc. Tôi ngồi tôi mới nói: "Vậy thầy còn vị kỷ cho nên thầy mới bị giằng co.
[24:56]Chứ nếu thầy thật sự vị tha, thầy không còn giằng co nữa. Nghĩa là khi mà thầy vào thất thầy ngồi tu thì vì chúng sinh mà tu. Khi bước ra làm việc thì vì chúng sinh làm việc đã đành rồi, lúc tu cũng vì chúng sinh mà tu, tự nhiên cái tâm giằng co mất, chỉ tùy duyên thôi." Ông nghe rồi thấy ông có vẻ hơi thấm mà dường như chưa vỡ lẽ ra một cái cái òa, chưa vỡ lẽ lắm nhưng mà cũng từ từ thấm. Rồi chỗ này ngay cái chỗ thân kiến này thì cái từ giá trị của cái đạo lý từ bi nó được nói tới. Nghĩa là cái từ bi là một khái niệm rất lớn trong đạo Phật, nhưng mà trong mười kiết sử mình không nghe nhắc tới,
[25:32]nhưng mình phải hiểu là nó nằm ở ngang cái chỗ kiết sử thứ nhất. Khi kiết sử thứ nhất mà phá được có nghĩa là đạo đức từ bi đang được nói tới. Rồi mình nói qua cái nghi, không có thời gian nói nhiều mọi thứ. Nghi thì có nhiều cái nghĩa nhưng mà đầu tiên là mình không có trọn lòng kính tin Phật, đó là cái nghi. Nghĩa là cái người này đối với Phật còn hồ nghi, không biết ông Phật ổng có giác ngộ thiệt không, ổng có trí tuệ thiệt không, ổng giải thoát thiệt không, ổng có cao cả thiệt hay không? Đó là có người còn nghi như vậy. Mà cái nghi này là một cái mất đạo đức, tại sao ạ? Như vậy là nếu nếu mà buộc là đừng nghi
[26:12]là phải luôn luôn tin Phật, vậy chúng ta đạo Phật chúng ta có đồng với các ngoại đạo cũng buộc tín đồ phải tin không? Vì các đạo khác đạo nào cũng vậy, phải buộc tín đồ phải tin tuyệt đối cái đường lối của đạo đó, giáo chủ đó, thần thánh đó, nếu không là bị xuống hỏa ngục. Thì đạo Phật mình cũng đặt một cái nghi này vào trong cái trong cái phá trừ kiết sử là phải tin thì đạo Phật mình có giống không? Giống không? Không chỗ nào, không giống chỗ nào? Ai nói được là người đó chứng Tu-đà-hoàn đó. Ở đây đó cái mà vững niềm tin này nó không phải thuộc là một cái sự áp đặt mà thuộc về trí tuệ. Trí tuệ của lương tâm. Cái điều này ngộ lắm.
[26:54]Cái điều này ai cũng có hết mà mình không có khơi ra thôi. Tôi nói ví dụ thế này. Ví dụ đơn giản, đơn giản là
[27:05]bây giờ mình thấy một người nghèo khổ, thì giữa một người mà nhìn thấy cái người nghèo khổ rồi dửng dưng bỏ qua đi luôn, rồi một người khác nhìn thấy người nghèo khổ xót xa muốn giúp đỡ, tôi nói muốn giúp thôi chứ chưa chắc có tiền để giúp, thì giữa hai thái độ đó chúng ta thấy thái độ nào đúng? Xót xa muốn giúp đỡ là đúng phải không? Có ai thấy ngược lại không? Có ai không công nhận điều đó không? Như vậy là như vậy ở đây chúng ta chung với nhau một quan điểm hết phải không? Là thấy người khổ, tâm mình có xót xa có muốn giúp đỡ là đúng. Đó thuộc về niềm tin hay thuộc về về trí tuệ?
[27:42]Cái thấy đó là thuộc về niềm tin hay thấy là trí tuệ? Rõ ràng trí tuệ, trước đây không ai bắt chúng ta điều đó hết. Nhưng khi nói ra là tất cả chúng ta đều công nhận nó là đúng, phải không? Cái đó thuộc về trí tuệ. Thì nó vào cao hơn một chút xíu nữa, rồi bắt đầu mình nói một cái người ví dụ khi người đó quá giỏi, Rồi cảm thấy cũng không cần phải tôn trọng người khác. Rồi còn một người quá giỏi mà vẫn giữ mình để tôn trọng mọi người, thì hai người đó người nào đúng? Người giỏi mà vẫn kềm chế mình để tôn trọng người khác được là người đó đúng phải không? Chúng ta biết được điều đó là do ai dặn mình vậy? Sáng nay có ai dặn?
[28:21]Hay là tự mình thấy? Đó, đó là trí tuệ, không phải niềm tin, không phải áp đặt, phải không? Nó như vậy. Thì cũng vậy, khi một người mà tâm họ tu tập, họ đạt được cái thiền định, đạt được được đạo đức, đạt được một cái gì đặc biệt trong tâm họ, bỗng nhiên họ vững tin Phật liền. Tự nhiên họ tin chắc Phật là đấng giác ngộ giải thoát thật sự, mặc dù họ chưa bằng Phật. Nhưng mà trong tâm họ chuyển biến một cái là họ có cái niềm tin nó liền. Thì cái chuyển biến gì đó, trạng thái như thế nào, chúng ta không biết. Nhưng mà tự nhiên nó phải xuất hiện cái điều này. Cũng giống như trước đây nó đã xuất hiện được cái
[28:53]vị tha, thì kế tiếp nó xuất hiện luôn cái tự nhiên vững niềm tin với Phật liền, không lung lay. Cái này là cái tự nhiên, không do áp đặt. Cho nên cái nghi mà trong cái kiết sử để phá này nó không phải do niềm tin kiểu áp đặt của các tôn giáo khác, mà nó do trí tuệ chúng ta hiện ra, khiến là chúng ta xác tín được cái lập trường đối với Phật pháp. Chúng ta nhớ điều này nha, đây là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo. Mai mốt có ai hỏi, cô nhớ trả lời cho thật kỹ chỗ này đó nha. Đó là mình nói như vậy. Rồi, một cái điều nữa nè, như nãy chúng ta nói là cái khả năng cảm nhận đúng sai nhanh chóng khi nghe một đạo lý.
[29:29]Nghĩa là nghe người ta thoáng một cái là nhận ra đúng sai trong lời nói người kia liền, là cái chỗ nghi này nè, biết người kia nói đúng sai liền. Tu-đà-hoàn có khả năng này, có trí tuệ này. Nhưng mà cái chỗ này là còn hơi thụ động á, nghĩa là đợi người ta nói ra rồi, thì mình có cái cảm nhận đúng sai lập tức liền. Người đó nói sai sai, kỳ kỳ, nghi nghi để đó liền. Hoặc người đó nói cái, thì mình thấy giống như là tâm mình với cái lời của người kia nói nó ăn khớp với nhau như là, như là đổ khuôn vậy, nhận liền, còn người kia nói sai cái nhận ra liền, mà không tự mình nói được, chưa tự mình nói được.
[30:00]Còn cái bậc thánh mà có trí tuệ đó thì nó không nằm trong đây, nó không nằm ở đây. Là những vị mà có trí tuệ siêu xuất thì họ không có phải đợi người ta nói nữa, mà trong tâm họ tự nhìn thấy hết đạo lý luôn. Họ sống một đời thanh thản, nhưng mà nhìn tới đâu thấy đạo lý tới đó, biết đúng biết sai hết trong tất cả mọi lĩnh vực, thì có thể nói lại người khác được thì đó là bậc có trí tuệ mình không có nói, mình không có bàn được. Nhưng mà riêng cái chỗ nghi này là mình chờ người ta nói xong mình đánh giá, đánh giá rất là lẹ. Hồi nãy chúng ta đưa ra hai cái điểm về cái lòng từ bi với lại cái kiêu mạn thì tất cả chúng ta đây đều giống
[30:32]nhau và thấy phân biệt đúng sai liền, phải không? Nhưng mà khi đi sâu vào trong đạo lý nó còn nhiều cái phức tạp khó nhìn hơn cái đó nữa, phức tạp khó nhìn hơn nhiều mà vẫn phải nhìn ra, nhìn ra đúng sai liền. Ví dụ, ví dụ như khi chúng ta nghe có một người nào đó nói là khi chúng ta thương yêu người khác thì chúng ta có niềm vui. Cái này bắt đầu khó thấy rồi đó. Hễ thương người khác, tự động tâm mình có cái niềm vui. Ở đây mấy cô có thấy điều đó không? Thấy không? Vậy là mấy cô cũng đã thấy được điều này. Có thấy không? Sao nghe ít người nói quá vậy kìa? Bộ không có thương ai sao không thấy vui sao?
[31:05]Mình thương người khác, tự nhiên mình có niềm vui, mà giúp người khác thì vui còn nhiều hơn nữa. Cái điều này quý cô có cảm nhận được không? Đó, cái này bắt đầu nó khó hơn cái kia rồi phải không? Rồi thêm điều nữa, cái vui này nếu mà mình hưởng á, mình có cảm giác vui nó khởi lên rồi mình chấp nhận mình giữ gìn mình hưởng cái niềm vui đó, thì nó sẽ sinh ra cái vị kỷ trở lại. Có thấy cái này chưa? Thấy được là hơn tôi rồi đó, tôi chưa thấy. Nó giỏi. Nhưng mà chúng ta thấy tới chỗ này bắt đầu nó phức tạp rồi phải không? Chỗ này đạo lý phức tạp. Nhưng mà nếu mình có cái trí tuệ của Tu-đà-hoàn á, mình nghe nói tới chỗ này mình chấp nhận liền,
[31:40]đúng, cái ông này nói đúng, cái cha này nói đúng. Nghe ra biết liền. Còn nếu mình chưa có trí tuệ Tu-đà-hoàn á, ủa, vui mình hưởng được chứ sao hưởng vui ích kỷ? Mình ngờ ngợ liền. Thì cái người mà nghe cái đạo lý tới chỗ phức tạp này mà ngờ ngợ thì người này chưa chứng Tu-đà-hoàn. Trong tâm này chưa diệt được cái nghi này, vì cái nghi này là trí tuệ nhận được đúng sai nhanh chóng của một đạo lý liền. Chỗ này khó lắm. Cho nên coi vậy chứ không phải dễ chứng Tu-đà-hoàn là vì cái mắc mớ chỗ này. Ví dụ như là chúng ta nghe nói tới nhân quả: làm nhân gì bị quả đó, mình nghe nhận ra liền, tin liền;
[32:15]cuộc sống có luân hồi, nghe hợp lý chấp nhận liền, tự nhiên trong thâm sâu trí tuệ của mình đón nhận liền, đó là Tu-đà-hoàn. Còn có nhiều người mà nghe nói chết rồi mình tái sinh cứ ngờ ngợ không biết có thiệt không, hay đạo Phật bày đặt, thì người đó chưa phải Tu-đà-hoàn. Đó, hồi nãy đó những cái đạo lý từ từ nó phức tạp, từ từ nó phức tạp mà mình nghe mình cảm nhận đúng sai liền, đó là trí tuệ của Tu-đà-hoàn, xác tính liền, lập trường vững vàng liền. Cái nghi này là như vậy đó. Rồi một điều nữa là không đủ lý tưởng giác ngộ giải thoát cũng gọi là nghi. Cái người mà chứng Tu-đà-hoàn họ có cái lý tưởng giác ngộ giải thoát mãnh liệt trong
[32:48]tâm lắm, không cái gì có thể làm lay chuyển được, chỉ phá được tạm thời thôi. Ví dụ như một người đó họ khi họ tái sinh vào một kiếp mới, họ quên hết, họ không còn nhớ họ là đạo Phật hay gì hết, thì đôi khi họ có những cái lầm lỗi của cái thời thơ ấu nào đó. Nhưng mà khi gặp lại đạo Phật rồi là cái sức mạnh, cái sự thúc đẩy phải đạt được cái sự giác ngộ giải thoát là không cái gì có thể làm lung lay được, thì người đó cũng là người đã chứng Tu-đà-hoàn từ kiếp trước. Chúng ta thấy rồi đây là thánh quả nói trên đạo đức không à. Ví dụ như cái người chứng Tu-đà-hoàn thì họ có thể có một cái sai ở chỗ khác, một cái sai gì đó.
[33:24]Ví dụ họ có thể còn ăn cắp, nhưng mà chắc chắn họ không ích kỷ. Ủa, nói sao còn ăn cắp mà không ích kỷ? Vì có khi họ ăn cắp họ cho ai á, họ lỡ gì đó, thấy ai kẹt quá mà mình không có, người kia không có thôi lấy đỡ này đỡ cho thằng kia. Là lúc đó là có thể đối với giới họ phạm, nhưng mà đối với đạo đức là họ, họ không không mất, vẫn đầy đủ, là Tu-đà-hoàn, coi chừng mấy người đó Tu-đà-hoàn. Nói nói chứ lát đừng có thò tay lấy đồ huynh đệ đem cho huynh đệ khác rồi nói tôi Tu-đà-hoàn nha, mất lòng hàng xóm lắm, không nên. Cái kiết sử thứ ba là giới cấm thủ, bây giờ mình gọi là cố chấp. Cố chấp, cố chấp thì ai là cố chấp là làm bà già ráng chịu á.
[33:58]Thường mấy bà già hay cố chấp. Nhưng có sư bà là không nha, không nói đụng sư bà à, sư bà rất là tuyệt vời. Cố chấp có nghĩa là chấp theo cái nguyên tắc, hễ cái nguyên tắc đưa ra mình không chịu thay đổi, chấp, chấp khăng khăng như vậy đó là cố chấp á. Hoặc là một cái lề lối gì đã cũ, người ta đã nói rồi là mình không dám sửa, giữ y chang luôn thì đó cũng là cố chấp. Hoặc là tâm mình mình nghĩ như thế nào thì nó là đúng, không được nói sai nữa, đó là cố chấp. Cái cố chấp này tôi đã giảng qua hai băng, tôi có tặng rồi, có nghe chưa? Chưa? Giỏi, ráng nghe hai băng đó nha. Trong cái đạo đức mà không nghe hai băng cố chấp
[34:33]là coi như chưa có xong môn tâm lý đạo đức đó. Ráng nói mấy ni sư giáo thọ thỉnh quý ni sư mở băng cho chúng nghe, mấy băng cố chấp quan trọng lắm á. Ở đây chúng ta không có thời giờ để nói, tiếc ghê, 10 kiết sử này mà chỉ giảng tiếng rưỡi không bao giờ hết ý. Chúng ta thấy thế này, là cái ngôn ngữ hoặc cái nguyên tắc, cái hình thức á là dùng để thể hiện đạo lý, nhưng không bao giờ thể hiện được trọn vẹn. Ví dụ như bây giờ chùa Thiên Phước chúng ta đi, trên hình thức chúng ta tổ chức làm một cái Phật học viện, trong cái Phật học viện này chúng ta có nội quy, có giờ giấc, giờ ăn, giờ ngủ, giờ tu tập, là đủ hết.
[35:06]Rồi chúng ta có ghi những cái ngôn ngữ trên bảng là nhắc nhở những cái câu đạo đức, kinh điển. Nghĩa là như vậy chúng ta có hình thức, có ngôn ngữ, có lề lối, có nội quy. Mục đích để làm gì? Mục đích là để thể hiện được Phật pháp nơi cái chùa này. Nhưng mà những cái đó có thể hiện được không? Thể hiện hết không? Không bao giờ thể hiện hết, vì Phật pháp vẫn là một cái gì nó cao hơn ngôn ngữ, ngôn ngữ với không tới, quy luật với không tới, nguyên tắc với không tới. Cho nên nếu mà cứ chấp vào những cái nguyên tắc hình thức quy luật coi chừng mình mất đạo. Phải giữ để đi tìm tới đạo, nhưng mà giữ chặt nó quá thì
[35:39]không bước thêm tới đạo được nữa, đứng lại đó luôn. Đó, đó là điều mà chúng ta để ý. Cho nên cái vị mà Tu-đà-hoàn này á, ổng có cái hay là ổng nhìn thẳng vô đạo chứ ổng không có nhìn qua hình thức hay quy luật. Nghĩa là trước khi mà tới cái đạo trừu tượng này nè, chúng ta có những cái màn này, cái màn này gọi là: ngôn ngữ nè, hình thức nè, nguyên tắc nè, lề lối, quy định, đủ thứ màn. Thì thường mắt chúng ta nhìn á là nhìn tới ngang đây, con mắt chúng ta nhìn là nhìn tới cái ngôn ngữ, à gặp cái ngôn ngữ này là đạo, gặp cái hình thức này à đầu trọc này là đạo nè, nhìn ở đây cái ăn chay là đạo nè,
[36:11]nhìn cái nữa cái ở chùa là đạo, mình nhìn ngang tới chỗ này cái hàng rào này hết à. Nhưng một vị Tu-đà-hoàn á, đôi mắt siêu đẳng nhìn tới đây, nhìn vô tới chỗ này luôn. Nghĩa là nhìn vượt qua hàng rào là nhìn thẳng được cái bản chất của đạo mà không có bị kẹt bởi cái hàng rào này, cho nên không có bị cố chấp. Như hôm trước mà chúng ta hay có câu chuyện mà trong Góp Nhặt Cát Đá hay thường biểu biểu diễn á, hai ông tăng đi với nhau đi qua con đường lầy, cô gái mặc áo kimono rồi sợ dơ không dám bước á, ông kia ổng lại ổng ôm ổng bưng đi qua, ổng quăng bên kia luôn, quăng cái bịch qua bên kia đường rồi ổng đi tiếp.
[36:41]Ông bạn cự nự quá chừng trời ơi, bởi vì giới Tỳ-kheo đâu được đụng người nữ kiểu đó. Ổng cự cái, lát ông kia bực mình quá ổng cự cái, này nói: Ủa, tôi quăng cổ cái bịch dưới kia rồi sao anh vác theo tới chỗ này? Tức là ông kia ổng nhìn thẳng tới bản chất của đạo là cái tâm thanh tịnh, vô nhiễm chứ không phải nằm trên hình thức của giới luật. Coi chừng giới luật vẫn còn là cái hàng rào, chưa thấy được bản chất. Lúc đó vì giữ giới mà để cổ kẹt trên cái đường lầy trời mưa lâm râm rồi có những tên cướp nào nó tới, cái đó mới nguy hiểm á, cái đó mới là ác, giữ được giới mà là ác. Nên ở đây vì cái từ bi, ổng đi qua tới chỗ này luôn. Cho nên đó là một trường hợp.
[37:14]Dĩ nhiên là còn nhiều trường hợp khác để chúng ta ví dụ về cái này. Nghĩa là chúng ta giữ cái hàng rào này để thể hiện đạo, nhưng mà không bao giờ quên mất cái đạo là cái gốc, cái bản chất nó nằm phía sau những điều đó. Mình phải đủ trí tuệ để thấy được cái bản chất của đạo ở phía sau cái hàng rào ngôn ngữ, nguyên tắc, hình thức, quy định này. Mà cái thấy đạo đó như thế nào thì cái đó phải chứng Tu-đà-hoàn chúng ta mới có trí tuệ thấy được bản chất của đạo như thế. Hiểu không? Hiểu không? Chỗ này hơi khó hiểu, nhưng mà thôi cứ hiểu mơ mơ đi rồi về mình suy nghĩ thêm để làm bài. Thứ tư. Thứ tư là tham, tham này là tham dục.
[37:59]Tham này có nghĩa là tham lam, tham tiền, mà nó thường cái ý tham dục nhiều hơn. Vì sự thật á, là khi mà không còn thân kiến ích kỷ, thì cái tham lam về tiền bạc cho mình nó hết à. Cho nên cái tham ở chỗ nơi cái kiết sử thứ tư này nó hàm cái ý là tham dục, tức là bản năng tính dục của mỗi người. Thì chỗ này là tới mà chứng Nhị quả thì hai cái này nó mới bớt được một phần chứ nó không bớt hết nha. Bớt một phần, không bớt hết. Nghĩa là sao? Nghĩa là một vị mà chứng thánh quả Tu-đà-hoàn ban đầu vẫn có thể có sống một đời sống vợ chồng bình thường, vẫn còn sinh hoạt tính dục bình thường, là vì nơi cái kiết sử này còn.
[38:44]Cho nên thời Đức Phật vậy, rất nhiều vị cư sĩ chứng được thánh quả Tu-đà-hoàn nhưng vẫn tiếp tục có chồng có con, như là tín nữ Vi-sa-kha vậy. Tín nữ Vi-sa-kha là bà lớn lên, bà gặp Phật, bà chứng Tu-đà-hoàn liền, nhưng sau đó bà vẫn lấy chồng và đẻ rất nhiều con. Vì nó là như vậy đó. Mà chứng Tư-đà-hàm, tức là quả Nhị quả thứ hai, hai cái này vẫn còn, chưa hết. Vẫn còn, chưa hết. Tới chứng Tam quả A-na-hàm thì mới dứt sạch được hai cái này. Là người này không còn bị bản năng tình dục chi phối, và lòng mát mẻ, thanh lương, không bao giờ nổi nóng nữa. Là tới A-na-hàm là thật sự dứt được hai điều này.
[39:24]Chớ tới Nhị quả Tư-đà-hàm, hai cái này vẫn còn, vì hai cái này nó khó lắm, bản năng của chúng sinh. Hai cái này vẫn chỉ là mỏng nhạt thôi chứ chưa dứt hẳn, là Nhị quả đó. Chỗ này rất là khó. Nên ở đây, có nhiều khi ví dụ chúng ta nhìn thấy một người họ họ còn sống cái đời sống vợ chồng và chúng ta nói: "Người này làm sao mà chứng được thánh quả?" Nhưng mà coi chừng họ là chứng được Tu-đà-hoàn. Tại vì Tu-đà-hoàn chưa hết, nhưng miễn chúng ta thấy họ sống vị tha, vững niềm tin với Phật pháp, và sống không cố chấp thì người này chứng được thánh quả rồi. Vì họ vẫn còn những cái này. Có khi họ nổi nóng, nói:
[40:05]"Ông đó ông tu sao ông còn nổi nóng?" Nóng nóng chứ họ chứng Tu-đà-hoàn rồi, hay là Tư-đà-hàm rồi không chừng nữa. Nhưng mà Tư-đà-hàm thì cái nóng của họ mình hơi khó thấy. Họ chỉ bực bực nhẹ nhẹ trong lòng thôi, chứ bên ngoài ít có thấy. Chứ người Tu-đà-hoàn á nhiều khi họ nổi nóng bên ngoài mặt mình còn thấy á, ngoài mặt còn thấy. Là Tu-đà-hoàn á là nói chứng sơ quả, sống rất vị tha, rất nhiệt tình thương yêu mọi người, rất có lý tưởng giải thoát nhưng mà đụng chuyện sừng sộ lên cũng còn. Cho nên ở đây thấy thấy huynh đệ mình sừng sộ lên coi chừng người đó cũng chứng Tu-đà-hoàn rồi, đừng có đụng tới.
[40:40]Nhưng mà tới Tư-đà-hàm á thì họ cái cái sân họ tế lắm, sân họ tế, mình nhìn khó thấy. Chỉ tự họ biết họ thôi. Họ gặp cái chuyện gì đó họ bực lên, họ thấy trong lòng họ bực, bên ngoài họ giữ vẻ bình thản được nhưng bên trong họ bực rồi. Mà mình nhìn không biết, họ tự họ biết. Họ chưa hết, nhưng mà đó có thể vẫn là Tư-đà-hàm rồi chứ không phải là đơn giản, không phải là thứ thường đâu. Ở đây á là cái tham dục này nó là một cái bản năng, bản năng này nó mạnh quá, như hôm trước chúng ta nói trong bài tham ái là tất cả chúng sinh đều bị cái bản năng tính dục nó chi phối, nên cái việc mà mà cái cái cái kiết sử này nó chi
[41:21]phối nặng nề trong lòng con người là chuyện bình thường. Chuyện rất bình thường, mà phải do tu chứng thánh quả này là phải do thiền định đó, vừa là phước cộng với thiền định mới mới phá trừ được cái tham và sân. Chúng ta nhớ hai điều đó. Phước nè, cộng thiền định, mới có thể là phá được, mới có thể là bằng bằng được cái gì? Không tham dục, vô dục. Hai cái này cộng lại. Ví dụ thấy một người nào đó mà mình thấy họ còn có thể là bị chi phối bởi tình dục thì đừng có ngồi đó mà mình mình lên giọng dạy họ mất công lắm. Nói: "Anh phải thấy cái đó là nhiễm ô, đó là trầm luân sinh tử." Mình nói đã đời không có.
[42:07]Chừng nào mình thấy họ được hai cái này: họ có cái phước. Phước này là phước gì? Phước lạy Phật, phước sống một đời vị tha. Phước này là phước lạy Phật nè, làm công quả cho đại chúng nè, sống xả thân vì mọi người, cộng với siêng năng thiền định mà vào định được. Hai cái này cộng lại rồi mới đạt được cái vô dục. Chứ còn có người ví dụ họ đạt được thiền định mà mình không thấy họ lạy Phật, không thấy họ có đạo đức xả thân vì chúng sinh thì tuy họ có thiền định, đừng tin rằng họ đã đạt được cái vô dục.
[42:43]Vì họ không có cái phước này. Cho nên nhiều người có thể là nói thiền định trên mây xanh hoặc là có thể ngồi thiền được hai ba ngày, nhưng đừng bao giờ chúng ta tin rằng người này đã đạt được cái thanh tịnh vô dục vì không biết chắc người này có lòng tôn kính Phật tuyệt đối chưa để đạt được cái phước á. Để ý như vậy. Nên phải hai cái này cộng lại mới vượt qua. Thì lúc đó là cái bản năng, tức là những nội tiết tố tính dục, nội tiết tố sinh dục, nó không tác động lên trên tế bào não để tạo thành cái ước mơ, cái ước muốn tình dục nữa. Nó chấm dứt được là do phước và thiền định tạo thành. Cái sân cũng vậy, cái sân coi vậy chớ nó là một cái...
[43:27]nó có một cái nội tiết tố, tôi nhớ không lầm là adrenaline, nó làm cho người ta hưng phấn lên. Nội tiết tố trong người nó làm hưng phấn và nó trong tất cả loài động vật nào ai xúc phạm tới tâm hồn, nhân phẩm của mình, ai nói ngược cái ý của mình, thì cái adrenaline này nó nó xuất hiện làm cho chúng ta hưng phấn lên, và cái hưng phấn không đúng hướng thì làm chúng ta có cái thái độ gọi là giận hờn, bực bội người khác. Thì như vậy. Thì cái người mà cũng vậy, muốn vượt qua được cái sân này cũng phải có hai cái, có phước và thiền định. Chứ một cái không hết. Một cái không hết. Ví dụ cái người có phước nhiều mà không có thiền định,
[44:08]tâm không có đầm, cũng không dứt được cái sân. Mà người có thiền định nghen mà kiêu mạn thì sân nó còn hơn người bình... người thường nữa. Nên rất là đáng sợ. Và trong cái hai cái này một cái mà để chọc giận kích động cho tham dục và sân nổi lên nhiều nhất là là cái gì? Kiêu mạn. Hễ mà có kiêu mạn hai cái này nổi bừng bừng lên liền. Tham và sân, tham dục và sân, nổi lên bừng bừng liền. Cho nên trong cái việc tu hành á chúng ta cũng nói đi nói lại nhiều lần với nhau là phải ráng giữ cái tâm khiêm hạ là vậy. Lúc nào cũng thấy mình như là cát bụi, như là cỏ rác. Mình có cách nào thấy mình còn thấp hơn cát bụi cỏ rác không? Có cách nào không?
[44:52]Có ai nghĩ ra không? Tôi có nghĩ ra mà tôi không thèm nói, coi coi quý cô có nói được có nghĩ ra được hay không? Cái đó nguy hiểm nhất. Cái có nhiều người cho rằng là không sân tức là từ bi, thì câu nói này sai.
[45:12]Không sân khác và từ bi khác. Từ bi là lòng thương yêu chúng sinh, nó là cái tác ý rõ ràng, còn cái không sân chỉ là một cái trạng thái thanh tịnh tự nhiên thôi, chứ nó không phải từ không sân không phải là từ bi. Vì có một lần tôi gặp một vị sư Nam tông, cái ngồi nói chuyện thì nghe vị này nói về cái sự dụng công thiền định của bên Nam tông nỗ lực dữ lắm, tôi cũng nể phục. Mà nói hoài tôi không nghe nói nhắc tới từ bi. Vì từ bi là đạo lý và là đạo đức quan trọng của đạo Phật. Thì tôi mới hỏi về còn việc cái tu tập từ bi của Nam tông làm sao? Thì ông sư đó nói: "Không sân tức là từ bi rồi, không cần tu thêm cái từ bi gì khác." Tôi lắc đầu, tôi nói:
[45:59]"Coi chừng mấy sư chưa hiểu hết Nikaya." Sư sừng lên. Tại vì bên Nam tông là có người thuộc hết tam tạng kinh điển Nikaya, có người thuộc hai tạng rưỡi, có người thuộc hai tạng thì nhiều vô số. Còn cái người... còn người mà thuộc hai tạng rưỡi, hai tạng thì nhiều vô số trên cái đất nước của những nước Nam tông: Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan nhiều vô số. Nhưng mà khi mà nói không sân tức là từ bi là tôi không chấp nhận. Nên tôi nói không biết mấy sư có giận không, có chừng mấy sư chưa hiểu hết. Có vẻ cũng hơi buồn. Cho nên cái cái không sân á nó chỉ là giúp cho từ bi dễ phát khởi thôi, chứ không sân chưa phải là từ bi.
[46:38]Nên mình thấy một người có thể sống rất điềm đạm, rất thanh thản mà vẫn có thể là người không có từ bi gì cả, không thương yêu ai hết, không bận tâm chuyện gì hết, chỉ giữ được cái tâm mình thanh thản. Nên cái không sân đó vẫn có thể bị ích kỷ đó, chứ không điềm đạm tạm thời, chứ không phải là từ bi. Vì vậy chúng ta phải tu tập từ bi một cách quyết liệt. Có khi chúng ta vẫn còn cái sân nhưng vẫn còn có từ bi. Đó. Nên tâm từ bi là tâm phải huân tập rất là mạnh. Rồi có những trường hợp mà một vị thầy phải nghiêm khắc dạy dỗ đệ tử thì cái nghiêm khắc đó chúng ta không được nói là sân mà chỉ nói là nghiêm.
[47:21]Nghiêm và sân khác nhau. Cái nghiêm là cái quyết tâm dạy dỗ của vị thầy. Chính cái quyết tâm đó thể hiện ra cái uy nghi nơi cái gương mặt. Cái quyết tâm đó buộc đệ tử phải làm theo cái lời dạy của mình, nó là cái quyết tâm của ông thầy, quyết tâm dạy dỗ của ông thầy gọi là nghiêm. Còn cái sân là lúc ông thầy ổng bấc... ổng bực ổng giận lên là sân. Mà hai cái đó nó nó nó gần gần với nhau. Tí mình lại mình chọc giận ông thầy, ông thầy ổng không sân mà ổng chỉ nghiêm mặt lại, ổng dặn dò dạy dỗ thì ông thầy này nghiêm mà không sân. Còn mình lại mình chọc giận thầy mình, ổng bừng bừng lên, ổng quát cho một hơi thì ổng sân mà không nghiêm.
[48:03]Hai cái đó khác nhau. Nói nói nhưng mai mốt đừng có về chùa chọc thầy mình thử coi thầy mình có sân hay nghiêm nha, rồi không có chỗ ở á. Chúng ta nói sơ sơ rồi về cô suy nghĩ thêm. Bây giờ tới cái sắc ái. Cái tới cái vị A-na-hàm á thì ngang đây chấm dứt. Khi một vị mà chứng được tam quả A-na-hàm thì năm cái kiết sử này biến mất hoàn toàn, còn lại nguyên năm cái kiết sử này. Năm kiết sử này vẫn còn, đợi tới chứng A-la-hán mới hết. Thì cái người mà chứng A-na-hàm thì không còn sinh hoạt tình dục nữa, hoàn toàn không còn sân nữa. Nên trong có một lần có cái bài kinh kể vào thời Đức Phật có một vị cư sĩ đầu tiên ông đến gặp Phật, ông chứng được...
[48:50]Tu-đà-hoàn rồi ổng vẫn ở với vợ mình bình thường, rồi ổng chứng được Tư-đà-hàm, ổng vẫn ở với vợ mình bình thường. Cho đến ông tu tập thời gian, ổng đi nghe Phật thuyết pháp xong ổng chứng A-na-hàm luôn. Thì về tới gặp vợ mình rồi thì lần đó bà vợ đòi hỏi chuyện ái ân là ổng khước từ quyết liệt liền, vì lúc đó ổng chứng tới A-na-hàm, chấm dứt hẳn luôn, là ngay chỗ này. Có câu chuyện đó, hồi đó tôi còn nhớ câu chuyện, lúc đó còn cư sĩ đọc câu chuyện nhưng mà không có phân tích được hết. Sau này khi đi tu rồi mới nghiên cứu kinh điển thì mới mới thấy à vì ngang đây là chấm dứt hết những kiết sử này nên hết,
[49:25]nhưng mà vẫn còn năm cái kiết sử này phải đoạn trừ. Năm kiết sử này nó tế. Ví dụ nói sắc ái, sắc ái thì sắc này không phải là cái sắc dục hay là hình thức đâu, sắc này có nghĩa là cảnh vui ở cõi trời. Cho nên cái từ ngày xưa nó khác mà từ bây giờ nó khác là vậy đó. Cái sắc ái tức là nếu mà chúng ta nói cụ thể một chút á là thích trụ ở cõi trời. Chúng ta dịch như vậy, cái nghĩa thứ nhất như vậy, thích trụ cõi trời. Vì cái vị mà chứng A-na-hàm á sau khi bỏ cái thân ở cõi người thì đều sinh lên cõi trời hết. Mà nơi cái cõi trời đó vô số những điều vi diệu tốt đẹp. Là mọi chuyện xảy ra đều như ý muốn của mình,
[50:10]hào quang rực rỡ, cảnh trí đẹp, hoa trời tuôn rơi, đều là mùi hương thơm, thần thông tự tại bay đi bay lại như ý, gặp vô số các vị Bồ Tát chung quanh đều là bạn. Nghĩa là cái cảnh thù thắng của cõi trời của các cõi trời Sắc giới thì rất là vi diệu. Mà ở trên đó có những người mà ngồi nghe pháp không bao giờ nói chuyện trong lớp, hay như vậy trên cõi trời hay. Nhưng mà cái chính cái cái cảnh cõi trời quá vi diệu vậy, cũng làm cho một vị A-na-hàm hơi bị đắm luyến do kiết sử vị này còn. Đó là nghĩa thứ nhất. Nghĩa thứ hai của sắc ái là là bị phước cột. Cái phước cột lại, bởi vì cái cảnh cõi trời là một cái phước mà.
[50:55]Cho nên cái vị đó mình nói cụ thể đó là thích trụ ở cõi trời, nhưng mình nói rút ra cái quy luật tổng quát hơn tức là bị phước nó cột trói. Ví dụ như vị A-na-hàm mà hiện thân ở cõi người đi, tự nhiên đang sinh ở cõi người, đang ở cõi người mà chứng A-na-hàm, mà người đó đang có cái phước báu ví dụ làm vua làm quan hay ở trong nhà giàu thì luôn luôn bị dính vào cái giàu sang của mình, dính vào cái phước của mình. Đối với cái phước của mình có cái tâm hưởng thụ nó, là sắc ái này. Đối với cái phước của mình còn tâm hưởng thụ gọi là sắc ái. Cái nghĩa nó lớn như vậy. Ở đây ví dụ như là cái người có phước họ có thể cất được cái nhà lầu rất là
[51:41]lớn và họ cảm thấy họ họ thỏa mãn, họ thích trong cái nhà lầu của họ thì đó cũng gọi là sắc ái, là còn có thích hưởng thụ cái phước của mình. Còn cái vị mà A-na- A-la-hán á, cái vị A-la-hán á dù phước rất lớn tâm vẫn không dính. Tự nhiên ví dụ như vị Bồ Tát là A-la-hán họ hiện thân xuống làm vua đi thì mặc dầu hiện thân làm vua mà không có dính gì với cái sang trọng của quyền chức vua vua chúa hết. Đó là hay như vậy mà phải A-la-hán mới được, còn A-na-hàm vẫn bị như thường, vẫn còn cái tâm bị cột trói bởi cái phước của mình. Tuy nhiên chỉ có một điều là những vị A-na-hàm ở trên cõi trời á, tuy cái là cái kiết sử này còn, nhưng mà các vị thường tu hạnh Bồ
[52:28]Tát là thường ở trên cõi trời mà không có nói chuyện trong lớp. Ừ, mấy vị đó hay như vậy. Mà mấy vị ở trên đó nhìn xuống mà thấy ai đang học trong lớp mà nói chuyện mấy vị đó giận lắm, buồn lắm, não não rầu rĩ lắm. Là những vị đó thường hay là độ trì cho những người ở cõi trời để tu tập. Chứ nếu ví dụ như trong gia đình á, ông cha ổng tu ổng chứng A-na-hàm ổng lên cõi trời thì những cái người con của ổng ở dưới cõi cõi người này lúc nào cũng được ổng theo hộ, phù hộ. Phù hộ không phải là phù hộ cho giàu sang, mà phù hộ để tu tập, khiến cho cái con mình đến gặp vị thầy đó biết vị thầy đó là tốt, đưa tới để gặp vị thầy.
[53:15]Rồi thấy con mình nó nó nó nó chưa biết Phật pháp nhiều, ráng đưa về Thiên Phước để gặp Sư bà mà tu rồi cho ở với chúng để chúng đè cho hết cho hết nghiệp luôn, cho cho bị chúng ăn hiếp cho hết nghiệp luôn. Rồi ví dụ như là tự như ông ông ví dụ như một người đệ tử đời trước tu với ông thầy, ông thầy ổng giỏi ổng chứng A-na-hàm ổng lên cõi trời, người đệ tử ở lại cõi người coi vậy chứ vẫn được ông thầy ổng phù hộ, ông thầy ổng phù hộ. Rồi ổng thấy cái người đệ tử vẫn còn tu, cái ổng phù hộ cho đi làm giảng sư đi về giảng ở chùa Thiên Phước để cho nghĩa là tập hạnh nhẫn nhục với các các học ni. Vì biết ở đây học ni cứng đầu á,
[53:57]cho nên về để cho đi về đó dạy để mà cho rèn cái tánh nhẫn nhục. Coi có nhẫn nổi hay không, là ổng phù hộ cho đệ tử ổng vậy đó. Đó là thường là ổng tu hạnh Bồ Tát mấy vị đó chứ không ở không. Còn vô sắc ái, cái nghĩa của nó là thế này, là cái nghĩa mà mà nghĩa mà gần á, nghĩa cụ thể á, là có một số vị A-na-hàm họ lại an trụ trong cái định vô sắc hay là cõi trời vô sắc á, cái cõi là có thể là Vô sở hữu xứ định, Phi tưởng phi phi tưởng định, các vị an trú trong đó. An trú trong đó rồi cho đến khi nào mà nó viên mãn là các vị chứng luôn Niết bàn, cái vào Niết bàn luôn. Mà trước khi vào Niết bàn, các vị an trú trong
[54:39]cái định vô sắc và thích thú đắm ở trong. Cho nên ở đây cái nghĩa nó là thích trụ, thích an trú trong định, thích an trú trong định. Cái nghĩa của vô sắc ái là vậy. Nghĩa là sắc ái á là mình thích hưởng được cái phước của mình, còn vô sắc ái là mình thích an trú trong thiền định thì không phải đợi lên trên cõi trời đâu, mà cõi người mình cũng bị. Ví dụ một người nào đó tâm được thiền định cứ thích ngồi thiền hoài, thích ngồi thiền hoài. Thì trong cái ngồi thiền hoài đó, mình nhìn thấy cũng là cái tinh tấn chứ không phải không, cũng là một cái tốt để làm gương được cho mọi người. Nhưng mà trong cái đó đó, lẫn trong đó nó vẫn là cái kiết sử vô sắc ái này.
[55:22]Cái thích an trú trong thiền định nó vẫn là. Nhưng mà đừng thôi kệ tạm thời cũng đừng có bỏ, đừng có xả thiền. Cứ phải ngồi cho nó hết luôn, chứ đừng có nói à ai mà ngồi hoài tức là người đó bị vô sắc ái, không thèm ngồi nữa. Không thèm ngồi nữa thì nó từ từ nó bị mất hết á, là tuột hết công phu, thối thất luôn. Cho nên dù lúc mình biết mình đang ham thích thiền định là mình đang có vô sắc ái, nhưng vẫn cứ ngồi tiếp, chứ đừng có bỏ, đừng có xả. Nha, vẫn phải tinh tấn ngồi tiếp. Chứ nếu mà sợ vô sắc ái rồi xả thiền bỏ không tu nhiều thì còn nguy hiểm cực kỳ hơn nữa. Cái vô sắc ái là thích an trú trong trong trong thiền định.
[56:05]Cái người mà thích an trú trong thiền định á, thường là chúng ta bị hai điều. Điều thứ nhất là chúng ta dễ bị cái tâm thụ động tiêu cực. Ví dụ khi mình biết Phật pháp rồi, mình không có nhiều cái tâm mà muốn hóa độ chúng sinh, muốn làm lợi ích cho Phật pháp, mà chỉ thích an trú trong thiền định. Nhìn thấy người khác làm việc Phật pháp tâm mình cũng không có ưa. Thấy người khác thuyết giảng, tổ chức trường, lớp, tu viện cho Tăng Ni, thấy người khác lạy Phật sám hối tâm không có ưa. Chỉ thích là cứ ngồi tu hoài thì cái người đó cũng gọi là bị vô sắc ái. Trong cái vô sắc ái nó rơi vào cái trạng thái là tiêu cực, thụ động.
[56:53]Mặc dầu vị này có thần thông, đắc được định và có thần thông dữ dội nhưng vẫn là bị vô sắc ái. Vô sắc ái thứ nhất vậy, nó làm cho người này có thái độ tiêu cực, thụ động trong việc hóa độ chúng sinh. Cái thứ hai là cái thời gian mà an trú trong vô sắc ái nó lâu. Nên có những vị mà chứng được cái định vô sắc rồi bỏ thân cõi người cái an trú trong định vô sắc, mình nhìn không thấy, có khi ở trong đó cả triệu năm trong trỏng. Mà nếu là vị Thánh A-na-hàm á thì hết cái định đó rồi là chứng Niết bàn. Mà nếu là người ngoại đạo á, hết định đó rồi rớt trở lại liền, đọa trở lại liền, rớt trở lại cõi người.
[57:37]Trong kinh có lần kể cái vị mà từ cái vô sắc định mà đọa trở lại, đọa thành súc sinh luôn, thì điều này mình không biết là có thật hay không. Nói mà từ một cái thiền định mà rớt đọa trở lại thành súc sinh thì mình nghe quá sức tưởng tượng. Tuy nhiên mình cứ nói bình thường là đối với một người ngoại đạo mà chứng được cái định vô sắc, an trú trong đó đến khi hết cái định rớt trở lại thì trở lại làm con người mà tầm thường. Mà ở đây chúng ta để ý một điều nữa, là cái định nó cũng là cái phước và nó có cái thời hạn của nó chứ nó không phải là vĩnh viễn. Tức là cái định nó không phải là vĩnh viễn.
[58:17]Đừng có nghĩ được định rồi là cái định đó không bao giờ mất, đó là ý nghĩ sai lầm. Cái định không phải là vĩnh viễn. Nên có những người khi tu thiền 2 năm đầu họ được thanh tịnh, được định, qua khỏi 2 năm đó hết, không được nữa. Là vì sao? Vì cái phước để họ hưởng được cái định hết rồi nên họ loạn trở lại. Nó quan trọng cái gốc của nó vẫn là cái phước. Cái gốc của nó vẫn là cái phước á. Nếu không có phước, từ từ cái định hết dần dần, chúng ta không hưởng được nữa. Nên cũng có vị thầy vậy, cũng chủ trương là cho đệ tử chuyên tu thiền nhập thất, không không làm gì hết. Thì trong vòng 3, 4 năm đầu nhiều vị đạt được cái mức độ định rất là tốt.
[59:04]Rồi cứ tiếp tục an trú cái định như vậy, không làm phước gì hết, một thời gian cái định nó mất hết, lui trở lại, lui lại mà không bằng được cái người bình thường nữa, trở thành cái người bệnh hơi tâm thần. Vì cái phước đã hết rồi. Nguy hiểm như vậy. Cho nên chúng ta đừng có chủ quan là cứ nói là nhờ thiền mà được định, không có đâu. Chính cái phước mới được định. Chính cái mà làm cho chúng sinh, cái đó mới được định, tạo ra định. Nên có nhiều vị, vị A-na-hàm thì được cái phước kính Phật của vô lượng kiếp trước, cho nên cái vị đó khi an trú hết cái định rồi thì vào Niết bàn luôn, xong chuyện. Còn người ngoại đạo mới là đáng thương á. Họ an trú cái định vô sắc á,
[59:47]đến khi hết định rồi, phước hết rồi, rớt trở lại đọa liền. Mà trong kinh có nói tới có khi đọa súc sinh luôn, rất là đáng sợ. Bây giờ chúng ta nói tới kiêu mạn. Kiêu mạn thì cái nghĩa bình thường là mình nghĩ là thiếu tôn trọng chúng sinh, thiếu tôn trọng vạn loại. Cái nghĩa như vậy. Chứ cái nghĩa bình thường thì nó không có xứng nữa. Vì đến cái A-na-hàm, tất cả đạo đức tuyệt vời hết rồi. Hiền lành tuyệt vời, điềm đạm, thanh thản, vậy mà Phật bảo còn kiêu mạn. Khủng khiếp chưa? Cái người đó nếu mình nhìn bằng con mắt phàm của mình á, không bao giờ mình thấy cái sự kiêu mạn của người đó hết. Vì người đó quá hiền lành.
[1:00:32]Cái người mà chứng A-na-hàm quá hiền lành. Mình nhìn vô thấy đúng là ông Phật sống. Thấy hiền như đất, như bụi. Một vị A-na-hàm hiền như đất, như bụi mà nếu hiện hữu trên cuộc đời này thì mình thấy rõ ràng đó là ông Phật sống. Nhưng mà Phật vẫn cho là còn kiêu mạn. Khiếp chưa? Chỉ có trí tuệ của Phật mới thấy được cái kiêu mạn còn sót nơi A-na-hàm. Chứ chúng ta không thấy nổi. Chúng ta do đó cái mình không có định nghĩa cái kiêu mạn, cái kiết sử kiêu mạn của A-na-hàm nó giống như thái độ mà kênh kiệu, ngã mạn của người thường được. Như chúng ta vậy, chúng ta ngã mạn, chúng ta kênh kiệu, chúng ta cho mình hơn người khác thì cái tự cao đó nó nó tầm thường, dễ thấy.
[1:01:18]Nhưng mà nơi A-na-hàm hiền lành như đất, như bụi á mà vẫn còn là kiêu mạn, Phật vẫn cho là kiêu mạn. Như vậy cái kiêu mạn của một vị A-na-hàm chúng ta phải thấy là thiếu tôn trọng chúng sinh vạn loại. Như vậy cái thực sự mà hết kiêu mạn của một vị A-la-hán là như thế nào? Tu tới A-la-hán mới hết kiêu mạn thì nơi một vị A-la-hán không còn kiêu mạn thì thái độ như thế nào? Ai biết nói giùm, tại vì tôi không biết. Ai mà biết thì người đó đúng là chứng A-la-hán á, cho nên tôi cũng không biết. Vì không biết cho nên tôi không nói. Nhưng mà nếu tôi không nói thì có nhiều người nguyền rủa, nên buộc lòng phải nói.
[1:02:06]Nên phải nói dù không biết. Bây giờ chúng ta cảm nhận thế này một chút: tôi sẽ đưa ra ví dụ này để mọi người hiểu được phần nào cái gọi là không kiêu mạn của một vị A-la-hán thôi. Bây giờ ví dụ chúng ta ngồi chơi ở sân chùa trong một buổi chiều nghĩa là gió lộng mát mẻ, bên ngoài kia có trên cánh đồng có những đứa trẻ thả diều, trên con đường trước mặt chùa thỉnh thoảng có những chiếc xe bò cúc kịch đi qua lại, lâu lâu có một con chó gầy ốm chạy xẹt ngang qua chùa, lâu lâu có một cánh bướm đi tìm hoa muộn, vỗ cánh trong buổi chiều tà. Thỉnh thoảng đâu đây xa xa có cái tiếng gà đuổi nhau bên sân của hàng xóm.
[1:02:57]Rồi lúc đó mình nghĩ gì? Trước cái khung cảnh đó mình nghĩ gì? Không nghĩ gì hết trơn á, không quan tâm. Tại lúc đó mình hoặc là mình đang niệm Phật, phải không? Mình là siêng tu, hoặc là mình đang theo dõi hơi thở, hoặc là mình đang suy nghĩ về cái bài học sắp tới hoặc bài học đã qua, hoặc là tệ hơn nữa là mình ngồi mình bị vọng tưởng, mình thả hồn mơ mộng, mình ngắm trời hiu quạnh, mơ ước về một chân trời xa xôi, một cái chân trời tím mà đã có lần có ai hứa đưa mình đi tới đó. Tự có cái bài hát ngày xưa vậy: Anh hứa đưa em về nơi chân trời tím, gom hết mây hai đứa xây lâu đài yêu. Hồi xưa có cái bài hát đó.
[1:03:45]Thiệt mà thôi chắc là ở đây chúng ta không bị, nhưng mà có những trường hợp là chúng ta nói mình tệ mình bị, nhưng mà thường thường là như vậy, mình chỉ lo hoặc là niệm Phật mình tu nè, hoặc theo dõi hơi thở nè, hoặc là mình suy nghĩ về bài học. Còn những cái con chó gầy ốm chạy ngang, cánh bướm dập dìu buổi chiều muộn, tiếng gà cục tác ở bên hiên hàng hiên xóm mình không quan tâm, những đứa trẻ chạy chơi trên cánh đồng thả diều mình không quan tâm, không bận tâm. Đó là cái kiêu mạn mà người A-na-hàm còn bị. Nghĩa là khi mà chúng sinh đến trước mặt mình, mình không có cái thương yêu, không có tôn trọng, bị bỏ sót á.
[1:04:22]Nghĩa là trong tâm mình còn có rất nhiều chúng sinh mình bỏ sót thì đó là cái kiêu mạn của A-na-hàm. Chứ còn cái thái độ mà tự cao, kênh kiệu là mình không nói rồi, hết rồi. Tới A-na-hàm là chấm dứt hết điều đó. Nhưng mà đã có những chúng sinh trước mắt mình mà mình không có một cái quan tâm nhẹ nhẹ hay quan tâm hơi hơi thì người đó vẫn còn gọi là bị kiêu mạn của A-na-hàm. Khiếp chưa? Nhưng mà tới một vị A-la-hán là điều đó hết rồi, nghĩa là một chúng sinh nhỏ xuất hiện trước mắt mình thì đều bị phủ trùm trong cái lòng thương yêu và tôn trọng của mình hết, không bỏ sót một ai hết, A-la-hán. Ví dụ như trong ngày lễ hội đông người ở trong chùa,
[1:05:07]vậy chứ tâm mình thương yêu từng con người ở trong đó hết. Từ một cái người ví dụ như hàng Thượng tọa, Hòa thượng, Sư bà lớn thì mình chú ý là đành rồi, một chú điệu nhỏ tèm lem mũi dãi dãi chưa biết lau cho sạch ở một góc nhỏ chùa, mình tâm mình vẫn tôn trọng, vẫn thương yêu được. Thấy con ong vừa bay qua đi, lòng mình vẫn có thương yêu chứ không bỏ sót nữa. Thấy thấy con ong đó. Hoặc là nhìn đàn kiến bò trên đất, lòng mình vẫn thương yêu và tôn trọng đối với chúng sinh vạn loại như vậy. Cái đó là cái không kiêu mạn của A-la-hán á. Quý cô hiểu không? Nghe vậy cảm nhận ra không? Có thể là chúng ta chưa đạt được nhưng mà chúng ta phải cảm nhận trước điều này.
[1:05:53]Quý cô cảm nhận ra chưa? Nên giỏi, nên ráng thực hiện phải không? Ráng để ý điều đó, đó là cái đó. Hoặc là bây giờ nói tới cái cái phóng dật. Chúng ta thấy là tu cho tới A-na-hàm dễ không? Dễ không? Tu chết lên chết xuống á, phải không? Chưa chắc chứng được A-na-hàm. Vậy mà tu với tất cả quyết tâm của mình như vậy chứng được A-na-hàm mà Phật cũng bảo rằng còn phóng dật, tức là còn lười biếng. Dễ sợ chưa? Mình nhìn đâu thấy nổi mà chỉ có trí tuệ của Phật mới nhìn thấy rằng một vị A-na-hàm vẫn còn bị cái phóng dật. Như vậy cái mà phóng dật ở đây nghĩa là gì? Cái phóng dật còn sót nơi một vị A-na-hàm nó không
[1:06:40]giống như cái lười biếng, dãi đãi của chúng ta. Cái lười biếng, dãi đãi của chúng ta thì ăn thì siêng mà học thì thì lười, tu thì trốn, lạy Phật thì né, cắt ruộng thì lặn. Nghĩa là cái cái mà lười biếng chúng ta nó hiện ra nó rõ lắm, nó dòm dễ thấy. Nghĩa là khi mà thấy đằng xa xa một sư cô mà xách một gói me vô thì mình đã chào ngay từ đầu ngõ, mình xách giùm liền, xách giùm liền lát trả lại là mất hết năm, ba trái. Đó, mình siêng. Nhưng mà hễ bắt đầu cái nghĩa là thấy có một cái đám cỏ dại mọc vào nhà, cái sư cô nói: "Trời, sao cỏ dại nhiều quá. Nè con!" Quay lại thì mình đã biến đâu mất rồi.
[1:07:26]Mình còn hơn, phép tàng hình còn hơn là David Copperfield nữa, biến mất tiêu rồi. Thì cái lười biếng của mình nó dễ thấy, nhưng mà tu mà tinh tấn, siêng năng mà tới chứng được A-na-hàm mà Phật bảo rằng còn lười biếng. Như vậy cái lười biếng đó là cái gì? Ai hiểu? Thấy khó ha? Chúng ta thấy đâu có dễ. Nên ở đây cái cái phóng dật á chúng ta phải hiểu nó là cái tâm nguyện, là cái quyết tâm. Nghĩa là một vị A-na-hàm á chứng được thánh quả như vậy coi vậy chứ cái quyết tâm, cái ý chí chưa phải là tuyệt đối vô biên. Mà một vị A-la-hán mới đạt được cái quyết tâm vô biên vô lượng. Cái tâm nguyện mới đạt được như vậy.
[1:08:13]Nghĩa là ví dụ bây giờ chúng ta đi, mình phát nguyện là mình tu theo Phật pháp. Có nhiều người sợ tu lâu mệt, nói con thề tu một đời này thành Phật cho được giải thoát thì người đó đúng là cái còn đại phóng dật á. Cái thứ mà đòi tu một đời cho xong là thứ đại phóng dật. Rồi à có người phát nguyện độ chúng sinh, độ chúng sinh trong cái nói rằng à cũng sẽ độ cho chúng sinh nghĩa là đều thành Phật, miệng nói thôi, nói bắt chước thôi, chứ tâm không bao giờ cảm nhận được cái vô biên vô tận của chúng sinh trong vũ trụ, trong pháp giới này. Thời gian vô tận, vũ trụ vô tận, thế giới vô tận, chúng sinh là vô biên vô lượng không bao giờ hết.
[1:08:56]Không bao giờ cảm nhận nổi mà để cho cái quyết tâm mình nó phủ trùm tới hết. Mình chỉ nói là độ hết chúng sinh chứ không có hình dung được chúng sinh nhiều bao nhiêu đâu. Nghĩa là tuy cũng bắt chước kinh điển Đại thừa, tuy cũng học hỏi nơi các vị tôn túc là con nguyện làm là tu hành đắc đạo rồi độ chúng sinh. Chỉ nói đơn giản thôi chứ trong tâm mình không hình dung được cái vô lượng của chúng sinh. Hoặc là mỗi khi mình ăn cơm mình tam đề ngũ quán á là chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
[1:09:28]Đó là cái mà ngày xưa chư tổ đã gài vào tâm mình để cho mình từ từ, nhưng mình không hình dung được cái vô tận của chúng sinh như thế nào đâu. Thí dụ mình thấy là trong cái như Long An này đây, mấy trăm ngàn dân gì đây, mình thấy độ được nhiêu đây là mình vinh quang lắm rồi. Còn mình nghĩ tới cả đất nước này 8 triệu 80 triệu người, mình không nghĩ tới chuyện độ hết nổi đất nước này. Càng không bao giờ dám nghĩ tới chuyện độ hết hơn 6 tỉ người trên thế giới này và càng không bao giờ nghĩ tới độ luôn cả con chồn, con cáo trong rừng ngày nào cho nó thành Phật rồi tu cho đắc đạo hết, không bao giờ nghĩ tới nổi.
[1:10:05]Cho nên cái cái nhìn của mình, cái tâm nguyện của mình, cái quyết tâm của mình nó không bao giờ là vô biên vô lượng hết. Mà tới một vị A-na-hàm cũng còn bị, dù vị đó chứng rất thanh tịnh, tâm rất là phủ trùm, nhưng mà trong đó nó vẫn còn có cái gì nó giới hạn của cái quyết tâm, của ý chí, của tâm nguyện. Mà chỉ có một vị A-la-hán khi mà phá được hết toàn bộ cái vô minh này hết rồi, thì cái quyết tâm nó, cái thời gian, không gian, cái số lượng không còn ảnh hưởng nơi cái ý chí của vị đó nữa. Nghĩa là thời gian vô tận trong vũ trụ, không gian bao la mênh mông trong vũ trụ, chúng sinh là vô biên vô lượng trong vũ trụ, nhưng mà tâm các ngài phủ trùm hết.
[1:10:46]Không còn bị cột trói, không bị sợ hãi, không còn bị ngăn cách giới hạn nữa bởi những khái niệm thời gian, không gian, chúng sinh nữa. Cái quyết tâm của các ngài trong cái thanh tịnh đó mà cái quyết tâm nó phủ trùm hết luôn, không còn bị giới hạn. Cái chỗ đó đó Phật mới nói là hết phóng dật. Chứ còn chứng vị A-na-hàm thiền định cao siêu như vậy, coi vậy chứ cái cảm nhận cái vô biên của chúng sinh vẫn chưa cảm nhận hết. Cho nên cái tâm nguyện độ chúng sinh hay trong những việc của Phật pháp vẫn chưa thật sự là phủ hết được cái quyết tâm của mình. Đó là vị A-na-hàm bị mà A-la-hán thì mới hết. Chỗ này thì rất là khó. Hiểu không? Cũng dễ hiểu chứ hả?
[1:11:29]Làm thì đúng là khó, nhưng mà hiểu chỗ này cũng không phải là khó lắm. Nghĩa là khi chúng ta nghe nói vậy, chúng ta vẫn có phần nào cảm nhận được trong tâm mình, phải không? Có không? Đó, khi mà có cái cảm nhận rồi, quý cô ráng giữ gìn những điều này, giữ gìn cái cảm nhận đó, suy tư thêm về nó để nó gây cái nhân mà phá trừ những kiết sử này của một kiếp sau. Có thể kiếp này chúng ta không đủ duyên đủ phước để đắc đạo, nhưng mà ngày hôm nay chúng ta có tư duy về những điều này, về thế nào là phóng dật của A-na-hàm, kiêu mạn của A-na-hàm, thì nó là cái nhân lành để một kiếp nào đó chúng ta phá được nó.
[1:12:04]Ngày hôm nay nhờ chúng ta trao đổi với nhau như vậy. Bây giờ cái kiết sử cuối cùng là vô minh. Thì hôm trước chúng ta đã nói vô minh rồi phải không? Bây giờ ai nói lại giùm vô minh là gì? Vô minh là gì? Vô minh là gì? Hôm trước chúng ta có nói với nhau rằng vô minh là cái lớp si mê cuối cùng phải không? Căn bản nhất, vi tế nhất. Đó mình chỉ nói như vậy thôi, chứ còn nói như thế nào thì chúng ta không có đủ trí tuệ để nhìn thấy. Vì tới A-na-hàm mà chưa thấy được thì làm sao mà mình thấy được, phải không? Hành ấm mình còn chưa thấy được nè, thì làm sao mình thấy được thức ấm? Mà thức ấm mình chưa thấy được thì làm sao thấy được vô minh?
[1:12:47]Đó cho nên vô minh nó rất tế, thì chúng ta không có thấy được, biết được, nên cái ngôn ngữ càng không bao giờ diễn tả được vô minh là gì. Chúng ta chỉ nói đại thôi là cái lớp si mê sâu kín nhất, căn bản nhất, đó vậy thôi. Ở đây chúng ta có thể dựa vào thiền định để chúng ta lập ra thêm một cái định nghĩa nữa để nói chuyện chơi với nhau, chứ cũng không có không có nói ra được điều gì sáng tỏ. Thì cái định mà cao nhất á là gì? Diệt Tận Định. Chúng ta cũng chưa học qua mấy cái này. Cái định thấp hơn Diệt Tận Định chút là Phi tưởng phi phi tưởng. Tại sao cái định này đặt tên như vậy? Hỏi Phật, mình cũng không biết luôn.
[1:13:34]Tại sao đặt tên là Diệt Tận Định? Mình nghe nói như cái gì nó hết sạch trơn không còn gì nữa, mình nghe thôi mình hiểu hiểu. Còn tại sao đặt là Phi tưởng phi phi tưởng? Cũng chịu thua luôn, chỉ có Phật mới biết đặt, thế mình cũng không biết đường đâu mà rờ. Nhưng đây là cái định cao cuối cùng, còn đây là định thấp hơn chút. Thì vô minh nó là cái ranh giới chỗ này. Vô minh là cái ranh giới, nghĩa là đạt được Phi phi tưởng định rồi, nghĩa là đã chạm gần tới cái ranh giới của vô minh. Vượt qua được cái vô minh nữa là chứng được Diệt Tận Định, nên chỉ có những vị A-la-hán hết vô minh mới nhập được Diệt Tận Định.
[1:14:13]Còn dưới đó thì không có nhập được Diệt Tận Định vì cái vô minh vẫn còn. Đó cái màn vô minh là nó nằm chỗ này đây. Cái Diệt Tận Định thì chúng ta đã nói với nhau trong một bài nào rồi phải không? Có chưa? Có rồi. Không nhớ. Chúng ta nói về những vị mà nhập Diệt Tận Định rồi thì thân trở nên bất hoại phải không? Cứng như đồng, như sắt, không ai có thể lung lay được. À trong bài kinh Hàng ma. Hàng ma, chúng ta nói rồi. Tới nay giờ mới nhớ. Cho nên cái khi mà vượt qua được rồi, chỉ có những vị A-la-hán với Phật mới biết được vô minh là gì. Tới đó mới biết, còn trước đó thì không ai biết được. Nên trong Tứ Diệu Đế cũng vậy, tại sao nói cuộc đời là khổ,
[1:14:57]thì chỉ những vị chứng A-la-hán mới thấy được tại sao như vậy, tất cả đều là khổ, là thấy được tới cái vô minh này nè, mới hiểu được cái ý nghĩa khổ của thế gian. Chúng ta vì chưa có điều kiện học Tứ Diệu Đế, tôi cũng muốn dạy về Tứ Diệu Đế nhưng mà khổ cái hồi xưa tôi dạy Tứ Diệu Đế cho cư sĩ, tôi dạy hết 5 lần, 5 cuốn băng cassette. Mà bây giờ mà nếu dạy 5 lần cho tăng ni thì mất thời gian quá vì chúng ta không có thì giờ để học. Mà dạy một lần thì thật cạn quá, cũng giống như bài 10 kiết sử này nói phớt phớt nãy giờ chứ cạn lắm, không thấm đâu ra đâu hết. Thôi để từ từ tính. Rồi chúng ta cũng nhắc lại một điều nữa là vô minh nó khác với tà kiến, phải không?
[1:15:38]Lần trước có nói chưa? Nói rồi trong bài 12 nhân duyên vừa rồi là vô minh khác với tà kiến. Tà kiến là hiểu sai, chánh kiến là hiểu đúng đạo lý để tu, còn tà kiến là hiểu sai, cho nên càng đi thì càng xa với đạo và mất mất nhiều công đức. Có thể có một người chưa hết vô minh nhưng vẫn có chánh kiến. Như tất cả chúng ta ngồi đây thì ai cũng còn vô minh cả. Nhưng mà có thể chúng ta không bị tà kiến vì chúng ta tin được nhân quả, à chúng ta được học trường lớp đàng hoàng, đó, nên vô minh nó khác với tà kiến. Nên có nhiều người cứ nói cái kiết sử cuối cùng là tà kiến là sai, đó là vô minh. Chúng ta nhắc lại, hồi nãy chúng ta nói
[1:16:22]làm giữa thiền định và các mức độ phá trừ kiết sử nó không có liên quan với nhau. Có thể một người chứng được Sơ thiền mà chưa chứng được Sơ quả là vì ba cái kiết sử ban đầu chưa phá. Người này tuy tâm được thanh tịnh, nhưng mà vẫn còn ích kỷ, vẫn chưa phải quyết tâm giác ngộ, vẫn còn cố chấp. Rất nhiều người có định mà vẫn cố chấp, nên người này được định mà không phải chứng được thánh quả. Điều này chúng ta phải nhìn ra cho rõ nghe, chứ mai mốt thấy ai ngồi thiền được lâu rồi tưởng họ chứng Thánh hết là sai đó. Ngồi thiền được thì ngồi chứ chứng Thánh chưa chắc là chứng đâu. Ngoại đạo cũng ngồi lâu được.
[1:17:10]Nhiều người nghĩa là không có đạo đức vẫn còn ngồi lâu được, vì họ chỉ chứng định chứ chưa có chứng Thánh quả. Hai cái đó khác nhau, phải xác định như vậy. Nhưng mà thường thường á, nếu mình tu theo đạo Phật, mình có giữ gìn đạo đức, có niềm tôn kính Phật, thì có khi mình chứng thiền định rồi cái kiết sử nó phá luôn, tự động nó vỡ luôn. Đó là nhờ cái phước nơi cái lòng tôn kính Phật, tôn kính các vị A-la-hán mà có được. Chúng ta để ý điều đó. Như nãy chúng ta nói: "Phước cộng với thiền thì nó phá được kiết sử." Nên nhiều khi mình cũng không có rành cái đạo đức là gì lắm, mình cũng không hiểu là các loại kiết sử là như thế nào để phá trừ.
[1:17:55]Mình chỉ biết siêng tu thiền định và thường xuyên lạy Phật thôi. Vậy đó mà khi chứng được Sơ thiền, chứng được Nhị thiền, chứng luôn được quả Thánh luôn. Tại vì nhiều khi là chứng được Nhị thiền mà có khi chứng luôn tới Tam quả luôn. Thiền mới chứng mức thứ hai, mà Thánh quả chứng luôn tới mức thứ ba, có trường hợp như vậy. Là do cái phước lạy Phật. Cũng ngược lại, có khi chứng luôn tới Tam thiền mà chưa chứng Sơ quả, vẫn chưa chứng Tu-đà-hoàn dù người này chứng được tới Tam thiền. Đây là điều chúng ta để ý, nên hai cái đó nó không liên quan. Nên điều mà chắc ăn nhất chúng ta phải tu tập là chúng ta hàm dưỡng đạo đức
[1:18:41]mà giữ gìn lòng tôn kính Phật cho thật là kỹ, phải siêng lạy Phật. Người tu mà không siêng lạy Phật là điều nguy hiểm. Phải siêng lạy Phật, thì chúng ta nhiếp tâm được tới đâu là quả Thánh cũng chứng theo tới đó luôn, là nhờ cái công đức như vậy. Ví dụ chúng ta niệm Phật, ví dụ chúng ta theo dõi hơi thở, chúng ta quán vô thường, nhờ những cái đó mà tâm mình định vào một cái rồi thì kiết sử nó phá luôn. Chúng ta cũng đừng có nghĩ chỉ quán vô thường, mình có trí tuệ là mình phá được kiết sử, không có đâu. Mà nhiều vị sư hay bị điều này lắm, cứ tưởng là dùng cái thiền quán, quán thân vô thường, quán biết thế này thế kia,
[1:19:23]chăm chú rõ từng chi tiết của thiền tri là chứng được Thánh quả, không có. Vì nó chỉ chứng được thiền định thôi, mà trong cái thiền định đó mình thấy sáng suốt, thấy an lạc rồi mình tưởng mình làm Thánh, chứ chưa có phải làm Thánh. Đó chỉ mới chứng được thiền định, mặc dù là cái tâm rất là hạnh phúc, rất an lạc, rất vi diệu, nhưng mà đối với con mắt của Phật nhìn thì người đó chưa chứng Thánh quả. Chỉ khi nào mà chúng ta có cái tôn kính, lạy Phật, có lòng từ bi thương yêu chúng sinh á, những biểu hiện của đạo đức á, thì thiền định mới đi kèm theo được Thánh quả. Còn nếu mình không có tu dưỡng đạo đức, không có giữ lòng tôn kính Phật,
[1:20:01]không lạy Phật, thì có thiền định vẫn chưa chắc là có Thánh quả. Mà một ngày nào đó hết cái phước của định, chúng ta sẽ lui lại là một phàm phu rất tầm thường. Bởi vì cái định cũng giống như tiền vậy đó, có phước thì nó có, không có phước thì nó sẽ hết, chứ nó không có tồn tại vĩnh viễn. Định cũng là một cái vô thường. Đừng có ai tưởng thiền định, có định rồi là nó thường hằng. Định cũng là một cái vô thường. Có phước thì nó đến với mình, hết phước nó mất liền. Do đó cái đạo đức, cái mà làm lợi ích chúng sinh, vậy chứ mà quan trọng. Nên bước đầu tu tập á, chúng ta phải lập nền tảng đạo đức vững
[1:20:41]chắc để cho các kiết sử nó dễ bị phá trừ khi đắc định. Thì trong cái nền tảng đạo đức đó, chúng ta nhớ ba cái tâm hạnh cho kỹ, phải không? Thứ nhất là? Tôn kính Phật. Thứ hai là? Từ bi. Thứ ba là? Khiêm hạ. Đó, ba cái đó là phải suốt đời huân tập giữ gìn mãi, giữ gìn mãi. Dù sau này mình có được thiền định, dù sau này mình có trở thành ni sư, sư bà đông đảo đệ tử, thì âm thầm trong cái cốc nhỏ của mình vẫn huân tập ba cái đó kỹ. Vẫn phải lạy Phật, vẫn phải trải lòng thương yêu chúng sinh, vẫn phải tự nhủ mình chỉ là cát bụi, là cỏ rác. Cho tới cái ngày các cô già, đông đệ tử vẫn không được bỏ ba điều đó.
[1:21:21]Nhớ như vậy thì có thể chứng được quả Thánh. Do đó chúng ta nhìn chúng ta thấy nhiều người á đắc định, có thần thông, chứ mà quan điểm tu tập hay là quan điểm giáo hóa vẫn sai lầm như thường. Là vì sao vậy? Vì người đó mới đắc được thiền định chứ chưa phá được kiết sử. Người đó đắc được thiền định, có được thần thông, nhưng mà quan điểm giáo hóa vẫn sai, vẫn không dựa trên nhân quả, vẫn không dựa trên đạo đức, đó, vẫn có thể gây đổ vỡ Phật pháp, không có chắc.
[1:21:56]Nên đây là cái mà chúng sinh hay bị lầm lắm. Thấy nghe nói vị thầy đó tu cao, đắc đạo, đắc định, có thần thông là mình cứ đổ xô theo, đâu có ngờ, đâu có ngờ đó mới là định, chứng định chứ chưa phải chứng quả Thánh. Nó có hai loại tuệ: Một loại tuệ là do định sinh ra, thì cái loại tuệ này biết được quá khứ vị lai, biết kiếp trước kiếp sau, biết được tâm niệm người khác, đó là loại tuệ do định sinh ra. Còn một loại tuệ do phá được kiết sử mà sinh ra, là loại tuệ đó mới thấy được đạo lý, mới thấy được đạo lý, thấy được nhân quả, luân hồi, mới thấy được những vi tế trong việc tu tập, biến chuyển của tâm linh, thấy được những phương pháp
[1:22:40]phải tu, phải quan sát được mọi điều, thì cái trí tuệ đó là loại trí tuệ thấy được đạo lý do phá được kiết sử. Còn lại trí tuệ của thần thông biết chuyện này chuyện kia là trí tuệ do thiền định, hai đó khác nhau. Cho nên mình cứ tưởng một người đã có trí tuệ do thiền định sinh ra là người đó thấy được đạo lý đúng, coi chừng không phải. Không phải. Hôm nay thì chúng ta đã trao đổi với nhau về mười kiết sử, thì chúng ta cũng chỉ nói vắn tắt thôi, mỗi cái kiết sử chúng ta không có nói nhiều. Cho nên là lần này thì quý cô làm bài cũng đừng có làm dài lắm.
[1:23:15]Nhưng mà cố gắng suy nghĩ thêm về cái mười kiết sử như vậy. Những điều mà tôi nói nãy giờ là nói vắn tắt, nên khi quý cô viết, chịu khó viết đào sâu thêm để mình hiểu thêm về nó cho kỹ, thành cái nhân đắc đạo cho những kiếp sau của mình. Hồi rồi tôi nhận được một cái bức thư không đề tên người gởi, không chào, không hỏi, không gì hết, mà giống như là của của ni sinh của Thiên Phước gởi. Ở trong đó mắng tôi ba điều. Điều thứ nhất là: "Thầy giảng dở, con không hiểu gì hết." Cái điều thứ hai: "Bộ thầy giàu lắm hả? Thầy muốn lấy lòng chùa Thiên Phước hả?" Cái điều thứ ba là: "Thầy không chấm bài được thì đừng cho bài làm nữa,
[1:23:57]đừng có để đệ tử thầy chấm." Có ba điều như vậy. Vì tôi lỡ là dạy cái bài nhẫn nhục á, cho nên tôi phải cắn răng mà nhẫn nhục. Tuy nhiên thì tôi nghĩ ở đâu cũng có những con người lì lợm, nghịch ngợm và hay gây chia rẽ, hay như vậy. Như có một vài người vậy, hay hay lên chùa thăm tôi, thì lại có những người khác đến xúi đừng lên nữa, bảo rằng chùa tôi không thích cái vị đó, đừng có lên nữa. Thì vị đó buồn quá mới lên hỏi tôi, tôi nói: "Không có chuyện đó. Đây là một sự gây chia rẽ của ai đó, đừng nghĩ như vậy." Nên trong cuộc sống nó hay có những cái như vậy, thì cũng như vậy. Nếu mà trước cái sự một cái bức thư vô danh đó
[1:24:42]mà nếu tôi buồn, tôi giận, tôi bỏ dạy, thì tôi không làm được việc Phật pháp. Trong cuộc đời nó muôn trùng mà nó là những cái chuyện lặt vặt. Tôi nói điều này là để nhắc quý cô, sau này khi quý cô lớn lên, quý cô làm việc Phật pháp thì có nhiều cái chướng ngại chứ không phải là dễ. Trong những cái chướng ngại đó, thứ nhất mình phải xét lỗi mình, mình có sai hay không. Và thứ hai, nếu mình cảm thấy mình không sai thì vẫn phải giữ vững cái tâm nguyện với Phật pháp, không bao giờ để tâm mình lung lay. Nhớ như vậy. Thì tôi lúc nào cũng mong rằng những người học trò của tôi là những người siêng tu, siêng học,
[1:25:19]ngoan ngoãn với cái tâm nguyện mà làm Phật pháp sau này. Chứ giáo thọ thì cứ hết thế hệ này đi qua đến thế hệ khác, nhưng mà Phật pháp phải được phát triển, người sau phải luôn luôn giỏi hơn người trước. Quý cô sau này phải giỏi hơn tôi thì mới làm cho Phật pháp phát triển. Đó, đó là điều tôi mong mỏi. Còn những chuyện khác tôi nói ra là cho quý cô thấy là những chướng ngại là một điều bình thường trong cuộc sống đó. Đừng có bận tâm vì nó, thôi cứ tiếp tục ráng làm bài. Có ai hỏi gì không? Có ai hỏi gì không? Nguyện đem công đức này,
[1:26:03]hướng về khắp tất cả,
[1:26:11]đệ tử và chúng sinh, đều trọn thành Phật đạo.