Transcript: Kinh Nikaya 16 - Kinh Tuệ Túc (Dayasi Sutanta)

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:29

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:16]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:26]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta học bài Kinh Tế Túc trong Trường Bộ III. Lần này mình cũng nghe một cuộc đối thoại giữa một ông vua với một vị A La Hán.

[0:40]Lần này chúng ta gặp một ông vua duy vật. Ông không tin đạo, không tin nhân quả luân hồi, không tin có thế giới siêu hình, mà ông là một người có học, có trí tuệ, có bản lĩnh để lên làm vua. Ông rất là giỏi và ông không tin gì hết. Thì có duyên gặp một vị A La Hán đi đến cái xứ của ông nên ông tìm đến để đặt vấn đề và tranh luận. Ở đây nó có vài điểm chúng ta để ý. Thứ nhất là ông là người đại diện cho những người có quyền lực và có bản lĩnh trên cả thế giới từ xưa đến nay. Những con người mà leo lên quyền lực, đạt được sự thành công bởi cái năng lực thật sự của mình, bởi cái đầu óc của mình, người này dễ có cái

[1:26]tinh thần thực dụng duy vật, không tin vào cái điều mơ hồ huyền bí. Thì ở đây là cái bệnh chung rồi. Những người mà họ đạt được thành công bởi cái sự phấn đấu khổ cực, tính toán chi ly đêm ngày, vắt óc sắp xếp kế hoạch, kiểm soát biết trước được cái đường đi của công việc mình nó tiến, nó thoái thế nào để mà phản ứng kịp thời thì cái người như vậy họ ít có tin vào điều huyền bí siêu hình, không có tin vào thần linh nhiều mà vua Ba-tư-nặc là một biểu tượng. Chúng ta thấy trong cuộc sống nó như vậy đó. Còn cái người mà nhiều khi mình không phải giỏi nhưng mà nhờ may mắn, cứ làm tới đó tự nhiên gặp may,

[2:08]làm tới đó gặp may thì mình dễ tin rằng có một cái đấng bề trên nào đó đã phù hộ dẫn dắt mình, đã che chở cho mình. Còn mà mình kiểm soát thấy trước hết mọi vấn đề, biết trước là khi mình làm tới đó mình sẽ gặp cái chuyện gì xảy ra, đoán trước mình làm tới nữa chuyện gì xảy ra, rồi trong cái khả năng may mắn hay là rủi ro mình chuẩn bị trước để đối phó luôn. Gặp may mắn thì tiến mạnh tới, hay gặp rủi ro thì có biện pháp chuẩn bị đối phó phòng ngừa liền. Cái người mà cái đầu họ như vậy thì họ không có tin chuyện gì thần bí hết. Mà vua Ba-tư-nặc là đại diện cho những người như vậy. Thứ hai nữa là vì tôn giả Kumāra Kassapa

[2:51]là một người khách du hành đến cái đất nước của ông. Cho nên vua cũng không có dùng cái quyền lực của mình để áp đặt lên đó, cũng như là đối với thần dân thì ông không có ra cái lệnh để áp đặt cái niềm tin của ông, cái chủ trương cái quan điểm của ông lên dân chúng. Nghĩa là dân ai tin đạo cứ tin, nhưng riêng ông, ông cương quyết không tin, và cái điều đó nổi tiếng ở các nước lân bang hết. Nên khi mà xuất hiện một cái cuộc tranh luận giữa ông với tôn giả Kumāra Kassapa, ông lập luận lẽ rất là sắc bén, vững chắc. Ở đây là cái hay, cái hay là không có dùng quyền lực để buộc người khác phải theo mình,

[3:35]mà chỉ bằng lý lẽ, nghĩa là ông rất khách quan, đây cũng là một cái hay, ông không có dựa vào quyền lực. Tôn giả Kumāra Kassapa cũng vậy, cũng bởi cái phong cách điềm đạm, chững chạc của một vị A La Hán và bởi cái trí tuệ siêu việt của mình, cũng đưa ra từng điểm từng điểm để bẻ lại hết những cái quan điểm của vua và thuyết phục vua phải tin được nhân quả luân hồi và tin có thế giới siêu hình. Ở đây bài kinh này nó đối diện một gay gắt không khoan nhượng của hai quan điểm, mà nếu nói như là quan điểm duy vật và duy tâm. Một bên là ông vua theo hẳn quan điểm duy vật, chống hết. Một bên là một vị A La Hán

[4:17]là biết rõ có nhân quả, có luân hồi, có thế giới siêu hình. Phải nói là một cuộc đụng độ nảy lửa, nhưng mà rất là ôn hòa bởi hai con người trí tuệ, có lịch sự, có văn hóa. Trong cái văn hóa này, chúng ta để ý hai điều: một về cái thân phận của tôn giả Kumāra Kassapa và thứ hai là gọi là văn hóa của Ấn Độ. Trong cái lối nói chuyện rất là nhã nhặn, ôn hòa mà vững chắc của từng bên như vậy, thì cái cái gọi là lối nói nhã nhặn đó, chúng ta cho nó một, nó thuộc về văn hóa của dân tộc Ấn Độ. Cho đến bây giờ người Ấn Độ vẫn còn cái văn hóa là nói chuyện rất nhỏ nhẹ, rất đàng hoàng, rất lịch sự. Cái phong cách đó của Ấn Độ rất giống với của Nhật,

[5:05]nên người Nhật cũng được cái điều đó, họ cũng được cái lối nói chuyện với mọi người rất là nhỏ nhẹ. Trong các nước trên thế giới, những nước khác mình không biết, mà có một dân tộc là người Trung Hoa, họ nói chuyện mình dễ hiểu lầm là họ đang gây gổ, mà sự thật không phải, vì cái cách nói của họ như vậy. Còn người Nhật thì cái cách nói của họ nghe nhỏ nhẹ, ví dụ họ có bất đồng ý kiến họ vẫn nói chuyện nhẹ nhàng, rồi nhiều khi trong tranh cãi gay gắt trong kinh doanh họ vẫn nói chuyện nhẹ nhàng. Người Nhật họ được cái đó, ngày hôm nay hơi bớt, đó cũng là cái văn hóa. Việc mà vua nói chuyện rất nhỏ nhẹ,

[5:44]rất nhã nhặn, ôn tồn, lịch sự có thể đó là cái văn hóa của Ấn Độ, nhưng có thể cũng là cái tính cách thứ hai, cũng là cái tính cách của ông vua, là ông là một người có học, được đào tạo,

[6:01]ông đã cư xử là một minh quân, là một người ông vua tốt chứ không phải là một bạo chúa, không phải nạt nộ, hách dịch, mà rất điềm tĩnh, biết lắng nghe, biết đối thoại. Dù là mình có quan, biết lắng nghe, biết đối thoại, dù là mình có quan điểm riêng, nhưng vẫn dùng lý lẽ để chứng minh, chứ không có buộc người khác phải theo. Đó là trường hợp là cái văn hóa trong cái cuộc tranh biện này, đây là cái tính cách văn hóa của một cuộc tranh biện rất bình đẳng và rất chân tình, rất cởi mở, rất thẳng thắn, nhưng mà bên nào cũng có thiện chí, chứ không có bên nào mà có cái vẻ hằn học hay là áp đặt. Còn về thân phận tôn giả Kumāra Kassapa thì ngài

[6:47]có một thân phận rất là lạ, rất đặc biệt. Lúc đó mẹ ngài muốn xuất gia nhưng mà ông ngoại ngài không cho, buộc phải lấy chồng. Thì bà, người nữ ở Ấn Độ phải nghe lời cha, nghe lời chồng, nên bà phải nghe lời cha và đi lấy chồng. Nhưng khi lấy chồng rồi, bà mới thuyết phục chồng cho bà đi xuất gia. Không biết sao được người chồng rất là tốt, ông đồng ý cho vợ đi xuất gia. Rồi bà đến tịnh xá xin xuất gia trong cái ni đoàn của Phật, không ngờ là bà đã cấn thai từ trước. Nên khi bà xuất gia, lần đó thọ giới cũng sớm, thọ giới tỳ kheo không bao lâu thì cái bầu nó lớn lên, ai cũng thấy. Thì mọi người mới đồn rần lên là một tỳ-kheo-ni

[7:37]đã coi như phạm giới, đã có cái hạnh ô uế gì đó. Chuyện đồn rần ra. Đức Phật thì biết, nhưng mà Ngài bình tĩnh, Ngài không dùng cái gọi là thần thông của mình nói: "À, ta biết vậy, ta thấy vậy." Ngài nói: "Cứ mời một y sĩ tới khám." Và ở đây cũng là đặc biệt là trình độ y học, y thuật của người Ấn Độ thời xưa rất là đặc biệt. Vị y sĩ đến chỉ khám trên tay và biết được cái ngày bà cấn thai, tính ra là bà đã cấn thai trước khi đi vào ni đoàn, nên chuyện đó được giải tỏa. Cái trình độ y thuật đó cũng bằng như cái trình độ y thuật Trung Hoa và Việt Nam là vị thầy thuốc bắt mạch một người thai phụ có thể biết được cái thời gian cấn thai và có người biết luôn con trai hay con gái.

[8:27]Phải nói cái y học Đông phương kỳ lạ thiệt. Mà cái trình độ của nước ngoài, trình độ của Tây y thì đến bây giờ mới bắt đầu biết với nhiều cái máy móc rất là hiện đại mới có thể biết được. Còn trai hay gái thì phải tới tháng thứ, tháng thứ mấy quên mất rồi. Ai rành biết chứ tôi không rành mấy vụ đó. Tháng thứ mấy bắt đầu mới biết được, siêu âm mới biết được trai gái gì đó. Tháng thứ sáu hả? Đó ờ, giỏi ghê, há miệng. Thì cái chuyện được giải tỏa rồi, bà vẫn được ở lại để tu tập bình thường và vẫn được sinh nở, vẫn là một tỳ-kheo-ni mà cứ đẻ con, không sao hết. Và khi đẻ ngài ra thì ngài cũng trở thành một chú tiểu luôn từ lúc

[9:10]mới sinh, nghĩa là nói về cái ai là người mà xuất gia thâm niên nhất, lâu năm nhất thì chỉ có tôn giả Kumāra Kassapa, nghĩa là chỉ ở trong bào thai vài ngày là đã trở thành người xuất gia. Đặc biệt ơ, ngài phải nói là đặc biệt như vậy. Tôn giả có một điều lạ á, ta thấy ghi ngài ở trong 10 đại đệ tử giỏi nhất, nhưng mà trong Tiểu Bộ kinh thì ghi ngài là vị thuyết pháp đệ nhất. Chúng ta nghe nói rằng Xá Lợi Phất là trí tuệ đệ nhất, ngài Ca Chiên Diên nghị luận đệ nhất, ngài Phú Lâu Na thuyết pháp đệ nhất. Nhưng mà trong bài kinh này chúng ta mới thấy nể ngài. Tôi cũng thuộc loại là phải nói lanh lợi nhưng mà khi đọc bài kinh này tôi mới thấy

[10:02]mình không có so một góc nào được với cái trí tuệ của ngài Kumara Kassapa. Nghĩa là nếu đặt tôi vào cái hoàn cảnh mà phải nói chuyện với một ông vua không tin gì hết mà ông vua đó ông đủ lý lẽ ổng lật qua lật lại để chứng minh cái quan điểm của ổng thì tôi không thể nào mà có được cái lý luận tuyệt vời như ngài Kumara Kassapa này. Nghĩa là cái trí tuệ của ngài quá sắc sảo, quá đặc biệt. Mà tôi nghĩ từ mấy ngàn năm trước như vậy, 2500 năm trước như vậy cho tới thêm vài ngàn năm sau nữa cũng khó có thể có người thứ hai nào mà trong tức thời như vậy, nhanh chóng như vậy đưa ra những lý lẽ sắc bén như vậy để thuyết phục được người khác từng bước từng bước.

[10:46]Từ một ông vua cố chấp cái quan điểm của mình, bẻ gãy cái quan điểm của ổng rồi và thuyết phục ổng phải tin nhân quả luân hồi luôn. Nên đây là một điều một cái trí tuệ lỗi lạc. Thì trong Tiểu Bộ Kinh khen ngài là thuyết pháp đệ nhất mà theo cái quy định của mười vị đại đệ tử thì không thấy ngài. Nhưng mà đây là điều tôi hơi ngạc nhiên nhưng mà đọc cái bài này rồi mới thấy thấy nể ngài như vậy. Giờ chúng ta vào bài kinh. Lúc đó tôn giả đang du hành trong nước Kosala và vua vua Payasi vua Tệ Túc á thì ông là một thủ lĩnh, một cái vương quốc nhỏ. Vương quốc này cũng là chư hầu của nước Kosala, nó giống như là cái vương quốc mà Thích Ca

[11:34]Vương quốc Thích Ca Ca Tỳ La Vệ của Phật vậy, cũng là một cái vương quốc nhỏ, một chư hầu của Kosala. Ấn Độ thời đó có hai cái vương quốc lớn, một hai cái đại quốc: phía Bắc là Kosala mà phía Nam là Magadha, Ma Kiệt Đà, còn những nước khác nhỏ nhỏ nhỏ đều là chư hầu hết, mỗi nước đều có nhiều chư hầu. Thì ông vua Payasi này cũng là một nước chư hầu. Thì ông vua này có một cái tà kiến thế này là không có đời sau, nghĩa là không có luân hồi, không có các loại hóa sinh, nghĩa là không có thế giới siêu hình thần thánh ma quỷ gì hết, hành vi thiện ác không có quả báo, nghĩa là không có luật nhân quả.

[12:13]Rồi nghe tin tôn giả Kumara Kassapa là một bậc học rộng, tài cao, diệu trí, đa văn, lời nói đi vào tâm, thiện xảo biện tài, là một bậc trưởng lão, là một bậc A La Hán nên ông vua này nào giờ cái trí tuệ ổng thì không ai địch được, cái lý luận ổng vững chắc, lần này ổng muốn đối diện với một vị được gọi là thánh nhân thử coi nó như thế nào và ổng tổ chức đi đến gặp. Ổng đến gặp sau khi chào hỏi đủ thứ rồi, ổng mới trình bày thẳng thắn cái quan điểm của ổng, nói: "Thưa ngài, tôi không tin có luân hồi, tôi không tin có luật nhân quả công bằng, tôi không tin có thế giới siêu hình của chư thiên, của ma quỷ." Rồi ở đây tôn giả bắt đầu mới dùng lý luận thế này, nói:

[12:59]"Này ừ bây giờ tôi sẽ hỏi tôn chủ và tôn chủ hãy trả lời. Tôn chủ nghĩ thế nào, mặt trời với mặt trăng là thuộc thế giới loài người hay thế giới khác, thế giới chư thiên?" Thì vua trả lời: "Dạ, mặt trời, mặt trăng thuộc thế giới chư thiên không phải thuộc thế giới loài người." Thì tôn giả nói: "Đó, thì như vậy là phải có thế giới siêu hình." Ngang câu đó thì bây giờ mình hiểu chưa? Ngang câu đó mình chấp nhận chưa? Bây giờ thì mình chưa, phải không? Nghe câu đơn sơ quá làm sao mà buộc người ta phải chấp nhận. Nhưng mà thời xưa cái câu này là lý luận đã cứng rồi đó, cái thời đó 2500 năm trước. Bây giờ với cái trình độ khoa học hiện nay câu này chưa đủ sức thuyết phục mình,

[13:42]nhưng mà trong thời đó một câu này là đã có một hệ thống lý luận của nó. Nghĩa là thế này, cái thời xưa đó người ta tin rằng mặt trời, mặt trăng á nó không phải thuộc của thế giới loài người. Ví dụ thế giới loài người này là những cái gì mọc lên từ đất, dính với đất thì thuộc thế giới loài người, như cây cối, sông núi, có thể có thần sông, thần núi nhưng mà những cái đó đều thuộc về thế giới loài người này, ở dưới đất. Còn mặt trời, muôn sao, mặt trăng nó thuộc thế giới khác, nó được các vị thần linh nào bí mật ở trên đó vận hành, điều khiển để khi thì soi sáng quả đất này, khi thì đem vào bóng tối giấu rồi ban ngày thì lại đem ra để soi sáng loài người.

[14:27]Cho nên nó đâu có dính mặt đất mà nó vẫn vận hành, nó di chuyển được nên nó thuộc về thế giới của thần linh. Người xưa cái quan niệm về chiêm tinh của họ, về thiên văn, vũ trụ họ đơn giản như vậy. Mà nếu là nó không thuộc thế giới loài người mà nó vẫn vận hành tốt nên nó thuộc về thế giới thần linh thì tức là phải có thế giới thần linh. Hả, người lý luận người xưa như vậy. Với cái niềm tin như vậy thì câu nói đó đủ để thuyết phục là có thế giới thần linh. Thì vua cũng công nhận là nó thuộc thế giới thần linh. Nhưng mà ổng lì, ổng nói: "Dù tôn giả có nói như vậy nhưng tôi vẫn không chịu tin có luân

[15:03]hồi, có nhân quả, có thế giới thần linh." Cái mới nói: "Vì vì sao? Vì sao mà ngài không chịu tin?" Thì ông vua mới nói thế này, nói: "Thưa tôn giả, tôi có những người bạn tri kỷ tốt, thân tộc cùng một huyết thống. Người này rất là xấu, đời sống rất là ác độc, sát sanh, tà dâm, trộm cắp, nói lời phù phiếm đủ thứ hết." Có lẽ này ông vua ổng bịa ra chứ không ha bạn thân ai mà kỳ khôi, kỳ cục mà ông vua ổng chưa bắt, thấy không? "Thì người này thì tôi nghe nói rằng những cái người mà như vậy khi chết thì phải xuống địa ngục, thì cái người này tới chừng bệnh gần chết thì tôi mới đến tôi dặn là tôi nào giờ tôi không có tin có thế giới địa ngục,

[15:44]thần linh mà bạn là một người sống cả một đời nghĩa là xấu ác, thì nếu đúng cái lý thuyết là có địa ngục thì chắc là bạn xuống địa ngục đó. Giờ nếu bạn xuống, bạn hãy vui lòng về báo cho tôi biết thì tôi mới tin, còn không tôi không tin. Và rõ ràng khi người đó chết rồi, cho đến bao nhiêu năm trôi qua, người đó vẫn không về báo cho tôi biết là người đó đã xuống địa ngục. Vì vậy tôi càng không tin là có luân hồi, nhân quả gì hết. Chết là hết." Ổng nói câu đó có lý không? Có lý không? Có lý. Ổng nói nghĩa là ổng đại diện cho vô số người trên trái đất này cùng thấy như ổng vậy. Nếu nói rằng có cái địa ngục trừng phạt con người

[16:24]ta sau khi chết, sao không thấy ai về báo hết? Phải không? Là chỉ đa số chúng ta chỉ tin thôi, chỉ tin chứ không thấy, mà bây giờ bắt tin như vậy hoài, vô lý, phải thấy mà không ai về báo hết. Tất cả chúng ta ngồi đây có ai thấy được người thân mình từ địa ngục lên báo không? Không, phải không? Và hầu hết người trên thế giới cũng không thấy luôn. Cho nên vì vậy bắt tin là sai nên ổng đã nói một lý luận đại diện cho cả loài người mà nói để phủ nhận thế giới siêu hình, để củng cố lại là không hề có gì hết, chết là hết. Nhưng mà thật ra nó cũng có nhưng số người mà hiểu được, thấy được thân nhân về báo nó quá hiếm.

[17:03]Ở Việt Nam mình có cái chuyện là ngày xưa Sài Gòn có cái ông kêu là ông Huyện Sĩ, giàu ghê gớm lắm. Ông hồi đó cái giàu của ông chắc nó không trong sạch đâu, cũng bằng cách bóc lột, vơ vét người ta giàu. Thì để chuộc lại lỗi lầm, ổng cất cái nhà thờ ở Sài Gòn, bây giờ vẫn còn gọi là nhà thờ Huyện Sĩ. Thì ổng chết thì có một ông cha ở nhà thờ, đêm thấy ổng bị xiềng tay, xiềng chân đi lết lết chung quanh nhà thờ. Thì bên đó thì họ không có cái nghi thức cầu siêu nên chắc họ cũng cầu hồn, cầu gì đó làm sao cho bớt. Nhưng mà đó chỉ là một trường hợp hiếm hoi để thấy rằng có một người khi chết đã bị trừng phạt mà trở lên báo lại, còn hầu hết chúng ta không thấy,

[17:47]mà ông vua ổng đã đại diện cho vô số người không thấy nói lên điều đó. Thì bây giờ cái lý luận của ngài Kassapa thì nói thế này: "Bây giờ trường hợp như vua gặp một tên ăn trộm, trộm cắp, giết người ác độc, vua bắt được nó thì vua làm gì?" Nói: "Dạ, tôi sẽ trói nó lại, hành kết tội nó, rao cái tội nó cho mọi người biết rồi đem ra pháp trường chặt đầu trước mọi người để cảnh tỉnh những người khác, cảnh cáo những người khác đừng phạm tội." Thì tôn giả mới nói: "Thì lúc mà bắt đầu vua bắt được đi và chuẩn bị đem hành hình, thế thằng trộm nó mới xin vua là xin vua là hãy thả ra cho nó chạy về nhà nó báo bà con nó một chút, vua cho không?" Nói:

[18:30]"Làm sao cho được, nó trốn thì sao?" Nói: "Thì cũng vậy. Thì một người phạm tội xuống dưới bị bắt rồi, làm gì ai cho tự do để trở lên báo thân nhân?" Ngài thấy không? Ngài lấy cái cái quyền hành, cái hoàn cảnh thực tế của vua để trả lời. Mà đây cũng là bài học cho chúng ta, nghĩa là khi chúng ta muốn thuyết phục người khác, giống như sau này quý thầy mà muốn thuyết pháp, quý thầy phải đứng vào cái tâm tình, cái trình độ của người nghe, cái hoàn cảnh người nghe mà lý luận, đưa cho họ biết một đạo lý họ chưa biết từ cái họ đã biết. Trong cái hoàn cảnh, cái tâm tình, cái kiến thức, trình độ họ đã biết, mình dùng đúng cái đó rồi mình nâng lên một

[19:09]chút lý luận làm cho họ biết một đạo lý họ chưa biết, họ rất dễ tiếp thu. Còn nếu mình nói thuyết pháp mà sai trình độ, không đúng tâm tình hoàn cảnh văn hóa của họ, họ khó tiếp thu lắm. Giống như thời đại của Phật tử ngày hôm nay, những người thanh niên trẻ ngày hôm nay học vấn cao mà mình cứ lôi kinh chữ Nho thời xưa ra mà giảng từng chữ, chữ, nghe không vô, nghe không nổi. Đó, như vừa rồi Chủ Nhật tôi đi giảng ở Mỹ Tho thất bại nặng nề, giảng dở ẹt luôn. Vì bữa đó giảng cho tăng ni mà chỉ có ni không, mà ni chùa cũng không khoái nghe nữa, mà Phật tử thì đứng đầy, cứ giảng cho tăng ni, bữa đó giảng rất là dở.

[19:47]Bữa đó lỗ vốn nặng luôn, lỗ vốn nặng. Nên ở đây là tôn giả đã là dẫn một cái việc của ông vua thường làm để trả lời cái câu của ổng. Thì ông vua ổng cũng lì, ổng nói: "Dù tôn giả nghĩa là nói có lý nhưng tôi vẫn không chịu tin." Thì ngài mới hỏi tiếp: "Lý lý do nào?" Nói: "Bây giờ, tôi có người bạn thân, người này tốt ghê gớm, sống rất là thánh thiện và nói theo cái lý luận của mấy cái ông mà tin nhân quả đó, là người mà sống tốt như vậy chết lên thiên đường, lên cõi trời. Nên tôi có dặn người đó, nếu ngày nào đó bạn chết, bạn lên thiên đường, bạn hãy về báo cho tôi. Rồi ông mới chết và tôi cũng tới giờ này chẳng thấy ổng xuống báo.

[20:28]Thì rõ ràng chết là hết, không hề có tội phước, luân hồi, nhân quả." Ổng nói câu này có lý không? Có lý, phải không? Rất nhiều người trên thế giới này nghĩ như vậy, là người thân mình chết và cũng không gặp lại, cũng không nghe báo cáo gì cả về đời sống phía sau, cho nên chúng ta có quyền nghĩ rằng đúng dường như chết là hết. Ông vua ổng đã đại diện cho vô số người trên thế giới này để nói lên lý luận đó. Và ngài Kassapa ngài cũng lý luận, ngài nói ở đây ngài dùng một hình ảnh rùng rợn, ngài nói giống như một người bị ở trong hầm phân được thoát lên. Thế là những người thân nhân của nó mừng quá,

[21:04]mới đầu mới dội nước tắm rửa cho người đó, lấy xà bông Camay, Dove rồi nặn lên là thoa tắm, xịt dầu thơm rồi chà rửa, kỳ cọ, bàn chải mà kỳ, chà ngón tay, móng chân rồi mấy cái kẽ tay, kẽ chân rồi sạch sẽ đó. Rồi nhúng xuống nước, nhúng lên, rồi lấy nước hoa rồi thơm, xịt đủ thứ mà nghe còn hôi là đi tắm nữa, cho hết chừng là mấy ký xà bông bắt đầu hoàn toàn là thơm sạch. Thì bây giờ cái người đó mới nghĩ đến những người thân mình ở dưới hầm phân, có nhảy xuống báo cho biết không? Nói không. Thì cũng vậy, cái thế giới chúng ta giống như cái hầm phân à, mà những người sinh về cõi trời giống như họ thoát mà họ được tắm rửa

[21:40]trở thành một cái con người mới thì người ta kinh hãi thế giới này. Đó là một lý do. Họ đâu có xuống báo làm chi nữa, vì thế giới này hôi hám. Thì việc mà ngài ví cái thế giới này như hầm phân là một việc hơi cường điệu. Có nhưng mà hơi cường điệu. Có như thế này, thì tôi có nghe một câu chuyện ngày xưa có thầy Thiện Thanh, ông giỏi lắm. Ông sau này ông đi qua nước ngoài rất là sớm từ trước kia lâu, ông học lấy mấy bằng tiến sĩ á, giỏi dữ dội lắm, rồi ông cũng mất sớm, ông mất năm năm mấy, sáu mươi tuổi, sáu mấy. Thì ông có kể chuyện hồi còn nhỏ ông ở chùa ông tu, ông bị bệnh và ông ông chết, chết giả, ông thấy hồn ông xuất ra khỏi cái

[22:23]xác, bay lên trên khỏi nóc chùa và ông nghe một mùi hôi tanh từ chùa bốc lên dữ lắm, là nói cái thế giới của loài người như vậy. Nhưng mà vì cái duyên trần gian còn nên ông phải sống lại, nhưng mà ông nhớ hoài cái cảm giác đó, là mà chùa ăn chay đó, chùa ăn chay mà vẫn có cảm giác hôi tanh. Cho nên vì cái thế giới chư thiên họ sống trong cái cái thắng diệu của cái phước của họ, họ nhìn cái thế giới loài người mình cái dơ bẩn á. Nghĩa là mình ăn thức ăn sạch như đậu hũ rồi coi vậy chứ đối với họ vẫn không phải là ngon. Nhất là cái nước tương điều mà ủ lâu mà nghe mùi mà thơm thơm nữa thì đối với họ là chạy xa, chứ không thể nào chấp nhận được.

[23:02]Mà mấy Phật tử mà để mắm nêm, mắm ruốc là chư thiên né luôn, nó vậy. Cho nên họ có cái rồi còn vô số điều nữa, vô số điều nữa. Ví dụ mưa xuống cái sình lầy, mình đi mà xe nó tạt một cái nước sình văng lên vô mình mẩy mình là thôi ha, thấy thế giới này nó kỳ khôi, kỳ cục mà kỳ lạ. Nó nó dơ bẩn so với cái phước vi của chư thiên. Nên nghĩa là ngài Kassapa đã ví cái thế giới này như hầm phân thì nó không sai, nhưng mà ngài hơi cường điệu làm cho mình thấy rùng rợn. Thì ông vua ổng chấp nhận nhưng ổng nói ổng cũng không tin. Ngài mới đưa thêm lý luận nữa, ngài nói rằng vua nên nhớ một điều là cái thời gian giữa thế giới chư thiên và loài người khác nhau. Khác nhau là sao?

[23:46]Là một ngày ở trên thiên giới nhiều khi bằng cả trăm năm dưới này. Cho nên một người vừa mới được sinh lên cõi trời nghĩa là khi mà chứng kiến cái cảnh vi diệu của cõi trời, mọi điều hạnh phúc, an lạc ở trên đó, mọi cái đẹp đẽ trên đó thì họ ít nhất phải ở lại nghỉ ngơi vài ngày, rồi có thương thân nhân rồi mới tìm cách báo sau. Thì khi họ xuống báo thì mình sùi lơ cán cuốc hết rồi. Cho nên là chờ tới giờ này mà vua vẫn không thấy ai xuống báo là vì vậy, vì thời gian nó, hai cái khái niệm thời gian nó khác nhau. Ở đây chúng ta thấy điều này nữa, sự thật là chư thiên tử á cũng có nhiều hạng, có người thì họ họ có phước mà coi vậy chứ không có có cái khuynh hướng dấn thân.

[24:31]Nhưng cũng có những chư thiên hiểu đạo, có phát tâm Bồ Tát nên cũng dấn thân và thường hay xuống thế giới loài người để gia hộ. Đó là khi mình niệm Phật mình thấy linh là vậy, là nhờ những vị chư thiên đó phò hộ. Chư Phật chứng minh thôi, chư Phật không ra tay. Những cái việc mà phụ giúp chúng ta cho chúng ta cầu nguyện điều này được, điều kia được là hầu hết do chư thiên. Cũng giống như chúng ta vậy, ví dụ như Phật tử mình được là cái phước giàu sang đi, mình ở trong cái nhà villa đẹp đẽ, rồi ở cái xóm xa xa bên kia có những người nghèo khổ, mình thấy thương họ, mình mới mang gạo, mang quần áo đến mình cho.

[25:09]Thì mình cho mình đâu có đứng ngoài đường mình ngoắc ngoắc người ta ra mình cho, vào nhà mình thăm, mình hiểu đạo mà, mình cho với lòng tôn trọng, mình phải bước vào cái nhà lá lụp sụp người ta. Trong nhà thì gập ghềnh, cái nền không có ngay, mà con nít thì nó mới làm một đống đó, con chó nó đang dọn dẹp cái cái đống đó. Nhiều cái cảnh bầy hầy đủ thứ hết, nhưng mà vô đó mình đâu có chê, mình vẫn phải chịu đựng cái cảnh đó để mà mình cho, nói chuyện ngọt ngào, người ta mời nước cũng đâu dám uống! Mời ly nước trà, dòm cái ly nghi ngờ, nghi ngờ ngày chưa rửa! Đâu có dám, dạ cũng ừ dạ dạ được rồi, mới uống nước này nọ chưa,

[25:46]cũng khát mà, rồi mới tặng quà, tặng áo rồi lật đật đi ra. Đó là mình có lòng lắm, phải không? Đôi lúc mình cũng phải chịu đi vào cái cảnh nó không đúng với cái phước của mình để làm việc phước. Cái tâm lý như vậy, như có một lần thì tôi đi với mấy Phật tử vào cái chỗ trại dưỡng lão đi thăm, thì vào từng phòng thì thăm từng vị tặng quà, tặng tiền, chào, chào xong lật đật dọt èo ra mất tiêu. Tại vì cái tâm đạo mình, cái tự tại mình chưa đủ, chưa đủ nên là mình nghe cái mùi hôi cũng như mùi thơm, cho nên nãy giờ nó nín thở gần chết, giả bộ cười cười từ giã cái quay qua cái chạy đi mất liền. Thì chư thiên họ cũng vậy, với thế giới loài người mình họ cũng ngán

[26:24]lắm, nhưng mà cũng vì thương con người, cũng hay xuống để gia hộ. Mà trong trường hợp nào họ hay xuống? Trong trường hợp là họ ở trên cao, mà khi chúng ta lễ kính Phật, tự nhiên nơi tâm chúng mất liền. Thì chư thiên họ cũng vậy, với thế giới loài người mình họ cũng ngán lắm, nhưng mà cũng vì thương con người, cũng hay xuống để gia hộ. Mà trong trường hợp nào họ hay xuống? Trong trường hợp là họ ở trên cao, mà khi chúng ta lễ kính Phật, tự nhiên nơi tâm chúng ta phát hào quang là họ nhìn thấy liền, họ lắng nghe cái tâm niệm của mình. Hoặc là trong thế giới loài người tâm tối bẩn thỉu như vậy, giết hại, oán thù, chiến tranh, chết chóc đủ thứ mạng,

[27:04]mà người nào đó đang ngồi thiền, rải lòng thương yêu chúng sinh thì tâm người đó chợt sáng lên, chư thiên nhìn thấy được. Là có những cái dấu hiệu từ cái đạo đức, từ cái tâm hồn như vậy mình sáng lên và chư thiên nhìn thấy và họ thường lắng nghe để đáp ứng với cái tâm niệm của người này. Nhất là mấy thầy mà đẹp trai nữa, cầu thì dễ linh. Tôi chứ cầu nguyện ít linh lắm, tại mình biết thân mình, dòm gương mình biết tại sao mình cầu ít linh. Có lý do như vậy thì vua nói rằng:

[27:39]Ngài nói là chư thiên nãy giờ tôi có bao giờ tôi thấy chư thiên đâu. Ông vua ổng cũng ngang, ổng nói tới đó, nghĩa là: Tôn giả nói rằng có chư thiên tam thập thiên, tuổi thọ là như vậy, nhưng mà có bao giờ cả đời tôi, tôi thấy chư thiên đâu? Ngài mới nói thế này: Giống như một người mù, bây giờ mình nói về màu đỏ, họ không biết, họ nói làm gì có màu đỏ, nói màu xanh, họ nói làm gì có màu xanh. Cho nên vua hãy nhớ rằng có những điều chúng ta không thấy rồi chúng ta không tin, nhưng đừng nghĩ nó không có. Cái câu này lý luận chắc không? Quá vững ha. Cái câu đó cho tới ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.

[28:15]Cũng rất nhiều người chúng ta vì không thấy, không tin mà đâu biết là nó vẫn có, phải không? Cái cái câu đó lý luận rất là chắc. Nghĩa là ngài nói tới câu đó thì như vậy đó là một sự vội vã. Nên điều mình không thấy mình thì mình không tin, đó là một điều vội vã vì chân lý vậy, nó có những điều không nhìn thấy được bằng mắt thường mà phải nhìn bằng con mắt của trí tuệ. Giống như vậy, như bây giờ mình nói ở đây, tại sao cái loa đằng kia nó vang lên? Tại sao? Vì ở đây nó có bộ máy phát sóng, phải không? Phát cái sóng đó mắt mình không thấy nhưng nó phát vào cái bộ phận nhận sóng đằng kia và nó dẫn tín hiệu vào trong máy amply nó khuếch đại ra loa phát ra lại.

[28:58]Nên cái mình không thấy nhưng nó vẫn hiện diện, là cái sóng từ ở đây nó phát ra. Nên mà tại sao chúng ta biết có sóng từ? Vì khoa học họ đã tiến bộ như vậy, họ lý luận và chứng minh được hết, mắt mình không thấy nhưng mà bằng trí tuệ con người đã biết được như vậy. Nên xưa nay như vậy, khoa học tiến bộ là nhờ như vậy, là họ đã khám phá ra những điều mà mắt không thấy, tai không nghe nhưng nó hiện hữu, nó tồn tại, nó exist.

[29:28]Thì ông này ổng lì, tới mức đó rồi ổng nói: Dù tôn giả có nói cũng nghe cũng có lý nhưng thưa ngài, tôi vẫn không tin. Ổng lì hơn mấy thầy ở đây mình nhiều lắm. Mới nói: Bây giờ vì sao? Ổng mới đưa ra một sự kiện, ổng nói rằng: Có những người Sa môn, Bà-la-môn, có những người cư sĩ họ tin cái thuyết của ngài đó, họ tin rằng có luân hồi, có nhân quả đó, có thế giới siêu hình đó và họ sống rất là tốt, nên họ nghĩ rằng họ sống tốt như vậy mà cái luật nhân quả là có thật, cho nên nếu họ chết, họ sẽ được sinh về nơi tốt lành và họ đã xúi nhau họ tự tử. Như vậy cái quan niệm của ngài, cái cái chủ trương của ngài cho rằng có luân

[30:11]hồi, có nhân quả, có thế giới siêu hình, nó làm cho con người ta thụ động, tiêu cực, yếm thế bằng cách bằng chứng là họ đã tự tử chết để họ mong họ được hưởng cái quả báo. Cho nên lần này thì ông không chứng minh có không mà ổng phê phán cái hệ quả của những người mà tin đạo là những người thụ động, tiêu cực, yếm thế. Ổng nói có lý không? Có lý không? Cái lý luận của ông tới giờ này vẫn còn giá trị, phải không? Chúng ta vẫn nghe phê bình những người tin đạo là những người yếm thế, tiêu cực, sống không thực tế, không lo làm ăn mà cứ lo chờ đợi một kết quả mơ hồ hoặc tin vào sự gia hộ của thần linh nào đó.

[30:52]Nên vua đưa ra lý luận là đại diện cho cả loài người mấy ngàn năm qua. Đến bây giờ, câu nói của vua vẫn có giá trị.

[31:02]Ở đây ngài Kassapa mới phê bình cái những người kia. Ngài phê bình là họ tin rằng có nhân quả luân hồi, họ đã tin đúng, nhưng họ không hiểu cái vận hành của nhân quả như thế nào, nên họ đã ứng dụng sai.

[31:19]Tin là một chuyện, tin luật nhân quả là đúng rồi đó, là cái đó chánh tín rồi đó, nhưng mà phải hiểu đường đi của nhân quả một cách sâu sắc kỹ lưỡng thì mới gọi là chánh kiến, mới ứng dụng được. Ở đây ngài mới ví dụ là có cái ông Bà-la-môn, ổng ổng chỉ có hai ba vợ thôi. Và khi ổng gần chết thì cái gia tài để lại, thì ổng để cái gia tài lại, thì lúc đó có một cái người vợ thứ chưa có con, nhưng bà muốn bà phải được cái phần gia tài cho con. Mà cái luật Ấn Độ thời đó đó, con trai mới được hưởng gia tài, chứ con gái không được hưởng. Phải nói con người ta bất bình đẳng thật. Thì cái người này có bầu, để chứng tỏ rằng mình có thể được hưởng gia tài,

[32:09]bà đã mổ bụng để cho mọi người thấy cái thai của bà là con trai. Nhưng mà tiếc rằng khi bà làm việc đó rồi thì bà chết và cái bào thai cũng chết luôn. Thì ngài mới phê bình: Con người đã đi tìm một cái quả báo lúc nó chưa chín muồi là một điều sai lầm, là một điều phá vỡ cái quả báo đó. Giống như chúng ta tin rằng chúng ta gieo cái hạt xoài, chúng ta sẽ được hưởng quả xoài, nhưng mà chưa đủ năm để nó ra quả ra hoa, mình đã chặt cái cây xoài đó để mình cưa coi cái trái nằm ở đâu thì không bao giờ có. Nên cái người đó tuy có tin nhân quả, cho nên họ mà không hiểu nhân quả nên đã có thái độ yếm thế, tiêu cực, sai lầm.

[32:48]Chứ còn nếu đúng là một người hiểu nhân quả kỹ lưỡng thì đó là một người năng nổ, tích cực, không phải là người yếm thế. Lúc trước có một người cũng hỏi tôi như vậy, hỏi: Thưa thầy, nếu mình tin rằng mọi điều trên đời này là do nhân quả đã an bài thì như vậy có tiêu cực không? Tôi trả lời: Cái người tin nhân quả là một người một đời năng nổ để chuyển nghiệp. Biết rằng mình có nghiệp xấu từ quá khứ, bây giờ làm phước để chuyển, mà biết rằng tương lai sẽ có những quả báo thì bây giờ cũng năng nổ làm phước. Nên người hiểu nhân quả là người được cái hay này: Thứ nhất, họ nhẫn nhục trước hoàn cảnh.

[33:26]Thứ hai, luôn luôn phấn đấu để làm điều tốt. Đó là người hiểu nhân quả. Và không có cái nóng vội như là cái trường hợp những cái sa-môn, bà-la-môn đã tự sát để đi tìm cái cõi lành, cũng giống như không giống như cái người vợ bé của ông Bà-la-môn mà đã rạch bụng mình để đem bào thai ra cho mọi người xem. Đó là cái hiểu đúng về luật nhân quả, phải đợi chín muồi. Thì nói rằng lúc đó lý luận của ngài vững chắc tới như vậy, tới đây chúng ta nể ngài Kassapa chưa? Nể chưa? Dễ sợ phải không? Cái lý trí tuệ của ngài sắc bén như vậy, nói tới đâu là ổng trả lời, mà trả lời hợp lý, vững chắc tới đó. Bây giờ đặt hoàn cảnh của mình vào đó mình không trả lời nổi.

[34:11]Ngài hợp lý tới vậy, ông kia ổng nói: Mà ngài nói thì nghe hay thiệt nhưng tôi vẫn không tin. Nói vì sao? Vì thế này: Vì đã có một lần lính của tôi bắt được ăn trộm phạm tội đem đến, thì chắc chắn là phải xử tử hình, thì tôi mới lợi dụng việc xử tử hình để tôi xem coi nó có linh hồn hay không. Tôi nhốt nó vào trong cái chum, tôi bịt kín lại bằng da bò, trét đất sét hết, đem đốt nó. Đốt nó như vậy thì ở trong nó chết. Khi mà nghe ở trong nó chết rồi, nó hết cựa quậy, nhúc nhích rồi, thì tôi mới từ từ tôi hé cái nắp ra coi linh hồn bay ra. Không thấy. Ông vua này thiệt hết ý kiến ổng. Cho nên mới nhớ nha, đừng có thực hiện lại cái thí nghiệm ác ôn này.

[34:55]Ngài Kassapa mới nói thế này: Có những lần vua nghỉ trưa, vua có thấy mình mộng đi dạo chơi không? Đi dạo chơi ở vườn, ở hồ, rất là sung sướng không? Nói: Dạ có. Nhưng mà lúc đó những người hầu cận đứng bên cạnh vua có thấy vua xuất hồn đi ra không? Nói: Dạ không. Bởi ngài mới nói: Vậy linh hồn đâu có thấy được, mà đòi thấy bằng mắt thường? Ở đây chỗ này chúng ta giải thích chút xíu, là như vậy người xưa họ quan niệm rằng nằm mộng là cái hồn mình xuất đi chơi, phải không? Hồi xưa như vậy. Bây giờ mình nghe chuyện đó mình thấy có lý không? Mình thấy ngờ ngợ, phải không? Nói mà nằm mộng tức là cái hồn mình xuất ra đi chơi là nghe hơi kỳ kỳ.

[35:38]Nhưng mà sự thật là vì cái giấc mơ nó có bốn loại. Cái mộng á, nó có bốn loại. Loại thứ nhất là do vọng tưởng.

[35:48]Nghĩa là ban ngày mình nghĩ cái gì nhiều quá, ban đêm khi nằm mình thấy nó, chỉ là vọng tưởng, sản phẩm của tưởng tượng. Ví dụ như là quý thầy mà có nhớ ai quá coi chừng... hai miếng nhìn lại cái dĩa cái mấy huynh đệ mình...

[36:09]Cái thứ hai...

[36:18]xảy ra, hoặc là mấy tháng sau mới xảy ra, hoặc mấy năm sau mới xảy ra. Rất nhiều người có giấc mơ báo điềm, đúng không? Nhiều người thấy như vậy. Là của trực giác nó phát sinh. Giấc mơ thứ ba là giấc mơ thấy... xảy ra. Rất nhiều người có giấc mơ báo điềm, đúng không? Nhiều người thấy như vậy. Là của trực giác nó phát sinh. Giấc mơ thứ ba là mấy ngày sau mới xảy ra, hoặc là mấy tháng sau mới xảy ra, hoặc mấy năm sau mới xảy ra. Rất nhiều người có giấc mơ báo điềm, đúng không? Nhiều người thấy như vậy. Là của trực giác nó phát sinh. Giấc mơ thứ ba là giấc mơ thấy được tiền kiếp, là bây giờ mình nằm mơ kiếp xưa nào đó,

[37:05]lúc đó mình mình mặc áo dài cổ nó vắt qua, lưng đeo cái kiếm rồi cỡi ngựa đi nè. Là lúc đó là mình thấy là kiếp hồi xưa đó. Hoặc có khi quý cô kia nằm mơ thấy mình một kiếp nào đó mình làm công chúa, mình hách dịch rồi sao đó, bây giờ về đây. Đó là giấc mơ thấy tiền kiếp. Ở đây có ai thấy chưa kìa? Có ai thấy chưa? Chứ tôi gặp những người mà thấy tiền kiếp nhiều lắm. Cả tôi cũng có thấy nè. Có một lần tôi thấy tôi là một đạo sĩ, sống đơn sơ lắm, vào một thời xa xưa nào lúc đó lúc đó xã hội không có vật chất nhiều, không có nhà không có cửa nhiều, ở nơi đó hoang vắng. Và có nhiều người tới nhiều người tới thăm tôi, tới nhờ tôi chữa bệnh.

[37:48]Lạ ghê, tôi thấy tôi có đôi bàn tay, người gần chết để tay vô sống lại liền, mà thời bây giờ rờ rờ không thấy gì hết. Nằm mơ thấy rõ. Cái giấc mơ thứ tư là giấc mơ tiếp xúc với tiếp xúc với người cõi âm. Tiếp xúc với cõi âm. Nghĩa là ở giấc mơ này nè, chúng ta thấy cái người đã chết đến nói chuyện với mình, hay thần linh, hay là thấy Bồ Tát, thấy Phật tới là giấc mơ thứ tư. Thì trong giấc mơ này giống như hồn mình xuất ra trong cái cảnh đó, hơi giống như vậy. Nhưng mà người xưa quan niệm như vậy, nằm mộng là hồn xuất ra. Thì như vậy nói rằng nghĩa là linh hồn không thể thấy được, cho nên việc mà ngài giết người ta để ngài chờ thấy linh hồn xuất ra nên là vô lý.

[38:32]Cho nên ngài cứ tin là có linh hồn đi, có thế giới siêu hình đi. Nói như vậy nhưng ông nói ổng cũng không chịu tin, mặc dù ngài nói có lý, ổng không chịu tin. Ổng nói: Vì sao? Vì có một lần thế này: Là có một lần gặp một cái tên trộm tội phạm mà tôi xử tử nó, nhưng mà trước khi xử tử nó tôi đem cân nó, rồi sau khi giết nó chết, thắt cổ nó chết không cho nó nhỏ một giọt máu nào ra, đem cân lại thì thấy sau khi chết nó nặng hơn khi nó sống. Như vậy không có linh hồn. Vì nếu có linh hồn, linh hồn nó thoát ra là phải nhẹ hơn một chút chứ. Cái ông này ổng đủ thứ màn hết trơn, đem cân. Và ở đây là ngài Kassapa ngài lại đưa ra một lý luận này, cái lý luận này lạ nha:

[39:12]Ví dụ như một hòn sắt nóng đỏ đem cân nó sẽ nhẹ hơn một hòn sắt nguội, lạnh. Cái ví dụ này đến nay chúng ta vẫn chưa biết, nhưng mà chợt ngay lúc đó ngài Kassapa đưa ra liền. Ngài nói rằng: Một cơ thể sống luôn luôn nhẹ hơn cơ thể chết. Tại sao như vậy? Thì đây chính là cái sự nhận định, quan sát chứ không có chứng minh, nhưng nó là vấn đề lớn của khoa học, đến hôm nay vẫn chưa ai nói được. Là thế này: Khi một vật thể mà nó mang năng lượng, cái năng lượng này nó có nhiều nhiều dạng, hoặc là nhiệt lượng hoặc là động lượng. Nhiệt lượng tức là ví dụ thỏi sắt mình nung nóng nó lên thì cái vật chất này đang có năng lượng thì nó sẽ nhẹ đi.

[39:51]Thì cái năng lượng với trọng lượng tỷ lệ nghịch với nhau nơi cái khối lượng đó. Hoặc là cái vật thể đó mình cho nó quay tít đi, quay với một cái vận tốc tức là nó có động lượng, thì khi đem để lên cân nó vẫn nhẹ hơn cái khối lượng thật sự lúc mà nó đứng yên vì nó có năng lượng. Hoặc là một cái vật thể nào đó mình cho nó bay với vận tốc thật dữ dội mà nếu lúc đó mình cân được vẫn sẽ thấy nó nhẹ hơn cái khối lượng lúc nó đứng yên. Nghĩa là khi một vật thể mà có năng lượng thì nó nhẹ hơn không có năng lượng. Như vậy giữa năng lượng và trọng lượng nó tỷ lệ nghịch với nhau. Nên cái khối sắt mà nóng đỏ cân nhẹ hơn khối sắt nguội.

[40:27]Ngài nói ra câu này thì nó chúng ta dựa vào câu nói của ngài, chúng ta rút ra được một kết luận về khoa học là năng lượng và trọng lượng tỷ lệ nghịch nơi một vật thể. Vấn đề này đến ngày hôm nay khoa học chưa nói. Thuyết Einstein cũng nêu nêu ra chưa rõ, mà đây là vấn đề lớn. Nếu sau này có người tìm ra câu này đúng thì đây là điều mà ngài Kassapa đã nói 2500 năm trước. Vấn đề lớn, đến nay khoa học vẫn chưa nói nha. Mà Ngài đưa ra cái đó ông vua chấp nhận liền, tức là ông vua thấy có lý, bằng cái trực quan của ổng, ổng công nhận có lý. Cho nên cái chuyện linh hồn nó không có khối lượng, rồi đợi người chết thấy nặng hơn rồi nói như vậy không

[41:08]có linh hồn bay ra là lý luận của vua không có lý đâu. Vì như vậy, vì quy luật như vậy, người chết nặng hơn người sống. Thì cái lý luận của ngài Kassapa nghĩa là ngài lý luận đủ mọi mặt của vấn đề hết, nói tới đâu ngài trả lời tới đó, nói tới đâu trả lời tới đó, tới độ mà đưa ra luôn một nguyên lý khoa học quan trọng luôn. Cái nguyên lý này cực kỳ lớn đó nha. Nghĩa là ngài đủ lý luận hết, đủ kiến thức, đủ trí tuệ tới cỡ nào ngài đi theo tới đó. Mà ông vua ổng cũng lì, nói không chịu. Nói không tin, ngài nói thì có lý thiệt, mà tôi không tin. Nói: "Vì sao?" Nói: "Thưa, vì thế này. Là có một lần là gặp người phạm tội

[41:51]thì tôi mới ra lệnh là hãy giết người này bằng cách lột da ngoài, lột da trong, lóc thịt, gân, xương và xương tủy của anh ta. Rồi khi người ấy, nghĩa là lắc lư rồi, ngất ngư con tàu đi hết rồi thì mới bắt đầu để im lại, lật qua lật lại coi linh hồn nó đi ra bằng ngõ nào. Đấm đá nó, đá nó, lật qua lật lại, giật tới giật lui coi làm cỡ nào." Ông này ổng làm thấy cười quá, ổng ổng làm thấy ghê quá. Mình chắc không đủ can đảm mà người ta chết mà nắm xác mà l- giật qua giật lại mà máu me um tùm vậy. Mà thì thấy cũng không thấy linh hồn đi ra. Nhưng lúc đó ổng chưa chết, linh hồn chưa đi ra mà tai mắt đã trơ trơ, nấc không còn cảm thọ nữa.

[42:32]Cái lý luận này cũng hơi lạ, có đoạn này hơi lạ. Thì ngài Kassapa mới lý luận thế này: nó giống như có một người nhạc công họ cầm cái kèn họ thổi, cái kèn saxo, họ thổi cái bài nghĩa là Trở Về Mái Nhà Xưa rất là hay, hoặc là bài Hạ Trắng gì đó, Gọi Nắng, sao tự nhiên quên mất. Đó, thổi một bài saxo hay như vậy thì cái người dân trong làng mới kéo ra, mới giật lấy cái kèn saxo đó, mới đá nó, lắc nó, kêu nó: "Phát đi, hát đi!" thì nó trơ trơ. Cái người nhạc công mới nói: "Những người dân đây thật là ngu, không có người thổi thì làm gì nó phát ra tiếng kêu." Thì cũng vậy, khi mà thân này nó không có tuổi thọ phụ trợ,

[43:15]không có hơi nóng phụ trợ và không có thức phụ trợ thì thân ấy không đi tới, đi lui, không đứng lại, ngồi xuống và không có cảm xúc. Cho nên mà để nói rằng vì cái người này ngất ngư như vậy rồi không thấy linh hồn mà nói rằng không có linh hồn là sai. Vì lúc đó cái tuổi thọ đã hết, cái thần thức không có, hơi nóng không có thì họ không có hoạt động được. Cái chỗ đoạn này thì mình nghe nó hai bên hỏi và đáp nghe không đã tai. Tội xử tử thì tôi mới dặn là hãy tìm linh hồn của anh bằng cách là lóc từ từ từng lớp ra. Lột da ra, rồi cắt gân, cắt thịt, đẽo tới tủy, hổng thấy linh hồn đâu hết. Cho nên tôi nghĩ rằng chết là hết,

[44:05]không có linh hồn, không có luân hồi, tái sinh, nhân quả gì hết. Thì ở đây, nghĩa là tôn giả Kassapa mới đưa ra cái câu chuyện này. Nó giống như có một người bện tóc thờ lửa, rồi đi mới nhặt được đứa đứa trẻ bị ai quăng bỏ mới đem về nuôi. Nuôi đứa trẻ nó lớn lên từ từ, một hôm ông có việc ông phải đi xa thì ông mới dặn cái đứa trẻ là: "Con phải ở nhà giữ cái ngọn lửa này, mà nếu nó có tắt thì con hãy lấy cái dây bùi nhùi, lấy đá lửa nẹt, lấy cây đánh lửa và thắp củi lên như thế." Thì rồi ông đi. Ông đi, đứa nhỏ ở nhà cũng nghe lời, mới nói: "Cha ta đã dặn như vậy." Nhưng rồi nó ham chơi, gió mưa thổi vào tắt đống lửa.

[44:46]Cái nói: "Cha ta kêu rằng phải lấy cái bùi nhùi, lấy cục đá, miếng gỗ này để làm lửa thì ta sẽ đi tìm." Thì nó lấy bùi nhùi nó chẻ chẻ chẻ, xé ra hết, hổng thấy lửa. Nó đập cái cục đá bể nát ra hết, không thấy lửa, mà cái khúc cây nó chẻ tan ra hết, không thấy lửa, và nó ngồi nó khóc. Đến khi ông đạo sĩ trở về hỏi: "Con thân yêu, cái lửa đã tắt sao con không giữ?" Nói: "Con nghe lời cha, nhưng con không tìm thấy lửa trong những cái điều cha nói." Thì nói: "Con thật là ngu si. Muốn có lửa con phải chà, phải đánh thế này, chứ tại sao lại xé nó ra hết rồi làm sao tìm thấy lửa?" Thì ông đạo sĩ ổng mắng đứa nhỏ,

[45:21]nhưng mà sự thật là ngài Kassapa mắng ông vua đồ ngu. Muốn tìm linh hồn mà đi chẻ thịt, chẻ xương người ta ra làm sao thấy linh hồn được. Cho nên nhiều khi ngài Cho nên ở đây, ví dụ như mình muốn mắng ai, mình nên bắt chước ngài Kassapa, mình kể câu chuyện bâng quơ rồi thấy người này chửi người kia, nhưng mà kỳ thực mình đang chửi người trước mặt, gọi là chửi xéo á. Người Việt Nam mình, ở đây cũng vậy, ví dụ như tôi muốn mắng quý thầy, tôi không có nói, tôi nói: "Bên lớp bên kia có cái lớp ông thầy ổng dạy học, mấy đứa nhỏ hư quá làm bài trốn, hổng chịu làm, toàn copy không à. Rồi á, rồi lười, mấy đứa đó hư vậy á, hổng chịu ngồi thiền,

[45:57]hổng niệm Phật, tụng kinh gì hết trơn, giành ăn với nhau không à. Hư quá à." Nói nó nói xa, nói gần rồi nói xéo rồi người ta hổng mếch lòng, nghe người ta nhột mà người ta không cự mình được. Khổ thiệt. Thì đây là ngài Kassapa vậy đó, mắng ông vua ngu si, thiệt là ngu si mà làm vậy. Cho nên tới chỗ này, nghĩa là khi mà mắng ông vua tới chỗ này thì ông vua bắt đầu chịu phép, qua một loạt lý luận ổng chịu phép rồi, nhưng mà ổng nói câu này, ổng nói: "Thưa tôn giả, tôi không thể từ bỏ cái quan điểm của mình được, cái quan điểm vậy. Vì sao? Vì tất cả các quốc vương khác đã biết tôi là vua Pāyāsi đã có cái quan điểm duy vật như vậy.

[46:38]Thì bây giờ dù tôn giả đã dùng lý luận mà tôi đã chấp nhận, nhưng tôi không thể bỏ được vì tự ái. Bây giờ mà tôi bỏ cái quan điểm của tôi để tôi theo tôn giả, tôi bị mất mặt là nói ông vua đó đã đã bị đánh bại bởi tôn giả Kassapa, nên ổng phải từ bỏ cái quan điểm từ trước của ổng." Chúng ta thấy ông vua nói rất là đúng, đúng cái tâm trạng của rất nhiều người trên thế giới này. Nghĩa là họ có quan điểm sai, cho đến ngày họ biết họ sai nhưng vì tự ái không bỏ. Và điều này làm cho loài người mình đau khổ thêm. Giữa những người mà không có phục thiện, ở đây chúng ta thấy nè, là vua đã đại diện cho

[47:24]rất nhiều người, chỗ này nguy hiểm lắm. Ví dụ như một ngày nào đó quý thầy lớn lên, quý thầy chọn một pháp môn để tu. Ví dụ quý thầy người chọn Tịnh Độ Tông, người chọn Mật Tông, người chọn Thiền Tông, người chọn gì đó để đi con đường của mình giáo hóa. Nhưng rồi một lúc nào đó chợt mình gặp một người lý luận thấy được trong cái đường lối tu của mình có chỗ hở, mà lúc đó quý thầy lỡ là nên danh hết rồi, thành thượng tọa đồ hết rồi, không bỏ, phải không? Dù biết sai, người ta nói lòi ra rồi đó, chấp nhận đó, nhưng mà vẫn làm thinh, không đư- đưa vấn đề ra, vẫn tiếp tục giáo hóa như cũ vì tự ái.

[48:03]Và điều này có lợi cho Phật pháp không? Có không? Không có lợi. Chỉ giữ được cái tự ái của mình thôi, mà nó là điều nguy Họ có quan điểm gì đó, họ bảo vệ tới cùng.

[48:20]Ngoài tôn giáo cũng vậy, họ có quan điểm gì đó, họ bảo vệ tới cùng

[48:26]vì tự ái chứ không có vì, không phải vì chân lý, mà chỉ vì tự ái. Ví dụ như là nửa lớn lên quý thầy chọn pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật cầu vãng sinh thì mình đi con đường như vậy. Cái đến lúc có một người họ đến lý luận cho mình nghe trong đường đi của mình có cái sai trong. Biết rồi, nhưng mà lỡ lúc đó mình làm thượng tọa, làm hòa thượng rồi, không đổi được. Ít có người nào mà dám chân thành nhận: "Quá khứ tôi đã sai, ngày hôm nay tôi mới sực tỉnh biết được cái đúng, tôi xin lỗi, tôi sửa lại." Ít có người mà dám phục thiện như vậy, đa phần là giữ chắc đường đi của mình luôn. Và đây là một cái điều vừa bướng bỉnh vừa ngu si và chỉ đem

[49:08]lại tai họa cho cuộc đời, cho nhân loại, không tốt gì hết. Nên ở đây chúng ta phải gan dạ, nên nó cần cái chữ can đảm. Can đảm là nhận lỗi của mình, dám nói rằng trong quá khứ mình đã sai.

[49:26]Phải can đảm nhận lỗi điều đó thì mới có thể thay đổi được. Tôi không biết được sau này tôi có đủ can đảm nếu có người bảo với tôi sai hay không, nhưng trong quá khứ tôi đã làm được một chút xíu. Hồi khoảng năm 91 tôi có viết cuốn Năm Uẩn Là Gì với một số luận điểm sai lầm. Đến năm 96 tôi nhìn lại, tôi thấy sai, tôi sửa lại. Và viết năm 96 tôi có viết lời tựa, tôi sám hối về điều đó. Hối là năm 91 tôi đã viết sai. Thì tôi đã làm được một chút, nhưng mà tôi sợ rằng tôi cũng không đủ can đảm để ví dụ đến lúc tôi làm Hòa thượng, phát hiện ra mình đã sai, có người đến nói: "Hòa thượng đã sai rồi." Mà chắc tôi sống không tới lúc

[50:08]làm Hòa thượng đâu, ốm nhom nhách chắc sống không nổi. Nói là ví dụ nhưng ví dụ đi, ví dụ: "Hòa thượng đã sai vào điểm này, điểm này, điểm này." Thì không biết là tôi có vì tự ái mình đã là Hòa thượng mà không lên tiếng xin lỗi? Sợ như vậy không thay đổi được. Mà nếu tôi không thay đổi thì đó là điều bất hạnh cho những người tin nơi tôi, họ cũng sẽ không biết gì để sửa. Nhiều vị như vậy. Nên ở đây chúng ta dặn với nhau, chúng ta dặn với nhau trước. Một ngày sau này tôi có thành danh, quý thầy có thành danh, rồi trong khi mình thành danh được nhiều người tin theo, mà một lúc nào đó tự mình hoặc là người khác

[50:50]chỉ cho mình thấy là mình đã sai thì chúng ta hãy nhanh chóng phục thiện liền, xin lỗi liền mọi người để đi theo một cái lẽ phải đúng hơn. Mà như vậy có lợi cho Phật pháp, cho con người, cho xã hội, cho đất nước. Ở đây vua Payasi vậy, ông nói cái lý do mà ông không thể thay đổi được mặc dù là ngài đã ngài Kassapa đã vận dụng đủ mọi lý luận và ông đã bị thuyết phục rồi, nhưng vì tự ái. Cái điểm cuối cùng là tự ái, và ngài Kassapa phải tiếp tục dùng những lý luận để đánh vỡ cái tự ái của ông, để làm cho ông phải can đảm phục thiện, đừng có cố chấp như vậy mãi. Đây là những lý luận. Ngài mới đưa ra một câu chuyện:

[51:35]vào thời xưa có hai cái đoàn lữ hành vượt qua sa mạc để đi buôn. Thì cái đoàn lữ hành thứ nhất đi trước, đi vào sa mạc họ mang theo nước uống, lương thực, củi đuốc đủ hết. Thì có một cái con Dạ Xoa chuyên ăn thịt người, nó muốn ăn thịt cái đoàn lữ hành này. Nó đã lừa bằng cách là nó hiện ra với một thân hình ướt sũng, cầm những củ sen và đi vừa ăn. Thì cái người lữ hành thứ nhất nhìn mới nói: "Ủa, gần đây có hồ nước chăng?" Nói: "À, cách đây vài bước, không xa. Tôi vừa mới tắm dưới hồ và tôi hái sen lên. Quý vị đừng có cần mang theo nước như vậy nặng nề mà đi khó, hãy bỏ hết đi. Rồi đi tới rồi sẽ thấy có hồ nước gần đây thôi,

[52:18]nước trong, mát, sạch." Cái người người mà dẫn dẫn đường, người dẫn đạo cái đoàn đó mới ra lệnh là bỏ đổ nước hết để cho nhẹ và dong lạc đà, dong ngựa đi. Nhưng đi mãi không bao giờ thấy nước, và mọi người kiệt sức. Lúc kiệt sức vì khát, vì đói thì Dạ Xoa nó mới ăn thịt hết toàn bộ, chỉ để lại xương. Cái đoàn lữ hành thứ hai họ cũng đi như vậy, khi đi tới cũng gặp một cái con người ướt sũng, cầm củ sen ăn và cũng khuyên là nên bỏ nước. Thì người này nói: "Cũng là một điều tốt cho chúng ta nếu phía trước chúng ta có hồ nước, nhưng mà kẻ này là người chúng ta mới gặp lần đầu, không phải bà con, không thân tín thì chúng ta không được quyền tin hoàn toàn.

[53:03]Nên chúng ta cứ đi tới với hy vọng có hồ nước nhưng phải mang giữ đủ lương thực và nước của mình." Và họ đi tới. Khi đi tới họ chỉ gặp cái đoàn người đi trước để lại xe, ngựa và xương. Nên họ lấy những cái đồ đạc của người kia họ chất lên, họ đi tiếp và họ đã vượt qua được sa mạc, thoát được cái nạn Dạ Xoa ăn thịt. Thì nói cũng vậy, sống trên đời này là nếu chúng ta được dẫn đạo bởi một cái trí óc thông minh, chúng ta sẽ thoát qua được nhiều ách nạn; còn nếu chúng ta được dẫn đạo bởi một cái trí óc ngu si, cố chấp thì tai họa, rồi khổ đau là điều chờ đợi phía trước. Cho nên vua là tôn chủ đã có cái ác kiến như vậy,

[53:46]một ác kiến hết sức sai lầm, nó chính là cái bóng tối của tâm trí, mà nếu để cái bóng tối này nó dẫn đạo trong tâm hồn thì một ngày nào đó vua chắc chắn sẽ đi vào đau khổ. Hãy từ bỏ đi, hãy thắp sáng tâm hồn mình với trí tuệ. Cái trí tuệ đó là gì? Đó là điều tin được, hiểu được rằng có luân hồi tái sinh, có nhân quả nghiệp báo, có thế giới siêu hình. Hãy tin như vậy. Nhưng ông vua ông nói bây giờ ổng không thể được: "Thưa ngài, bây giờ mà con bỏ con theo ngài thì mấy nước kia cười, nói: 'Thằng đó không lì, nó bị ông mới là một ông Sa Môn đánh bại và nó đã từ bỏ cái quan điểm mà nào giờ nó rất nổi tiếng.' Cho nên

[54:27]con không thể." Nên ngài mới ví dụ nữa, mình nghe phát ớn luôn. Nói rằng có một người họ đi đường, họ nuôi heo. Trong khi họ đi đường họ gặp thấy một đống phân khô bị quăng bỏ. Thấy vậy nó tự nghĩ: "Đống phân khô khá nhiều bị quăng bỏ đi có thể làm đồ ăn cho các con heo của ta, vậy ta hãy mang đống phân khô này đi." Cái chỗ này hơi lạ. Phân mà làm đồ ăn cho heo thì chúng ta không hiểu, chúng ta không hiểu. Nói mà tỷ như cỏ mà làm đồ ăn thức ăn cho bò thì được, nhưng mà phân khô mà làm đồ ăn cho heo thì mình thấy không có lý nhưng mình không dám bác. Vì biết đâu cách đây mấy ngàn năm bên Ấn Độ có một loại phân

[55:05]gì đó mà người Ấn Độ họ chế, nấu chung với thức ăn cho heo mà làm cho heo mau lớn mà không biết chừng, phải không? Biết đâu phân bò khô á mà nấu chung với cám với đồ đó thì heo ăn sẽ mau lớn. Mình không biết nên mình chưa dám bác, mà cũng không nên thí nghiệm điều này chi, hại bản thân mình. Thì ông ta mới lấy cái áo ông ta, ông gói phân hết, cột chặt lại và vác lên vai đi. Đi nửa đường thì trời mưa. Trời mưa thì chuyện gì xảy ra? Thì bắt đầu cái phân nó chảy tèm lem từ đầu cho tới chân. Mình ổng đi tới đâu như cục phân đang đi vậy, hôi, dơ không thể tưởng mà ổng không quyết không bỏ. Thì cái người kia mới nói:

[55:45]"Thằng ngu, nó khùng! Trời ơi, trời mưa mà nó ôm bao phân trên người nó đi, coi mình mẩy nó tèm lem tuốt luốt, hôi rình như cục phân đang biết đi." Thì cũng vậy, mình hãy nhanh chóng từ bỏ điều sai lầm, xấu ác. Vì mình cố chấp nó giống như một người mang cái đống phân mà đi vậy, trong trời mưa, thì từ thân tới tâm và danh dự của mình biến mất hết. Cho nên vua hãy nhanh chóng khước từ cái ác kiến này để xây dựng lại cuộc đời của mình. Ngài nói vững chắc không? Nói ngài quá tuyệt vời, bởi đọc cái bài kinh này tới đâu thiệt á, mình chỉ biết cúi đầu đảnh lễ. Cho nên tại sao mà mình phải đảnh lễ Chư Thánh á,

[56:21]mình thấy trí tuệ mình so với các ngài như hạt cát á. Những cái lý luận mà ngài đưa ra từng bước, từng bước á. Đó là nói cái nguy hiểm, cái bẩn thỉu, cái sai lầm, cái ngu si của việc mà chấp một cái ác kiến như vậy. Biết cái điều mới là đúng rồi mà không chịu không chịu từ bỏ cái cũ là giống như mang cái đống phân. Ngài nói mạnh như vậy mà ông thì ông cũng than: "Thôi ngài nói thì nói, chớ giờ mà con bỏ con quê với bạn bè. Nào giờ biết mình là cái thằng cứng đầu không tin gì hết mà giờ tự nhiên đâm ra tin, đi cúng đi bái đồ coi thấy kỳ. Nói con là con mà nhậu lên là con không tin ai trên cuộc đời này,

[56:55]không thần, không thánh, không trời, không Phật nào hết, chỉ có xị đế là nhất thôi. Hơn nữa là Euro là là tôn giáo là nhất thôi, vô thôi chớ không có nói gì á. Bây giờ bắt con tự nhiên phải đi chùa lạy Phật đồ con chịu không nổi, quê lắm thầy ơi, quê lắm." Có không? Người này có không? Có không? Có, mấy ông ở nhà đó. Mấy ông ở nhà là chuyên gia vậy đó, phải không? Nói: "Mấy ông thầy cũng như mình chứ gì đâu, mắc mớ gì vô chùa lạy ổng, xưng con xưng đồ. Tượng Phật, tượng xi măng gì đâu mà vô lạy." Nhậu nhẹt nhưng bữa hổm gặp ông thầy nào hóa độ, nói: "Dạ, con cũng quý thầy, giờ con đi chùa mấy thằng bạn nhậu con,

[57:31]mấy chiến hữu con nó cười chết." "Nên thôi, thôi giờ con có tin con cũng lén lén tin chứ không có không không có dám đi chùa. Thôi quý thầy thông cảm. Lâu lâu gặp mà đừng có ai thì con tới con cúng dường thầy rồi thầy đừng có nói nha, đừng nói, biết quê." Đó, cái tâm trạng con người ta vẫn không có khác. Đến chỗ này bắt đầu tôn giả mới làm thêm lý luận nữa. Lý luận là giống như có người đánh bài. Thì người này có cái mê tín thế này: hễ mà đánh thua đó thì ngậm con xí ngầu lên, ngậm ngậm nó một lát, bỏ xuống thì lần sau mình đánh sẽ ăn, lắc sẽ ăn. Thì lần lần ăn thiệt, cái mấy người kia mới tức, nói:

[58:10]"Cái thằng này nó có cái thói quen mỗi lần nó ngậm nó thua rồi á mà nó ngậm con xí ngầu trong miệng nó là nó thắng lại. Giờ mình phải chơi nó." Cái rồi bây giờ mày lấy thuốc độc trét vô cái đó, biết cái tật nó. Thì đúng vậy, ông này mỗi lần thua ngậm, ngậm vài lần chết luôn. Đó. Do nên nói về vua cũng vậy, khi mà mình có cố chấp một cái gì, tức là mình có một cái điểm hở để người khác nhìn thấy và người ta có thể lợi dụng điều đó để người ta hại mình. Ví dụ như vua không có tin nhân quả, tội phước gì hết thì người ta sẽ lợi dụng quan điểm đó người ta xúi vua làm nhiều chuyện tàn độc, và đó là điểm hở để cho dân chúng nổi loạn giết vua.

[58:49]Tại vì người ta người ta tin cái điều gì có đạo đức, có lương tri, thấy là do tin nhân quả nên người ta sống có đạo đức. Còn bây giờ ông vua không tin nhân quả rồi người ta lợi dụng điểm này người ta xúi vua làm nhiều chuyện tàn bạo thì vua đâu có sợ tội lỗi, vua làm thì đó là nguyên nhân lòng họ kích động lòng dân nổi lên chống vua là vua mất mất ngôi. Cho nên vua hãy nhanh chóng từ bỏ cái điều mà cố chấp sai lầm của mình, vì nó là một điểm hở, sơ hở trong cái cuộc sống của mình. Đó là ngài nói vững chắc như vậy, để coi ổng chịu chưa. Dạ con cũng không chịu. Quê! Ví dụ này nó hay thiệt mà quê lắm.

[59:32]Mấy bạn nhậu nó chưa tin nó cười chết. Bắt đầu ngài đưa ra một ví dụ nữa. Ngài nói ví dụ như là có một cái vương quốc, một cái thành phố đó người ta di tản hết, người ta bỏ cả thành phố đó, người ta dời về xây dựng một thành phố mới người ta gọi là đẹp hơn, thuận lợi hơn. Ví dụ như ví dụ thành phố người ta đã ở cũ nó không thuận lợi về sông nước, đường sá gì đó. Nên cái người lãnh đạo nó quyết định dời thành phố mình về một nơi gần một con sông, phì nhiêu tốt đẹp để xây dựng lại thành phố mới thì người ta bỏ lại rất nhiều đồ vì không mang theo được. Thì có hai người mới đi hôi của là đi tìm coi người ta bỏ

[1:00:08]lại những gì mà mình còn sử dụng được thì lấy về mà xài. Thì hai người đi, người thứ nhất đi thấy một đám bó gai, gai mà để bợ để làm vải á, họ vác lên. Vác lên một lát cái đi gặp thêm cái vai mà đã được dệt thành chỉ rồi, họ lấy lên. Một lát đi gặp cái cái vải đã được dệt rồi, lấy lên. Rồi bắt đầu đi tới họ gặp đồng, gặp bạc, gặp vàng họ không mang được nữa. Thì cái người bạn nói: Bạn hãy bỏ cái cũ đi lấy vàng nó sướng hơn. Nói: Công lao tiếc bạn ơi, nãy giờ mình công trình mình mang nó cả ngày hôm nay, bây giờ tự nhiên bỏ nó uổng quá, thôi kệ mang. Nhưng mà như vậy bạn không lấy vàng được thì lấy một hai cục thôi.

[1:00:49]Còn cái người thứ hai thì khôn ngoan hơn. Đầu tiên thì thấy cái bó gai này về có thể làm vải được, lấy. Lát gặp cái mà vai đã kéo thành chỉ rồi thì quăng cái cũ lấy cái chỉ liền cho nó nhiều. Đi một lát gặp vải nó từng xấp từng xấp đã dệt rồi là quăng cái chỉ lấy vải liền, nó đã dệt rồi đỡ mất công. Rồi đi một lát mà gặp bạc thì quăng vải lấy bạc liền, bạc về mua vải dễ hơn. Đi một lát gặp vàng, bỏ bạc lấy vàng liền. Lấy về lợi hơn như vậy mang được nhiều hơn. Thì nói cũng vậy. Mỗi ngày chúng ta mỗi tiến bộ, mỗi bước tới, chúng ta sẽ học được nhiều điều hay. Mà mỗi khi có một điều hay đến, chúng ta phải thay thế, từ bỏ cái điều sai lầm cũ,

[1:01:28]cái điều bất lợi cũ để chúng ta đón nhận cái lẽ phải mới, chân lý mới làm cho chúng ta được lợi ích, được thuận tiện, được tiến bộ hơn trong cuộc sống, đừng có cố chấp cái cũ. Cái lời ngài nói nó hợp lý không? Tới ngày hôm nay, quá hay không thể tưởng. Cũng giống như là mỗi ngày khoa học mỗi tiến bộ vậy. Mỗi ngày khoa học mỗi tiến bộ thì chúng ta phải nhanh chóng đón nhận cái cái phát minh mới, cái ứng dụng mới khoa học để làm cho cuộc đời mình được tiện lợi hơn, đừng cố chấp cái cũ. Ví dụ như là bây giờ có người tới đem cái máy cày tới nói: Bây giờ các bạn hãy cày ruộng bằng máy này. Nói: Không, nhiều đời tổ tiên tôi đã cày bằng trâu,

[1:02:09]tôi vì thương mến nghĩa là công lao của tổ tiên tôi từ lúc về đây mà khẩn hoang lập ấp, như vậy tôi không thể bỏ được, bạn thông cảm, tôi tiếp tục nghĩa là cày ruộng bằng trâu. Như vậy đúng hay sai? Sai, phải không? Đó! Là vì cái cố chấp cho nên chúng ta phải lấy cái hay mới và nhanh chóng từ bỏ cái cái dở cũ đi để thay đổi, cuộc đời mình mới mới tiến bộ được. Đó, là như vậy. Chỉ có cái gì thì cái cũ càng cũ càng càng quý? Cái gì? Cái gì càng cũ càng quý? Tình nghĩa, đúng. Ai mà thông minh vậy kìa? Á, đi nghe hồi sáng rồi. Tưởng đâu hay, tưởng đâu thông minh chớ.

[1:02:53]Cái tình nghĩa thì càng cũ càng quý. Nhưng mà cái kiến thức thì cái càng mới thì càng quý, nhưng cái tình nghĩa thì càng cũ càng quý. Chúng ta phải trân trọng những cái người quen xưa, những người thương cũ. Người thương không phải người yêu nha. Cho nên vậy, đối với tôi những người Phật tử mà càng cũ chừng nào thì tôi càng cưng chừng nấy. Nhưng mà còn cái kiến thức, cái chân lý, cái lẽ phải mà cái mới nó hay hơn thì mình phải nhanh chóng tiếp nhận vì đó là những cái quý giá. Nên ngài đã đưa tới cái nước này chúng ta thấy hay không? Lý luận này hay không? Quá hay đi! Cho đến ngàn năm sau nữa, chúng ta cũng không thể

[1:03:33]nào tìm được những lý luận mà hay như vậy. Cũng khó có thể ai sánh bằng ngài Kumāra Kassapa trong cái lý luận mà thuyết phục người tin nhân quả như thế này. Trên núi tôi á thì tôi có cho cái đề bài các đệ tử giảng là thuyết phục người tin nhân quả. Tôi ra đề tài để cho các đệ tử tập soạn bài mà tập giảng. Ở đây thì tôi chưa có dạy nhưng mà trên núi đang tập lần lần. Thì bài kinh này là một biểu tượng thuyết phục người tin nhân quả. Thì trong cái việc mà thuyết phục người tin nhân quả thì chúng ta phải học cái lý luận của ngài Kassapa, từng bước vững chắc. Nhưng mà có thể chúng ta dùng cái ngôn ngữ mới,

[1:04:12]cái lý luận mới nhưng mà cái sườn cái cốt vẫn là ngài, nhưng chúng ta có thể bổ sung thêm được vài cái. Và câu chuyện kế tiếp là câu chuyện kế tiếp là lúc đó là ổng bắt đầu ổng bị chiết phục rồi. Tới lúc đó là ổng không còn đường để lý luận và ổng mới thấy rằng cái việc mà mình cứ cố chấp, lì lợm giữ quan điểm mình nó là một tai hại, cho nên phải can đảm chấp nhận quê một cái nhưng để rồi cuộc đời mình thay đổi, chấp nhận rằng mình đã sai. Tới chỗ này ổng mới chịu phục thiện. Nên cái giá trị là chỗ phục thiện. Cái người phục thiện là người đáng khen, họ can đảm nhận cái sai quá khứ của mình để

[1:04:50]bước vào cái điều một cái cái điều đúng mới. Nhưng mà ông này ổng quá lì, thật ra ổng lì chi vậy? Ổng lì giùm cho nhân loại. Biết bao nhiêu con người lì không bằng ổng mà gặp ông này lì cỡ này phải chịu thua thôi. Mà lì cỡ như ổng á mà phải bắt đầu tới lúc phải chịu thua, phải thay đổi, phải phục thiện thì không có lý do gì những người khác mình chưa phải là vua, mình cũng chưa phải có trí tuệ thì không nên lì đến như ổng, không nên cố chấp như vậy mà phải nhanh chóng phục thiện hơn ông vua này. Ông vua này biết bao nhiêu lý luận rồi ổng mới chịu chịu chịu phục thiện. Thì bây giờ chúng ta trong thời đại này

[1:05:27]chúng ta phải nhanh chóng hơn ổng vì mình không phải là vua. Nói thế này: Ngay như những ví dụ đầu tiên của tôn giả thì con đã hoan hỷ, thỏa mãn nhưng con muốn nghe những câu hỏi đáp thông minh vì con xem tôn giả như là một người đáng để con đối thoại. Nghĩa là từ trước đến đây ổng là một người giỏi ghê lắm, giỏi biện luận. Những cái câu chuyện mà ổng đưa ra là chẻ tội phạm rồi cái người bạn thân ác độc kia nọ, thoa nhiệt giống bị á. Nhưng mà ổng đưa ra để lý luận thôi, đưa ra để lý luận mà ngài khuất phục được hết. Thì bây giờ: Thật kỳ diệu thay Tôn giả Kassapa! Thật hy hữu thay Tôn giả Kassapa!

[1:06:05]Như một người dở ra vật gì đã bị che kín, hay như người hướng dẫn cho kẻ bị lạc đường, hay như người đem đèn vào trong bóng tối cho người có mắt được thấy sắc, cũng vậy, Chánh pháp được Tôn giả Kassapa dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp, quy y chư Tỳ-kheo-tăng. Xin tôn giả hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ từ nay cho đến trọn đời, con xin nhận ngài làm chỗ y chỉ. Thưa tôn giả, từ lâu con sống một cách ích kỷ, sai lầm, bây giờ tin được nhân quả tội phước, con muốn tổ chức một đại tế đàn, xin tôn giả hãy dạy cho con một cái lễ tế đàn nào đúng nghĩa chân chính để con được hưởng hạnh phúc lâu dài.

[1:06:46]Cái tế đàn hồi xưa là một cái lễ mà vừa cúng cho thần linh trong thế giới siêu hình mà vừa bố thí cho người nghèo. Cái tế đàn là cả hai như vậy. Vì bây giờ ổng đã tin có thế giới thần linh rồi nên ông muốn bày tỏ tấm lòng đối với thần linh và bố thí cho người nghèo. Thì ngài mới khuyên là gieo nhân phải gieo cho đúng vì nếu cái nhân không có tốt thì cái quả không có tốt. Thì cũng vậy, trong buổi lễ tế đàn đó vua không nên sát sinh, không giết hại trâu bò để tế lễ mà phải làm cái điều đúng thì như vậy quả báo mới tốt. Thì ông vua mới tổ chức một buổi lễ. Thì trong buổi lễ tế tế đàn đó bố thí như vậy có một thanh niên

[1:07:30]tên là Uttara bị bỏ qua, giống như không được mời tới. Thì ổng mới nói thế này: Với cuộc bố thí này, tôi được gặp tôn chủ Pāyāsi trong đời này nhưng không gặp trong đời sau nữa. Cái câu nói không ai hiểu. Thì vua nghe vậy mới kêu tới hỏi: Ngươi nói vậy nghĩa là gì? Mới rằng: Vua đã bố thí cái loại vải mà vua không muốn dùng chân đụng đến, vua đã bố thí loại thức ăn bằng cháo mà vua không bao giờ muốn ngửi thấy mùi thì như vậy đâu phải là lòng thương yêu, tôn trọng con người. Cái đó đâu có phước. Cho nên còn tôi, tôi nghèo nhưng tôi sống một đời chân chính thì sau khi hai chúng ta chết, vua sẽ đi về một nơi không tốt lành đâu,

[1:08:09]còn tôi sẽ đi về nơi tốt lành bởi lòng thương yêu, tôn trọng con người của tôi. Nói cái ông vua ổng ngồi nghĩ có lý, tại ông vua bây giờ bắt đầu hết bướng rồi, hết bướng rồi. Thì ông vua mới ra lệnh tổ chức một tế đàn mới theo lời của cái thanh niên Uttara này. Thì thanh niên này đã tổ chức lễ tế đàn rất là hoàn bị, rất là trân trọng với con người, đồ tốt. Sau này hai người đều chết thì ông vua ổng sinh lên cái cõi cõi trời Tứ Thiên Vương mà ổng ở trong cái cung điện trống không. Cũng được cõi trời nhưng mà trong đó không có cung nữ múa hát, không bàn, không ghế, không thức ăn nhiều, trống không, không có gì để thọ hưởng.

[1:08:46]Còn thanh niên Uttara thì sinh được lên cõi trời Đế Thích với cái nhiều điều sung sướng. Lúc bây giờ có Tôn giả Gavampati là Ngưu Chủ, cái tôn giả này là một vị A-la-hán ổng cao siêu lắm, ổng thích ở cõi trời. Hễ có thể ban ngày ổng đi khất thực, khất thực xong ổng ăn xong cái ổng lên cõi trời ổng ngủ trưa trển. thánh mà thần thông rất là cao. Thì lần đó ông đi lang thang lên cõi trời Tứ Thiên Vương, ông gặp ông gặp ông vua Ba Dạ Si. Mới hỏi phải vua là một người mà ngày xưa có cái tà kiến mà không tin nhân quả luân hồi chăng? Nói: "Dạ thưa thưa đúng vậy, Tôn giả. Nhưng mà nhờ Tôn giả Ca Diếp con đã từ bỏ được ác kiến đó".

[1:09:24]Rồi ngài Mâu Chúa mới hỏi: "Còn cái thanh niên Úc Đa La gì đó nãy đâu?" Nói: "Dạ thanh niên nó sinh lên cõi trời Đế Thích". "Ầm xin Tôn giả hãy về với cõi người, với nhân gian để nói lên điều này về sự sai biệt phước đức của chúng con để mong rằng con người từ đây về sau là nếu mà có cúng lễ, có bố thí, hãy giúp đỡ người khác thì hãy giúp đỡ tận tình bằng cái lòng yêu thương và tôn trọng. Thì như vậy quả báo của họ được viên mãn và lâu dài". Thấy bài kinh đến như vậy, là những cái điều trong đây rất là hay ha. Chúng ta nghe được bài kinh tuyệt vời. Thì bây giờ, đó là những lý luận của người xưa mà có nhiều

[1:10:04]điểm hay mà chúng ta có thể áp dụng được bây giờ. Thì bây giờ chúng ta nói ngày hôm nay nếu chúng ta gặp gỡ những người cũng như vậy, những người mang cái quan điểm duy vật như vậy thì chúng ta phải nói chuyện như thế nào để tìm được một sự thông cảm với nhau. Thì trước hết chúng ta phải hiểu là quan điểm duy vật từ đâu mà có? Từ hai nguyên nhân mà xuất hiện quan điểm duy vật. Thứ nhất á là do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật là lần lần khoa học tiến bộ, con người ta đã giải thích gần hết những cái hiện tượng của thiên nhiên mà từ trước họ tưởng rằng là do thần linh tạo ra. Cho nên bây giờ họ giải thích được, ví dụ tại sao có mưa thì

[1:10:46]không phải ông trời ổng ấy nữa, mà là hơi lạnh làm cho hơi nước mây đọng lại với một hạt bụi làm nhân và rơi xuống. Cho nên họ giải thích được. Và tại sao có sấm sét? Thì những luồng mây tích điện nó chạm nhau, nó trao đổi như vậy và nó phóng ra tia lửa điện. Nhiều điều, nhiều điều nữa họ tạm thời giải thích được. Và họ thấy rằng không có lý do gì để phải tin vào thế giới thần linh mãi như thế, nó là một sự mê muội của con người. Nên khoa học thứ nhất là một lý do để quan điểm duy vật xuất hiện. Cái lý do thứ hai nữa là vào thời Trung cổ, từ thế kỷ thứ V tới thế kỷ thứ XV thì nhà thờ Thiên Chúa giáo rất là khắc nghiệt và lạm quyền.

[1:11:35]Lúc đó cái quyền hành nằm trong tay các giáo sĩ hết. Ông vua muốn lên ngôi hay không là do tòa thánh phong, chứ không là không được. Còn hễ mà họ muốn giết ai, họ chỉ nói người này theo tà giáo là đem lên đốt liền, thiêu liền. Họ đã từng thiêu sống Cô-péc-ních vì Cô-péc-ních nói trái đất quay quanh mặt trời. Họ đã từng khống chế, giam cầm Ga-li-lê vì Ga-li-lê nói trái đất quay quanh mặt trời, nó ngược với Kinh Thánh. Những điều trong Kinh Cựu Ước nói về một Thượng đế tạo ra vũ trụ trong 7 ngày, trong 6 ngày chứ thì lần lần khoa học chứng minh là sai, nhưng mà họ không chịu. Họ để bảo vệ cái quan điểm của họ,

[1:12:12]họ không chịu phục thiện trước cái sự tiến bộ, chứng minh của khoa học. Họ vẫn cố chấp như vua Ba Dạ Si vậy. Nghĩa là không có điều đó nói đã đúng, nên ai nói ngược lại họ họ tiêu diệt liền. Rồi cái quyền hành nhiều quá, cái tài sản là đều thuộc về nhà thờ hết. Ví dụ, khu vực nào mà có cái nhà thờ đó thì ruộng đất chung quanh dường như thuộc về ông cha hết, về nhà thờ. Và họ họ họ đối xử với con người hơi khắc nghiệt. Nên chính vì cái đó, vì nhà thờ đã đàn áp con người, bóc lột con người và đàn áp khoa học cho nên nó có một sự phản kháng xuất hiện, đó là quan điểm duy vật, là muốn đạp đổ nhà thờ hết.

[1:12:52]Để con người ta không còn phải lệ thuộc vào những ông giáo sĩ đó nữa. Vì hai lý do đó mà nghĩa là quan điểm duy vật duy vật xuất hiện. Thì đến ngày hôm nay, chúng ta thấy thế này. Nhờ khoa học mà duy vật đã xuất hiện, đến cuối thế kỷ XX này, cũng chính nhờ khoa học mà vấn đề tâm linh được được quan tâm đến, cũng nhờ khoa học. Vì sao vậy? Vì khoa học có cái tinh thần là khách quan, không áp đặt, đi tìm sự thật. Nếu chúng ta không có tinh thần khoa học á, chúng ta sẽ có một cái chủ kiến. Mình theo cái thành kiến, theo quan điểm nào rồi, mình bám chặt lấy nó, không thay đổi, giống như vua Ba Dạ Si.

[1:13:37]Nhưng mà người mà có tinh thần khoa học thì không như vậy. Luôn luôn tìm coi sự thật là cái gì, cứ bước tới. Ở đây, đầu tiên người ta đã tin thần linh, và khoa học đã chứng minh không phải thần linh. Những hiện tượng đã chứng minh được nên khoa học đã vượt bỏ cái cái thời đại của thần linh mê tín để đi vào thời đại duy vật. Nhưng mà vào thế kỷ, cuối thế kỷ XXI này, thì cũng chính khoa học đã thấy cái hạn chế của của chính mình, của vật lý, của duy vật để chuẩn bị bước vào cái thế giới của tâm linh, vào thời đại của tâm linh sắp tới, cũng chính nhờ khoa học. Là ở cuối thế kỷ XX này, rất nhiều các hiện tượng tâm linh

[1:14:19]được phát hiện, được thống kê trên khắp thế giới. Và người ta đã tìm hiểu nghiêm túc chứ không có chê. Họ không có giống như mình có cái chủ kiến, hễ nói cái: "Thôi, không tin đâu, chuyện đó không có." Họ không có chuyện đó. Hễ họ nói là họ lắng nghe, họ tìm hiểu, tới chừng nào mà chứng minh rằng được nó không có thì họ bỏ. Nhưng mà nếu không giải thích được mà nó có, họ vẫn ghi nhận là chưa giải thích được nhưng đây là hiện tượng có thật. Và chính vì đó, họ bắt đầu tin rằng có một cái thế lực siêu nhiên, có cái năng lực tâm linh của con người tồn tại khắp nơi trên thế giới. Các nước như là Nga, Mỹ nè, Pháp,

[1:14:55]Anh, Đức và nhất là Trung Hoa tập trung nghiên cứu về tâm linh rất nhiều. Họ đi đầu, còn nước chúng ta thì mới có một cơ quan do nhà nước tạo lập ra để nghiên cứu là Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Năng lượng Sinh học cũng là cơ quan nghiên cứu về tâm linh của đất nước mình. Nhưng mình không hiểu là nghiên cứu mạnh hay không mà tôi nghi là không mạnh lắm so với các nước khác. Bây giờ chúng ta nhìn lại lịch sử một chút. Ngày hôm nay, khi nhìn lại quá khứ, những người mà thức giả của đất nước, những người có trách nhiệm với đất nước, những người biết suy nghĩ về vận mệnh đất nước đều hối hận là phải chi vào thế kỷ thứ XV

[1:15:36]mà Hồ Quý Ly đừng thất bại, đừng bị quân Minh tiêu diệt thì ngày hôm nay có thể đất nước ta là cường quốc nhất nhì trên thế giới. Vì vào thời đó, Hồ Quý Ly có một sự cải cách mạnh mẽ, triệt để. Ông cho thí sinh không có đi thi văn nữa mà phải thi toán, thi kỹ thuật, phải học nghề. Thời đó ông có nhiều cái cải cách trong cái việc quản lý ruộng đất, cải cách hành chính về ngành tài chính, kinh tế, về giáo dục, những cái cải cách còn rất đặc biệt. Nhưng mà rồi là ông bị bị thua trận nên đất nước mình cứ mãi đi sau thế giới. Vì trong cái đồng thời của ông thì không có một quốc gia nào trên thế giới có cái tư tưởng cải cách bằng Hồ Quý Ly thời đó hết, không có.

[1:16:23]Đối chiếu lại không có. Mà ở đó Việt Nam mình đã có, đã có nhưng không được tồn tại. Nên bây giờ nước mình là nước nghèo, một trong những nước nghèo nhất thế giới. Chính vì 5 thế kỷ trước, chúng Hồ Quý Ly đã không thành công. Mà vì sao Hồ Quý Ly không thành công? Vì lòng dân không ủng hộ. Lòng dân đã cố chấp triều đại, cố chấp thương nhà ghét nhà Hồ. Nên khi quân Minh xuống kéo quân qua nó đánh, nó lấy cớ là phù Trần diệt Hồ thì quân Hồ Quý Ly đóng ở đâu, dân chỉ cho nhà Minh biết hết á. Nói: "Đang giấu quân trong hẻm đó đó." Vậy là bí mật quân sự bị tiết lộ là nhanh chóng bị tiêu diệt hết luôn.

[1:17:01]Đó là lý do chính người dân mình đã làm điều sai lầm. Nếu mình không muốn nói là dân mình thời đó đã bán nước, nếu mình không muốn nói. Nhưng chúng ta đừng có tưởng quần chúng luôn luôn đúng đâu. Họ đã có những cái cố chấp và đã sai lầm làm cho đất nước ta bị nô lệ trong thời đó mấy mươi năm, phải đợi tới Lê Lợi, Nguyễn Trãi mới giành lại được cái danh dự cho Tổ quốc. Thì chúng ta đã hối hận vì chúng ta đã lạc hậu suốt 5 thế kỷ vì Hồ Quý Ly đã không thành công. Chúng ta đã không áp dụng được cái khoa học, toán học, lý học trong cái sự giáo dục. Thì bây giờ cũng vậy, nếu không khéo, 5 thế kỷ tới chúng ta hối hận một lần nữa.

[1:17:42]Vì sao vậy? Là vì chúng ta đã không tập trung vào vấn đề tâm linh cho đúng mức. Trên thế giới họ đang tập trung nghiên cứu về tâm linh mà nhất là Trung Hoa. Người Trung Hoa họ có nhiều nhà khí công thành công, họ có cái năng lực tâm linh rất mạnh và cái ước mơ của họ là sau này họ sẽ thôn tính thế giới bằng vũ khí tâm linh. Một mặt họ cứ nghiên cứu các vũ khí khác, hạt nhân gì đó, tàu ngầm, máy bay gì nghiên cứu hết, nhưng bí mật họ nghiên cứu vũ khí tâm linh. Ngày nào đó họ sẽ khống chế tâm hồn của nhân loại, họ cai trị nhân loại bằng tâm linh. Ngày nào đó, họ đang làm điều đó rất ráo riết. Mà nếu từ bây giờ Việt Nam mình không có tập trung về đó,

[1:18:23]ví dụ như quý thầy mình tu mà không nỗ lực thiền định mà chỉ lo học mãi, lo làm những việc bên ngoài mãi thì mình sau này mình không đóng góp gì được cho cái nền tâm linh của đất nước mình thì đất nước chúng ta năm thế kỷ sau sẽ trở lại là một đất nước lạc hậu nghèo khổ so với thế giới, thậm chí có thể trở thành một đất nước bị nô lệ trở lại. Chúng ta sẽ hối hận trong năm thế kỷ tới. Cho nên ngày hôm nay vậy, chúng ta mong rằng nhà nước phải nhanh chóng đầu tư tập trung vào lĩnh vực tâm linh. Là nếu ngày xưa chúng ta xem quan điểm duy vật là một sự tiến bộ so với những thế kỷ mê muội mê tín thần linh thế trước thì ngày hôm nay

[1:19:01]chúng ta phải xem cái việc nghiên cứu tâm linh là một tiến bộ mới. Giống như một người mà mang cái bó vải, hễ mà gặp được bạc thì bỏ vải liền, mà gặp được vàng thì phải bỏ bạc liền. Thì như vậy đất nước chúng ta mới tiến bộ. Chúng ta mong rằng nhà nước sẽ sẽ để ý đến vấn đề này. Chúng ta đã thấy được những lý lẽ rất là độc đáo của ngài Kassapa, nên ngày hôm nay chúng ta phải có những lý lẽ mới để thuyết phục con người tin nhân quả luân hồi, tin vào thế giới tâm linh. Ngày hôm nay chúng ta phải có lý luận mới. Nghĩa là chúng ta phải biết ngày hôm nay con người, khoa học đã tiến tới đâu, các nước trên thế giới sống trong nền văn hóa

[1:19:40]gì, họ đã suy nghĩ gì về cuộc đời, về con người, về sự hưởng thụ, về sự chiến đấu. Họ nghĩ như thế nào? Chúng ta phải biết để mà chúng ta có cái lý luận mới cho thích hợp chứ không thể, mặc dù học của ngài Kassapa nhưng không thể áp dụng y nguyên như vậy được. Chúng ta phải mở mang cái tầm mắt mình ra. Bằng cách là quý thầy bên cạnh cái việc mà học nội điển, quý thầy phải đọc thêm tạp chí để biết thêm thế giới đang suy nghĩ như thế nào, họ sống như thế nào. Tôi một thời gian cũng vậy đó. Có một thời gian giống như tôi bị ai thúc, cứ phải đọc tạp chí. Khoảng 10 năm trước á là mấy tạp chí Thế Giới Mới,

[1:20:15]Kiến Thức Ngày Nay, Khoa Học Phổ Thông rồi đem về đọc hết, đọc tan nát hết. Đọc rồi giống như mình tỉnh mộng, mới hiểu là thế giới họ sống như vậy, họ suy nghĩ như vậy, bây giờ đạo Phật mình áp dụng được vào chỗ nào. Chính cái mà suy nghĩ như thế mà về sau tôi đã mở ra một lối giảng giải mới là vậy, không đi theo lối mòn cũ. Mà quý thầy có chấp nhận không lối giảng của tôi? Có không? Không hả? Chê hả? Chê sao không ai gật đầu hết trơn vậy trời? Quý Phật tử chịu không? Phật tử bộ ngon hơn quý thầy. Thì đây là một điều chúng ta để ý này. Quý thầy phải mở mang kiến thức mình ra, biết được thế giới suy nghĩ như vậy và phải hiểu họ suy

[1:20:57]nghĩ như vậy, mình phải nói điều gì để họ biết thêm Phật pháp. Thấy họ họ yêu cuồng sống vội, họ thích nhạc rap, nhạc giật, nhạc nẩy gì đó không biết. Với những con người như vậy mình làm sao nói cái gì để họ bắt đầu họ tin được nhân quả luân hồi, họ sống cho nó thanh thản, biết lắng tâm trong thiền định. Mình nói bằng cách nào? Đó là cái suy nghĩ như vậy. Và mình phải hiểu tâm tình, phải hiểu hoàn cảnh của họ, đó là gọi là những lý luận mới đó. Và một điều nãy chúng ta cũng nhắc với nhau nữa là trong đạo Phật cũng như trong xã hội có nhiều người lỡ chấp nhận một cái quan điểm, một cái tông phái

[1:21:35]lâu rồi mình sẽ khó từ bỏ chỉ vì mình tự ái và cố chấp. Thì ở đây họ cần cái sự dịu dàng và lý luận vững chắc mới giúp họ phục thiện được. Những con người đó họ bướng thì mình đừng bướng lại, mình dịu dàng nhưng mình có lý luận vững chắc. Giống như mình nói gặp cái ông nhậu vậy đó. Ổng là ổng nhậu rồi ổng tuyên bố là không nể ai trên đời này, không thần không thánh gì hết á, chỉ rượu là nhất trên đời. Những người như vậy mình mà ngang mình cãi cái là quánh lộn. Cho nên thôi, nói dịu ngọt lại, từ từ biết lắng nghe, vuốt ve tự ái rồi bắt đầu mình nói từ từ từ từ họ sẽ tin. Nên đây là cái lòng thương yêu của mình.

[1:22:14]Quý thầy cũng vậy mà quý Phật tử cũng vậy. Đó, một cách khi mình gặp những người bướng á, đừng có gân cổ cãi, đối xử tốt với họ, dịu dàng với họ rồi để từ từ làm cho họ tin được nhân quả để cuộc đời họ đỡ đi vào đau khổ. Giống như là để cho họ cái đoàn lữ hành đó đừng có bị dạ xoa ăn thịt vậy. Rồi trong cái cuộc nói chuyện giữa vua Pāyāsi với với ngài tôn giả Kassapa cũng cho chúng ta một hình ảnh đẹp, một bài học tốt trong thời đại ngày hôm nay. Là sao? Là tăng ni Phật tử chúng ta vậy, phải có cái mối quan hệ tốt với cái viên chức nhà nước. Họ là những người lãnh đạo đất nước này. Thì có thể họ là những người đã tin đạo, có thể họ là những người cũng

[1:22:59]chưa tin đạo nhưng mà chúng ta vậy luôn luôn giữ mối quan hệ tốt. Ví dụ như mình ở gần cái ông cán bộ xã thì mình phải tới thăm nom, nói chuyện. Mình gần cán bộ huyện thì cũng tới thăm, nói chuyện vui vẻ, thân tình. Đó là làm chi vậy? Đó là thứ nhất là cái tình đoàn kết dân tộc, thứ hai là mình cũng sẽ lắng nghe được những cái quan điểm của chính trị, của nhà nước. Coi nhà nước đã điều hành đất nước này với quan điểm nào, họ muốn đất nước giàu mạnh, muốn an ninh trật tự tốt như thế nào, mình lắng nghe được. Và trong cái thân tình đó, mình cũng trao đổi thêm về vấn đề tâm linh. Và tôi tin rằng họ cũng có thiện chí sẽ lắng nghe chúng ta.

[1:23:42]Mà hễ thấy dân thương mình, mình thương dân à. Là ông quan ổng thương mình, mình thương ổng à, đó là cái thiện chí. Mà mình là người đạo Phật thì mình phải đi trước một bước, phải bày tỏ thiện chí trước một bước. Luôn luôn vậy chúng ta giữ mối quan hệ tốt đối với viên chức nhà nước. Trong đó chúng ta cũng học được nơi họ những điều mà mình chưa biết và chúng ta cũng sẽ đóng góp với họ những điều mà họ chưa biết. Và như vậy khi cả hai cùng hiểu biết, cùng thông cảm với nhau thì cái điều tốt đẹp là thuộc về toàn dân, toàn đất nước chúng ta. Đất nước chúng ta sẽ được an lạc, sẽ được hạnh phúc khi mà chúng ta có

[1:24:20]những người lãnh đạo hiểu được dân, tin được nhân quả luân hồi, có cái quan tâm đến cái vấn đề tâm linh như là thế giới đang quan tâm. Thì với những nhà viên chức tốt như vậy, đất nước chúng ta sẽ sẽ tiến bộ, cái tình cảm dân tộc sẽ thắt chặt hơn. Ở đây như vậy, mặc dù là cũng có một số viên chức cũng tin vào quan điểm duy vật giống như vua Pāyāsi, cũng có chứ không phải không. Nhưng mà chúng ta sẽ nói chuyện với họ rằng cũng chính nhờ khoa học mà người ta đã bước vào lĩnh vực tâm linh rồi. Bước vào rồi. Và quan điểm duy vật là một cái điều cần thiết của thế kỷ thứ 16, 17, 18 nhưng sang tới thế kỷ 21 thì

[1:25:06]quan điểm duy vật cần được bổ sung, cần được bổ sung. Và vấn đề tâm linh nó trở thành vấn đề của khoa học. Nên chúng ta có thể trao đổi một cách chân tình, thẳng thắn. Cũng giống như chúng ta nói rằng trong cuộc đời này vậy, trong vũ trụ này có một sự công bình. Có một sự công bình nghĩa là cái người tốt thì sẽ được điều tốt đẹp, người xấu sẽ phải đón nhận cái điều xấu, đó là sự công bình của vũ trụ. Cho nên như tại sao các ngài điều hành đất nước theo luật pháp? Vì nơi luật pháp này các ngài cũng vậy, cũng phải trừng phạt cái kẻ xấu, phải không? Và các ngài cũng khen thưởng những người tốt. Thì cái đó là lương tâm của mỗi con người chúng

[1:25:48]ta, ai cũng phải thấy điều đó là đúng. Và lương tâm đó nó cũng xuất phát từ cái công bình của toàn thể vũ trụ này. Ở trong vũ trụ này có một cái quy luật của sự công bình là một người sống tốt đẹp, đem lại hạnh phúc cho người khác thì người này chắc chắn sẽ nhận lại được vô cùng hạnh phúc. Thì người mà đem đau khổ cho người khác thì cũng phải chịu đựng lại muôn vàn khổ đau. Cuộc sống nó là như vậy. Nhờ sự hiểu biết, trao đổi, nói chuyện tiếp xúc thẳng thắn như vậy thì chúng ta sẽ thấy cái tình tự dân tộc mình tốt hơn. Mà chúng ta học được cái điều đó từ nơi bài kinh này, từ nơi cái hình ảnh của một vị quân vương, vương giả ngồi đối thoại, đàm đạo với một bậc đại A-la-hán.

[1:26:37]Đó cái hình ảnh hình ảnh đó rất là đẹp, cho chúng ta một tấm gương. Còn vài phút có ai hỏi gì không? Cái đạo hữu hôm trước ổng trốn đâu ta? Hi vọng hôm nay ổng bị kẹt xe. Ủa, không kẹt xe? Đạo hữu hỏi gì không? Có hả?

[1:26:59]Dạ, bạch thầy. Chúng ta thì con vô đây nếu mà hỏi hoài thì nó cũng phiền lắm. Nhưng mà học thì phải hỏi, hỏi cho nó thông rồi mới hành mới được. Nhưng mà tại vì con mới đang tìm hiểu mới vài tháng nay, thành ra cái sự không biết nó rất là nhiều, thành ra phải hỏi. Thành thử ra có những mà Phật tử hay huynh đệ đi trước đó thông cảm cho tôi. Dạ, cũng có nói rằng tôi vô đây hỏi nhiều quá rồi gây phiền phức, thành ra nhiều khi tôi cũng không muốn hỏi nữa. Chẳng qua thì tại tôi mới nên tôi mới hỏi vậy, không biết mà, mới hỏi. Chứ còn nếu mà như Phật tử huynh đệ đi trước á thì hiểu biết rất là nhiều thì đâu cần gì phải hỏi.

[1:27:41]Dạ, xin thầy cho con hỏi câu là "con quan thì được làm quan, con sãi ở chùa quét lá đa". Thì con quan thì được làm quan thì con hiểu là cái câu này coi như gần đúng. Dạ con không hiểu là "con sãi ở chùa quét lá đa", vậy cái con sãi là sao? À, có những cái giai đoạn trong đất nước chúng ta đó, đất nước chúng ta là có những vị sãi được phép lấy vợ nên có con, là con của ông sãi, con của ông sãi. Hồi lúc mà mà mà tôi mới đi tu cũng vậy, đi vào chùa có cái ông ở miền Bắc, ổng nhìn thấy tôi mà ổng không biết kêu là gì, cái ổng đặt tên ông sãi Tư. Sãi thì cũng kêu sãi, nhưng mà không có con. Thì cái có giai đoạn mà tại sao sãi

[1:28:24]là người xuất gia mà tại sao lại có vợ có con? Giống như là cái hoàn cảnh đất nước trong thời đó vậy. Có một thời gian là đạo Phật mình cũng không phát triển lắm. Thì xa xa có một ngôi chùa ở trong làng mà ông thầy đó ổng giỏi lắm, ổng lo hết mọi việc trong làng, xóm, có chuyện tụng cúng gì là nhờ ổng, rồi đến khi có chuyện bói toán gì rồi cũng nhờ ổng. Nên ổng là một chỗ dựa tinh thần của dân, người ta thương ổng lắm. Nhưng mà ổng tu một thời gian ổng buồn quá. Ổng buồn và ổng có ổng nói cho dân cho người dân làng biết là bây giờ cái đời sống mà cô đơn, độc thân ổng nó dường như nó không còn thích hợp nữa.

[1:28:57]Ổng nói xa nói gần. Ổng nói xa nói gần cái người dân mới nói: "Bây giờ thầy mà bỏ đi rồi biết tui tui có đụng chuyện hữu sự rồi nhà đám ma, đám này kia nọ rồi ai cúng cho tui?" Chứ mà ổng nói: "Buồn quá à." Cái mấy làng mới họp nhau lại nói: "Thôi bây giờ hỏi ý ổng ưng ai, nói thiệt đi." Cái ổng nói thì ổng không biết nhưng mà sao thấy cô bên kia cổ đi qua lại thấy dễ thương quá. Nói: "Rồi, để tui đi hỏi cho ông, ông cứ tu giùm tui." Nên bắt đầu nó xuất hiện một cái thời gian là vì cái nhu cầu quần chúng để giữ ông thầy, ông thầy ổng ra điều kiện. Hễ muốn ổng ở chùa, ổng coi chùa phải cho ổng lấy vợ.

[1:29:28]Mà mấy trăm năm đi qua luôn như vậy, rồi nó thành một cái tông phái luôn, xem điều hiển nhiên luôn. Nên ở đây nó có tính cách là người dân nói là dòng họ đó có cái phước thì nó sẽ nối cái phước nó tồn tại một thời gian nào đó. Ví dụ đời cha có phước làm quan thì thường cái phước nó tồn tại qua tới người con. Nếu ông cha đó giữ được cái đạo đức, không có làm điều tổn đức thì thường người con sẽ phát làm quan tiếp. Nghĩa là cha thế nào, con dễ là như thế đó. Đó là nói về phước. Còn nói về cái xã hội thì ông cha ổng sẽ đào tạo con mình theo cái bản lĩnh, theo cái học hành đó để nó có cái bản lĩnh giống ổng và cũng dễ thi làm quan.

[1:30:04]Đó mình nói theo cái cái phương diện xã hội. Còn thì ông ông thầy chùa cũng vậy, con thầy chùa thì chắc ở chùa giữ chùa tu luôn thôi. Rồi lại tiếp tục cũng than thở rồi kiếm bà nữa. Thời đó vậy thôi. Nó là hai quan điểm: một là quan điểm về nhân quả, hai là quan điểm về xã hội học. Thì thường là con hay nối nghiệp của cha mẹ, chỉ vậy thôi.