Transcript: Kinh Pháp Hoa 26 - Phẩm Đà La Ni

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:37:48

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta nghe cái phẩm Đà-la-ni thứ 26. Bấy giờ ngài Dược Vương Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: Thế Tôn nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào có thể thọ trì được kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc tụng, thông lẹ, biên chép quyển kinh được bao nhiêu phước đức? Đức Phật bảo rằng được công đức rất nhiều. Rồi ngài Dược Vương mới nói lên bài thần chú. Bài thần chú này thì không có dịch, chỉ phiên âm từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Trung Hoa, rồi từ Trung Hoa phiên âm lại sang Việt Nam cho nên mình đọc không có hiểu gì hết.

[1:02]Thế Tôn, thần chú Đà-la-ni này là của sáu mươi hai ức Hằng hà sa các Đức Phật nói. Nếu có người nào xâm hủy vị pháp sư này, tức là đã xâm hủy các Đức Phật rồi. Đức Phật mới khen ngợi. Thì trong cái phẩm này có năm người nói lên năm cái thần chú, đại khái như là bảo vệ những người tu hành theo kinh Pháp Hoa. Hôm nay chúng ta nghe phẩm này để chúng ta hiểu thêm cái tính chất của Mật Tông Phật giáo. Nào giờ quý Phật tử có nghe nói đến Mật Tông không? Có chứ hén. Thường đạo Phật mình bên Đại Thừa thì tồn tại nhiều cái tông lắm, nhưng mà có hiện nay thì thịnh hành nhất là ba cái tông chính. Một là Tịnh Độ Tông là ở các chùa mình đó là

[1:57]chủ trương niệm Phật Di Đà cầu vãng sinh. Hai là Thiền Tông là chủ trương là tu thiền, ngộ được tâm, kiến được tánh để mà vào định được giải thoát giác ngộ. Và ba là Mật Tông là tu luyện các cái bí quyết, những cái thần chú, ấn quyết, vân vân để đạt được cái sự mầu nhiệm. Tuy nhiên Mật Tông không đơn giản, Mật Tông của Tây Tạng thì không đơn giản, phức tạp lắm. Hôm nay chúng ta nghe về Mật Tông một chút để biết. Từ đây quý Phật tử ví dụ thấy người nào tu Mật Tông, mình có thể đánh giá được họ họ đúng sai tổng quát ra sao. Thường á trên thế giới thì nổi tiếng cái xứ sở mà tu Mật Tông có tiếng nhất là vẫn là Tây Tạng.

[2:53]Hiện nay thì do có sự biến động về chính trị nên một số nhà sư Tây Tạng đã lưu vong, sống ở nước ngoài và truyền bá Phật giáo Mật Tông đi khắp nơi trên thế giới. Người Tây Tạng thì nổi tiếng những hiện tượng tái sinh. Có một vị mà mất thì người đệ tử đi tìm cái chỗ tái sinh đến thỉnh cái ông thầy mình mới đầu thai lại còn nhỏ trở về trụ trì tiếp. Các đời của các vị Đạt-lại Lạt-ma, Ban-thiền Lạt-ma và các vị lạt ma khác cũng đều có cái truyền thống như vậy. Nhưng mà chúng ta thấy trong kinh Pháp Hoa thì cái phẩm ngắn nhất là dường như là phẩm Đà-la-ni này, chỉ nói năm bài chú rồi hết. Nên cái ý nghĩa của Mật Tông chúng ta phải khéo, không khéo thì sẽ đi xa.

[3:46]Một lát nữa đây chúng ta sẽ phân tích lại kỹ. Giờ chúng ta nói tổng quát cái ý này. Là khi một người tu được các vị Bồ Tát phát tâm hộ trì

[4:00]thì điều này nói lên cái ý nghĩa là khi chúng ta tu là chúng ta không biết gì về thế giới siêu hình. Như quý Phật tử ngồi ở đây tu mình không biết được chung quanh mình có những ai, chư thiên như thế nào. Nhưng kỳ thực nó đều có cái sự cảm ứng, cảm ứng mà mắt thường không thấy được. Mà riêng người mà tu hành chân chính thì luôn luôn được hiền thánh ủng hộ. Đó là một cái nguyên tắc căn bản. Mắt thường chúng ta thì không thấy được. Chúng ta sống ở đây

[4:39]cái tương quan giữa cái con người với con người thì nó hời hợt và cạn cợt. Nhiều khi mình làm việc tốt cái người hàng xóm mình không biết, có khi nghĩ sai mình. Nhưng mà trong cái thế giới vô hình thì không có cái sự lầm lẫn đó. Hôm trước tôi nói với Phật tử về thế giới vô hình, hôm nay nói lại sơ sơ một chút. Là chúng ta chưa nói đến những cái thế giới vô hình cao siêu như ở các cõi trời, mình chỉ nói các vong linh vất vưởng chung quanh mình. Những cái người này thì họ không có oai lực, họ thiếu phước, khi họ bị mất mà cái duyên đầu thai chưa tới, họ sống trong cái thế giới thế giới tâm linh, thế giới siêu hình đó họ vất va vất

[5:20]vưởng bám vào với cái thế giới con người của mình. Thế giới loài người thế này lẫn lộn. Nhiều khi mình đang ngồi đây, nhưng mà không phải là chỉ có những người ngồi đây đâu. Ví dụ đang chúng ta đang dự nghe pháp, là không phải chỉ có những người ngồi đây nghe đâu, mà có khi là chung quanh mình còn rất đông, rất đông những người ở thế giới vô hình ở các nơi họ tụ về họ cũng nghe. Và họ nghe như vậy, họ nghe bằng cái ý, bằng cái tâm, bằng cái lời nói là một chuyện mà họ cảm nhận được cái tâm của người giảng. Ví dụ cái người giảng là còn sân hay không sân, còn tham không tham, có tội hay không có tội,

[5:58]họ hoàn toàn họ đón nhận từ cái đó, chứ nó không có bằng ngôn từ. Mà trong cuộc sống của chúng ta cũng vậy, như quý Phật tử mà tu á, phát tâm tu hành chân chính cái tự nhiên những cái vong linh chung quanh mình họ cảm mến, họ đến gần gũi và họ ủng hộ. Những cái sự giúp đỡ của họ mình không biết được, nó vô hình và nó mầu nhiệm. Mình không thấy được, mình tưởng đó là những cái may mắn do mình đạt được. Tự nhiên mình mơ ước điều gì rồi có, ví dụ có người nói muốn có cái máy cassette tốt để nghe băng giảng, tự nhiên thời gian lại có được, vân vân. Đi một chuyến có những cái như ý mình, mình cứ tưởng là do may mắn,

[6:38]không, cái thế lực của thế giới vô hình chi phối mình. Nhưng đến lúc nào đó mình có cái tự kiêu, mình nghĩ mình tu tốt rồi cái do cái tự kiêu đó nó đưa đến một cái quả báo là mình bắt đầu lầm lỗi. Chúng ta nên nhớ, cái nhân mà tự cao nó đưa đến cái sự lầm lỗi ghê gớm. Cái chữ lầm lỗi là ô nhiễm. Cái nhân nó có cái nhân ban đầu đó là kiêu mạn. Mình cảm thấy mình hơn người thì cái ô nhiễm sẽ kéo tới liền. Cái người mà kiêu mạn thì sẽ xuất hiện năm cái lầm lỗi kế theo. Mà đây là tương quan nhân quả tự nhiên của tâm, đây là quy luật nhân quả của tâm. Quý Phật tử nhớ, cái kiêu mạn nó sẽ đưa tới năm cái lỗi lầm.

[7:23]Một là tham ái, hai là tham dục, ba là sân hận, tư bốn là tham lam vật chất và thứ năm là chú trọng hình thức. Khi mà mình bị kiêu mạn thì năm cái này nó tới liền. Và năm cái này nó tới rồi đó thì mình tưởng không ai biết. Nhưng sự thực là những người trong thế giới vô hình mà họ thường đến gần gũi mình như để cùng tu bắt đầu họ xa lánh, họ xa lánh. Và từ đó về sau mình gặp những chuyện không may, những chuyện không may. Thật ra trên đời này thì không ai mà tránh được lỗi lầm, không ai tránh được lỗi lầm. Đó là cái chuyện đương nhiên, nhưng mà nếu mình còn thực tu, không giả dối, mình có cái hướng thượng

[8:10]thì mình sẽ được che chở để những cái lỗi lầm của mình từ từ được khắc phục và nó kín đáo. Một đoạn sau, hồi nãy tụng phẩm gì? Đà-la-ni phải không? Một đoạn sau mình sẽ nghe cái đoạn mà nói rằng là cái người mà để ủng hộ cái vị pháp sư đó, người nào mà muốn tìm cái chỗ dở của pháp sư thì không có được thuận tiện. Có nghĩa là trong cái thế giới vô hình họ ủng hộ người tu hành, cái người tu hành đó còn nhược điểm nhưng mà họ sẽ che chở để cho cái nhược điểm của mình nó không bộc lộ quá đáng mà mình yên ổn được tu. Còn mà đến khi mà cái nhược điểm mà mình mà bị bộc lộ quá đáng, mọi người nhìn vô thấy hết thì phải hiểu rằng

[8:57]cái thế lực mà họ che chở mình nào giờ họ đã bỏ đi. Bởi vì mình không còn tu hành, mình cái tâm mình đã đã bắt đầu quá xấu, hành vi mình tồi tệ nên nó do nơi chính mình. Và cái tương tác này là giữa thế giới hữu hình và vô hình mà mình không thấy. Mình thì chỉ tưởng đến nhân quả thôi. Sự thật á, nó từ nhân đến quả, nhưng mà từ nhân đến quả nó qua nhiều trung gian lắm. Ví dụ như là đời trước chúng ta gieo cái nhân bố thí thì đời này phải được giàu sang, nhưng mà từ cái nhân bố thí cho đến lúc cái quả giàu sang xuất hiện á, nó qua nhiều cái duyên, mà trong đó có cái duyên là làm cho mình xuất hiện tài năng, xuất hiện tài năng.

[9:39]Chờ qua đời sau mình sinh làm một người giỏi, nhận định được tình hình để làm ăn và làm ăn thành công. Thì lúc đó đó, mình không biết rằng nó là nhân quả chi phối do cái nhân đời trước mình bố thí, mà mình cứ tưởng là do tài của mình. Mình nghĩ: "À, tôi nhận định, phán đoán, tôi khéo léo đối xử với người này, người kia, tôi gan dạ đầu tư chỗ này, chỗ kia nên tôi thành công." Mình chỉ nghĩ vậy thôi, nhưng mà những cái đó đều là những cái duyên trung gian, chứ nó không phải là cái gốc. Có một lần đó, tôi ghé thăm gia đình của một người Phật tử cũ, thì sẵn gặp có hai vợ chồng nào đến đó chơi. Thì người đó họ mới nhờ tôi nhận xét giùm hai vợ chồng này á,

[10:22]nói họ đang gặp cái chuyện gì có vẻ rắc rối đó, không có nói. Thì tôi nhìn cái ông chồng, tôi mới nói rằng: "Anh bị anh ỷ tài. Những cái thành công của anh nào giờ làm cho anh tưởng rằng do cái tài của anh mà thành. Do anh ỷ tài, nên bây giờ bắt đầu những thất bại nó đến với anh, anh không gượng nổi. Dù rằng trước kia anh có siêng năng việc làng, việc nước, ví dụ trong làng, trong xóm mà có chuyện gì anh xông xáo, siêng năng, anh giúp bà con nên được cái phước. Mà khi cái phước tới anh có tài, cái có tài cái anh ỷ tài, anh cho rằng tài anh không cẩn thận, anh không cần làm phước, bây giờ bắt đầu cái thất bại nó tới.

[10:58]Anh sửa cái tâm này lại thì sẽ tốt lại." Thì ổng công nhận là đúng, những người nhà công nhận là đúng là vì ổng rất là ỷ tài. Thì thế giới vô hình này cũng vậy. Cái nhân quả nó tới cũng vậy. Từ lúc chúng ta tu hành, phát tâm tu hành, cái quả là tự nhiên chúng ta gặp được nhiều chuyện may mắn hơn. Nhưng mà chúng ta không biết nó qua những cái duyên trung gian. Cái duyên trung gian lại là cái sự gia hộ của thế giới vô hình. Mà ở đây nếu mà chúng ta biết được cái duyên trung gian này mà chúng ta chú trọng vào nó, thì mình trở thành mê tín nữa. Ở đây là những người mà thầy pháp á là họ chú trọng vào cái duyên này,

[11:41]là họ khai thác cái thế giới âm, thế giới siêu hình để có âm binh, có cô hồn ủng hộ vân vân, thì nó đi vào là hẳn vào đường tà. Còn mình là người tu Phật chân chính thì mình biết nhân, biết quả, nhưng mà trong Kinh Pháp Hoa cho mình biết cái duyên trung gian, đừng tưởng rằng chỉ có cái sự tu hành cô độc của mình trong cuộc đời này, mà còn chung quanh mình còn rất nhiều người nhìn, ngó, phê bình, nhận xét, ủng hộ mình. Ăn thua cái tâm mình có chân chính, bền bỉ hay không. Nên cái công đức tu hành thì được hiền thánh ủng hộ và cả những thế lực siêu hình mà hung dữ nữa, như những loài ác quỷ, những loài dạ xoa.

[12:25]Tuy họ là cái nghiệp dạ xoa hung dữ, nhưng mà họ cũng biết phải quấy, đôi khi họ ủng hộ người tốt. Và đây, thực ra chúng ta phải hiểu cái hình ảnh của những người dạ xoa trong này mà đọc cái chú ủng hộ người Pháp sư, chúng ta nghe nói là

[12:44]khi mà những cái la sát mà đọc: "Nếu chẳng thuận chú ta, não loạn người nói pháp, đầu vỡ làm bảy phần." Ủng hộ người tu hành mà hung dữ ghê lắm, bằng cái biện pháp mạnh, cứng rắn, hung dữ kiểu xã hội đen á. Mấy ông Bồ Tát thì ổng nói hiền lành lắm, gọi là bảo vệ cho người kia tu được yên ổn, tìm chỗ dở thì cũng không được. Nhưng mà đụng tới la sát đụng tới là đầu bể làm bảy phần, xã hội đen liền, không có nói gì hết trơn á. Mà tại sao vậy? Thực ra, ở đây nó cho chúng ta một cái nhìn mới. Nào giờ chúng ta nghĩ đạo Phật là đạo từ bi, hiền lành, nhưng sự thật, hoàn toàn từ bi, hiền lành sẽ làm không được việc.

[13:29]Đó là một sự thật. Trong cuộc đời này có những lúc cần đến sự cứng rắn, sự cương quyết, sự quyết đoán và nhiều khi có bạo lực một chút nữa. Dĩ nhiên cái bạo lực nó là cái ngọn, và đôi khi nó vẫn là cần thiết. Cho nên có những chùa đó họ thờ hình tượng Bồ Tát Quan Âm qua hình ảnh ông nào? Ai nhớ không? Ông nào? Ông Tiêu, Tiêu Diện, có sừng, có nanh rồi cầm dao, cầm búa rồi lưỡi lè đỏ ra đó. Đó là nói đây là điều rất là hay trong Phật giáo, nhất là Phật giáo Đại Thừa. Nói Bồ Tát Quan Âm là hình ảnh người mẹ hiền, lúc nào cũng từ bi, hiền lành mà lại có hình Bồ Tát Quan Âm hình Tiêu Diện Đại Sĩ hung dữ để mà trấn áp các bọn ác.

[14:18]Đây là cái khía cạnh rất hay. Điều này cho chúng ta một một cái sự nhắc nhở, mà phẩm Đà-la-ni này á, tại vì năm bài chú thì bốn bài chú là hiền lành, có một bài chú của la sát dữ. Thì như vậy cái công việc mà chúng ta xây dựng Phật pháp, bảo vệ Phật pháp, tuy nó cái hiền lành, đạo đức là chính, nhưng cái sự cứng rắn cũng là một cái điều cần thiết. Nghĩa là năm bài chú của năm vị này đều là những việc làm bảo vệ Phật pháp, bảo vệ người tu hành. Tuy nhiên, đây là một sự nhắc nhở: chúng ta đừng nghĩ là chỉ có sự hiền lành, chỉ có sự hiền lành là đạo đức, mà có những lúc cái sự cứng rắn là cần thiết.

[15:02]Các vị Bồ Tát á mà đến Bát địa Bồ Tát mới bắt đầu dám làm nghịch hạnh, là lúc đó các vị không còn chỉ đơn thuần là đưa ra hình ảnh từ bi, hiền lành nữa, mà có những lúc uy- vì đó làm rất cứng rắn. À quý Phật tử nhớ hình ảnh vua A Dục không? Vua A Dục á, có nghe nói chưa? Ông là một người đầu tiên á, ổng giành cái ngôi vua bằng cách nào? Bằng bạo lực, bằng lưỡi gươm, giết hết những anh em của mình để mà giành ngôi vua. Ông vua cha có mấy chục anh em, người con. Lúc đó ổng thuộc loại xấu xí mà bị ghét, đày ổng ra ngoài biên cương giữ biên giới. Ổng nghe tin vua cha chết thì ổng ở ngoài biên giới ổng luyện quân đội thật

[15:45]mạnh rồi, kéo quân về giết sạch các anh em mình hết lên chiếm ngôi luôn. Chiếm ngôi xong chưa xong, rồi đem quân đánh hết nước này tới nước kia, hết nước này tới nước kia, mở rộng cái đế quốc của ổng là trùm hết gần hết cái bán đảo Ấn Độ thời đó. Rồi sau đó ổng gặp nhà sư Phật giáo thu phục, dường như vị A-la-hán thu phục, từ đó ổng đổi tâm ổng theo đạo Phật. Và những người dân, do cái ảnh hưởng uy quyền của vua A Dục, thì lúc đó xướng độ cũng cũng theo vua và tôn trọng đạo Phật, thờ kính đạo Phật. Dù lúc đó là vua cho các đạo bình đẳng, nhưng mà người ta vẫn chuộng đạo Phật nhất vì đó là đạo mà vua theo.

[16:26]Mà có một điều thế này nữa là: theo vua là có phải là vì cái hình ảnh đạo đức của ổng không? Không phải. Nhớ ổng mấy năm trước ổng đánh tơi bời, ổng giết tùm lum hết trơn còn phải sợ, nên theo ổng thì cũng còn sợ cái lưỡi gươm của ổng, theo mà theo nể mà theo hơi ớn nữa. Có những lúc đôi khi bạo lực một chút mà cần thiết. Hoặc là vua Đường Thái Tông của Trung Hoa, Lý Thế Dân cũng vậy. Cũng là một người mà lên giết hết các anh mình, các anh em mình để mà giành ngôi vua, nhưng khi ổng giành được ngôi vua rồi ổng trở thành ông vua là xây dựng Phật pháp. Thì ngài Huyền Đường Huyền Trang á cũng là câu chuyện xuất hiện trong cái thời của Đường Thái Tông.

[17:05]Thời đó Phật giáo được phát triển rất là mạnh ở Trung Hoa. Nên như vậy đó, đôi lúc nó có những chút như vậy, tuy nhiên không được chú trọng vào nó. Vì nếu mà chúng ta chú trọng vào nó, chúng ta sẽ xây dựng đạo Phật thành một cái hình ảnh khác, không còn tốt đẹp nữa. Nó giống như Hồi giáo, mở rộng tôn giáo bằng bạo lực, đây là điều rất nguy hiểm. Có nhiều khi á, những cái tài liệu về Phật giáo tự hào là trong quá trình, trong cái lịch sử mà truyền bá đạo Phật không có một giọt máu nào đã phải đổ ra. Đạo Phật luôn luôn dùng cái hình ảnh đạo đức và từ bi, và trí tuệ, lý trí bằng lý lẽ, bằng suy luận, bằng sự thuyết phục, chứ không có bằng bạo lực.

[17:51]Và điều đó đã được chấp nhận bởi những người có tri thức trong mọi thời đại, nhất là trong thời đại này, khi mà cái tri thức tăng cao, con người ta thấy cái đó là đẹp đẽ. Không có cái dụ dỗ bằng vật chất, không có cái cưỡng chế bằng lưỡi gươm, mà chỉ bằng lý lẽ thôi. Nghĩa là ai nghe cái lý đó mà thấy được thì theo, không được thì thôi. Thì đây là cái tính chất quan trọng của đạo Phật mà chúng ta phải giữ gìn mãi mãi, không để mất. Nhưng trong cái việc mà giữ gìn và xây dựng Phật pháp, đôi lúc có cần những sự cứng rắn. Mình nói là cứng rắn ha, đừng có nói tới bạo lực, bạo lực thì dễ gây nguy hiểm.

[18:30]Cứng rắn là thế nào? Cứng rắn ví dụ như là một vị thầy trụ trì một cái ngôi chùa mà có người ngoài họ vô họ họ phá phách, Có cách mà những người đó đó, hễ mà nói chuyện với họ hiền lành thì họ không sợ, họ không sợ. Thì lúc đó hoặc là thầy trụ trì đó, hoặc là các sư trong chùa, hoặc là một ông cư sĩ nào đó ổng biết võ, ổng ra ổng dùng thái độ hung dữ, cứng rắn ổng trấn áp là tự nhiên sợ phải ra khỏi chùa. Thì lúc đó cái thái độ cứng rắn, cương quyết đó nó có hiệu quả hơn là cái hình ảnh hiền từ, độ lượng của quý thầy. Tại có những loại người phải dùng tới biện pháp đó nó mới được việc nhưng chỉ tạm thời thôi.

[19:18]Cũng giống như trong xã hội chúng ta vậy, những người tội phạm á thì cái việc đầu tiên mà chúng ta nghĩ tới họ là gì? Là bắt bỏ tù, phải không? Là dùng bạo lực chế tài họ, bắt bỏ tù trước. Nhưng mà đó là tạm thời thôi, cái quan trọng là gì? Quan trọng lâu dài là giáo dục, giáo dục. Cho nên nếu đầu tư vào cái giáo dục đạo đức nhiều thì sẽ đỡ đi lực lượng công an và nhà tù. Còn nếu mà chúng ta không có đầu tư cái đạo đức trong nhà trường á thì phải xây dựng lực lượng công an cho mạnh. Đó là nhân quả. Hồi sáng nay thầy trụ trì có phát quà cho quý Phật tử thấy không? Người một cuốn Luận về nhân quả. Thì nếu mà cái lý nhân quả này

[20:01]được truyền bá rộng rãi, mọi người đều tự ý thức giữ gìn đạo đức thì chúng ta thấy đỡ phải dùng những hình phạt răn đe, bạo lực giữa con người với con người. Chúng ta nói điểm sơ qua năm cái thái độ ủng hộ Phật pháp của năm loại người: những vị Bồ Tát thì hiền lành, còn La Sát thì hung dữ. Nó cho chúng ta biết là cái sự cứng rắn cũng là cần thiết. Và một ý nữa là trong cái pháp giới vũ trụ này đó, mọi cái sự kiện đều ảnh hưởng lẫn nhau chứ không có cái nào độc lập tồn tại hết. Chúng ta đừng nghĩ hễ chúng ta tu trong tâm mình là chuyện đó chỉ của thuộc về mình, không ảnh hưởng tới hàng xóm, không ảnh hưởng tới ai.

[20:47]Không có chuyện đó trong pháp giới này. Là khi chúng ta đang ngồi, chúng ta đứng dậy là cũng ảnh hưởng tới tất cả dù rất ít. Tất cả mọi vật thể trong vũ trụ này đều tương tác với nhau, mình nói về vật lý đó. Còn cái tâm linh nó còn mạnh hơn nữa. Chúng ta ngồi một chỗ không nói chuyện với ai, nhưng mà chỉ ngồi yên lặng tu hành, giữ tâm mình cho thanh tịnh, từ bi vậy đó, mà cái làn ảnh hưởng đó nó phát, nó lan đi khắp nơi trong vũ trụ này chứ không phải là một mình mình. Đây là điều mà mình không thấy được bằng mắt thường, mà gần nhất là cái thế giới vô hình, những cái vong linh họ sống chung quanh mình đó họ nhìn cái tâm mình.

[21:28]Mình đang còn sống nè, mình nhìn cái người trước mặt mình, mình không biết tâm người ta nghĩ gì. Nhưng mà những cái người trong thế giới siêu hình, những người chết bất hoa bất vưởng họ đọc thấy tâm mình nghĩ gì hết trơn. Nên chúng ta chỉ che mắt được người sống chứ không có giấu được người đã chết. Và trong pháp giới này mọi sự kiện đều ảnh hưởng lẫn nhau hết, không có cái gì tồn tại độc lập. Như xưa có cái người Phật tử, cái người này có cái máu đấu tranh, hễ mà thấy ở đâu có chuyện bất công thì nhào vô, xen vô can thiệp để giành để đấu tranh bênh vực quyền lợi cho cái người cô thế. Cái người này là cái người mà lần trước tôi có kể chuyện anh đi

[22:08]vào rừng bị lạc ba ngày không ăn không uống gần chết đó, trong lúc gần chết thì thấy Bồ Tát Quan Âm hiện ra và cho nước cam lồ uống rồi tỉnh dậy đi tiếp để được cứu đó, nhớ không? Thì đúng là cái anh này. Anh này có cái máu đấu tranh dữ dội, ở đâu có bất công là có ổng. Thì ổng đấu tranh ở ngoài xã hội với luật pháp, với công an, với chính quyền để bênh vực cho dân. Bắt đầu ổng vô chùa ổng đấu tiếp. Thấy cái ông thầy đó mà giữ chức lớn trong ban đại diện, ban trị sự mà làm điều không đúng, thế là ổng bắt đầu đấu tranh tiếp. Bênh thầy này chống thầy kia làm dữ dội lắm. Ổng sưu tập tài liệu, những cái chứng cớ,

[22:46]những sai lầm của ông kia từ xưa tới giờ ở đâu ổng tìm, ổng phanh tìm. Không biết ông này sao lặn lùng biết không, có máu gì đâu đời trước. Thì cũng có lợi, có lợi trước hết là bênh vực được những thầy mà cô thế bị mấy ông thầy kia ăn hiếp. Nhưng mà làm một lát bắt đầu nó quá đáng. Thì lúc tôi nghe cái chuyện tới lúc căng thẳng tôi mới viết bức thư tôi khuyên. Viết bức thư tôi khuyên rằng tôi nói rằng: cái nhiệt tình bảo vệ Phật pháp là tốt, cái tình bênh vực những người yếu thế là tốt. Nhưng mà khi mình công kích cái người xấu quá đáng cũng lại là một cái cái tội. Tại vì cái người xấu họ cũng là con người,

[23:25]cũng là chúng sinh, cái lỗi lầm của họ nó có nguyên nhân, mình không hóa giải được mà mình chỉ công kích thì không có giải quyết được vấn đề. Nên phải thương yêu người xấu, những người mà gần gũi và giúp đỡ họ thay đổi chứ đừng đứng bên ngoài công kích họ thì không hay. Và nhất là những người đó ví dụ như họ có thế lực, họ có thể làm được nhiều việc cho Phật pháp mà mình là người mà đấu tranh có ảnh hưởng, họ nể mình được thì cứ tới lui khuyên họ làm việc tốt, ngăn chặn họ đừng có làm việc xấu, đừng có nên công kích mãi. Thì sáng hôm đó tôi viết bức thư như vậy tôi cho một người gởi xuống. Không ngờ là trước khi đó, đêm hôm trước á thì anh này đã nằm mơ thấy giấc mơ

[24:04]trước, cũng ông sư đến nói chuyện cái nội dung y như bức thư tôi viết sáng. Mà bức thư tôi mới viết hồi sáng thôi, mà trước đó một đêm thì đã có người nói nguyên cái nội dung đó trước rồi không cần tới bức thư của tôi nữa. Thì như vậy tôi viết là tự ý tôi viết hay là có người nào xúi? Không biết được. Phải không? Thì tôi viết là do tôi nghĩ ra tôi viết thôi, lúc đó tôi rất tỉnh táo chứ không có bị nhập đồng, không có ai xúi hết. Nhưng mà cái điều đó cũng có một vị sư nào... thì lúc đó anh mới viết bức thư lên trả lời lại. Anh nói rằng: "Rất là ngạc nhiên cho con là đêm trước con đã nằm mơ thấy một vị sư

[24:40]đến nói chuyện với con, dạy con những điều y như điều mà thầy viết bức thư cho con." Rồi bắt đầu ảnh sợ ảnh mới thay đổi thái độ lại. Thì chúng ta thấy cái việc anh ta làm nó không đơn thuần một mình anh ta mà nó lan tới trong Phật pháp, trong thế giới vô hình đó, cho nên chư thiên hộ pháp mới hiện ra nhắc anh ta. Nhưng mà cái nhận định của những vị ở trong vô hình đó với cái nhận định của tôi tự nhiên nó cũng trùng nhau, mà không biết là tôi là người được gia hộ để lặp lại cái lời đó hay sao? Phải không? Và nhiều khi những cái việc mình làm nó không hoàn toàn là của mình nữa, mà trong đó giữa mình và chư vị, chư thiên hộ pháp Bồ Tát Phật nó có cái tương quan.

[25:24]Nên sống trong cái thế giới này mà mình cứ nghĩ mình chỉ là mình, không liên quan tới ai lại là một sai lầm một lần nữa. Đây là lý do tại sao mà đạo Phật nói vô ngã. Không thật có cái ta, không bao giờ có cái ta thật hết. Ngay cả những ý nghĩ mà tự mình nghĩ ra đó chưa chắc là sản phẩm của mình thuần túy, đã bị ai chi phối ở trong. Tôi nói cái đơn giản hơn thấp hơn không có nói tới các vị lớn lao là chư thiên Bồ Tát hộ pháp, mà nói các vong linh bình thường á. Ví dụ cái người đó họ chết, cái tinh thần họ yếu đuối, họ vật vờ vất vưởng trong thế giới vô hình. Mình không gặp họ được, họ thấy mình nhưng họ không nói cho mình nghe được

[26:05]thì những người đó không có tác động gì lắm với thế giới hữu hình này. Nhưng có cái người mà họ chết trong cái cơn uất ức cực độ, đau khổ, bị bức hiếp như là quá đau khổ tự tử chết, hay là cô gái bị cưỡng hiếp rồi giết chết, hay đứa con nít mà tinh thần đang sung mãn rồi bị giết chết thế nào đó, cái tinh thần nó đang mạnh thì khi chết ở trong thế giới vô hình này, họ là một vong linh rất mạnh ảnh hưởng được vào thế giới hữu hình của mình. Và họ ảnh hưởng bằng cái gì? Họ có thể hiện hình cho mình thấy, họ có thể đụng chạm vào vật chất này gây khua lên tiếng được, đem vật này dời qua chỗ kia được, và họ tác động vào tư tưởng của mình được.

[26:45]Những cái ý nghĩ của mình chưa chắc là của mình, coi chừng là của người khác tác động vào. Như có những gia đình nào giờ đang sống êm ấm vậy đó, tự nhiên dời qua cái nhà khác ở cứ gây lộn xào xáo với nhau. Những cái chuyện không đâu mà cứ gây gổ miết à, là coi chừng không phải tại người sống mà tại người chết. Cái vong linh nó cô đơn quá, bực bội quá, không có chuyện gì làm và nó ganh tị cái sự hạnh phúc của người khác mà nó không làm gì được, nên nó tác động vào tư tưởng làm cho người này bực bội người kia bực bội cứ la mắng chửi bới nhau mà không ra gì hết. Có một câu chuyện này thuật lại nó hơi huyền thoại vì xưa rồi.

[27:24]Lúc đó ở trong lúc Sài Gòn mình hồi xưa đó còn rừng rậm nhiều lắm. Cái khu này ở Sài Gòn là đúng cây mọc nè, rừng hoang còn đầm lầy, những khu này. Và trong Tân Bình của mình bây giờ như chùa Giác Lâm này kia nọ đó rừng hoang nó còn nhiều lắm, bây giờ mình còn thấy một số cây rừng còn á. Cái chùa lớn, đất rộng, rừng hoang chung quanh không à. Thì cái vị sư trụ trì ở đó đó mới được cái công chúa ở ngoài... một bà cô của vua, nhưng mà còn trẻ, nói là cô của vua chứ mà cũng còn trẻ, bả thương, bả thương bả theo hoài. Thì ông này ổng tránh né. Một lần đó thì ổng đến Biên Hòa ở chùa Đại Giác để ổng cúng,

[28:01]thì bà cô đó, bà cô của vua đó, gọi là hoàng cô đó, cũng đến đó. Thì cái đêm mà ổng ở đó thì bả chỉ xin cho thấy được cái tay của ổng để ổng... để bả đảnh lễ. Ổng mới đưa cái tay ra thì bả nắm cái tay ổng. Ổng mới thấy rằng ổng dính duyên đó đã đã bị phạm. Rút tay lại, đêm đó ổng tự thiêu ổng chết luôn. Tự thiêu và người ta thấy một vầng ánh sáng đi từ cái chùa đó bay về phía Tây. Rồi khi thiêu xong cái cốt ổng mới đem về chùa này, chùa để, chùa Giác Lâm, tôi nhớ không lầm thì phải. Thì cái bà hoàng cô này bả ân hận, bả nghĩ vì cái hành động của bà mà làm ổng tự thiêu, bả cũng tự tử bả chết luôn.

[28:42]Thì theo tâm nguyện trước của bả cũng đem về cái chùa đó, cái cốt bả để đó luôn. Nhưng mà từ đó bắt đầu tăng chúng trong chùa cứ xào xáo gây gổ nhau đủ chuyện hết trơn, không biết chuyện gì xảy ra. Về sau phải nhờ một cái người nào đó họ lên đồng, họ mới nói cho biết: phải để cái cốt bả xa cốt ổng bả không chịu, để qua lại hết chuyện. Chùa sợ quá đem cốt để gần cốt ổng cái chùa êm ru không ai gây với ai nữa. Chuyện này được ghi lại trong cái cái sử của chùa đó. Tức là chết rồi vẫn còn yêu, chưa có hết. Mười năm không gặp nhưng mà tình chưa cũ, có phim. Nên họ tác động được vào cái tư tưởng của mình.

[29:28]Và như vậy, cái đạo Phật nói vô ngã là một lần nữa rất là hợp lý. Vì mình sống ở đây mình làm việc á, nhiều khi tư tưởng mình nghĩ là không phải của mình, của ai đâu. Nên nếu mình không cứng, mình không cương quyết không đứng vững trong chánh pháp, sẽ có những tư tưởng sai lầm xuất hiện, mà những tư tưởng không phải của mình mà lại làm cho mình phải tạo nghiệp. Từ những tư tưởng đó mình làm bậy, mà thực ra không phải của mình, của người ta tác động rồi mình nhận là của mình. Thế là mình tạo nghiệp theo cái tư tưởng đó. Như là mình vì mình nhìn cái người đó mình mình ghét, mình muốn làm cái gì hại người ta, mà không thực ra không phải mình.

[30:05]Mà lúc đó mình không biết, mình không khước từ, không buông bỏ cái tư tưởng đó, rồi bắt đầu mình mắng người ta hay mình làm hại người ta, thì cái nghiệp đó mình lãnh. Sau này mình sẽ chịu quả báo. Mà đầu tiên cái cái mầm cái mầm mống tư tưởng rớt vào đầu mình không phải của mình. Cho nên quý Phật tử hãy nhớ cái giáo lý vô ngã của đạo Phật, không có gì thật của ta, thân này không thật của ta, cái tư tưởng này không thật của ta. Cho nên mọi tư tưởng mà nó khởi lên, mình phải dè chừng coi chừng nó, không có chắc ăn, không có thật. Hễ cái tư tưởng nào khởi lên, mình phải xét nó thật kỹ, nó đúng với chánh pháp hay không đúng với chánh pháp, rồi hãy chấp nhận nó.

[30:43]Chứ còn cái tư tưởng nào khởi lên mình đi theo nó hết, thì có ngày mình sẽ đi luôn vào địa ngục. Đó, cẩn thận điều đó. Cho nên trong pháp giới này mọi sự kiện đều ảnh hưởng lẫn nhau, không có không có cái sự chia cắt. Mình không thật là mình đâu, mình cũng là một phần của chư Phật nữa. Khi mình đã quy y Phật, thì giữa mình và chư Phật đều có liên quan hết trơn. Những cái tư tưởng hoặc lời nói mình một lời buông ra, cũng đều có cái ảnh hưởng, có nhân có quả. Như đây là một cái câu chuyện thật. Câu chuyện thật tôi mới vừa nghe mấy ngày. Có một cái đoàn Việt Nam mới vừa đi sang Ấn Độ tham quan các khu Phật tích.

[31:26]Ở đây có ai đi không? Mới đi vừa về. Thì trong cái nhóm này đi có một ông bác sĩ, ổng này ổng tên là Trần Cao Sang. Thì ổng đi, ổng này là xuất thân từ một nhà khoa học nên ổng ít có tin về tôn giáo. Có điều bạn bè ổng á thì là người theo đạo Phật, cho nên ổng được mời đi chơi, rồi không tốn tiền, nên ổng đi. Ổng đi và do đó ổng có dịp đi, chứ ổng cái với tín ngưỡng thì ổng không tin lắm. Người khoa học mà.

[32:04]Ổng khi đi đi qua di tích này tới di tích kia, lúc đó đến cái Vườn Lộc Uyển, là nơi mà Phật đầu tiên thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như. Thì cái người đi trong đoàn du lịch họ mới thuyết minh, người hướng dẫn du lịch thuyết minh thế này thế kia, thế này thế kia. Cái này như ông thầy Tinh Thạnh á, ông hướng dẫn mới đi qua Ấn Độ á. Sau đó, xong rồi thì ông thầy đó mới hỏi bác sĩ Sang này: "Anh có tin là có Phật hay không?" Hỏi một câu vậy. Ông bác sĩ nói: "Dạ, có khi tin mà cũng khi không. Nhưng mà nếu đêm nay cho cho em con nằm mơ thấy gì chắc con tin." Thì ổng nói một câu đùa đùa, trật cái hơi vô duyên chăng nữa.

[32:47]Rồi cũng đi chơi, tối ngủ ở cái cái cái khách sạn gần cái Vườn Lộc Uyển. Thì chẳng mơ mộng gì hết. Sáng ra ổng nói chẳng nằm mơ thấy Phật thấy gì hết trơn. Câu chuyện kể đó. Xong đến cái đoàn hôm sau đi đến Vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sinh. Thăm viếng xong mới vào khách sạn nghỉ. Thì khách sạn đó ổng nói là trời đất ơi, nó nghèo quá không có nước nóng mà trời thì lạnh như cắt, miền Bắc Ấn Độ Nepal mà. Rồi tường á thì chưa tô để gạch lỗ chỗ lỗ chỗ vậy nè, cái phòng chật nhét tám người trỏng. Khổ, mấy người kia bực bội quá bảy người ra tắm, thì ổng mặc bộ đồ pijama ổng nằm lại. Ổng nói ổng chưa ngủ nha.

[33:27]Tại ổng là bác sĩ mà, các giai đoạn của giấc ngủ từ nông tới sâu thế nào ổng biết. Ổng nói đang còn mở mắt trao tráo á, chợt hiện ra một cái hình ảnh và ổng thấy ổng sống luôn trong đó luôn, là hình ảnh Đức Phật đang thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như. Ổng nói lúc đó là ổng quên mất thực tại, thấy mình đang sống trong đó luôn, và ổng đứng cách Đức Phật và năm anh em Kiều Trần Như khoảng sáu thước, mà không ai đoái hoài tới ổng hết. Thấy Đức Phật đang nói tiếng Ấn Độ không nghe rõ, hình ảnh Đức Phật, Đức Phật thuyết pháp rồi năm anh em, thì tôi lúc đó tôi mới nói vậy: "Anh diễn tả lại giùm cho tôi nghe kỹ hình ảnh Đức Phật và

[34:03]năm anh em như thế nào?" Ổng nói là không giống bất cứ cái tượng chùa nào hết trơn á, ổng chỉ vô cái tượng Phật của chùa chúng tôi không phải giống, hoàn toàn không giống. Nên bây giờ anh miêu tả sao? Nói đầu tiên là thấy tóc dài, tóc dài lòa xòa lòa xòa tới đây. Tôi nói đúng, tại vì nhiều năm tu hành không cạo. Thì Đức Phật mà 6 năm khổ hạnh rừng già mới uống có vài ly sữa rồi nhập định luôn, đắc đạo đi ra rồi uống thêm được đâu, mới thọ thực vài bữa rồi đi trên đường đi tới Vườn Lộc Uyển á, thì cũng thọ thực vài lần nữa thôi chứ đâu có bồi dưỡng được nhiều mà đòi mập. Nói tóc dài, lòa xòa, người không mập.

[34:37]Cái áo thì cũng mặc hở vai. Nói cái vải sao? Nói dạ vải đà, đậm mốc mà dày lắm. Nói đúng, hồi xưa không có kỹ thuật dệt vải mỏng như bây giờ. Bây giờ vì kỹ thuật cao mình mới dệt được những vải mỏng thế này, hồi xưa là vải rất là dày. Điều đó hợp lý phải không? Nói trên đó đúng. Rồi ổng nói là thấy chân dính đất luộm thuộm à. Tôi nói đúng, người ta đi chân đất lội từ nơi này nơi kia đâu có dép. Thì cũng hợp lý thấy không cấn. Rồi cái nói cho hình ảnh ổng nói thì thấy Đức Phật ngồi rất là thẳng lưng, cái thần thái thì rất là sung mãn. Khi mà giảng pháp thì cái tay để thế này và làm dấu giống như đang đếm số gì đó, đếm một ngón hai ngón nè.

[35:13]Còn năm người kia đó thì ổng nói là rất là gầy ốm. À tôi nói đúng, bởi vì năm người kia đang chủ trương tu khổ hạnh, mà thấy Đức Phật không khổ hạnh nữa, ổng bỏ đi, nên họ tiếp tục khổ hạnh nên họ gầy ốm là hợp lý. Nói tóc cũng dài. Đúng, chẳng ông nào cạo tóc mà phải, cũng mặc đồ thô xấu. Mà nói ngồi thì hơi cúi đầu xuống, mà hơi nhúc nhích, lưng hơi cong một chút, nhưng Đức Phật thì ngồi rất thẳng. Và nói cái gì đó, ổng nói cái hình ảnh nó hiện khoảng 6 phút rồi tắt, ổng tỉnh lại liền. Ổng vẫn còn đang thức, ổng nói chưa ngủ: "Tôi chưa hề ngủ." Giống như là cái câu trả lời cho cái câu nói bâng quơ của ổng á.

[35:47]Nói hễ ổng thấy thì chắc tin, chưa thấy chưa tin. Thì đêm đó không cho thấy liền, vì nếu mà nói bâng quơ mà thấy liền thì mình sẽ tự cao, nói giống như là mình nói gì là Phật phải đáp ứng. Nhưng mà Phật vẫn trả lời cho, bằng cái vì ổng nói câu đó ở Vườn Lộc Uyển cho nên khi ổng thấy là thấy được cái hình ảnh ở Vườn Lộc Uyển. Rồi tôi mới nói là: "Vậy anh có thể hình dung được khuôn mặt Đức Phật hay không?" Ổng nói: "Dạ, nhớ rất rõ mà không thể vẽ lại." Ổng nói tại vì con vẽ dở lắm, hồi học y khoa vẽ con giun thành con gì á. Nên nhớ thì nhớ rất rõ gương mặt Đức Phật mà không thể vẽ lại được, không biết vẽ.

[36:21]Ổng mới nói là có một cái tượng bên Ấn Độ khi ổng đi vào ổng thăm, có cái tượng trong cái đạo tràng gì đó, thì ổng nói mặt nó giống ở Bồ Đề Đạo Tràng á, ổng nói đôi mắt với cái mũi trong cái tượng đó giống 8/10 so với hình mà ổng thấy được. Ổng nói sợ là chắc cũng có vị nào mà thấy được cái linh ảnh về Đức Phật nên tạc cái tượng đó nó giống giống, chứ còn hầu hết những bức tượng mà ổng đã gặp đều... Ổng nói không có tượng mà tóc cục cục cục cục như mấy cái tượng thờ, thấy tóc dài lòa xòa lòa xòa. Thì đúng, lâu năm quá ở trong rừng tu mà, cạo gì đâu. Thì hợp lý. Mà chúng ta thấy đó, một cái câu nói bâng quơ

[36:54]của ổng là đâu có được bỏ qua phải không? Mà nhất là nơi cái xứ Phật nữa, xứ rất là linh thiêng. Cái cái linh thiêng của Phật, cái uy thần của Phật còn để lại bàng bạc bàng bạc khắp mọi nơi những cái di tích thiêng liêng đó. Nên đến đó nói một câu có cảm ứng liền, có cảm ứng liền, thấy rất rõ hình ảnh, mà hiếm người... Mà điều này cũng có nghĩa là cái ông bác sĩ này có căn lành, tại vì người thấy được Phật là phải có căn lành. Như ngài Huyền Trang, ngài có viết lại trong cuốn Đại Đường Tây Vực Ký á, ngài sang thăm Ấn Độ, nghe nói là có cái hang Phật hiện, lâu lâu người dân ở vùng đó vẫn thấy Phật hiện trong cái hang đó.

[37:35]Thì vì ngày xưa Phật ngồi thiền trong hang đó có con rồng dữ hiện lên, Phật dùng thần thông khuất phục được nó, nên đó thành cái di tích. Từ đó lâu lâu cái cái hình ảnh Phật mới hiện ra hoài, dân hay đồn. Ngài mới đến, trên đường ngài đi đến gặp sáu tên cướp chặn đường, rồi ngài bằng cái lòng từ bi ngài cảm hóa được sáu tên cướp. Sáu tên cướp mới dẫn ngài đi luôn tới đó. Đi vào cái hang tối om, ngài mới đảnh lễ cầu thấy được cái hình ảnh Đức Phật. Ngài lạy hoài chẳng thấy, nên ngài lạy vừa lạy vừa khóc, ngài nói rằng: "Con sinh ra đời cách Phật đã xa, con là phước thì mỏng mà tội thì dày, không được thấy Phật.

[38:16]Bây giờ con cầu cho con chiêm ngưỡng được cái từ nhan của Phật." Thiết tha vậy, "Cho con sám hối mọi lỗi lầm để con thấy được dung nhan của Phật. Những người dân ở đây còn được phước thấy Phật mà con không thấy được." Ngài cứ vừa lạy vừa khóc vừa kể, lạy vừa khóc vừa kể, hơn 100 lạy bắt đầu cái đốm ánh sáng xuất hiện nơi cái bức vách, vầng ánh sáng sáng chiếu chiếu từ từ từ từ. Cái bức vách đang tối om nó sáng lại dần dần dần dần, ngài mừng quá ngài tiếp tục lễ lạy, mấy chục lạy nữa thì chợt bừng sáng lên cái, nguyên hình Đức Phật hiện ra rực rỡ, chung quanh là chư Bồ tát vây quanh, ánh sáng rực rỡ, chói lòa.

[38:53]Rồi ngài mừng quá. Thì trong sáu tên cướp á, năm tên thấy quỳ xuống, còn một tên không thấy gì hết. Một tên vẫn thấy tối đen không thấy gì hết. Chúng ta thấy á, đó là tùy cái nghiệp cảm của từng người chứ không có đơn giản. Năm tên cướp kia đó còn có một chút thiện căn gì, còn cái tên cướp mà không thấy là con người quá tệ, con người quá ác độc, cho nên tuy quỳ không thấy được. Nên đây là điều cảm ứng, nên ông bác sĩ này được thấy được cái linh ảnh về Đức Phật cũng là có cái thiện căn với đạo Phật chứ không phải là không. Cho nên chúng ta thấy cái pháp giới này mọi sự kiện đều ảnh hưởng lẫn nhau, không có cái gì đơn độc.

[39:32]Cho nên mình tu hành nó đều có ảnh hưởng đối với chư Phật, chư Bồ tát, chư thiên và đối với chúng sinh chung quanh mình. Nên chúng ta xuất hiện trong cuộc đời này, chúng ta phải có trách nhiệm với cuộc đời, chứ không được sống một cách bừa bãi tự ý, chúng ta không được quyền lầm lỗi. Vì nếu chúng ta sống lầm lỗi, chúng ta sẽ để lại cái tác động xấu nó lan vào cuộc đời. Vì trong cuộc đời này, pháp giới này mọi điều đều ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta vì thương yêu cuộc đời, thương yêu chúng sinh, chúng ta phải có trách nhiệm bằng cách là tu tâm dưỡng tánh, phải tu hành cho nó tiến bộ, để lại cái ảnh hưởng tốt vào cuộc đời này.

[40:15]Bây giờ chúng ta định nghĩa thần chú là gì? Thần chú là gì? Thần chú là cái tín hiệu mà những bậc chứng ngộ phát ra làm căn cứ để cho chúng sinh vay mượn cái thần thông của các ngài.

[40:35]Là thường là chúng sinh như chúng ta, chúng ta không có thần thông, mà chúng ta có thể vay mượn thần thông tạm thời một phần của các bậc thánh bằng cách đọc lên cái thần chú mà vị thánh đó đã khẳng định, đã tuyên thuyết một cách mạnh mẽ, thì chúng ta sẽ mượn được một phần thần thông của các vị đó. Nên chúng ta thấy cái phẩm Đà La Ni này nối tiếp cái phẩm Phổ Môn là vậy đó. Phẩm Phổ Môn là vay mượn cái gì? Ai nhớ? Vay mượn gì?

[41:12]Kỳ trước giảng cái vụ ngân hàng đó, vay mượn cái gì? Phước đức, đúng.

[41:20]Là phẩm Phổ Môn á là chúng ta học cái vay mượn phước đức, là chúng ta đang thiếu phước trong lúc khốn cùng, gặp tai nạn, chúng ta niệm danh hiệu Bồ tát Quan Âm, tự nhiên xuất hiện một cái số phước lớn chặn cái nghiệp lực lại để chúng ta thoát qua được tai nạn. Vay rồi phải trả bằng cách sau đó ráng lo mà làm phước cho thật nhiều để trả lại, coi chừng có lời nữa nha. Thì bây giờ ở phẩm này nó tiến lên một bước khó hơn là vay mượn thần thông. Thì đây là ý nghĩa của cái thần chú đó. Các vị Bồ tát rất là hay, đủ phương tiện cho chúng sinh xài hết, mà tại mình không biết xài thôi. Ví dụ như là có người bệnh mà trong cái hoàn cảnh mình

[42:09]không thể gặp được thầy thuốc, ở vùng hẻo lánh xa xôi thì chúng ta lấy ly nước, mình đọc cái câu chú nào đó, chú nguyện vào trong cái ly nước, cầu nguyện cho thần lực của vị đó xuất hiện vào trong cái ly nước này. Mình tụng như vậy với tất cả tâm thành của mình, đưa ly nước đó cho người bệnh uống người bệnh sẽ hết bệnh. Thì đó là mượn được cái thần thông của vị thánh.

[42:38]Ví dụ như là cái câu Án Ma Ni Bát Di Hồng, hoặc là bài chú Đại Bi, vân vân, thì nếu chúng ta thành tâm chúng ta tụng bài chú đó với cái tác ý là thần lực của vị thánh nó tập trung vào đây thì sẽ cứu được. Thực ra đó, cái cứu người bệnh á là mình không cần vay mượn thần thông mà vay mượn gì? Mượn phước đức cũng được. Lúc đó mình niệm Phật cho người ta uống cũng hết. Thỉnh sư cô lên trên lầu nghe pháp. Dẫn Ni sư lên trên lầu, ngồi trên đó có loa. Thì cái thần thông này đó, ví dụ trường hợp người bị bệnh mình muốn chữa mà dùng chú chữa nó không hay bằng niệm Phật chữa. Tại vì niệm Phật là mình mượn phước đức để hóa giải cái tội liền.

[43:29]Còn mượn thần thông là những trường hợp này nè. Như mình không đủ khả năng, mình không đủ khả năng mà biết được chuyện này chuyện kia, bây giờ mình mượn thần thông. Thay vì mình phải tu thiền để đắc đạo, mình không có thì giờ, mình dùng thần chú mình tụng chú. Thì cái tâm mình thanh tịnh mà tụng chú được, bắt đầu mình biết chuyện này biết chuyện kia. Nhìn một người mình biết quá khứ, vị lai, vân vân, thì đó là do tụng chú một thời gian tâm mình có định, nhưng cũng là sự vay mượn được thần lực của chư Phật. Rồi tôi gặp những người cư sĩ vậy đó, họ tụng chú một thời gian có thần thông hết trơn à.

[44:05]Nhưng mà nhớ một điều, có vay thì phải có, có trả. Có vay thì có trả. Mà trả là trả bằng cái gì? Bây giờ mình mượn thần thông thì mình trả bằng cái gì? Mượn phước thì mình trả phước, thấy không? Mượn phước để vượt qua được tai nạn sau đó mình trả bằng cách mình tạo nhiều cái phước làm công đức, phóng sanh, bắc cầu, đắp đường, bố thí đủ thứ. Thì bây giờ mượn phước trả phước, vậy mượn thần thông trả bằng cái gì? Ai biết khen hay. Mượn thần thông trả thần thông hả? Làm gì có thần thông mà trả.

[44:47]Thần thông do đâu mà có? Do tu, tu thiền mà có, tu hành tâm thanh tịnh mà có. Đó là khi mình mượn cái thần thông của chư Phật, tức là mình mượn sự tu hành của chư Phật. Hồi nãy là mượn phước đức, cái này là mượn sự tu hành của chư Phật, tu thiền á, bây giờ phải trả lại bằng cách tu, tu thiền. Cho nên nếu mà người mà tụng chú mà thấy phát thần thông, mà nếu mê đắm vào đó, hành trì, khoe khoang làm thầy người ta đó, có ngày đọa mất tiêu luôn. Hết công đức, nó là do công đức tu hành. Nên ví dụ sử dụng tạm thời lúc đó, sau đó phải do nhiếp tâm vào định, tu hành thiền định cho gay gắt đi. Ở nơi cái phẩm Phổ Môn Bồ tát Quan Âm á mình

[45:29]qua tai nạn rồi á thì mình lo làm phước. Nhưng mà ở nơi cái thần chú Mật tông á, sử dụng thần chú rồi thì phải lo mà ngồi thiền, giữ giới rất là nghiêm túc. Được, chứ không là tiêu liền. Mất đạo đức là tiêu liền. Trong các phẩm của Pháp Hoa thì phẩm Đà La Ni ngắn nhất.

[45:51]Ý này nói cái gì? Nói rằng cái sự vay mượn... Thấy cái bài kinh này, một bộ kinh dày với từng chữ, từng câu trong đây có cái ẩn ý hết. Tại sao phẩm nó dài? Tại sao phẩm nó ngắn? Nếu cần phẩm này dài đó thì có thể là Phật để cho chừng hai chục vị thuyết chừng hai chục bài chú nữa được không? Phải không? Được chứ gì nữa cho nó dày lên. Nhưng thôi cho năm bài, trong đó bốn bài hiền, một bài dữ, rồi ngắn vài trang hết, qua bài khác. Là ngầm nhắc nhở cho người sau không được chú trọng vào thần chú, vì nó chỉ là sự vay mượn sự tu hành của chư Phật một cách tạm thời. Mà nếu không lo tu hành đền trở lại thì có ngày mình sẽ đổ vỡ tất cả mọi công đức.

[46:32]Mình thiếu công đức tu hành mà, mà mình cứ ỷ mà mình nghĩ cho nó là mình nữa. Mình mượn thần chú của chư Phật mình tụng một thời gian thấy có thần thông. Có thần thông rồi lên mặt làm thầy người ta. Làm thầy người ta rồi coi mình như thầy của mọi người, à người ta phải đến lễ lạy, quỳ mọp, dâng hiến cho mình đủ thứ hết. Rồi thời gian công đức tu hành mất, bắt đầu đọa. Mà đọa là cái gì? Đọa là năm điều xuất hiện mà nãy tôi nói đó: tham ái, tham dục, sân hận, tham lam vật chất và chú trọng hình thức. Năm điều này xuất hiện liền, là lúc đó công đức tu hành mình đã đổ vỡ rồi đó. Cho nên trường hợp như một cái ông sư ở Đà Lạt vừa rồi mình nghe

[47:13]á, nghe báo Công an đăng tùm lum á, cũng là trường hợp này. Đầu tiên á là ổng dùng thần chú ổng tu, bắt đầu ổng có thần thông nên tín đồ quy phục rất đông, kể cả những cán bộ trong chính quyền nữa. Đó là tại sao mà cái vụ của ổng rất lâu mới được phát hiện, khám phá là vậy đó, vì chính những cái chính quyền địa phương đó cũng bị ổng thu phục nữa, nhiều số người cũng nể nang và bao che cho ổng nữa. Nhưng mà vì ổng không biết được cái ý của chư Phật gói nơi cái phẩm Đà La Ni này rất là ngắn, tức là bảo rằng cái này chỉ là tạm bợ, không biết, ỷ vào đó, thấy mình tụng chú có thần thông mà cho mình là thầy người ta, mà không lo tiếp tục tu lại từ căn bản:

[47:55]đạo đức, giới luật, thiền định, hoàn chỉnh đạo đức, giữ giới trong sạch, rồi thiền định, nhiếp tâm vào định, không đi trở lại, cứ trụ vào cái cái thành tựu của thần chú, lên mặt làm thầy, bắt đầu công đức nó đổ vỡ hết thì năm điều này nó đi tới với mình liền: tham ái, tham dục, sân hận, tham lam vật chất và chú trọng hình thức, năm cái ập tới liền. Học nơi phẩm Đà La Ni này á thì chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của Mật tông, của những người sử dụng thần chú. Ở đây có ai chuyên trì Đại Bi không?

[48:36]Thì có những cái công đức tu hành khác thì mình không sao, thì tốt. Chứ nếu chỉ thuần tụng chú mà ỷ vào đó, không có tu tập đạo đức, giới luật, thiền định thì công đức sẽ đổ vỡ. Chúng ta nhớ cái chuyện ngài Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Cha của ngài Từ Đạo Hạnh,

[48:53]Từ Vinh, bị pháp sư Đại Điên dùng pháp thuật đánh chết. Cái lúc đó Từ Đạo Hạnh còn nhỏ, quyết tâm trả thù, đi tìm về Ấn Độ để học đạo, không vượt qua được vì đường xá hiểm trở. Ngài mới lên cái hang động này, chuyên trì Đại Bi tâm chú. Ngài trì bắt đầu cái thần lực nó xuất hiện là mượn được rồi đó. Ngài thả cái gậy xuống nước, kêu đi ngược dòng là nó trôi ngược dòng liền. Ngài mới đi trở về tìm pháp sư Đại Điên, ngài dùng phép ngài đánh cho tới chết liền. Nhưng mà đây là cái lúc bắt đầu trả. Sau đó ngài mới từ bỏ hết việc đời, ngài đi vào chùa xuất gia, tu thiền với một vị sư và ngài đắc đạo. Đó, đó là trả lại. Còn nếu mà lúc đó ngài đứng ngang đó,

[49:39]ngài ỷ mình có thần thông rồi mà ngài không chịu tu thiền á, tập định á thì tan vỡ hết, không còn cái gì nữa, sẽ thối đọa nặng nề. Nhưng mà ngài làm rất đúng, sau khi ngài trả thù cha xong cái ngài đi tìm ngài tu thiền luôn. Ngài ngộ đạo, bây giờ trở thành Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Khi mà mất á thì ngài mới nói với đệ tử là: "Ta cái duyên với thế gian chưa hết, ta sẽ trở lại đây để làm một vị quốc vương." Rồi trở lại làm vua Lý Thần Tông. Rồi sau khi bỏ cái thân quốc vương này, bỏ thân quốc vương đó ta sẽ sinh lên làm vua cõi trời, công đức cũng lớn ghê gớm thiệt. Rồi nhục thân người ta để lại, kiếp này là kiếp làm thiền sư

[50:21]đó, nhục thân này mà bị tiêu á thì ở nơi cõi trời đó ta mới mới chứng được sự giải thoát, vào Niết bàn hẳn luôn. Chứ lúc đó đắc đạo làm thiền sư rồi, chưa phải là Niết bàn hoàn toàn. Khi ngài chết ngài để lại nhục thân luôn. Thì ừm qua đời sau cái ngài sinh lại làm vua Lý Thần Tông mà có thời gian bị hóa hổ đó. Cái này chắc có kể rồi. Thì vua Lý Thần Tông thì mất sớm. Coi như là như ý ngài nói là ngài lên làm vua cõi trời Đế Thích. Thì cái nhục thân của ngài vẫn tồn tại nha, tồn tại cho đến đời Lý qua tới nhà Trần, nhà Trần rồi sau đó tới nhà Hồ. Nhà Hồ rồi bắt đầu giặc Minh nó sang đánh, tụi nó thấy cái nhục thân của ông sư họ đốt.

[51:04]Thì như vậy theo như lời ngài sống á, là lúc đó ngài mới không còn làm vua cõi trời mà chính vào Niết bàn hẳn, luôn giải thoát. Đó là ngài làm đúng đó. Hễ vay mượn sự tu hành của chư Phật để có thần lực thì phải trả lại bằng sự tu hành rất là rốt ráo mà phải trả có lời. Mượn một phải trả hai, ba gì đó. Cái lời của nó lấy lãi cao lắm chứ không như ngân hàng mình giờ còn có 1% gì đó. Còn lãi của chư Phật là lãi xã hội đen, một trả hai, ba. Nghe... Tụng Đại Bi mà ví dụ như là chưa có thần thông á thì chưa có tổn công đức. Mình tụng chú mà có thần thông rồi mình sử dụng thần thông đó đó thì bắt đầu mình mắc nợ đó.

[51:47]Bắt đầu là mắc nợ chư Phật á. Nhưng mà chưa có thần thông thì chưa làm gì được ai hết thì chưa mắc nợ. Mà ví tụng hoài, tụng hoài mà không có chuyện gì xảy ra thì chưa mắc nợ. Nhưng mà tụng bắt đầu phát thần thông nhìn người nào cũng biết chuyện này, chuyện quá khứ, vị lai người ta hết trơn á. Rồi phán, nghĩa là ngày mai là ông bị này, ngày mốt ông bị kia, cái người ta bắt đầu ta sợ ta đến ta cung kính mình, là lúc đó bắt đầu mình mắc nợ rồi, phải lo mà tu trả. Ở bên Mật tông Tây Tạng là thế này, họ chú trọng vào thần chú, vì cái xứ đó họ huyền bí và lạnh lẽo, nhờ tu thần chú để tạo được cái thần lực.

[52:19]Nhưng mà bên cạnh đó họ có cái phương pháp mà nhiếp tâm tu thiền khủng khiếp nữa, nên những lý luận về tu thiền của các sư Mật tông Tây Tạng cũng cao. Cao lắm chứ không phải là không. Nhưng mà có khi chúng ta hiểu lầm thì rất là dễ nguy hiểm. Mà đây là cái cao mà dễ hiểu lầm nè. Nó nên không nằm trong phạm vi bài này nhưng mà sẵn tiện thì tôi nhắc sơ quý Phật tử để sau này quý Phật tử có gặp trường hợp này mà cảnh giác để không bị lầm. Thường á cái quá trình tu thiền mà đúng á nó phải đi theo những bước như thế này. Khi mình bắt đầu đến với đạo á là tâm mình thiện hay ác? Thiện hay ác? Thiện hả? Ác?

[53:02]Thôi cộng lại cả hai đi, tức là mình vừa thiện vừa ác. Phải không? Khi mình vừa đến với đạo lúc đó tâm mình còn thiện ác lẫn lộn. Chứ nếu ác không mình đâu thèm tới với đạo, phải không? Mà nếu thiện không thì coi như mình đã tới lâu rồi. Cho nên khi mình mới biết chùa thì mình còn thiện, còn ác. Cái mình tu bằng cách là thanh lọc tâm, mỗi ngày mình quan sát tâm mình để bỏ hết những tư tưởng ác, để từ từ chỉ còn tư tưởng thiện thôi. Mình nghĩ cái điều gì về tham lam vật chất, đây là tư tưởng tà, ác, bất thiện, bỏ. Mình nghĩ tới chuyện mà giận cái người hàng xóm, đây là tư tưởng bất thiện, bỏ. À vân vân. Cứ cái chuyện gì mà mình suy nghĩ coi nó không phải là thiện

[53:43]thì mình bỏ dần dần dần dần, cuối cùng chỉ còn những tư tưởng là thương yêu, độ lượng, hi sinh, khiêm tốn. Từ cái thiện ác lẫn lộn bắt đầu nó trở thành thuần thiện. Rồi cái thuần thiện á bắt đầu nó tiến lên một bước kế bên nữa là đi vào cái định không thiện, không ác. Khi mà nhiếp tâm vào định rồi thì nó không khởi niệm thiện, cũng không khởi niệm ác. Mà sự thực lúc đó mà nói tới tâm ác là thừa. Vì lúc đó tâm mình là thuần thiện, hễ động là chỉ động chuyện thiện thôi, hễ khởi tâm niệm lên là toàn là tâm niệm thiện, buông nó xuống thì thành định. Mà khởi lên là tâm niệm thiện, buông xuống thì thành định, không có nói tới ác.

[54:22]Nhưng mà mình vẫn nói là không thiện, không ác, giống như là Lục Tổ Huệ Năng mà nói với ông Huệ Minh, mà khi không nghĩ thiện, không nghĩ ác cái gì là bản lai diện mục? Tức là cái định không thiện, không ác. Thì ở cái tâm định không thiện, không ác này thực sự nó là do cực thiện mà đạt được cái định này. Nhưng mà người nhiều người họ hiểu lầm, họ cho rằng hễ mà đúng yếu chỉ của tu thiền phải là không thiện, không ác, không phân biệt thiện ác. Thấy dường như đúng, bắt đầu đi từ sai dần dần, dần dần. Rồi, cái chỗ sai của mấy ông Mật tông đây. Họ nói á: "Nơi Phật tánh thanh tịnh này không có gì gọi là thiện,

[55:04]không có gì gọi là ác, không có gì gọi là dơ, không có gì gọi là sạch, không có gì gọi là cao, không có gì gọi là thấp". Nghe đúng không? Đúng chớ ha, cũng có lý.

[55:17]Bắt đầu cái họ làm cái chuyện bậy bạ. Người đệ tử của họ mới hỏi: "Sao kỳ vậy thầy?". Ông nói: "Vậy là ngươi còn phân biệt dơ sạch. Làm sao ngươi làm chuyện đó mà không thấy dơ thấy sạch thì mới được". Cái người nghe: "Ủa, có lý, ông thầy mình có lý luận, làm theo luôn". Làm theo luôn thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra?

[55:47]Thầy không nói nhiều để quý Phật tử tự hiểu nhưng đó á, từ cái lý luận thấy đúng á bắt đầu nó bước qua sai dần dần, dần dần. Đây là chỗ nhắc quý Phật tử nha. Sau này quý Phật tử mà gặp những trường hợp này phải cảnh giác liền. Cái định á thì nói không nói thiện, không nói ác, nhưng mà sự thực nó là do cực thiện mà nó mới đạt tới cái định. Chứ không còn bẩn thiện ác hay là mờ mịt lẫn lộn thiện ác. Còn nói không thiện, không ác nhưng mà sự thực là cực thiện mà thành. Ở đây cái ổng đứng ở đó nói: "Không thiện, không ác, không dơ, không sạch, không cao, không thấp, không hơn, không thua". Rồi bắt đầu kẻ hở cho người ta làm chuyện tầm bậy, cái người ta nói, nói:

[56:22]"Vậy là ông còn phân biệt hơn thua, thiện ác, dơ sạch. Tôi làm mà tôi không thấy dơ thấy sạch". Nói nghe đã lắm. Nhưng thực ra đó là bị sai rồi. Đó lý luận nghe thấy cao tới mây xanh mà trật rồi đó. Cho nên quý Phật tử á, hễ có ai mà dùng cái lý luận đó đó: "Không dơ, không sạch, không thiện, không ác" mà xúi quý Phật tử làm chuyện sai thì phải biết ông này bắt đầu sai rồi. Phải nhớ là cái định của Phật pháp nó nằm trong giới mức thuần thiện, cực thiện, hoàn toàn thiện thì mới đúng. Mới đúng là cái định, mới đúng là Phật tánh. Còn ai đưa ra cái lý Phật tánh bát nhã không hai, bất nhị đó, nói: "Pháp môn bất nhị" như ngài Duy Ma Cật á, "Không dơ, không sạch, không hơn,

[57:00]không thua, không thiện, không ác", để rồi mình làm chuyện dơ, làm chuyện ác là sai. Phải đề phòng, mà đây là lý luận mà mấy ông Mật tông hay bị. Quý Phật tử có khi không gặp nhưng mà dặn trước, hễ mà nghe nói ai mà tu Mật tông thì cảnh giác người ta điều này. Nói gì nói, vẫn phải hoàn toàn thiện, phải không? Còn lý luận đã đời một lát bắt đầu làm chuyện bậy.

[57:26]Cái phẩm Đà-la-ni này nãy giờ là mình nói cái nghĩa cao là nghĩa đen đó. Nói về cái chuyện mà chư Phật gia hộ về thần thông mật chú. Bây giờ mình nói tới cái nghĩa bóng. Mà nghĩa bóng thì nó thấp hơn, bóng thì nó thấp, là nói đến sức mạnh của hành uẩn nơi tâm mình.

[57:44]Cái hành uẩn nó vi tế. Cái ý niệm không có ngôn ngữ. Chữ mà "ý niệm không ngôn ngữ" này ở đây chắc không mấy người hiểu đâu. Ừ để giải thích từ từ quý Phật tử sẽ hiểu. Người Việt Nam mình nhìn ngoài sân mà thấy trời nắng thì mình nói câu nào? Ở bên ngoài trời rất là nắng. Trời nắng tươi, phải không? Mình nói cái câu đó nó có cái ngôn ngữ ở trỏng á. Cái ý niệm để diễn tả cái bên ngoài trời nắng, do đó mình dùng cái câu ngôn ngữ Việt Nam là bên ngoài trời nắng. Nhưng nếu một người Anh, người Mỹ họ cũng muốn diễn tả ý niệm đó thì họ không nói là bên ngoài trời nắng mà họ nói làm sao? "It's sunny outside".

[58:24]Họ dùng ngôn ngữ khác mặc dù cùng một ý niệm. Như vậy, nó có cái ý niệm chung ở trên cao hơn tất cả mọi ngôn ngữ, đúng không? Phải không? Từ cái ý niệm chung này người Anh mới diễn tả thành cái câu tiếng Anh mà người Việt thì diễn tả thành câu tiếng Việt. Như vậy có cái ý niệm chung nó cao hơn mọi ngôn ngữ và chưa có ngôn ngữ, đúng không? Ví dụ cái nữa. Vừa rồi nghe nói có trận đánh box giữa Holyfield và Mike Tyson có ai coi không? Có nhiều người cũng mê coi. Coi rồi ở dưới này tay có thủi thủi theo không? Bây giờ mình nhìn mấy người võ sĩ họ đánh nhau á, họ có suy nghĩ không? Ví dụ như cái người kia đánh mình thì bắt đầu mình suy nghĩ à nó

[59:08]đánh mình vầy, mình sẽ né bên đây rồi mình đánh lại bên đây. Có nói này kịp không? Nói vậy là ăn luôn mười mấy cái vô mặt liền. Phải không? Không có suy nghĩ, phản ứng cấp tốc, mắt thấy là tay đỡ, mắt thấy tay đỡ đánh lại liền, không có suy nghĩ. Nhưng mà như vậy có ý niệm không? Không suy nghĩ nhưng mà có ý niệm không? Có chớ, có mình mới biết là mình mới phân biệt được họ đánh đòn này thì đỡ đòn kia. Mà nó quá nhanh đi, ngôn ngữ không có chảy ra kịp, không có ngôn ngữ kịp, không có ngồi suy nghĩ: "À nó đánh đòn này mình đánh đòn kia". Hễ mà vung ra là làm lại liền. Như vậy có ý niệm, nhưng cái ý niệm nó rất nhanh và không có ngôn ngữ.

[59:42]Đúng chưa? Vậy hiểu thêm chút nữa cái ý niệm không ngôn ngữ không? Đó vậy là hiểu, hành uẩn. Hành uẩn là những ý niệm không có ngôn ngữ. Nó rất là sâu mà người ngồi thiền vào định rồi mới thấy được nó. Còn nếu mà quý Phật tử chưa có ngồi thiền, chưa nhiếp vào định nên nói có cái ý niệm mà nó không có ngôn ngữ mình sẽ không hiểu. Nhưng người nào có ngồi thiền thì mình sẽ hiểu được cái ý niệm không ngôn ngữ này. Thì nãy giờ dùng hai cái ví dụ quý Phật tử hiểu sơ sơ rồi, phải không? Đây là cái sức mạnh hành uẩn rất khủng khiếp, mặc dù nó không có ngôn ngữ nhưng nó sức mạnh rất là dữ dội. Sức mạnh nó như thế này.

[1:00:23]Cái bùa Miên á có câu thần chú. Cái người mà tụng cái câu thần chú đó rồi đó, người ta có đánh không có đau. Nghĩa là ai đánh mình, mình tụng câu thần chú lên là người ta đánh bực bực vô không có đau. Người Miên họ có câu thần chú đó. Thì người Việt Nam mình cứ nghe cái câu thần chú nói tiếng Khmer đó, ở đây có ai biết tiếng Khmer không? Tiếng Miên á. Nói gì không biết rồi mà hễ mình tin như vậy rồi mình tụng hoài thì mình đạt được cái năng lực là đánh, người ta đánh mình không có đau. Thì lúc đó người Việt Nam mình cứ đọc hoài không biết sao thì mới đi qua hỏi người Miên. Cái gặp ông người Miên nói cái câu đó nghĩa là gì?

[1:00:58]Cái ông người Miên ổng nói cái câu đó nói là câu đó có nghĩa là đánh không đau, đánh không đau. Cái sức mạnh của hành uẩn, khi mình tin một điều gì, mình lặp đi lặp lại bằng với cái quyết tâm của mình thì nó xuất hiện cái kết quả đúng như vậy. Đó là thần thông, sức mạnh của hành uẩn. Và những nhà khí công cũng vậy. Cái người họ để cái tay ra họ luyện khí công á, nó đạt được cái sức mạnh của hành uẩn rồi á họ để cái tay mềm mại cho sáu, bảy người lực sĩ bẻ không cong. Mà không có gồng. Lúc họ làm cái gì? Họ chỉ tưởng tượng bằng hành uẩn và họ nghĩ rằng đây là một thanh sắt. Mềm mại, không ai bẻ vô được nữa hết.

[1:01:39]Hoặc là như những cái ông tổ Ueshiba của Hiệp Khí Đạo, ổng nói rằng: "Bởi vì tôi là tiểu vũ trụ hòa đồng cùng đại vũ trụ mà đại vũ trụ thì không ai xoay chuyển nổi". Ổng đứng xuống cái tấn trung bình rồi thì không ai đụng nhúc nhích, không ai lay bưng mà ngã đi ngã lại, bao nhiêu người bưng không lên và xô không nghiêng. Tại vì lúc đó ổng ngồi, ổng nhiếp tâm vào định là ổng nghĩ rằng ổng thành hòn núi. Cái ý niệm của hành uẩn tạo thành sức mạnh thần thông. Nhưng mà người mình chưa tu luyện thì cái sức mạnh hành uẩn mình nó yếu. Cho nên ai gạt chân mình té. Ai làm gì mình cũng bị lay động. Còn cái người mà họ tu thiền,

[1:02:22]họ luyện khí công, nội công cái sức mạnh hành uẩn nó phát huy được, họ tưởng cái gì thành được như ý họ muốn. Còn các bậc A-la-hán á thì các ngài sử dụng hành uẩn này khủng khiếp lắm. Các ngài nghĩ rằng thôi bây giờ mình hiện thành 1.000 thân thì ngay lập tức hiện thành 1.000 thân khắp nơi hết trơn, người ngồi may đồ, người đi bộ, người ăn cơm, có hết. Cũng như là Bồ Tát Di Lặc vậy đó. Thôi chuyện Bồ Tát Di Lặc để khi nào giảng phẩm Phổ Hiền thì nói.

[1:02:55]Và cái ý niệm hành ấm này hồi nãy giờ chúng ta nói đó, cái sức mạnh của cái hành ấm đó, là nó tạo thành thần thông. Nhưng mà với những vị Thánh chứng đạo, cái thần thông mà các vị phát ra đó, nó không phải tồn tại nhất thời như là ví dụ mình đưa cái tay ra mình, người ta bẻ không vô, là nhất thời ha. Hoặc là như ngài, ông tổ Thiền Khí Đạo đứng đó, ổng tưởng ổng hòn núi không ai lay được. Thì đó là lúc đó, biểu diễn lúc đó thôi. Nhưng mà cái thần thông của chư Phật, các vị Thánh, khi cái ý đó họ phát ra rồi, tồn tại vĩnh viễn trong không gian, thời gian. Khi nào mà các ngài có cái nguyện tắt đi rồi mới bỏ đi, nó mới mất. Ghê sợ như vậy.

[1:03:34]Như câu chuyện

[1:03:39]có một lần đó, cái tịnh xá của chư Tăng thời Đức Phật á, bị bị mưa dột. Thời đó lợp bằng lá không à. Sứ sở Ấn Độ thì ngàn ngọn cỏ. Cái chư Tăng ở không yên. Mà luật thời đó thì gắt gao, không cho các Tỳ kheo mà đi cầm dao cắt cỏ gì hết trơn á, không có cắt lợp được. Mới đến nói với cái người thợ gốm. Cái người thợ gốm này ổng nghe nói là chư Tăng nhà bị dột, ổng dỡ cái mái nhà ổng đem đi liền. Ổng lên mái nhà ổng cuốn, gom lại, vác lại tịnh xá, leo lên lợp cho chư Tăng liền, không ngó chi cái chuyện cái gì hết á. Thì Đức Phật nói thế này. Do công đức đó, Đức Phật mới nói: "Từ đây cho hết cái kiếp hoại của địa cầu này,

[1:04:24]tới ngày mà tận thế á, biết chừng nào, thì cái chỗ, cái vị trí ngôi nhà của người thợ gốm, vĩnh viễn không còn bao giờ mưa rơi vô đó nữa. Hễ mưa rơi rơi chung quanh mé rồi riêng cái nhà đó không được mưa rớt á." Cảm động cái công đức đó mà chư Phật ấn chứng, cái công đức đó tồn tại vĩnh viễn luôn. Vì thế nhưng mà mình chả tìm ra được khu vực ở đâu để mình đứng mình coi thử. Nhưng mà đó trong kinh ghi lại, do ổng làm cái hành động với trọn tấm lòng, chấp nhận nhà mình ướt chứ không để chư Tăng ướt. Đức Phật nói: "Từ đây cho đến khi địa cầu tận thế, tức là hết một cái kiếp của địa cầu thì cái ngôi nhà đó mưa không bao giờ rơi vào."

[1:05:05]Cho nên những cái thần chú của chư Thánh phát ra đó, cái ảnh hưởng á, cái sức mạnh nó tồn tại mãi mãi. Đến khi nào mà còn có chúng sinh tụng câu chú đó thì vẫn còn linh thiêng. Tồn tại mãi, ăn thua mình, do mình chí thành hay không mà nó tạo ra được cái hiệu quả hay không.

[1:05:26]Bây giờ mình phân tích sơ sơ qua vài cái ý nghĩa các câu chú. Cái câu chú của ngài Dược Vương á thì nói rằng: "Cái thần chú này là của 62 ức hằng hà sa các đức Phật thuyết. Nếu người nào mà xâm phạm vị pháp sư tức là xâm phạm các đức Phật." Cái pháp sư này có nhiều nghĩa. Pháp sư này là người thuyết pháp, mà cũng có ý nghĩa là người tu hành, người tu hành chân chính. Nếu người nào mà xúc phạm tới vị pháp sư này giống như xúc phạm Phật. Nên bảo vệ không cho ai xúc phạm được người tu hành.

[1:06:01]Bây giờ ngài Dõng Thí Bồ Tát nói rằng: "Người nào mà tìm chỗ dở của pháp sư không được tiện lợi." Có nghĩa là, cái người đang tu còn có khuyết điểm, nhưng mà nhờ thần lực của ngài, ngài sẽ che chở, không để cho cái khuyết điểm nó bộc lộ, phát huy ra, phát triển ra. Nó từ từ nó mất mà không ai nhìn thấy. Họ có lỗi, nó sẽ kín đáo đi rồi từ từ họ vượt qua, chứ không để cho người khác thấy mà gièm pha, đàm tiếu, để cho chúng sinh mất niềm tin. Rồi cái người mà đàm tiếu sẽ bị mang tội, họ không có tu được. Ví dụ như là tôi giảng Pháp Hoa, quý Phật tử nghe. Mà biết đâu mà tối tôi hay có cái tật là tôi lén mò xuống nhà bếp tôi ăn vụng.

[1:06:41]Ví dụ vậy, tôi có cái tật đó. Nhưng mà chư Phật che chở không cho ai biết. Một mình tôi đi xuống tôi mò tôi xuống tôi ăn không ai thấy hết. Thành thử người ta thấy tôi tốt, người ta nghe. Chứ nếu mà ai biết, trời ổng giảng vậy chứ tối ổng mò vô nhà bếp ổng ăn á, ăn vụng, cái không ai tu nữa, phải không? Cho nên, Phật Pháp gia hộ cho mỗi lần tôi đi xuống nhà bếp ăn vụng không ai thấy. Nhờ vậy rất là đỡ. Cái nhược điểm mình còn nhưng mà được che chở rồi từ từ mình sẽ vượt qua. Từ từ mình vượt qua, từ từ lúc nào đó tôi cũng sẽ hết ăn vụng, không sao. Bây giờ Tỳ Sa Môn Thiên Vương mới nói lên bài pháp là:

[1:07:24]"Ủng hộ người trì kinh này trong khoảng trăm do tuần không có các điều tai họa." Cái người đang tu á, vẫn còn những cái nghiệp cũ có thể phải bị trả. Nhưng mà chư Phật sẽ gia hộ để bảo vệ người đó được an ổn, tai họa không có tới. Nhờ thần lực giữ gìn. Chú Trì Quốc Thiên Vương thì cũng vậy, ủng hộ. Nhưng mà có cái chú La Sát. Những cái loại ma quỷ như: ngạ quỷ, Phú Đơn Na, Kiết Già, Ô Mặc Lặc,... vân vân làm bệnh, gây bệnh đồng nam, đồng nữ gì đó. "Không được não hại người nói pháp. Nếu chẳng thuận chú ta, não loạn người nói pháp, đầu vỡ làm bảy phần như nhánh cây a-lê. Như tội giết cha mẹ, cũng như hoạ ép dầu." Ép dầu xưa nó có cách mà sát sinh nhiều á.

[1:08:14]"Cân lường dối người, tội Điều Đạt phá Tăng. Kẻ xúc phạm pháp sư đây sẽ mắc họa như thế." Nghĩa là đây nè, các thế lực à trong thế giới siêu hình, âm binh thế giới siêu hình tấn công vào cái người tu hành, thì mấy người La Sát này có nhiệm vụ là trị tội cái đám đó. Tại vì chung quanh mình đây cũng còn nhiều cái cô hồn cà chớn lắm. Họ cứ phá điều này phá điều kia mình đâu có thấy. Mình lo tu họ làm cho mình không yên. Thì những người La Sát này họ đọc câu thần chú để giữ gìn cái thần lực nó tồn tại mãi mãi. Không cho những thế lực âm binh quấy phá. Mà những cái âm binh siêu hình là điều có thật.

[1:08:53]Không không thể biết được. Mặc dù mình không chú trọng, mình không nói nhiều nhưng nó là điều có. Thì trên đường tu á, chúng ta cũng cần tha lực giúp mình vượt qua những trở ngại mà tự sức mình chưa đủ đối phó. Khi chúng ta chưa có đắc đạo, công đức mình chưa có nhiều thì không phải luôn luôn tự mình vượt qua được các trở ngại. Do đó mình vẫn cần cái sự giúp đỡ của tha lực. Nhưng cái sự giúp đỡ này chỉ là tạm thời. Mà vượt qua được cái trở ngại rồi thì mình phải nỗ lực tu tạo phước đức, nỗ lực tinh tấn tu hành để tự mình đứng vững bởi công đức của mình và còn đủ công đức để giúp đỡ những chúng sinh khác nữa.

[1:09:44]Đó là phẩm Đà La Ni ngày hôm nay chúng ta học. Phẩm này ngắn để cho chúng ta biết rằng cái sự vay mượn là không quan trọng, cái tự mình đứng lên mà đi. Thì à thầy trụ trì dặn là hôm nay thuyết pháp nghỉ sớm một chút, thì có chuyện gì đó không biết. Thầy trụ trì ơi, thưa thầy! Dạ. Coi như Diệu Hướng nói tới, hoa quả cạo ngày hôm nay hết

[1:10:16]Diệu Hướng. Dạ mời thầy Trụ Trì. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thầy giảng sư, kính thưa tất cả quý phật tử

[1:10:34]đạo tràng Bát Quan Trai và quý phật tử tham dự ngày giảng mỗi chiều rằm mồng một tại đạo tràng chùa Từ Tân.

[1:10:46]Hôm nay là cái buổi thuyết pháp và tu Bát Quan Trai cuối năm, tức là hết cái năm

[1:10:58]con Chuột chuẩn bị qua năm con Trâu. Thì

[1:11:06]trước hết là tôi xin phép được thay mặt cho tất cả các phật tử trong đạo tràng có đôi lời phụng thưa với Thầy giảng sư. Kính bạch Thầy! Đức Phật dạy: "Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn." Nghĩa là thân người khó mà được, khó được làm thân người. Mà làm được cái thân người rồi, khó mà có cơ hội để được nghe Phật pháp. Thì nhân duyên của đạo tràng chúng ta rất là lớn. Có lẽ là mình cũng đã gây tạo cái thiện duyên, kết duyên với Thầy giảng sư nhiều đời nhiều kiếp rồi. Cho nên trong cái đời kiếp này mình có cái duyên gặp được Thầy. Thầy thương mến, ưu ái các phật tử của đạo tràng ở đây. Thầy từ ở trên núi, cái núi tít xa xôi, vừa xa vừa cao.

[1:12:14]Thầy lặn lội về hạ sơn, về thành phố để mà ban bố cho các hàng phật tử chúng ta những cái lời vàng ngọc của giáo pháp mà Thầy chiêm nghiệm từ cái đỉnh núi xa xăm đó. Thì cái giờ phút này phải nói rằng là lớn, không thể nào đo lường được. Bởi vì hoa thấy được cái tác dụng của giáo pháp nó rộng rãi, nó sâu sắc như thế nào, đi đến cái biên giới nào rất là khó, khó lắm. Cho nên được gọi là vô lượng, vô biên. Thì hôm nay là cái bữa cuối năm, thì theo thông lệ của trần thế, hết năm thì có tất niên, thì chúng ta cũng là làm cái lễ tất niên.

[1:13:05]Và đã là tất niên, đã là trần thế thì phải nói đến cái ơn, nghĩa, à rồi cái đền đáp, vân vân. Thì phải nói rằng

[1:13:19]để mà đền đáp được cái ơn đức của Thầy đối với chúng ta, khó. Không biết lấy gì để đền được, rất là khó. Bởi vì đã vô lượng vô biên thì đâu có biên giới, đâu có số lượng, đâu có hình tướng, cho nên rất khó mà đền đáp.

[1:13:39]thì các Phật tử cũng như bản thân của chúng tôi thì luôn luôn lấy cái lòng thành, cái tâm thành để mà mong rằng đền đáp được phần nào đó trong cái công đức vô lượng vô biên của thầy. Để bày tỏ cái lòng thành của mình, thì cùng về mặt vật chất thì chúng con cũng có chút tịnh tài, tịnh vật gọi là tiêu biểu để dâng lên thầy với cái lòng thành của mình. Cũng mong rằng là thầy luôn luôn được mạnh khỏe. Năm cũ cũng như năm mới luôn luôn mạnh khỏe. Đại chúng luôn luôn là an hòa.

[1:14:25]Cái môi trường, hoàn cảnh nơi thầy ở luôn luôn mát mẻ, tốt đẹp. Và thầy luôn luôn là ngọn đèn để cho tất cả chúng con được noi theo.

[1:14:41]Và chúng con cũng mong mỏi rằng cái thiện duyên mà của

[1:14:48]thầy với lại của các Phật tử chúng ta, chắc chắn là cái thiện duyên đó sẽ được thầy

[1:15:03]ban bố lâu dài, bởi vì đường tu thì không phải một hai bữa là hết, tu một hai bữa không phải là có thể thành tựu được, mà có lẽ là cũng nhờ thầy dẫn dắt mãi trên con đường tu học để đạt được những cái sở nguyện mà giữa thầy và trò đều hướng đến.

[1:15:29]Và mặc dù là chưa tới Tết, nhưng mà chúng con cũng chúc là năm mới thầy sẽ được sức khỏe dồi dào, bởi vì thầy thường thường sức khỏe không dồi dào lắm, thuốc mãi hoài à, và luôn luôn thực hiện được cái hạnh nguyện độ sinh của mình một cách viên mãn. Và ngày mùng sáu Tết đầu năm thì chúng con cũng sẽ mạo muội lên

[1:16:11]lên núi để viếng thăm thầy cũng như viếng thăm đại chúng, thì mong thầy nhận nơi đây cái tấm lòng thành của Phật tử và của chúng con ở trong bổn tự. Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.

[1:16:34]Có ai hỏi gì không? Kính bạch thầy, trong thế gian á thì người ta vẫn thường ca tụng, không những ca tụng lòng mẹ mà cũng vẫn ca tụng đến tình cha, cụ thể như câu hát đã hát rằng: "Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra." Nhưng mà thực tế trong cuộc sống á, cũng như trong những ngày lễ hội của các tôn giáo, mà cụ thể nhất là đạo Phật chúng ta á thì có ngày lễ Vu Lan để nói lên cái tình... Vậy thì tại sao cái công cha như núi Thái Sơn, một cái sự to lớn đến như vậy, nhưng mà chẳng mấy khi được nhắc nhở, cũng ngay trong thi ca cũng chẳng bao giờ nhắc nhở nữa. Vậy thì bạch thầy, vậy là tại sao?

[1:17:23]Ở đời nó có một cái quy luật của tâm lý mà cũng là của chân lý. Có một lần như thầy dẫn câu nói của Goethe, của nhà thơ Đức á, ông này là nhà thơ vĩ đại của Đức giống như mình có Nguyễn Du vậy đó, ông nói rằng: "Đứng trước một bộ óc vĩ đại, tôi cúi đầu. Nhưng đứng trước một trái tim vĩ đại, tôi quỳ xuống." Nghĩa là sao? Nghĩa là đối với một người mà có cái tài á thì ông khâm phục nên ông cúi đầu, nhưng với cái người mà có cái trái tim vĩ đại á, tức là người có cái tình thương yêu rộng lớn á thì ông ông sao? Ông bị khuất phục hoàn toàn, ông cảm thấy mình chìm luôn trước cái con người đó, chứ không phải là cái khâm phục như với người

[1:18:13]có tài nữa, mà là một cái sự tôn kính trọn vẹn. Cho nên chúng ta thấy cái sức mạnh của trái tim. Có một lần thầy nói chuyện với Ngọc Mai thầy có nhắc cái điều đó, thầy nói đến với đạo cũng vậy, là bước đầu á chúng ta dùng cái lý trí để hiểu biết, nhưng rồi chúng ta thực hiện được đạo là bằng sức mạnh của trái tim. Chúng ta hiểu được đúng đường rồi, thì chính cái trái tim nó thúc đẩy, cái sự thiết tha, cái quyết tâm nó thúc đẩy chúng ta làm được nhiều công đức, nó thúc đẩy chúng ta chịu cực chịu khổ, giữ gìn giới hạnh, vượt qua những điều nghịch cảnh ngang trái, nhẫn nhục, và nó thúc đẩy chúng ta ngồi thiền lặng lẽ từ giờ này sang giờ kia.

[1:18:57]Thì chính cái sức mạnh mà giúp chúng ta làm được việc này việc kia là sức mạnh của trái tim, mặc dù nó được lý trí soi sáng. Nên chúng ta thấy cái trái tim nó có sức mạnh hơn là cái khối óc. Đó là cái quy luật tự nhiên trước. Rồi nơi hình ảnh người cha, người mẹ cũng vậy. Nơi người cha đó là biểu tượng cho cho lý trí, nên người cha đó không có mang không có hoài thai, không có mang đứa con trong bụng mình, chỉ cung cấp cho một giọt máu thôi. Còn người mẹ mang cái đứa con trong bụng mình, rồi khi sinh ra đó, do cái cơ cấu của tâm sinh lý, cái người mẹ nặng tình hơn người cha. Người cha thương con mà thương trên cái lý trí

[1:19:41]là thương cho roi cho vọt á, phải làm sao nghiêm khắc để cho con mình nên người. Nhưng người mẹ thì thương con một cách nó hơi mù quáng, chỉ thương là thương, lúc nào cũng sợ con mình đau, con mình bệnh, mà nhiều khi không dám cho con mình một chút chịu đựng, một sự rèn luyện, một sự khó khăn. Cái thương của cha, thương của mẹ nó cũng khác nhau. Mà cái chuyện này cũng đừng có thái quá, thái quá thì dĩ nhiên nó không hay, nhưng mà trên mức độ trung bình á, khi cái người con mà nghĩ lại cái mái ấm gia đình của mình thì vẫn bị thổn thức, vẫn bị xúc động bởi cái tình thương của người mẹ. Vì trái tim mà, trái tim nó có cái sức mạnh.

[1:20:21]Vẫn nghĩ đến những giờ phút mà mình bị lầm lỗi, mẹ giấu cha để không cho cha đánh đòn mình. Nghĩ đến những giờ phút mà mình bệnh hoạn, mẹ săn sóc từng miếng thuốc thang, thay miếng quần, miếng áo, đút từng miếng cháo, miếng cơm. Những cái hình ảnh của cái tình thương yêu á nó vẫn làm mình thổn thức trái tim, vẫn ghi sâu đậm vào lòng mình. Còn ví dụ người cha thương con thì nhiều khi vẫn không có những cái săn sóc cẩn thận, tế nhị, nhỏ nhặt như là người mẹ. Cho nên mặc dù cha thì cũng làm lụng cực khổ để nuôi con nuôi cái, nhưng mà những cái săn sóc biểu lộ tình thương yêu từng chút từng chút không bằng người mẹ.

[1:21:04]Mà như chúng ta đã biết cái trái tim nó có cái sức mạnh hơn là cái khối óc. Nên vì vậy là khi mà nghĩ lại mái ấm gia đình, chúng ta vẫn bị chinh phục bởi trái tim của mẹ mình hơn là cái sáng suốt của người cha. Và dựa vào quy luật đó, nhiều cái nhà tâm lý học đã khuyên chúng ta một câu này, đó là khi mà bạn muốn thuyết phục ai thì hãy thuyết phục trái tim của người đó.

[1:21:34]Nghĩa là sao? Nghĩa là đứng trên lý đó mình đừng có dùng cái lý mình hay hơn để mà tranh hơn với người khác, mà hãy khéo làm sao cho người đó họ cảm động, họ được thỏa mãn tự ái, họ có tình cảm, họ có thiện cảm với mình, và họ chấp nhận cái ý kiến của mình, chứ đừng có cãi lý với họ. Họ tranh hơn mình cũng tranh hơn, nhiều khi là họ biết họ sai, mình đúng á họ vẫn không thèm chấp nhận ý của mình vì tự ái. Còn nếu mà mình đã chiếm được tình cảm của họ rồi thì nhiều khi mình hơi vô lý một chút là họ vẫn nghe. Đó là một sự thật của cuộc đời là trái tim nó có sức mạnh hơn lý trí. Và cũng vì lý do đó mà cái sự thương yêu

[1:22:23]mềm mỏng, bao dung, dịu dàng của người mẹ cuối cùng vẫn chinh phục được trái tim của từng con người trong chúng ta là như vậy. Thầy còn nhớ hồi đó là cũng sắp sửa giải phóng á, giải phóng Sài Gòn, thì lúc đó đêm 30 tháng 4 là giải phóng, thì những đêm 28, 29 thì nghe trên đài phát thanh á hát cái bài về ơn cha. Trong đó thầy nhớ có cái câu gì... ơn cha, cái e nhạc cũng hay lắm, hay như là cái bài Lòng Mẹ vậy đó, nhưng nó có cái câu là: "Ngoài tuy nghiêm khắc mà trong thương mến", có cái bài đó, thầy chỉ nhớ được câu đó.

[1:23:07]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Giờ con xin hỏi Thầy một vấn đề như sau: Con bạch Thầy á là cái đạo Phật chúng ta

[1:23:20]á, từ ngàn xưa đến nay, trong truyền giáo thì chưa bao giờ gây làm cho ai đổ một giọt máu. Vậy trong trường hợp như Phật giáo chúng ta mà gần gũi nhất là trong lịch sử ở năm 1963 á,

[1:23:36]khi mà Phật giáo bị chính quyền Sài Gòn á áp đảo, mà hàng ngàn tăng ni, phật tử phải nằm xuống để bảo vệ cho tôn giáo. Vậy những người nằm xuống, nghiệp được phân tích như thế nào bạch Thầy? Với trường hợp thứ hai á là con thấy có những cái thôn xã mà khi lũ lụt mà phải cuốn trôi đến ấp này xã nọ, chết hàng ngàn người, hoặc là như ở Nhật qua hai quả bom nguyên tử, vậy thì hàng ngàn người chết đó thì nghiệp sẽ được phân tích như thế nào bạch Thầy? Cái trường hợp thứ nhất mà nói về cuộc đấu tranh năm 1963 thì Thầy xin phép không trả lời. Thầy không muốn có ý kiến gì về những vấn đề đấu tranh đó hết,

[1:24:28]vì cái sự phán xét về nó thì phải 100 năm sau người ta nhìn lại mới chính xác. Còn mình hiện nay mình nói đều dễ rơi vào thiên kiến và dễ bị đánh giá, bị hiểu lầm và dễ bị lôi vào cái vòng chính trị, cho nên Thầy từ chối không nói về cái điều đó, thông cảm cho Thầy. Còn những trường hợp mà tai nạn nó xảy đến khiến cho nhiều người bị thiệt mạng, thì dĩ nhiên trước hết chúng ta nói đây là cái nghiệp chung. Những người này có cái nhân gì đó khiến cho họ chịu chung một cái tai nạn. Thì trong trường hợp này chúng ta đừng nghĩ rằng ngày xưa họ gieo chung một cái nhân và ngày nay họ chịu chung một cái quả, không hẳn như vậy.

[1:25:15]Có khi là họ cùng gieo chung một cái nhân, nhưng có khi là họ gieo những cái nhân ở những chỗ khác nhau, nhưng mà cái quả nó giống nhau, thì cái nhân duyên khiến đưa họ đến chung một nơi để cái quả nó xảy ra cùng giống nhau như vậy. Thầy nói ví dụ như chiếc xe bị lật, nhiều người bị thương, bị chết, không phải là ngày xưa họ gieo cùng nhân đâu, mà có người gieo nhân ở đầu này, người gieo nghiệp ác ở đầu kia. Nhưng mà cái quả nó giống nhau là bị lật xe, nên khiến nhân duyên khiến đưa đẩy họ leo lên chung một chiếc xe để rồi chiếc xe nó bị lật. Đó. Những cái nghiệp mà nó cộng nghiệp như vậy đó thì nó cũng báo một cái điềm không lành cho cái đất nước đó.

[1:26:02]Mà nó có nhiều cái điềm không lành là do cái đạo đức tổng quát của cái đất nước nó yếu. Cái thứ hai nữa là cái người lãnh đạo phải xem lại cái đạo đức của mình. Cho nên người ngày xưa đó, đây là chuyện thời xưa, mỗi khi trong đất nước mà có cái vùng nào hạn hán đó thì cái ông vua thường hay trách lỗi mình, và thường ăn chay, nằm đất bảy ngày bảy đêm để sám hối, rồi lập đàn cầu nguyện, tự nhận lỗi về mình rồi cầu nguyện cho trời được mưa thuận gió hòa. Đó là họ cũng hiểu nhân quả đó. Vì giữa cái người lãnh đạo đất nước với cái số phận của đất nước trong giai đoạn đó nó có cái liên hệ hữu cơ, liên hệ hữu cơ.

[1:26:46]Cho nên ở đây, như Thầy viết trong cuốn luận về nhân quả về cái bài mà Vua và Đất Nước á, thì nếu cái người lãnh đạo đất nước làm sao cho người dân được tăng trưởng đạo đức thì cái đất nước đó sẽ hưng thịnh, chứ còn không một cái kế hoạch, một cái sách lược nào có thể thành công được nếu người dân không có đạo đức. Ở đây Thầy không có bàn xa, bàn sâu, chúng ta chỉ hiểu rằng là những cái phước chung của đất nước hay những cái tai họa chung của đất nước nó gắn liền giữa cái nghiệp của người dân và cái đạo đức của người lãnh tụ. Đó, nó là như vậy. Chúng con xin Thầy dạy rõ cho chúng con biết cái ý nghĩa của việc xuất gia, tiện nhân dịp này để chúng con hiểu rõ hơn.

[1:27:40]Thường cái nghĩa xuất gia thông thường trên cái hình thức là mình từ bỏ cái gia đình, xuất gia nghĩa là đi khỏi nhà đó, là mình từ bỏ gia đình để trở thành một người tu sĩ không còn có gia đình, mà lấy đại chúng, lấy huynh đệ, lớn hơn là lấy tất cả chúng sinh làm gia đình.

[1:28:10]Có một số tôn giáo thì không có cái cơ chế tu sĩ xuất gia, và một số tôn giáo thì có.

[1:28:19]Như là đạo Hồi thì không có cái cơ chế mà tu sĩ xuất gia, những người đó họ cũng có gia đình, có vợ có con, và họ cũng có những cái chức sắc gì đó trong cái ngôi đền. Trong những ngày lễ họ tới họ làm cái việc đạo, bình thường họ vẫn sống với gia đình của họ. Hoặc như đạo Cao Đài, hay là đạo Hòa Hảo cũng là một tôn giáo có nhiều tín đồ, nhưng mà những cái vị chức sắc á, ngoài tín đồ bình thường thì không nói, mà những vị chức sắc cũng là những người có đời sống gia đình bình thường, đó. Còn như đạo Phật hay là đạo Thiên Chúa, số đạo khác nhỏ hơn như đạo Ấn Độ, Bà-la-môn đến giai đoạn họ xuất gia thì cũng có cơ chế xuất gia.

[1:29:11]Hoặc là đạo Lão, có khi những người mà họ tu luyện họ cũng từ bỏ gia đình, họ lên núi sống trong những cái đạo viện của họ, cũng có cái cơ chế tu sĩ xuất gia. Bây giờ mình nói tới cái cơ chế của đạo Phật, mà tại sao Đức Phật phải đặt ra cái cơ chế xuất gia, cơ chế tu sĩ? Là bởi vì giáo lý của đạo Phật có một cái yêu cầu, một cái mục tiêu quá lớn lao, mục đích mà giải thoát vượt khỏi luân hồi sinh tử, một cái mục đích mà người ta phải tập luyện cái lòng từ bi, thương yêu tất cả chúng sinh. Cho nên vì cái mục đích của đạo Phật quá lớn, cho nên thấy rằng với đời sống mà tại gia cư sĩ nhiều ràng buộc thì con người khó thực hiện được cái mục tiêu đó.

[1:30:06]Cho nên Đức Phật mới đặt ra cái cơ chế xuất gia, người ta phải thoát khỏi mọi sự ràng buộc của gia đình để mà dành cả cuộc đời cho cái con đường đi tới cái mục tiêu đó. Vì vậy chúng ta thấy cái việc xuất gia nó không phải là một việc trở thành một con người nhàn nhã, tức là chán đời, bỏ quên chuyện đời để mà cầu an, an phận cho cái kiếp người của mình. Không còn là như vậy nữa. Và như vậy, người ta xuất gia để người ta rảnh việc gia đình và làm cái việc khó khăn hơn, trọng đại hơn. Cho nên người nào cứ nghĩ rằng một người thất tình hay chán đời hay bên ngoài không thành công rồi mới tìm về dưới mái chùa là một ý nghĩ không hiểu đạo.

[1:31:00]Chúng ta phải hiểu rằng người ta xuất gia, tránh sự ràng buộc để làm cái việc bận rộn hơn, khó khăn hơn. Đó là như vậy. Mà một cái việc gọi là bận rộn hơn, khó khăn hơn đó, nhìn bên ngoài thì rất là thầm lặng, nhẹ nhàng. Ví dụ như những thời tụng kinh, những buổi tọa thiền, những lúc sám hối hoặc là những công quả quanh quẩn trong chùa, thoạt nhìn thì thấy nó như một cái gì nó yên ổn, thanh bình, nhẹ nhàng, nhưng với một người mà đã từng kinh nghiệm tu hành thì sẽ thấy những điều đó không dễ dàng. Vì sao không dễ dàng? Bởi vì chiến thắng chính mình là một điều khó khăn nhất. Một người ở ngoài đời người ta có thể bươn chải,

[1:31:49]kiếm sống, làm giàu, tranh giành địa vị, đạt được những cái công danh cao hơn, thắng hết người này, thắng tới người kia để mình thành công trên đường đời. Cái chiến thắng đó tất cả những thánh nhân xưa nay đều nói rằng đều là những dễ dàng. Còn một người không quay ra để đi tìm cái chiến thắng đó mà quay vào để chiến thắng với những cái tật xấu của chính mình thì đó là điều khó khăn nhất. Ví dụ như mình có tánh hay buồn giận, ai nói gì mình động chút xíu thế là mình ghim gút, giận hờn mà không giải thích được thì cái đó, cái tật đó mình thấy chiến thắng nó không phải dễ. Nhiều khi được người nhắc nhở, la rầy ngày này qua ngày kia chứ vẫn chứng nào tật đó.

[1:32:41]Vậy mà cái người đó có thể ra bên ngoài làm được những việc thành công ai cũng kính nể, nhưng với cái tật xấu của chính mình thì không vượt qua nổi. Hoặc là một người có cái tật ích kỷ là thấy thầy không thương mình mà sao thương người khác thì cái đó cũng không vượt qua nổi, không phải dễ vượt qua nổi. Hoặc là một người mà có cái tánh cố chấp cái ý kiến của mình, muốn rằng ai cũng phải theo cái ý mình, cái điều mình đưa ra người khác phải tuân theo, cái điều đó không dễ vượt qua nổi. Hoặc là những người có cái tánh hay sân là đụng chuyện gì cũng dễ nổi nóng, mà muốn nạt nộ người này, nạt nộ người kia

[1:33:21]thì cái điều đó thầy có la 100 lần cũng y nguyên. Hoặc là một người có cái tính tham, hễ thấy tiền, thấy bạc là muốn vơ vào cho mình thật nhiều. Cái điều như vậy không phải một ngày một bữa có thể gột rửa được. Cho nên chúng ta thấy đó là những cái nhẹ thôi, những cái nhỏ thôi mà lại đã khó, huống hồ là chúng ta phải nhập định, phải vượt khỏi cái bản ngã của mình từ muôn kiếp, phải xóa tan vô minh của mình từ bao nhiêu đời thì điều này nó không phải dễ. Cho nên thấy người ta làm một việc rất là nhẹ nhàng, thầm lặng, tụng bài kinh, ngồi một buổi thiền, rồi trong đời sống hằng ngày họ cứ thầm thầm,

[1:34:01]lặng lặng, nhưng đâu biết rằng họ vất vả để chiến đấu với cái sai lầm của mình từ bao nhiêu kiếp còn lại. Cho nên điều đó rất là khó. Rồi từ cái xuất gia hình thức đó, để họ đạt được cái xuất gia của nội tâm. Tức là xuất phiền não gia, vượt khỏi những cái phiền não. Nhờ cái hình thức xuất gia này, mà họ âm thầm mỗi ngày mỗi tháng họ chiến đấu với cái phiền não của mình, để vượt khỏi những cái phiền não. Mà các vị gọi là xuất phiền não gia, ra khỏi cái nhà phiền não. Nhờ ra khỏi cái nhà phiền não, đó tâm họ được thanh tịnh, họ nhiếp vào định sâu nữa sâu nữa, để họ hoàn toàn ra khỏi ba cõi, ra khỏi luân hồi.

[1:34:48]Mà các vị thánh gọi là xuất tam giới gia, ra khỏi cái nhà ba cõi này. Ba cõi là gì? Là Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Dục giới, tức là người ta còn những cái tham dục thô như cõi súc sinh, cõi người và một số cõi trời thấp. Còn Sắc giới là những cõi trời đã thanh cao, là cõi trời dành cho những vị đã tu luyện rất là có công phu rất là đắc lực, như những vị tiên rồi đó vân vân, đó là cõi Sắc giới. Và sâu hơn nữa là cái cõi Vô sắc giới, là những vị mà chỉ thuần an trú trong định, không còn hình tướng nữa. Họ chỉ còn một cái tâm định, phủ trùm cả một cái không gian vũ trụ bao la. Nhưng mà đứng yên đó, nó chưa hoàn toàn đạt được

[1:35:39]cái cứu kính giải thoát tự tại của đạo Phật. Cho nên cũng còn là trong luân hồi, trong tam giới. Thì đến cái chỗ đó, mới thật sự là đạt được cái mục tiêu của người xuất gia. Từ cái lúc mình xuất cái thế tục gia, ra khỏi cái nhà thế tục, trở thành cái người tu sĩ. Cho đến khi mình xuất khỏi phiền não gia, ra khỏi những cái phiền não lặt vặt, hơn thua ganh tị oán hờn thù hận của người đời. Cho đến khi nhiếp vào định đi hết con đường tâm của mình, để mà xuất cái tam giới gia, ra khỏi cái nhà ba cõi. Thì ở đây là một người giải thoát, trở thành một vị A-la-hán, một vị Phật, một vị Bồ-tát. Từ đây tự tại đi ra vào sinh tử để hóa độ chúng sinh.

[1:36:26]Đó, đó là cái ý nghĩa xuất gia. Đó, cái ý nghĩa nó cao đẹp, nó xa xôi, nó mênh mông, nó rất là dài và khó thực hiện. Đó là ý nghĩa xuất gia mà bước đầu người có thể ngộ nhận là trốn cuộc đời để làm một việc nhàn nhã. Chứ sự thật từ đây, họ bắt đầu một cái nẻo đường đầy chông gai, khó khăn, vất vả, với cái hạnh nguyện lớn lao, với cái lý tưởng rực rỡ mà người đời nhìn vào khó có thể thấy được. Tuy nhiên nói lý thuyết là như vậy, chứ trên thực hành cũng rất nhiều cái vấp váp. Cái sơ tâm ban đầu thì nhiều người phát tâm lớn, nhưng nhiều khi do trên bước đường tu hành không có kết quả, rồi năm tháng trôi qua bắt đầu họ có cái lờn.

[1:37:16]Nghĩa là cái tinh tấn ban đầu, cái phát tâm dõng mãnh ban đầu nó bị chùng lại. Nếu không có thầy bạn tốt để nhắc nhở thì lâu ngày họ trở thành một người chỉ còn hình thức thôi, mà tâm đã chạy ra bên ngoài thế tục. Nên đây là một điểm mà phải cảnh giác, người tu nào cũng phải cảnh giác chỗ này. Mỗi một ngày mà mình không tinh tấn, thì một ngày đó mình đã xa dần với đạo. Tuy còn hình thức, mà cái tâm đã không còn nữa. Cho nên phải hết sức cố gắng kể từ cái sơ tâm,