Transcript: Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm - Kinh Kim Cang 09

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:28:10

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:36]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:47]Mời quý Phật tử an tọa, ngồi xuống.

[1:02]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta nghe bài Kim Cang lần thứ chín. Chúng ta nghe tiếp cái đoạn hôm trước là Phật cáo Tu Bồ Đề: "Ư ý vân hà? Như Lai tích tại Nhiên Đăng Phật sở, ư pháp hữu sở đắc phủ?", là Phật hỏi Tu Bồ Đề: "Ý ông như thế nào? Ngày xưa tại pháp hội của Phật Nhiên Đăng, Như Lai có chứng được cái gì chăng?". Thì Ngài Tu Bồ Đề trả lời là: "Phất dã, Thế Tôn. Không hề, bạch Thế Tôn. Tại pháp hội của Phật Nhiên Đăng ngày xưa, Như Lai thật không chứng pháp gì cả". Đây là cái đoạn là Phật không chứng gì hết. Thì bởi vì cái trong kinh Kim Cang nói nhiều khi chúng ta nghe nó giống như

[1:45]ngược với sự thật, nên đoạn này cũng là một đoạn ngược với sự thật. Tại vì theo truyện tích mà Phật kể lại thì lúc mà Đức Phật tiền thân còn làm vị Bồ Tát tên là Thiện Huệ, thì hôm đó là nơi pháp hội của Phật Nhiên Đăng, thì Ngài cũng có mặt. Lần đó Phật Nhiên Đăng cũng đi giáo hóa và vào thời xa xưa thì mọi điều cũng còn đơn sơ, vật chất thì cũng còn ít ỏi. Lúc đó Phật đi bằng chân không, đi trên đất và có một lần giẫm qua cái bùn, thì Bồ Tát Thiện Huệ mới lấy thân mình nằm xuống làm cái cầu trên đất bùn liền để cho Phật Nhiên Đăng giẫm trên thân mình đi qua cho không có bị lấm. Thì khi mà Bồ Tát Thiện Huệ làm điều đó thì Phật Nhiên Đăng có thọ ký. Thọ ký là:

[2:35]"Sau này vào cái đời vị lai ở cõi Ta Bà uế trược, ông sẽ làm một vị Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni". Thường thường á, đây là điều rất là lạ là có nhiều vị được Phật thọ ký thì thọ ký sẽ làm Phật vào một cái hành tinh, một cái thế giới rất là đẹp. Cái hành tinh đó là non xanh nước biếc, đất không có bùn mà vàng ngọc thì nhiều để làm vị Phật rất là vinh quang. Nhưng riêng Phật Thích Ca là sẽ làm Phật nơi một cái cõi uế trược là cái cõi Ta Bà, nhiều cái điều nó không có đẹp, không thuận lợi. Mà vì sao như vậy? Ở đây nó ứng vào cái điềm vì lúc đó là Bồ Tát Thiện Huệ đó ngả thân mình xuống bùn để làm cái chỗ đạp cho Phật bước qua, đi qua.

[3:18]Cho nên cái mà dấn thân vào bùn nó hiện ra liền, hai cái nhân quả liền, làm cái điềm báo tương lai liền là đây là một con người mà dám dấn thân vào trong cái chỗ xấu, chỗ ác. Đây là người không có sợ hãi, con người dám dấn thân. Và cái điềm nó cũng báo là cái nơi dấn thân vào là một nơi không có đẹp đẽ gì hết. Mà đúng là cái nhân quả hiện ra thì Đức Phật lần lần đi tới đi lui rồi cái thành Phật nơi cái hành tinh của chúng ta. Một cái hành tinh mà đến ngày nay đúng là không ai dám công nhận là tốt đẹp, phải không? Bây giờ chúng ta nghe miền Trung vừa mới lụt lội, rồi dự báo ngoài miền Bắc thì sắp động đất.

[3:52]Động đất mà tới tám độ Richter thì sập nhà, sập cửa hết, khủng khiếp lắm chứ không phải đơn giản đâu. Rồi khắp nơi trên thế giới cái chiến tranh giết chóc liên miên hết, đầy cái hận thù, tang tóc, ghen ghét. Đúng là cái hành tinh của chúng ta là cái cõi xấu uế. Và Đức Phật là người vì ngày xưa dấn thân nằm xuống bùn, cái nó hiện cái điềm ra liền. Là cái người này sẽ vào nơi cái cõi xấu để làm Phật. Thì cái điềm là như vậy, mà tuy nhiên chúng ta phải hiểu là thế này, cái việc mà không phải là vì Bồ Tát Thiện Huệ chỉ đơn giản là nằm xuống bùn rồi cái được thọ ký sẽ thành Phật. Nó không có đơn giản chỉ là như vậy,

[4:27]mà vì lý do nữa là lúc đó trong nội tâm của Bồ Tát Thiện Huệ là đã chứng đạo, phải có chứng nội tâm thì mới được thọ ký sẽ thành Phật. Nên câu chuyện đó là một câu chuyện được Phật kể, chuyện có thật. Đó là chuyện có thật ai cũng biết, ai cũng biết là cái nguyên nhân mà Phật Thích Ca là thành Phật nó bắt nguồn từ xa xưa, rất là xa xưa trong nhiều kiếp. Cái chuyện đó được kể trong kinh điển và ai cũng biết chắc nó là nhân, là quả. Vậy mà trong kinh Kim Cang lật ngược vấn đề lại, lại hỏi lại. Chuyện đó là có Phật kể rõ ràng, mà tự nhiên Phật lại hỏi Tu Bồ Đề là ngày xưa ngài có được cái gì không?

[5:02]Tức là có được thọ ký gì không? Tức là kể lại tích Phật Nhiên Đăng là có được thọ ký gì không? Thì lần này ngài Tu Bồ Đề trả lời đúng cái ý Phật là Phật không đắc được cái gì hết, không được thọ ký điều gì hết. Thì đây nó giống như là ngược với sự thật. Mà kinh Kim Cang hay nói những vấn đề mà làm giống như ngược với sự thật, nhưng mà nó lại rất là thật. Ngược với sự thật à? Ví dụ như hôm trước tới giờ chúng ta vẫn nói với nhau, một trong những phương tiện của kinh Kim Cang là xem như không mà những cái nó thật có chứ không phải là không, nhưng mà phải xem nó như không để giữ được cái đạo đức của mình. Nhớ không?

[5:37]Tức là yếu chỉ kinh Kim Cang mà chúng ta nghe từ suốt tới giờ là một cái có thật, không phải là không, nhưng mà biết xem nó như không để giữ được đạo đức của mình. Bởi vì nếu mà mình coi nó là có thì mình mất đạo đức. Yếu chỉ kinh Kim Cang nằm chỗ đó. Thì để hiểu được cái đoạn mà ngày xưa Phật Thích Ca đã từng được thọ ký nơi cái pháp hội của Phật Nhiên Đăng, mà bây giờ lại nói là không, thì chúng ta nghĩ như thế này, ví dụ bây giờ mình tới chùa mình công quả, mình cúng dường, mình hộ trì quý thầy, rồi mình giúp đỡ cho huynh đệ tu. Là ví dụ mình có được cái duyên thuận tiện ở gia đình là gia đình ủng hộ, cái mình chia sẻ được nhiều thời gian đến chùa hơn

[6:15]là thay vì là làm ít, cho nên có công lao lớn, có cái đóng góp nhiều, rồi thầy trụ trì khen, thầy trụ trì nói là: "À con là một Phật tử thuần thành, tinh tấn, sau này con sẽ được phước lớn". Thì cái câu thầy trụ trì nói có sai không? Không, thấy không? Tại vì rõ ràng đây là một người mà thầy trụ trì thấy thường xuyên có mặt ở chùa, làm những việc chính đáng, công quả nhiều, nặng nhọc và dấn thân, đối với huynh đệ thì thương yêu, lo lắng, giúp đỡ, đối với việc Phật sự thì không tiếc công, tiếc sức. Là như vậy nên nhiều năm, nhiều tháng chứng tỏ cái tấm lòng mình nó sắt son, vững vàng, gặp nhiều thử thách mà không lay động.

[6:51]Ví dụ đôi khi là bị huynh đệ hiểu lầm, nói xấu mà lòng vẫn vững, không buồn, không giận, vẫn tiếp tục là đến lo việc cho chùa. Thì qua nhiều thử thách như vậy, lòng vững như vậy rồi thì trụ trì cũng khen: "À con là một Phật tử thuần thành, tinh tấn, sau này con sẽ được phước lớn". Thì sau khi ông thầy trụ trì nói câu đó thì người Phật tử trả lời là sao? Dạ con rất cám ơn thầy. Cám ơn cái lời khen đó nhưng rồi sau đó thì quên liền, bỏ liền, bỏ câu đó liền, không giữ lại trong tâm nữa. Đó là bản lĩnh của một người tu hành theo như Kim Cang. Vì sao vậy? Bởi vì phải xem như không, vì nếu giữ cái lời khen

[7:26]đó trong tâm mình thì điều gì sẽ xuất hiện? Điều gì? Tâm kiêu mạn xuất hiện liền. Ở đây rất là lạ. Nên vì vậy đối với những cái điều mà được khen là phải quên liền, phải bỏ liền, cũng giống như là Bồ Tát Thiện Huệ vậy. Vì nếu mà ngày xưa lúc mà Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Bồ Tát Thiện Huệ nói: "Vào đời vị lai con sẽ vào nơi một cái cõi uế trược để làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni", mà lúc đó nếu Bồ Tát Thiện Huệ mừng rỡ, ghi khắc nhớ trong tâm, tưởng tượng thì vĩnh viễn không bao giờ thành Phật nữa. Cho nên đây là một điều rất là lạ, mà lại cũng rất là thực trong cuộc sống này. Nghĩa là ví dụ như mình gặp đứa bé cái mình thấy nó thông minh,

[8:06]sáng láng, lanh lợi, dòm tướng rồi thấy vẻ nó để ý thuốc men, mình mới nói: "Ồ, con sau này thấy tướng con giỏi, chắc nửa lớn con làm bác sĩ á". Thì nếu con bé đó nó quên mất á thì hy vọng lớn lên nó học bác sĩ được. Mà nếu nó cứ nhớ câu đó hoài, nó đi đâu nó cũng nói với người ta: "Tao nửa lớn tao làm bác sĩ nha mày". Nói lên thì nửa lớn tự nhiên nó mất, không học được nữa. Thế là tự nhiên trôi dạt đi đâu mất luôn. Nghĩa là khi mà mình được khen cho một cái quả báo vị lai mà mình chấp, mình tưởng tượng, mình nắm giữ, mình vui sướng, mình tự hào về cái quả báo vị lai đó, nó chưa tới nhưng mà mình cứ mừng rỡ, vui mừng, tự hào về nó thì nó sẽ mất luôn.

[8:44]Đó là nguyên tắc, đó là nhân quả. Cho nên trong Kim Cang cái đoạn này nhắc chúng ta một chút xíu nữa. Trước giờ là nhắc mình nhiều khía cạnh lắm rồi, nhiều cái phải xem như không lắm rồi. Thì hôm nay nhắc chúng ta phải xem như không một cái là khi chúng ta gieo được nhân lành thì quả lành nó phải tới, nói theo nhân quả. Cái quả lành đó có khi là được báo trước. Đó, bởi vì đôi khi có những vị họ đủ sức thấy trước nhân quả, thấy trước vị lai. Thì một vị nào đó thấy trước cái nhân quả, biết trước quả báo, báo cho mình biết thì mình phải lẹ làng sao? Phải làm sao? Quên liền, phải xem như không liền, chứ không có được giữ lại trong tâm.

[9:21]Nên cái đoạn của kinh Kim Cang này là nhắc chúng ta điều này. Ví dụ như một người làm được rất nhiều việc từ thiện, rồi một lúc nào đó cái có người thấy mới khen, à nói: "Chị đi làm phước nhiều quá, chắc là chết chắc chị lên cõi trời". Nếu mình cười, mình cám ơn, vui rồi quên liền thì mai mốt lên cõi trời thiệt. Nhưng mà nếu để trong tâm, bắt đầu ngồi tưởng tượng: "Mai mốt mình lên cõi trời chắc mình đẹp lắm á ta, to lắm, mình muốn gì được nấy, mình bay đâu cũng được". Cái mình dòm xuống mình thấy mấy cái người này thiệt là nghèo khổ, tệ á. Thế là ngồi mà tưởng tượng cái quả báo thì mai mốt lên không?

[9:53]Không, không lên, mốt lên lầu là hết mức à. Đó, trong cái đoạn này là nhắc chúng ta đó. Nên trong cái chuyện mà 33 vị tổ, cái truyền tích về 33 vị tổ cũng chỉ là một giai thoại, nhưng có một cái đoạn này rất là đúng với nhân quả, là trường hợp như là có một vị tổ tên là La-dạc-đa đó đến gặp ngài Vasubandhu. Sau khi mà dạy đạo, qua nhiều thử thách mà thấy cái ngài Vasubandhu này lòng bất động, vẫn nhu thuận nghe lời thầy mình một cách nghiêm túc, thì ngài Tổ La-dạc-đa mới hỏi: "Là làm sao mà con có thể được khiêm hạ, nhu thuận như vậy?". Thì ngài Vasubandhu mới nói thế này, nói là: "Thưa thầy, bởi vì con nhớ vào kiếp xưa",

[10:34]tức là đời đó đắc đạo hết á, "con nhớ vào kiếp xưa con sinh vào một cái thế giới đó, thì con được thầy của con tên là Nguyệt Tịnh thọ ký rằng con sắp sửa chứng quả", chứng quả Tư-đà-hàm vậy á, "thì con nghe có vị Bồ Tát Đại Quang Minh nên con đến viếng. Khi con đến viếng, khi trở về thì thầy con quở là cái quả báo mà ta thọ ký cho ông đã mất rồi, không còn nữa. Hỏi tại sao, bởi vì ông lúc đến thăm Bồ Tát Đại Quang Minh, ông để cây gậy dựa vào cái mặt Phật trên vách tường, nên tổn phước, tức là không có cái tôn kính Phật, bị tổn phước cho nên cái quả báo chứng đạo mất." Mà ở đây là chúng ta không có biết hết,

[11:13]thật ra đó ví dụ cái việc mà mình không tôn kính thánh tượng là một cái duyên, một cái nhân thật sự, nhưng mà có khi trước đó, khi mà được thầy thọ ký chứng đạo, có khi là ngài đã để trong tâm, đã để cái lời thọ ký đó dính trong tâm mình, cho nên nó kết hợp để nó tìm cách phá đứt luôn cái quả báo. Cho nên vì vậy là nhân quả là tuyệt đối đúng, không bao giờ sai chạy, điều đó luôn luôn đúng. Nhưng mà trong cái đạo đức thì có những cái quả báo lành chúng ta không bao giờ được để ý tới, không bao giờ được để ý tới, phải quên luôn và xem như không luôn, dù có được ai báo trước hoặc dù tự mình có suy luận ra cũng không được để trong tâm mình.

[11:52]Nhưng quả báo dữ thì sao? Quả báo dữ thì sao? Thì ngược lại, là lúc nào cũng phải canh cánh coi chừng, lo, phải nhớ, không được quên. Ví dụ thế này, ví dụ có một cái người nào đó họ gặp mình họ nói là: "Hồi trước ngươi làm gì?". Cái ngồi mỉm mỉm lại nói: "Hồi trẻ con hay có cái phá phách". "Nói phá phách làm sao?". "Là cứ đi theo đèn đường đó lấy ná bắn cho bể bóng đèn đường chơi". Thì người kia mới thọ ký cho mình là: "Như vậy ba năm sau con sẽ được một quả báo là đui mắt". Thì phải nhớ không? Lúc phải nhớ không được quên! Lúc phải lo sám hối rồi tìm cách mà thắp đèn lại những nơi công cộng, giúp cho người ta thấy được ánh sáng, thì để mình chuyển cái nghiệp của mình.

[12:29]Chứ lúc đó người ta nói câu đó đúng nhân đúng quả, mình không được quên. Đối với cái quả báo dữ thì phải cảnh giác, phải răn nhắc, phải sám hối, phải chuyển hóa, nhớ như vậy, phải chuyển hóa cái nghiệp xấu của mình. Bởi vì trên con đường đi đến giải thoát, thành tựu Phật đạo là chúng ta phải tích lũy công đức đến vô tận, nên cái gì mà làm tổn công đức là phải thay đổi liền. Cho nên một cái nghiệp xấu có quả báo xấu là chúng ta phải chuyển hóa cho mất liền chứ không được để dài. Còn cái quả báo lành mà có biết trước thì phải quên liền. Bởi vì sao? Bởi vì để cái quả báo lành trong tâm mình thì công đức mình mất luôn.

[13:04]Cho nên cái đoạn này là chúng ta phải biết quên cái quả báo lành dù mình đã gây được rất nhiều nhân tốt. Cái đoạn kế tiếp có nói câu này, là: "Tu-bồ-đề, ư ý vân hà, Bồ Tát trang nghiêm Phật độ phủ?". Này Tu-bồ-đề, ý ông thế nào, Bồ Tát có làm trang nghiêm cõi Phật chăng? Thì cũng vậy, ngài Tu-bồ-đề trả lời: "Ưng ý Phật..." là: "Không hề, bạch Thế Tôn. Vì sao? Vì làm trang nghiêm cõi Phật cũng tức là không làm trang nghiêm gì cả, ấy gọi là làm trang nghiêm cõi Phật". Cái câu trong Kinh Kim Cang thì trắc léo như vậy. Trong các công hạnh của Bồ Tát có một cái công hạnh là làm trang nghiêm cõi Phật.

[13:42]Nghĩa là làm sao? Nghĩa là thế này, đây là một cái công hạnh bắt buộc của Bồ Tát phải có đó. Tức là một vị Bồ Tát á, thường phải đi qua nhiều cái thời gian, đi qua nhiều kiếp và thường là nhiều lần gặp được Phật. Có những khi mà Phật xuất hiện để thành Phật nơi này nơi kia, thì một vị Bồ Tát thường nhiều lần đã đến dự những pháp hội đó. Là khi vị Phật đã vào Niết Bàn rồi thì vị Bồ Tát đó vẫn tiếp tục tồn tại là đi giáo hóa chúng sinh, rồi tiếp tục hầu những vị Phật khác mà có một công hạnh bắt buộc là làm trang nghiêm cõi Phật. Trang nghiêm cõi Phật là cái từ ngày xưa, cái từ bây giờ là thế này, nghĩa là trợ duyên để cho Phật giáo hóa.

[14:19]Nà cái nghĩa là trợ duyên để cho Phật giáo hóa. Bởi vì một vị Phật mà xuất hiện á, thì các ngài lúc nào cũng giữ cái oai nghi tế hạnh nghiêm trang, tuyệt đối không có một cái chút gì sơ sẩy. Và vô số những điều lành khác là dành cho những Bồ Tát để làm, là tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho Phật giáo hóa, đó là việc làm của Bồ Tát. Chứ Đức Phật không có chạy đôn chạy đáo mà để kêu gọi, lo lắng để mọi người đến nghe pháp. Thì đây là một cái công hạnh mà chúng ta có thể nói giống như một vở kịch được dàn dựng, nhưng mà do cái tâm nguyện của các vị Bồ Tát. Ví dụ như Phật Thích Ca cũng vậy, khi mà ngài xuất hiện thì

[14:58]ngài đi tới đi lui ung dung tự tại, mà những cái việc đem đến tín đồ, tổ chức đạo tràng thì toàn là do những đệ tử không. Vì những vị vua chúa như là vua Ba-tư-nặc, như nhiều khi như vua A-xà-thế, vua Bình-sa-vương, như ông Cấp Cô Độc, vân vân, chúng ta có thể gọi họ như là những vị Bồ Tát mà xuất hiện đồng thời với Phật để trợ duyên cho Phật giáo hóa được thuận lợi. Rồi các vị đại đệ tử của Phật cũng vậy, ngài Xá-lợi-phất lo lãnh đạo đại chúng, ngài Mục-kiền-liên phải giữ nền nếp của đại chúng, rồi ngài Ưu-ba-ly, rồi ngài Phú-lâu-na, ngài Đại Ca-diếp, vân vân, mỗi vị một hạnh như vậy để hỗ trợ, tạo thành một cái đạo tràng lớn lao,

[15:38]vững mạnh, đầy đủ sắc thái, viên mãn mọi vấn đề để cho Phật giáo hóa được thuận lợi, mà đó là cái công hạnh bắt buộc. Cho nên là khi một vị Phật mà xuất hiện thì nhiều vị Bồ Tát xuất hiện theo để phụ giúp, và đó là công việc rất là quan trọng. Cũng giống như bây giờ cũng vậy, ví dụ như là quý thầy có lo giảng pháp, nhưng không phải là một mình quý thầy mà lo xuể, thì phải rất nhiều người chung quanh quý thầy là những người xuất gia đệ tử nè, hoặc là những cư sĩ tại gia thuần thành, cũng mỗi người đều góp một tay để làm sao cho công việc giáo hóa của quý thầy được mở mang, được rộng lớn, chứ một mình quý thầy không làm được việc.

[16:15]Là ví dụ như một ông thầy giảng thì có người rủ Phật tử đi nghe, rủ bạn bè mình đi nghe để làm cho cái pháp hội nó được đông, được vui, được long trọng; rồi có người lo máy móc; rồi có người lo thâu lại băng; rồi có người lo cái việc sắp bàn, sắp ghế, lo nước, lo nôi đó, nghĩa là tạo thành mọi điều kiện tốt để thành một buổi giảng long trọng, để hộ trì trước buổi giảng, trong buổi giảng và sau buổi giảng, là giáo pháp được tiếp tục được lan tỏa. Thì những cái việc đó gọi là trợ duyên cho quý thầy giáo hóa, mà nếu nói theo cái từ ngày xưa tức là trang nghiêm cõi, trang nghiêm cõi Phật, đó. Bây giờ thì quý thầy thì không phải Phật thì mình gọi trang

[16:52]nghiêm cõi cõi thầy, cõi chùa, trang nghiêm chùa. Đại khái là như vậy. Mà công đức ủng hộ cho cái sự giáo hóa của Phật rất là lớn. Vì sao vậy? Bởi vì khi mình trợ duyên cho Phật giáo hóa thì cái nhân quả đưa đến là chính mình về sau sẽ thành, sẽ thành Phật, là như vậy. Ví dụ ngày nay cũng vậy, quý thầy lo việc giáo hóa chúng sinh, rồi quý Phật tử cũng góp tay phụ với quý thầy để cho việc giáo hóa được viên mãn, thì kiếp sau mình sẽ sẽ thành, sẽ thành... thành gì? Thành thầy! Còn chữ nữa, thầy gì? Thầy, thầy chùa. Thì phải suy nghĩ kỹ nha, phải suy nghĩ kỹ nhắm có chịu đi tu hay không nha. Khi mà mình trợ duyên để cho chúng sinh biết đến Phật pháp,

[17:42]chúng sinh có cái lòng tôn kính với Đức Phật, chúng sinh được học hỏi giáo pháp, thì mình đang gây cái nhân để mình biến thành thánh, đó là cái nhân quả như vậy. Tuy nhiên, như hồi đoạn nãy chúng ta nói á, cái quả báo lành tới thì mình phải làm sao? Quên, phải quên, đó là quên cái quả. Nhưng cái đoạn mà cái câu này nói nè, là ngày xưa Bồ Tát có thấy mình có trang nghiêm cõi Phật hay không? Thì ngài Tu-bồ-đề trả lời là: "Không". Trang nghiêm cõi Phật là nhân hay quả? Nhân hay quả? Nhân! Hồi nãy đó thì cảnh giác nhắc chúng ta quên cái quả, bây giờ nhắc chúng ta quên luôn cái... cái nhân luôn. Nhưng mà cái nhân từ Kinh Kim Cang tới bây giờ nói rất

[18:20]nhiều, nhưng ở đây nói tới một cái loại nhân lành đặc biệt, một công hạnh đặc biệt, đó là trợ duyên cho một vị thánh giáo hóa, ví dụ như Đức Phật. Rồi ví dụ mình không gặp Phật, mình gặp những người ở dưới Phật, những vị thánh, những vị hiền, những vị chân tu, những vị minh sư gì đó không biết, mà làm được lợi ích chúng sinh, rồi mình cũng trợ duyên cho các vị đó hoạt động Phật sự, giáo hóa chúng sinh, thì công đức cũng rất là lớn. Nơi công đức sẽ lớn. Mà về cái công đức lớn ở tương lai, quả báo lành tương lai thì Phật đã nhắc rằng mình phải phải quên, bây giờ phải quên luôn cái nhân. Những bài kinh trước á, những đoạn kinh trước thì nói chúng ta

[18:57]quên cái việc độ chúng sinh, đó cũng là những công hạnh lành; và bây giờ lần này thì quên luôn cái việc mà mình trợ duyên cho những vị thánh giáo hóa, quên luôn. Là vì sao vậy? Bởi vì nếu làm được việc lành mà mình chấp công thì thì sao? Thì kiêu mạn sẽ sẽ xuất hiện. Bởi vậy, nói tới nói lui Kinh Kim Cang là đánh vào cái bất thiện nào trong tâm? Kinh Kim Cang á. Kiêu mạn là chính, nhớ như vậy. Nghĩa là toàn bộ Kinh Kim Cang từ đầu tới cuối cứ coi cái này không, cái kia không, cái này không, cái kia không, mục đích để làm gì? Để ngăn chặn cái tâm tâm kiêu mạn là chính. Toàn bộ Kinh Kim Cang đều nằm xoáy vào chỗ đó hết.

[19:35]Cho nên mình hiểu được chỗ này là mình cũng hiểu được yếu chỉ của Kim Cang á, chứ không phải không đâu. Yếu chỉ Kim Cang thì tới mấy cái ý lận, mấy ý chính, nhưng mà trong đó có một ý chính rất quan trọng là ngăn ngừa, diệt trừ cái tâm kiêu mạn. Mà tại sao toàn bộ Kinh Kim Cang cứ phải chú ý vào điểm đấy hoài? Cái gì phải xem như không để diệt trừ ngăn ngừa tâm kiêu mạn? Là vì sao? Bởi vì thật sự có một cái điều khủng khiếp là tâm kiêu mạn của chúng sinh, cái tâm đó thật là khó diệt trừ, vô cùng khó diệt trừ. Nhất là sao? Nhất là đối với những hàng mà đã phát tâm tu tập, biết làm nhiều điều thiện, phước lớn,

[20:14]quả báo lành tới ào ào, thì rất khó tránh khỏi cái kiêu mạn xuất hiện. Cho nên, là một vị mà muốn đặt chân vào con đường Bồ Tát đạo thật sự thì cái lo nhất vẫn là cái tâm kiêu mạn của mình. Đó là điều rất là đáng lo. Nên ở đây, ví dụ như mình là một người tầm thường, à mình chưa có tạo gì được phước nhiều, mình cũng không có giàu có gì lắm, rồi mình đến chùa mình học đạo, mình làm phước thì mình chưa kiêu mạn đâu. Cho nên khi nghe cái đoạn kinh Kim Cang này mình chưa có thấm, chưa có thấy nhức nhối. Nhưng mà nếu mình là người siêng một kiếp này làm phước, cái qua kiếp sau trở lại thân người thì mình sinh vào nhà giàu liền.

[20:53]Lớn lên chút xíu gặp Phật pháp liền, bắt đầu biết ủng hộ đạo, làm vô số điều lành tiếp tục, rồi chết đi qua một kiếp sau nữa lên cõi trời liền. Lên cõi trời rồi hưởng phước cõi trời mà trên đó tiếp tục tu hành, rồi phát nguyện sinh xuống đây. Sinh xuống đây làm một vĩ nhân, làm vô số điều phước để làm lợi ích cho chúng sinh, nghĩa là cái vinh quang đến ào ào, ai cũng sùng kính, ai cũng ngưỡng mộ, là muốn gì được nấy, thì lúc đó mới chết á, chết là chết lúc đó. Lúc đó tâm kiêu mạn rất dễ phát khởi. Rồi sao? Rồi sau đó thì từ từ công đức tổn dần tổn dần, mình bắt đầu mình coi thường người khác, mình nói những lời hớ hênh, rồi dần dần phước tổn

[21:30]dần, cái cơ hội để làm phước không còn nữa. Lúc đó quên cái việc làm phước, mà cũng không có chuyện phước tới tay mình để mình làm, vì cái phước đã tổn rồi. Cái kiêu mạn đó đã khởi lên nó chặn rồi, rồi cái hưởng, hưởng mà không làm được nhiều cái lui dần, lui dần, lui dần. Rồi đến chừng 10 kiếp sau bắt đầu vô chùa Tân ngồi một góc cho hó trở lại nữa, ngồi nghe Pháp lại từ đầu, làm lại từ đầu nữa, mất hết á. Đó, có nhiều người ngồi đây coi chừng hồi xưa cũng đã vinh quang đã đời do kiêu mạn rớt lại, nên ngày hôm nay Phật khiến mình phải nghe kinh Kim Cang để để sao? Để vĩnh viễn sau này nếu có lặp lại công đức,

[22:03]có đạt được mọi điều thù thắng thì không bao giờ thoái chuyển nữa. Sẽ đi tới đi tới mãi lên, mãi lên, mãi thành những vị Bồ Tát lớn luôn. Chúng ta học kinh Kim Cang là để nhiêu đó thôi, để dứt trừ cái tâm kiêu mạn mà cho công đức của chúng ta mở ra đến vô tận. Vì có kiêu mạn rồi thì cái công đức của mình nó có một cái giới hạn, nó có một cái limit, nó có một cái giới hạn ở đâu đó, đến lúc nào mình đụng tới nó rớt trở lại liền, không bao giờ lên nữa. Nhưng mà nếu mà mình nghe kinh Kim Cang để mình biết xem như không những cái nhân lành quả lành đó thế là tâm kiêu mạn được diệt trừ, cái limit đó, cái ranh đó, cái giới hạn đó nó vỡ nó mất luôn.

[22:37]Thế là công đức chúng ta cứ phát triển mãi, phát triển mãi ra tới vô tận để có thể thành một vị Bồ Tát lớn được. Đó là nhân quả mà chúng ta phải nghe kinh Kim Cang. Bởi vì kinh Kim Cang nói chuyện cho hàng Bồ Tát nên có khi chúng ta nghe chúng ta không thấm thía lắm. Tuy nhiên, cũng răn nhắc chúng ta thế này là mình chưa phải Bồ Tát, chưa làm được những công đức lớn, chưa thành tựu được những cái quả báo lớn, thế nhưng mình cũng đã có làm những điều nho nhỏ. Có không? Nào giờ có làm điều lành nho nhỏ không? Có phải không? Dù sao cũng có, thì chúng ta cũng tập theo như hạnh Bồ Tát là cũng quên luôn, quên luôn cái nhân và quên luôn cái cái quả,

[23:09]mặc dù luật nhân quả là tuyệt đối không bao giờ sai chạy. Đó, dặn chúng ta là như vậy. Nếu mình không làm được một vị Bồ Tát để trang nghiêm cõi Phật, thì mình cũng bắt chước, bắt buộc chúng ta phải làm một vị tiểu Bồ Tát để ủng hộ sự giáo hóa lẫn nhau. Tức là, nếu là một thầy tu thì mình hỗ trợ cho huynh đệ mình giáo hóa, à nếu là thầy thì mình trợ duyên cho trò giáo hóa, nếu mình là đệ tử thì mình trợ duyên cho thầy mình giáo hóa. Tức là tất cả đều ủng hộ nhau để đưa Phật pháp lên, để giúp cho chúng sinh cùng biết Phật pháp. Có khi chúng ta trợ duyên cho người khác, một vị khác một cách thấy được rõ ràng,

[23:48]có khi chúng ta trợ duyên cho người khác một cách âm thầm, tất cả đều trợ duyên và đều tốt hết. Và đều quên luôn, nhớ như vậy, cứ âm thầm trong lặng lẽ, chúng ta làm không cần ai biết. Nhưng mà ai biết? Phật luôn luôn biết điều đó, Phật luôn luôn biết. Có thể là mọi người chung quanh chúng ta không biết những điều chúng ta làm, nhưng mà Phật luôn luôn biết, chư Thiên luôn luôn biết, các vị Bồ Tát luôn luôn biết, sẽ hỗ trợ cho chúng ta âm thầm, mà còn chúng ta thì cứ phải phải quên, tức là phải xem như không. Đó, mà nhớ xem như không là để không chấp công, vì chấp công rồi thì sẽ kiêu mạn. Làm điều điều lành mà cứ kể công chấp công rồi thì

[24:25]kiêu mạn sẽ dấy khởi rồi công đức mất hết. Nên kinh Kim Cang có hai cái đặc điểm rất là rõ. Thứ nhất á là tận lực làm các công hạnh lành. Nên kinh Kim Cang là một bài kinh đại thiện nha, một bài kinh thuần thiện, kinh chí thiện, khuyến khích mình làm điều lành không tiếc thân mạng cả đời, hết kiếp này kiếp kia. Đó là cái yếu chỉ của kinh Kim Cang. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là làm hạnh lành rồi nhưng mà phải không chấp công để tránh kiêu mạn, nó như vậy. Nó hai cái ý của kinh Kim Cang rất là rõ. Thứ nhất là tận lực làm các công hạnh lành, thứ hai là không chấp công để tránh kiêu mạn. Đó yếu chỉ của kinh Kim Cang nằm gọn trong đó.

[25:06]Nên ai hỏi tu kinh Kim Cang là gì? Thì mình nói cái này không có khi không là trật lất nha, mình nói rõ ràng: Kinh Kim Cang là dạy tận lực cả đời làm những công hạnh lành và đừng chấp công để không kiêu mạn. Ai nói được câu đó là người học hết được toàn bộ kinh Kim Cang. Tuy nhiên, tại sao chúng ta phải học nguyên bộ? Bởi vì trong kinh dạy chúng ta từng chi tiết nhỏ, triển khai từng chi tiết nhỏ để chúng ta ứng dụng vào trong cuộc sống cho kỹ. Đó, chứ còn mà nếu gom lại một đại ý chỉ hai câu đó thôi là: Cả một đời tận lực làm việc lành và quên luôn không chấp công để không kiêu mạn, hết. Rồi, như vậy có thể đứng lên ra về được nếu ai hiểu được điều này.

[25:43]Ai thích về, về. Hiểu rồi, xong rồi đó. Còn nếu mà không thích về, ngồi nghe tiếp, nói tiếp, được không? Nghe ha? Nghe nữa không? Nghe ha? Rồi, nghe nói nữa. Nên ở đây, cái này là đầu kinh có hỏi câu này: Là làm thế nào để an trú tâm, hàng phục tâm? Rồi chúng ta cứ tưởng là à như vậy là cái việc mà tâm mình vọng tưởng lao xao quá, kinh Kim Cang sẽ dạy cho mình một cái phương pháp để mà làm cho mình hết vọng tưởng. Thật ra, kinh Kim Cang không dạy cái phương pháp để hàng phục vọng tưởng cho người mới tu, không có. Mà kinh Kim Cang dạy ai? Dạy cho Bồ Tát tâm đã vào định rồi. Đây là điểm khó. Nên lý do tại sao mà chúng ta học kinh Kim Cang chúng ta khó

[26:25]hiểu là chỗ này, kinh này không có dạy cho người mới tu. Nên nếu nào giờ tâm mình chưa có định, chưa có gì hết, thì kinh này không phải dạy cho mình. Cho nên chúng ta đang nghe cái bài kinh mà dạy cho người đã nhập được vào trong định, ngồi thiền bất động không vọng tưởng. Chúng ta đang nghe cái bài kinh dạy cho hạng người đó. Mà cái an trú tâm hàng phục tâm là không phải là cái tâm còn lao xao, mà là giữ được cái tâm thanh tịnh đó. Tức là khi một Bồ Tát nhập được vào trong định rồi, tâm đã hoàn toàn thanh tịnh rồi thì chưa phải xong việc, phải an trú được cái tâm đó, giữ gìn được cái tâm đó, khống chế hàng phục cái tâm đó sao cho nó ổn luôn để đi tới tận cùng của cái vô ngã.

[27:02]Thì kinh Kim Cang là dạy cái đó đó, dạy cho cái người đó đó, chứ không phải dạy cho người mà mới tu. Nên vì vậy những cái khái niệm ở trong kinh rất là cao siêu. Không nói cho hàng người mới, mà kể chuyện mà độ hết tất cả chúng sinh thành Phật, kể chuyện mà được thọ ký thành Phật phải quên, kể cái chuyện mà Bồ Tát trang nghiêm cõi Phật, vân vân. Nói toàn những chuyện cao siêu không. Thế nên kinh này không có nói cho người mới tu. Tuy nhiên, khi chúng ta hiểu được cái yếu chỉ rồi thì chúng ta vẫn có con đường để áp dụng cho cái thân phận phàm phu của mình. Bồ Tát cũng giữ cái chân lý đó: Làm được điều lành, quên công để không kiêu mạn.

[27:39]Chúng ta là phàm phu, chúng ta cũng học được chân lý đó bởi vì chân lý đó bất biến. Chân lý là làm được điều lành mà không chấp công để không kiêu mạn là bất biến. Làm người nhỏ tuổi cũng phải áp dụng, người già cũng phải áp dụng, giàu phải áp dụng, nghèo phải áp dụng, mới tu cũng phải áp dụng, tu lâu càng phải áp dụng thêm. Cho nên đây là chân lý bất biến và đó là yếu chỉ của kinh Kim Cang. Cái người mà mới tu á, ví dụ khi vào ngồi thiền thì phải có một kỹ thuật để nhiếp tâm vào trong thanh tịnh, đó gọi là cách hàng phục tâm của cái người sơ cơ. Nhưng mà với vị Bồ Tát thì không cần một cái kỹ thuật để nhiếp tâm nữa,

[28:17]bởi vì vị đó mà muốn nhập định là nhập liền, không có cần phải dụng công. Ví dụ như chúng ta có người là phải dùng cái câu niệm Phật, à chúng ta niệm Phật rồi từ từ tâm mình thanh tịnh dần, thanh tịnh dần, hoặc là có người theo dõi hơi thở rồi tâm mình thanh tịnh dần, thanh tịnh dần. Nhưng mà một vị Bồ Tát thì tâm đã vào trong định hoàn toàn. Ví dụ như là các vị đang sống trong đời sống hàng ngày á thì tâm rất thanh thản, tỉnh giác, thanh thản, rồi khi bắt chân lên ngồi kiết già nhiếp một cái vào trong định liền, đó là một vị mà đã có sở đắc. Thì kinh Kim Cang này dạy cho những vị đó đó, những vị mà ngồi thiền nhập định liền, kinh rất là cao siêu.

[28:54]Mà có một điều nữa chúng ta để ý, là tại sao có kinh Kim Cang này xuất hiện? Là bởi vì có nhiều người, có nhiều người khi mà nhập được vào trong định rồi không chịu làm gì nữa, cứ thích ở rừng ở núi, ở nơi hang cùng núi thẳm, cứ nhập định mãi để hưởng cái thiền định của mình, rồi tâm sẽ từ từ nó tan vỡ nó lui trở lại liền. Cho nên kinh Kim Cang có mặt để chữa giùm cho những vị đó. Là sao? Ví dụ nếu mà đã nhập định rồi thì phải tiếp tục lo việc giáo hóa chúng sinh, làm vô số việc lành, chứ đừng tưởng là đã nhập định được rồi thôi từ nay an nhàn, à mọi việc giao cho những người khác mình không làm gì nữa, thì như vậy tâm sẽ có ngày nó quậy tan tành trở lại,

[29:39]thế là không an trú được tâm, không hàng phục được tâm. Đây cũng là một điều bí mật của kinh Kim Cang là vì hàng Bồ Tát mà dạy. Nên chúng ta thường hay có cái cảm giác như thế này: Là cái sai đầu tiên của chúng ta đó, là khi nghe nói là bây giờ thôi bây giờ tôi tu hành, à thôi bây giờ thôi mình ở thành phố ồn ào quá ra nhà quê mua miếng vườn cất cái cóc ở tu cho thanh tịnh. Cái người đó là người hiểu lầm, người đó hiểu sai về đạo Phật. Khi mới tu thì phải lo làm phước rất nhiều, có công đức rồi mới nhiếp vào trong định được. Cho nên đây là cái sai đầu tiên mình phải bỏ. Cái sai thứ hai là khi một người đã làm được rất nhiều công đức,

[30:17]giúp đỡ vô số người được an vui, tâm mình bắt đầu được thanh tịnh, bắt đầu cái về miền quê hay lên trên núi cất một cái am vô đó ngồi tu để cho được vào định, rồi vào định luôn, vì công đức đủ rồi, vào định luôn. Vào định xong rồi cái bắt đầu có cái sai: Rồi thôi từ đây là phần mình đã làm lợi cho chúng sinh nhiều, bây giờ phần tự lợi đã xong, rồi thôi hưởng, ngồi đó thôi không đi xuống núi không làm việc nữa, không vào nơi ồn náo, không độ chúng sinh nữa. Đây là cái sai thứ hai của người đã vào vị Bồ Tát. Và kinh Kim Cang để chữa cái sai thứ hai này: Là nếu có người nào mà đã được thanh tịnh,

[30:52]tâm bất động nhập định rồi thì phải tiếp tục mà lo độ chúng sinh mới giữ được cái tâm đó. À. Cái chỗ mà một vị Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Bồ Đề làm sao an trú tâm, hàng phục tâm, tức là để giữ được cái định bất động đó, chứ đừng tưởng rằng nó còn mãi mãi với mình. Mà muốn giữ được cái định bất động đó, thì không phải là trốn chúng sinh tiếp tục ở trong am, mà quay ra độ vô số chúng sinh vào Niết Bàn. Đoạn đầu kinh có nói rõ ràng điều đó, chúng ta nhớ không? Có ai nhớ không? Hai ba người nhớ là chết rồi. Nhớ điều đó. Rồi ngoài cái việc mà độ chúng sinh, chúng ta còn biết bao nhiêu điều thiện phải làm, thì một vị mà tâm đang thanh tịnh vào trong định muốn

[31:34]giữ cái định đó, lại phải làm vô số công đức tiếp tục. Nên kinh Kim Cang là như vậy. Mà tuy làm vô số công đức, phải nhớ một điều: xem như không. Cái yếu chỉ là xem như không. Không cần lý luận, không cần nói tại sao nó không. Nhớ nha, kinh Kim Cang á không cần lý luận tại sao nó không. Là nào giờ đó chúng ta hay có cái thói quen là nói ủa sao không được, nó đang có làm sao không? Buộc mình phải chứng minh. Cho nên có nhiều cái bản kinh là chúng ta phải giải thích tại sao nó không. Ví dụ nói cái nhà này sao không, chừng giải thích lại là sao? Là do vì nó, nó duyên hợp phải không? Do kèo, cột, ờ mái, rui ráp lại nên tuy có

[32:12]ờ chỉ tạm có thôi, cho nên nó là duyên hợp, tạm có rồi nó sẽ là không. Đó là mình lý luận, mình giải thích cho cái người ưa lý luận, nhưng còn đối trong kinh Kim Cang không giải thích nha. Kinh Kim Cang không giải thích, mà chỉ bằng trí tuệ và sự can đảm, dẹp, coi như không. Cái điều tốt mình đã làm được rất nhiều cho chúng sinh, cho Phật pháp, là ngay đó không cần lý luận, phủi liền, coi như không liền. Đây cái đoạn này là như vậy. Mà muốn coi như không, hồi nãy chúng tôi vừa nói là phải dùng tới cái sự can đảm, cái dũng mãnh và trí tuệ mới coi như không được, chứ không phải ai cũng coi như không được. Lần trước chúng ta có nhắc rồi.

[32:49]Cho nên phải là những con người rất can đảm mới dám phủi sạch cái công lao của mình. Làm rất nhiều mà không kể, không chấp, không nhớ luôn trong lòng, quên luôn. Con người đó rất can đảm và rất có trí tuệ. Chứ còn bình thường, chúng ta làm điều tốt chúng ta cứ nhớ hoài vì chúng ta không gan và không trí tuệ. Cho nên để đo một cái người coi cái trí tuệ, cái đạo đức, cái sự can đảm đến mức độ nào, thử họ, rủ họ đi làm phước, rồi sau đó coi họ có nhắc lại nữa hay không. Nếu mà mình rủ họ đi làm phước rồi, mà cứ nghe lâu lâu họ nhắc lại, lâu lâu họ nhắc lại, thì biết rằng người này sao? Cái trí tuệ thấp, đạo đức thấp và cái can đảm thấp,

[33:29]không dám phủi cái điều tốt mình đã làm được. Cho nên một vị Bồ-tát mà muốn thành tựu được Phật quả là phải có cái trí tuệ, cái can đảm như thế. Là làm vô số điều lành, được vô số người ngưỡng mộ, mà nhẹ nhàng coi như mây như gió. Mà không lý luận nha, không có giải thích tại sao là không. Chứ không phải ngồi: à tại nó vô thường là không, nó duyên hợp nên nó không, không có, không có lý luận. Bằng cái sự can đảm, trí tuệ, sự dứt khoát, phủi bỏ coi như không liền. Đó là trí tuệ của Bồ-tát và đó là yếu chỉ của Kim Cang. Làm được không? Được không? Ráng nha, ráng làm. Như vậy chúng ta có hai loại an trú tâm.

[34:08]Một loại là diệt trừ vọng tưởng cho người sơ cơ như là chúng ta ở đây, chúng ta là những người sơ cơ. Dùng cái chữ "chúng ta" á là nói cho bao nhiêu người ngồi đây, số đông thôi. Chứ biết đâu trong đây có một, hai vị Bồ-tát mà nằm vùng, tâm thanh tịnh rồi thì chúng tôi xin lỗi những vị Bồ-tát đó ha, đây là mình nói cho số đông thôi. Nhiều khi có Bồ-tát giả bộ ngồi đây ngồi nghe thử coi thằng này nó giảng làm sao, được không? Đó, cái an trú tâm có hai loại. Loại thứ nhất là để diệt trừ vọng tưởng cho người sơ cơ như chúng ta. Cái loại thứ hai là diệt trừ kiết sử, kiêu mạn sâu thẳm bên trong của một vị

[34:43]hiền thánh để giúp cho vị đó vượt lên cao hơn, hai cái loại an trú tâm. Và kinh Kim Cang là dạy cho hàng thứ hai. Cho nên mình nghe chứ không dính dáng gì mình lắm đâu, không có dính gì lắm. Nhưng mà cứ nghe cho biết. Thì hôm nay chúng ta bước vào cái cửa ngõ của Phật giáo Đại thừa, cho nên chúng ta bắt đầu làm quen với những cái bài kinh cao siêu như vầy, là nói cho những vị Bồ-tát. Ờ là không đúng như cái trình độ của mình, nhưng mà chúng ta ráng chắt lọc trong giáo lý đó những điều chúng ta có thể áp dụng được, phải không? Thì ví dụ như là vị Bồ-tát làm những chuyện vĩ đại, cao siêu và không chấp công, chúng ta làm những điều nho nhỏ chúng

[35:15]ta cũng không chấp, không chấp công, cũng bắt chước được như vậy. Rồi từ từ mình sẽ làm Bồ-tát, không sao. Nếu ai không chấp công từ từ sẽ làm Bồ-tát. Giờ chúng ta bắt đầu gặp một đoạn kinh cực kỳ nổi tiếng của Kim Cang: "Thị cố, Tu-bồ-đề! Chư Bồ-tát Ma-ha-tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm." Có ai nghe câu này ngộ đạo chưa? Chưa. Đây là đoạn kinh nổi tiếng của Kim Cang, bởi vì sao? Bởi vì đoạn kinh này đã làm cho ít nhất có hai vị thiền sư xuất hiện. Vị thứ nhất là Lục tổ Huệ Năng. Nhớ không?

[35:54]Ta nhớ cái câu chuyện là lúc đó là Lục tổ sinh trong gia đình nghèo. Cha thì làm quan nhưng rồi mất sớm quá, mà quan thì cũng thanh liêm cho nên nhà nghèo. Rồi cha mất sớm, lớn lên chút xíu ngài phải đi đốn củi để nuôi mẹ. Một lần gánh củi đến nhà giao cái củi cho người nhà giàu. Đốn ở trong rừng rồi phải gánh cho tới tận nhà giàu người ta mới mua. Đời nào cũng vậy, cái người nghèo cứ bị bóc lột là vậy. Nhưng mà cái ông nhà giàu này ổng lại biết đạo Phật, ổng đang tụng kinh Kim Cang. Thì ổng có tụng cóc cóc cóc cóc gì đó không biết, nhưng mà đọc tới cái đoạn kinh là: "Này Tu-bồ-đề, chư Bồ-tát Ma-ha-tát nên làm cho tâm được thanh tịnh như thế này.

[36:30]Không nên làm cho tâm được thanh tịnh bằng cách dựa vào hình sắc. Không nên làm cho tâm được thanh tịnh bằng cách dựa vào thinh, hương, vị, xúc, pháp, mà chỉ nên làm cho tâm được thanh tịnh bằng cách không dựa vào đâu cả." Ngay câu đó ngài đốn ngộ một cái đầu tiên, ngài ngộ đạo lần đầu tiên liền. Khi ngài ngộ đạo rồi thì cái tâm ngài thanh tịnh rồi, tự nhiên ngài biết con đường phải đi. Ngài nói: "Không thể tiếp tục mà sống ở thế gian như thế này nữa, bởi vì con đường thánh mở ra rồi." Ngài dứt khoát một cái một liền, phải xuất gia, phải đi tìm đạo. Thế là ngài tâm sự với cái ông nhà giàu đó. Sẵn cũng cái duyên may ông này ổng cũng mộ đạo,

[37:03]ổng thấy có một người tự nhiên phát tâm đi tu vậy, ổng khuyến khích. Nhưng chỉ có một vấn đề khó là mẹ già, không ai nuôi, thì cái ông nhà giàu ổng hứa bảo trợ luôn. Ổng hứa bảo trợ ổng sẽ nuôi. Và thế là ngài về ngài từ giã mẹ già, quẩy gói quần áo đi lên phương Bắc, đi tìm cái người mà thường hay dạy về kinh Kim Cang, đó là ngài? Ngài Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở Huỳnh Mai. Đó là câu chuyện là như vậy. Thì phải nói là cái việc mà xuất gia của ngài Lục tổ Huệ Năng là một câu chuyện rất đẹp, hiếm có, ít có ai mà có cái dứt khoát dữ dội như vậy. Mẹ già thường không ai nỡ bỏ đi tu. Nhưng mà cũng có duyên lành là có người bảo trợ,

[37:38]nên ngài hy sinh cái đạo hiếu của thế gian là đi tìm một cái hiếu cho tất cả chúng sinh, ngài bỏ đi liền. Thì khi mà ở cái pháp hội của ngài Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, thì ngài âm thầm nuôi dưỡng cái định lực của mình, bởi vì ngộ đạo rồi thì tâm nó từ từ nó vào trong định, ngài âm thầm. Thì câu chuyện là chúng ta đã nghe kể phải không? Có một cuộc mà viết cái bài kệ đó. Một bên là bài kệ của Thần Tú, một bên bài kệ của Huệ Năng. Cuối cùng là ngài viết cái bài kệ xuất sắc cho nên được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn canh ba gọi vào trong cốc, trong thất, trong phương trượng để mà truyền trao y bát. Và cũng đọc cho ngài nghe kinh Kim Cang.

[38:13]Lúc mà truyền trao y bát thì tổ đọc bài kinh Kim Cang và cũng đọc lại đúng cái đoạn đó lại một lần nữa: "Mà chỉ nên làm cho tâm được thanh tịnh bằng cách không dựa vào đâu cả." Ngài bừng ngộ một lần cuối cùng, đại ngộ một lần cuối cùng. Thì lần đó là tổ đắp cái y lên mình ngài và bí mật trong đêm tiễn đi luôn. Thì ngày nay chúng ta đọc lại á, chúng ta nói: "Ủa sao kỳ vậy? Tại sao mà phải làm cái chuyện bí mật lén lút như vậy? Nếu mà ngài đắc đạo thì tổ cứ công khai tuyên bố là giao đồ chúng lại chứ có gì đâu phải trốn, phải tránh?" Vì chúng ta không sống trong cái hoàn cảnh đó nên chúng ta không hiểu.

[38:45]Bây giờ chúng ta dựng lại cái cảnh đó chút xíu để mình hiểu là tại sao như vậy. Cái chùa của ngài Ngũ tổ thì khoảng năm trăm chúng. Năm trăm đông không? Lòng trời ơi, năm trăm đi ra đi vô thấy đầu ai cũng trọc lóc, đông lắm phải không? Nhưng rồi trong đó, có người tu cao có người tu thấp, mà thượng thủ là ngài Thần Tú. Ngài Thần Tú lúc đó tuổi ngài bốn mươi mấy tuổi, xấp xỉ năm mươi, là một vị thượng tọa chững chạc, điềm đạm, có đức độ, tướng rất là tốt, lãnh đạo làm trưởng chúng và ai cũng nể phục. Kiến giải rất sắc, kinh điển đều hiểu uyên bác hết. Lúc đó ngài Ngũ tổ ngài khoảng sáu mươi mấy bảy mươi.

[39:20]Đệ tử kế tiếp của mình là bốn mươi mấy năm mươi, là thế hệ nối tiếp với nhau rất là vừa, phải không? Dưới đó thì có những người ngang với ngài Thần Tú cũng bốn mấy năm mươi, rồi có người ba mấy bốn mươi, có người hai mấy ba mươi, chúng đông nông nông đầy như vậy. Và trong mấy chục năm qua, dưới con mắt của mọi người thì ngài là tất cả. Có người cười chắc biết bài. Nghĩa là lúc đó là như vậy, trong đôi mắt của đại chúng thì ngài là tất cả. Còn lúc đó ngài Huệ Năng năm đó mới hai mươi, mười chín hai mươi mốt tuổi. Nghĩa là về cái mặt tuổi ngài nhỏ hơn tất cả những người trong chúng. Mà khi tuổi nhỏ thì cái tướng nó chưa có phát, nên mặt ngài gầy guộc.

[39:57]Mà lao động ở nhà bếp, ăn chay, ngài rất là ốm. Ốm mà tóc thì còn, nên không ai quan tâm. Là cái tướng thì không phát, không có đường bệ, không uy nghi, không có được đắp y tỳ-kheo mà mặc áo vàng rực, chỉ là một người mặc áo nâu sồng mà rách nữa. Thời xưa đâu có vải nhiều, mà công quả mồ hôi ra thì nó cứ từ từ nó rách thôi. Rách thì phải? Phải vá. Thì khi mình đi ngang mình nhìn một ông thượng tọa đường bệ, uy nghi, áo đẹp, bóng có ủi, không biết hồi xưa có ủi không quên, này nói thêm một câu. Một bên là cái người rách vá, trẻ nhỏ xíu à, giã gạo lốc thốc lốc thốc ở trong nhà bếp. Thì hai hình ảnh đó nó một trời một vực phải không?

[40:33]Mà nào giờ mấy chục năm mình tôn kính cái vị thượng tọa, ông sư huynh của mình, đại sư huynh của mình. Bây giờ bỗng nhiên nghe tuyên bố một cái thằng mà công quả ở nhà trù, hỉ mũi chưa sạch, bây giờ nó lên nó làm tổ kế cái ngôi tổ của hòa thượng phương trượng, không ai chịu nổi, không ai chịu nổi hết. Nhớ như vậy, chúng ta nhớ cái tâm lý đó rất là bình thường, mình không trách được. Giờ mình đọc lại mình nói: "Trời ơi sao mà các vị đó đạo đức kém đến cái nỗi mà tổ phải truyền y bát lén lút rồi tiễn đi luôn trong đêm, chứ không có dám mà công khai bởi vì sợ chúng phản đối." Mình bây giờ mình trách nói: "Trời sao chúng tệ quá vậy?

[41:04]Đạo đức kém vậy?" Nhưng mà nếu mình đặt mình vào cái khung cảnh đó, mình cũng sẽ suy nghĩ y như vậy. Và tổ biết đây là một cái điều lớn quá, không dễ mà thay đổi cái suy nghĩ của đại chúng được, cho nên ngài đành phải làm một cái việc mà rất là đau lòng là truyền y bát lén lút rồi tiễn đi mất trong đêm trốn luôn. Trốn luôn, trốn luôn cho khi nào mà mọi việc lắng dịu rồi hãy xuất hiện ra làm tổ, đem y bát ra ấn chứng cho mọi người thấy rồi lên mở đạo tràng để giáo hóa. Mà câu chuyện nó nên kể lại, có chùa miền Tây có viết hai cái câu đối bằng chữ Nho: "Thiếu Thất đình tiền, thiên trượng bạch vân hàn lập tuyết.

[41:39]Huỳnh Mai lâm lý, nhất luân minh nguyệt dạ truyền y." Hai cái câu đối bằng chữ Nho rất là hay. "Thiếu Thất đình tiền" là trước cái sân của chùa Thiếu Thất. "Thiên trượng bạch vân" là mây trắng bay cao ngàn trượng, thiên trượng bạch vân. "Hàn lập tuyết", hàn mà đến nỗi tuyết đứng, tạo nên tuyết dày. Là "Thiếu Thất đình tiền, thiên trượng bạch vân hàn lập tuyết" là trước sân của núi Thiếu Thất, mây cao ngàn trượng, lạnh đến nỗi tuyết rơi lả tả. Đó là cái cảnh mà của tổ Bồ Đề Đạt Ma với ngài Huệ Khả. Cái câu thứ hai: "Huỳnh Mai lâm lý, nhất luân minh nguyệt dạ truyền y." "Huỳnh Mai lâm lý" là trong rừng của Huỳnh Mai là nơi tổ Hoằng Nhẫn đó.

[42:16]"Nhất luân minh nguyệt", một vầng trăng sáng. "Dạ truyền y", truyền y bí mật trong đêm. Nghĩa là hai cái câu đối rất là hay: "Huỳnh Mai lâm lý, nhất luân minh nguyệt dạ truyền y" để kể lại cái tích cảm động đó và ngài đã ra đi. Đó là một vị Lục tổ. Cái vị thứ hai cũng ngộ được bằng cái câu này: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" này là? Là? Là người Việt Nam. là vua Trần Thái Tông á, là ngài Trần Cảnh á, tức là vị vua Trần đầu tiên của Việt Nam. Lúc đó, cha của ngài mất sớm nên mọi việc trong gia đình là do người chú cai quản. Người chú là Trần, Trần Thủ Độ. Thì cũng là một anh hùng của dân tộc đó, chứ không phải không.

[42:56]Trần Thủ Độ là một anh hùng dân tộc đó, chứ không phải không đâu. Tiếc là sao không thấy để tên đường. Con người rất quyết đoán, đôi khi hơi tàn nhẫn. Con người rất tàn nhẫn nhưng rất quyết đoán, và dựng nên cái sự nghiệp cho nhà Trần mà đã giúp Trần Thái Tông đánh bại quân Nguyên lần thứ nhất. Nên đó thực sự là một anh hùng của dân tộc, mà không biết sao chưa thấy đặt tên đường. Có lẽ là ngài xử sự đôi lúc hơi tàn nhẫn quá, hơi thẳng tay quá, nên sử sách còn dè dặt. Thì trong cái hàng mà anh em của ngài Trần Cảnh, Trần Thái Tông á, thì người chú Trần Thủ Độ này dòm tới dòm lui nói: Thấy có Trần Cảnh làm vua được à. Vì sao?

[43:30]Vì có đức độ, mộ đạo. Thấy còn nhỏ mà đã biết ăn chay, biết niệm Phật, biết tu hành, rất giỏi võ. Chúng ta nhớ ha, cái dòng họ Trần ngày xưa là một người nam phải đánh thắng được 50 người khác, một người nữ phải đánh thắng 10 người nha, cái dòng tôn thất của nhà Trần đó. Chứ chúng ta đọc lại mấy cái chi tiết lịch sử chúng ta quên. Chứ ngày xưa đó, những cái vua Trần như là vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông là nhảy phóc là lên nóc nhà. Ngày xưa là nội công là đánh được hết, cho nên mới dám đánh lại quân Mông Cổ. Những vị đó siêu đẳng. Một người nữ trong dòng họ Trần phải đánh thắng 10 người võ sĩ biết

[43:59]võ mới được làm con gái của dòng họ Trần, nó không phải dễ. Thì trong cái người mà vừa giỏi, vừa tài, vừa đức hiền lành mà đặc biệt là mộ đạo là Trần Cảnh. Thì Trần Cảnh rất mộ đạo, cho nên ông Trần Thủ Độ chọn tới lui ổng gạt Trần Liễu qua một bên, là người anh cả gạt bên, giao cái chức cái ngôi vua lại cho Trần Cảnh, là ông người sắp xếp. Thì Trần Cảnh một lần vì buồn cái chuyện đó, buồn cái chuyện mà ngang trái trong gia đình đã bỏ đi tu, rồi sau Quốc sư đuổi về lại đó, chúng ta nhớ chuyện đó. Thì lúc mà thanh bình, đất nước đã thắng giặc và thanh bình, thì ngài mới nghiên cứu kinh Phật. Thì một hôm ngài đọc tới lại kinh Kim Cang.

[44:33]Kinh Kim Cang thì ngài đọc đã nhiều lần, nhưng hôm đó thì ngài nghiền ngẫm, ngài thanh thản đọc lại sau nhiều ngày tháng đất nước được thanh bình. Ngồi trên ngai cao mà ngài tu hành, ngài ăn chay, ngài ngồi thiền, lần đó giở kinh Kim Cang ra đọc đọc dần dần, cũng tới cái đoạn mà ngày hôm nay chúng ta đọc lại là: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", ngài bừng ngộ luôn, trở thành một Thiền sư của dòng họ Trần đầu tiên. Sau này chúng ta có thêm một người nữa là ai? Trần Nhân Tông nữa. Trần Nhân Tông là cháu nội của Trần Thái Tông. Vua Trần Thái Tông ông mới viết nhiều tác phẩm về thiền, về đạo lắm, và cũng là một thiền sư, cư sĩ ở ngôi cao rất là xuất sắc.

[45:09]Cái đặc biệt của vua Trần Thái Tông á là vừa làm vua mà vẫn là một thiền sư xuất sắc. Không, bởi vì vào đời nhà Trần mình có nhiều vị thiền sư đắc đạo. Khi mà các vị thiền sư gặp vua đối đáp thì vua Trần Thái Tông không hề thua kém các vị thiền sư. Tức là các vị kia xuất gia, chuyên tu, đắc đạo, vào cung vua thì biết bao nhiêu là vị. Vậy mà cái kiến giải tu hành vua Trần Thái Tông không hề thua các thiền sư, mặc dù là bận việc nước rất là nhiều. Cho nên đây cũng là một điều hãnh diện cho chúng ta, một cái điều rất là lạ. Thay vì người ta bỏ ngai vua để đi tu đắc đạo, ngài ngồi trên ngai vua ngài đắc đạo.

[45:43]Tức là đánh thắng giặc Mông Cổ, giữ cho đất nước yên bình, rồi tu hành đắc đạo trên ngai vua. Sau khi đắc đạo xong, rồi ngài làm việc một thời gian bắt đầu giao lại cho con, giao lại ngôi vua cho con là Trần Thánh Tông, ngài lên làm Thái Thượng hoàng với tính cách là cố vấn, đó, mình nhớ như vậy. Khi mà đọc tới câu này chúng ta nhớ hai người như vậy. Thì hôm nay mình đọc câu này nãy giờ có ai ngộ đạo chưa? Có ai ngộ đạo nữa thì mình bắt đầu mình được gọi là người thứ thứ ba. Nhưng mà sự thật á chúng ta thấy, sở dĩ mà chúng ta nghe không ngộ là vì thế này. Là vì cái căn cơ chúng ta chưa thuần thục, phải không?

[46:18]Thứ hai là phước mình chưa đủ lớn. Cho nên phải khi nào mà phước mình đủ lớn á, tới làm vua mà đâu có đơn giản, phước đâu có nhỏ, phước phải đủ lớn, mà cái sự tu hành thuần thục, thấm sâu trong thiền định thì chúng ta nghe câu này có thể chúng ta ngộ đạo. Thôi hẹn kỳ sau ráng tu. Thì bây giờ muốn hiểu cái đoạn kinh này đó, chúng ta phải hiểu cái thế nào là đừng có dựa vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Cái câu kinh á thì nói nghe như vậy nhưng sự thực cái nghĩa nó lớn hơn. Sắc là gì? Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là lục trần. Lục trần là ngoại cảnh. Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là sáu loại ngoại cảnh bên ngoài.

[46:56]Trong đạo Phật có chia ra làm 18 giới, tức là ba phần thế này. Mà không hiểu tại sao ngày xưa Phật chia được, thiệt là hay á, chứ thời đó khoa học đâu có tiến bộ đâu. Ví dụ như là đối với cái cảnh sắc là có ba phần ha, là cái mà chúng ta nhìn thấy được là là cảnh sắc ở bên ngoài. Nhưng mà để nhìn được thì phải bằng cái gì? Bằng con mắt, phải không? Gọi là nhãn căn. Nhãn căn để thấy được cái sắc trần bên ngoài. Sắc trần được thấy bởi nhãn căn. Nhưng mà nếu không có cái bộ não phía trong gọi là nhãn thức thì chúng ta vẫn không thấy, vẫn không thấy. Giống như có người con mắt còn tốt mà bị té đập hư cái

[47:31]thần kinh thị giác, người đó không thấy đường. Có không? Có, á như vậy đó. Cho nên ngày xưa là Đức Phật đã chia rõ ràng nó làm ba, mà phù hợp với khoa học bây giờ. Mình không hiểu cái trí của Phật sao nữa, thiệt nể thiệt, nể vô cùng. Là muốn thấy, thứ nhất là phải có ba yếu tố cho đủ mới tạo thành cái thấy: Một là có cái ngoại cảnh, hai là có cái nhãn căn và ba là có cái nhãn thức. Ba cái đó hợp thành cái thấy, chứ cái thấy tự nó không có tự thể. Nó giống như cái nhà, không có thật cái nhà, rã kèo rã cột ra không có cái nhà. Cũng vậy, nói cái thấy, không có cái thấy. Sự thật là duyên hợp giữa ba cái điều đó lại:

[48:07]Ở bên trong là nhãn thức, tiếp nối con mắt là nhãn căn, ở ngoài là sắc trần, ba cái. Hay như vậy, thời xưa Phật đã thấy rồi. Mà ngài Long Thọ trong cái cuốn mà Trung Quán Luận, ngài cũng nói như vậy. Ngài nói cái thấy, cái nghe nó không có tự thể, mà hợp bởi ba điều đó mới có. Chẻ phá mất một cái thì cái thấy, cái nghe không còn nữa. Thì đó là cái thấy. Bây giờ tới cái nghe là âm thanh cũng vậy. Phải có cái tiếng động bên ngoài rồi có cái cái tai chúng ta là nhĩ căn, tức là phải có cái thinh trần bên ngoài, có cái nhĩ căn là tai và có cái thần kinh thính giác. Có thần kinh thính giác mới nghe được.

[48:42]Còn nếu cái thần kinh thính giác hư thì bây giờ mặc dù cái tai mình, màng nhĩ còn mình vẫn không nghe được tiếng. Đó là như vậy, nhưng có ba cái. Rồi cái hương, vị, xúc cũng giống như vậy. Hương là cái mùi để chúng ta dùng mũi ngửi. Xúc là cái, tiếng Việt nó không có, nhưng đại khái là cái mà mình phải rờ mình mới biết. Mình sẽ rờ biết nó cứng hay mềm, nó nóng, lạnh, cứng, mềm, nóng, lạnh gì đó, ướt hay là khô, hay là nhám hay trơn. Đại khái là như vậy, đại khái là như vậy. Mà rờ mình có thể biết được vật liệu, như những người mù họ rờ họ biết cái tờ tiền đó là bao nhiêu tiền nha, hay thiệt á. Nhưng đại khái như vậy là xúc.

[49:17]Xúc trần thì mình có cái da, mình có cái xúc giác. Nhưng mà có cái khó nhất là cái pháp trần. Pháp trần. Pháp trần là một cái ngoại cảnh, nếu năm cái trước là ngoại cảnh cụ thể thì pháp trần là ngoại cảnh trừu tượng. Có những cái mình không rờ, không nghe, không thấy được nhưng mà nó là cái bên ngoài. Ví dụ thế này, ví dụ như là hạnh phúc, nó là một cái trừu tượng chứ không phải cụ thể. Nè, ví dụ mình nói là: "Ờ thấy cô đó, cổ hạnh phúc." Con mắt mình, tai mình, mình có rờ được hạnh phúc của người đó không? Không. Nhưng làm sao mình biết rằng người đó có hạnh phúc? Là bởi vì kết hợp nhiều cái:

[49:53]Thấy cổ cười, ánh mắt cổ tươi, cổ nói chuyện vui vẻ, cổ đi đứng đồ này nọ, đại khái là kết hợp nhiều cái. Rồi cổ mặc đồ đẹp, làm sao đó cái thái độ mình kết hợp cả mắt, tai, mũi, lưỡi mình mới biết được cái cô đó là vui. Đồng thời phải có cái sự suy luận ở trong đầu mình nữa, gọi là ý thức. À, cho nên muốn biết pháp trần, muốn biết cái ngoại cảnh trừu tượng á là ở ngoài cái cảnh là mình phải tổng hợp nhiều giác quan, phải vừa nghe vừa thấy, và ở trong mình phải có cái ý thức suy luận tổng hợp lại, mình mới biết được cái ngoại cảnh trừu tượng. Chứ còn ngoại cảnh cụ thể thì mình rờ cái mình biết liền, mình nhìn cái mình biết liền. Hoặc là ví dụ mình nói là:

[50:31]"Nơi người đó có cái lòng nhân hậu hay thương người." Thì cái đó làm sao mình rờ được, phải không? Nó không phải cụ thể, nó là trừu tượng. Nhưng mình kết hợp được nhiều cái hành động người đó rồi cái ý thức của mình suy luận, cái mình kết luận: "À, người này có nhân hậu." Hoặc ví dụ mình nói như: "Đất nước thanh bình." Cái đất nước thanh bình đó làm sao mình rờ? Không phải. Mình phải kết hợp nhiều thứ, phải không? À là nghe có tiếng cười, không có chiến tranh giặc giã, người dân họ sung sướng, kết hợp nhiều cái với ý thức suy luận rồi mình kết hợp đây là đất nước thanh bình. Rồi thanh bình là cái trừu tượng.

[51:02]Cho nên ngoại cảnh có hai loại: Là cụ thể và trừu tượng. Cụ thể là những cái mình dùng năm giác quan mình biết liền, nhưng còn cái trừu tượng thì phải suy luận thêm mới biết, phải tổng hợp giác quan và suy luận thêm. Đồng ý chưa? Đồng ý phải không? Dễ hiểu ha, đó là cái pháp trần là như vậy. Thì ở đây, dù cụ thể hay trừu tượng, nó vẫn là vẫn là ngoại cảnh. Thì đừng dựa, đừng bám, đừng chấp, đừng giữ, buông ra hết thì tâm mình sẽ thanh tịnh. Nhưng mà tại sao phải dặn câu này? Thì chúng ta nghe nói vậy chúng hơi ngạc nhiên, vì chúng ta nghĩ rằng cái người tâm đã vào định rồi thì đâu có chấp giữ ngoại cảnh.

[51:38]Nhưng mà không phải, Điều này Phật mới biết, thực sự cái người vào định vẫn có một chỗ để chấp giữ, một cái gì đó chấp giữ bí mật trong tâm. Là cái chỗ này, là cái người tâm định rồi mà vẫn còn có một chút nắm giữ. Chúng ta kể ra một chút nha. Ví dụ như có người khi ngồi thiền họ cắm một cây nhang lên họ nhìn, thì tâm họ do chăm chú nhìn cây nhang rồi bắt đầu tâm họ thanh tịnh từ từ từ từ, nhưng mà vẫn còn dựa vào... sắc. Đó, dựa vào sắc, dựa vào một cái hình sắc để nhìn. Hoặc là có người không thắp cây nhang mà vẽ cái chữ Án. Chữ Án theo Mật Tông đó. Thắp cái đèn ở phía sau chữ Án đó cho nó sáng chữ

[52:13]Án đó lên và mắt cứ ngồi nhìn cái chữ Án đó. Tức là họ khoét, họ lấy miếng các-tông to vậy đó, cái họ khoét thành cái chữ Án theo cái chữ Phạn á. Đằng sau cái miếng các-tông đó họ để một cái đèn. Thế là đằng trước mà ngồi nhìn vậy thấy cái chữ Án nó sáng lên, phải không? Miếng các-tông chung quanh thì tối hết, trong cái phòng tối hết, nhưng mà chỉ cái chữ Án đó nó hiện ra ánh sáng. Họ cứ chăm chú họ nhìn. Vì như vậy là là sắc. Vẫn dựa vào cái sắc để định tâm. Đây là vẫn còn một chỗ bám, một chỗ chấp, một chỗ trụ, một chỗ dựa. Như vậy. Hoặc có người là khi ngồi thiền á thì thích lắng nghe tiếng chuông.

[52:47]Làm gì cũng không thanh tịnh hết á, muốn định là phải có người gióng đại hồng chung. Boong! Rồi tiếng chuông nó kéo dài nó ngân nga ngân nga. Cứ lắng nghe từ lúc cái tiếng chuông nó vang lên lớn, rồi cái tiếng ngân nó nhỏ dần, nó rung rung rung rung trong không khí, nó vang xa vang xa nó rung rung rung rung từ từ tắt dần tắt dần. Rồi gõ tiếng nữa. Thì nhờ cái lắng nghe tiếng chuông vậy mà tâm được yên ổn, thì đó vẫn là một cái cái thinh trần, vẫn là một chỗ, một chỗ dựa, một chỗ trụ, một chỗ chấp, một chỗ bám. Như vậy. Hoặc là có người vi tế nắm giữ cái tâm định. Ví dụ như khi tâm mình thanh tịnh rồi thì có một cái tâm bí mật ở trong

[53:22]an trụ đó nắm giữ, giữ cái tâm định đó lại, vẫn là chấp vào tâm. À! Cái định của mình vẫn là một chỗ để mình nắm giữ và vẫn là kẹt. Vì như vậy vẫn là hai tâm. Có một cái tâm thanh tịnh và có một cái tâm giữ cái tâm đó. Thành thử vẫn là hai tâm nên gọi là bị kẹt, vẫn còn bị chấp, bị trụ, bị dựa. Là như vậy. Hoặc là có người ngồi thiền nhưng mà trong vi tế cái tâm mình nó mong có thần thông. Tâm ngồi được thanh tịnh rồi đó, nhưng mà lúc nào cũng chờ chờ để coi chừng nào mình có phép mình bay, chờ chờ coi chừng nào mình dòm người ta cái mình biết kiếp trước kiếp sau người ta mình nói cho người ta sợ chơi. Ví dụ vậy.

[53:54]Thì trong tâm nó cứ ngầm ngầm, nó cứ chờ đợi cái thần thông xuất hiện thì cái đó vẫn gọi là một chỗ trụ, một chỗ bám, một chỗ chấp, một chỗ dựa mà Phật khuyến khích mình phải buông luôn. Hoặc là có người ngồi tâm được thanh tịnh, nhưng mà trong tâm lúc nào cũng mong á mình ngồi thiền thanh tịnh vậy để chết mình về cõi Trời hay về cõi Phật. Vẫn là một cái mong muốn vi tế, thì không ngờ cái mong muốn vi tế đó, kể cả về cõi Phật, vẫn là một cái mà Kinh Kim Cang nói là một chỗ, một chỗ trụ, một chỗ dựa, một chỗ bám, một chỗ chấp. Đó, Kinh Kim Cang khủng khiếp như vậy. Hoặc là khi mình ngồi thiền, ngồi thiền thì tinh tấn siêng

[54:28]lắm á, nhưng mà sự thật trong tâm mình hơn thua người ta. Thấy ông kia ổng ngồi được 3 ngày, mình ngồi hoài chưa được, ráng ngồi 3 ngày thi đua chơi. Thì ráng tinh tấn nhưng mà sự thật trong tâm nó có một cái điểm là hơn thua với ai, cũng là một chỗ chấp, một chỗ bám, một chỗ dựa, một chỗ trụ. Gì nữa? Hoặc là có người sau ba bốn cái thất, không phải là ba bốn cái thất, mà là thất bại, thất nghiệp, thất học, thất tình, thất thu, đại khái vậy đó, nên chán quá vô ngồi thiền, kiếm chỗ ngồi thiền luôn. Nhưng mà ngồi thiền vì có một cái cái chán, chán đời trỏng, cho nên vẫn là một chỗ, chỗ dựa, chỗ bám, chỗ chấp.

[55:02]Cho nên mình phải buông luôn. Dù mình có thất thiệt thì ngày nay thôi bỏ, không thèm chán đời nữa, mà tu vì cái khác chứ không phải là vì thất, vì chán mà tu. Ở đây nói có đụng chạm ai không ta? Nãy giờ kể mấy cái thất đó ra không biết có đụng chạm ai? Nếu mà có đụng chạm ai thì xin cho tại hạ thứ lỗi. Hoặc là có người ngồi thiền á trong tâm ngầm ngầm là muốn làm thầy thiên hạ. Nói mình ngồi nữa mình đắc đạo ha, mình làm thiền sư ngon, ai gặp mình cũng phải lạy. Ví dụ vậy. Thì cái tham vọng ngấm ngầm ngấm ngầm ở trong nó vẫn là một chỗ chỗ chấp, phải buông đi, không có được như vậy. Nó có nhiều cái chỗ trụ bí mật ở bên trong, một cái bận tâm bí mật ở bên trong.

[55:40]Nó tồn tại song song với định mà hành giả không thấy được. Thấy mình ngồi tu đàng hoàng thanh tịnh không nhúc nhích nha, ngồi bất động không nhúc nhích, bên ngoài đâu có thấy, mà đâu có ngờ rằng thầm lặng bí mật bên trong mình đang có một chỗ bám. Chỗ này mà nếu không buông được thì mình không đắc đạo được, tâm mình không được an trú, không được thanh tịnh. Đây là bí mật mà mình khó thấy lắm. Nhưng hôm nay mình ngồi mình kể ra một loạt như vậy lỡ đụng ai một cái thì hi vọng người đó gỡ bỏ ra được. Chứ còn có những cái mà nãy giờ mình không liệt kê ra thì không biết buông thì dính luôn suốt đời, mình không hàng phục được tâm mình, rất là tiếc.

[56:15]Mà Phật đã dạy là: "Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm", là phải làm cho tâm được thanh tịnh bằng cách không dựa vào đâu cả. Là như vậy. Mà chúng ta thấy như lần trước chúng ta nói á, chứng đến cái quả cao siêu là A-na-hàm mà vẫn còn chỗ dựa là bí mật bám giữ vào cái định của mình. Tới A-na-hàm còn bị mà, nên chúng ta là chắc chắn có bị. Nhưng mà không biết thì thôi, bữa nay mình đã biết thì thôi mình vừa tu mà vừa ráng buông hết những chỗ bám đó ra. Là như vậy, ha. Mà nguyên nhân tại sao có cái sự nắm giữ đó, có cái sự bám chấp đó? Là vì sao? Là bởi vì chính nhờ cái phương tiện đó mà mình tu, nhờ cái phương tiện đó mà mình vào định, cho nên mình sẽ chấp nó.

[56:56]Ví dụ như là vì mình muốn hơn thua với ai cái mình tinh tấn mình tu, vì cái đó mình tu nên chính vì cái đó mình chấp luôn, nó tồn tại nằm trong tâm mình luôn. Thấy không? Hoặc là nhờ cái phương tiện đó mà mình vào định, ví dụ như là mình niệm Phật, mình niệm Phật cho nên mình vào được định, cái mình sẽ chấp cái câu niệm Phật đó luôn. Hoặc là mình quán tưởng rồi mình được vào định, rồi mình sẽ chấp cái quán tưởng đó luôn. Chính cái phương tiện nào đã giúp cho mình tiến thì cũng chính cái phương tiện đó làm cho mình mình chấp. Nguyên nhân nó nằm ở chỗ đó, vậy. Hoặc là một cái phương tiện nào mà làm cho mình thành

[57:28]công thì cái phương tiện đó cũng làm cho mình chấp. Ví dụ như là mình đẹp trai, khéo ăn khéo nói, đi đâu người ta cũng thương, thế tự nhiên đi xin việc làm dễ dàng rồi người ta cứ đề bạt mình lên dần dần, cái lúc nào trong tâm mình luôn luôn có cái tự hào mình đẹp trai. Mặc dù ai khen mình, nói: "Trời ơi sao chú đẹp trai quá ha!", cái mình nói: "Đâu có đâu mà, kỳ quá, nói nữa đi!" Ví dụ vậy. Nhưng mà sự thật trong tâm mình có chấp cái đó, bởi vì nhờ cái đó mình đã thành công. Hoặc là người có một cái tài năng gì đó rồi nhờ cái tài năng đó thành công mình sẽ chấp cái tài năng đó. Đó vậy. Hoặc là cái người thuyết pháp hay mà thành công

[58:03]thì mình sẽ chấp vào cái khả năng thuyết pháp của mình, hoặc là một cái người mà tọa thiền giỏi mình cũng sẽ chấp vào cái công phu của mình. Tức là những cái gì mà đưa mình đến thành công đều biến thành một cái trở ngại. Hoặc là cái người có giọng tụng kinh hay, ai cũng khen, mời đi tụng, cũng sẽ trở thành một cái chấp của mình. Cho nên nhớ, cái ưu điểm của mình làm cho mình thành công cũng là cái cột trói mình trở lại. Và Kinh Kim Cang này cảnh giác chúng ta điều đó. Là coi chừng, cái gì ưu điểm mà mình đang chấp, gỡ bỏ nó đi, coi nó như không đi, xem như không. Được không? Ý kinh này hay không?

[58:36]Quá hay phải không? Phải nói quá cao siêu, phải nói mình nể những vị Thánh ngày xưa là vậy, nể Phật nể Tổ là chỗ đó. Cũng bởi vì mình lạy Phật nhiều cũng không chán là vì chỗ này, những điều quá sâu sắc vi tế như thế này. Và ví dụ như khi mà nhờ những cái điều đó mình thành công mà mình chấp thì từ từ trong cái tính tình mình trở thành kẻ bảo thủ, mình không muốn ai nói cái gì khác. Ví dụ như là có một người nói: "À con bé đó nó siêng năng nó thành công", cái nói: "Ôi nhỏ đó xấu hoắc!" Vì mình chấp mình đẹp, mình chê người ta, nên trong tính tình mình trở thành kẻ khó chịu, bảo thủ, hay chê. Và trong tâm linh mình trở thành một kẻ có cái

[59:10]nắm giữ, có chỗ sở trụ và không tiến được. Nó là như vậy. Và cái hậu quả của sự nắm giữ đó là gì? Có một cái nhà tư tưởng nói thế này: "Cây gậy giúp đỡ khi ta đi, nhưng sẽ cản trở khi ta khi ta bay". Khi bay cầm theo cây gậy thì nó không tiện lắm. Khi bay thì nên buông dang hai tay ra. Có ai bay chưa? Nhưng mà khi mình đi mình có cây gậy giữa rừng giữa núi rất là tiện, nhưng mà khi bay thì nó trở thành cái vướng víu. "Chiếc bè giúp đỡ khi ta qua sông, nhưng sẽ là gánh nặng nếu ta mang nó theo đi lên bờ". Phải không? Đúng là chiếc bè đưa mình qua sông, nhưng rồi lên tới bờ mà mình vác luôn cái bè mình đi luôn thì đúng là mình con người sao? Hư máy hỏng.

[59:50]Cho nên phương tiện mà giúp ta thành công thì trở lại sẽ là một gánh nặng cho ta, một cái ràng buộc cho ta, nó như vậy. Cho nên nào giờ mình thành công cái gì thì nhớ đó cũng chỉ là phương tiện, đừng có chấp giữ, thì tâm mình mới thanh tịnh mãi, mới đi vào trong cái sâu thẳm được. Tuy nhiên, nói đi thì cũng phải nói lại. Bây giờ nếu mình nghe nói câu này: "Cái phương tiện là mình chấp", bây giờ mình đang đi qua sông nửa chừng mà nói: "Thôi không chấp nữa, buông bỏ cái bè đi" thì làm sao? chìm. Cho nên chưa tới bờ thì thôi, chịu khó mà, mà thương chiếc bè giùm, chứ không là chìm giữa sông. Nên vì vậy mà mình không đả phá, ví dụ như mình biết cái phương tiện đó là

[1:00:26]sẽ ràng buộc mình đó, nhưng mình hễ ai hỏi tới thì mình cũng biết ca ngợi những cái phương tiện tốt để cho người ta làm điều tốt, phải không? Ví dụ như bây giờ mình có cái giọng tụng kinh hay ai cũng khen, nhưng mình hiểu kinh Kim Cang rồi, không có chấp, không có chấp. Nhưng mà ví dụ có người nào đó đi tụng kinh thì mình vẫn chỉ người ta cách tụng cho hay, vì đó là một cái phương tiện để tu, chứ không phải là mình phỉ báng, không có bỏ. Đó, vẫn nhẹ nhàng. Hoặc là mình làm vô số điều thiện giúp đỡ người, mình tăng trưởng được công đức nhưng mình coi như không, mình không chấp vào cái điều thiện mình đã làm.

[1:00:56]Tuy nhiên mình gặp người khác, mình vẫn khuyến khích người ta làm điều thiện, là gặp ai mình vẫn dìu dắt, giúp đỡ để người ta làm được những điều thiện. Đó, chứ không được phá bỏ. Bởi vì phương tiện có lợi cho con người, miễn là đừng chấp thôi. Cũng giống như vậy, khi mình ngồi thiền thì cái hơi thở ra, hơi thở vào là cái phương tiện để tâm mình vào trong định, rất là rõ. Nhưng mà nếu mình buông cái hơi thở sớm thì cái định mình dừng lại, không tiến sâu nữa và có khi lui lại từ từ. Đó, rồi nhớ một điều nữa là đừng bao giờ trở thành cái kẻ phản bội đối với những gì mình đã mang ơn, như vậy. Những cái gì mà đã giúp mình tu, điều đó mình phải biết quý,

[1:01:32]không chấp, nhưng mà đừng, đừng nói cái điều vô ơn, phản bội. Hoặc là ví dụ mình đến với Phật pháp đi, mình tụng bao nhiêu bài kinh, học bao nhiêu bài kệ để cái bước đầu khai tâm mình đối với đạo, đến ngày nào đó mình hiểu cao siêu rồi, cái mình nói không chấp, cầm kinh quăng vô đống lửa đốt cháy chơi để chứng tỏ là ta không chấp, thì hành động đó không chấp không biết, nhưng mà nhìn rất giống kẻ phản bội, vô ơn. Cho nên chúng ta cẩn thận, khéo léo, nói đi thì nói lại, cái quan trọng là trong tâm đừng có chấp. Mà ngoài những cái cao siêu đó ràng buộc tâm ta, nó còn có những cái huyễn hoặc nó không đáng để cho chúng ta nắm giữ.

[1:02:07]Ví dụ như là quyền lực hay địa vị, những cái đó thật sự chỉ tạm bợ trên thế gian thôi. Nếu mình biết thì mình dùng cái quyền lực, cái địa vị của mình để mình làm phước giúp người thì tốt, chứ còn mà xem quyền lực địa vị là một cái vinh quang cho cá nhân thì đó là một điều chấp rất là tệ, rồi sau này mình sẽ tổn phước. Hoặc là mình chấp cái tổ chức này, cái danh xưng kia, phải là tổ chức như thế này tôi mới theo, tổ chức kia tôi không theo, thì đó cũng là một cái huyễn hoặc, huyễn hoặc giả dối tạm bợ thế gian mà mình chấp rồi chỉ sinh phiền não thôi, không có tốt lành gì hết. Hoặc là một cái lời khen, tiếng chê,

[1:02:39]có người chê ta mình buồn, có người khen mình vui, thì đó cũng là những cái huyễn hoặc của thế gian, không đáng, không cần thiết. Hoặc là mình thích mình làm cái gì nổi bật khác lạ, chưa từng có ai làm để cho thiên hạ nói tới chơi, chứ còn ai làm rồi mình làm theo nó giống thiên hạ thì không nổi, thì chấp cái đó cũng là một cái huyễn hoặc, vô lý. Hoặc là có người không có chấp cái đó mà sợ mình khác thiên hạ bị người ta cười, ví dụ giờ người ta mặc áo nó phải mỏng, mình mặc dày coi kỳ, cũng phải kiếm áo mỏng mặc, không được, không cần, những cái đó không nên. Có những cái mà nhiều khi người đời họ sai, mình phải cưỡng lại.

[1:03:15]Ví dụ có giai đoạn thích người ta mặc áo dây, dẹp đi! Lúc mình thấy ai dây nhắc người ta đừng mặc như vậy nữa để giữ gìn văn hóa cho dân tộc mình. Mấy cụ có mặc áo dây không? Nói người ta cười đó. Đừng mặc áo dây nha, đó, ngả rồi. Bởi khi trong tâm mà chúng ta còn nắm giữ một điều gì đó thì chúng ta không thể tiến xa, mà chúng ta có cái nhân để lui lại, nhớ như vậy. Bây giờ mình đặt vấn đề này nha: Thường thường chúng tôi hay kêu gọi mọi người phải giữ ba cái tâm hạnh căn bản, thứ nhất là? Thứ nhất là? Tôn kính Phật. Thứ hai là? Từ bi. Thứ ba là? Khiêm hạ. Phải giữ chặt ba cái tâm đó, phải phát triển ba cái tâm đó, phải củng cố ba tâm đó.

[1:03:53]Như vậy có phải nắm giữ không? Phải không? Phải không? Ai nói phải tui buồn quá à. Sự thực á, ban đầu mấy cái đó không có, mà mình phải dựng lên cho có trong tâm mình. Khi mình mới đến với đạo, mình đâu biết tôn kính Phật là gì, nhưng phải dựng lên trong tâm mình có cái tâm tôn kính Phật. Mình cũng chưa biết thương yêu ai, giờ phải dựng cái tâm từ bi lên trong tâm để thương yêu tất cả chúng sinh. Mình cũng chưa biết khiêm hạ, mình ngông nghênh, giờ mình phải dựng cái tâm khiêm hạ, lúc nào cũng biết tôn trọng mọi người, thấy mình như cát như bụi. Phải dựng ba tâm đó lên như vậy. Thì như vậy mình thấy giống như là từ không mà thành có, phải không?

[1:04:28]Nhưng không phải. Không phải vì sao? Tại vì ba cái tâm đó nó không phải là sự chấp giữ, mà nó là ứng dụng của một tâm hồn vô ngã. Khi một người mà tâm được vô ngã thì ba điều đó tự nhiên xuất hiện. Chúng ta chưa được vô ngã nhưng chúng ta làm cho ba cái tâm đó xuất hiện là tự nhiên cũng trợ duyên cho chúng ta dễ dàng đi vào vô ngã. Đó, bây giờ mình hỏi lại một điều: Ví dụ mình tu hành thanh tịnh, à mình làm được nhiều điều thiện, người đó rất có đạo đức. Cái người đạo đức tu hành chân chính như vậy, trí tuệ như vậy, rồi bỗng nhiên vị đó gặp một vị còn thánh thiện hơn mình gấp triệu lần, cao siêu hơn mình 1 triệu lần, thì cái người đó phải có thái độ gì? Thái độ gì?

[1:05:13]Tôn kính, phải không? Và thái độ đó là đúng hay sai? Đúng. Nó là đúng, nó là chân lý, nó là đạo đức, là đương nhiên, là lẽ phải. Chứ còn nếu ví dụ mình tu mình tốt rồi đó, nhưng mà gặp một người tốt hơn mình một triệu lần mà mình trơ trơ, trong lòng mình không có khởi lên một sự kính phục thì mình có phải là thật sự chân chính chưa? Chưa, mình không có đạo đức, con người còn ngã mạn trong đó đó. Cho nên một con người thực sự đạo đức, đúng lẽ phải, tự nhiên hợp lý, khi gặp một người đáng kính thì phải? Phải kính, đó là đương nhiên. Cho nên vì vậy, đối với chúng ta, Đức Phật hơn chúng ta triệu triệu

[1:05:46]triệu tỉ tỉ tỉ lần, thì chúng ta khởi được cái tâm tôn kính Ngài là một điều thuộc về lẽ phải, lẽ phải của sự tự nhiên khởi ra, không phải là một cái chấp giữ, nên nó là một cái lẽ phải tự nhiên. Cũng vậy, lòng từ bi đối với chúng sinh cũng vậy. Là vô số chúng sinh chung quanh mình, mà gần gũi là những huynh đệ, những con người chung quanh mình, mà mình không thương yêu được thì không thể nào gọi đó là người biết tu hành hết. Nói dù tu cao gì cao á, mà không thương người thì dứt khoát người này đi sai đường. Bởi vì một vị Thánh, một vị giải thoát luôn luôn là lòng tràn đầy tình thương với chúng sinh.

[1:06:21]Nó là một điều tự nhiên, không phải là một điều nắm giữ, mà là một điều tự nhiên. Cho nên khi mà nó chưa có tự nhiên, mình phải khởi lên cho có. Rồi sau này khi mình tu tiến rồi thì nó tồn tại một cách tự nhiên. Lòng mình lúc nào cũng thương yêu con người, nên nó không phải là cái nắm giữ, mà nó là một điều tự nhiên có khi chúng ta tu hành đúng đường lối. Cái khiêm hạ cũng vậy. Cái khiêm hạ là cái mà suốt cái bản kinh Kim Cang này nói là không có kiêu mạn, lúc nào cũng tôn trọng mọi người, thấy mình tầm thường nhỏ bé như cát bụi. Thì cái đó không phải là cái chấp giữ, mà cái đó là điều tự nhiên có

[1:06:53]của một bậc Thánh, của một người có trí tuệ, của người có đạo đức. Nên ba cái tâm hạnh đó không phải là cái mà chúng ta sở trụ, không phải là chỗ bám giữ, mà đó là điều tự nhiên của một tâm hồn chân chính, điều tự nhiên. Cho nên nếu mà có ai bắt bẻ mình chỗ này, mình phải trả lời chỗ này cho rõ ràng. Và suốt đời còn lại, chúng ta vẫn phải tiếp tục phát huy, phát triển ba cái tâm hạnh này cho tới vô biên vô tận, là như vậy. Bây giờ chúng ta trở lại cái câu nói là: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm, tức là làm cho tâm được thanh tịnh bằng cách không dựa vào đâu cả. Cho nên muốn giữ tâm được thanh tịnh thì đừng

[1:07:26]có trụ vào đâu hết, đừng chấp vào đâu hết. Mà muốn đừng chấp vào đâu hết thì phải biết là mình chấp cái gì, phải không? Biết mình chấp cái gì mới buông nó được, chứ có những cái mình chấp mà mình không biết rằng mình chấp. Ví dụ như có cái người hung dữ, cái đến gặp quý thầy, quý thầy nói: "Sao con hung dữ quá vậy?" Nói: "Con hung dữ hồi nào? Thầy nói bậy không được à! Con hung dữ hồi nào?" Đó, nói không chịu thấy, chỉ ngay rồi đó mà vẫn không chịu thấy. Mà chừng nào thấy được, ngồi mình nghiền ngẫm mình thấy thiệt, mình hung dữ thiệt, lúc mới buông được, chứ còn không thấy mình dữ đâu có buông được.

[1:07:55]Cho nên trong kinh vậy, muốn buông được những cái chấp, những cái bám trong tâm mình thì phải biết, không biết thì không buông được. Giờ phải làm sao đó để thực hành được cái câu là: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm thì mình phải biết mình chấp cái gì, rồi tự nhiên sẽ buông được. Đó, bây giờ từ đây cho tới sang năm, chúng ta lục trong tâm mình coi mình chấp cái gì nha! Mỗi người mỗi cái chấp khác nhau. Nãy giờ chúng ta có liệt kê một số vậy thôi, không biết có đụng ai không, nhưng mà bây giờ tự mình phải thắp ánh sáng lên trong tâm mình để dò, đi tìm, scan, đi tìm hết coi còn chấp cái gì để mà buông đi, như vậy.

[1:08:29]Kể cả như là cái tâm thanh tịnh cũng đừng chấp trụ. À, đây là điều lạ nha! Đây là điều lạ. Bởi vì ngày xưa có cái vị thiền sư khi mà dạy đệ tử mình mới nói câu này, là: Đứng trên vực thẳm buông tay đi thì mới tìm được cái sống. Là vì sao vậy? Là các ngài ví dụ như con đường tu thiền là đi trên con đường đi dần dần, đi tới cái mỏm đá, dưới kia là vực sâu, là tột cùng của cái định, cái người đệ tử không biết đi nữa, là: "Con định quá rồi, bây giờ con không biết đi." Nhưng ông thầy ổng biết còn một cái chỗ con vướng là con còn trụ vào trong cái định đó. Con bỏ nó luôn, con nhảy luôn xuống vực đi, thì trong đó con tìm được sự sống mới.

[1:09:05]Hoặc là có một vị thiền sư nói là: Đầu sào trăm trượng buông tay, tức là người tu hành giống như leo cái sào mà nó dựng đứng lên cả trăm trượng, vót vót lên tận mây vậy đó, là cứ leo lên, leo lên lần lần, và leo lên tới mút cái đầu cái chừa cái sào đó rồi, nhìn dưới con người ta chút chút chút rồi, hết biết đường leo. Mới hỏi ông thầy: "Giờ không còn đường leo nữa thì sao?" Ông thầy nói: "Con buông đi!" Nói buông thì sợ té. Không, đầu sào trăm trượng buông tay thì lúc đó mới sống được, mới bay được. Nó giống như là ngài Đại Huệ với ngài Văn Chuẩn á, lúc mà ngài Đại Huệ cũng đang cầm cái kinh Kim Cang đọc,

[1:09:36]cái ngài Văn Chuẩn là thầy đi vào mới thấy mới nói: "Ngươi đọc kinh kia làm gì?" Nói: "Dạ thưa thầy, con đọc kinh Kim Cang." Cái ngài Văn Chuẩn mới hỏi tiếp: "Trong kinh Kim Cang nói rằng là: Pháp đó bình đẳng, không có cao thấp, thế tại sao chúng ta vẫn thấy là Vân Cư cao mà núi Bảo Phong thấp?" Ngài Đại Huệ không có bị ông thầy mình gạt, ngài vẫn trả lời, ngài nói câu: "Pháp đó bình đẳng, không có cao thấp", thì không ngờ là bị một chỗ chấp. Cái ngài Văn Chuẩn ngài mới nhắc thế này: "Hãy buông lỗ mũi của con để thở." "Hãy buông lỗ mũi con để thở", thì ra là ngài Đại Huệ nào giờ là cứ bóp cái

[1:10:10]lỗ mũi mình, giữ cái lỗ mũi mình, tức là người trong cái định mà có chấp giữ cái định đó một chút. Mình tâm được thanh tịnh là dễ không? Không dễ, khó vô cùng. Vậy mà được thanh tịnh rồi, nó có cái tâm bí mật nó chấp giữ cái định đó, tâm không thấy, các thiền sư không thấy, không tự thấy mình nổi mà. Mà ông thầy vượt qua rồi mới thấy được cái chỗ đó, nên mới nhắc đệ tử mình là: Vực thẳm buông tay hay Đầu sào trăm trượng buông tay hay là Hãy buông lỗ mũi để thở, là cái chỗ mà không chấp giữ luôn cả cái định của mình. Thì đây là những điều rất là rất là sâu xa, là cảnh giới của Thánh mà chúng ta chưa tới được.

[1:10:45]Tuy chưa tới, nhưng ngày hôm nay chúng ta cũng bàn nhau một chút để lỡ biết đâu sau này chúng ta tu cũng đi tới đó, thì ngày hôm nay chúng ta đã nghe rồi, có cái nhân rồi, thì tâm mình tràn ngập trong định mà lúc nào cũng nhắc mình không chấp giữ cái định này, không chấp giữ cái định này. Thực sự là hết tâm mới hết ngã, còn tâm vẫn còn ngã, như vậy. Có một đoạn kinh: Này Tu-bồ-đề, ví như có người mà thân thể lớn như là vua núi Tu-di hay là núi chúa, núi lớn nhất á, ý ông thế nào, thân đó có lớn chăng? Mà ngài Tu-bồ-đề thưa: Rất lớn, bạch Thế Tôn. Vì sao? Vì Phật đã dạy rằng chẳng phải thân, tức gọi là thân lớn.

[1:11:21]Câu này tự nhiên không ăn nhập với ở trên. Đó, đọc Kinh Kim Cang tới đây là chúng tôi ngạc nhiên nhất á. Cái đoạn kinh trước thiệt là cao siêu ha, bỗng nhiên nhảy qua một cái qua một cái đoạn ý tứ gì đâu. Nhưng mà tuy nhiên, thì chúng ta phải hiểu như thế này, hiểu là có một lý do gì đó nên mới có đoạn kinh này xuất hiện. Có một lý do gì đó chứ không phải không, chứ không phải khơi khơi để vô lãng nhách như vậy. Có lý do chính đáng. Lý do đó có thể là như thế này. Cái đoạn kinh bất chợt này nó giống như là để phá chấp cái tự hào về cái thân thể mà ai đó thấy mình có cái sắc thân tốt đẹp, uy dũng, lớn lao, giống như chư thiên cõi trời.

[1:11:56]Chư thiên cõi trời có cái thân tướng lớn gấp trăm lần loài người mình. Ví dụ như chúng ta đang cái thân nhỏ thế này, nếu chúng ta sinh lên cõi trời thì cái thân tự nhiên lớn lên khoảng một trăm lần. Ở những cõi khác lớn cả mấy ngàn lần. Thì mình nhỏ như vậy nhưng mà nếu phước lớn, tâm lớn thì mình sẽ về một cái cõi mà thân sẽ lớn theo như vậy. Đó. Thì chỗ này là đôi khi ví dụ ở cõi này, chúng ta có cái thân tướng đẹp đẽ, người lớn con hoặc có người không lớn con nhưng mà lại rất là đẹp thì đôi khi mình có chấp cái thân gì đó, bởi vì cái thân nó cũng là cái biểu hiện của phước. Mình có phước mình mới có cái thân tướng đẹp,

[1:12:29]mà chúng ta biết là ví dụ mình đi đến mình làm việc, mà nếu người nào có thân tướng đẹp cũng dễ được việc, cũng dễ khiến người ta có cảm tình, phải không? Đúng không? Đúng, cho nên nhiều công ty mà tuyển người đó, hay ghi thêm câu ưu tiên cho người có có ngoại hình. Đó, chúng ta thấy là cái người đẹp là đã có phước, mà có phước thì mới mới đẹp. Nên vì vậy có thể là khi một người mà làm phước nhiều quá, họ có cái thân tướng uy nghi, rực rỡ, đẹp đẽ thì có thể họ có một chút chấp. Thì đoạn kinh xuất hiện bất chợt này để phá cái chấp đó, vì phá cái chấp là biểu hiện của phước. Phước mình đã không chấp rồi, bây giờ cái biểu hiện của phước là

[1:13:09]là cái thân tướng đẹp đẽ cũng không chấp luôn, phải buông luôn. Nhưng mà đây là câu này rất lạ, là Phật thuyết phi thân tức danh đại thân, vì Phật đã nói rằng chẳng phải thân thì gọi là thân lớn, nghĩa là sao? Nghĩa là mình đừng có chấp, đừng có quan trọng về cái thân thì cái thân này nó lại có giá trị, nó có giá trị. Cũng vậy, khi mà mình tu hành vậy, mình lại quán cái thân này vô thường thì tự nhiên tâm mình sẽ sáng. À, đây là sự liên quan giữa thân và tâm. Là muốn an trú được tâm không ngờ phải phá cái chấp từ nơi từ nơi thân. Đây là điều rất lạ. Mình hiểu được chỗ này mình mới thấy cái đoạn kinh này liên quan lại với nhau.

[1:13:46]Tức là đoạn kinh trước là nói về tâm, là nói về muốn cho an trú tâm thì phải thế này, phải thế kia đủ hết là đừng chấp ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, tự nhiên nhảy qua cái thân. Thì ra nguyên nhân là nằm ở chỗ này, là muốn tâm được an thì đừng chấp thân. Đó là lý do tại sao mà trong những bộ kinh Nikaya nguyên thủy, Đức Phật dạy quán thân rất kỹ. Khi vào ngồi thiền, người đó phải thấy rõ toàn thân, phải thấy thân là vô thường thì không ngờ là chính không chấp về thân đó thì tâm sẽ được sáng, tâm sẽ được an. Nên cái yếu chỉ của cái đoạn mà mình tưởng như là không nhập vào đâu hết, tưởng như lãng nhách, không ngờ chính là sự bổ sung rất là tuyệt vời cho

[1:14:23]những cái đoạn kinh phía trước là an trú tâm, hàng phục tâm. Nhưng mà ở cái hàng phàm phu chúng ta á thì thân mình tầm thường mình chỉ quán thân vô thường. Nhưng mà ở hàng Bồ Tát, thân thể cao lớn, tốt đẹp, uy dũng thì cái thấy về thân, cái không chấp về thân thì phải mạnh hơn mình nữa nên đoạn này đã nêu ra như vậy. Ví dụ như có người lớn thân bằng cái núi chúa Tu-di thì cũng đừng chấp, đừng thấy có thân mình như vậy thì tâm mới an được. Đó là đoạn như vậy. Thôi hôm nay chúng ta nghe tới đây thôi ha. Thì có ai có câu hỏi gì thì mình đưa lên dần dần. Có cái bức thư mà Phật tử nói về những giấc mơ lạ,

[1:14:57]cái vấn đề này nó rất là phức tạp, thầy không muốn trả lời trước mặt đông người, cho nên ai viết bức thư này đến gặp riêng thầy một chút xíu nha. Có người nói: "Con mới hiểu đạo như vậy nghe Kinh Kim Cang được hay không?" Nghe được, đâu có sao đâu. Thì mình lấy cái chân lý của một vị Bồ Tát lớn để mình áp dụng lại trong cái phạm vi nhỏ của mình thì vẫn là chân lý, chân lý bất biến mà. À có một cái người Phật tử vì đi phụ giúp công quả chùa, nhưng mà thấy con thấy sư cô, cổ hơi sân, cho nên bất mãn không tới chùa đó nữa. Thì nói rằng bỏ đi luôn như vậy có gieo nghiệp hay lãnh quả báo gì hay không?

[1:15:31]Sợ sau này trả quả báo, thì dĩ nhiên nó cũng có một chút, cũng có một chút. Khi mình có cái giận, cái phiền thì vẫn luôn luôn mình có một cái chút quả báo, nhưng mà cũng vì sư cô kia, cho nên mình giữ một cái mối quan hệ thế nào nó vừa chừng để cho không phải là do mình giận mà mình bỏ chùa, thì thôi nhẹ nhàng, mình không có thân quá như lúc trước, nhưng cũng đừng có bỏ luôn. Ví dụ có người hiến xác cho y học như vậy là sau này họ không còn mồ mả, hài cốt để thờ cúng, vậy thì họ có được đầu thai hay không? Vẫn đầu thai được, thôi tốt không sao hết trơn, tại vì đầu thai nó không liên quan tới cái hài cốt, cái thân xác nha, không sao hết.

[1:16:02]À có người em trai hiếm khi đi chùa lạy Phật, ít có niềm tin, tự nhiên bây giờ thích thờ Phật Địa Tạng và muốn xem Kinh Kim Cang, nếu thờ Phật Địa Tạng Bồ Tát được không, có đúng không? Đúng chứ đâu sao đâu. Có người nghe nói là nghe băng thầy giảng nhiều người họ thích, nhưng mà con nói: "Thầy đừng có mừng, cái thầy mừng thì thầy mắc tội kiêu mạn, tội nghiệp con."

[1:16:24]Phải nói là người rất chu đáo, lo xa, rồi cảm ơn nhiều nha. Có mấy bà rủ con đi theo cái đạo ngồi thiền mà không niệm Phật, chỉ kêu: "Trời, trời" liên tục suốt mấy tiếng đồng hồ, có khi ngồi kêu trời cả ngày lẫn đêm. Mấy bà đó nói là linh thiêng lắm, và đạo đó cũng nằm trong đạo Phật, đặc biệt là đạo đó không đến chùa chỉ họp thành từng nhóm, nay đến nhà người này ngồi kêu: "Trời, trời", mai lại đến nhà người khác kêu: "Trời, trời". Con chưa hiểu rõ đạo đó nên không dám làm theo, xin thầy hoan hỷ giải thích cho con hiểu rõ hơn về đạo đó, đạo đó có nằm trong đạo Phật không, và là đạo chánh hay đạo tà?

[1:16:51]Dĩ nhiên là không nằm trong đạo Phật và là đạo tà nha. Cứ kêu trời trời riết người ta tưởng mình điên đem qua Biên Hòa rồi nói làm sao, xui. Đạo gì kỳ cục nha. Chỉ có mấy người mà thất bại, thất học, thất tình nó mới kêu trời trời chứ khơi khơi mình cũng kêu trời trời. Có hai người hợp ý nhau rồi giơ tay lên trời thề với nhau, cũng trời nữa, là sẽ không bao giờ bỏ nhau, như vậy nếu không giữ lời có mắc quả báo kiếp sau không ạ? Thì sau này mình sẽ bị người ta thất hứa lại. Sau này sẽ bị người ta thất hứa lại nha. Có người kể có một ngôi chùa hằng ngày công phu khuya đọc Kinh Kim Cang, hôm thầy trụ trì đi vắng đệ tử thấy đọc Kinh

[1:17:25]Kim Cang bỗng nhiên sáng ra, các chậu kiểng biến mất. Việc đó có không ạ? Thì ăn trộm nó lấy đi mất chứ có gì đâu mà có không. Đâu phải do tụng kinh mà chậu kiểng biến mất, ăn trộm nó lấy đi chứ có gì đâu. Thành tâm khấn nguyện với Đức Phật A Di Đà, Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát cứu nạn cứu khổ, con nguyện lòng thành và xin chỉ bảo. Xin thầy giúp cho con thế nào để thoát khỏi cảnh trầm tư, khổ ải trên gương mặt của con? Này hấp dẫn. Thì có hai cách, một á là chúng ta cứ đi chùa, nghe kinh, làm phước, hai là mình vào thẩm mỹ viện, hai cách.

[1:17:57]Với lại thật sự á, khi mà phước mình đủ rồi đó, cái gương mặt mình tự nhiên nó vui, không, điều đó có đó. Khi cái nghiệp mình nó còn á, nó ngấm ngầm, ngấm ngầm, khi mà cái nghiệp mình còn á thì tự nhiên gương mặt mình nó buồn buồn, nên trong cái thầy bói có câu là "mãn diện sầu dung", tức là cái nét buồn nó phảng phất đầy cả gương mặt thì bên trong người đó nó ẩn chứa một cái nghiệp gì chưa trả xong. Thì có thể là một cái tai nạn hay gia đình mình có một cái nghịch cảnh thì gương mặt mình cứ phảng phất, phảng phất cái nét buồn hoài. Thầy bói nhìn vô họ bói ra liền. Nên vì vậy là nó báo trước một cái tai nạn chưa tới thì bây giờ mình

[1:18:28]cứ lo chuyển nghiệp thôi, mình cứ tu, làm phước thật nhiều. Đến lúc nào bỗng nhiên gương mặt nó mất cái đó rồi là cái nghiệp nó đã được giải xong. Nó như vậy đó. Hồi xưa thầy cũng vậy, thầy có cái nét mặt buồn buồn buồn, là cái nghiệp đó gì biết không? Nghiệp là bị người ta công kích, nên bây giờ nghiệp nó trổ ra, cứ hay dễ bị người ta chống đối, mưu hại, làm điều đó vậy. Rồi trả xong rồi thôi. Thôi bây giờ mình đứng lên mình hồi hướng nha. Rồi chúc quý Phật tử nha, cứng như kim cang.

[1:18:54]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.

[1:19:24]Bao nhiêu mến thương thắp lên cho rừng ngàn cây tươi xanh chở che cuộc sống.

[1:20:31]Mênh mông núi sông... Lá hoa muôn trùng đan thành chiếc áo ôm ấp nhân gian. Chim tung cánh bay, thú hoang từng bầy gọi nhau trong bóng sương mờ giữa đồi.

[1:20:53]Nước chia muôn lối, suối tuôn ngàn nơi, hoa lạc trên nước cuốn trôi xa vời.

[1:21:08]Rừng đem mưa đến, nước sông vừa lên, rừng che giông bão, bước qua trời cao.

[1:21:23]Ngày thu thay lá

[1:21:26]xao xác bước nai, trời đông băng giá, tuyết bên hồ bay.

[1:21:38]Rừng cho thế giới tình đẹp không thôi, ngàn xưa hoang vắng, rừng là tay nối tạo nên sự sống, người bước ra đời.

[1:22:00]Than ôi đớn đau, đứa con của rừng giờ đây quay lưng quên nguồn yêu dấu.

[1:22:11]Cây rơi lá khô, bóng xanh bây giờ theo từng nhát chém tan biến đi mau.

[1:22:22]Rừng đang xơ xác, gốc trơ trọi phơi, bầy chim ngơ ngác, suối khô cạn nước, thú hoang gục đầu. Hãy lắng nghe rừng lên tiếng, với trái tim rừng tha thiết, nước mắt trên từng chiếc lá rơi qua lưng đồi khói nhòa. Bão tố thay ngàn tiếng thét, nỗi đớn đau của cái chết, nắng cháy như tình đã hết khi con người rất mau quên.

[1:23:12]Ngày nào mọi người hiểu ra một điều, cây xanh trong rừng cũng biết thương yêu.

[1:23:23]Ngàn muôn lá hoa cho ta thật nhiều, giọt nắng ban mai hay mưa buổi chiều.

[1:23:34]Hãy hứa trước khi lìa xa cõi đời, gắng sức đắp xây lại cho đất trời.

[1:23:45]Rừng cây bóng cao mênh mông vời vợi là chút tri ân tặng đến con người.

[1:23:58]Rừng ơi hãy nói là rừng yêu tôi, tìm cho thế giới tình người xa xôi.

[1:24:27]Rừng ơi có biết, trái tim lệ trào.

[1:25:34]Hãy lắng nghe rừng lên tiếng, với trái tim rừng tha thiết, nước mắt trên từng chiếc lá rơi qua lưng đồi khói nhòa. Bão tố thay ngàn tiếng thét, nỗi đớn đau của cái chết, nắng cháy như tình đã hết khi con người rất mau quên.

[1:26:09]Ngày nào mọi người hiểu ra một điều, cây xanh trong rừng cũng biết thương yêu.

[1:26:20]Ngàn muôn lá hoa cho ta thật nhiều, giọt nắng ban mai hay mưa buổi chiều.

[1:26:31]Hãy hứa trước khi lìa xa cõi đời, gắng sức đắp xây lại cho đất trời.

[1:26:42]Rừng cây bóng cao mênh mông vời vợi là chút tri ân tặng đến con người.

[1:27:10]Vượt qua giông bão, loài người thương nhau, rừng đem tia nắng ngập ngừng trên cao. Rừng ơi có biết,

[1:27:31]trái tim lệ trào.