[1:05]À chúng ta còn cái bài hát, hôm nay chúng ta còn bài hát mà sư phụ Phật Quang vừa mới sáng tác. Cái bài đó gọi là Còn Nhau Trong Nắng Xuân.
[1:16]Còn Nhau Trong Nắng Xuân. Thầy thì thầy đọc cái đề đó thì thầy thích thêm a mấy chữ nữa. À ưa đổi cái đề này lắm, à thêm năm chữ nữa, gọi là Mất nhau giữa đêm đông, còn nhau trong nắng xuân. Thêm năm chữ.
[1:35]Thì à cái bài hát này nó cũng cái mới đặc biệt. Và hôm nay chúng ta sẽ thưởng thức cái bài hát này. Và trước khi chúng ta thưởng thức bài hát thì à thầy sẽ giới thiệu sơ một chút để quý vị hiểu về cái à gọi là cái tinh thần, cái thần thái của cái bài hát như thế nào. Và bao giờ cũng vậy, khi chúng ta thấy người ta hát, chúng ta thấy những cái con người, thấy những cái giọng ca nổi tiếng và chúng ta có thể à nghe khi trình diễn cái bài hát đó, nhưng chúng ta không hiểu gì hết. Chúng ta nghe không rõ cái ca từ, chúng ta không hiểu trong đó nội dung nói cái gì. Chúng ta chỉ thưởng thức bài hát qua dáng điệu,
[2:25]cử chỉ và cái giọng mà gọi là của ca sĩ thôi, chứ còn cái nội dung là chúng ta thường thường không nghe. Bởi vì nó nhập nhằng vào trong cái âm điệu, trong nhạc rồi trong cái cái cái luyến láy của nó, làm cho mình nghe không rõ, cho nên bây giờ xin mời quý vị nghe à sư bác nói qua chút xíu về cái bài này. À xin quý vị ổn định chưa ạ? Ổn định rồi ha, xin mời im lặng nha. Bây giờ quý vị có bài cả rồi nhưng mà phải đọc sơ chút xíu nha: Ai mơ ước về một cõi địa đàng, xin mơ ước về một nơi yêu thương. Đêm đông còn mái ấm bên bếp lửa hồng, xuân qua giọt nắng sớm gió lay nghìn hoa.
[3:10]Chim bay về cuối phố, mưa thoáng bên thềm, xanh xanh hàng lúa mới, hương ngát êm đềm. Lòng người, loài người lẻ loi nơi cõi sinh muôn màu, tình người nhạt phai, giá buốt như đêm thâu. Hận thù đầy ắp, chia ly về nơi đâu, giọt lệ còn rơi, mắt em thêm buồn rầu. Ngày mai khi nắng xuân hồng sưởi ấm đêm trường tình thương, rồi đây thế giới đại đồng sáng ngời mênh mông, ước mong gặp nhau tiếng cười hân hoan, gió tràn thênh thang, cánh đào mơn man, còn nhau khúc nhạc ngân nga, tấm lòng sâu xa giữa đời bao la.
[4:02]Đó là cái lời, đây gọi là lời một. Lời một thôi, lời hai mình sẽ khám phá nha. Thì đây là bản nhạc mà thầy đưa vào thêm mấy chữ nữa gọi là Mất nhau giữa đêm đông, còn nhau trong nắng xuân. Thì đó là mình thêm một mấy chữ cho vui, không à không không không muốn, không dám nói rằng là sửa cái chủ đề, nhưng mà đây là ý kiến riêng. Và cái bài nhạc này là một niềm hy vọng để đi qua nỗi nhọc nhằn của cuộc đời. Và chúng ta thấy
[4:39]ai mơ ước về một cõi địa đàng, xin mơ ước về một nơi yêu thương.
[4:47]Và địa đàng là gì? Thiên đường là gì? Đó chính là cái nơi đầy ắp những tình yêu thương, sự gắn bó, sự chan hòa. Điều mà đông về
[5:04]thì có sự ấm áp, tình thương sẽ làm cho mùa đông lạnh lẽo trở thành ấm áp, và tình thương làm cho mùa xuân về ngàn hoa đua nở sắc thắm.
[5:20]Rồi có tình thương thì cảnh vật thật sự là nên thơ, đẹp đẽ như cánh chim chiều cuối phố.
[6:01]Đó là cảnh giới được vẽ ra trong một cái cảnh đầy ắp những tình yêu thương tốt đẹp, đó là cái cõi thiên đường ở nhân gian.
[6:11]Thầy nói như vậy không biết quý vị có hình dung ra được cái cảnh đẹp không? Hay là cảnh đẹp đó chỉ là tưởng tượng? Quả thực là đó là hiện thực và đó cũng là tưởng tượng. Và cuộc đời giữa mộng và thực là một cái giai điệu trập trùng chúng ta khó mà có thể nắm bắt được. Nhưng mà rồi thì thực tế là gì? Thực tế là nỗi cô đơn của con người khi mà đêm về, đông đến, giá buốt. Loài người lẻ loi nơi cõi sinh muôn màu, tình người nhạt phai, giá buốt như đêm thâu, thì đó là những điều mà thực tiễn của đời sống. Những day dứt của con người, những niềm đau của con người, những nỗi đơn côi của con người, những nỗi hận thù đầy ắp chia ly về nơi đâu, giận hờn,
[7:06]nước mắt,
[7:11]và giọt lệ còn rơi, mắt em thêm buồn rầu. Đó là những giọt lệ ở nơi trái tim của em, của chị, của anh, của tất cả các bạn. Khi mà chế ngự trong tâm của mình là những nỗi niềm cảm xúc đơn lẻ, cô đơn, lẻ bóng, là những niềm uất hận, ức chế, những đắng cay, tủi nhục của đời người và đó trở thành những giọt nước mắt đêm thâu của tất cả chúng ta. Hiện thực cuộc đời là vậy, mặc dù bản chất của đời sống là đẹp nhưng để tiếp nhận được cái vẻ đẹp đó nó không có điều kiện để sinh khởi bởi vì tình yêu thương đã lắng, đã vắng mặt trong tâm tư của mình, trong đời sống con người. Cho nên: Ngày mai khi nắng xuân hồng sưởi ấm đêm trường tình thương.
[8:08]Đây là bắt đầu đi vào giai đoạn các thầy của mình, rồi cũng như là sư phụ Phật Quang khi nào cũng vẽ con đường, cũng đưa đến một niềm ước mơ tốt đẹp tương lai cho đời sống của con người. Bản nhạc nào, giai điệu nào,
[8:27]những cái sự tư tưởng nào đi nữa dù có bạch vạch rõ bản chất của đời sống là khổ đau, nhưng chúng ta luôn luôn hướng đến một chân trời rộng mở. Những cảnh giới, những thế giới, những nơi chốn mà chúng ta hướng về đó là những nơi đẹp đẽ, là những nơi rộng mở, là những nơi không còn xóa đi, tức là xóa đi những ranh giới mà chia cắt giữa con người với con người. Và trong cái thế giới đó đầy ắp những cái tiếng cười, những cái niềm vui và sự ấm áp sẽ quay về với chúng ta. Chúng ta sẽ bên nhau bởi vì với tiếng cười, với khúc nhạc, với tấm lòng bao la đã trở lại giống như mùa xuân đã trở lại sau khi tiễn đông đi.
[9:21]Và đó là những gì là những đạo lý sống mà chúng ta đạo lý sống mà chúng ta cần hướng đến. Và lời thứ hai, quý vị sẽ thấy ở đó là những điều tốt đẹp, là những nơi những điều tan đi những cái biên giới thế giới khi cùng chung một ánh nhìn, chung một cõi lòng thông qua cái cõi thiêng. Và cõi thiêng đó có lẽ hôm nay chính là mục tiêu mà đã đưa đến chúng ta vào đây, ngồi đây, giờ này. Đây là nội dung tổng quát của cái bài hát. Và bây giờ chúng ta sẽ nghe giai điệu của bài hát. Đây là có tác giả đã có ai, có ca có hát, có đàn, tất cả những bạn ở đây đều là những người thân yêu của chúng ta, rất thân quen của chúng ta, xin mời quý vị.
[11:05]Dạ chúng con là Toàn Pháp và guitarist Tấn Đạt gửi lời chào đến sư bác, quý thầy cô và quý Phật tử.
[11:15]Chúng con xin trình bày bài hát mới nhất của sư phụ có tựa đề Còn Nhau Trong Nắng Xuân. Dạ mời Phật tử chúng ta cùng nghe.
[11:41]Ai mơ ước về một cõi địa đàng,
[11:49]xin mơ ước về một nơi yêu thương. Đêm đông còn mái ấm bên bếp lửa hồng. Xuân qua giọt nắng sớm xua lạnh nghìn hoa.
[12:11]Chim bay về cuối phố mưa thoáng bên thềm. Xanh xanh hàng lúa mới hương ngát êm đềm.
[12:26]Loài người lẻ loi nơi cõi sinh muôn màu.
[12:33]Tình người nhạt phai giá buốt như đêm thâu.
[12:40]Hận thù đầy ắp chia ly về nơi đâu.
[12:47]Giọt lệ còn rơi mắt em thêm buồn sầu.
[12:56]Ngày mai khi nắng xuân hồng sưởi ấm đêm trường tình thương.
[13:07]Rồi đây thế giới đại đồng sáng ngời mênh mông ước mộng.
[13:18]Gặp nhau tiếng cười hân hoan, gió tràn thênh thang cánh đào mơn man.
[13:30]Còn nhau khúc nhạc ngân nga, tấm lòng sâu xa giữa đời bao la.
[13:55]Ai mơ về một cõi thiên đường
[14:02]khi thế giới cần một nơi yêu thương. Biên cương chẳng mãi mãi chia rẽ nhân loại khi chung vầng nắng sớm bóng đêm vừa phai.
[14:23]Hơn thua và oán ghét như thoáng sương mềm khi chung một ánh mắt bên ánh trăng hiền.
[14:38]Loài người cần nhau nơi cõi thiêng mơ mộng. Đừng dạt ngoài kia giá buốt như đêm đông.
[14:52]Hận thù bỏ đi hoa bay về khắp lối.
[14:59]Ngập tràn niềm vui sáng tươi như bầu trời.
[15:07]Ngày mai khi nắng xuân hồng sưởi ấm bốn phương tình thương.
[15:17]Nghìn hoa khoe sắc bên đồi dưới vầng mây trôi lối về.
[15:28]Trẻ thơ tiếng cười hân hoan, gió tràn thênh thang khúc nhạc reo vang.
[15:37]Còn nhau mãi chẳng phôi pha, nắng rọi xuân qua giữa đời bao la.
[15:50]Còn nhau mãi chẳng phôi pha, nắng rọi xuân qua
[16:01]giữa đời bao la.
[16:13]Đó là đó là những cái giai điệu đẹp đẽ, rất
[16:22]là sâu sắc cũng như là ước mơ một cách là xa xôi, mình còn gọi là viễn mộng.
[16:31]Không có những giấc mộng như vậy cuộc đời nó chán lắm. Cho nên là những giấc mộng đẹp là những giấc mộng đưa đến sự an bình cho nhân thể, không phải cho riêng mình. Hy vọng chúng ta thấy được ý hướng của sư phụ để hãy chúng ta cùng nhau kiến tạo, xây dựng thế giới đại đồng bao la. Rất mong. Như thật. Và bây giờ đây, xin mời quý vị chuẩn bị để nếu cần thiết thì lát nữa xong rồi chúng ta sẽ nghe lại bài nhạc. Và bây giờ chúng ta chuẩn bị để cung thỉnh Hòa thượng pháp sư quang lâm pháp tòa.
[18:04]Toàn thể toàn thể đạo tràng chúng con thành kính cung thỉnh Hòa thượng pháp sư quang lâm pháp tòa.
[18:34]Xin mời toàn thể đại chúng niệm Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[18:53]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[19:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[19:22]Chúng con xin cung thỉnh Hòa thượng pháp sư an tọa. Xin mời toàn thể đại chúng an tọa.
[19:45]Sư, sư bác mà bình thơ, bình văn nghe hay ha. Chứ lần trước sư bác cũng tính a làm ca sĩ. Sư bác mới hỏi một cái phật tử dạy thanh nhạc, muốn học hát phải sao. Cái người đó trình bày hết mọi thứ xong, sư bác nói: "Thôi, thôi, thôi!"
[20:07]Rắc rối quá, thôi nghỉ.
[20:19]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ta nghe tiếp Tứ Thánh Đế thứ 13, tức là phần Diệt đế thứ tư. Phải không ạ? Diệt đế thứ tư. Hôm nay ta nói về cái quả thánh Tư-đà-hàm, là quả thứ hai trong cái tầng bậc quả thánh của của đạo Phật.
[20:49]Nếu mà so sánh á thì quả Tu-đà-hoàn là sơ quả,
[20:56]cất cái bình bông này đi con.
[21:06]Thì cái tính cách, cái cái cái thánh tính của Tu-đà-hoàn á chủ yếu nằm ở chỗ nhân cách, nhân cách. Tức là một bậc thánh Tu-đà-hoàn họ có một cái nhân cách vượt hơn người thường.
[21:23]Họ là một người mà nếu nói theo đạo Nho là một người quân tử, quân tử chắc luôn á. Không có cái gì có thể làm người đó lung lay, dao động, hay là trở nên bị tầm thường, không thể bị mua chuộc, vì cái nhân cách một bậc Tu-đà-hoàn là vượt bực như vậy. Mà ở A-na-hàm thì là một bậc thánh bắt đầu siêu việt về tâm linh. Về tâm linh giác ngộ trí tuệ, dĩ nhiên chưa bằng A-la-hán, nhưng mà ta so sánh vậy đó. Tu-đà-hoàn là một bậc thánh nổi bật ở cái cái nhân cách, cái đạo đức, cái tính cách, lối sống; bậc A-na-hàm là một bậc phi thường ở tâm linh; thì bậc Tư-đà-hàm nằm ở giữa, ở giữa. Tức là đã bắt đầu Về cái nhân cách của một bậc
[22:16]Tư-đà-hàm thì hẳn hoi là một bậc quân tử. Nếu mà nói theo người đời là một bậc quân tử, là con người khảng khái, thật thà, đàng hoàng,
[22:31]trong cuộc đời này không có gì mua chuộc được, không có gì làm cho sợ hãi được. Cái tính cách của bậc Tu-đà-hoàn, giờ lấy dao kề cổ, nói bỏ đạo Phật, nói: "Thôi giết cho rồi đi." Chớ không bao giờ. Không bao giờ mình bỏ mất cái lẽ phải, dù cái lẽ phải nhỏ như một hạt bụi, nhưng mà đổi bằng một cái núi tiền, không đổi. Đó là tính cách của một bậc Tu-đà-hoàn, họ kiên cường, họ vững chắc như vậy. Thì bậc Tư-đà-hàm cũng như vậy, tại vì bậc Tư-đà-hàm là cao hơn về cái Tu-đà-hoàn, tức là về nhân cách cũng đặc biệt vững vàng. Nhưng mà bắt đầu Tư-đà-hàm là sao? Mở tâm linh ra rồi, cái tâm linh mở. Tu-đà-hoàn là có khi mở có khi không, tại vì sự thật chứ một quả thánh
[23:17]nó có nhiều trình độ khác nhau, chứ không có bằng nhau tăm tắp đâu. Ví dụ nói người này là học a học cấp hai, nhưng mà cấp hai lớp sáu hay cấp hai lớp chín khác á; nói cấp ba, cấp ba lớp mười hay cấp ba lớp mười hai khác nhau. Thì một bậc quả thánh cũng vậy. Nói Tu-đà-hoàn, sự thật nó vẫn có cái cao thấp trong cái tu Tu-đà-hoàn; Tư-đà-hàm cũng có cao thấp trong Tư-đà-hàm, và A-na-hàm cũng có cao thấp trong A-na-hàm. Cũng như A-la-hán vậy. Chúng ta cũng đừng nghĩ A-la-hán A-la-hán là bằng nhau tăm tắp á. Bởi vì ta mới có cái vị A-la-hán này đệ nhất cái cái hạnh này, vị A-la-hán là đệ nhất cái hạnh kia. Tại sao nói:
[23:52]"Ủa, A-la-hán bằng nhau?" Không. Coi chứ vẫn có chênh lệch hết á. Người vị là như ngài Sīvali là đệ nhất về phúc lộc, tức là ngài Ānanda là đệ nhất về cường ký, rồi ngài ngài Đại Ca-diếp là đệ nhất về thiền định, ví dụ ngài Mục-kiền-liên mà đệ nhất về thần thông, ví dụ vậy. Nó cũng A-la-hán, nhưng sự thật chứ họ cũng có cái sai biệt. Thì Tư-đà-hàm cũng vậy. Nhưng mà trên tổng quan thì Tư-đà-hàm là nối nối tiếp cái nhân cách phi thường của một bậc Tu-đà-hoàn, và bắt đầu mở ra con đường tâm linh của A-na-hàm. Mà không trọn vẹn như A-na-hàm, nhưng bắt đầu mở ra. Nghĩa là như thế nào? Nghĩa là thế này:
[24:36]ví dụ một vị mà họ chứng Tư-đà-hàm theo định nghĩa trong trong đạo Phật, đó là vị mà đối với hai kiết sử: tham và sân đã mỏng nhạt. À không hết, đây là điều rất là lạ, à mà được xếp vào một quả vị. Muội lược, trong chữ Nho gọi là cái tham sân muội lược, là mỏng nhạt.
[25:04]Nghĩa là cái trong kiết sử thẳm sâu, chứ còn triền cái thì mất rồi. Triền cái tham sân này thì không có đâu. Nhưng mà trong kiết sử là bản năng thẳm sâu, cái tham, cái sân của Tư-đà-hàm còn, không hết sạch, nhưng mà mỏng và ta khó nhìn thấy. Một bậc A-na-hàm thì hết sạch cái tham và cái sân. Chính vì hết sạch cái tham và cái sân, cho nên một bậc A-na-hàm thực sự không còn gì sợ giữa cuộc đời này. Cả tam giới này, vào cõi nào, vào cõi ma, cõi quỷ, cõi địa ngục, cõi thiên đường, cõi gì, một bậc A-na-hàm hoàn toàn tự tại, không có điều gì để sợ. Vì hết sạch tham sân, hết tham hết sân thì hết sợ. Hồi nãy ta vừa nói, một bậc Tu-đà-hoàn cũng không có
[25:53]gì phải sợ, thì cái không sợ của Tu-đà-hoàn nó cũng khác với cái không sợ của một bậc A-na-hàm. A-na-hàm không sợ bởi vì họ mất luôn kiết sử và siêu Tự tại của một bậc A-na-hàm là trùm cả trời đất, không có điều gì làm để sợ. Còn Tu-đà-hoàn, họ không sợ bởi vì cái đạo đức họ vững quá. Họ vững quá và lúc đó giống như là một cái sự cứng cỏi, một sự phản ứng. À cái cái không sợ của một bậc Tu-đà-hoàn như là một sự phản ứng, còn cái không sợ của một bậc A-na-hàm là như hư vô. Ta hình dung được không? Cái chỗ này hơi khó á, hơi khó. Nhìn vô thì giống nhau, cả hai bậc đều là bậc đại hùng, bậc đảm can đảm, không có gì làm cho mình phải run sợ.
[26:42]Ví dụ bây giờ ta nói thế này, ta ví dụ thế này: Ở trước đó là cháy lửa nổ gì đó, đại khái vậy, nhưng mà có một cái em bé nó nằm trong cái đám cháy đó, cháy nổ đó. Thì một bậc A-na-hàm hay một bậc Tu-đà-hoàn đều nhào vô đám cháy để cứu em bé đó, vì cái thiện nó thúc đẩy. Cả hai đều không sợ. A-na-hàm cũng không sợ, lao vào đám lửa đó để cứu em bé đó bưng ra. Tu-đà-hoàn mà gặp cảnh đó cũng lao vào đám lửa để cứu em bé đó bưng ra. Cả hai đều không sợ cháy, không sợ chết. Nhưng cái nhưng cái bậc A-na-hàm, cái không sợ vĩ đại hơn và tự tại hơn. Tại vì sao vậy? Vì cái thần lực ổng mạnh quá ổng chả sợ cái gì.
[27:29]Lửa ăn thua gì, ổng đi xuyên qua lửa lửa cũng không cháy được ổng mà. Ổng ổng vận thần lực lên rồi đi xuyên qua đám lửa lửa không cháy, cho nên đó là một bậc tự tại bởi vì cái thần lực của mình nó mạnh quá. Còn bậc Tu-đà-hoàn vì cái đạo đức mạnh quá, vô đó cháy á. Xuyên qua đám lửa là lửa có thể đốt cháy và có thể làm gây đau đớn, nhưng mà vì cái đạo đức nó mạnh quá, cho nên chấp nhận đau, chấp nhận cháy để cứu cái em bé đó. Hai cái không sợ nhưng mà ở mức độ khác nhau. Ta hiểu phải không? Đó, đại khái.
[28:01]Thì cái một bậc Tư-đà-hàm
[28:05]là cũng đạt được với cái mức độ đó, nhưng theo như định nghĩa là tham sân còn mỏng nhạt. Vì tham sân còn mỏng nhạt, cái sợ vẫn còn, rất là ít. Nhưng mà sao? Cái không sợ của đạo đức của bậc Tu-đà-hoàn thì vẫn đã sao? Đã có rồi. Nên nhớ ta nhớ cái không sợ của Tu-đà-hoàn là đạo đức, thì bậc Tư-đà-hàm cũng vậy, cái không sợ hãi điều gì, mọi sự đe dọa gì vì đạo đức vững vàng. Mặc dù cái vị Tư-đà-hàm chưa đạt được cái không sợ của một sự tự tại như hư vô vì cái cái cái cái cái cái đạo lực mình quá mạnh của một bậc A-na-hàm thì chưa đạt được hoàn toàn, nhưng mà cũng đã thừa cái sự không sợ hãi từ đạo đức của một bậc Tu-đà-hoàn.
[28:54]Cho nên chỗ này nó vi tế. Nghe có ngủ thì cũng không sao, vì cái này khó hiểu quá. Khó hiểu không ạ? Khó, nhưng mà cố gắng nha, cố gắng hình dung như vậy. Tại đây ta ta là phàm phu mà ta đang cố gắng diễn tả về cảnh giới của bậc thánh thì đúng là lấy dạ tiểu nhân mà mà đo lòng quân tử, nên rất là khó hiểu. Thường vậy, mình xấu mình nghĩ ai cũng xấu. Cái tội tùm lum, thành ra mang tội. Thì chúng ta là đang là những kẻ phàm phu, bây giờ buông cái phàm phu mình xuống để cố gắng hiểu được cảnh giới của bậc thánh rất là rất là khó. Nên mình nghe mấy bài này mà nếu không hiểu cũng không sao. Và không hiểu rồi lơ mơ ngủ luôn rất là khỏe, khỏe khoắn, không có gì cả.
[29:37]Còn mà nếu người mà nghe mà mấy bài này mà thích, có cảm nhận, có hiểu, phước rất là lớn á. Không phải đùa đâu. Bắt đầu mình nghe những bài như thế này, những cảnh giới vi tế như này mà mình hiểu được, lòng mình có thiện căn, rồi mình thêm cái lý tưởng tu tập, là có phước lớn á, vậy đó. Ở đây là theo cái định nghĩa Tư-đà-hàm là Nhất lai, còn trở lại cõi người một lần. Còn A-na-hàm là Bất lai, không trở lại nữa. Nghĩa là sao? Nghĩa là khi một vị mà chứng A-na-hàm, vị đó không cần phải trở lại thân người, vị đó sẽ sinh lên cõi trời. Cõi trời nào thì tùy chọn, mà có thể đạt được tối đa là cõi trời Sắc
[30:23]Cứu Cánh, tức là cõi Sắc giới mà ở cõi cao nhất của Sắc giới. Thì cái vị A-na-hàm sinh lên đó và ở trên đó tu cho tới cái khi mà chứng A-la-hán luôn, không trở lại, không còn dính líu gì với trần gian nữa. Nên ở đây vậy, có những con người mà giờ này còn nhìn mặt nhau, còn thấy nhau, nói những lời thương ghét với nhau, mà lỡ vị đó chứng A-na-hàm cái rồi ta vĩnh biệt luôn. Trong dòng luân hồi vô tận này không bao giờ gặp lại nhau nữa. Đó là nhiều cái, mà bây giờ có muốn chia tay mưa rơi cũng không bao giờ còn dịp nữa. Vì đó sinh lên cõi cao và không bao giờ trở lại, vì chúng ta sao? Chúng ta vẫn còn ở cõi này.
[31:07]Có những cuộc chia tay mà chia tay vĩnh viễn là đúng là chia tay với một bậc A-na-hàm á là chia tay vĩnh viễn. Còn mọi cuộc chia tay trên cuộc đời này chỉ là tạm bợ. Vì sao? Có khi còn gặp lại ở những kiếp sau. Còn thương, còn ghét, còn ân, còn nghĩa, còn duyên, còn nợ, kiếp sau coi vậy chớ có lúc vẫn gặp lại nhau. Còn mà ta đã chia tay một bậc A-na-hàm rồi thì thôi hết luôn, vĩnh viễn luôn, không bao giờ gặp lại. Chỉ khi nào chúng ta cũng chứng quả thì giữa tâm và tâm bắt đầu nối lại với nhau, lúc đó mới thực sự gặp lại giữa hai bậc thánh. Còn không, cái vị đó Bất lai không còn trở lại cái kiếp người nữa.
[31:49]Nên cái chữ mà Tu-đà-hoàn có nghĩa là nhập lưu là vào dòng Thánh, nhưng Đức Phật không cho biết là còn tái sinh lại cõi người mấy lần. Bên Bắc tông, bên Bắc tông Đại thừa đó thì cho rằng một bậc Tu-đà-hoàn sẽ trở lại bảy lần, gọi là Thất lai. Bậc Tư-đà-hàm chỉ trở lại làm người sinh làm người một lần gọi là Nhất lai. Còn bậc A-na-hàm là Bất lai, không có trở lại làm người nữa. Đó là theo định nghĩa Bắc tông. Nhưng mà bên nguyên thủy, kinh điển nguyên thủy thì cho một bậc Tu-đà-hoàn không có định nghĩa là Thất lai. Chỉ là nhập lưu vào dòng Thánh thôi, chứ không có nói trở lại đây mấy lần. Mà thực sự, thực sự thì một bậc Tu-đà-hoàn
[32:38]không có giới hạn cái thời gian trở lại trần gian này, vì có thể trở lại rất nhiều lần. Tại vì sao vậy? Khi nào lần tới chúng ta nghe về bài à tuần tới nè, tuần tới chúng ta nghe về bài Tu-đà-hoàn ta sẽ thấy, ta sẽ thấy là một vị Tu-đà-hoàn trở đi trở lại nhiều lần. Tại vì sao? Tại vì bậc Tu-đà-hoàn không đủ thần thông để biết cái điều thực, giả trên cuộc đời này. Cho nên đôi khi bị nhầm, và chính vì bị nhầm nên bậc Tu-đà-hoàn dù rất đạo đức nhưng vẫn vô tình tạo nghiệp. Đó là tính chất của Tu-đà-hoàn rất là tội nghiệp, rất là thương. Rất là thương một vị Tu-đà-hoàn là thánh rồi nhưng vẫn bị nhầm
[33:22]và vẫn vô tình tạo nghiệp, không cố ý nhưng bị vô tình. Còn chúng ta là phàm phu, còn tham, còn sân, còn si, còn cố ý tạo nghiệp, cái khác của chúng ta là vậy. Nên bây giờ nếu mà nói mà phân biệt giữa một người phàm phu và một bậc Tu-đà-hoàn thì ta có thể ngắt cái định nghĩa như thế này là đúng nè: kẻ phàm phu là người còn cố tình tạo nghiệp, còn một bậc Tu-đà-hoàn là một bậc chỉ vô tình tạo nghiệp, chứ không bao giờ còn cố tình nữa vì đạo đức rất là vững. Nhưng mà dù vô tình vẫn tạo nghiệp và vẫn phải trả. Và chính vì trả nên bậc Tu-đà-hoàn còn trở lại kiếp người này rất nhiều lần. Nhưng mà một bậc Tu-đà-hoàn á thì do là cái tâm rất là đạo đức,
[34:08]nên thường là sống suốt một cuộc đời như vậy cái vị đó tạo phước rất là nhiều. Sống một đời vị tha nên thò tay làm cái gì cũng ra phước á, ý nghĩ cũng ra phước, nói chuyện cũng ra phước, hành vi đều ra phước, mà phước nhiều phước ít là là tùy duyên thôi. Cho nên thường là những vị Tu-đà-hoàn mỗi ổng trở lại đời này vài lần là ổng leo lên làm vua tuốt luốt á, tại làm phước nhiều quá. Còn một bậc Tư-đà-hàm
[34:38]khi mà bỏ thân này, thường là lên luôn cõi trời. Tại vì cái sức định, cái tâm linh, cái công đức đủ để lên cõi trời nên sinh lên cõi trời luôn. Thì cõi trời Dục giới hay Sắc giới thì tùy, tùy cái cái vị đó. Nhưng thế nào cũng còn phải xuống đây một lần nữa, chứ không có
[35:03]không có đi luôn được. Vì sao? Vì còn phảng phất một chút tham sân, à cái gọi là tham sân muội lược á, còn tham sân còn mỏng nhạt á, còn một chút tham sân vướng vướng đó, rồi phải trở lại đây một lần. Khi nào một trở lại? Bao lâu thì trở lại? Bỏ cái thân mà đang chứng Nhất lai Tư-đà-hàm á lên cõi trời, bao lâu thì sẽ trở lại đây? Không biết. Nhớ! Những cái con số này trong đạo Phật không định nghĩa mà sự thực là không xác định được. Vị đó có thể 300 năm sau trở lại, nhưng vị đó có thể 30.000 năm sau mới quay trở lại. Lúc đó trái đất đã hoàn toàn khác hẳn. Nhưng mà do cái nhân, cái duyên, cái tâm,
[35:48]cái lượng gì đó mình không hiểu, có khi cái thời gian dài ngắn khác nhau. Có vị 5.000 năm mới quay lại, có người 10.000 năm mới quay lại, có người mấy chục ngàn năm mới quay lại, nhưng thế nào cũng phải quay lại một lần, vì lúc mà rời bỏ thân này tham sân còn phảng phất. Đó là như vậy.
[36:08]Bây giờ, ví dụ như bây giờ ta nói một bậc Bất lai không bao giờ trở lại, bỏ thân này sinh luôn cõi trời, nếu vị đó muốn trở lại thì trở lại được không? Được. Do cái nguyện lực, chứ còn cái nghiệp lực để kéo vị đó trở lại thì không còn nữa, nhưng nguyện lực vị đó còn có thể tùy ý sinh trở lại cõi này. Tuy nhiên nó có những cái khó, nó có cái khó là không phải bậc thánh nào cũng trở lại với kiếp người. Mà hôm trước thầy có nói á là khi mà hành cái hạnh Bồ Tát thường là ở đứng ở A-na-hàm là vậy. Cái vị đó không vào trong Niết bàn, vẫn còn có thể tái sinh và có thể tái sinh như nguyện, nhưng hiếm khi trở lại.
[36:55]Đó là lý do bây giờ ta nhìn hết cả cái thế gian này, từ đông qua tây, từ hang cùng ngõ hẻm, ta tìm một vị Bồ Tát coi có không? Không thấy. Vì rất hiếm khi các vị trở lại với loài người, hiếm khi. Nên nếu đời này có duyên mà ta gặp một bậc thánh thì nói là duyên phúc lớn, chứ thường các vị ít trở lại. Lý do tại sao các vị ít trở lại với loài người? Vì cái thời gian của cõi người với thời gian của cõi trời nó khác nhau quá. Ví dụ lên đó có bao nhiêu việc phải xử lý. Khi mà các vị sinh lên cõi trời, cái việc đầu tiên là gì biết không? Tưởng tượng thử coi. Khi một vị thánh, một người ở cõi người do cái công hạnh
[37:40]gì đó mà sinh lên cõi trời, đầu tiên là cái gì? Gặp lại rất nhiều bậc thầy, bạn của mình ở những kiếp xưa mà ở trên đó lâu rồi. Những vị đó vẫn dòm ngó mình, vẫn theo dõi mình, vẫn hỗ trợ mình, mình gọi là phù hộ mình đó. Nói theo dân gian là phù hộ, gia hộ, gia bị để cho mình ở trong cái lúc mà mình đang còn mê mờ, vô minh ở cõi này mình bớt sai lầm. Chớ thật ra mình sai lầm dữ lắm, mình vô minh không biết thì những vị ở trên đó họ dẫn dắt mình. Hồi đó mình là con mắt phàm mình không biết, nhưng đến khi mình sinh lên cõi trời thì mở con mắt đạo ra nhìn thấy hết. À lúc đó vị này đã dìu dắt mình,
[38:22]vị kia đã gia hộ mình, vị nọ đã bảo vệ mình, vân vân. Thì cái việc đầu tiên của một người sinh lên cõi trời là cái gì? Đi lạy hết, lạy tạ ơn hết. Lạy tạ ơn mất hết bao nhiêu? Mất hết mấy ngày, mất hết vài tháng. Mà vài tháng trên đó thì ở dưới này là sao? Đi đứt của người ta 1.000 năm, mấy trăm năm. Mới nói: "Trời, sao ổng chết hồi đó rồi, ổng là thánh á, tôi trồ ổng, tôi sống với ổng tôi mê ổng lắm, tôi kính ổng lắm, ổng chết cái mất tiêu, không thấy gì hết trơn." Tại vì mất hết trên đó là ổng ổng cũng không phải là quên cõi người này, nhưng ổng xong làm xong cái bổn phận của ổng rồi mà ổng quay trở lại cõi người thì lúc đó mình cũng sao?
[38:59]Mình cũng mộ mình cũng xanh cỏ mấy đời rồi. Người ta cũng giải tỏa mộ của mình người ta đi người ta xây công viên, nhà thờ, nhà trường học gì mất tiêu rồi. Giải tỏa mất rồi, mấy ngàn năm quay lại mất tiêu rồi. Nhưng mình thì ngồi đó mình trách: "Trời ơi, tôi thương ổng ghê mà sao không thấy ổng quay lại ổng phù hộ cho tôi trúng số Vietlott đồ, rầu ghê." Nhưng mà sự thực ổng các ngài đang bận ở trên cái cõi cái việc của cõi thánh của các ngài. Mà ta hiểu khái niệm thời gian giữa các cõi là là khác nhau. Bởi vì sao? Bởi vì sao? Nhớ 14 Vu Lan thầy giảng cái gì? Vì thời gian đi theo vòng vòng tròn.
[39:40]Cho nên ở trên cõi trên ta nhúc nhích qua một độ, ta chỉ một bước chân nhưng cái một độ đó ở cái vòng tròn cái chu vi ở xa cách đó mấy ngàn dặm thì đã là bao nhiêu, bao nhiêu ngàn cây số rồi. Ở đây họ một bước họ đi qua một một độ, còn ở cách xa cái tâm đó mấy ngàn cây số thì để đi nhích đi được một độ là biết bao nhiêu km rồi. Cho nên cái khái niệm thời gian nó khác nhau ở giữa các cõi. Và nói cái thời gian đi theo vòng tròn hướng tâm là một khái niệm vô cùng kỳ lạ, vô cùng độc đáo. Mà chỉ có những người nào mà nghe đi nghe giảng ở Từ Tân và Phật Quang mới lần đầu tiên nghe được điều này, chứ còn không biết đâu.
[40:31]Nên vì vậy đó, khi mà nói ta nói một vị mà Nhất lai, họ chết họ bỏ thân lên cõi trời, chừng nào họ xuống đây? Không đếm được, vì có những việc vị đó phải xử lý ở phía trên, cái tình nghĩa, ân nghĩa, đạo đức. Mà cái nợ ở cõi này nó nhạt mỏng rồi. Nhạt mỏng.
[40:52]Khi một vị chứng Nhất lai mà họ lên cõi trời rồi thì ân nghĩa ở dưới cuộc đời này dường như họ đã trả xong, họ không bị vướng nhiều. Đây là điểm khác nhau giữa các bậc thánh với chúng ta.
[41:07]Chúng ta, cuộc đời này á, chúng ta có ba loại người. Cái ba loại người này thầy sẽ giảng ở lúc khác nhưng hôm nay nói sơ một chút. Một là chúng ta mắc nợ. Mình nhận sự giúp đỡ của người này hết tới người kia. Hai là chúng ta là người chủ nợ, mình giúp hết người này, mình giúp tới người kia. Ba, ở giữa, chẳng ai giúp mình, mình không cần ai giúp và mình cũng chẳng mở lòng giúp ai. Thì là cái hạng ở giữa, ba hạng người này. Nhắc lại nha. Một là hạng người con nợ, cứ năn nỉ người này mượn nợ nhờ người kia giúp riết vậy đó. À cho nên trên và trên TikTok người ta cũng có một cái phương pháp để hướng dẫn mình.
[41:56]Ví dụ có một người lại mượn nợ thì phải trả lời làm sao để cho người ta đừng mượn. Hả Phương Nhất? Phương Nhất chưa ngủ gục? Trả lời là thế nào? Nói: "Dạ, tiền bạc của em, vợ em nó quản lý hết rồi." Vợ đâu mất rồi? Nói như vậy là người ta nhờn liền, tức là không thể vượt qua cái ải của người vợ được. Tại làm sao? Bà vợ khủng khiếp quá, nói vậy. Sao? Thầy không có nói xấu mấy bà vợ, tại TikTok nói chứ thầy không có nói nha. Thì như vậy là ta sẽ ngăn cản được cái việc mà mượn nợ, vay mượn. Nhưng mà trên thế giới này là một loại người là con nợ. Thì cái người mà là con nợ này thì phải làm sao? Chắc chắn một điều cứ phải tái sinh mà trả nợ.
[42:39]Trả bằng cách này hay trả bằng cách khác, mà nếu mà ít phước quá thì phải làm trâu bò mà trả cho người ta. Còn nếu có phước làm người thì cứ phải làm phục vụ cho người ta bằng bao nhiêu hình thức cách nào đó để trả nợ vì ta kiếp trước là con nợ, rất thích nhờ vả. Một loại mà chủ nợ, rất thích giúp đỡ thì người này không có bận trần gian gì hết. Người ta mắc nợ mình, mình không mắc nợ ai cả. Còn loại ở giữa là loại gì? Không đủ phước để không cần phải nhờ ai giúp và cũng không đủ đạo đức để mở lòng giúp ai cả. Cái hạng ở giữa này nghĩa là nó trơ trơ, không nợ ai, không ai nợ mình, nhưng đạo đức thì không đủ để đi đâu cả, cứ làng sang ở cõi người này thôi.
[43:25]Đó, đây là ba loại cõi người này. Thì một bậc mà Tư Đà Hàm có một điều chắc chắn là không phải là con nợ của ai hết. Vì sao? Vì cái lúc mà ổng làm Tu Đà Hoàn á là một đời sống vị tha, không còn thân kiến, không còn ích kỷ đó là ổng từ con nợ đã từ từ trở thành chủ nợ cả. Đó cái khác nhau vậy. Chớ chúng ta vốn là con nợ sống trên cuộc đời này, đầu thai ở kiếp người này chúng ta vốn là con nợ. Nhưng một bậc Tu Đà Hoàn từ cái con nợ dần dần dần dần trở thành chủ nợ. Ổng cứ giúp đỡ người này giúp đỡ người kia, mang ơn ai nhớ suốt cả một cuộc đời này qua tới đời khác. Mang ơn một chén cơm thôi, ray rứt cả một cuộc đời tới
[44:11]khi chết không biết tìm ân nhân làm sao để mà đền ơn. Cái lòng của một người Tu Đà Hoàn vĩ đại lắm, cái tình nghĩa của họ nặng lòng. Lỡ vô tình ghé lại ăn một bát cơm tới chết vẫn còn nhớ cái bát cơm đó. Cho nên cứ tìm cách đền ơn. Không đền ơn được trực tiếp cái người ân nhân của mình thì đền ơn qua vô số những chúng sinh khác trong cuộc đời này, cả cuộc đời chỉ hy sinh phụng sự mà thôi, một bậc Tu Đà Hoàn. Nên ổng có thể ổng trước đó là con nợ nhưng dần dần dần dần biến thành chủ nợ mất. Đó là bậc Tu Đà Hoàn, thì bậc Nhất Lai cũng như vậy. Bậc Nhất Lai sạch nợ dần dần đối với cuộc đời này. Mình sống một đời chỉ ban ân nghĩa giúp người mà thôi,
[44:55]chứ không có không có không phải làm làm con nợ. Nên khi mà vị đó bỏ cái thân này lên cõi trời, lòng nhẹ với trần gian. Chúng sinh thì thương nhớ tại chúng sinh là con nợ gần hết của ổng rồi. Ổng là chủ nợ, chúng sinh là con nợ gần hết rồi. Cho nên chúng sinh thì cứ thương nhớ, cứ thắp nhang khóc xì sụp, nhưng ổng sao? Lòng nhẹ phơi phới đi mất luôn, lo chuyện khác, lo chuyện thánh ở đâu trên kia kìa chứ không còn bận tâm với trần gian, tại mình đã nhẹ nợ. Nên ở đây ta nhớ hôm trước chúng ta thường hay nói những bài về tình cảm đó. Hai người gặp nhau thương nhau là lý do gì? Nợ nhau. Người này lo qua, người kia lo lại cho nên nợ nhau.
[45:42]Mình gặp những gặp những cặp đôi mà cái đạo đức họ kém thì biết rằng kiếp xưa họ không bao giờ lo cho nhau chu đáo được. Nên cái nợ họ rất ít và dễ dễ chia tay. Còn những người mà họ có đạo đức á thì những kiếp xưa họ lo cho nhau kỹ lưỡng, chu đáo, thành ra cái ân nợ nhiều, duyên nợ nhiều, nó mới gắn nó chặt. Đời này họ bền vững là vậy, thực ra chính đạo đức từ những kiếp xưa mới làm thành một cái hôn nhân bền vững ở đời này, lý do là như vậy. Còn cái người kém đạo đức thì cái ân nghĩa kém đời này cái hôn nhân cũng cũng mong manh, hời hợt. Thì khi mà cái nguyên nhân của cái tình yêu thương nếu không phải do đạo đức thì là do
[46:31]duyên nợ, là nợ qua nợ lại mà người ta thương nhau. Thì đấy, thì cứ nói: "Trời ơi, sao tôi thương ông nhiều mà tôi thấy ông thương tôi ít quá?" Điều đó có đúng là bởi vì sao? Tại tôi mắc nợ ông nhiều mà ông mắc nợ tôi ít quá, vậy. Nợ người nợ nhiều thì thương nhiều, người nợ ít thì thương ít, vậy thôi. Một bậc Nhất Lai ổng không nợ ai hết, ổng chỉ thương chúng sinh trong cái đạo đức. Còn chúng sinh thì sao? Thương ổng, thương nhớ: "Thầy chết rồi tới giỗ của thầy giỗ quá chừng giỗ." Sao vậy? Vì nợ, nợ nhiều. Còn ổng thì ổng phủi tay, ổng đi mất rồi. Đó là lý do. Nhưng mà ổng còn trở lại một lần, không biết bao nhiêu ngàn năm mới trở lại
[47:19]một lần vì còn phảng phất một chút tham, sân nằm thẳm sâu trong trong kiết sử đó, trong bản năng, trong tâm thức á thì sẽ trở lại, không biết mấy ngàn năm mới trở lại. Cái khác nhau như vậy. Nghe nghe thú vị không ta? Nghe bài này nó nó tinh tế lắm, mấy bài này như vậy nó tinh tế. Nên ta cũng phải phải có trí tuệ, có thông minh và có tu tập mới mới thấy thích, nghe những điều này mới thấy thích. Còn nếu mình không phải là người có tu tập nghe điều này đấy, cũng dễ buồn ngủ lắm. Thì cái một vị Nhất Lai thì tâm thanh tịnh.
[47:59]Một bậc Tu Đà Hoàn á thì tâm có chánh niệm tỉnh giác nhưng mà chưa chắc nhập định được. Nhớ cái giai đoạn chánh niệm tỉnh giác mất thời gian lắm á, không biết bao nhiêu trăm năm á, rồi mới tới giai đoạn nhập định. Thì một bậc Tu Đà Hoàn thì chắc chắn là có chánh niệm tỉnh giác. Nên cái vị Tu Đà Hoàn á họ
[48:22]họ họ thông minh vì họ có chánh niệm tỉnh giác thường xuyên. Nhưng một bậc Nhất Lai thì ổng có thể nhập định được một chút á, có khi ổng nhập được Sơ thiền, đôi khi nhập được Nhị thiền, nhưng vẫn cái quả vị thì vẫn là Nhất Lai, nhưng mà cái sức thiền định có khi sâu khi cạn tùy vị nhưng có nhập định được. Và chính vì cái tâm thức của một vị Tư Đà Hàm mở ra nên vị này có một số thần thông. Nên vậy một vị Tư Đà Hàm có một số thần thông. Cái hai cái thần thông mà căn bản nhất của một vị Tư Đà Hàm là tha tâm thông và túc mạng thông. Đó là căn bản. Tha tâm thông là biết tâm người khác, biết rõ luôn á.
[49:05]Một vị Tu Đà Hoàn thì biết chập chờn, chập chờn. Ví dụ như nhìn một người thì có thể đoán được tính cách hoặc là khi vào công việc gì có thể đoán được ý người khác, nhưng cái đoán đoán của một vị Tu Đà Hoàn nó giống như thông minh quá. Vậy đó, trực giác chập chờn chập chờn vậy đó, như thông minh quá cũng đoán được phần nào, vậy đó. Ví dụ như khi ta ta gặp một người cái ta đoán được: "Ờ người này tốt nè, người này dễ thương. Ô ông này ích kỷ, ông này khó tánh quá." Đại khái mình đoán sơ sơ cái chập chờn chập chờn của trực giác đó là của của Tu Đà Hoàn. Nhưng mà ông Tư Đà Hàm thì thì không phải chập chờn, ổng biết rõ luôn.
[49:43]Giống người ta gọi dùng cái chữ là ông bà mình gọi là cái chữ gì?
[49:50]Đi guốc cao gót trong bụng người ta.
[49:56]Hiểu hiểu hiểu thẳm sâu ở trong lòng người ta, hiểu cả những ý nghĩ nho nhỏ chứ không phải là hiểu cái tính cách tổng quát. Còn hiểu tính cách tổng quát là của Tu-đà-hoàn. Tu-đà-hoàn ví dụ nhìn người đó nói: "Trời ơi, mày không thương thằng nào sao mày lấy cái thằng đó nó khó tánh mà nó hà tiện lắm nha, nữa mà nó đếm từng cân cân muối một giọt đường nữa nha, nữa mày sống không nổi đâu. Sao mày mê nó dữ vậy?" Nói: "Không biết sao tao thương tao bỏ không được á." "Mày chết à, mày lấy thằng đó mày chết à, nó cân miếng muối miếng đường nữa mày ở không nổi đâu." Thì biết tổng quát cái tính cách con người như vậy, đó là Tu-đà-hoàn.
[50:29]Còn ông Tư-đà-hàm á nói: "Mày biết nãy giờ ổng nghĩ cái gì về mày không?" "Sao?" "Ổng dòm mày ổng nói: 'Nữa mày về mày nấu cơm cho ổng là hơi ngon đó.'" Tức là đọc được cái ý nghĩ cụ thể luôn, đó là Tư-đà-hàm. Tư-đà-hàm là đọc được ý nghĩ rất cụ thể, còn Tu-đà-hoàn là đánh giá con người tổng quát. Đây là cái trực giác và cái thần thông về tha tâm thông, tha tâm thông. Và cái Tư-đà-hàm thì đặc biệt nữa là có túc mạng. Có người túc mạng được mấy kiếp, có người cũng rất nhiều kiếp. Nhưng mà A-na-hàm thì biết túc mạng rất là xa, còn A-la-hán thì vượt khỏi biên giới luôn, A-la-hán người ta không nói rồi.
[51:06]A-na A-la-hán thì bậc là siêu việt của túc mạng cho tới vô tận, vô biên luôn, biết hết luôn. A-na-hàm thì cũng biết rất nhiều về túc mạng, nhưng bậc Tư-đà-hàm thì cũng biết túc mạng một số. Nên có cái câu chuyện á có cái câu chuyện mà dưới cái pháp hội của ngài Trí Khải, có ông cư sĩ ổng nấu bếp. Ổng nấu bếp sau cái mấy cái người mà công quả nấu bếp mới chạy lên mách với ngài Trí Khải, nói nói: "Thưa thưa thưa Hòa thượng, cái ông cư sĩ ổng nấu bếp ổng ngồi luôn ngay cái cái lò đó ổng ngồi hai ngày rồi, không nhúc nhích." Thì cái ngài Trí Khải ngài xuống ngài nhìn ngài thấy ổng ngồi thiền nhập định ngay luôn bên cạnh cái bếp.
[51:46]Ngài thôi để yên đợi cho ổng ổng ổng xả thiền ra ngài mới kêu lên hỏi. Hỏi: "Ngươi làm sao mà nhập định như vậy?" Nói: "Dạ, con đang nấu bếp, nấu cơm, thấy nhìn cái lửa cháy cái đống củi, củi nó tàn dần tàn dần, con quán cái lý vô thường bỗng nhiên con nhập định luôn." À! Mà nhập luôn hai ngày thì sức định khá sâu, thì ngài mới hỏi: "Ngươi có nhớ túc mạng không?" Nói: "Dạ nhớ." Đó ngay lúc ổng nhập định ổng thấy được túc mạng của ổng luôn. "Túc mạng ngươi như thế nào?" Nói: "Dạ, đời trước con là tri sự ở trong chùa, xuất gia. Nhưng mà con vì từ bi này kia hay lấy đồ của tăng chúng đem cho mấy người cư sĩ
[52:28]bên ngoài, cho nên đời này con bị kỷ luật, bỗng nhiên không làm tăng được nữa. Trong lòng không cứ lấp la lấp lửng không làm tăng, mà không ai khuyến khích con làm tăng, hòa thượng cũng không muốn cho con xuất gia, nên con cứ quanh quẩn ở chùa công quả vì cái duyên với chùa từ nhiều đời nên chỉ làm cư sĩ. Nhưng mà đời xưa lúc làm tri sự đó con rất tinh tấn ngồi thiền, nên đời này kết quả thiền nó hiện ra lại, nó đạt được kết quả lại và nhớ được túc mạng." Thì cũng không biết, cái câu chuyện nó chỉ ngừng ngang đó nên ta không biết là ông biết được túc mạng bao nhiêu đời, sau này ông có xuất gia nữa hay không và ổng có giáo
[53:01]hóa không thì câu chuyện tới đó tắt luôn. Trong hành trạng ghi về những điều đó không nói nữa. Rất nhiều vị bị như vậy, có những vị có những kết quả mà trong hành trạng, trong sử sách không ghi hết. Thì đây là cũng một trường hợp của một người biết được túc mạng của chính mình á, và có khi biết được túc mạng của người khác khi nhập định. Khi nhập định có thể biết được túc mạng của người khác. Thì những vị tu đà Tư-đà-hàm á là ở cái ranh giới đó. Bắt đầu tâm linh mở ra, có trực giác mà có thể đoán biết được việc sắp tới trong một khoảng thời gian vừa chừng, chứ không biết được mà tới mấy ngàn năm
[53:38]sau của bậc như bậc A-na-hàm, nhưng có thể thoáng biết được như vậy. Ví dụ như nói là: "Coi chừng rớt cái cây viết." Đó người ta có thể thấy trước được một số chi tiết như vậy, nhưng thoáng biết thoáng biết như vậy, là họ biết trước một số việc chút chút chút chút như vậy à vậy.
[53:59]Tránh thì khó tránh nhân quả, nhân quả tránh mà muốn chuyển thì đó là bài toán phức tạp sau này, nhưng đại khái là vị Tư-đà-hàm có thể biết được một số việc tương lai, biết được một số túc mạng quá khứ và biết được tâm người khác. Cho nên cũng là điều thú vị. Nhưng ở đây thế này,
[54:18]khi tâm thanh tịnh thì ta biết được nhiều điều hơn, mà tại sao phải tâm thanh tịnh rồi mới biết?
[54:28]Như mình bây giờ mình rất cầu mong là mình biết được mọi chuyện, phải không ạ? Mình bây giờ cái điều đầu tiên mình cần biết nhất là cái gì? Vietlott sẽ ra số mấy? Đó là điều quan trọng cực kỳ, ai cũng mong biết cái đó trước cái đã. Đúng không? Không không biết được, khổ vậy. Mà còn nhiều thứ nghĩa là mình mình mình rất thích biết nhưng mà không ai cho mình biết bởi vì tâm mình không thanh tịnh. Vậy người nào mới được quyền biết Vietlott sắp ra số mấy? Người nào? Người nào không còn tham tiền nữa thì sẽ biết Vietlott ra số mấy. Nên ở đây vậy, ví dụ như chúng ta chúng ta còn là phàm phu, còn tham, còn sân, còn si, ích kỷ đủ thứ mà chúng ta biết
[55:13]đủ thứ chuyện trên cuộc đời này thì chuyện gì xảy ra? Ta điên trong 5 phút liền. Ta không chịu nổi cái thế gian này. Ta không chịu nổi cái thế gian này, tại sao vậy? Ta kinh hoàng luôn. Nghĩa là nhìn con người đẹp đẽ như thế này với nhau nhưng tất cả bên trong đều ẩn chứa những điều xấu xa, độc ác, đê tiện, hèn hạ, dơ bẩn, mình không chịu nổi thế gian này. Nếu mà biết thật sự thế gian này là gì rồi mình điên liền. Cái kinh khủng của thế gian, cái sự ác độc của thế gian này kinh khủng. Bên ngoài thì ai cũng đẹp, cười cười, nhưng bên trong tất cả đều xấu xa. Hiếm có người mà mà tốt đẹp, đạo đức, quân tử, thánh thiện rất là hiếm.
[55:52]Phải muốn tìm những người mà tốt đẹp, đạo đức, quân tử, thánh thiện chỉ tìm tới chùa Từ Tân, chứ khó vô cùng! Nói đùa vậy thôi.
[56:06]Nên cái người mà tâm thanh tịnh á thì họ biết hết á, nhưng mà vì họ họ thanh tịnh nên họ bình thản, bình tĩnh và độ lượng. Họ độ lượng nghĩa là họ không ghét. Đó cái hay của một người tâm thanh tịnh là họ không ghét dù biết cái xấu của người khác. Đó là lý do tại sao mà ta yêu kính Đức Phật, bởi vì Đức Phật biết chúng ta hết mà ngài không bao giờ ghét ta. Nghĩa là ta cứ quậy đã đời rồi tới sám hối, là ngài cứ kiên nhẫn vô cùng. Đó, cứ sám hối đã đời xong quậy tiếp, rồi lại đi sám hối, là chỉ có Phật mới đủ sức mà kiên nhẫn vậy với ta chứ không. Chưa hết, ta chỉ sám hối thôi, bắt đầu mà bắt đầu ta gặp họa thì tới Bồ Tát Quan Âm.
[56:52]À, thấy chưa? Tức là ngài phải gánh cái nghiệp của ta, ngài phải dùng thần lực của mình để gánh cái nghiệp của ta. Rất là tội chứ không phải, nếu mà phước ít ngài không làm nổi mấy chuyện đó. Sáng nay vậy, có một cái tin nhắn một Phật tử dài rớt vào là nói: "Con vừa gửi chuyển khoản cúng dường thầy vì lý do sao? Lý do là hôm con nghe thầy giảng ở chùa Bửu Phong về sự linh ứng của Bồ Tát Quan Âm về giếng thần và cái thần lực của Bồ Tát có thể giải nghiệp, con đã xin cái điều đó và đúng là đã vượt qua được. Nên hôm nay con cúng dường thầy một miếng để đền ơn." Mà như vậy tức là ngài gánh nghiệp mình đó.
[57:34]Đó, bao nhiêu nghiệp của mình, bao nhiêu tội lỗi mình đổ lên hết cho Bồ Tát Quan Âm thì ngài mới giải được chứ. Cái sự vĩ đại của Bồ Tát Quan Âm ta không nói hết được là vậy đó. Cũng giống như bây giờ nói Sư bà trụ trì chùa Bửu Phong, à Sư bà thì đức độ, uy đức lắm, dễ thương. Và Sư bà là trụ trì cái chùa mà có cái giếng thần, nhưng thầy nói nhỏ: Sư bà không tin giếng thần. Ai uống thì cứ tới xin mà uống, chứ bả không tin.
[58:04]Cho tới một ngày, cho tới một ngày đẹp trời, mà Sư bà thì bị đau cái đầu gối đi cà nhắc cà nhắc ngồi không được, nhưng Sư bà không bao giờ uống nước giếng thần. Cho tới một ngày có một bà cụ đau cả hai cái đầu gối, con cháu dìu lên đó và nói: "Con nghe giảng là cái giếng này linh, xin uống." Thì cái bà cụ bả uống, bả hết. Sư bà bắt đầu mới tin, mới lấy uống thì mình hết luôn cái đau đầu gối luôn. Lạ như vậy. À! Đó, nói nói: "Bụt nhà không thiêng" đó, giếng nhà giếng chùa hổng thiêng đó, phải đợi người ta mà người ta có linh ứng rồi bắt đầu Sư bà mới tin, cuộc đời nó như vậy. À, cuộc đời như vậy.
[58:46]Nhiều nhiều khi mình có ông thầy dễ thương nhưng mình không biết đâu, phải không? Coi thường lắm, nhưng thật ra ổng dễ thương lắm á. Cứ mình mình đi tìm ông thầy ở đâu á,
[59:00]chứ ông thầy mình ở đây nè, ổng mới dễ thương, mà mình lo đi đâu!
[59:08]Thì một bậc mà Tư-đà-hàm á các ngài ta gọi là buông tay rời bỏ trần thế. Bởi vì ngài đã là chủ nợ chứ không phải là con nợ. Cho nên cái thái độ tự tại của các ngài ta nhớ liên quan tới nhân quả, chứ không phải là cái tự tại của các ngài là yếu tố tâm lý. Nên ta không biết, nhiều khi ta nói: "Ôi, anh tu anh tự tại, anh bỏ đi, có gì đâu mà anh bận tâm." Ta nói đó là nói trên tâm lý, ta quên mất yếu tố nhân quả. Mà nếu là đạo lý, nó phải vừa tâm lý mà vừa nghiệp báo. Muốn tự tại không có tự tại được đâu. Giống như bây giờ vậy, có cái ông đó nói: "Sao tôi muốn đi tu quá." Cái mà bị kẹt hai đứa con, bà vợ thì coi vậy chứ cũng nhẹ lòng,
[1:00:00]nhưng mà bị lỡ tạo hai đứa con rồi bây giờ không đi tu được. Thì sẽ có hai ý kiến: một ý kiến là "Anh bỏ đi đi, không có chết đâu, anh cứ đi vô chùa tu đi, không sao, đi đi. Phải dứt khoát vậy, cuộc đời này phải tự tại, đời này vô thường sống nay chết mai, anh ý thức được điều đó thì anh phải đi tu liền, anh bỏ đi." Ông thứ hai nói: "Anh làm ơn anh nuôi cho nó lớn chút xíu. Chừng nào mà nó nó tự lo được rồi anh mới có thể đi tu được. Từ đây cho tới cái ngày mà nó tự tại nó lo được thì anh phải tu tại gia cái đã, tu như một người tu." Cái lời thứ hai mới là đúng, vì nó liên quan tới nghiệp báo.
[1:00:33]Vừa là tâm lý mà vừa là nghiệp báo thì ta mới đạt được cái sự tự tại. Chứ còn mình cứ cắt ngang cắt ngang mà nói là tự tại, chỉ nói tâm lý không, người này sai, không hiểu sâu về thiền, không hiểu sâu về đạo lý, không phải là đơn đơn giản đâu. Thì một bậc Tư-đà-hàm khi họ chết là họ phủi tay họ đi liền, chỉ bởi vì sao? Họ không phải là con nợ nữa mà họ đã là chủ nợ, mà chủ nợ thì họ phủi nợ, họ không cần. À! Nếu ta xem Đỉnh Núi Tuyết tập 54, ta sẽ nghe một lời giải thích của ngài Mục-kiền-liên về cái nợ và con nợ này một chút, mặc dù cái ngôn ngữ nó không phải giống như vậy.
[1:01:22]Một bậc Tư-đà-hàm Nhất lai còn phải trở lại một lần bởi vì còn một ít nợ à do phảng phất một chút tham sân nên còn một ít à nợ và phải trở lại để trả, không tránh được.
[1:01:42]Thì
[1:01:46]nó là nghiệp báo. Thì một vị A-na-hàm Bất lai hết tham sân và cũng hết nợ, ngài không cần phải trở lại.
[1:01:59]Bây giờ chúng ta hỏi thế này: vì có nợ nên các ngài phải trở lại để trả, nhưng nếu các ngài quá nhiều phước thì các ngài có phải trở lại hưởng hay không? Thấy không, nhân quả mà? Nợ anh trở lại anh trả, thế còn phước có trở lại hưởng hay không?
[1:02:30]Muốn hiểu câu này ta sẽ hình dung một câu chuyện khác. Có ông bố ổng chết. Ừ có hai trường hợp. Sau khi ổng chết rồi mới phát hiện ổng nợ ngân hàng năm tỷ. Vừa rồi có câu chuyện đó đó, có thằng bé bốn tuổi mà bố chết để lại một cái món nợ ngân hàng. Nợ ngân hàng nó ngân hàng nó rất thương nhưng bây giờ phải phải xử lý, chứ bây giờ tiền đó cũng tiền của khách hàng mà. Tiền của bao nhiêu người gửi chứ đâu phải tiền của ngân hàng đâu mà cho nó. Nói ba nó chết rồi thì mất nợ thôi trừ nợ, hổng có. Nó bốn tuổi thì bốn, nhưng nó là người thừa kế và nó là người thừa kế cái nợ của ngân hàng. Thì đó là trường hợp thứ nhất,
[1:03:09]ổng chết bất ngờ ổng để lại một đống nợ thì làm sao?
[1:03:19]Kêu ổng sống dậy mà trả, đào mồ ổng lại trả cho xong. Vì những người con của ổng không đủ sức trả, ổng vay nợ, ổng phải trả. Trở lại mà trả. Nhưng không phải là nợ, lần này ổng để lại một ngàn cây vàng
[1:03:37]thì ổng có phải trở lại trả không? Có không? Không. Đi luôn, ổng rảnh tay ổng đi luôn. Vì ổng để lại thừa một đống phước và những con ổng hưởng một ngàn cây vàng đó. Thì một bậc Thánh cũng vậy, hai trường hợp. Bậc Thánh còn nợ còn nghiệp phải trở lại mà trả. Nhưng nếu không còn nợ còn nghiệp chỉ còn phước mà thôi thì làm sao? Không cần quay lại trả. Vậy cái phước đó ai hưởng? Phước đó ai hưởng? Ai hưởng? Trả lời giùm tôi cho chính xác coi.
[1:04:19]Nợ thì đích thân vị đó phải trở lại mà trả. Phước ai hưởng? Không trở lại, không cần trở lại. Bị phước rồi thì mình tự tại rồi, không cần quay lại trả thì ai hưởng cái phước đó? Trong khi các ngài ở cõi đó các ngài thênh thang chả thèm hưởng. Vậy ai hưởng? Ai? Đây, câu trả lời là đây: ai lạy ngài thì người đó hưởng.
[1:04:51]Cho nên ai khôn thì lạy nhiều nhiều một chút để hưởng cho hết cái gia tài của ngài để lại nha. Đó là lý do.
[1:05:03]Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm phẩm Phổ Hiền á, ngài Phổ Hiền có ca ngợi Đức Phật câu như thế này: Ta dùng đạo nhãn xem khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, tức là một cái một cái một cái thiên hà đó, không thấy chỗ nào mà không phải là chỗ Đức Thế Tôn đã xả bỏ thân mạng vì chúng sinh. Là phước của Phật nhiều hay ít? Thì ai hưởng? Ai hưởng, bây giờ ai hưởng?
[1:05:38]Ai khôn mà lạy Phật thì hưởng cái gia tài đó. Còn ai ngu thì sao? Thì đó đi lạy ông Thần Tài, ông Thổ Địa nào đó không biết à. Còn ai khôn thì lạy lạy Phật. Từ từ mình hưởng được hết cái phước của Phật để lại. Đó là bí mật, hôm nay được tiết lộ đó. Nên ráng mà, ráng mà lạy Phật cho nhiều, vậy nha. Thì một bậc Tư-đà-hàm ấy, phước ngài đã làm tràn ngập, nhưng vẫn còn một chút tham sân, còn chút nợ, quay trở lại một lần để trả. Nhưng sự thật một lần đó ngài trở lại cũng cực kỳ vinh quang, thường là ở cái thân phận rất vinh quang để hoàn thiện tu hành và làm các công đức để xóa hết cái nợ một lần cuối rồi có thể là ngài chứng A-la-hán hoặc trở chứng một vị A-na-hàm
[1:06:27]Bất lai đi luôn, không bao giờ trở lại nữa, nhưng phước vẫn để lại tràn ngập. Thì cái may mắn là có người nào đó ngày xưa biết cái vị đó và vẫn còn tôn thờ thì hưởng sạch hết cái phước đó luôn. Ví dụ như là bây giờ ông đó ổng chứng Nhất lai hay là ổng chứng A-na-hàm hổng ai biết hết. Tại nhiều khi những vị A-na-hàm họ mang hình thức cư sĩ rồi làm rất nhiều công đức, chết. Chết nhưng mà bây giờ bà con, bạn bè, thân thuộc đâu khoảng được một trăm người, trong một trăm người đó chỉ ba người biết là vị này chứng quả thôi. Còn bao nhiêu người kia vẫn thấy ổng tốt tốt thôi hà. Thấy tốt tốt chứ cũng không thấy gì, nên ổng chết rồi thì thôi.
[1:07:09]Nhưng chỉ có ba người biết vẫn lấy cái ảnh để thờ, đem cái ảnh về nhà thờ, vẫn tưởng nhớ. Nhiều khi con cháu nói: Ủa, ông này là gì mà ba thờ? Nói: Thầy của ba đó con, con lạy đi. Không phải ông nội, ông ngoại, không phải tổ tiên gì hết trơn á, nhưng mà chỉ là một cái người không dính líu gì nhưng mà ổng vẫn thờ tại ổng biết. Ổng biết ông này là một bậc đặc biệt, ổng mới đem về ổng thờ. Ba người thì ba người đó hưởng sạch hết cái phước mà một vị A-na-hàm để lại. Còn bao nhiêu người khác không hiểu được, không hiểu được sâu sắc cái mức độ đó nên không ai hiểu được, không ai được hưởng cái phước đó.
[1:07:44]À đây đây là những bí mật trong trời đất như vậy à.
[1:07:51]Một vị mà chứng Tư-đà-hàm á thì ngay trong đời này vị đó có thể tự tại lên cõi trời để thăm cõi trời, không phải bằng cái thân nhục thân này mà bằng tinh thần, gọi là bằng linh hồn. Vị đó có thể ngồi thiền xuất hồn đi lên cõi trời, thăm cõi trời và biết rất nhiều việc ở trên đó. À một vị Tư-đà-hàm họ đạt được cái mức độ đó rồi. Còn một vị A-la-hán thì họ bưng cái nhục thân lên cõi trời luôn. Đó là khác nhau. Nhưng một vị A-na-hàm có thể mang cái nhục thân này đi rất là xa. Tại vì sao? Như hôm trước mà thầy giảng thầy có nói
[1:08:32]đối với một vị A-na-hàm thì vật chất này cũng là tâm, nên chỉ bằng ý nghĩ các vị điều khiển được cả vật chất. Còn như mà từ một vị A-na-hàm trở xuống thì cái đó lấp lửng, không rõ ràng. Đôi khi các vị nhúc nhích được một cái bát từ xa nhưng mà đôi khi không, vì Tư-đà-hàm thì thấp hơn một chút. Nhưng một vị A-na-hàm thì hoàn toàn tự tại đối với vật lý, đối với vật chất, có thể điều khiển được vật chất. Vì vật chất ở mức độ đó cũng là tâm, đây là bí mật. Còn một vị A-la-hán thì thôi siêu việt rồi, nên trong kinh Phật có có ngài Gavampati là ngài Ngưu Chủ á, một vị A-la-hán có thần thông thì ngài có cái tật là buổi sáng ngài đi khất thực,
[1:09:22]đi khất thực xong ghé cái gốc cây nào đó ngồi ăn, ăn xong ngài lên cõi trời Tứ Thiên Vương ngủ trưa một chút. Ổng mang luôn cái thân đi luôn à. À ổng vậy đó, ổng lắc léo ổng lên trên đó ổng gặp ai gặp, rồi có khi ổng xuống lại xuống lại mất đứt của người ta một, hai tháng. Một giấc ngủ trưa của ổng mất đứt đó tại cõi Tứ Thiên Vương nó rất gần với cõi người, cho nên cái khoảng thời gian nó nó xê dịch không nhiều. Ừ mà ở dưới cõi người phòng ốc của bộ nó không đàng hoàng, đang đi ngoài đường khất thực chỉ có mấy cái gốc cây nó không tiện nghi lắm. Mà ngày xưa ở cái xứ Benares ngài cũng là một công tử con
[1:09:59]nhà giàu, cho nên là là quen ở cái nệm ấm, chăn êm. Bây giờ làm Tỳ-kheo rồi, đi lang thang ngoài đường đi khất thực không lẽ vô xin nhà nói vô đây cho thầy nghỉ trưa, nó không có cái tục lệ đó. Cái quy luật của một Tỳ-kheo là không có đi khất thực rồi vô xin nhà người ta ngủ trưa, ở ngoài gốc cây kiếm đâu đó làm gì đó làm. Đời sống một Tỳ-kheo cũng vất vả. Mà ngài A-la-hán rồi, ngài ăn cơm xong ăn cơm cho chúng sinh có phước thôi chứ các ngài cũng chả cần ăn uống gì. Nhưng mà đi khất thực giả vờ vậy, ai bỏ được miếng cơm, ai bỏ được miếng rau vô là mấy người đó có phước vô tận. Ngài ăn vì chúng sinh mà ăn chứ không phải là vì cái thân của mình mà ăn nữa.
[1:10:38]Này ăn xong nghĩa là đi đó thay vì giáo hóa đi lấy phước cho chúng sinh rồi ngài biến mất ở cõi người, hiện trên cõi trời Tứ Thiên Vương ngủ trưa ở trển á. Tới khi ổng bước xuống đi mất của người ta một, hai tháng là ổng mang luôn cả thân nhục thân đi. Nhưng mà còn vị Tư-đà-hàm thì không đủ sức để mang cái nhục thân lên cõi trời mà chỉ bằng cái thần thức mình đi thôi. Là nhập định cái có thể lên cõi trời biết chuyện này chuyện kia như vậy. Đó như vậy. Do đó cái cõi trời của các ngài là một nơi quen thuộc. Vì lúc còn sống ổng lên đó hoài mà, nên xuống hoài, nên là khi ổng chết về cõi trời là điều bình thường.
[1:11:20]Nên có một vị thiền sư á như ngài Động Sơn vậy, khi ngài sắp tịch, đệ tử ngồi khóc như mưa vậy đó. Đệ tử ngài đông lắm tại ngài nổi tiếng. Ổng mới rầy, nói: Tại sao các ngươi khóc? Còn ta, ta biết ta đi về đâu. Cho nên ta thanh thản, còn các ngươi bộ các ngươi nghĩ là ta không có chỗ đến hay sao mà các ngươi ngồi đó mà khóc bù lu bù loa? Cái ngài nhập định nhập định, khóc quá cái ngài xuất định trở lại, không chết nữa, nói: Thôi giải tán. Một qua ngày hôm qua hôm sau thấy mọi chúng bình tĩnh rồi, ngài bắt chân ngồi kiết-già bỏ thân chết liền, tịch liền. Tức là ngài sống chết rất là tự tại. Nhưng bữa trước tính chết thấy đệ tử khóc quá
[1:12:06]à thôi không chết nữa, qua bữa sau chết. Ngài Động Sơn ngài rất là nổi tiếng. Ở trong cái câu mà nói: Ta biết chỗ nào ta đến. Thì thì cái cái cảnh giới mà ngài đến có thể một cõi trời Sắc giới nào đó cũng rất là cao siêu. Ngài biết rõ ngài sẽ đến đó quen quen thuộc bởi vì lúc còn sống ngài thường tới đó rồi. Thì một bậc Tư-đà-hàm cũng vậy, nhưng thường một bậc Tư-đà-hàm lên tới cõi trời Dục giới là thường xuyên, biết những chuyện trên cõi trời là là thường xuyên.
[1:12:41]Trong cái ngôn ngữ giáo hóa của một bậc Tư Đà Hàm thì thế này: các vị bày tỏ cái sự tự tại nhưng cũng bày tỏ cái lòng tôn kính Phật nó đi đôi với nhau. Đây là điều chúng ta đánh giá. Nếu một vị mà bày tỏ cái sự tự tại mà không bày tỏ cái lòng tôn kính Phật thì người này chỉ chứng thiền chứ không chứng thánh. À. Còn cái người nào mà bày tỏ cái sự tự tại, thanh tịnh của nội tâm nhưng vẫn kèm theo bày tỏ cái lòng tôn kính Phật thì người này có chứng thánh. Thì một bậc Tư Đà Hàm là như vậy. Bậc Tư Đà Hàm khi ta đến gần với vị đó, vị đó lúc nào cũng khuyên ta tôn kính Phật. Bởi vì vị từ đó mà đi ra mà, vị đó từ cái lòng tôn kính
[1:13:25]Phật mà được được quả thánh nên các vị nhớ rất là rõ. Còn một người mà chứng thiền không á, không có chứng thánh á, thì thấy tâm mình đạt được thiền tự tại rồi cứ thích diễn tả về về cảnh giới tự tại của mình, giống như khoe. Mà khi ai hỏi tu thiền sao thì toàn là khoe cảnh giới tự tại của mình. Hôm trước thầy đã nói là chỉ nói Diệt đế mà không nói Đạo đế. Tại vì tới phần Đạo đế, sư phụ sẽ giảng lại chỗ đó rất là kỹ. Ai hỏi tới tu hành toàn là khoe cảnh giới của mình, chỉ nói Diệt đế. Còn tu làm sao? Không nói. Mà không nói thì nói vịn vào lý do gì? "Giáo ngoại biệt truyền". Không nói, không nói Đạo đế thì ai mà tu?
[1:14:08]Cho nên nhiều khi cả mười ngàn người tu theo, một hai người bất ngờ ngộ vì cái duyên đời xưa thôi. Còn rất nhiều người vẫn mờ mịt không biết đường đi. Ta nói thôi tới Đạo đế ta sẽ nói lại. Còn một vị Tư Đà Hàm á, cũng có thể là vị này chưa thiện xảo trong việc giáo hóa. Có thể là vị này chưa đủ ngôn ngữ, đủ khéo léo, đủ đủ kỹ năng sư phạm để giáo hóa. Tại cũng không phải ai Tư Đà Hàm là cũng đạt được kỹ năng sư phạm. Vị đó có thể là cái việc mà giáo hóa, dạy dỗ, hướng dẫn cũng có thể vụng về, cũng có thể khéo léo tùy vị. Nhưng cái căn bản của một vị Tư Đà Hàm là đạo đức. Lúc nào cũng nhắc ta về đạo đức,
[1:14:51]lòng tôn kính Phật, lòng yêu thương chúng sinh, cái sự nhẫn nhục, cái sự vị tha, luôn luôn là có cái yếu tố đạo đức. Và cái yếu tố đạo đức này cũng được gọi là Đạo đế, là con đường để đi, là phương pháp để tu. Nên coi là khi ta gần một vị Tư Đà Hàm, từ Tu Đà Hoàn trở lên là đã như vậy rồi, ta thường nghe nhắc nhiều về đạo đức. Nó nó khác với một vị mà không phải thánh vị thì cái vị đó cứ khoe cái sự tự tại của cá nhân mình làm cho ta rất nể phục mà không biết cách nào để tu. Còn một vị mà thánh vị từ Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm thì các vị đôi khi cũng bày tỏ cái tự tại của mình nhưng sẽ nhắc nhiều về đạo đức mà trong đó đặc biệt là lòng tôn kính Đức Phật.
[1:15:37]Mà tại sao ta phải tôn kính Đức Phật? Để ta đục đẽo lấy cái gia tài của của Phật mà xài. Đó là bí mật nha, đó vậy đó.
[1:15:59]Một vị Tư Đà Hàm thì đã là trên bậc Tu Đà Hoàn, nên cái điểm đầu tiên là vị đó giống như tuyệt đối vị tha, hết cái thân kiến, hết cái kiết sử thân kiến, từ Tu Đà Hoàn đã hết rồi. Từ Tu Đà Hoàn là đã không còn cái ích kỷ của thân kiến cho nên đã sống một đời vị tha. Mà cái vị tha của một vị Tu Đà Hoàn á, một vị Tu Đà Hoàn á vị tha, một vị Tư Đà Hàm cũng vị tha, một vị A Na Hàm cũng vị tha, một vị A La Hán cũng vị tha bởi vì tất cả đều mất cái kiết sử thân kiến rồi, mất cái khuynh hướng ích kỷ rồi. Nhưng cái vị tha của mỗi bậc thánh nó làm sao? Sâu sắc dần, sâu sắc dần, sâu sắc tới độ thâm thẳm luôn. À.
[1:16:53]Ta nói giống như từ bi á mà không phải từ bi, mà là từ bi. Cái chỗ này thật là khó giải thích. Vì trong cái trí tuệ của bậc thánh các vị yêu thương mình, sống vì mình nhưng mỗi vị có mức độ sâu cạn khác nhau. Ví dụ bây giờ ta gặp một người Tu Đà Hoàn, lúc đó ta đang đói, ta đang đói, ta gặp một vị Tu Đà Hoàn thấy ổng chạy kiếm cơm cho ta ăn liền: "Đây con, vô đây, vô đây, ngồi đây con. Thì thì ngồi đó đi, ngồi đây đi." thì ổng chạy đi ổng lấy cơm, lấy đồ rồi lại ổng mời mình ăn với tất cả sự tôn trọng. Nên tuy mình đói, mình hết tiền, mang một thân phận rất là thấp kém nhưng mà gặp một vị Tu Đà Hoàn mình thấy mình có phẩm giá
[1:17:34]liền, tại các vị đó tôn trọng mình, yêu thương mình, chăm lo mình, phục vụ mình. Còn mình mắc nợ là thôi chuyện sau, nhưng mà trước hết là mình có được phẩm giá khi mình gặp một vị Tu Đà Hoàn, vị đó vị tha, tôn trọng mình. Đó là cái sự vị tha của vị Tu Đà Hoàn. Nhưng mà nếu mình xui mình gặp một vị Tư Đà Hàm, bắt đầu chuyện nó khác. Vô than đói quá
[1:18:06]thì ổng không chạy đi kiếm cơm cho mình. Ổng nói: "Con vô đây, con con nấu giùm cơm cho cho thầy. Ha! Nấu cơm, con đem qua cái nhà hàng xóm kia kìa. Hôm hôm nay là ba mẹ đi vắng có mấy đứa nhỏ à." Nấu mà mình đang đói thấy mồ luôn, cũng phải nấu, đem cơm qua cho mấy đứa nhỏ xong rồi về ổng mới cho mình ăn. Cái đó phải vị tha không? Vị tha ở cấp độ cao hơn một bước, bắt mình phải làm phước cái đã. Mà đó là lòng yêu thương á. Nên cái vị tha nhưng mà mỗi một cấp độ vị tha nó khác nhau, nó sâu sắc hơn. Mà nhiều khi gặp một ông A Na Hàm ổng không cho mình ăn là coi chừng ạ, ổng bắt mình nhịn luôn tới buổi chiều mới cho ăn. Lý do sao?
[1:18:52]Vì trong kiếp trước có một lần mình cột con chó xong mình đi quên, nó đói luôn ba ngày. Hôm nay ổng bắt mình phải nhịn đói lại tới chiều, trả cái cảm giác đói đó cho xong rồi tới chiều ổng mới cho mình ăn. Tức là cái ông A Na Hàm ổng vị tha mà mình khổ với cái vị tha của ổng luôn rồi đó, ổng đì mình, ổng làm cho mình phải trả nghiệp nhưng sau đó mình sao? Cuộc đời mình phơi phới nhẹ luôn. Chứ còn mà mình gặp ông Tu Đà Hoàn mình đói, ổng đem cơm đem đồ hầu hạ mình ăn sung sướng vô cùng nhưng bữa khác mình đói nữa. Tại vì ổng chưa trị được tận gốc cái nghiệp đói của mình. Mà ngài rất đạo đức rất vị tha.
[1:19:31]Gặp ông Tư Đà Hàm thì mình có một chút phước tại vì ổng bắt mình phải đem cơm qua cho hàng xóm giùm cho ổng, tức là mình có thêm một chút phước để được no đủ. Nhưng cái nghiệp mà làm chúng sinh đói chưa hết, tới ông A Na Hàm ổng mới trị tuyệt cho mình cái đó. Nên ta thấy là cũng vị tha, nhưng mà mỗi vị thánh có một cách vị tha khác nhau. Mà mấy ông mà sâu sắc hơn thì ổng hành hạ mình nhiều hơn, hà khổ vậy. Cho nên cầu cho mình chỉ gặp Tu Đà Hoàn thôi cho nó sướng, nghe vậy đó. Thấy gặp mấy ông kia ổng đì mình khổ lắm, tại vì sao? Tại mình nghiệp mình nhiều quá, mà chỉ những cái vị Tư Đà Hàm tới A Na Hàm
[1:20:07]họ mới nhìn thấu cái điều đó mà họ có cái giải pháp để khiến cho mình gì? Ổng trị được cái nghiệp của mình. Còn ông Tu Đà Hoàn ổng thương mình ổng chỉ trị cái đói của mình là cái ngọn, còn mấy vị từ Tư Đà Hàm, A Na Hàm ổng trị luôn tới cái nghiệp giùm cho mình, vĩ đại như vậy, thấy không, đó. Khi ta hiểu vậy, mỗi một vị thánh cái mức độ vị tha nó sâu dần sâu dần, ta hiểu rồi ta kính phục các ngài là vậy đó. Đói gần chết mà phải nấu cơm rồi đi vác cơm qua cho hàng xóm xong về ổng mới cho ăn. Thấy không, khổ vô cùng chứ không phải không. Còn gặp ông A Na Hàm thì thôi rồi, "Ờ thôi con ngồi đó chờ
[1:20:38]đi con." ổng giấu mất gạo mất đồ luôn, ngồi đói meo râu. Ngồi đói muốn xỉu luôn, không thấy ổng đi đâu, tới chiều ổng mới về bắt đầu ổng mới cho ăn, thì ra nhưng mà mình đã hết cái nghiệp mà bỏ chúng sinh đói ở kiếp nào rồi, nó là vậy, hay như vậy.
[1:21:04]Ngài... một bậc Tư Đà Hàm thì tâm thanh tịnh và vị tha, nhưng còn kẹt một cái kiết sử vẫn chưa gỡ được mà chính A Na Hàm cũng chưa gỡ được, đó là giãi đãi.
[1:21:21]Giãi đãi không phải là lười biếng. Ở cái mức độ này thì giãi đãi không được dịch là lười biếng mà phải dịch là gì? Thiếu trách nhiệm, thiếu tinh thần trách nhiệm. Vì sao? Vì tâm thanh tịnh quá, mọi việc giống như mình buông hết và vô tình cái thái độ đó giống như là vô trách nhiệm với cuộc đời. Nên cái vị Tư Đà Hàm còn bị vướng chỗ này. Nếu mà mình đến mình gặp một vị đó, mình trình bày thì vị đó rất ân cần bởi vì vị đó làm sao? Rất vị tha. Nhưng mà mình không đến gặp, mình không năn nỉ, không ỉ ôi, ổng quên mình ổng bỏ liền à, tại vì ổng ổng mắc cái kiết sử giãi đãi còn tồn tại. Do cái tâm thanh tịnh quá cho nên vô trách nhiệm, ổng quên mình luôn.
[1:22:12]Nên vì vậy, mình mà biết ai Tư Đà Hàm, A Na Hàm, phải tới lui, ỉ ôi, năn nỉ thì ổng lo cho mình rất chu đáo vì ổng diệt xong cái thân kiến. Nhưng mà không gặp, năn nỉ, ỉ ôi thì ổng lại bị cái giãi đãi, bị kiết sử giãi đãi không lo cho ai hết. Đây là một cái điều cũng đấu tranh rất là vất vả của một vị thánh chứ không phải là không đâu. Cho nên nhiều vị thánh rồi sống thanh tịnh, thánh thiện, thanh bai, nhẹ nhàng, nhưng mà thấy giống như là không có lợi gì hết cho cuộc đời là bởi vì cái vướng cái kiết sử giãi đãi còn sót lại trong tâm thức của mình.
[1:22:51]Cho nên vì vậy mà những cái vị mà chứng được rồi tới mức độ đó rồi thì phải được thầy nhắc nhở, phải được thầy lành bạn tốt nhắc nhở, phải kêu làm việc này, phải nhắc bắt làm việc kia để cưỡng lại cái khuynh hướng giãi đãi còn sót trong kiết sử của mình. Còn nếu mình không có thầy lành bạn tốt, tức là mình sống lơ lơ luôn á. Nên chỗ này cũng là một cái nguy hiểm. Và đây là lý do tại sao Đạo Phật ta bị suy thoái vì chỗ này. Thời Đức Phật thì có Đức Phật và có các vị A La Hán nên ai mà chứng ngang khoảng này thì các ngài động viên, hướng dẫn, nhắc nhở. Cho nên những cái vị Tư Đà Hàm, A Na Hàm những vị tự chống lại cái khuynh hướng
[1:23:36]giãi đãi mình nhờ có thầy lành bạn tốt nhắc nhở. Nhưng mà sau thời Đức Phật, sau các vị A La Hán rồi thì tự ta bơi và ta bơi là ta cứ tưởng mình vậy là được rồi và không có bận tâm lo giáo hóa, làm cho Đạo Phật bỗng nhiên suy dần, yếu dần, yếu dần, yếu dần.
[1:23:58]Nên bây giờ vậy, ai theo thầy tu làm đệ tử
[1:24:05]Thì phải chịu hai điều: một là vất vả, hai là đau khổ.
[1:24:16]Nghe nản chưa? Nghĩa là, đầu tiên là phải vất vả. Vô đây bắt phải làm phước hết, rồi phải đi giáo hóa. Chung quanh mình còn ai chưa biết đạo là phải tìm tới người ta thăm hỏi và giáo hóa người ta. Việc phước gì làm được thì ráng mà làm, nghĩ không ra ráng nghĩ cho ra mà tìm việc làm phước. Để làm chi vậy? Sau này lỡ mà có chứng thì cái tập khí đó nó còn tồn tại. Tuy tâm thanh tịnh, nhưng mà cái nhân duyên với bạn bè, với huynh đệ và cái tập khí, cái lời nguyện về việc làm phước nó cứ tồn tại và nó chi phối, khiến cho mình vẫn còn cái siêng năng, không bị cái kiết sử giải đãi nó nó làm cho mình sống thanh nhàn uổng phí đi.
[1:25:04]Cho nên từ bây giờ là phải như vậy. Đó là lý do mà ai làm đệ tử của thầy thì đều vất vả.
[1:25:17]Tư-đà-hàm cũng còn bị một cái kiết sử nguy hiểm thế này là kiêu mạn.
[1:25:24]Tại vì kiêu mạn là tới A-na-hàm vẫn còn, cho nên Tư-đà-hàm chắc chắn còn bị kiêu mạn. Cái kiêu mạn này là cái tự khen mình. Và hễ tự khen mình thì đã ngầm ý cái gì? Chê người khác. Đây là bậc Tư-đà-hàm thì vẫn còn cái đó. Nếu một vị đó được dạy dỗ, có thầy lành bạn tốt nhắc nhở và có cái đạo đức vững chắc, thì khi ta chứng Tư-đà-hàm cái đạo đức của ta nó kềm cái kiêu mạn lại, ta cẩn thận không khen mình, không chê người. Còn nếu chúng ta không có cái đạo đức vững chắc, thì cái quả chứng Tư-đà-hàm này nó cứ làm chúng ta tự khen mình. Và cứ mỗi một cái câu khen, thì nó lấy chúng ta thêm 10 năm hay 100 năm chậm chứng quả giải thoát sau này.
[1:26:16]Cứ một cái câu khởi khen, từ ngầm ở trong đầu hay là khen ra miệng; khen ra miệng thì lấy ta khoảng 100 năm, khen trong đầu thì lấy ta khoảng 20 năm, cứ trì trệ kéo dài kéo dài cái quả chứng sắp tới ra. Đáng lẽ ví dụ như ta chỉ cần 100 năm sau, 200 năm sau ta chứng được A-na-hàm, nhưng mà trong đầu cứ khen cái cái nó nhích thành 300 năm, khen cái nữa nhích 400 năm, khen cái nữa nhích thêm 500 năm, vì cái khen của ta. Mà cái chỗ này, tự mình đi thì ít ai có thể tự đi được, thường là phải nhờ thầy nhắc nhở. Nếu chúng ta gặp được một bậc thầy sáng mắt, ta chứng được cái quả đó rồi ông thầy ổng trông cái đó miết à, ông thầy ổng canh chừng cái kiêu mạn ổng nhắc hoài.
[1:27:01]Vì tới quả vị đó rồi kiêu mạn vẫn còn chứ chưa hết, sợ như vậy.
[1:27:15]Cái... cái kiêu mạn này... Bởi vậy đó, khi mà bắt đầu mà bước đến tu tập, từ buổi đầu thầy dặn mọi người phải tác ý ba cái cái tâm hạnh là vậy: một là tôn kính Phật, hai là từ bi, ba là khiêm hạ. Mà khiêm hạ thấy mình như là cái gì? Cỏ rác, cát bụi mà thôi. Bây giờ nhắc thêm nữa là tội lỗi nữa, thêm chút tội lỗi nữa thêm chút cho nó kỹ lưỡng một chút. Cát bụi, cỏ rác nhiều khi cũng còn hơi hơi hơi chảnh, nhắc mình là tội lỗi nữa cái hết chảnh luôn. Thì nhờ cái tác ý đó mãi, bây giờ mình chưa chứng nhưng mình nhắc cái đó hoài, đến khi mình chứng một cái thì nó thành một lời nguyện, nó thành một đạo đức và nó thành một cái phước nó giữ mình lại.
[1:28:04]Đến khi lúc mà tâm mình tự tại quá mình muốn khen, thì bị cái tác ý của ngày hôm nay nó kềm lại, nó giữ lại, không cho mình tự khen. Rồi nhiều khi nhìn người ta muốn chê, nhưng mà nhờ cái tác ý của ngày hôm nay vậy nó kềm lại, không cho mình chê người khác, nó giữ mình lại. Nhờ vậy mà đỡ hao tốn cái thời gian mà chứng cái quả khác, chứng quả cao hơn, nhờ cái khiêm hạ này vậy. Nghĩa là những cái tác ý mà thật sự chúng ta được chuẩn bị là cái nền tảng rất là kỹ lưỡng để đi con đường lâu dài về sau, ba cái tác ý đó, ba cái tâm hạnh căn bản. Và hôm rồi thầy nhắc cái quán tội trên tội, lúc nào cũng nhớ thấy mình là một khối tội từ vô lượng
[1:28:44]kiếp, cũng là cái nó nhấn mạnh thêm cái tác ý của sự khiêm hạ, giữ cho mình đi trên con đường được lâu dài, ổn định, chứ còn lỡ mà cứ tự khen mình rồi cứ nó làm trì trệ cái con đường đường đường giải thoát thì thật là uổng. Cái người mà chứng quả Thánh á, vẫn còn kiêu mạn thì không đọa, không đọa vì nó có cái lòng tôn kính Phật ở trong. Nhưng mà sợ nhất mấy cái người chứng thiền mà không chứng Thánh á, tâm họ rất tự tại, kiêu mạn thì còn và khen mình và dễ xúc phạm tới các bậc Thánh khác. Cái nguy hiểm của người chứng thiền mà không chứng Thánh á là cái sự tự tin quá đáng, cái kiêu mạn quá đáng,
[1:29:29]nó đi đến cái tình trạng xúc phạm luôn những bậc những những bậc cao nhân khác. Khiến cho một vị đời này chứng thiền mà đời sau làm súc sinh, là vì xúc phạm đến những bậc cao cao đức khác. Còn một bậc mà chứng Thánh á thì họ có tự khen mình vì họ vẫn còn kiêu mạn, nhưng mà cái đạo đức ngầm ngầm nó giữ không khiến cho ta không xúc phạm những bậc cao nhân. Bậc cao nhân đó là ai? Có khi bậc đó nằm trong đạo Phật và có khi bậc đó nằm ngoài đạo Phật, nhưng mà do cái trí tuệ của một bậc Thánh, chúng ta đánh giá người kia không phải là người thường. Dù cho cả thế giới chống người đó nhưng một mình ta bảo vệ người đó, vì ta biết.
[1:30:12]Ta có cái tự khen mình của cái kiêu mạn, nhưng ta sẽ không xúc phạm một bậc Thánh vì ta biết vị đó cũng là một bậc một bậc cao cả, không phải là bậc đùa. Còn ông chứng thiền có khi ổng thấy á thấy thiên hạ chê ổng chê luôn, mà thiên hạ chưa chê ổng đã chê rồi, để ổng chứng tỏ ổng cao nên chết đọa súc sanh mất tiêu. Còn ông chứng Thánh, ổng vẫn còn có cái trí của một bậc Thánh ổng nhận ra được những cái người thánh thiện, những người bậc tốt lành ở trong cuộc đời này, ổng kềm chế cái miệng lại. Giống như bây giờ vậy, có người mà tu theo đạo Phật cái chê đạo Khổng, chết à! Những điều Khổng Tử dạy không phải bình thường, rất chuẩn mực.
[1:30:54]Cho nên là tuy là ta tu theo đạo Phật nhưng ta rất tôn trọng Khổng Tử vì những cái lời dạy của ông rất là xác đáng, chứ không chuyện mà đạo này chê đạo kia. Chúa Giê-su không bình thường đâu, vô cùng vĩ đại ạ. Cho nên là tuy khác tôn giáo nhưng mình nhìn qua tới Chúa Giê-su mình có cái lòng kính trọng thật sự, và nhờ như vậy không bị đọa, là vậy. Thế này, cái sự khác nhau giữa một vị Tu-đà-hoàn và một vị Tư-đà-hàm là thế này: là vị Tư-đà-hàm dễ bị lộ hơn một vị Tu-đà-hoàn.
[1:31:32]Một vị Tu-đà-hoàn á nhân cách đặc biệt nhưng mà ít ai biết là vị đó chứng Thánh quả Tu-đà-hoàn, tại vì nhìn tổng quát vị đó vẫn bình thường như mọi người, chỉ có cái là vị đó rất là đạo đức, rất là tận tụy, à đại khái sống một đời sống rất là dễ thương. Mình chỉ chỉ hiểu tới mức độ đó thôi là mình quý, họ nói: "Ồ, vị đó ổng tốt lắm!", đại khái vậy. Nhưng với vị Tư-đà-hàm thì lộ ra liền. Tại mình ở gần thời gian mình mới phát hiện: "Ông này lạ nha, ổng biết nhiều thứ. À, tui mới nghĩ đó ổng nói rồi." Cái bắt đầu hơi sợ sợ, không biết ông này là sao. Cho nên cái vị Tư-đà-hàm là do có cái đặc biệt về tâm linh hơn,
[1:32:14]rất là đạo đức nhưng mà có một chút đặc biệt về tâm linh nên cứ nhá nhá nhá nhá, không thể giấu mãi được, không thể giấu mãi. Ví dụ như sao? Ví dụ mình nói: "Thôi ơ, ô chào bác con đi nha." Bác ổng vịn tay lại ổng nói: "Con đi cẩn thận nha con, con đi cẩn thận. Khúc đường đó có tai nạn, còn thì con ráng ráng niệm Phật đi nha." Thiệt mình lên xe mình đi tới đó suýt tí nữa mình tông vô mấy người kia luôn thì họ tông nhau họ chết, bị thương tùm lum. Mình đáng lẽ bị nhưng mà nhờ ổng kêu mình niệm Phật cái mình bị té thôi, mình không bị tai nạn nhiều. Mình mới sực nhớ: "Ủa, trước khi đi ổng lại ổng nắm tay mình ổng dặn niệm Phật đi con,
[1:32:50]có thể có tai nạn cẩn thận nghe con, giống như ông này ổng biết rồi." Thế là cứ những cái lộ lộ chút chút chút chút đó cái làm cho vị Tư-đà-hàm sẽ bị lần lần lộ ra giữa cuộc đời này, khó giấu. Từ từ ta dễ biết, còn vị Tu-đà-hoàn thì các vị đạo đức quá thì ta chỉ nể cái đạo đức chứ không biết ổng là Thánh. Nhưng Tư-đà-hàm có thể biết ạ. Ta sống gần một người Tư-đà-hàm một thời gian cái bị lộ ra, bị lộ là hay vậy. Ví dụ như bây giờ một người mà bị bị vong nhập vậy, thì gặp một vị mà Tu-đà-hoàn á nhiều khi vong nó còn giỡn mặt, à nó còn nói này nói kia, nó khóc nó ẹo qua ẹo lại rồi, ha, thì nó quý thôi, rồi vị Tu-đà-hoàn khuyên lơn nó thì nó rời nó đi.
[1:33:34]Nhưng gặp Tư-đà-hàm không giỡn mặt ha, tại ổng có cái sức mạnh tâm linh. Gặp cái là nép nép nép nép nép nép nhiều khi nó xuất mất tiêu luôn, chưa kịp chú nguyện ổng chạy đi mất tiêu rồi, vong... Tức là có cái sức mạnh tâm linh thật sự. Nên nhìn cái đó rồi bắt đầu người ta nói: "Ủa, ông này ổng làm cái gì mà sao ổng ổng hay vậy ta? Ma gặp ổng sợ ta?" Đó, nên nhớ bị lộ ra từ từ, bị lộ ra dần dần. Cho có một vị Tu-đà-hoàn thì thì thì ta nể chứ ta cũng ít biết, chứ Tư-đà-hàm thì có thể bị lộ.
[1:34:06]Hollywood có làm một cái phim Green Mile, Dặm xanh. Green là xanh, Mile là dặm, dặm đường, Green Mile. Cái phim đó là nói về khung cảnh trong một cái nhà tù, mà cái khu vực của tử tù là sẽ bị tử hình á, nó chỉ một đoạn nhỏ thôi. Nhưng mà mấy cái ông cai ngục đó gọi đó là Green Mile, Dặm xanh. Những người đó từ từ đưa đi giết á, đưa đi và tiêm thuốc độc để chết. Và trong đó có một tử tù lạ, lại ổng to con. Cái tính cách cũng không giống ai. Và cái nguyên nhân ổng bị bắt vô tù để tử hình là bởi vì ổng kết tội là giết chết hai đứa bé nhỏ. À, lúc mà người ta, người dân làng ập tới, công an ập tới thì thấy ổng đang giữ hai đứa nhỏ đó và ổng khóc. Ổng nói ổng:
[1:34:58]"Muộn rồi, muộn rồi." Và người ta kết tội ổng giết hai cái đứa nhỏ này, vì thấy hai cái xác mà. Bắt ổng vô và kết tội tử hình. Ổng không nói gì, ổng không không cãi, không lẫy gì, cứ kết tội gì đó kết tội, vậy. Nhưng mà đến khi mà cái cái cái cái người mà trưởng cái trại giam, cái cái buồng giam đó thôi, chứ không phải ông giám đốc thì lớn hơn, trưởng buồng giam mới phát hiện ông này có cái điều lạ, giống như ổng có thần thông. Thì ông này mới tin rằng ông này không phải là người đã giết hai đứa bé đó. Tại vì nếu con người mà ác độc thì không thể có cái thần thông. Ông này ổng có thần thông, ổng có thể thay đổi được số phận
[1:35:35]và thậm chí chữa được cái bệnh người này người kia. À, ổng mới tìm cách phấn đấu để mà mà mà mà
[1:35:45]mà minh oan cho ông này, đang tìm cái cách, ổng đang suy nghĩ tìm cách để minh oan cho cái ông này, cho ông tử tù. Nhưng ông tử tù ổng nói: "Đừng đừng minh oan, vì tôi chán cái thế giới này lắm rồi." Ở một thế giới mà con người tội lỗi, độc ác
[1:36:03]không phải là chỗ để tôi sống. Tôi đã đến đây mà không ai biết lý do ổng từ đâu tới nha, không tìm ra được cái tung tích của ổng, khi lật cái hồ sơ không có. Ừ, ổng xuất hiện lúc nào không ai biết, à và ổng làm gì không ai hay. Rồi khi bắt ổng vô tù là lúc ổng đang ở bên cạnh hai cái xác chết của hai đứa nhỏ. À, mãi sau này mới biết là chính cái hai đứa nhỏ là bị cái người làm trong nhà giết chết và xâm hại. Còn ổng chỉ là người đến để tính cứu mà ổng đến muộn cứu không kịp. Cái thần lực của ổng cứu không kịp vì đứa nhỏ nó chết lâu quá. Nên ổng mới nói câu: "Tôi đã đến rất là muộn, đến rất là muộn." Chẳng ai hiểu,
[1:36:36]chỉ thấy ổng ôm hai xác thì nói ổng giết thôi, bắt vô tù và tử hình. Đến khi mà cái ông mấy ông mấy ông cai tù đó phát hiện ông này đặc biệt quá thì tin rằng ổng không phải là thủ phạm. Muốn minh oan thì ổng từ chối, ổng từ ổng nói để cho ổng chết vì ổng không muốn sống cái thế giới này nữa. Cái thế giới không phải là một nơi đáng sống, con người ta ác độc, nghi kỵ, hận thù, chia rẽ, ganh ghét, ích kỷ, không phải là chỗ để ổng đi lang thang nữa, phiền quá, thôi để ổng chết. Thì cái cảnh ổng vô bơm thuốc độc rồi chết đại khái là như vậy. Nhưng cái phim nó cũng làm cho chúng ta coi rồi chúng ta nhức nhối.
[1:37:15]Cái kịch tính của nó là một con người phi thường xuất hiện giữa một thế giới tầm thường. Cái kịch tính của nó là ổng bị oan. Cái kịch tính của nó là ổng có khả năng thần lực để ổng chữa bệnh, biết chuyện này chuyện kia, biết ai là kẻ ác, ai kẻ thiện, ổng biết rõ. Cái kịch tính là vậy. Nhưng cái triết lý của cái phim đó chính là ở chỗ thế giới này không phải là chỗ đáng sống, con người ta ác độc, xấu xa, hèn hạ, tầm thường, ích kỷ. Ổng không muốn lang thang tiếp tục trong cái thế giới này nữa. Cái bộ phim đó ta coi ta sẽ hơi buồn buồn đó, buồn. Nhưng nếu mà có có duyên thì ta tìm coi. Không biết thầy coi ở đâu không biết,
[1:37:58]biết coi trong cái đĩa hay là trên Netflix gì gì không biết. Tìm lại coi, tụi con tìm thử coi coi phim nó hay. Chùa mình coi chưa con ha? Chưa hả? Đi coi cái phim đó đi, Netflix thử coi, Green Mile, những Dặm Xanh, Dặm Đường Xanh, Green Mile, coi coi, về cái triết lý nó thấm thía lắm. Ừ. Nên ở đây cũng vậy, là cái ông đó trong cái phim đó, ông đó như một vị thánh á, ổng có năng lực, năng lực cái cỡ đó cũng giống như Tư-đà-hàm. Ổng biết được tâm người ở mức độ biết được điều đó cũng giống như Tư-đà-hàm. Và ổng có một cái nỗi buồn vì con người xấu xa quá, cái cõi đời không đáng sống, thì cái tâm lý này tâm trạng này không phải Tư-đà-hàm.
[1:38:48]À, do đó vì là phim mà, phim của ai đó viết kịch bản mà, nên không phải Tư-đà-hàm. Tư-đà-hàm thì cũng biết như vậy, cũng có năng lực như vậy nhưng không có buồn, không có thất vọng vì con người. Còn trong phim này cái điều họ nói là họ thất vọng vì thế giới vì con người, tức là cái ý của tác giả, của đạo diễn đó. Tức là họ muốn than phiền cái thế giới khổ đau tội lỗi này và ổng họ mượn qua một cái bộ phim và đưa vào một nhân vật ngang cái tầm của một bậc Tư-đà-hàm. Nhưng cái tâm trạng là của ông đạo diễn, là buồn, chán, thất vọng vì cái thế giới này. Còn một bậc Tư-đà-hàm thì không thất vọng, vì sao?
[1:39:26]Vì các vị đã thanh tịnh, vượt qua được các các nỗi buồn, vượt qua được cái tuyệt vọng. Tức là trong cái đau khổ cùng cực, trong cái xấu xa của thế giới tràn ngập, các vị không bị buồn và không bị tuyệt vọng như là cái nhân vật ở trong cái phim kia, như như là nhân vật tử tù trong cái phim đó. Nên đây là cái mà ta để ý thế này, cái người mà tâm thanh tịnh thì mới được quyền biết nhiều điều. Còn khi tâm đã chưa thanh tịnh mà ta biết nhiều điều quá, thật, thế giới này là một nơi không đáng sống. Còn một vị thánh á, họ thanh tịnh, họ biết hết, nhưng mà biết trong cái từ bi, trong cái độ lượng. Biết ta có lỗi lầm nhưng họ không ghét ta.
[1:40:13]Cái quan trọng là cái không ghét.
[1:40:17]Cái khác nhau giữa bậc thánh và bậc phàm, ta có thể định nghĩa ở chỗ này: Một kẻ phàm phu biết ta xấu xa thì ghét ta, còn một bậc thánh biết ta xấu xa không ghét ta. Còn xử lý phía sau đó thì tùy, tùy nhân tùy duyên đủ thứ hết. Nhưng quan trọng là ghét hay không ghét. Và chính vì một bậc thánh là một bậc không ghét ai, là lý do để ta có thể tìm về nương tựa, là vậy. Các vị đó như một mái ấm ở đêm đông, như một tàn cây to giữa mùa hè, như một dòng suối mát trên sa mạc mà ai cũng cần, chúng sinh nào cũng muốn nương tựa. Bậc thánh là như vậy. Cho nên ta có thể là đau khổ vì con người, ta có thể khổ sở vì mọi chuyện trên cuộc đời,
[1:41:09]nhưng ta vẫn thích tìm về với một người mà họ không bao giờ ghét ta. Cái người mà không bao giờ ghét ta đó, nó có hai loại: Một loại là một bậc thánh không ghét ai hết, hai là người cái thằng bạn thân của ta, nó duyên nợ với ta nhiều quá, ta đi ăn chơi với nó nhiều quá, thì bây giờ lỡ tới chạy mét: "Mày ơi mày, trời ơi tối hôm qua tao lỡ cái đó rồi, bây giờ con vợ tao mà nó biết chắc chết tao." Tức là mình có một người để mình nói cái lỗi mình ra nó không ghét mình, nó cùng phe với mình. Cho nên nó có hai loại người mà không ghét ta, là một là bậc thánh không bao giờ ghét ta vì lỗi lầm của ta, hai là cái thằng cùng phe với ta.
[1:41:50]Vì vậy mà tìm cái người cùng phe với ta hơi khó, tại vì sao vậy? Ngày hôm nay nó cùng phe với ta, nó ta cho nó biết bí mật của đời ta, hai năm sau có người mua chuộc nó, nó xì cái bí mật đó ra liền. Cho nên cùng phe là tạm thời, còn bậc thánh là vĩnh viễn, bậc thánh không ghét ta là vĩnh viễn không ghét ta. Chứ còn cái thằng bạn thân cùng phe với có ngày nó trở mặt. Mà ngay cả gia đình, ruột thịt vẫn có thể trở mặt nhau vì họ không phải thánh. Nhưng hễ tới bậc thánh thì ta yên tâm vì các vị không bao giờ trở mặt, các vị không ghét ta và không ghét ta mãi mãi. Chỉ có cái là các ngài tìm cách dạy ta,
[1:42:36]giáo hóa ta, hiệu quả hay không là tùy thuộc cái bản lĩnh của vị đó và cái duyên của vị đó với ta. Ta lì quá thì dạy cũng không nổi thì ráng chịu, nhưng mà không ghét ta, à vậy thôi.
[1:42:50]Ừ. Ở đây ta để ý thế này: Cùng một quả thánh nhưng cái cái thông minh khác nhau rồi nha.
[1:42:59]Cùng Tu-đà-hoàn nhưng ông Tu-đà-hoàn thông minh và ông Tu-đà-hoàn không thông minh khác nhau. Cùng A-la-hán nhưng ông là đệ nhất thần thông, ông kia đệ nhất trí tuệ thì Tư-đà-hàm cũng vậy, cũng vậy.
[1:43:15]Ta gặp ông Tư-đà-hàm mà ổng thông minh, ổng kiến thức nhiều á thì dễ chịu. Ổng vừa biết mọi thứ, ổng vừa lanh lợi, ổng nói rồi ổng gọi là ổng thiện xảo phương tiện, ta sẽ được nhiều lợi ích. Nhưng ta gặp ông Tư-đà-hàm nhiều khi ổng học cũng ít, cũng cái sự thông minh vừa chừng thì cái sự thiện xảo giáo hóa cũng không bằng. Cho nên nó khác nhau, chứ không phải là hễ thánh là bằng nhau tăm tắp, không phải như vậy. Nhớ các vị A-la-hán còn có ông đệ nhất này, đệ nhất kia mà. Cho nên là bậc thánh mỗi vị cũng vậy. Do đó chúng ta chịu khó học. Hôm nay mình đọc một cuốn sách, biết thêm một ngoại ngữ, biết thêm một kỹ năng không phải để cho mình,
[1:43:58]lỡ sau này mình chứng thánh thì những kỹ năng đó sẽ hỗ trợ cái việc cho ta giáo hóa chúng sinh hiệu quả hơn rất là nhiều. Ừ, những kiến thức về khoa học, kiến thức sâu sắc về hạt nhân, về vũ trụ tưởng không có lợi, không, nó rất là có lợi, làm cho ta hiểu cái thế giới nhiều hơn. Ta hiểu mọi thứ nhiều hơn và khi ta nói chuyện, ta giáo hóa, nó liên quan tới tâm linh, liên quan tới vật lý, mình lý giải được hết, làm cho mọi người họ mãn nguyện. Nhất là cái lớp trẻ bây giờ, lớp trẻ bây giờ tệ nhất đi cao đẳng, đại học cả. Nó gặp ông thầy không biết gì hết trơn cái bỗng nhiên nó mất niềm tin, nói: "Ông thầy này làm thầy mình được hay không?
[1:44:41]Cái kiến thức ổng thua mình mà." Còn khi gặp ông thầy ổng nói những kiến thức mà mình chưa học tới nữa thì nể liền. Và chính cái nể đó cũng là cái dẫn đường để cho ta ta đi vào đạo. Có cái nể phục một bậc thầy, một bậc thánh á, ta dễ đi vào đạo hơn. Ý là là như vậy.
[1:45:05]Một vị Tư Đà Hàm thì có một cái là giác quan của các vị đó nhạy bén. Ví dụ như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, vân vân, vị đó nhạy bén hơn người thường. Mắt nhìn thấy những cái điều mà nhiều khi ta không thấy, ví dụ vị đó thấy vong, mắt ta không thấy. Vị đó nhìn lên trời thấy sắp mưa, cái đó ta chưa thấy. Hoặc là nghe, nhiều khi tiếng mấy cái con kiến mà nó bò rột rột đâu dưới góc tường, góc nhà mình không nghe, nhưng mà cái vị đó họ nghe. Cái họ họ họ nhạy hơn, giác quan họ nhạy hơn ta. Ta bước vô phòng ta ngồi ăn, vị đó: "Khó chịu quá!" Vị đó khó chịu tại cái mũi đó ngửi ra một cái mùi mà cách đây 2 tiếng đồng hồ có một người 3 ngày
[1:45:46]không tắm vô cái phòng này còn để lại cái mùi. Mình thì không thấy gì, mình vô ăn nghe mùi thức ăn thôi: "Ồ, nay thơm quá ha, ăn!" Còn ông đó bước vô ổng hơi khó chịu vì ban... có một người vừa 1 tiếng đồng hồ mới vô đây mà người này đã 3 ngày là cái số điện thoại là 3508 đó, tức là 3 năm không tắm á ví dụ vậy, rất là khó chịu.
[1:46:17]Thôi hôm nay như vậy nha. Hôm nay ta nghe một cái bậc Thánh Tư Đà Hàm, bậc Nhất Lai, còn trở lại một lần, trở lại một lần theo cái kiết sử của mình. Nhưng mà hễ bậc Thánh đối với chúng ta đều là vĩ đại, vị nào để cho ta tôn kính. Mà nếu ta may mắ- may mắn gặp được những vị như vậy thật là hạnh phúc trong trong đời mình.
[1:46:44]Con trai của con phát triển bình thường nhưng 3 tháng rồi bé vẫn chưa nói được.
[1:46:52]Nếu không bị tự kỷ thì đây là một cái nghiệp nó nằm trong não á, mà cái nghiệp này nằm trong não do nghiệp của đứa bé đó nó cũng liên quan tới gia đình. Ta có những cái nghiệp mà gọi là bị câm, bị không nói, bởi vì lúc trước ta không cho ai nói những điều cần thiết phải nói. Nói: "Im đi, đừng nói em!" Nói: "Những điều này phải nói chứ!" "Thôi đừng nói em!" Có những điều đáng lẽ phải nói mà ta ngăn không cho ai nói, thì sau này ta sẽ chậm nói. Mà muốn giải cái nghiệp này thì chỉ còn một cách là khuyến khích cho mọi người nghe Pháp, đưa Pháp cho mọi người nghe, đưa sách đạo lý cho mọi người đọc.
[1:47:30]Một thời gian những người mà họ chưa biết đạo lý, họ mở được tâm họ ra thì cái nghiệp này sẽ được giải nha, đứa bé sẽ bắt đầu nói được.
[1:47:43]Ví dụ như mình muốn đi phỏng vấn xin việc mà đậu thì con nên cầu nguyện như thế nào?
[1:47:52]Thì mình cầu nguyện cho mọi chúng sinh đều có công ăn việc làm. Tức là mình cầu cho người khác trước, gọi là muốn gì được nấy đó. Mình muốn cái gì thì hãy muốn cho người khác trước, rồi hãy muốn cho mình sau thì tự nhiên việc của mình từ từ nó sẽ tới. Hôm nọ có lần thầy nói với có nói chuyện với ông nước ngoài. Nói chuyện với nước ngoài cái ổng hỏi: "Thầy làm cái gì?" Thầy nói: "Thầy viết sách." "Thầy viết sách gì?" "Thầy viết sách triết lý." Hỏi: "Triết lý gì?" Nói: "Triết lý là có cái gì cứ share hết cho mọi người.
[1:48:29]Kiến thức có điều gì hay cứ share cho mọi người, đừng giữ lại. Thức ăn, tiền bạc, đời sống mọi thứ cái gì mà mình thấy là hay, cố gắng share cho mọi người. Tại vì sao vậy? Cái gì mình share cho người ta nó sẽ ở lại với mình, còn mình giữ lại cho mình là mất á." Ổng nói: "Cái này hay ta, cái ý này hay á."
[1:48:50]Thì cũng vậy, cái mà mình muốn là mình cầu cho chúng sinh trước, cứ vậy, cứ thành tâm cầu cho mọi người trước nha.
[1:49:05]Con đến chùa là bị căng đầu, ngồi thiền cũng căng đầu, tụng kinh căng đầu. Ngồi thiền để dưới bụng thì hết căng nhưng mà để lâu quá thì bắt đầu hết căng nhưng tới chóng mặt. Bó tay luôn. Này do cái nghiệp con cản ai tu á con ơi. Nhớ bây giờ khuyên mọi người tu hành, rồi bản thân mình lạy Phật sám hối cho nhiều nha mới hết. Nhiều khi lỡ hồi trước mình cứ nói ra nói vào cản ai tu hành á, bây giờ tới khi bước vào đường tu cái ba cái chuyện này nó xảy ra, rất là phiền. Mà nó chuyện quá khứ rồi, đâu có đi ngược lại mà gỡ ra. Thôi bây giờ cứ sám hối thôi, mà chuyện này bị nhiều lắm á. Nhiều khi ví dụ như ông ông chồng vậy đó,
[1:49:42]bắt đầu thấy bà vợ đi chùa là khó chịu rồi. Tại sao khó chịu? Tại hồi lúc hai người mới yêu nhau: "Em hứa là trong tim em chỉ có một mình anh, tại sao bây giờ có ông thầy chùa lọt trong đó?" Cản không cho đi, thành ra vô tình thành ra cản cái nghiệp tu hành. Đó. Thì thì bà vợ bả phải nói: "Thì mình có hứa nhau nhưng mà có cái miễn trừ, trong lòng em chỉ có anh, trừ có thêm ông thầy chùa." Ví dụ thì đâu có sao đâu mà. Nhưng nhưng mà bị không nói rõ nên nhớ mấy đứa trẻ trẻ tụi con mà nhớ thề có nói câu đó nha con. Nha, thương ai nhớ nói câu đó nha: "Trong lòng em chỉ có mình anh, nhưng mà có thêm thầy em nha." Nhớ giùm đó.
[1:50:24]Mà đừng ai cản mình đi tu, khổ ghê vậy.
[1:50:35]Dạ thưa Sư phụ, có một huynh đệ thờ Mẹ Quan Âm và Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ chung một bàn thờ. Đêm đến, cái bàn thờ gắn trên tường nó bung ốc rớt ra, tượng Mẹ Cửu Thiên Huyền Nữ rơi xuống bể nát, còn tượng Quan Âm và tất cả chung nước còn nguyên vẹn. Kính bạch Sư phụ dạy cho huynh đệ con hiểu như vậy là có sao không? Không, không có sao con. Đâu có trăng sao gì lúc đó đâu. Chỉ có cái là cho biết rằng Cửu Thiên Huyền Nữ là một nhân vật huyền thoại được sáng tạo bởi thầy bói và không có đạo lý. Tại ngày xưa mẹ Sư phụ cũng thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Sư phụ thắp nhang hoài cho bả mà. Nhà không ai dễ sai bằng Sư phụ hết,
[1:51:15]hồi nhỏ là ông anh và chị, mấy đứa em không ai lo cái việc thờ cúng có mình Sư phụ à, chiều tới tối là phải quét dọn đi thắp nhang đắp đồ này đó nên rành cái vụ này lắm. Thì lớn lên thì mới biết Cửu Thiên Huyền Nữ là sự sáng tác của mấy ông thầy bói và không có đạo lý, còn Bồ Tát Quan Âm là có đạo lý, liên quan tới Phật pháp và linh ứng, nên ở trên các Ngài quở thôi. Chỉ thờ Quan Âm thôi, Cửu Thiên Huyền Nữ không có nha.
[1:51:44]Con đang tu tập theo đạo Phật, cho con hỏi làm sao hoá độ cha chồng con và con trai con? Phải lo cho họ nhiều hơn bình thường. Lo cho họ tới khi họ mắc nợ mình thì bỗng nhiên mình nói họ nghe, nha.
[1:51:59]Giống như bây giờ ví dụ như bây giờ thầy Sư phụ ngồi đây Sư phụ thuyết Pháp mọi người nghe là tại sao vậy? Tại vì những đời xưa Sư phụ đã lo cho mọi người quá nhiều. Sư phụ đã bưng cơm hầu nước cho mọi người, tôi là osin của mọi người, tôi là osin của mấy người! Đó, không phải khi không đâu, không phải khi không mà giờ này mà ngồi nghe đâu, không dễ đâu.
[1:52:33]Cốt để trong chùa rồi muốn đưa về quê thì nghi thức thế nào? Thì tới hỏi ông thầy đó nha. Tới hỏi thầy thì lại em đưa ý kiến ông thầy đó ổng phiền. Cứ lại hỏi ông thầy, ông thầy sẽ có ý kiến theo cái nghi thức của chùa ổng và theo ý ổng.
[1:52:57]Con theo Sư phụ được 4 năm, biết nhân quả, con làm điều lành gì cũng hồi hướng cho chồng con mà mãi ổng không thay đổi, cứ uống rượu, chửi bới, đập phá, cờ bạc tùm lum làm con chán nản, bế tắc vô cùng, không biết nghiệp xưa con tạo ác nghiệp gì mà đời này con bị hành hạ như vậy? Ừ, không, biết chữ nghiệp xưa là đúng rồi đó.
[1:53:20]Có nhiều cái nghiệp nó kỳ lạ lắm, nếu mình mà biết được nhân quả rồi cái mình vỡ lẽ ra và mình không có than phiền.
[1:53:31]Ví dụ như
[1:53:35]ở nhà quê vậy, có nhiều cái cô gái cô khỏe mạnh lắm mà trong nhà nhiều khi con trai không có đủ, thế là cái cô con gái phải đi cày ruộng. Dắt trâu ra ngoài đồng cày ruộng thì tay cầm cái gì? Roi. Vừa kêu "ví", "thá", vừa phải quất chóc chóc. Mỗi một cọng roi là một cái phải trả. Mà sau này con mà mình gắn bó nó nợ nó quá đi, nó cày ruộng cho nhà mình sống mà, nó lên làm chồng mình là điều bình thường. Và nó nhớ từng cái roi mình đánh, mà nó mới súc sanh lên thì cái tâm lý nó làm sao? Tâm tánh làm sao? Rất dễ ghét. Rất dễ ghét. Kiểu trâu mà. À, thì nó trả đòi nợ lại bằng cái chửi bới, đánh đập, hành hạ không ra gì.
[1:54:22]Thì hai đẳng cấp khác nhau, vợ và chồng hai đẳng cấp. Vợ là người tiếp tục làm người, chồng thì mới trâu lên làm người. Hai đẳng cấp với nhau mà nợ không bỏ được. Không bỏ được chứ không phải là dễ đâu. Nên ta hiểu ra nhân quả rồi ta vỡ lẽ: "Sao nó kỳ cục vậy?" Thì ra là vậy. Cho nên gì cũng có nghiệp, hiểu nghiệp duyên rồi thôi, mình ráng chịu là vậy đó. Thôi hát đi con, hát đi. Gì? À bây giờ tới phần tiếp thị giới thiệu sản phẩm phải không? À đây là lịch năm 2004 năm 24 à, lịch nhân quả. Hình có vẻ đẹp hơn một chút. Nha, đại khái vậy. Ráng mua ủng hộ, phải không? Hay là đúng rồi, nói vậy đủ chưa kìa? Đây là lịch để bàn.
[1:55:07]Mời quý vị mua ủng hộ công ty chúng tôi. Đó, chúng tôi rất cám ơn quý vị. Vậy là được chưa?
[1:56:25]Ngày mai khi nắng xuân hồng sưởi ấm đêm trường tình thương.
[1:57:23]Rồi đây thế giới đại đồng sáng ngời vạn muôn ước mong.
[1:57:34]Gặp nhau có tiếng cười hân hoan, gió tràn thênh thang cánh đồng mở mang.
[1:57:45]Còn nhau khúc nhạc ngân nga, tấm lòng sâu xa giữa đời bao la.
[1:58:09]Ai mơ ước về một cõi thiên đường, khi thế giới cần một nơi yêu thương?
[1:58:23]Biên cương chẳng mãi mãi chia rẽ nhân loại, khi chung vầng nắng sớm bóng đêm vừa phai. Hơn thua và oán ghét như thoáng sương mềm, khi chung một ánh mắt bên ánh trăng hiền.
[1:58:53]Loài người gần nhau nên thôi thèm mơ mộng,
[1:59:01]vì rằng ngoài kia gió buốt như đêm đông.
[1:59:08]Hận thù bỏ đi hoa bay về khắp lối,
[1:59:16]ngập tràn niềm vui sáng tươi như bầu trời.
[1:59:24]Ngày mai khi nắng xuân hồng sưởi ấm phố phường tình vương.
[1:59:35]Nghìn hoa khoe sắc bên đồi dưới vầng mây trôi núi đồi.
[1:59:46]Trẻ thơ tiếng cười hân hoan, gió tràn thênh thang khúc nhạc reo vang.
[1:59:58]Còn nhau mãi chẳng phôi pha, nắng rọi xuân qua giữa đời bao la.
[2:00:09]Còn nhau mãi chẳng phôi pha, nắng rọi xuân qua
[2:00:19]giữa đời bao la.
[2:00:30]Bây giờ cứ khen hay á nó cũng kỳ kỳ.
[2:00:35]Ờ mình gọi là cứ khen nhau, nhưng quả thực bài này không khen không được á. Bởi vì như lời ờ nói của Thầy khi nãy về cái tổng quát về một cái ơ tinh thần, cái tâm tư của cái bản nhạc. Bây giờ nói thêm một chút xíu là thực ra những cái điều mà tác giả hướng đến nó còn hướng đến cả thế giới này chứ không phải là những vấn đề mang tính cách là cá nhân hay là ở trong một cái thế giới nhỏ hẹp cục bộ nào đó. Quả thực là thế giới chúng ta đang đối mặt với sự chia rẽ, với sự ngăn cách bởi các cái vùng, bởi các cái ranh giới.
[2:01:24]Và những cái đắng cay, những cái sự đau khổ xuất phát từ những ranh giới cứng đó đã làm cho con người chia ly quả thực là rất lớn. Và cái niềm đau nỗi khổ của con người cho đến thế giới hôm nay là thế kỷ thứ 21 vẫn còn đầy ắp những cái nơi niềm đau, những nỗi khổ, những day dứt, những khốn đốn của cái sự giận hờn, của hận thù, của cái bom đạn nó vẫn còn. Cho nên để nói về một thế giới đẹp đẽ, tốt để mà hướng về để tìm về thì quả thực là con người đang ở trong giấc mộng của bản thân mình. Thế giới hiện thực quá nhiều vấn đề.
[2:02:15]Chúng ta thường hay cầu nguyện thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Chúng ta cũng mong tất cả mọi người thương yêu nhau để có được một thế giới xóa đi những ranh giới để trở thành là một thế giới đại đồng để cùng nhau chia sẻ những giá trị sống một cách tự tại, tự do, tự nhiên. Nhưng mà quả thực đó là những giấc mơ và
[2:02:41]để nó trở thành hiện thực thì mỗi người phải đóng góp bàn tay của mình, một chút của mình và của cả những người cùng đi với mình. Đó là những vấn đề mà khát vọng của bài thơ, bản nhạc hướng đến, có lẽ đó làm thêm một ý nghĩa. Dạ vâng, xin mời đại chúng hồi hướng.
[2:03:12]Nguyện đem công đức này
[2:03:21]hướng về khắp tất cả,
[2:03:30]đệ tử và chúng sanh
[2:03:37]đều trọn thành Phật đạo. Dạ, xin ban nghi lễ cung tiễn Hòa thượng, Pháp sư...